Các ý kiến đánh giá về nội dung tư tưởng trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh chủ yếu là khẳng định sự đóng góp của nhà văn này: Một bài viết trên báo Thể thao Văn hoá số 47 năm 2004 cho rằn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lâm Thị Ái Vy
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
T hành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lâm Thị Ái Vy
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
CỦA TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG TRỌNG QUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho người viết trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ người viết trong suốt quá trình thực hiện luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2011
Người viết
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Ch ương 1 : TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI 9
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới 9
1.2 Tiểu thuyết của Tạ Duy Anh 16
1.2.1 Tạ Duy Anh – nhà tiểu thuyết thành công 16
1.2.2 Quan niệm về văn chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh 20
Chương 2 : TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH – NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI 26
2.1 Hiện thực trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 26
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực 26
2.1.2 Cách phản ánh hiện thực 29
2.2 Con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 32
2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 32
2.2.2 Các kiểu dạng con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 36
2.2.2.1 Con người tha hóa 36
2.2.2.2 Con người tự vấn - sám hối 43
2.2.2.3 Con người cô đơn 47
2.2.2.4 Con người kiếm tìm 53
2.2.2.5 Con người sợ hãi, hoài nghi 57
Chương 3: TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH – NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT 63
3.1 Yếu tố kì ảo 63
3.1.1 Nhân vật kì ảo 64
3.1.1.1 Nhân vật bào thai 66
3.1.1.2 Nhân vật “hắn – ngón tay trỏ” 67
Trang 53.1.2 Chi tiết kì ảo 71
3.2 Môtíp nghệ thuật 74
3.2.1 Môtíp “tội ác và trừng phạt” 74
3.2.2 Môtíp “giấc mơ” 77
3.2.3 Môtíp “cái chết” 81
3.3 Giọng điệu 86
3.3.1 Giọng chất vấn 87
3.3.2 Giọng điệu giễu nhại 89
3.3.3 Giọng dung tục 91
3.3.4 Giọng điệu triết lý, suy ngẫm 93
3.3.5 Giọng trữ tình, thiết tha, sâu lắng 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tạ Duy Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Sự xuất hiện của ông trên văn đàn đã góp phần làm cho đời sống văn học của nước ta trở nên sôi nổi Bằng một nội lực mạnh mẽ, trong hơn 20 năm cầm bút, Tạ Duy Anh đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị được người đọc đón nhận một cách hăm hở, nhiệt tình và quan trọng hơn cả là chúng được đánh giá khá cao
Từ những truyện ngắn đầu tiên, nhà văn đã được độc giả và giới phê bình quan tâm
Và đến khi truyện ngắn Bước qua lời nguyền ra đời thì Tạ Duy Anh thực sự đã giành
được một vị trí quan trọng trên văn đàn Không chỉ dừng lại ở thành công trong lĩnh vực truyện ngắn, Tạ Duy Anh đã thể hiện tài năng văn chương của mình ở thể loại
tiểu thuyết Khởi đầu hành trình viết tiểu thuyết với tác phẩm Khúc dạo đầu (1991)
chưa thành công, nhà văn không nản lòng mà dồn tâm huyết để cho ra đời 4 cuốn tiểu
thuyết gây xôn xao dư luận: Lão Khổ (1992), Đi tìm nhân vật (2002), Thiên thần
sám hối (2004) và Giã biệt bóng tối (2008) Ngoài ra, ông còn cho xuất bản cuốn tiểu
thuyết Sinh ra để chết (tại nước ngoài) Độc giả và giới phê bình quan tâm đến Tạ
Duy Anh không chỉ vì ông là một cây bút có sức viết đáng ghi nhận mà còn vì các tác
phẩm của ông “luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm” Quả thật, các sáng tác của
ông chạm đến, bàn sâu về những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại Ông đã nhìn hiện thực và con người bằng lăng kính đa chiều, phản ánh nó hết sức khách quan và bằng giọng văn sắc lạnh, nhưng đằng sau ngòi bút ấy là một con người đầy trăn trở trước cuộc đời Tiểu thuyết Tạ Duy Anh không chỉ phong phú và nóng hổi tình đời, tình người mà còn cuốn hút người đọc bởi những cách tân mạnh mẽ và sắc sảo về mặt nghệ thuật Chính sự tìm tòi, đổi mới trong nghệ thuật thể hiện làm cho tiểu thuyết Tạ Duy Anh trở thành mảnh đất lạ hấp dẫn và đầy bí ẩn đối với người đọc Độc giả tìm đến tiểu thuyết của nhà văn này để khám phá những tầng sâu ý nghĩa qua những hình thức thể hiện hết sức độc đáo
Trang 7Với tất cả những giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật vốn có của mình, tiểu thuyết Tạ Duy Anh đã được nhiều người tìm hiểu, nghiên cứu ở những bình diện khác nhau Bản thân người viết cũng bị cuốn hút bởi các tác phẩm của Tạ Duy Anh
và muốn tìm hiểu những nét đặc sắc nhất - cái làm nên giá trị độc đáo trong tiểu thuyết của nhà văn này Việc tìm hiểu đặc trưng tiểu thuyết Tạ Duy Anh còn giúp ta thấy được phong cách của Tạ Duy Anh và góp phần làm rõ hơn đặc điểm của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Bên cạnh đó, Tạ Duy Anh còn là một trong số ít những nhà văn sau thời kì đổi mới có tác phẩm được đưa vào chương trình giảng dạy
trong nhà trường (đoạn trích Cánh diều tuổi thơ được đưa vào chương trình sách giáo khoa lớp 4, Tiếng Việt 4, tập 1 và tác phẩm Bức tranh của em gái tôi được đưa
tác phẩm của ông cũng giúp ích cho công tác giảng dạy Đó là lí do để chúng tôi thực
hiện đề tài “Những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Tạ Duy Anh”
2 Lịch sử vấn đề
Tạ Duy Anh xuất hiện trên văn đàn vào những năm đầu của thời kì đổi mới đất
phẩm của ông đã góp phần phá vỡ sự bình ổn của văn học dân tộc trong suốt thời kì kháng chiến và thúc đẩy sự phát triển của lí luận và phê bình văn học đương đại Việt Nam Chính sự độc đáo, mới lạ và gây ấn tượng đậm nét cho người đọc mà tác phẩm của Tạ Duy Anh hàm chứa đã thu hút rất nhiều ý kiến đánh giá, bàn luận về tác phẩm
của ông
Tạ Duy Anh khi mới xuất hiện trên văn đàn đã nhanh chóng nhận được sự
quan tâm của độc giả Các tác phẩm của ông được dư luận chú ý bởi nó “luôn làm
bạn đọc giật mình và suy ngẫm” Với những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật,
tác phẩm của Tạ Duy Anh được người đọc và giới phê bình đặc biệt quan tâm Ngay
khi truyện ngắn Bước qua lời nguyền được đăng trên báo Văn nghệ, nhiều người đã
quan tâm đến tác giả này Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã đánh giá rất cao truyện ngắn
này, ông nhận định: “Phải chăng truyện của Tạ Duy Anh là tín hiệu của một dòng
văn học mới, dòng văn học bước qua lời nguyền?”
Trang 8Các ý kiến đánh giá về nội dung tư tưởng trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh chủ yếu là khẳng định sự đóng góp của nhà văn này:
Một bài viết trên báo Thể thao Văn hoá số 47 năm 2004 cho rằng: “Có thể coi
ông là nhà v ăn đạo đức, văn chương của ông có lúc hiện lên bằng một gương mặt thế
sự, đớn đau, riết róng chuyện thánh thiện, tàn ác, liêm sỉ và vô lương nhưng không phải như những khái niệm nhân bản chết khô, mà thông qua sự cảm nhận đớn đau về
số phận…” [4, 374]
xuôi”, Mai H ương khẳng định: “Chọn phản ánh cuộc sống từ phía “khuất lấp”, từ sự
ch ưa hoàn thiện, nhưng cái đích mà Tạ Duy Anh hướng đến lại là cái đẹp, cái thiện
Từ “cái ác” để “lay thức” cái thiện Điều này lí giải vì sao hiện thực trong tác phẩm của Tạ Duy Anh thật gai góc, có khi như tàn nhẫn, lạnh lùng, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được đằng sau con chữ là những thông điệp nghệ thuật thấm đẫm chất nhân văn Và đó cũng là hệ quả tất yếu từ quan niệm nghệ thuật giàu chất nhân bản của Tạ Duy Anh” Tác giả của bài viết này cũng đưa ra những lời nhận xét rất sâu
sắc: “Từ quan niệm của mình, khi nhận thức lại lịch sử, Tạ Duy Anh có cái nhìn
thẳng thắn, không khoan nhượng với tất cả những sai lầm, những mặt trái, tiêu cực Tuy nhiên, nhà văn luôn đặt tất cả nhân vật của mình trong mối quan hệ với lịch sử, thời đại để xem xét, đánh giá và có xu hướng cắt nghĩa, lý giải mọi sai lầm đã qua thuộc về những hạn chế không thể tránh khỏi của lịch sử Chính nhờ thế, các nhân vật của Tạ Duy Anh khi đã trải qua hết thăng trầm, biến cố của một đời thường có được sự bình tâm, chiêm nghiệm sâu xa, thấm thía, đậm tính nhân văn về cuộc đời và thời cuộc” Mai Hương còn khẳng định: “Tạ Duy Anh đã mang đến một cách nhìn, cách đánh giá và cánh lý giải mới về hiện thực, góp vào sự đổi mới của tư duy văn học” [47]
Nhà thơ Dương Thuấn trong buổi tọa đàm về tiểu thuyết Giã biệt bóng tối cho
rằng cuốn tiểu thuyết này “chứa đựng những nội dung hiện thực rất lớn, những vấn
đề mà cả thời đại quan tâm Quan trọng nhất là tác giả đã đặt ra được những điều
Trang 9cần thiết mà xã hội cần phải xem xét lại, đó là sự xuống cấp về nhân phẩm, sự tha hóa về tính cách của con người” [15, 27]
Các ý kiến đánh giá về nghệ thuật tiểu thuyết Tạ Duy Anh cũng rất phong phú:
Tác giả Thụy Khê trong bài viết “Tình thế của những người viết trẻ hôm nay”
đã cho rằng Tạ Duy Anh “ít nhiều chịu ảnh hưởng của Nguyễn Huy Thiệp trong khía
cạnh: 1 Sử dụng nhân vật lịch sử để đả phá sự tôn sùng lãnh đạo 2 Phơi bày mặt thật của xã hội dưới cái nhìn cực thực, tàn nhẫn không nhân nhượng, không thỏa hiệp” Đặc biệt, Tạ Duy Anh đã “vận dụng hai yếu tố mới: tưởng tượng và huyền ảo”
Trong bài viết “Tạ Duy Anh – người đi tìm nhân vật”, Thụy Khê còn cho rằng với tác
phẩm Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh đã “viết theo cấu trúc mở, đưa người đọc vào
những mê lộ đầy bí ẩn, không lối thoát, tác phẩm bao trùm những khía cạnh tối tăm của con người mặt nạ, sống trong một xã hội mật vụ luôn luôn bị theo dõi, hoặc chính mình theo dõi ng ười khác” [55]
Phùng Gia Thế khi trả lời phỏng vấn trong bài viết “Một cái nhìn về thực tiễn
văn chương hậu hiện đại” đã cho rằng: “Đọc truyện ngắn Tạ Duy Anh, có thể thấy trong đây sự khác nhau đa dạng các điểm nhìn trần thuật, sự chồng xếp các lớp thời gian sự kiện, sự soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau các môtíp, chủ đề, nhân vật”
[91]
nhận định rằng: “Giã biệt bóng tối là một lối kết cấu theo kiểu Tạ Duy Anh: Không
th ấy đâu là ranh giới của tác giả và nhân vật Tác giả nhiều lúc phải chen ngang mới
có c ơ hội xuất hiện, đôi khi chỉ để đính chính hoặc giải thích cho lời kể của nhân vật rồi lại bị nhân vật “thô bạo” ngắt lời Các nhân vật trong tác phẩm phải tự giới thiệu
về mình, người thì xưng tôi, người xưng tao, xưng tớ…và đôi khi cùng một sự kiện, mỗi người nhớ hoặc kể lại một khác” [22]
gắng thay đổi cái bộ mặt cấu trúc của tiểu thuyết truyền thống Sự đổi mới này đương nhiên sẽ phá vỡ luôn cả thói quen về cách đọc – tức là cách tiếp nhận văn bản theo lối thông thường” [15; tr73]
Trang 10Nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm:
Việt Hoài trong bài “Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác” khẳng định: “Nhân
vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình… Nhưng bản chất con người thì luôn ở ranh giới thiện – ác Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái lựa chọn – đấu tranh với xã hội, với môi trường, với kẻ thù, với người thân, với chính bản thân mình” [44]
Thụy Khê trong bài “Tạ Duy Anh – người đi tìm nhân vật” nhận định rằng những nhân vật của Tạ Duy Anh “gắn bó mật thiết với nhau trong một tương quan
chặt chẽ, họ hàng, làng nước Họ xuất thân cùng ở làng Đồng, họ cùng tiềm ẩn thù hận dòng họ, hận thù giai cấp” [55]
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ lấy đề tài từ tác phẩm của Tạ Duy Anh:
- Tạ duy Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyễn Thị Hồng
Giang)
- Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Lê Vũ Lan Hương)
- Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh (Võ
Thị Thanh Hà)
- Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Nguyễn Thị Ninh)
- Đặc điểm truyện ngắn Tạ Duy Anh (Trần Văn Viễn)
ngắn và tiểu thuyết như Tạ Duy Anh thì việc có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu tác phẩm của ông là điều tất yếu Nhìn chung, ý kiến đánh giá và các công
trình nghiên cứu trước, chúng tôi có được cái nhìn tổng thể về nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tạ Duy Anh Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một
thống Khi thực hiện đề tài này, với việc kế thừa các công trình nghiên cứu trước một cách chọn lọc và có chủ kiến, người viết tiến hành khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Tạ
Trang 11Duy Anh cho đến thời điểm hiện tại, từ đó phân tích, tổng hợp và đánh giá những đặc trưng cơ bản trong tiểu thuyết của tác giả này
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm khẳng định được vị trí và đóng góp của tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Để đạt được mục đích trên, người viết hướng đến những mục tiêu cụ thể là tổng hợp, phân tích, so sánh để thấy được nét độc đáo trong cách cảm nhận về hiện thực và con người của nhà văn Đồng thời, người viết cũng chỉ ra những cách tân, sáng tạo trong bút pháp nghệ thuật của nhà văn Từ đó, đề tài làm nổi bật được những đặc sắc về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của tiểu thuyết Tạ Duy Anh Đó là những mục tiêu cơ bản nhất mà đề tài hướng đến
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu bao gồm các tiểu thuyết sau của Tạ Duy Anh:
- Lão Khổ (1992)
- Đi tìm nhân vật (2002)
- Thiên thần sám hối (2004)
- Giã biệt bóng tối (2008)
của Tạ Duy Anh nhằm nghiên cứu hiệu quả hơn tiểu thuyết của ông, chúng tôi còn khảo sát hơn 50 truyện ngắn của Tạ Duy Anh Đó là những truyện ngắn được in trong
các tập truyện: Bước qua lời nguyền(1989), Quả trứng vàng (1989), Hiệp sĩ áo cỏ
Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh (2003), Bố cục hoàn hảo (2004), Lãng du
(2011) Chúng tôi còn tìm hiểu thêm tác phẩm Những giấc mơ của tôi (2008) làm cơ
sở để lí giải môtíp giấc mơ trong tác phẩm của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Trang 12Trên cơ sở tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, chúng tôi sử dụng phân tích
và tổng hợp để đưa ra những luận điểm chính cho luận văn
hiện tượng văn học vào bối cảnh xã hội, từ đó làm rõ sự tác động của bối cảnh lịch sử
- Phương pháp so sánh: Nhằm khẳng định được nét đổi mới, riêng biệt và đặc
sắc của tiểu thuyết Tạ Duy Anh so với các tác giả khác ở nhiều phương diện
Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp vận dụng các thao tác phân loại và hệ thống trong quá trình nghiên cứu của mình nhằm đạt hiệu quả cao nhất
6 Đóng góp của luận văn
Chọn Tạ Duy Anh - một trong những tác giả tiêu biểu của văn học thời kì đổi mới, chúng tôi muốn tìm thấy những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn này Những đặc sắc trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh cũng chính
là những đặc điểm quan trọng và nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam sau thời kì đổi mới Thông qua đề tài, người viết khẳng định phong cách và đóng góp của Tạ Duy Anh cho nền văn học nước nhà
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn sẽ được triển khai trong ba chương:
Ch ương 1: Tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
Ở chương này, người viết trình bày những nhận định khái quát về tiểu thuyết
Tạ Duy Anh trên nền tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
Ch ương 2: Tiểu thuyết Tạ Duy Anh – những đặc sắc về hiện thực và con người
Trong chương thứ hai, tác giả đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu quan niệm về
con người trong tiểu thuyết của nhà văn này
Chương 3: Tiểu thuyết Tạ Duy Anh - những đặc sắc nghệ thuật
Trang 13Ở chương này, người viết trình bày những yếu tố nghệ thuật đặc sắc nhất làm nên giá trị của tiểu thuyết Tạ Duy Anh, bao gồm : Yếu tố kì ảo, môtíp nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật
Trang 14Chương 1 TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
Tiểu thuyết là một thể loại văn học hết sức quan trọng Điều đó thể hiện không
chỉ ở phạm vi phản ánh mà cả khả năng phản ánh: “Đóng vai trò then chốt trong đời
sống văn học, tiểu thuyết có những khả năng và ưu thế đặc biệt trong việc bao quát tầm vóc hiện thực và khám phá những vấn đề của thân phận con người… nghĩa là tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực cả ở bề rộng lẫn chiều sâu của của nó”
[111, 537] Để phản ánh hiện thực được cả ở bề rộng lẫn chiều sâu, tiểu thuyết đã liên
tục làm mới, thay đổi mình Bakhtin từng nhận định: “Tiểu thuyết là thể loại văn
chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự chuyển biến của bản thân hiện thực” và “tiểu thuyết báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ văn học” [19, 27] Như vậy, tiểu thuyết thực sự là thể
loại có vai trò cốt yếu đối với toàn bộ nền văn học Ở nước ta, tiểu thuyết cũng luôn làm tốt vai trò đó của mình Nó luôn có sự thay đổi, chuyển mình để bắt kịp những nhu cầu của thời đại
Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt từ sau giai đoạn đổi mới có những chuyển biến hết sức quan trọng Trong đó, có sự đóng góp to lớn của thể loại tiểu thuyết Trước đó, vào những năm 1945 – 1975, nhân dân ta đang tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước tuy gian khổ, đau thương, mất mát nhưng hết sức anh dũng Do
đó, yêu cầu của nền văn học trong giai đoạn này là “phản ánh chân thực và hùng hồn
cuộc sống mới, con người mới” hay “phản ánh hiện thực trong xu thế cách mạng của
phải có những sự thay đổi Nghĩa là, văn học nghệ thuật không được hiểu đơn giản là công cụ chính trị hay vũ khí công tác tư tưởng, hoặc phương tiện tuyên truyền, giáo
Trang 15dục quần chúng mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hóa, là
bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế
hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…” [110]
Trong khoảng mười năm sau 1975, văn học Việt Nam có sự chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang thời kì hậu chiến Giai đoạn này có thể gọi là bước chuẩn bị cho sự chuyển đổi Vì thế, văn học chưa hoàn toàn đổi mới, chỉ bắt đầu có
sự nhạt dần chất sử thi và cảm hứng ngợi ca Bên cạnh nhu cầu tái hiện lịch sử, nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật, phân tích và lí giải các sự kiện, biến cố lịch sử Lúc này, từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn, các tác giả đã nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm chí cả những thất bại tạm thời của
ta trong chiến tranh Đó cũng chính là một cách khẳng định những giá trị lớn lao của
sự hi sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng Bên cạnh đó, một số cây bút đã kịp phản
cuộc sống ở mọi nơi hiện ra không chỉ có niềm vui của hòa bình, chiến thắng, đoàn tụ
mà còn với bao phức tạp, khó khăn và cả những mâu thuẫn mới nảy sinh Đến đầu những năm 80, cùng với những khó khăn chồng chất của nền kinh tế, văn học dường như cũng chững lại Nhiều tác giả bối rối không tìm thấy phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của người sáng tác chưa bắt kịp được với sự chuyển biến của thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Nhưng đây cũng chính là khoảng thời gian mà nhiều nhà văn trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng để đáp ứng được nhu cầu của thời đại mới Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (11/1987) đã mở ra hướng đi mới cho văn học, mở ra một cách nhìn mới
về vị trí và chức năng của văn nghệ Từ đó, nhà văn hiểu rõ sứ mệnh của văn chương
và sứ mệnh của mình đối với cuộc sống Những sáng tác của họ không nhằm minh họa cho các khẩu hiệu hay cổ vũ cho các phong trào, giúp thực hiện các chủ trương,
chính sách của nhà nước mà “tập trung miêu tả số phận con người, mang đến cho con
người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải làm phong phú thêm kinh
Trang 16nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đi lùi vào quá khứ, từ đó rút ra bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn mang ý nghĩa chính trị lớn lao” [102, 18]
Từ 1986 đến đầu thập kỉ 90 là thời kì văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ Văn học lúc này đã có sự khởi sắc, đặc biệt là văn xuôi với thể loại chủ yếu là tiểu thuyết Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này đứng trước nhu cầu đổi mới tư duy và nó bộc lộ ưu thế của mình trong cách nhìn thẳng vào sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người Hàng loạt những tiểu thuyết mới lạ, táo bạo và sâu sắc, chân thực ra đời đã khẳng định được điều đó
Về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực lúc bấy giờ, các nhà nghiên cứu đã
nhìn nhận “yêu cầu văn học trong điều kiện lịch sử mới phải giúp vào sự hoàn thiện
bức tranh hiện thực còn trong dạng phác thảo của một thời đã qua, sao cho chân thực hơn, được soi tỏ dưới nhiều góc cạnh hơn” [58, 106] Giờ đây, trước yêu cầu
mới, nhiệm vụ của văn học phải thay đổi, nó không chỉ phản ánh thế giới khách quan
mà còn thể hiện thế giới chủ quan Lê Ngọc Trà chỉ ra cái hạn chế của văn học trong
việc phản ánh hiện thực giai đoạn trước đó: Việc nhấn mạnh quá mức bản chất phản
ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “suy tư tưởng” của khá nhiều tác phẩm văn học trong mấy chục năm vừa qua… Người sáng tác phần đông đều chọn cách viết an toàn nhất, mà lại “đúng” nữa, là tập trung ghi chép mô tả, kể cho thật nhiều về đời sống…, còn cái quan trọng
là bản thân anh, chính anh, riêng anh nghĩ gì, đau gì thì hoặc là lờ đi, giấu biến đi, hoặc thành thật tin một cách ngây thơ là nó nhỏ bé, vô nghĩa, không đáng được thể hiện [ 103, 24] Từ cách phản ánh hiện thực ấy, con người trong văn học cũng chưa
được chạm đến tầng sâu của đời sống tâm hồn riêng tư, những thân phận cá nhân không được nhắc đến :
“Trong hoàn cảnh ấy, các nhà văn mới chỉ có điều kiện quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng và do đó vấn đề số phận con người chưa có được
vị trí xứng đáng của nó trong văn học Chúng ta vẫn bắt gặp con người, nhưng phần
Trang 17lớn đó là con người – tập thể, con người – quần chúng, con người – nhân dân, chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận Các nhà văn thường tập trung nói lên quyết tâm, ý chí, sức mạnh của con người chứ chưa diễn tả được hết sự phong phú,
kể cả nỗi cô đơn và sự yếu ớt của nó – cái cô đơn trong vinh quang và quyền lực, trong cả phút giây hạnh phúc, cái cô đơn của mọi tìm tòi, của những ai dám nghĩ, dám sáng tạo, dám nói điều ngay thẳng và sự yếu ớt không phải lúc nào cũng chỉ như biểu hiện của hèn nhát mà còn là dấu hiệu của cái đẹp, của một tâm hồn dịu dàng, phong phú” [103, 38]
Vấn đề bản chất của văn học cũng được Lê Ngọc Trà đặt ra trong một loạt bài
nghiên cứu của mình Theo ông, “tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng,
những suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn, vừa như chưa trọn vẹn, vừa như có ý giới hạn lại vừa như miên man, vô bờ bến Đó là những cảm giác mang tính hình tượng Nhà văn sáng tác khi cảm thấy đau ở đâu đấy trong tâm hồn, khi có điều gì đó muốn chia sẻ, gửi gắm Văn học chính là nỗi buồn về cái đẹp, về lí tưởng, là nỗi đau giằng xé về số phận con người, là sự cắn rứt lương tri không yên, là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai phần tối và sáng, giữa thiện và ác, khi con người đã có khả năng tự phân đôi” [98]
Nguyễn Văn Hạnh, trong “Văn học trên con đường đổi mới”, đã khẳng định:
“Tư tưởng văn học bậc nhất mà đại hội Đảng lần thứ VI đã trang bị cho nhận thức xã hội trong thời kì đổi mới, cũng là tư tưởng đổi mới, cũng là tư tưởng đã tạo nên bước ngoặt thật sự trong tư duy nghệ thuật mấy năm qua, chính là tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật Bởi sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật tiến bộ” [38] Nguyễn Kiên cũng nhận định về văn học giai đoạn
này trong việc phản ảnh hiện thực : “Văn xuôi ta những năm gần đây cũng giàu chất
thực hơn Nó đang cố gắng như thế và cuộc sống hôm nay cũng buộc nó phải như thế Có những bút kí, truyện ngắn và truyện dài miêu tả cuộc sống trần trụi, phơi bày
sự băng hoại đạo đức, những quan hệ dị dạng, con người què quặt về tinh thần…”
[73] Có thể nói, nhận thức hiện thực trong trạng thái đời thường, cảm nhận và phản ánh sự thật về hiện thực, đó là biểu hiện của đổi mới văn học
Trang 18Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua khủng hoảng để bước và giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc Đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI và tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị dành riêng cho Văn hóa - Văn nghệ, tất cả những điều đó đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra thời kì đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Nhận định về tiểu thuyết trong thời đại mới, Cao Tiến Lê đã
1988, 1989, 1990, có sự đổi mới, tự do hơn, nêu được nhiều vấn đề… Văn học đã đi vào đời thường Mỗi một con người đều bình đẳng trước cái nhìn của nhà văn Tất cả mọi người trước nhà văn đều là nhân vật, nhà văn coi trọng ở chỗ số phận của họ đóng góp được gì cho văn học” [57]
Với công cuộc đổi mới trên toàn xã hội, văn xuôi đang chuyển mình một cách
mạnh mẽ Giờ đây nó “không xuôi chiều kiểu êm dầm mát mái nữa, nó mạnh dạn
phanh phui các mặt trái của xã hội, các uẩn khúc hoặc tráo trở của lòng người Nó bắt người đọc phải tự vấn lương tâm, nó có tham vọng đánh thức dậy lòng nhân ái giữa một cuộc sống cộng đồng đang xuống cấp nghiêm trọng bởi những tính toán vụ lợi, những mưu đồ hèn hạ” [73] Đến với những tác phẩm giai đoạn này, người đọc
tìm thấy mọi cung bậc của tình cảm vốn có của con người: từ buồn bã, cô đơn cho đến công phẫn, xót xa Văn học giai đoạn này đã làm một cuộc “cách mạng” thực sự
Nó giàu chất thực hơn, miêu tả cuộc sống trần trụi và mạnh dạn phơi bày sự băng hoại đạo đức nếu thấy cần thiết Giờ đây, yêu cầu tái hiện lịch sử phải đi sâu vào số phận mỗi cá nhân, phải đặt lại mọi vấn đề, suy nghĩ lại mọi niềm tin và có thể vượt
qua mọi cấm đoán kiêng kị Điều này được Phan Cự Đệ ghi nhận: “Các nhà văn đã đi
sâu vào tâm lí bên trong, để cho nhân vật soi bóng vào nhau hoặc tự khám phá mình, như là một sự lắng lại, suy ngẫm về cuộc đời đã qua… Nhân vật nhìn bản thân mình,
tự đối diện với mình như một sự tự phán xét về nhân cách nhằm hướng tới một nhân cách hoàn thiện” [32, tr152-153]
Trang 19Như vậy có thể nói, tiểu thuyết Việt Nam thời kì này đã phản ánh những diễn biến tinh vi nhất về cuộc sống mới đa dạng và phức tạp Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trở lại chính bản thân nó với các vấn đề : Nhận thức về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, nhận thức mối quan hệ giữa văn học với chính trị Nó tập trung mô tả hiện thực với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” Chính vì thế, văn học giai đoạn này phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Các nhà văn mạnh dạn nhìn lại hiện thực của thời kì đã qua với tất cả những gì nó có, sẵn sàng phơi bày những mặt trái còn bị che khuất Họ cũng không ngần ngại lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên bước đường phát triển của xã hội Tuy nhiên, việc viết về cái xấu, cái tiêu cực trong giai đoạn này không có nghĩa là phủ nhận những điều tốt đẹp đã có mà chỉ là một cách phản ánh hiện thực ở tất cả các mặt hiện tồn của nó Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của nó đến tính cách và số phận con người với bao nỗi đau khó có thể xoa dịu
Sau chiến tranh, khi tư duy nghệ thuật thay đổi, văn học không chỉ nhìn lại quá khứ bằng việc miêu tả hiện thực đời sống chiến tranh hay trở lại những vấn đề lịch sử dưới một cái nhìn mới mà quan trọng hơn là đi sâu vào số phận mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng quê Cuộc sống được phản ánh vào tác phẩm không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn của con người thời hậu chiến Đó là cuộc sống đời thường vừa nhân hậu ấm áp, vừa bận rộn nhưng cũng không kém phần sôi động quyết liệt Đặc biệt, con người cá nhân - một thế giới đầy bí ẩn - trở thành đối tượng thực sự trong văn học Con người lúc này hiện lên trên trang viết của các nhà văn một cách toàn diện; được hình dung nhiều mặt, không chỉ có ý chí, tư tưởng, tình cảm mà còn được khắc họa ở phương diện bản năng vô thức, tâm linh, nghịch lý Những người chiến sĩ, những anh hùng không còn ở vị trí trung tâm mà được thay thế bằng những con người đời thường – thậm chí tầm thường Do đó, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn phải nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời tư với những trăn trở tìm tòi Nhiệt tình ca ngợi, khẳng định được thay thế bằng sự phê phán Điều
này hầu như được thể hiện trong những tác phẩm có giá trị lúc bấy giờ: Bến không
Trang 20chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu, Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh…
Văn học nghệ thuật trong thời đại mới trở về với thiên chức vốn có của mình là
“món ăn tinh thần” đặc sắc nhất mà không một ngành nghệ thuật nào đạt được Văn
học mang sứ mệnh to lớn như vậy nên người nghệ sĩ cũng xác định nhiệm vụ của mình trong nghệ thuật phải sáng tạo, phải thể nghiệm mình Có thể nhận thấy trong những trang tiểu thuyết của văn học giai đoạn này, những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống mà trước đây bị lờ đi, bị gác lại thì nay được các ngòi bút văn xuôi với các thế mạnh riêng lật xới lại Những nhân vật xấu trước đây chỉ được miêu
tả như những thiếu sót, những khuyết điểm có thể sửa chữa được, còn về cơ bản vẫn
là người tốt thì nay hoàn toàn khác Những kẻ xấu là những kẻ mang bộ mặt đạo đức giả Chúng trù dập người khác nhằm nâng cao uy tín của bản thân, của gia đình và
dòng họ mình Phong Lê nhận xét: “Tiểu thuyết thời kì này không ngần ngại “vục vào
cái sự thật tối tăm oan khổ” nhưng đem lại hiệu quả “thanh lọc, tẩy rửa” [59, 130]
Tiểu thuyết giai đoạn này tập trung viết về những số phận riêng với những bi kịch rất đời thường của con người trong xã hội mới Điều này đã từng được văn học trước cách mạng tháng Tám đề cập đến Song cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm buộc văn học phải quan tâm đến những cái chung còn những vấn đề cá nhân đời thường, số phận riêng của mỗi con người phải tạm gác sang một bên Giờ đây, khi chiến tranh kết thúc, cảm hứng thế sự đời tư với những trăn trở tìm tòi được thể hiện đậm nét
trong những tác phẩm văn học, đặc biệt là tiểu thuyết Các tác phẩm như Mùa lá
rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Chim én bay của
Nguyễn Trí Huân… Trong lĩnh vực truyện ngắn, cảm hứng thế sự cũng được khai
thác mạnh mẽ Cỏ lau, Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Bi kịch nhỏ (Lê Minh
Khuê), các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… đều có những khám phá mới mẻ về cuộc đời con người Con người hiện lên sắc sảo với cách ứng xử thấu đáo và những suy nghĩ sâu sắc, được soi chiếu ở cả phần thể chất lẫn tâm hồn nên vừa nồng nàn trong niềm khát khao giao cảm lại vừa bận rộn với những toan tính
Trang 21trong cuộc mưu sinh Ngòi bút của các nhà văn dường như luồn thật sâu vào mọi ngóc ngách trong tâm hồn con người để lần tìm những rung động dù rất nhỏ Cuộc sống thường nhật cũng như đời sống tâm hồn được miêu tả chân thực hơn Ở đấy không chỉ có hạnh phúc, chiến thắng mà còn có đau đớn, tủi nhục, bất hạnh Cuộc sống con người hiện lên trên trang viết thật phong phú, đa dạng; các nhà văn đã tiếp cận con người từ nhiều chiều và thể hiện những cảm nhận về con người bằng nhiều cách khác nhau Giờ đây, cuộc chiến đã kết thúc nhưng dư âm về nó vẫn còn; chiến tranh được tái hiện trên nhiều bình diện nhưng đằm lại, sâu lắng hơn Hình tượng người chiến sĩ gần hơn với đời thường bởi không phải chỉ được soi rọi ở ánh hào quang, ở vẻ đẹp của người anh hùng dân tộc mà còn ở cả những nét riêng tư, cá nhân
Như vậy, quan niệm về hiện thực và con người là vấn đề then chốt trong quá trình chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật Sự đổi mới tư duy nghệ thuật, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong giai đoạn này đã thực sự mở rộng đường biên, khơi sâu bản chất trong việc phản ánh của văn học Văn học đã thực sự được cởi trói, cho nên chủ đề, đề tài được mở rộng, không bị gò ép, không bị giới hạn Văn học đã
tìm về với “con người đời thường”, “con người cá nhân” nhưng vẫn “mới”, vẫn
không dẫm lên lối cũ mà đầy sáng tạo trong cuộc vận động không ngừng của cuộc sống mới Văn học thực sự được trả lại thiên chức của mình trong việc phản ánh đời sống và điều ấy tạo nên giọng điệu đa thanh trong tác phẩm Tiểu thuyết cũng ngày
một khẳng định được vị thế quan trọng, là “cột sống của nền văn học”, có vai trò
quyết định diện mạo của toàn bộ nền văn học
1.2 Tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
1.2.1 Tạ Duy Anh – nhà tiểu thuyết thành công
Khi nói đến các tiểu thuyết gia Việt Nam đương đại, chúng ta không thể không nhắc đến tên tuổi Tạ Duy Anh Ông được xem là một hiện tượng văn học trẻ nhưng
đã có những thể nghiệm, tìm tòi đảo lộn các kinh nghiệm cũ, thay đổi lối nhìn đơn giản, xuôi chiều quen thuộc, làm thức dậy nhu cầu nhận thức và tự nhận thức những vấn đề của hiện tại và quá khứ Bằng lời văn sắc lạnh của mình, nhà văn để cho người đọc chạm đến nỗi đau tận cùng của nhân thế, thậm chí đến mức người ta không dám
Trang 22đối diện với nó Nhưng đằng sau những lời văn lạnh lùng ấy, nhà văn gửi gắm vào đó tất cả những xót xa, thương cảm về số kiếp con người để rồi người đọc lại nhận ra những triết lí về nghệ thuật về cuộc sống một cách tự nhiên
Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Viết Đãng Ông còn có các bút danh khác như Lão
Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm, … Tạ Duy Anh quê ở Làng Đồng Trưa (tên chữ
là Cổ Hiền, sau đổi thành An Hiền), xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây Ông tốt nghiệp Trung cấp Thí nghiệm đất đá, làm cán bộ giám sát bê tông các công trình ngầm tại nhà máy thủy điện Hòa Bình Tại đây ông bắt đầu viết văn và truyện ngắn đầu tay ra đời năm 1980 được in trên báo Lao động cùng với bút danh Tạ Duy Anh Sau đó, ông tham gia quân đội đóng tại Lào Cai, lúc xuất ngũ với quân hàm trung sĩ Ông là học viên khóa 4 Trường Viết văn Nguyễn Du (từ 1989 đến 1992) Sau khi nhận bằng cử nhân, ông ở lại trường công tác (với biên chế ngạch giảng viên
bộ môn sáng tác) đến năm 2000 Hiện nay ông là Biên tập viên văn học ở Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam Tạ Duy Anh bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm 1991 và trong suốt 20 năm, ông đều đặn cho ra đời những tác phẩm để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc Mỗi tiểu thuyết của ông được xuất bản đều tạo ra một làn sóng
dư luận xôn xao Nếu như Khúc dạo đầu (1991) là thể nghiệm đầu tay chưa thành công thì chỉ một năm sau đó, Tạ Duy Anh cho ra đời cuốn Lão Khổ (1992) - Tác
phẩm này được dư luận đánh giá là “cuốn tiểu thuyết quan trọng”, nó mở ra một tiềm
năng tiểu thuyết đáng được chờ đợi Với tiểu thuyết này, Tạ Duy Anh đã trình bày triết lý về số phận người nông dân trong sự nhào nặn của lịch sử Theo ông, người nông dân vừa là nạn nhân của thời cuộc, của chính mình, đồng thời họ cũng là tội nhân Lão Khổ là hiện thân của một kiếp người thăng trầm bị làm khổ và tự làm khổ, chống lại cái ác và sản sinh cái ác Với cách nhìn mới về người nông dân như vậy,
Lão Khổ đã cho người đọc thấy được những diện mạo khác của người nông dân Có
thể nói, cùng với các nhân vật khác như lão Khúng (Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh
một kiểu nhân vật mới: nhân vật lưỡng hóa Đó là những con người phải đứng trước
Trang 23sự thử thách và lựa chọn trên các cực đối lập Như vậy, Lão Khổ thực sự là một đóng
góp quan trọng của Tạ Duy Anh đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại Chính vì vậy mà cho đến nay, tiểu thuyết này vẫn có nhiều độc giả say mê
Sau thành công với Lão Khổ, Tạ Duy Anh liên tục cho ra đời nhiều truyện
ngắn Và đến đầu năm 2002, nhà văn trình làng một tiểu thuyết mới khiến nhiều
người quan tâm, đặc biệt là giới nghiên cứu Với Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh đã đánh dấu sự thay đổi và trưởng thành của mình trong lối viết Đi tìm nhân vật là “một
lối tìm cách nói khác về xã hội và lịch sử đương đại” Tạ Duy Anh “như muốn xé rách cả tấm màn che phủ lên hiện thực hằng ngày để làm phơi lộ ra một thực trạng
xã hội trong Đi tìm nhân vật” [68] Có thể nói, Đi tìm nhân vật đã đạt đến lối viết đa
âm hiện đại, có sự mới mẻ về cấu trúc, phong cách ngôn ngữ Đây thực sự là một cuốn tiểu thuyết khó đọc Khó đọc bởi sự đan cài các sự kiện theo trật tự thời gian thứ cấp – thời gian bên trong của tâm trạng, thời gian vụt hiện của những mảng hồi ức, những mảng ý nghĩ chợt đến, chợt đi Khó đọc bởi tất cả được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ lạnh lùng, khô khốc, khinh bạc Khó đọc bởi các vấn đề được đặt ra khiến người đọc phải suy ngẫm, phải giật mình, thậm chí hoảng sợ Người đọc buộc phải nhìn lại hiện thực cuộc sống, nhìn nhận lại bản thân và chắc hẳn không tránh khỏi lo sợ về sự băng hoại đạo đức, sự đánh mất bản thân của con người
Chỉ hai năm sau Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh cho ra đời Thiên thần sám hối
Cuốn tiểu thuyết không quá 200 trang này đã được đón nhận nồng nhiệt Người đọc
có ấn tượng mạnh với sự độc đáo, mới lạ mà tiểu thuyết này mang lại Ở đây, Tạ Duy Anh đã thể nghiệm một lối viết hoàn toàn mới, từ việc sáng tạo nhân vật đến cách dẫn truyện, cách thức kết cấu… Tất cả đều cho thấy nỗ lực mạnh mẽ của tác giả trong
việc tìm kiếm những giá trị mới mẻ cho văn học Trong Thiên thần sám hối, hiện
thực cuộc sống được khám phá bởi một bào thai – sáng tạo độc đáo của Tạ Duy Anh Nhờ nhân vật phi lý này, hiện thực cuộc sống được nhìn dưới góc độ hài hước pha chất giễu nhại tự trào, phê phán và đau xót Hiện thực nghiệt ngã ấy khiến người đọc
bị ám ảnh, phải giật mình hoài nghi, tra vấn lại con người và chính mình
Trang 24Chưa bằng lòng với những thành công đã gặt hái được, Tạ Duy Anh tiếp tục
xuất bản tiểu thuyết Giã biệt bóng tối (2008) Ngay khi Giã biệt bóng tối được trình
làng, Viện Văn học đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết này Có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, song chung quy lại hầu hết các ý kiến đều ghi nhận sự đóng góp và nỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc làm mới tiểu thuyết Với tiểu thuyết này, Tạ Duy Anh
đã có ý thức lựa chọn nhiều điểm nhìn và đi liền với nó là nhiều cách kể, ngôi kể khác nhau Nhà văn thông qua tác phẩm đã đề cập đến nhiều vấn đề nhạy cảm của
cuộc sống và quá khứ Tạo ra một thế giới hiện thực “không đáng tin cậy”, Tạ Duy
Anh đã trao cho người đọc quyền nhận xét, cắt nghĩa, lí giải nó Người đọc không phán xét hiện thực ấy có thực hay không mà chỉ khám phá hiện thực ấy đã chạm đến những vấn đề gì trong cuộc sống Tạ Duy Anh viết về cái ác để đưa người đọc hướng đến cái thiện Cái ác tồn tại vô hình, lẩn khuất quanh ta và chỉ cần mất cảnh giác thì
ta sẽ bị nó điều khiển, trở thành tay sai đắc lực của nó Con người sẽ phải rất vất vả trong hành trình hướng thiện, tránh xa cái ác Hành trình ấy không có hồi kết và trên hành trình ấy con người khẳng định được nhân cách, phẩm chất của mình
Như vậy, trong khoảng thời gian chưa đầy hai mươi năm, Tạ Duy Anh viết năm tiểu thuyết, đi từ lãng mạn đến hiện thực, rồi phi lí; từ lối viết cổ điển đến hiện đại Quá trình chuyển biến, trưởng thành ấy trong lối viết đã minh chứng cho tinh thần làm việc không mệt mỏi của nhà văn Tạ Duy Anh đã không ngừng đổi mới mình qua những sản phẩm tinh thần mà ông tạo ra Người đọc háo hức đón đợi tác phẩm của ông và cũng say sưa khám phá, nhận định về nó trên nhiều phương diện Tiểu thuyết Tạ Duy Anh đã chạm được đến nhiều vấn đề gai góc của cuộc sống và nhà văn đã biết cách thể hiện những vấn đề ấy một cách mới mẻ, độc đáo Các thủ
trong việc sử dụng các yếu tố huyền thoại, kì ảo, phi lí; trong việc sử dụng triệt để giọng điệu giễu nhại đã hỗ trợ một cách đắc lực cho việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm
Với tất cả những đóng góp cho nền tiểu thuyết Việt Nam, Tạ Duy Anh xứng đáng được coi là tác giả tiêu biểu cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Trang 251.2.2 Quan niệm về văn chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh
Mỗi một nhà văn đều có những quan niệm riêng về văn chương nghệ thuật Quan niệm ấy sẽ chi phối cách thể hiện tác phẩm như thế nào Tạ Duy Anh là một nhà văn có quan niệm hết sức nghiêm túc về văn chương nghệ thuật Điều đó được thể hiện rõ trong các tác phẩm cũng như trong các bài trả lời phỏng vấn của ông Là một nhà văn có bản lĩnh và khát vọng cách tân, Tạ Duy Anh đã mạnh dạn khước từ thứ văn chương chăm chăm giáo huấn, áp đặt chân lí cho người đọc, tuyên chiến với những kinh nghiệm thẩm mĩ quen thuộc Ông muốn người đọc có sự đổi mới trong cách đọc, trong tư duy đánh giá tác phẩm
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng : “Đức tính lớn nhất đối với một người cầm bút
không phải là thành thực hay khiêm tốn mà, theo tôi, chính là sự táo bạo Không táo bạo, không thể sáng tạo Trong lĩnh vực văn học, người dám xông thẳng vào bụi rậm
và gai góc để lần mò một lối đi riêng bao giờ cũng có triển vọng đi xa hơn những kẻ khôn ngoan phóng mình theo lối mòn có sẵn Ở đây, người ta chỉ ghi nhận thành tích của những người trèo lên những đỉnh núi cao, dẫu trèo một cách chậm chạp, ì ạch, khổ sở, thậm chí có khi thất bại” [83] Có thể coi táo bạo là phẩm chất nổi bật ở Tạ
Duy Anh Nhà văn luôn lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc để không lặp lại những người đi trước và không lặp lại chính mình Tạ Duy Anh xây dựng tác phẩm bằng một lối đi rất riêng, rất lạ Ông không phải là người mở đường cho những đột phá về nhận thức xã hội, quan niệm văn chương, đổi mới cách viết, cách thể nghiệm trần thuật – công lao đó thuộc về Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài…, nhưng ông là người có những thể nghiệm tìm tòi đảo lộn các quan niệm cũ, thay đổi lối nhìn đơn giản, xuôi chiều quen thuộc, làm thức dậy nhu cầu nhận thức và tự nhận thức những vấn đề của hiện tại và quá khứ
Tạ Duy Anh sớm gặt hái thành công ngay từ tác phẩm đầu tay Bước qua lời
nguyền, song nhà văn không dừng lại ở đó, ông tỉnh táo để vượt qua chính mình Với
ông, sáng tạo đồng nghĩa với quá trình tự “tiêu hóa”, “tự làm sạch mình”, nhà văn không nên và không thể thỏa mãn với những gì đã có Tạ Duy Anh khẳng định “Điều
Trang 26duy nhất khiến tôi quan tâm là chính mình có chán lối viết của mình hay không?” và
“bất kì sự buông thả nào cũng phải trả giá Suốt nhiều năm tôi đã vất vả tìm cách thoát khỏi chính mình Và suy cho cùng điều đó thuộc về logic sáng tạo” Ông cho
rằng “Bản thân sáng tạo là khám phá những điều chưa bao giờ được biết đến về đối
tượng của nó và đây là điều kiện tiên quyết Mỗi một tác phẩm lớn đều đã bao hàm trong đó yếu tố cách mạng về thủ pháp nghệ thuật hoặc quan niệm về hiện thực Nếu không đạt được điều đó thì những gì tạo ra ít có cơ may sống sót” [4, 396]
Giống như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh,… Tạ Duy Anh là nhà văn có bản lĩnh, có khát vọng cách tân, dám trả giá để bảo vệ một quan niệm
sám hối Ngay từ lời tựa, ông đã khẳng định: “Câu chuyện khó tin này là của một
đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ Nếu đọc xong quý vị vẫn không tin thì cũng không sao”
Và người kể chuyện xưng tôi chính là cái bào thai ấy Trong Đi tìm nhân vật, nhà
văn tạo ra các phản đề kích thích đối thoại Đây chính là cách thức nhà văn khước từ thứ văn chương giáo huấn, áp đặt chân lí cho người đọc Thị hiếu tạo cho ta sự ổn định thẩm mĩ nhưng thị hiếu cũng ngăn cản sự cách tân Do đó nhà văn đã luôn tìm cách phá bỏ thị hiếu thông thường của người đọc
Nếu như Nguyễn Huy Thiệp dựa vào cổ tích để viết những tác phẩm mới theo
phương thức “giả cổ tích”, thì Tạ Duy Anh dùng chính cổ tích để lật lại cách nghĩ
truyền thống, làm thay đổi thị hiếu người đọc Truyện cổ tích là thể loại văn học tự sự dân gian nổi bật với số lượng tác phẩm rất lớn, phản ánh cuộc đấu tranh giữa con người với con người: Giàu - nghèo, hiền - dữ, thiện - ác trong mối quan hệ giữa các tầng lớp, giai cấp Truyện cổ tích còn phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân lao động Đó là nguyện vọng cải tạo hiện thực, là lời tố cáo những bất công của xã hội phong kiến, là lời cổ vũ cho cuộc đấu tranh về một xã hội công bằng, nhân đạo hơn Vì thế, với truyện cổ tích, cái thiện luôn chiến thắng cái ác, dù cái ác lúc đầu
bao giờ cũng mạnh, cũng thắng thế Đó chính là quy luật nhân quả “thưởng thiện
phạt ác” Nó vừa là thủ pháp nghệ thuật để xây dựng cốt truyện, vừa là ước vọng của
nhân dân lao động Nguyễn Huy Thiệp sử dụng phương thức “giả cổ tích” để viết nên
Trang 27những truyện cổ tích thời hiện đại, ở đó hiện rõ một hiện thực trần trụi không phải
như con người mơ ước Với Tạ Duy Anh, trong Đi tìm nhân vật, ông đã chọn truyện
cổ tích để đưa ra một cách hiểu, một quan niệm hoàn toàn mới Ở truyện “Rùa chạy
thi với thỏ”, Tạ Duy Anh cho rằng “chúng ta đã dạy cho con em mình sự khôn lỏi bằng cách nói dối Kẻ bị đem chế giễu là kẻ trung thực” [9, 120] Và tác giả khái quát
truyện trên bằng câu “thật thà là cha thằng dại” Với truyện “Trí khôn của ta đây”, nhà văn cho rằng “sự khôn lỏi đã được đẩy lên thành trí khôn và để đạt được nó thì
phải lừa dối Lừa dối trở thành phương tiện để đạt mục đích và nó được sự cổ vũ của
sự dốt nát” [9, 121] Truyện “Tấm Cám” được tác giả kết luận là “cái thiện trở thành thảm hại trước cái ác” Với cả ba truyện cổ tích trên, Tạ Duy Anh phân tích để thấy
rõ kẻ chiến thắng ở cuộc chiến này là quỷ và sự lừa dối Ở truyện “Mị Châu – Trọng
Thủy”, Tạ Duy Anh đã có một cách nhìn, một cách nghĩ hoàn toàn mới khi cho rằng
“viên minh châu đã cứu chuộc mọi lầm lỗi, ngu muội” “Và những chiếc lông ngỗng không phải là kẻ chỉ điểm, không phải là minh họa cho sự khờ dại mà nó đánh dấu con đường đi đến sự vĩnh cửu” [9, 121] Như vậy, nhà văn đã đưa ra một cách nhìn,
cách đánh giá thực sự mới mẻ, nó khiến người đọc nghi ngờ sự nghiêm túc của vấn
đề mà ông đưa ra, nhưng có thể ngay sau đó lại nghi ngờ sự đúng đắn của tất cả những gì đã ăn sâu vào tiềm thức và cả nếp nghĩ, nếp tư duy của mình xưa nay
Nếu Nguyễn Huy Thiệp dựa trên những chi tiết lịch sử, những sự kiện lịch sử
có thật để chọn cho mình một lối đi riêng khi nhìn nhận lịch sử từ góc độ cá nhân theo tư duy văn học và được thể hiện dưới cách viết hoàn toàn mới lạ thì Tạ Duy Anh luôn có ý thức nhìn nhận lại, nghi ngờ tất cả những gì đã được xác tín để xây dựng những cách nhìn mới, những giá trị mới Ông cho rằng nhà văn không phải là thằng
hầu của lịch sử: “Bản thân lịch sử là vô ý, vô cảm và chẳng có giá trị gì với chính nó
Nó chỉ có giá trị với tương lai ở khía cạnh kinh nghiệm và những bài học Những bài học lịch sử, đặc biệt là những bài học rút ra từ những thảm họa, cần phải được nhắc
đi nhắc lại,…Mọi sự bóp méo, che giấu hoặc thổi phồng các sự kiện lịch sử đều là tội
ông Mặc dầu những cái nhìn mới về lịch sử, về con người đôi khi đã gây cho nhà
Trang 28văn những hệ lụy nhất định, thế nhưng ông vẫn sẵn sàng trả giá Ở Đi tìm nhân vật,
hơn là những gì diễn ra” [9, 123] Có lúc nhân vật của ông “lội ngược về quá khứ” và
“lờ mờ cảm thấy có một sự trục trặc gì đó từ phía lịch sử khiến chúng ta bị cuốn vào một trò chơi tàn khốc, trong đó tất cả biến thành những kẻ bị săn đuổi” [9, 114]
Ông chấp nhận bị bài xích, thậm chí nguyền rủa để tạo ra một cảm nhận khác, một tư duy khác Đó là tinh thần dũng cảm khi ông chọn cho mình một lối đi đơn độc, nhưng có lẽ chính sự đơn độc ấy đã tạo nên tên tuổi Tạ Duy Anh rất riêng trên văn đàn
Hơn ai hết, nhà văn Tạ Duy Anh hiểu rằng mỗi người cầm bút muốn chiếm được vị trí trong lòng người đọc thì cần phải tạo ra được những điều mới mẻ Và với
tiểu thuyết, nhân vật là yếu tố quan trọng nhất Ông cho rằng mỗi nhà văn “chỉ cần
sinh ra được một nhân vật và cố gắng tạc chân dung của nó vào kí ức độc giả đã là may mắn lớn” [4, 420] Và điều đáng ghi nhận là những nhân vật của ông đã chiếm
một vị trí đặc biệt trong lòng người đọc Độc giả chắc hẳn không thể quên được một lão Khổ có cuộc đời long đong đúng như cái tên của lão – một con người đáng thương lẫn đáng trách trong tiểu thuyết cùng tên; cũng không thể không giật mình bởi nhân vật “hắn” biến ảo khôn lường và có cảm giác nhân vật ấy ở đâu đây xung quanh
ta trong xã hội này ở Đi tìm nhân vật; và chắc chắn, người đọc sẽ còn ám ảnh mãi về nhân vật vô hình và phi lí – bào thai trong Thiên thần sám hối Chính những nhân
vật đáng nhớ ấy khiến người đọc không thể quên được người đã sinh ra chúng
Trong văn chương hiện đại, mỗi người viết phải tự khẳng định tư cách tồn tại
bằng sự sáng tạo riêng Mỗi tác phẩm là tiếng nói, kinh nghiệm riêng Bước qua lời
nguyền được coi là “hiện tượng văn học của một thời” Chính tác phẩm đầu tiên này
đã khẳng định tư cách nhà văn của Tạ Duy Anh Cùng với Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)…,
Bước qua lời nguyền đã thổi luồng sinh khí mới vào đời sống văn học Truyện ngắn
này của Tạ Duy Anh quả là một tiếng nói có tác động rất mạnh vào kinh nghiệm nghệ
Trang 29thuật và thị hiếu công chúng Ông thành công bắt đầu từ thể loại truyện ngắn nhưng
đã không ngần ngại thể nghiệm và khẳng định mình ở thể loại tiểu thuyết Ông đã dùng chính những truyện ngắn của mình tạo nền, làm bước đà vững chắc để đến với những tiểu thuyết dài hơi hơn Mỗi tác phẩm của ông đều gặt hái những thành công nhất định Và có thể khẳng định, khi liệt kê những tiểu thuyết tiêu biểu đương đại, chúng ta không thể không nhắc đến tiểu thuyết của Tạ Duy Anh và khi nhắc đến tên tuổi của các nhà văn có nhiều đóng góp hiện nay, chúng ta cũng sẽ chắc chắn phải nhắc đến nhà văn này
Tạ Duy Anh là tác giả miệt mài tìm kiếm kĩ thuật viết nhưng ít khi thỏa mãn
với nó Sau Bước qua lời nguyền, sự bận tâm chủ yếu của nhà văn xoay quanh câu
hỏi về cách viết Ông quan niệm “sáng tác đồng nghĩa với việc tìm tòi kĩ thuật viết…
Kĩ thuật viết xét cho cùng là sự nỗ lực tạo ra hình thức và hiệu quả cao nhất cho tác
phẩm” [15, 378] Từ Lão Khổ đến Đi tìm nhân vật, từ Đi tìm nhân vật đến Thiên thần sám hối, từ Thiên thần sám hối đến Giã biệt bóng tối là những cố gắng liên tục
của Tạ Duy Anh để ngày càng làm mới mình Ở tiểu thuyết Lão Khổ, lắp ghép là thủ pháp nổi bật Nghĩa là về mặt cấu trúc, Lão Khổ là sự lắp ghép các phiến đoạn khác nhau, nhiều truyện ngắn trong một tiểu thuyết Đi tìm nhân vật vẫn có xu hướng
dùng cấu trúc lắp ghép nhưng mạch tự sự lại rất gần gũi với tiểu thuyết “dòng ý
thức” Còn Thiên thần sám hối là “trò chơi” cấu trúc văn bản Cách biểu đạt trên tinh
thần phân mảng cho thấy một lối viết mới, một thể nghiệm riêng của Tạ Duy Anh Và
có thể thấy ở tiểu thuyết Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, nhà văn đã bớt đi
những triết lí lộ liễu, cũng không còn các sắc thái văn chương quá nghiêm trang như
ở Lão Khổ Hiện thực nghiệt ngã được nhìn dưới góc độ hài hước, pha chút giễu nhại, tự trào đã làm nên sự phong phú thẩm mĩ cho ngòi bút Tạ Duy Anh Đến Giã
biệt bóng tối, ông tiếp tục đổi mới mình ở những cách tân từ điểm nhìn trần thuật đến
giọng điệu giễu nhại, việc sử dụng yếu tố huyền ảo… Tạ Duy Anh đã phát huy tối đa trí tưởng tượng của mình khi đưa những yếu tố huyền ảo, những điều khó xảy ra
trong hiện thực vào tác phẩm Bởi ông cho rằng “trí tưởng tượng là tất cả với tôi
trong sáng tạo nghệ thuật Bản thân nó là sự thăng hoa và khi có nó thì ý tưởng chính
Trang 30là hình ảnh siêu thực về một thế giới khác” [4, 404] Tạ Duy Anh đã làm mới những
sáng tác của mình so với đồng nghiệp và cũng không lặp lại chính mình trong từng tác phẩm Chính tinh thần làm việc nghiêm túc đó đã đưa nhà văn này trở thành một tác giả tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam đương đại, tiêu biểu cho khuynh hướng phát triển của văn học nước ta trong xu thế hội nhập
Trang 31Chương 2 TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH – NHỮNG ĐẶC SẮC
VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI 2.1 Hiện thực trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực
Hiện thực cuộc sống là đối tượng phản ánh của văn học và luôn là mảnh đất màu mỡ để văn học khai phá Thông qua tác phẩm, quan niệm về hiện thực của nhà văn sẽ được thể hiện Quan niệm hiện thực là một vấn đề liên quan trực tiếp đến nhận thức về bản chất, chức năng của nghệ thuật Song, mỗi nhà văn lại có một quan niệm rất riêng về hiện thực Milan Kundera – một tiểu thuyết gia lớn của Pháp cho
rằng “tiểu thuyết suy xét hiện hữu chứ không phải hiện thực Hiện hữu không phải là
cái gì xảy ra, hiện hữu là thế giới của những khả hữu con người, bất cứ cái gì con người có thể trở nên, bất cứ cái gì hắn có khả năng làm Tiểu thuyết gia là người vẽ bức bản đồ sự hiện hữu bằng cách khai phá khả hữu này hay khả hữu kia của con người” [54]
Hiện thực trong văn học vì thế được thể hiện không đơn giản xuôi chiều mà đa dạng, phong phú do được soi chiếu bằng cả kinh nghiệm cộng đồng và kinh nghiệm
cá nhân với các quan điểm nhân bản khác nhau Các nhà văn viết về hiện thực nhưng không nhằm mô tả hiện thực Hiện thực chỉ là cái nền cho sự diễn biến những cuộc đời, những số phận, những trạng thái tinh thần Như vậy, cái mà nhà văn hướng đến
là trình bày trạng thái tồn tại của con người trong hiện thực Tiểu thuyết hiện đại tìm kiếm một phương thức phản ánh không lệ thuộc vào thực tại khách quan Nó không chỉ tái hiện hiện thực mà còn nỗ lực vươn đến sáng tạo những hiện thực mới, một thực tại chỉ có trong ý nghĩ Nói như thế không có nghĩa là tiểu thuyết hiện đại không phản ánh hiện thực, thực chất nó không loại trừ tiểu thuyết hiện thực nhưng tiểu thuyết hiện thực chỉ là một mảnh đất nhỏ Như vậy, công việc của người viết tiểu thuyết là phải tạo ra một thế giới mới, thế giới hoàn toàn khác Ở đó có những yếu tố rất thực lại có những yếu tố ảo do nhà văn sáng tạo nên Và vì thế, có thể nói những
Trang 32gì được coi là hiện thực trong tiểu thuyết, trên thực tế không gì khác hơn chính là sự hình dung về nó
Từ sự thay đổi và mở rộng quan niệm về hiện thực, mối quan hệ giữa nhà văn với hiện thực đã có sự thay đổi Nếu ở giai đoạn trước, con người là phương tiện để
biểu đạt “cái lịch sử” thì bây giờ “lịch sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con
người Hiện thực không bị đóng cứng bởi tiêu chí lịch sử theo tinh thần sử thi mà mang nội dung linh động, dân chủ hơn nhiều với hứng thú tìm “lịch sử trong mỗi con người” Lịch sử theo kinh nghiệm cộng đồng chuyển thành lịch sử theo kinh nghiệm
cá nhân Kinh nghiệm cộng đồng dù phong phú đến đâu cũng không thể so sánh được với kinh nghiệm cá nhân về tính cụ thể, sinh động và đa dạng Nhiều nhà văn đã lấy lịch sử làm chất liệu để truyền đạt những thông điệp hiện tại như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh…
Như vậy, với cách nhìn mới, quan niệm mới, hiện thực không còn bó hẹp ở thực tế đời sống xã hội, các nhà văn có được cái nhìn toàn diện và mới mẻ hơn về
hiện thực Tạ Duy Anh “tâm đắc với ý nghĩ rằng cái mà tiểu thuyết quan tâm không
phải là thế giới này thế nào mà thế giới nó tạo ra sẽ ra sao” [4, 397] Tiểu thuyết Tạ
Duy Anh đôi khi biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực Hiện thực trong tác phẩm đa dạng và nhất quán với quan niệm của Tạ Duy Anh: Viết những cái xấu, cái ác để hướng con người tới chân - thiện - mỹ Trong tác phẩm
của mình, Tạ Duy Anh viết nhiều về cái ác, cái xấu: “Văn chương anh lúc nào cũng
đau đáu, riết róng chuyện tàn ác, liêm sỉ và vô lương” [4, 374] Lão Khổ là những
hận thù truyền kiếp; Đi tìm nhân vật là cái ác ngự trị trong bản thân mỗi con người;
Thiên thần sám hối là sự băng hoại đạo đức, nhân tính của con người; Giã biệt bóng tối là cái ác luôn lẩn khuất nhưng sẵn sàng tác quái bất cứ lúc nào con người không
Với Tạ Duy Anh, cái nhìn hiện thực trong quan niệm của ông không phải là cái nhìn xuôi chiều, dễ dãi và lạc quan Ông nhìn thẳng vào sự thật trần trụi với tất cả
những gì nó có Với quan niệm: “Mỗi người có một cách nhìn hiện thực được quy
định trước hết bởi môi trường sống, khả năng nhận thức, những ám ảnh về hạnh
Trang 33phúc và tai ương mà họ trải qua, chiều hướng tư tưởng mà họ theo đuổi… Nó thuộc
về sự bí ẩn cá nhân, không thể lí giải bằng các quy luật bịa đặt chủ quan như phần lớn những nhà nghiên cứu thô thiển vẫn làm Tôi được chuẩn bị từ chính cuộc đời để khai thác hiện thực như những gì mọi người cho là gai góc” [4, 401] Tạ Duy Anh
đặc biệt coi trọng hiệu quả của công việc: “Hiện thực cuộc sống, theo tôi, giống như
phương tiện trong tay nhà văn và anh ta có thể sử dụng nhiều lần cho các công việc khác nhau, với những cách thức khác nhau giúp anh ta thực hiện được ý đồ của mình Điều quan trọng là ở hiệu quả của công việc chứ không phải ở cách thức anh
ta sử dụng phương tiện” [4, 403] Không chỉ dừng lại ở việc nhìn thẳng không né
tránh sự thật, Tạ Duy Anh còn nhìn thấy một hiện thực luôn tiềm ẩn những nguy cơ
làm biến dạng, tha hóa tất cả Với ông, “bản thân con người không thể loại bỏ được
tội ác ra khỏi đời sống nhưng có thể và cần phải nhận thức được bản chất của nó… Cách của tôi là làm cho mọi người ghê sợ và kinh tởm bạo lực bằng việc phơi bày nó” [4, 382]
Sau 1975, nhờ cách khai thác hiện thực từ nhiều chiều, văn xuôi Việt Nam xuất hiện nhiều khuynh hướng thẩm mỹ mới, trong đó khuynh hướng nổi bật là nhận thức lại hiện thực, lấy lịch sử - quá khứ làm đối tượng phân tích Các nhà văn ở thời kì đổi mới đã nhìn thẳng vào lịch sử để trình bày suy nghiệm cá nhân về lịch sử Có thể kể đến những tác giả có sự đột phá trong quan niệm, trong cách thể hiện như Bảo Ninh,
Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh… Họ đã khiến người đọc ngỡ ngàng, sửng sốt bởi cách xử lí hoàn toàn mới với một đề tài vốn dĩ đã rất quen thuộc
Tạ Duy Anh cũng giải thoát văn chương cửa mình ra khỏi yêu cầu “phản ánh hiện
thực” bằng cách lật lại những cách nghĩ truyền thống, nhận thức lại hiện thực lịch sử
Nhà văn cho rằng “Lịch sử là những gì người ta tin hơn là những gì diễn ra” bởi
“dẫu sao lịch sử thường rất tù mù và ta chỉ nên tin vừa phải thôi” Theo ông, “bản thân lịch sử là vô ý, vô cảm và chẳng có giá trị gì với chính nó Bất kì sự kiện nào cũng chỉ có giá trị tương lai ở khía cạnh kinh nghiệm và những bài học” [4, 384]
Chính vì thế mà “mọi sự bóp méo, che đậy hoặc thổi phồng các sự kiện lịch sử đều là
tội ác”, “một xã hội văn minh, biết đề cao phẩm giá luôn phải tạo điều kiện để các
Trang 34công dân tiếp cận với mọi sự thật lịch sử, thuộc làu nó ngay từ khi còn trên ghế nhà trường và không ngừng truy tìm tận căn nguyên của từng sự kiện chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới họ” [4, 384] Với quan niệm như vậy, Tạ Duy Anh đã viết rất nhiều tác
phẩm chạm đến lịch sử và những sai lầm của nó Ông cho rằng “Những bài học lịch
sử, đặc biệt là những bài học rút ra từ những thảm họa cần phải được nhắc đi nhắc lại (…) để tránh sự tái diễn tương tự bởi vì lịch sử luôn có nguy cơ lặp lại” [4, 384]
Như vậy, ông nhìn thẳng vào sự thật lịch sử không chút khoan nhượng, không né tránh và phản ánh nó một cách chân thực Những sai lầm trong lịch sử là điều tất yếu
và con người khó tránh khỏi, bởi về bản chất, con người không hoàn thiện Chỉ khi con người dám nhìn thẳng vào sai lầm của mình, khi đó mới tránh được những sai lầm đáng tiếc khác Tạ Duy Anh buộc chúng ta phải nhìn nhận những sai lầm ấy cốt
để tìm ra nguyên nhân và không lặp lại chúng Nhà văn của chúng ta tái hiện lại bức tranh hiện thực nhằm thể hiện những day dứt khôn nguôi về thời cuộc
2.1.2 Cách phản ánh hiện thực
Với quan niệm nhìn thẳng vào hiện thực, không né tránh và phản ánh nó theo cái nhìn riêng của mình, Tạ Duy Anh đã đưa vào trang văn của mình một hiện thực
cuộc sống đầy gai góc Có thể nói, hiện thực ấy là “thế giới của những cái khủng
khiếp” – theo cách nói của Văn Giá Trong Đi tìm nhân vật, không gian gói gọn ở
một khu phố G mà có biết bao điều đáng sợ xảy ra Bức tranh hiện thực ngột ngạt của quyền lực, cái chết, sự đồi bại… có sức ám ảnh lớn đối với người đọc Những cái khủng khiếp trong tác phẩm là có thật nhưng đôi khi cũng là do con người bịa đặt, tưởng tượng ra Và đối diện với hiện thực ấy, con người có lúc không phân biệt thực
hư Chuyện thật tưởng bịa và chuyện bịa lại khiến người ta tin là có thật Và cuối cùng, cái cốt yếu là những điều ấy đều có thể là sự thật Tạ Duy Anh không chỉ phản ánh một hiện thực như nó vốn có mà còn tạo ra một hiện thực như nó có thể có
Thiên thần sám hối là tác phẩm thể hiện rõ điều đó Nhà văn đã chọn điểm
nhìn từ một nhân vật không có thật để phản ánh cuộc sống hiện tại Nhân vật “bào
của mình Hiện thực cuộc sống vì thế thực chất là hiện thực được tưởng tượng bởi
Trang 35thai nhi Song hiện thực ấy không phải là không thể có thật, mà ngược lại đó là một hiện thực trần trụi với tất cả những tội ác, mưu toan vốn có của con người Chúng ta
điều về cuộc sống bên ngoài, chúng ta cũng không lấy làm lạ chuyện một người mẹ vui mừng khi được nhận tiền chi phí cho việc đồng ý ngâm cồn những đứa con của mình, mà cái chính là cảm giác đớn đau khi chứng kiến sự tha hóa về đạo đức của con người Những điều mà thai nhi nghe ngóng được về cuộc sống bên ngoài cho nó hình dung một cách khá đầy đủ về hiện thực mà nó sắp đón nhận Hiện thực ấy đáng
sợ, nó từng khiến thai nhi có ý định từ chối việc chào đời vì không cảm thấy an toàn
Hiện thực ấy cũng hứa hẹn nhiều điều bởi “cuộc sống là ân sủng lớn nhất” Chính sự
hứa hẹn đó của hiện thực mà thai nhi đã đón nhận nó
Ở Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh chọn kể một câu chuyện có vẻ hoang đường
với nhiều tình tiết li kì, nhưng ẩn đằng sau nó là một hiện thực với bao sự kiện, biến
cố gắn liền với số phận của bao con người rất thật Chọn không gian hẹp chỉ trong một làng quê nhưng Tạ Duy Anh đủ sức tái hiện được bức tranh của cả xã hội ở quá khứ lẫn hiện tại Đấy vẫn là một xã hội với nhiều điều khủng khiếp – một xã hội với đầy rẫy cái ác, cái xấu Bóng tối dường như bao trùm lên tất cả, chi phối tất cả Nó dồn nhân vật vào đường cùng không lối thoát và nó cũng khiến cho người đọc khiếp đảm Như vậy, Tạ Duy Anh đã đặt ra được những điều cần thiết mà xã hội cần xem xét lại, đó là sự xuống cấp về nhân phẩm, sự tha hóa về tính cách của con người Chính con người đã tự tàn phá nhân phẩm, tư cách làm người của mình Tuy nhiên, tác giả không mất hết niềm tin ở con người Ông sẵn sàng gửi gắm niềm tin ấy ở ngay những thân phận hèn mọn như cô gái làm tiền hay thằng bé lang thang Bằng tất cả tình cảm và sự điêu luyện trong lối viết, Tạ Duy Anh đã tạo ra một hiện thực nhập nhằng như chính cuộc sống của thời hiện tại mà chúng ta đang sống Để từ bỏ cái xấu không phải là việc dễ dàng, song con người không bao giờ bị mất đi niềm hi vọng Cái thiện như một ánh sáng le lói trong đêm đen của cái ác Thế nhưng, cuối cùng, cái thiện vẫn tồn tại, nó thoát ra khỏi bóng tối dẫu bao lần bị chà đạp, xô đẩy tưởng chừng không đứng vững được Bóng tối của cuộc đời và bóng tối của chính mỗi con
Trang 36người bị đẩy lùi Đấy là niềm tin, niềm hi vọng của tác giả vào cuộc đời, vào con người Nó giữ cho người đọc đứng lại được bên bờ vực thẳm của bóng tối và cái ác
Nó khiến cho ta thấy cần phải sống như thế nào để loại bỏ được bóng tối ra khỏi cuộc đời Đấy chính là giá trị nhân bản mà tác phẩm mang lại
Tạ Duy Anh còn là nhà văn có cái nhìn mới mẻ, độc đáo về hiện thực của quá khứ Trong các tác phẩm của mình, Tạ Duy Anh đã cố gắng tạo ra một thế giới hiện
thực “không đáng tin cậy” Vì thế, theo lời mở đầu của người dẫn chuyện thì câu
chuyện đã xảy ra, và người đọc có quyền tin hay không về tính chân thực của câu chuyện được kể Đọc tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, đôi khi chúng ta không thấy mối liên hệ rõ ràng giữa nhân vật với hiện thực xã hội, giữa bạn đọc với thực tại trong tác phẩm hay cuộc đời đang sống Bởi tác giả đã từ cái nhìn của thì tiếp diễn mà chiếu
ngược trở về quá khứ đã qua, từ cái nhìn của một kẻ “lạc loài” tự tách mình ra khỏi đám đông nhân quần mà đứng xa trông lại Chính cái nhìn ấy làm “lạ hóa” hiện thực
cuộc sống Điều đó khiến người đọc tưởng tác giả hoàn toàn hư cấu, tưởng rằng giữa tác phẩm và hiện thực không hề có sợi dây liên hệ nào Để rồi sau đó độc giả mới nhận ra rằng hiện thực qua tác phẩm đã được phủ lên lớp sương mờ Thông qua lớp sương mờ ảo ấy, người đọc khám phá hiện thực Chính điều đó đã tạo nên sức hấp
dẫn cho tiểu thuyết của nhà văn này Trong “Thiên thần sám hối”, ngay từ lời tựa, tác giả đã khẳng định đây là “một câu chuyện khó tin” và điều quan trọng là người đọc
“sẽ còn ám ảnh về chuyện có thể tin được hay không?” Chính vì thế mà người đọc có
thể liên tưởng, chiêm nghiệm song không hề đối chiếu những điều được nhà văn kể với hiện thực ngoài đời để đòi hỏi nó phải như thật Tất cả các câu chuyện đều được
kể bởi một thai nhi chưa ra đời – một điều hoàn toàn không thực Nhưng trong suốt tác phẩm, người đọc không hề hoài nghi chuyện có thật hay không một hài nhi lại có thể nghe thấu, suy ngẫm và triết lí về cuộc đời Đọng lại trong mỗi người sau khi đọc
tiểu thuyết này là một hiện thực trần trụi khá tàn khốc Nó cho thấy những mặt “khuất
lấp” xấu xa, thấy cái ác còn ngự trị trong mỗi con người Như vậy, hiện thực không
chỉ là cái “cầm nắm” được, miêu tả được mà hiện thực còn là những ám ảnh chập
chờn, là niềm tin, tín ngưỡng… xuất hiện trong đời sống tinh thần, tâm linh của con
Trang 37người Với tiểu thuyết này, Tạ Duy Anh đã tạo ra một hiện thực bằng cái phi lí, kì ảo Chính cái phi thực ấy là nhằm mục đích không phải để người đọc tin vào hiện thực được mô tả mà cốt để khơi gợi suy ngẫm, kích thích đối thoại
Như vậy, thông qua các tác phẩm của mình, nhà văn đã cho thấy sự tự giải phóng mình khỏi quan niệm đơn giản, nhất thành bất biến về hiện thực, để bằng trí tưởng tượng trình bày một quan niệm riêng về hiện thực
2.2 Con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy con người là đối tượng trung tâm để phản ánh Văn học nghệ thuật càng phát triển thì việc đề cập tới con người và tất cả những gì liên quan đến con người càng được chú trọng Theo lịch sử phát triển, ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn, con người lại có những cách quan niệm khác nhau về chính mình và đồng loại Văn học cũng vậy, trải qua thời gian, quan niệm về con người có nhiều thay đổi Mỗi nhà văn là một thế giới riêng, luôn tiếp nhận những ảnh hưởng khác nhau của cuộc sống và do đó, quan niệm nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật về con người nói riêng của họ là rất đa dạng và phong phú Nhà văn nhào nặn tác phẩm từ quan niệm nghệ thuật về con người Toàn bộ sáng tác của nhà văn bộc lộ quan niệm đó Quan niệm này sẽ chi phối toàn bộ công việc sáng tạo của nhà văn Và muốn tiếp cận tác phẩm, chúng ta không thể không tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Ở nước ta, từ sau đổi mới, nền văn học được cởi trói, các nhà văn đã mạnh dạn bày tỏ quan điểm riêng của mình về con người Cách nhìn nhận và quan niệm về con người cũng có những chuyển biến đáng
kể Nếu như trước đó, các nhà văn nhìn con người ở phương diện đạo đức, lí tưởng vì cộng đồng, thì giờ đây họ nhìn nhận con người ở tất cả những góc khuất, chiều sâu trong tâm hồn Vì khi chiến tranh qua đi, con người trở về với cuộc sống đời thường với tất cả những phức tạp vốn có của nó Chính lúc đó, con người sẽ bộc lộ bản chất thật nhất của mình Con người với đầy đủ các phẩm chất và thuộc tính, bản năng và ý thức, thấp hèn và cao thượng, phần con và phần người … Từ con người tập thể sang con người đời thường với tất cả tính chất mâu thuẫn phức tạp Một quan niệm mới về
Trang 38con người được hình thành, đấy là “con người cá nhân, con người chịu trách nhiệm
trước mọi quyết định của chính bản thân mình” Con người ấy không còn “nguyên phiến sử thi” - chữ dùng của Trần Đình Sử - mà hiện lên với nhiều mâu thuẫn Những
mặt trái của đời sống được phơi bày cụ thể; sự tha hóa về nhân cách, những số phận
bi kịch, những tâm trạng lo âu khắc khoải được đặc tả Con người được hình dung và thể hiện ở nhiều mặt : Không chỉ có ý chí, tư tưởng, tình cảm mà còn được khắc họa
ở các phương diện bản năng vô thức, tâm linh, nghịch lí… Và có thể nói, “trong tất
cả các loại hình văn học thì tiểu thuyết có khả năng tiếp cận số phận mỗi con người hơn cả Với đặc trưng thi pháp của mình, tiểu thuyết có thể đi vào mỗi ngóc ngách của của số phận, lí giải các tình huống tâm lí và chỉ ra sự tất yếu trong hàng loạt những sự kiện tưởng như ngẫu nhiên xảy ra trong mỗi cuộc đời con người” [111,
420] Chính vì vậy, nhiều nhà văn đã tìm đến thể loại này để tái hiện và thể hiện quan niệm nghệ thuật của mình về con người
Sự phức tạp, phong phú trong đời sống con người đòi hỏi văn học phải nhìn nhận con người một cách toàn diện, sâu sắc hơn Chính điều đó đã thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn Tạ Duy Anh cũng là một trong số đó Qua tác phẩm của mình cũng như những bài trả lời phỏng vấn, nhà văn này đã bộc lộ rất rõ quan niệm nghệ thuật về con người của mình Là một trong những nhà văn tiêu biểu sau thời kì đổi mới, Tạ Duy Anh cũng có những quan niệm nghệ thuật rất riêng
về con người Với ông, bản thân mỗi con người luôn tồn tại cái Thiện và cái Ác Và con người trong cuộc sống hiện đại luôn rơi vào trạng thái cô đơn, dễ tha hóa, đánh
mất bản thân mình Trong bài trả lời phỏng vấn, Tạ Duy Anh khẳng định: “Tôi là
người thích đi mấp mé bên bờ vực của cái ác và thiện với hi vọng có thể soi rọi vào
nó ở những phần khuất lấp ít người chạm tới Và sau đó - nếu có thể - là chiếm lĩnh
“Bờ bên kia của cái thiện và cái ác” như tưởng tượng của Nietzsche Những gì tôi mô
tả có thể xem như kết quả của quá trình khám phá đó Cuộc mạo hiểm nào cũng phải trả giá đắt và tôi đã sẵn sàng cho việc đó” [4, 419] Như thế, Tạ Duy Anh đã khẳng
định mình chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng hiện sinh của Nietzsche Ông khám phá con người ở những phần khuất tối, đi sâu tìm hiểu những dục vọng thấp hèn có khả năng
Trang 39cầm tù con người Cái mới của nhà văn này là ông cho rằng “bản thân con người
không thể loại bỏ được tội ác ra khỏi đời sống” Và cái ác trong quan niệm của ông
bao gồm cả sự tối tăm, thù hận, ngu dốt… Trong các sáng tác về nông thôn, nhân vật của ông hầu hết đều là những con người thù hận Chính sự thù hận đã đày đọa họ và những người chung quanh Sống trong vòng thù hận lẩn quẩn ấy, con người trở thành những tội nhân gieo đau khổ cho đồng loại và chính bản thân mình Điều này được
thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết Lão Khổ và rất nhiều truyện ngắn Trong Lão Khổ,
biết bao con người ở làng Đồng đã sống suốt đời trong thù hận Sự hận thù đã được
họ lưu truyền, nuôi nấng ngày một lớn và chính khát vọng trả thù đã đem lại bất hạnh cho tất cả Kẻ trả thù và người bị trả thù, tất thảy đều không tìm được hạnh phúc, đều mất đi sự thanh thản trong tâm hồn - cái mà lẽ ra họ có thể có nếu hóa giải sự hận thù Trong quan niệm của Tạ Duy Anh, con người trong xã hội hiện đại đã tự phơi bày sự
thấp hèn, bản tính phi nhân, thú dữ của mình Ông cho rằng “có một tí thánh thần,
một tí súc vật, một tí người, một tí quỷ, một tí sâu bọ… mỗi thứ một tí trong con
người” [9; 242] Tác phẩm Đi tìm nhân vật thể hiện đậm nét nhất quan niệm này của
ông Những nhân vật như Chu Quý, Thảo Miên, tiến sĩ N, người gác rừng, … đều là những con người không đơn nhất mà phức tạp vô cùng Chính sự phức tạp ấy đã tạo nên những con người rất thật, rất gần với những gì nó có
Bên cạnh việc thể hiện trạng thái con người mấp mé giữa lằn ranh Thiện - Ác, trang văn của Tạ Duy Anh chất chứa nỗi buồn trước sự tha hóa của con người, nỗi lo
về thân phận con người, về sự biến mất của cá nhân Nhân vật của ông hầu hết là những con người cô đơn đến tột cùng và đang dần đánh mất bản thể của mình Trong cuộc sống hiện đại, cái đáng sợ nhất là con người không còn nhận ra mình trong vòng quay hối hả của cuộc sống… Cuộc sống không có mục đích để theo đuổi, không còn những cuốn hút, say mê nên ngưng đọng đến ngạt thở Con người trở nên nhỏ nhen, ti
tiện, “bị bủa vây trong nỗi sợ hãi, vong thân, vong bản, đánh mất mình là sự cảm
nhận đớn đau về số phận con người, là mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh” Chu
không ít lần hoài nghi về sự tồn tại của mình Kiếp người trong tác phẩm của nhà văn
Trang 40này gắn liền với bao đau khổ Và ông băn khoăn đi tìm những nỗi khổ ải của con
người Ông cho rằng “Từ ánh sáng con người bước vào bóng tối với khát vọng quằn
quại đi tìm ánh sáng! Khởi thủy của bi kịch, tình yêu, niềm đam mê tự do, của nỗi khổ
… bắt đầu từ đấy” [9; tr ] Với quan niệm đó, Tạ Duy Anh đã tạo ra những nhân vật
luôn sống trong trạng thái tinh thần căng thẳng, bị dằn vặt và muốn chuộc lỗi, những kiếp người đầy khổ đau và niềm trắc ẩn Trong trạng thái đó, con người thấm thía nỗi đau của mình và của loài người nói chung Rất nhiều lần trong những tác phẩm của
mình, Tạ Duy Anh đã để nhân vật nói lên tư tưởng ấy Chị Thư trong Lão Khổ chua
xót khi khẳng định: “Kiếp người nào chẳng đầy rầy khổ đau và nước mắt” [4; tr219],
“những ai sinh ra đều khốn khổ chẳng riêng gì em và ông” [4; tr214] Lão Khổ cho
rằng “ở một khía cạnh nào đó, sống là một cuộc đi đày và cái chết là dấu hiệu của tự
hóa ra là khốn nạn nhất” Một nhân vật khác thì đau đớn nhận ra: “em thấy làm thằng người khổ quá”… Như vậy, tất thảy họ đều là những con người bất hạnh, khổ
đau Cuộc sống với họ như là sự trừng phạt Chẳng thế mà đã có lần lão Khổ nằm mơ
về hình phạt khủng khiếp mà tòa buộc mình phải nhận là “bắt về trần sống tiếp”
Với cách nhìn và quan niệm như vậy về con người, Tạ Duy Anh đã tạo ra trong các tác phẩm của mình nhiều kiểu loại nhân vật khác nhau Đó là những con người tha hóa trước bao biến động của dòng đời; là những con người mải miết suốt đời trong hành trình kiếm tìm bao điều phù du và kiếm tìm chính bản thể con người mình; là những con người cô đơn giữa cuộc đời; sống trong sợ hãi, hoài nghi; là những con người luôn tự vấn, sám hối… Tất cả đều là kiểu nhân vật “phi chính thống”, nghĩa là rất khác với nhãn quan chính - tà, thiện - ác, ta - địch Thế giới nhân vật ấy trong sáng tác của Tạ Duy Anh gây ấn tượng rất mạnh Nó khác hẳn kiểu nhân vật truyền thống Chính vì thế mà khi đến với tác phẩm của ông, người đọc đôi lúc có
cảm giác bị thôi miên, ám ảnh Đúng như M Gorki từng nói: “Nghệ thuật bắt đầu từ
nơi mà người đọc quên tác giả, chỉ có trông và nghe thấy những con người do tác giả trình bày trước người đọc”