1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại thành phố hồ chí minh

136 1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về sức khỏe tinh thần của giáo viên mầm non ở trên cho thấy giáo viên mầm non cần có được sự hỗ trợ của các nhà tham vấn tâm lý – những người có thể giúp họ giải tỏa được nhữn

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-o0o -

Thành Ph ố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-o0o -

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Người nghiên cứu xin được bày tỏ lòng biết ơn Qúy Thầy/ Cô giáo đã

giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt thời gian học chương trình cao học tại Đại học sư phạm TP.HCM Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS

Đỗ Hạnh Nga đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn

tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng quý thầy cô trường CĐSPTW TP.HCM đã hỗ trợ về vật chất và tinh thần giúp tôi hoàn thiện chương trình học tập

Xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và bảo vệ luận văn

Xin cảm ơn các bạn học viên Tâm lý học K20 đã quan tâm chia sẻ và động viên trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng người nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu

và giáo viên các trường: MN Bé Ngoan Q.I; MN Tuổi Ngọc, MN Thỏ Ngọc,

MN Tư Thục Hoàng Mai I, MN Tư Thục Sao vàng Q.8; Trường MN Rạng Đông 9, Q6; Trường MN Q11; Trường MN Trường Thạnh, MN Long Trường Q.9; MN Tư Thục Thanh Tâm, MN Tư Thục Hạnh Phúc Q Thủ Đức

và trường MN Thị Trấn Củ Chi đã nhiệt tình cộng tác trong quá trình nghiên

cứu đề tài

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Người nghiên cứu xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực

hiện Các số liệu trong luận văn này là có thực Nếu có vi phạm, người nghiên cứu xin chịu mọi trách nhiệm theo qui định của Phòng Sau Đại Học – Trường Đại học

sư phạm TP.HCM

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

L ời cảm ơn

L ời cam đoan

M ục lục

Danh m ục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ 5

CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tham vấn tâm lý 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý ở nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý ở Việt Nam 10

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Nhu cầu 15

1.2.2 Tham vấn tâm lý 26

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý 36

1.3 Giáo viên mầm non và nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 38

1.3.1 Giáo viên mầm non và đặc điểm nghề giáo viên mầm non 38

1.3.2 Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 45

CHƯƠNG 2 53

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 53

Trang 6

2.1 Thể thức nghiên cứu 53

2.1.1 Khách thể nhóm nghiên cứu 53

2.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 54

2.1.3 Cách thức thu và xử lý số liệu 56

2.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh 58

2.2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 58

2.2.2 Nhu cầu của giáo viên về các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý 59

2.2.3 Các nội dung cần được tham vấn tâm lý 62

2.2.4 Các hình thức giải quyết khi có xung đột tâm lý và nhu cầu sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại TP.HCM 82

2.2.5 Các nguyên nhân làm nảy sinh nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non TP.HCM 85

2.2.6 Các hình thức tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 91

2.2.7 Đề xuất các biện pháp đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Kiến nghị 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đặc điểm nhóm khách thể nghiên cứu 53

Bảng 2.2 Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 58

Bảng 2.3 Các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 59

Bảng 2.4 So sánh các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý theo trình độ 60

tuổi và tình trạng hôn nhân 60

Bảng 2.5 So sánh các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý 61

theo loại hình trường và khu vực 61

Bảng 2.6 Các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong hôn nhân, gia đình, bạn bè và hàng xóm 62

Bảng 2.7 Các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong 65

các mối quan hệ nơi làm việc 65

Bảng 2.8 Các nội dung lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp 66

Bảng 2.9 Các nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý cảm xúc và sức khỏe 69

Bảng 2.10 So sánh các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong đời sống hôn nhân, gia đình, bạn bè và hàng xóm theo trình độ và tình trạng hôn nhân 72

Bảng 2.11 So sánh các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ nơi làm việc theo loại hình trường và khu vực 73

Bảng 2.12 So sánh các nội dung lĩnh vực chuyên môn 75

nghề nghiệp theo trình độ, năm trong nghề và khu vực 75

Bảng 2.13 So sánh các nội dung liên quan đến việc quản lý cảm xúc và sức khỏe theo trình độ, năm trong nghề và loại hình trường 81

Bảng 2.14 Cách giải quyết khi có xung đột tâm lý 82

Bảng 2.15 Các nguyên nhân liên quan đến vấn đề cá nhân 85

Bảng 2.16 Các nguyên nhân liên quan đến công việc 88

Bảng 2.17 Các hình thức tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 91

Trang 9

DANH M ỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên 58

Biểu đồ 2.2 Các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non 60

Biểu đồ 2.3 Cách giải quyết khi gặp khó khăn, xung đột tâm lý 84

Biểu đồ 2.4 Các hình thức tham vấn tâm lý 92

Trang 10

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam Vì vậy, phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn

xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn mới, tại phiên họp Chính phủ tháng 11 năm 2005, Chính phủ đã quyết định về Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 – 2015 [71] Sau đó, ngày 09 tháng 02 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn

2010 – 2015 [71] Đề án này đang từng bước triển khai thực hiện, đặt ra yêu cầu đối với việc xây dựng đội ngũ giáo viên cho bậc học mầm non là nhiệm vụ cấp bách trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà

Trong lĩnh vực nghề nghiệp, nghề nào cũng có những khó khăn, trở ngại và tạo ra những áp lực tâm lý trong quá trình thực hiện công việc Với nghề giáo viên mầm non thì áp lực tâm lý trong công việc lại càng lớn hơn Bởi vì nghề giáo viên mầm non do tính chất đặc thù của nghề, có đối tượng lao động là trẻ em dưới 6 tuổi

- đây là giai đoạn đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách nên đòi hỏi các cô giáo phải thực hiện cùng lúc nhiều vai trò trong hoạt động nghề nghiệp của mình Gắn liền với đối tượng lao động, giáo viên mầm non không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, mà còn phải phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho các bậc phụ huynh và phối hợp với họ

để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đặt ra

Với những nhiệm vụ và yêu cầu trên, trong một ngày giáo viên mầm non phải giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ như: mối quan hệ với trẻ, với phụ huynh, với đồng nghiệp và với ban giám hiệu… Nghiên cứu của Trần Thị Quốc

Trang 11

Minh về “Những khó khăn nổi bật trong công tác của giáo viên mầm non các tỉnh, thành phố phía Nam” cho thấy giáo viên mầm non có 100 khó khăn [51] Như vậy

có thể thấy, áp lực công việc của giáo viên mầm non cực kỳ lớn Chính những áp lực này có thể trở thành tác nhân tạo ra những cảm xúc tiêu cực trong cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp nếu không được hỗ trợ tham vấn để giúp họ vượt qua những khó khăn đó

Thực tế hiện nay cho thấy, tình trạng giáo viên mầm non bỏ nghề ngày càng nhiều Theo Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo, cả nước còn thiếu trên 20.000 giáo viên mầm non để thực hiện đề án phổ cập cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, riêng tại TP.HCM thiếu hơn 2.000 giáo viên, nhiều trường đã phải đưa bảo mẫu lên thay thế [76]

Trưởng Phòng Giáo dục Mầm non của Sở Giáo Dục và Đào Tạo TP.HCM, cho biết giáo viên làm việc trong lớp đông trẻ thường bị áp lực cao, nhất là những ngày đầu tiếp nhận trẻ mới ở các lớp mầm và nhóm nhà trẻ Lãnh đạo Phòng Giáo dục Mầm non cũng cho biết thêm, không ít trường vì hiệu trưởng muốn tiết kiệm không xin thêm giáo viên cho các lớp tăng sĩ số, lại không có bảo mẫu nên giáo viên phải làm việc rất vất vả, dễ căng thẳng [74] Nhiều tạp chí cũng như nhiều trang web đã ghi nhận những khó khăn mà giáo viên mầm non gặp phải trong công việc như: nhiều phụ huynh không thông cảm với giáo viên, thanh tra thiếu thiện chí, không công bằng, đồng nghiệp ích kỷ, không không hợp tác, công việc nặng nhọc …

Từ thực trạng ở trên, có thể thấy đời sống và hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non gặp quá nhiều áp lực, bên cạnh đồng lương cơ bản khá thấp làm cho cuộc sống của họ khó khăn thì những áp lực gặp phải trong công việc lại càng làm cho giáo viên mầm non luôn ở trạng thái tinh thần căng thẳng, mệt mỏi Nếu họ không

có sự thông cảm, thấu hiểu từ phía phụ huynh cũng như những người quản lý thì những cảm xúc tiêu cực ấy sẽ làm giảm sút hiệu quả công việc và có thể ảnh hưởng xấu đến thể chất và tinh thần của trẻ

Thực trạng về sức khỏe tinh thần của giáo viên mầm non ở trên cho thấy giáo viên mầm non cần có được sự hỗ trợ của các nhà tham vấn tâm lý – những người có thể giúp họ giải tỏa được những căng thẳng trong công việc

Trang 12

Ý thức được vai trò của tham vấn tâm lý trong hoạt động giáo dục và đào tạo, từ năm 2005, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành chỉ thị số 9971/ BGD&ĐT – HSSV về việc yêu cầu nhà trường triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên về: hướng nghiệp, chọn nghề, thông tin tuyển sinh, tình yêu, giới tính, … [9] Tuy nhiên, Chỉ thị này lại không đề cập đến việc tư vấn cho những người làm công tác giáo dục, trong đó có ngành Giáo dục mầm non

Hiện nay, rất ít các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhu cầu tham vấn tâm lý của những người đang làm trong ngành mầm non

Từ những lý do nêu trên cho thấy nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên ngành mầm non là một nhu cầu cấp thiết Chính vì vậy, người nghiên cứu chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục đích nghiên cứu:

Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại một số trường mầm non ở TP.HCM Trên cơ sở đó, đề ra một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non

3.2 Khách thể nghiên cứu:

Giáo viên mầm non và Ban Giám hiệu tại một số trường mầm non ở

TP.HCM

4 Gi ới hạn nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non ở một số

5 Gi ả thuyết nghiên cứu

- Giáo viên mầm non tại TP.HCM có nhu cầu tham vấn tâm lý

Trang 13

- Có sự khác biệt ý nghĩa về nội dung tham vấn tâm lý thuộc lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp giữa các nhóm giáo viên theo khu vực và năm trong nghề

6 Nhi ệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hoá tài liệu để làm cơ sở lý luận của đề tài

6.2 Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại TP.HCM

6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu của

Tìm hiểu sâu hơn về nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên và các biện pháp

cần thiết để đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non

7.2.3 Phương pháp chuyên gia

Thu thập những thông tin ban đầu để làm cơ sở cho việc xây dựng phiếu

khảo sát và các biện pháp tác động đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS for Windows 11.5 để xử lý số liệu

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ

C ỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề về tham vấn tâm lý

1.1.1 Các công trình nghiên c ứu về tham vấn tâm lý ở nước ngoài

Từ thế kỷ XIX, nhiều hoạt động khác nhau như phong trào vận động cải cách

xã hội với những thay đổi trong phương thức giúp đỡ người nghèo, người có hoàn

cảnh đặc biệt khó khăn, trong lĩnh vực y tế có những phương pháp điều trị nhân văn hơn cho các bệnh nhân tâm thần, việc ứng dụng ngày càng rộng rãi các liệu pháp tâm lý trong giáo dục – hướng nghiệp và trong trợ giúp các đối tượng có khó khăn về tâm lý trong cộng đồng … tất cả đã góp phần xây dựng nên ngành tham vấn Cuối thế kỷ thứ XIX công tác trợ giúp tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi căn bản cho người nghèo, hướng đến việc cho lời khuyên và cung cấp thông tin mang tính giáo dục cho mọi người nói chung và giới trẻ nói riêng có cuộc sống tốt hơn và có kỹ năng thích ứng với lao động công nghiệp Trong giai đoạn này, công tác hướng dẫn nghề – tham vấn nghề với sự phát triển của phong trào sử dụng các thang đo – trắc nghiệm, của các lý thuyết nghiên cứu về tâm lý cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên của thuyết phân tâm học vào quá trình trị liệu những rối loạn tâm lý của con người Những người đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn này là: Francis Galton, Wilheim Wundt, James Catell, G Stanley Hall, Alfred Binet, Jesse Davis, Frank Parsons, Robert Yerkers

Trong suốt thế kỷ XIX, kết quả nghiên cứu của khoa học thực nghiệm ứng dụng cho con người là sự phát triển của các trắc nghiệm tâm lý và giáo dục Francis Galton (1822 – 1911) và Wilheim Wundt (1832 – 1920), đây là những nhà tâm lý học ứng dụng người Anh đầu tiên đã phát triển phòng thực nghiệm để kiểm tra sự khác biệt

về thể chất và tâm lý của con người Định hướng khoa học này trong lĩnh vực tâm

lý học nhanh chóng phát triển ở Mỹ, G Stanley (1846 – 1924) và James Cattel (1860 – 1940), những nhà tâm lý học thực nghiệm Mỹ lần đầu tiên đã mở phòng thực nghiệm tại Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania [63; tr.18 – 20]

Trang 15

Vào đầu thế kỷ XX, những trắc nghiệm về năng lực như: Trắc nghiệm đánh giá thành tựu đạt được ở trường học và trắc nghiệm đánh giá nhân cách được phát triển Công tác hướng nghiệp phát triển dựa trên khoa học trắc nghiệm kiểm tra sự khác

biệt tâm - sinh lý của các cá nhân đã đánh dấu giai đoạn ứng dụng rộng rãi ban đầu

của các công cụ đo lường và nhanh chóng được sử dụng để trợ giúp các cá nhân trong việc ra quyết định chọn nghề

Năm 1907, Jesse Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Jesse B Davis có thể được xem là một trong

những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” cho học sinh các trường học công Tuy nhiên người có ảnh hường lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1854 – 1908), được xem như cha đẻ của nghề Hướng dẫn đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề” vào năm 1909, qua đó trình bày phương pháp kết nối

những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp Với lý thuyết mang tên “Nhân cách và yếu tố”, Frank Parsons cho rằng, thông qua việc làm các

trắc nghiệm tâm lý sẽ phát hiện ra những đặc điểm nhân cách khác nhau của mỗi người Sau khi tìm ra các đặc điểm nhân cách của mỗi cá nhân, nhà tham vấn giúp

cá nhân đó tìm hiểu về phân loại các công việc trong thị trường lao động và việc làm cuối cùng là kết hợp giữa những đặc điểm nhân cách với những công việc làm phù hợp Những tư tưởng của F Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự

trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này F Parsons đã nhấn mạnh tầm quan

trọng của việc phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp và người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người khác, vì tự mỗi người mới biết phải quyết định điều gì tốt nhất cho chính bản thân mình

Jesse Davis, Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều người khác nữa đã tạo thành một trào lưu thúc đẩy cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường

Xét ở góc độ phát triển các lý thuyết tâm lý học phải kể đến các nhà tiên phong của trường phái phân tâm là Sigmund Freud, Anna Freud, Malanie Klein, Donald Winnicott, Carl Jung … Phép trị liệu phân tâm của S Freud đều xuất phát

từ những khám phá về các quá trình vô thức và các cơ chế phòng vệ chúng xuất

Trang 16

hiện khi con người có xáo trộn về cảm xúc, nhằm để tự vệ trước những kinh nghiệm đau buồn mà con người không đủ sức ứng phó Các nhà tham vấn đã vận dụng những lý thuyết của S Freud vào việc giúp đỡ phân chủ thoát khỏi những rối nhiễu tâm lý

Vào giữa thế kỷ thứ XX, tham vấn tâm lý đã phát triển thành một ngành chuyên nghiệp Năm 1930, E.G Williamson đưa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”, ông đã xây dựng các bước của một hoạt động tham vấn như sau:

- Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ tiếp xúc và trắc nghiệm đối với thân chủ

- Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiểu vấn đề

- Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề

- Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết

- Theo dõi sự tiến triển cùng thân chủ

Theo Patterson, sự khác nhau cơ bản của tiếp cận theo đặc điểm và nhân tố

so với tham vần hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỷ là việc xác định được một chuỗi các bước của một hoạt động trợ giúp Đây chính là tiền thân của “Quá trình tham

vấn” [17; tr 65 – 66]

Thập niên 50 của thế kỷ XX, giai đoạn có sự ra đời của rất nhiều học thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý con người như: thuyết phát triển tâm lý xã hội, thuyết phát triển tư duy trẻ em, thuyết phát triển nhu cầu con người, thuyết gắn bó

mẹ – con, thuyết tổn thương tâm lý, thuyết phát triển đạo đức con người đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng để giúp đỡ cho thân chủ của mình Các học thuyết này là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các biểu hiện rối loạn tâm lý con người

Cũng vào những năm 50 của thế kỷ XX, phương pháp thân chủ làm trọng tâm của C Rogers (1902 – 1987) là một bước chuyển từ sự tham vấn có định

hướng, tham vấn tập trung vào thân chủ và vấn đề của họ với tập sách Tham vấn và

trị liệu tâm lý, cuốn sách có ảnh hưởng rất lớn đến nghề tham vấn chuyên nghiệp

sau này

Trang 17

Bên cạnh cách tiếp cận phân tâm của S Freud, tiếp cận thân chủ trọng tâm của C Rogers, thập niên 60 của thế kỷ XX đánh dấu sự ra đời của nhiều cách tiếp cận mới như tiếp cận xúc cảm thuần túy của Albert Ellis, tiếp cận hành vi của Bandura, tiếp

cận ứng xử học của Bern, tiếp cận hiện sinh của Arbuckle… Tất cả các hướng tiếp cận tham vấn này giúp cho sự phát triển của ngành tham vấn trong suốt thế kỷ XX Các kiến thức của tâm lý học thực sự đã ảnh hưởng và trợ giúp rất nhiều cho ngành tham vấn: Tâm lý học nhân cách giúp làm sáng tỏ các quan điểm về cấu trúc nhân cách con người đồng thời cũng giúp các nhà tham vấn tôn trọng nhân cách của người khác trong mối quan hệ tham vấn Tâm lý học chẩn đoán cung cấp những phương pháp phổ biến về chẩn đoán tâm lý Kiến thức tâm lý học hành vi lệch chuẩn giúp nhà tham vấn nắm được các cách tiếp cận khác nhau về hành vi chuẩn

mực, bệnh lý và sai lệch, phân loại được các hành vi lệch chuẩn căn cứ vào các tiêu chí khác nhau Các lý thuyết trong tâm lý học phát triển giúp cho các nhà tham vấn

hiểu được các quá trình phát triển tâm lý của con người trong các giai đoạn phát triển khác nhau Các kiến thức này giúp cho nhà tham vấn hiểu được mức độ phát triển ở từng lứa tuổi và các giai đoạn khủng hoảng mà con người có thể gặp phải trong các độ tuổi nhất định Như vậy, các kiến thức tâm lý học đã trở thành nền tảng cho các nhà tham vấn sử dụng trong nghiên cứu và quá trình tham vấn của mình

Giai đoạn từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, các nhà tham vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm được nền tảng văn hóa của khách hàng Vì thế, một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn tâm lý là tập trung vào lĩnh vực văn hóa hay còn được hiểu là tham vấn xuyên văn hóa Những vấn đề văn hóa liên quan đến gen di truyền, màu da, truyền thống,

vị trí xã hội, quyền lực, vấn đề tiên bạc… đều có liên quan đến sự nảy sinh nan đề

của thân chủ Khi các nhà tham vấn thiếu hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ thì họ dễ đứng trên quan điểm của bản thân để đánh giá thân chủ Điều này có thể

dẫn đến sự chẩn đoán nhầm và có thể gây ra những tổn thương cho thân chủ Các nhà tham vấn Whitfield, McGrath và Coleman chỉ ra các yếu tố xác định một mô hình văn hóa cụ thể đó là: Đặc điểm bản thân cá nhân, diện mạo và cách ăn mặc, có niềm tin và hành vi đặc trưng, mối liên hệ với gia đình và với các đặc trưng quan

Trang 18

trọng khác, cách dành và sử dụng thời gian nhàn rỗi, cách tiếp thu và sử dụng kiến thức, cách thức giao tiếp và ngôn ngữ, những giá trị và các tập tục, cách sử dụng thời gian và không gian sống, thói quen ăn uống và cách chế biến món ăn theo phong tục tập quán, công việc và cách thức thực hiện công việc [17; tr 68 – 69]

Sự hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ được thể hiện qua thái độ, kỹ năng và phương pháp tiếp cận thân chủ sẽ giúp cho nhà tham vấn lý giải được lý do nào, điều gì khiến họ cảm nhận, suy nghĩ và hành động như vậy

Như vậy, ngành tham vấn tâm lý thật sự trở nên chuyên nghiệp trên thế giới khi các học thuyết nghiên cứu tâm lý người phát triển, các hướng tiếp cận trị liệu tâm lý với cá nhân, trị liệu nhóm đã thay đổi và hoàn chỉnh cho phù hợp với ngành tham vấn Các tổ chức, các hiệp hội tham vấn ra đời quy định các chuẩn mực đạo đức và pháp lý cho người làm công tác trợ giúp Các hiệp hội, trường học đào tạo nghề tham vấn phát triển mạnh, đa dạng và công tác giám sát tham vấn theo hướng ngày càng khoa học và kiểm soát chặt chẽ Những người hoạt động trong lĩnh vực tham vấn đã được bằng cấp hóa và xây dựng được những mô hình đào tạo nhà tham vấn chuyên nghiệp theo hướng chuyên sâu Sự phát triển mạnh của ngành tham vấn tâm lý ở các nước phương Tây, kể cả một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan Trong mỗi khu dân cư với số lượng vài chục nghìn dân, người ta thường

bố trí một trung tâm tham vấn (Counseling Center) hay văn phòng dịch vụ gia đình (Family Services) để triển khai các hoạt động trợ giúp xã hội Singapore với số dân chưa đến 4 triệu nhưng có tới trên 300 cơ sở thực hiện dịch vụ này Hệ thống dịch

vụ gia đình hay trung tâm tham vấn tỏ ra rất hữu hiệu trong việc giúp đỡ cá nhân và gia đình tháo gỡ những khó khăn, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân, gia đình, hay trong nuôi dạy con cái Dịch vụ tham vấn còn được đưa vào trong hệ thống các trường học Tại các trường phổ thông, người ta sử dụng mô hình Công tác xã hội học đường (School Social Work) trong đó có hoạt động tham vấn nhằm giúp đỡ những học sinh, phụ huynh học sinh có con gặp khó khăn trong hành vi và học tập, giải quyết những mối quan hệ bất đồng giữa thầy cô và học sinh, giữa học sinh và học sinh Theo kết quả điều tra của Lim Peng Ann: Năm 1999, có tới 60% số trường phổ thông Singapore có triển khai công tác xã hội học đường, trong đó có hoạt động

Trang 19

tham vấn toàn thời gian hay bán thời gian Hầu hết các trường đại học, cao đẳng ở các nước phát triển đều có trung tâm tham vấn (Student’s Councelling Center) nhằm giúp sinh viên giải toả những khó khăn trong học tập, trong quan hệ bạn bè, gia đình và các quan hệ xã hội khác Những khó khăn trong hòa nhập của các sinh viên sẽ được trung tâm này giúp đỡ tháo gỡ qua loại hình tham vấn nhóm hay tư vấn cung cấp thông tin Sự căng thẳng trong học tập ở cường độ cao của các sinh viên là một trong những vấn đề thường gặp và được các nhà tham vấn tại trung tâm

hỗ trợ giải tỏa thông qua các hình thức tham vấn khác nhau [47]

1.1.2.Các công trình nghiên c ứu về tham vấn tâm lý ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, nhiều người đã biết và đã sử dụng các dịch vụ tư vấn tâm lý Các dịch vụ này bắt đầu phát triển mạnh từ giữa những năm 90, nhưng trước

đó các kỹ thuật tư vấn đã được các bác sĩ tâm thần, bác sĩ nhi khoa thực hiện trong quá trình điều trị các bệnh nhân bị rối nhiễu tâm lý hay rối loạn tâm thần Họ vừa trị liệu, vừa tư vấn cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cách khắc phục bệnh tật Nhìn từ góc độ hoạt động tâm lý, theo đánh giá của thạc sỹ Nguyễn Thị Oanh,

“Phòng tư vấn tâm lý” đầu tiên được thành lập ở TP.HCM năm 1988, do Tiến Sĩ Tâm lý Tô Thị Ánh phụ trách Các đối tượng đến đây xin tư vấn thuộc mọi thành phần và các nhu cầu trợ giúp cũng đa dạng [17; tr.73]

Vào những năm 1997 – 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh có các phòng tham

vấn HIV xuất hiện Ngoài ra, các trung tâm tư vấn khác như: Trung tâm tư vấn Tình yêu, Hôn nhân, Gia đình thuộc Hội Tâm lý giáo dục thành phố, Trung tâm tư vấn Hướng Dương thuộc Liên đoàn lao động TP.HCM … Nhiệm vụ của các trung tâm này nhằm cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc và cho lời khuyên, chủ yếu tư vấn thông qua điện thoại

Hiện nay, nhiều dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý xuất hiện ở khá nhiều công ty, cơ quan và trường học Có thể kể ra một số cơ sở tham vấn, trị liệu, như:

Cơ sở thăm khám tâm lý trẻ em N-T của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Trung tâm

Tư vấn và Hỗ trợ tâm lí (Trường học Khoa học Xã hội và Nhân văn), Trung tâm Ứng dụng Tâm lý học của Viện Tâm lý học, Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ Truyền

Trang 20

thông, Trung tâm Tham vấn Tâm lý Hoàng Nhân, Công ty Tư vấn An Việt Sơn, Trung tâm Tư vấn Giáo dục – Tâm lý – Thể chất (1088- TP.HCM)… Tại một số hội thảo trong nước bàn về vấn đề an sinh xã hội, công tác xã hội tham vấn được nhắc tới như một dịch vụ cần thiết mặc dù đã có không ít các tranh luận về khái niệm và

sự phân định với các dịch vụ khác hiện đang có ở Việt Nam

Trong một số đề tài khoa học, tạp chí chuyên ngành, tài liệu giảng dạy, vấn đề tham vấn tâm lý được đề cập ngày một nhiều hơn Trong thực tiễn triển khai các chính sách, chương trình phát triển xã hội, tham vấn tỏ ra là một trong những kỹ năng quan trọng, giúp các cán bộ xã hội thực thi nhiệm vụ của mình Chính vì vậy, vào những năm gần đây, tại các khoá tập huấn của các ngành Lao động, Thương binh và

Xã hội, Uỷ ban Dân số, Trẻ em và Gia đình, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, các khoá tập huấn của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như của UNDP, UNICEF, Trăng lưỡi liềm đỏ nội dung tham vấn đã được đưa vào như một phần quan trọng của chương trình

Từ những năm 90, với sự trợ giúp kinh phí khoa học của nhà nước và các tổ

chức khác trong nước cũng như quốc tế, các nhà tâm lý học Việt Nam đã tiếp cận được với những tổ chức tâm lý học các nước trên thế giới như: Mỹ, Úc, Canađa, Pháp… trong số đó có rất nhiều nhà tâm lý học thực hành thuộc các trường phái khác nhau: Adler, Phân tâm học, Tâm lý học hành vi … Những cuộc đối thoại về chuyên môn, nghề nghiệp, định hướng phát triển khoa học tâm lý đã củng cố thêm

những điều kiện cần thiết cho sự hình thành một phân ngành khoa học mới – Tham

vấn tâm lý ở Việt Nam

Nh ững nghiên cứu về nhu cầu và thực trạng của hoạt động tham vấn tâm lý ở Việt Nam

Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động tham vấn tâm lý như:

Những nghiên cứu về lĩnh vực tham vấn học đường, hướng nghiệp, những nghiên

cứu về việc sử dụng các kỹ năng tham vấn của chuyên viên tham vấn, những nghiên

cứu về tham vấn tâm lý trong hoạt động giáo dục phạm nhân trẻ vị thành niên,

những nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân

Trang 21

Các nghiên c ứu về tham vấn học đường

Nghiên cứu thực trạng tham vấn hướng nghiệp tại Việt Nam của tác giả Đỗ

Thị Lệ Hằng, nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 10, 11, 12 ở 6 trường tại Hà

Nội, Đà Nẵng và TP.HCM Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: Đã có nhiều hình

thức tư vấn hướng nghiệp được triển khai cho học sinh ở 3 điểm nghiên cứu nhưng

nội dung chủ yếu chỉ là cung cấp thông tin về trường thi, khối thi … mà chưa đi sâu cung cấp về những đánh giá cụ thể năng lực, tính cách, sở thích của từng cá nhân

việc sử dụng các công cụ trắc nghiệm còn hạn chế Nguồn lực được đào tạo bài bản cho công tác tư vấn hướng nghiệp hầu như chưa có [29; tr 40 – 49]

Nghiên cứu yếu tố giới trong tham vấn học đường của tác giả Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng Qua kết quả, tác giả kiến nghị các chuyên viên tham vấn cần được tham gia các khóa học nâng cao nhận thức giới để khuyến khích nhà tham vấn học đường tích cực nhận ra sự bất bình đẳng giới, khuyến khích sự hợp tác và mối quan

Nh ững nghiên cứu về tham vấn tâm lý cho trẻ vị thành niên phạm pháp

Nghiên cứu “Nhu cầu hoạt động tham vấn ở các trường giáo dưỡng” Tác giả

Đỗ Ngọc Khanh thực hiện năm 2007 ở 3 trường giáo dưỡng ở 3 khu vực: Bắc, Trung, Nam, thông qua việc tìm hiểu cảm xúc của trẻ và nhu cầu tham vấn tâm lý

của trẻ vị thành niên trong 3 trường Kết quả cho thấy, cả giáo viên và học sinh đều

khẳng định: Hoạt động tham vấn tâm lý ở trường rất có ích và có hiệu quả [39; tr

22 - 26]

Nghiên cứu vai trò của tham vấn tâm lý trong hoạt động giáo dục, cảm hóa

phạm nhân là người chưa thành niên của tác giả Đặng Thanh Nga Thông qua việc nghiên cứu phân tích các trường hợp tham vấn trực tiếp, tác giả cho rằng: biện pháp tham vấn tâm lý cá nhân giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục phạm nhân

Trang 22

là trẻ chưa thành niên phạm tội tuy nhiên biện pháp này vẫn chưa có hiệu quả cao

Vì vậy, người tham vấn phải có sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi, các kiến thức trong lĩnh vực tâm lý và giáo dục, cần thiết lập mối quan hệ cởi mở, tin tưởng lẫn nhau giữa nhà tham vấn và đối tượng [55; tr 24 - 30]

Nh ững nghiên cứu về các kỹ năng tham vấn của nhà tham vấn

Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Tường Vy về một số kỹ năng tham vấn của tham vấn viên tâm lý trên địa bàn TP.HCM Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: Các tham vấn viên nhận định đã nắm vững và sử dụng thành thạo phần lớn các kỹ năng trong tham vấn, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những nhận định khá mơ hồ về một số kỹ năng tham vấn, đặc biệt là kỹ năng hỏi trong tham vấn Từ đó tác giả đề nghị cần trang bị cho tham vấn viên tâm lý những kỹ năng thật chuẩn xác và có hệ thống [65;

tr 31 - 37]

Nghiên cứu thực trạng kỹ năng hỏi trong tham vấn của cán bộ xã hội của tác

giả Bùi Thị Xuân Mai nghiên cứu trên 177 cán bộ xã hội Kết quả cho thấy các cán

bộ xã hội có nhận thức đúng về mục đích của việc lắng nghe Tuy nhiên, sự ít quan tâm đến suy nghĩ, cảm xúc của đối tượng bởi các hành vi ghi chép, suy đoán khi

lắng nghe ở một số cán bộ xã hội vẫn cón hạn chế Từ đó tác giả đề xuất cần rèn luyện kỹ năng lắng nghe trong tham vấn cho cán bộ xã hội [48; tr 31 - 38]

Nh ững nghiên cứu về thực trạng tham vấn và nhu cầu tham vấn

Nghiên cứu “Thực trạng tham vấn tâm lý tại TP.HCM”của nhóm nghiên

cứu: Trần Thị Giồng và Đỗ Văn Bình (2003), Qua kết quả, nhóm nghiên cứu đưa ra

những kiến nghị cần thiết: Cần mở các cơ sở tham vấn tâm lý có chế độ kiểm tra, giám sát, hỗ trợ Thành Phố cần đầu tư đào tạo chuyên viên tham vấn tâm lý dài hạn

ở nước ngoài, khuyến khích các trường đại học, Hội Khoa học Tâm lý – giáo dục

mở ngành đào tạo tham vấn tâm lý và bồi dưỡng cho đội ngũ tham vấn hiện nay [4;

Trang 23

Nh ững nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý trên đối tượng là người lao động

Tìm hiểu stress nghề nghiệp của nữ công nhân một số công ty tại khu công nghiệp Biên Hòa của tác giả Trịnh Thị Minh Dung Dựa vào kết quả khảo sát trên

168 nữ công nhân lao động đang làm việc tại các công ty, tác giả đưa ra kiến nghị:

cần thành lập, xây dựng các khu vui chơi, giải trí để công nhân sử dụng thời gian

rỗi, giảm căng thẳng trong giờ làm việc, tổ chức các dịch vụ tư vấn tâm lý cá nhân, các giải pháp ứng phó với stress [12]

Nghiên cứu nhận thức và thái độ của người lao động về vấn đề tham vấn tâm

lý trong doanh nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tâm nghiên cứu trên 239 người lao động làm việc tại các doanh nghiệp và 80 nhà quản lý Thông qua kết quả nghiên

cứu, người nghiên cứu đưa ra kiến nghị, các doanh nghiệp cần quan tâm chăm sóc đời sống tinh thần cho người lao động, các cán bộ công đoàn cần được trang bị các

kỹ năng, cần có các chuyên viên tham vấn tâm lý trong doanh nghiệp [59]

Nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân khu chế xuất Tân Thuận

tại TP.HCM của tác giả Phùng Thị Hương Nga Qua khảo sát tác giả kết luận rằng, công nhân khu chế xuất Tân Thuận có nhu cầu tham vấn mức cao do xảy ra nhiều xung đột Qua đó tác giả đề xuất cần tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để giúp

giảm bớt những xung đột tâm lý cho công nhân Đồng thời, cần có các hình thức tham vấn tâm lý phong phú để đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân [54]

Tóm lại: Trong cuộc sống hằng ngày, con người thường phải đối mặt với nhiều tình

huống phức tạp, luôn phải trải qua những cảm xúc tiêu cực như buồn chán, tức giận, thất vọng, đau khổ … Lúc ấy họ hay tâm sự với những người thân trong gia đình, với bạn bè, với những người có kinh nghiệm và đáng tin cậy để tìm cách giải quyết những tình huống khó khăn gặp phải, giải tỏa các cảm xúc tiêu cực đã nảy sinh Khi không thể tâm sự với những người thân xung quanh hoặc muốn tham khảo nhiều ý kiến, họ tìm đến các trung tâm tư vấn nhờ các chuyên gia giúp giải quyết các vấn đề của bản thân

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó của xã hội, tâm lý học tư vấn bắt đầu phát triển như một chuyên ngành của khoa học tâm lý, cùng với nó là tâm lý học lâm sàng phát triển như một phân ngành của tâm lý học y học Có thể nói, tâm lý học tư

Trang 24

vấn và tâm lý học lâm sàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Cả hai cùng một mục đích giúp đỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn của khách hàng Trong khi tâm lý học lâm sàng tập trung vào những yếu tố bệnh lý của chứng rối loạn tâm thần hay các rối nhiễu tâm lý thì tâm lý học tư vấn giúp những người bình thường giải quyết những khó khăn trong đời sống gia đình, ở cơ quan, ngoài xã hội

Bên cạnh sự bùng nổ của các trung tâm tham vấn tâm lý, các công trình nghiên cứu

về nhu cầu tham vấn tâm lý ở các lĩnh vực ngày càng nhiều nhưng vẫn chưa đồng

bộ và rộng khắp ở các đối tượng Các công trình nghiên cứu trên đối tượng người lao động chủ yếu là công nhân, còn các đối tượng khác như cán bộ công chức, giáo viên, đặc biệt là giáo viên mầm non thì chưa được quan tâm nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Nhu c ầu

1.2.1.1 Khái ni ệm nhu cầu

Nghiên cứu nhu cầu cá nhân, trong tâm lý học có nhiều cuộc tranh luận về

vấn đề: hành vi của con người có được quy định bằng tác động bên ngoài hay bởi

một số “sức mạnh bên trong” Xung quanh vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm của chủ nghĩa hành vi, các tác giả đại diện như: V Koller, E Thorndike, N.E Miller… giải thích hành vi như hệ thống xác định các đáp ứng đối

với tác động bên ngoài [43; tr 549]

Nhà Phân tâm học S Freud nhìn thấy mọi hành vi của con người có động cơ

từ những đam mê và bản năng Ông khẳng định: Tất cả hành vi của con người đều hướng tới việc thỏa mãn những nhu cầu của cơ thể [43]

Nhà tâm lý học nổi tiếng Mac Đaugôn trong cuốn sách “Tâm lý học xã hội” đã

khẳng định rằng: Tư duy và hành vi của con người được xác định bằng các bản năng, các thái độ mang tính bản năng Ông phân ra các bản năng sau: ngạc nhiên, thích đánh nhau, tự hạ mình, tự khẳng định, tái sản xuất, tính bầy đàn, sở hữu và thiết kế Những người kế tục Mac Đaugôn bổ sung danh sách này bằng các bản năng của con người như: cạnh tranh, tính kín đáo, tính kiềm chế, bắt chước, ghen

Trang 25

tuông … Mỗi hình thức hành vi được giải thích bằng bản năng đặc biệt (nhu cầu tự nhiên) [43; tr 550]

Đại diện học thuyết Nhân cách xã hội, tác giả Erich Fromm (1900 – 1980) có

một cách nhìn khác, ông gọi những khao khát tinh thần nơi mỗi cá nhân là những nhu cầu của con người Ông đề nghị năm nhu cầu cơ bản của con người: sự liên hệ, sáng tạo, nguồn cội, cảm giác mình có một nhân vị, nhu cầu về một khung định hướng [58; tr 135 - 139]

Henrry Murray, nhà tâm lý học người Mỹ cho rằng nhu cầu là một động lực

xuất phát từ cơ thể và sự thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi phải có sự tác động qua lại với các tình huống xã hội, phải có sự cải tổ chúng nhằm mục đích đạt được sự thích ứng [26; tr.172]

Nhà tâm lý học nhân văn A.Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong chính bản tính của con người Quan điểm đó được thể hiện ở việc giải thích nét đặc thù của nhu cầu, làm sáng tỏ hệ thống nhu cầu từ sinh lý đến tinh thần được phân định theo

thứ bậc từ thấp lên cao, tất cả tạo thành động lực của hành vi mà động cơ mạnh nhất

là nhu cầu [58; tr 205 – 209]

Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin: “nhu cầu là

nh ững đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định đảm

b ảo cho sự sống và sự phát triển của con người” [7; tr 192]

Như vậy, để tồn tại và phát triển, cá nhân đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết cho mình, sự đòi hỏi ấy được gọi là nhu cầu cá nhân Nói đến nhu cầu

là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài nó Cái đó có thể là một

sự vật, một hiện tượng hoặc những người khác Như vậy, nhu cầu biểu lộ sự gắn bó

của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào thế giới đó Theo A.N Leonchiev, nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì

đó cho cơ thể nói riêng, con nguời nói chung để sống và hoạt động Nhu cầu bao

giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó, nghĩa là nhu cầu phải có đối tượng Với tính chất là một cá nhân, chủ thể sinh ra đã có nhu cầu nhưng nhu cầu với tính chất

là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động [43; tr 161 – 162] Ông cho rằng, trong tâm lý học về nhu cầu, cần phân biệt rõ hai khía cạnh của nhu cầu:

Trang 26

Nhu cầu với tư cách là điều kiện bên trong, là một trong những tiền đề bắt buộc của

tự nó không thể gây ra bất kỳ hoạt động nào có hướng nhất định Chức năng của nó

chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng Chỉ khi nào gặp được đối tượng đáp ứng, thì khi đó nhu cầu mới trở thành năng lực hướng dẫn và điều chỉnh

hoạt động

Việc nhu cầu gặp đối tượng làm cho nhu cầu chứa đựng những nội dung từ thế giới khách quan Ở cấp độ này, sự phát triển của nhu cầu diễn ra dưới hình thức phát triển nội dung đối tượng của nhu cầu Các nhu cầu ấy được hình thành trong xã hội con người Trong xã hội, con người sản xuất ra đối tượng thỏa mãn nhu cầu và do

đó cũng sản xuất ra bản thân các nhu cầu

Như vậy là nhu cầu hướng dẫn hoạt động của chủ thể, nhưng nhu cầu chỉ có thể hoàn thành chức năng ấy với điều kiện là nhu cầu mang tính đối tượng

Qúa trình phát triển nội dung đối tượng của các nhu cầu biểu hiện ở khía cạnh khác là: Bản thân đối tượng của hoạt động hiện ra trước mắt chủ thể như là đối tượng đáp ứng một nhu cầu này hay nhu cầu khác của chủ thể Chính vì vậy, nhu cầu có vai trò kích thích hoạt động và hướng dẫn hoạt động của chủ thể, nhưng chỉ có thể hoàn thành được chức năng ấy với điều kiện là nhu cầu mang tính đối tượng

Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mac – Lênin, X L Rubinstêin cho rằng, con người có nhu cầu sinh vật nhưng bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã

hội Theo ông, nhu cầu là một thành tố của động cơ, là hạt nhân của nhân cách Vì

vậy, nhu cầu sẽ xác định những biểu hiện khác nhau của nhân cách – đó là xúc cảm,

Trang 27

tình cảm, ý chí, hứng thú, niềm tin Tuy nhiên khi nghiên cứu về nhân cách, ta không nên xuất phát từ nhu cầu mà phải khám phá ra quá trình nẩy sinh và những

biểu hiện của nhu cầu [26]

Từ điển tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên định nghĩa như sau: “Nhu cầu là

tr ạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho s ự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân”

lập luận khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một quan điểm: Nhu cầu là sự đòi

hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển, nhu cầu là

sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh [25]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách,

bi ểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân th ấy cần được thỏa mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát tri ển” [25]

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con

người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [64; tr 204 - 205]

Từ các quan điểm trên cho thấy, vấn đề nhu cầu của con người được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo quan điểm của mỗi tác giả, nhu cầu được hiểu ở

những khía cạnh khác nhau Vì vậy, mỗi định nghĩa nhu cầu có những đặc điểm riêng Theo trường phái Tâm lý học Hoạt động, mặc dù mỗi tác giả có cách trình bày khác nhau nhưng các tác giả đều có những điểm chung sau đây:

- Nhu cầu là thuộc tính cơ bản của cá nhân Nó có tác dụng xác định xu hướng của

cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện thực và đối với trách nhiệm của

bản thân Như vậy, nó xác định lối sống và hoạt động của cá nhân

Trang 28

- Nhu cầu là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân Nhu cầu của con người về vật chất, năng lượng và thông tin là sự cần thiết khách quan, không

thỏa mãn chúng, con người không thể tồn tại và phát triển được

- Trong các nhu cầu, sự thống nhất giữa cái bên ngoài và bên trong thể hiện rõ ở

chỗ: Nhu cầu được đặc trưng là trạng thái bên trong của người đang trải qua nhu

cầu ấy và khách thể của nhu cầu nằm ở bên ngoài Nhu cầu luôn là nhu cầu về một cái gì đó Nhu cầu vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Vì vậy khi xem xét

một nhu cầu cụ thể nào đó của con người, chính sự tham gia của ý thức vào trong quá trình hình thành nhu cầu đã làm cho nhu cầu của con người khác xa về chất so

với nhu cầu của con vật

- Bất kỳ một hoạt động nào cũng đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu này hoặc nhu cầu khác của xã hội và cá nhân là thành viên của xã hội đó Nhu cầu của con người không ngừng phát triển, bởi nhu cầu luôn gắn kết với lịch sử xã hội Tùy theo từng điều kiện lịch sử xã hội, con người có những nhu cầu khác nhau tùy theo đặc điểm, điều kiện của từng cá nhân

- Nhu cầu và mục đích của con người có mối liên hệ với nhau Cũng giống như nhu

cầu, mục đích của con người có tính ý thức chủ quan, con người tin rằng sự thỏa mãn nhu cầu chỉ cụ thể bằng cách đạt được mục đích Điều đó tạo cho họ khả năng cân nhắc giữa hình dung chủ quan của họ về nhu cầu với nội dung khách quan của

nó khi tìm kiếm công cụ để đạt được mục đích tức là chiếm lĩnh đối tượng

Từ những nhận định trên, có thể phát biểu nhu cầu như sau:

Nhu c ầu là những đòi hỏi tất yếu của cá nhân về một đối tượng nào đó mà con người cảm thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu là ngu ồn gốc tích cực thúc đẩy con người hoạt động

1.2.1.2 Đặc điểm của nhu cầu

Tính đối tượng của nhu cầu:

Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Khi chưa có đối tượng, nhu cầu chưa tồn tại mà lúc ấy ở cá nhân chỉ là trạng thái thiếu thốn, mong muốn

một cách mơ hồ Chỉ khi nhu cầu gặp đối tượng và chứa đựng khả năng thỏa mãn

Trang 29

thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm đạt được đối tượng đó Đối tượng của nhu cầu mang tính khách quan, nằm ngoài cơ thể của

chủ thể Đối tượng đáp ứng của nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thể tiến hành hoạt động

và chính bản thân vật thể được nhận biết, nghĩa là đối tượng mà chủ thể hình dung

ra lại trở thành động cơ có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động Nhu cầu thực

sự là một sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và hướng dẫn con người

hoạt động khi nhu cầu mang tính đối tượng

Động vật cũng có nhu cầu nhờ vào những đối tượng có sẵn trong tự nhiên nhưng con người thì khác hẳn so với con vật ở chỗ: Trong hoạt động con người có khả năng tạo ra đối tượng có thể làm thỏa mãn nhu cầu

Phương thức thỏa mãn nhu cầu:

Chỉ có thông qua hoạt động thì đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ ra và đáp ứng được nhu cầu, thông qua đó nhu cầu được phát triển và được thỏa mãn Sau khi nhu cầu được thỏa mãn lại nảy sinh nhu cầu mới ở cấp độ cao hơn Lúc đó, nhu

cầu đã xác định được hướng cho hoạt động và trở thành sức mạnh nội tại kích thích

và hướng dẫn hoạt động của con người

Nhu cầu chỉ được thỏa mãn thông qua hoạt động của chủ thể bằng những phương

thức khác nhau phụ thuộc vào sự phát triển nhận thức, khả năng hoạt động, cũng như phong tục tập quán, truyền thống của mỗi xã hội mà chủ thể đó đang sống

Tính ổn định của nhu cầu:

Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách Cũng giống như các thuộc tính khác của nhân cách, nhu cầu cũng có tính ổn định Tính ổn định của nhu cầu được

thể hiện ở tần số xuất hiện một cách thường xuyên, liên tục Khi nhu cầu phát triển

ở mức độ cao thì nó trở nên bền vững và ổn định Chính vì có tính ổn định, nên trong quá trình vươn tới thỏa mãn nhu cầu, con người có thể gặp khó khăn, trở ngại

Mặc dù có những khó khăn, trở ngại nhưng nhu cầu cũng không mất đi, mà trái lại nhu cầu còn thúc đẩy con người hoạt động mạnh mẽ hơn Tính ổn định của nhu cầu

chỉ có được khi con người ý thức đầy đủ về đối tượng của nhu cầu và phương thức

để thỏa mãn nhu cầu đó

Trang 30

Tính chu k ỳ của nhu cầu:

Khi một nhu cầu được thỏa mãn, không có nghĩa là nhu cầu đó đã chấm dứt

mà nhu cầu đó vẫn còn tồn tại và lặp đi lặp lại nhiều lần, được củng cố và phát triển ngày càng phong phú hơn trong những điều kiện và phương thức sinh hoạt của con người Nhu cầu và hoạt động thực hiện nhu cầu là động lực quan trọng trong việc tìm ra các phương thức thỏa mãn nhu cầu Chính vì vậy mà sự phát triển con người

và xã hội là sự mở rộng, nâng cao chất lượng của các nhu cầu và thực hiện nhu cầu

đó một cách đúng đắn

B ản chất xã hội – lịch sử của nhu cầu:

Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội – lịch sử Đó chính là sự khác nhau về bản chất giữa nhu cầu của con người với nhu cầu của con vật C Mác nhận xét: “Cái đói là cái đói, nhưng cái đói được thỏa mãn bằng thịt nấu và ăn với dao, dĩa lại khác với cái đói dùng tay, móng và răng để nuốt chửng thịt sống” [24; tr 283] Ở con người cũng tồn tại những nhu cầu mang tính bản năng nhưng tất cả đều được xã hội hóa và được chế ước bởi xã hội Nhờ vào khả năng lao động sáng tạo

mà ở con người có sự khác biệt về điều kiện và phương thức thỏa mãn nhu cầu Chính vì vậy nhu cầu của con người ngày càng trở nên phong phú và phức tạp hơn Nhu cầu phong phú chẳng những do đối tượng thỏa mãn ngày càng được mở rộng,

mà còn do phương thức thỏa mãn ngày càng được phát triển Ngoài nhu cầu vật

chất gắn liền với cơ thể (ăn, mặc, ở, đi lại…), ở con người còn có nhu cầu tinh thần bao gồm nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu chia sẻ và nhu cầu hoạt động xã hội Có thể nói rằng, nhu cầu của con người chính là sản

phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội loài người

Tr ạng thái ý chí- xúc cảm của nhu cầu:

Nhu cầu thường đi kèm với trạng thái ý chí, xúc cảm, đặc biệt khi nhu cầu ở

mức độ cao Những trạng thái xúc cảm của nhu cầu được biểu hiện, đó là sự sự hài lòng hay không hài lòng, thậm chí là trạng thái đau khổ khi nhu cầu không được

thỏa mãn Trạng thái ý chí – xúc cảm thúc đẩy hoạt động của con người tìm kiếm các phương thức thỏa mãn nhu cầu Chính vì vậy, nhu cầu trở thành một trong

những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt động nói chung và thực hiện các

Trang 31

hành vi mang tính ý chí nói riêng Trạng thái ý chí – xúc cảm sẽ bị giảm thậm chí có lúc hoàn toàn biến mất hoặc có thể chuyển sang trạng thái ngược lại khi nhu cầu đã được thỏa mãn

1.2.1.3 Các lo ại Nhu cầu

Có nhiều cách phân loại nhu cầu Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, nội dung đối tượng, phương thức thỏa mãn người ta phân loại nhu cầu thành nhiều nhóm khác nhau Việc phân chia hệ thống các nhu cầu chỉ mang tính chất quy ước ở một

mức độ nhất định

Theo Abraham Harold Maslow (1908-1970):

Thông qua thí nghiệm ông phát hiện ra luôn có những nhu cầu đặc biệt quan

trọng hơn những nhu cầu khác Ông nhận ra ý nghĩa của sự khám phá này và và xây

dựng một hệ thống nhu cầu theo thứ bậc [58]

Trong hệ thống này ông đưa ra 5 nấc thang nhu cầu có nội dung được xếp theo thứ

tự từ nhu cầu vật chất cơ bản nhất đến nhu cầu tinh thần nâng cao như sau: Tầng nhu cầu sinh lý, tầng nhu cầu an toàn, tầng nhu cầu tình cảm và được chấp nhận,

tầng nhu cầu được tôn trọng, tầng nhu cầu tự hoàn thiện [58; tr 205 - 213]

Sơ đồ: Tháp nhu cầu của A Maslow

Tất cả bốn nhu cầu (sinh lý, an toàn, tình cảm và được chấp nhận, được tôn trọng)

ông đặt tên là nhu cầu D –need Chữ D được viết tắt của chữ thiếu thốn Nghĩa là

Sinh lý

An toàn

Tình cảm và được chấp

nhận Được tôn trọng

Tự hoàn thiện

Trang 32

nếu không được thỏa mãn những nhu cầu trên, một cá nhân sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt và các nhu cầu này cần được đáp ứng Khi các nhu cầu này được thỏa mãn, ta sẽ không còn động cơ nữa và sẽ chuyển dần theo nấc thang cao hơn Tự hoàn thiện là bậc phát triển cuối cùng trong nấc thang nhu cầu Để đạt được mức này, một cá nhân phải không còn ưu tư về ăn mặc, không còn quan tâm về an nguy

và nhu cầu tình cảm, không còn quan tâm đến danh lợi và không còn quan trọng hóa mình có được tôn trọng hay không

Với thuyết nhân cách xã hội, Erich Fromm tin rằng chúng ta cần đi xa hơn

những nhu cầu căn bản, vượt qua những nhu cầu sinh lý E Fromm có một cách nhìn khác, ông gọi những khao khát tinh thần nơi mỗi cá nhân là những nhu cầu của con người Ông đã đề nghị năm nhu cầu cơ bản sau [58; tr 135 - 139]:

Nhu cầu về sự liên hệ: Nhu cầu liên đới giữa người và người Là con người, chúng

ta ý thức được trạng thái tách rời giữa mình với người khác, vì thế chúng ta luôn

muốn vượt qua điều này Nhu cầu này là nền tảng của các hình thái tình cảm Nhu

cầu liên hệ này lớn đến độ thỉnh thoảng chúng ta đã tìm nó bằng mọi giá, kể cả

những lối tiếp cận không lành mạnh Nhiều người tìm kiếm sự liên hệ bằng cách

chịu lụy và phục tùng một người hay một nhóm

Nhu cầu về sáng tạo: E Fromm cho rằng, tất cả chúng ta đều có những khao khát, đam mê vượt qua, chế ngự và chinh phục giới hạn của mình Theo E Fromm, chúng ta có nhiều kênh để thể hiện khả năng sáng tạo như: chúng ta sinh con, gieo

hạt, trồng cây, nặn tượng, vẽ tranh, viết sách … Sáng tạo là một kênh diễn đạt của tình yêu

Nhu cầu về nguồn cội: Theo E Fromm, Chúng ta luôn ý thức mình là một thực thể nên chúng ta luôn nhận thức mình có mối liên hệ với tổ tiên, nhân loại, môi trường

Trang 33

Nhu cầu về một khung định hướng: E Fromm cho rằng, chúng ta muốn hiểu rõ cấu trúc và quy cách vận hành của thế giới và vị trí của chúng ta trong thế giới ấy, nhất

là trong phạm trù tôn giáo hay trong nền văn hóa chúng ta Vì đây là bộ phận thường cung cấp cho chúng ta những lý giải cần thiết Ngoài ra, các nguồn cung cấp

lý giải quan trọng khác như thần thoại, triết lý và khoa học đã cung cấp những cấu trúc để chúng ta xây dựng những tư tưởng của mình

Theo nhà Tâm lý học người Mỹ Henrry Murray đã xây dựng bảng phân loại

gồm 20 loại nhu cầu, bao gồm: Nhu cầu chiếm ưu thế, nhu cầu gây hấn, nhu cầu tìm

kiếm các mối quan hệ, nhu cầu bỏ rơi người khác, nhu cầu tự trị, nhu cầu phục tùng

thụ động, nhu cầu về sự tôn trọng, ủng hộ, nhu cầu thành đạt, nhu cầu trở thành sự trung tâm của chú ý, nhu cầu vui chơi, nhu cầu tìm người bảo trợ , nhu cầu giúp người, quan tâm đến người khác, nhu cầu bị trách phạt, nhu cầu tự vệ, nhu cầu vượt qua sự thất bại, nhu cầu an toàn, nhu cầu ngăn nắp trật tự, nhu cầu phán đoán [26;

Nhu cầu vật chất bao gồm: nhu cầu ăn, mặc, ở …

Nhu cầu tinh thần bao gồm: nhu cầu nhận thức, nhu cầu thưởng thức cái đẹp, nhu

cầu giao tế, nhu cầu lao động, nhu cầu hoạt động xã hội

Các nhà tâm lý học Việt Nam đều có khuynh hướng chia nhu cầu của con người thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần [25; tr 266 – 268] Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của cơ thể con người, có cội nguồn sâu xa từ bên trong cơ thể ví dụ: nhu cầu về thức ăn, nhà ở, quần áo để

mặc… Đây chính là nhu cầu thấp nhất của con người Chính nó thúc đẩy hoạt động

Trang 34

lao động và sáng tạo của con người làm ra của cải vật chất, tạo ra cơ sở của toàn bộ

lịch sử tồn tại của loài người

Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp với những đòi hỏi về cái đẹp có cội nguồn sâu xa từ trong nền văn minh, cái làm nên lực lượng bản chất người ví dụ: nhu cầu

về nghệ thuật, nhu cầu khoa học, nhu cầu học tập, nhu cầu tham vấn tâm lý…

Trong phạm trù người, dù là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần đều là nhu cầu mang bản chất người, được quy định bởi những điều kiện xã hội – lịch sử

Cả trong nội dung lẫn trong biểu hiện cụ thể của nó, mọi nhu cầu của con người đều mang bản chất xã hội và mang tính lịch sử

1.2.1.4 S ự hình thành nhu cầu

Theo quan niệm của Tâm lý học Macxít, nhu cầu được hình thành và phát triển trong chính hoạt động và quá trình con người tích cực hoạt động nhằm vươn

tới sự thỏa mãn nhu cầu thì nhu cầu mới được hình thành và phát triển

A.N Leonchiev đã đưa ra sơ đồ giải thích mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động (hoạt động  nhu cầu  hoạt động) Sơ đồ này đáp ứng quan điểm Macxít về nhu cầu, đồng thời cũng là sơ đồ cơ bản đối với nền tâm lý học Luận điểm cho

rằng, các nhu cầu của con người đều được sản xuất ra Ông giải thích: “Thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động Nhưng ngay khi chủ thể bắt đầu hành động thì ngay lập tức xảy ra sự biến hóa của nhu cầu và cũng không còn giống như khi nó tồn tại một cách tiềm tàng, tồn tại “tự nó” nữa Sự phát triển của hoạt động này đi xa bao nhiêu thì cái tiền đề này của hoạt động (tức là nhu cầu) cũng chuyển hóa bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động” [24; tr 280 – 283]

A.N Leonchiev cho rằng bởi vì bản thân thế giới đối tượng hàm chứa những nhu cầu tiềm tàng, nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực, tất yếu sẽ nhận

thức được những yêu cầu, đòi hỏi phải được đáp ứng để tồn tại và phát triển, tức là

xuất hiện nhu cầu mới Thông qua hoạt động sản xuất, loài người một mặt thỏa mãn nhu cầu hiện tại, đồng thời lại xuất hiện nhu cầu mới Vì thế con người tích cực hoạt động lao động sản xuất qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội [24]

Như vậy nhu cầu xuất hiện khi cơ thể mất cân bằng, thiếu hụt cái gì đó (các

chỉ số sinh lý), đó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự hoạt động tích cực

Trang 35

của con người để làm dịu sự căng thẳng, khắc phục sự mất cân bằng Nói một cách khác, hoạt động tích cực của con người thỏa mãn nhu cầu là hướng tới sự cân bằng tương đối của cơ thể

Để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đó, chúng ta phải làm cho chủ

thể có cơ hội làm quen với đối tượng, thực hiện hoạt động với đối tượng Chính trong quá trình đó, chủ thể sẽ có cơ hội và điều kiện để thấy được vai trò, ý nghĩa

của đối tượng với cuộc sống của bản thân, từ đó hình thành mong muốn về đối tượng và nhu cầu sẽ dần xuất hiện

1.2.2 Tham v ấn tâm lý

Cuộc sống luôn đặt ra những khó khăn, thách thức buộc con người phải đương đầu Với nhiều người, họ có thể dễ dàng hoặc vất vả tự vượt qua những khó khăn mà không cần tới sự trợ giúp của người khác, nhưng có không ít người đã không tự làm được điều này, họ cần một sự trợ giúp mang tính khoa học chuyên nghiệp để có thể vượt qua được những khó khăn của mình Trong trường hợp không được sự quan tâm giúp đỡ, cá nhân có thể mất đi niềm hạnh phúc trong cuộc sống, ảnh hưởng đến công việc và người khác Tham vấn tâm lý ra đời chính là để giúp

đỡ các cá nhân hoặc nhóm người có được một cuộc sống hạnh phúc hơn Ở lĩnh vực công tác trợ giúp tâm lý, hiện nay có nhiều khái niệm liên quan cần được làm sáng tỏ

1.2.2.1 Khái ni ệm tư vấn

Khái niệm Tư vấn (consultation) hay Tham vấn (counselling) trong từ điển

Tiếng Việt được dịch là tư vấn Đó là sự “đóng góp ý kiến về những vấn đề được

h ỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” [56]

Trên thế giới, khái niệm tư vấn không đơn thuần chỉ hiểu theo nghĩa như cho

lời khuyên, là sự khuyên bảo từ một tổ chức hay người có trình độ chuyên môn về

một lĩnh vực cụ thể, như một hình thức đóng góp ý kiến Trong đó người tư vấn thường là người chủ động, tích cực, còn người được tư vấn thì có thể là người thụ động để giải quyết vấn đề của họ

Hiệp hội tham vấn Hoa kì (1998) định nghĩa: tư vấn là mối quan hệ giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chỉnh thể xã hội cần được giúp đỡ, trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác

Trang 36

định và giải quyết một vấn đề nào đó liên quan đến công việc hoặc người khác [17;

tr 14]

Tư vấn được các tác giả nước ngoài hiểu theo nhiều cách với vai trò khác nhau của người tư vấn

A.M Douherty (1990) cho rằng, tư vấn có thể được xem là mối quan hệ mà

ở đó người chuyên gia đưa ra sự trợ giúp cho cá nhân hay tổ chức có nhu cầu giải quyết vấn đề khó khăn [46; tr 49]

Tư vấn được M Fall (1995) định nghĩa như sau: “Tư vấn là việc tôi với anh cùng nói về người đó, điều đó nhằm mục đích để thay đổi” [46; tr 49]

R Schein (1969) quan niệm rằng, người tư vấn có thể đóng vai trò như người

chịu trách nhiệm tìm ra những giải pháp [46; tr 49]

Theo R Blake & J.S Mouton (1976) cho rằng, tư vấn chỉ là người định hướng, điều phối tiến trình giải quyết vấn đề [46; tr 49]

Theo L.Stone & J Archer (1990), Một nghiên cứu chỉ ra rằng, các nhân viên tham vấn tại cộng đồng trung bình sử dụng 10% công việc cho làm công tác tư vấn

Grace M (1998) cho rằng, tham vấn là một kỹ thuật trợ giúp trong công tác

xã hội cá nhân và việc cho lời khuyên là một kỹ thuật của tham vấn Tuy nhiên, bà

nhấn mạnh lời khuyên đó không nên mang tính áp đặt, mà cần khách quan, phù hợp

với nhu cầu của đối tượng, được xác định trên cơ sở thảo luận và dựa vào kiến thức chuyên môn [46; tr 49]

Từ những quan điểm trên cho thấy, việc trao đổi ý tưởng, cung cấp thông tin

và cũng có thể là những lời khuyên trong tư vấn đã tham gia một phần vào quá trình

giải quyết vấn đề Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, khi làm công tác tham vấn, người

ta thường có khuynh hướng đưa ra lời khuyên mang tính áp đặt ý chí chủ quan của mình Như vậy, có thể hiểu tư vấn ở những đặc điểm như sau:

V ề mục tiêu: Tư vấn chủ yếu hướng tới giải quyết vấn đề hiện tại

V ề tiến trình: Tư vấn thường là cung cấp thông tin hay đưa ra lời khuyên Do vậy,

nó diễn ra trong thời gian ngắn, giải quyết vấn đề tức thời

V ề mối quan hệ: Trong tư vấn có thể là mối quan hệ trên – dưới: Giữa một người có

chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực đó, còn bên kia là người có khó khăn về lĩnh vực

Trang 37

đó Bên cạnh đó, mối quan hệ ở đây không đòi hỏi sự tương tác tích cực từ phía người cần tư vấn

V ề cách thức tương tác: Cách thức can thiệp chính là cung cấp thông tin và lời

khuyên bổ ích từ người tư vấn với đầy đủ kiến thức chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn

Như vậy, rõ ràng tư vấn là hình thức trợ giúp có những đặc điểm riêng biệt ở

một số khía cạnh và là một hình thức trợ giúp mang lại hiệu quả Mặc dù khi tư vấn

có tham gia vào quá trình tham vấn, song để giúp đối tượng nâng cao được năng lực

giải quyết vấn đề trong cuộc sống thì việc sử dụng hình thức tham vấn hữu hiệu hơn

1.2.2.2 Khái ni ệm tham vấn tâm lý

Tham vấn tâm lý (TVTL/counselling psychology) là một thuật ngữ không còn xa lạ ở Việt Nam trong khoảng 10 - 15 năm trở lại đây Tuy nhiên, cho đến nay

ở Việt Nam vẫn còn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến thuật ngữ này Thuật ngữ tham vấn đôi khi chỉ những hoạt động của người giúp đỡ thông thường, hoặc của tình nguyện viên, họ được xem như là người làm công tác trợ giúp Thuật ngữ này cũng đề cập đến những người làm tham vấn chuyên nghiệp tại các bệnh viện, trung tâm, dịch vụ xã hội hoặc các trường học với nền tảng kiến thức

về tâm lý học, công tác xã hội hoặc các ngành khác

Trong đề tài này, người nghiên cứu đề cập đến khái niệm tham vấn với tư cách là một hoạt động trợ giúp mang tính chuyên nghiệp Hoạt động này đòi hỏi nhà tham vấn có kiến thức sâu về tâm lý và hành vi con người nhằm giải quyết những

vấn đề của cuộc sống xã hội được coi là nguyên nhân nảy sinh những khó khăn tâm

chấp nhận những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới thay đổi [46; tr 46]

D Blocher (1966) cho rằng, tham vấn là sự giúp đỡ người kia nhận thức được bản thân, những hành vi có ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, đồng thời

Trang 38

trợ giúp họ xây dựng được những hành vi có ý nghĩa, thiết lập mục tiêu và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi [46; tr 46]

J Hunchinson Hancy & Jacqueline L (1999) cho rằng, tham vấn là mối quan

hệ tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ

và hành vi của đối tượng thông qua sự trao đổi chia sẻ trong mối quan hệ tương tác

của hoạt động tham vấn

Gustard J.W (1953) định nghĩa về tham vấn như sau: Tham vấn là một quá trình học hỏi được thực hiện trong một môi trường xã hội tương tác trực tiếp một –

một Trong quá trình tương tác này, người tham vấn là người có năng lực chuyên môn, kiến thức và kỹ năng tâm lý, sử dụng những phương pháp thích hợp để giúp người được tham vấn hiểu biết về bản thân, đáp ứng nhu cầu, mục tiêu trong điều

kiện cho phép để trở nên hạnh phúc và có ích hơn cho xã hội [46; tr 47]

Perez J.F (1965) lại cho rằng, tham vấn là quá trình tương tác giữa một bên

là người cần có sự trợ giúp và một bên là người làm tham vấn được đào tạo, huấn luyện có nhiệm vụ đưa ra sự trợ giúp Ông xem người tham vấn có vai trò thúc đẩy, duy trì quá trình tương tác bằng sự giao tiếp nồng hậu, đức tính kiên trì, thái độ tôn

trọng và chân thành [46; tr47]

Rogers Jenny trong cuốn Carring for people USA, 1990, cho rằng, tham vấn

là một hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ Hoạt động này giúp đối tượng nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống [47; tr 50]

Với J Mielke(1999) định nghĩa tham vấn là một quá trình, một mối quan hệ

nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức

và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của thân chủ [48; tr 50]

Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997) cho rằng: Tham vấn là sự

áp dụng nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc

cảm, hành vi tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ cũng xác định rằng quá

Trang 39

trình tham vấn là một quá trình tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng Trong

mối quan hệ này, nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết vấn đề

của mình [17; tr.18]

Mặc dù khái niệm tham vấn mới được xuất hiện ở Việt Nam gần đây, nhưng

với nỗ lực nhằm phát triển loại hình hoạt động này ở cả phương diện lý luận và thực

tiễn, các nhà khoa học về lĩnh vực này ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về tham vấn tâm lý như sau:

Tác giả Trần Quốc Thành xem tham vấn như quá trình chuyên gia tham vấn đặt mình vào vị trí của đương sự, hiểu vấn đề của đương sự và cùng đương sự chia

sẻ, định hướng cho đương sự cách giải quyết vấn đề của họ chứ không thay họ giải quyết vấn đề [46, tr 47]

Tác giả Trần Thị Minh Đức đưa ra khái niệm khá đầy đủ về tham vấn tâm lý như sau: “Tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng- người đang có vấn

đề về khó khăn tâm lý muốn được giúp đỡ) Thông qua các kỹ năng trao đổi và chia

sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính chất nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng của

bản thân để giải quyết vấn đề của mình” [17; tr 21]

Dù tiếp cận tham vấn ở các góc độ khác nhau, song hầu hết các tác giả trên đều có cùng những điểm chung thống nhất là nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn

để của đối tượng với sự trợ giúp của nhà chuyên môn Điều này có nghĩa rằng, trong quá trình trợ giúp tâm lý, người làm tham vấn bằng kiến thức và kỹ năng tham

vấn, giúp đối tượng nhận thức và tự thay đổi, qua đó họ học cách ứng phó với các

vấn đề trong cuộc sống của chính cá nhân

Từ các quan điểm trên, có thể khái quát hoạt động tham vấn tâm lý có những

yếu tố cơ bản và chung nhất sau đây:

Tham vấn tâm lý là một hoạt động trợ giúp, giúp đối tượng tự quyết định vấn

đề của mình thông qua mối quan hệ tương tác tích cực giữa nhà tham vấn với người

Trang 40

được tham vấn Như vậy, ở đây đòi hỏi có sự tham gia nhiệt tình của cả hai phía vào toàn bộ quá trình giải quyết vấn đề: từ thu thập thông tin tới ra quyết định, triển khai

thực hiện và đánh giá kết quả

Hoạt động tham vấn tâm lý được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ giao tiếp đặc

biệt đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa người làm tham vấn (người trợ giúp) và đối tượng (người có vấn đề về tâm lý xã hội bởi nhiều lý do khác nhau) Mối quan hệ

tương tác này chủ yếu được thực hiện trong tương tác trực tiếp

Về bản chất, tham vấn tâm lý là hoạt động hay phương pháp trợ giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề của mình chứ không phải là hoạt động đưa ra lời khuyên

Sự trợ giúp ở đây được thể hiện qua việc giúp đối tượng nâng cao nhận thức về bản thân, hoàn cảnh của họ, khám phá và sử dụng những khả năng, những thế mạnh đang tồn tại trong bản thân họ hay xung quanh họ để tự giải quyết vấn đề Với ý nghĩa này, tham vấn tâm lý còn có tác dụng giúp đối tượng nâng cao khả năng đối phó với các vấn đề trong cuộc sống

Người làm tham vấn là người được trang bị các giá trị, thái độ, đạo đức nghề nghiệp, những tri thức hiểu biết về tâm lý con người, các kỹ năng tham vấn để thấu

hiểu đối tượng, giúp đối tượng tự giải quyết và tự thay đổi chính họ

Đối tượng được tham vấn (được gọi là thân chủ hay khách hàng) do những nguyên nhân khác nhau trở nên mất cân bằng về tâm lý, khó khăn trong việc thích

ứng và hòa nhập môi trường xã hội

Tham vấn tâm lý được coi là một hoạt động chuyên môn hoặc một dạng dịch

vụ xã hội, hay một mối quan hệ trợ giúp được thực hiện bởi những người làm tham

vấn chuyên nghiệp

Tóm l ại, tham vấn tâm lý là quá trình trao đổi, chia sẻ các thông tin và cảm xúc

gi ữa nhà tham vấn và người được tham vấn nhằm giúp người được tham vấn tìm ra các gi ải pháp phù hợp với bản thân và tự giải quyết các vấn đề của mình

Tham vấn là một tiến trình trợ giúp chứ không làm hộ cho thân chủ Quá trình tự quyết sẽ giúp cho thân chủ mạnh lên, dám nghĩ và đương đầu với những

vấn đề khó khăn của chính mình

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.7 cho thấy: - nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.7 cho thấy: (Trang 74)
Hình th ức học tập nâng cao trình độ  7.6  23.6  42.2  11.3  5.0  10.3  2.20  6 - nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại thành phố hồ chí minh
Hình th ức học tập nâng cao trình độ 7.6 23.6 42.2 11.3 5.0 10.3 2.20 6 (Trang 75)
Hình th ức học tập - nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại thành phố hồ chí minh
Hình th ức học tập (Trang 84)
Hình th ức học tập nâng cao trình độ - nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại thành phố hồ chí minh
Hình th ức học tập nâng cao trình độ (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w