1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm loại từ chỉ bất động vật trong tiếng việt và các từ tương đương trong tiếng hán hiện đại

89 921 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại từ được xem xét trong danh ngữ có loại từ là thành tố trung tâm hoặc trong một tổ chức trong đó loại từ kết hợp với tính từ, động từ để tạo thành một tổ hợp có thể chỉ sự vật thay t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Linh Chi

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

T hành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Linh Chi

Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người Hướng dẫn Khoa học:

PGS TS NGUYỄN THỊ LY KHA

T hành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ văn , Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn

Bằng tất cả tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng kính

trọng và biết ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha – người đã

tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện

luận văn

Bên cạnh đó, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trong Khoa Ngữ văn, cùng các anh chị học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học khóa 19 đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, những người thân và các bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả Đó là nguồn động lực rất lớn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình

Tác giả luận văn

Lê Linh Chi

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LOẠI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CỦA LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 10

1.1 Loại từ 10

1.1.1 Đặc trưng ngữ pháp của loại từ 10

1.1.2 Đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa của loại từ 12

1.1.3 Đặc trưng ngữ dụng của loại từ 14

1.1.4 Định tố cái .15

1.2 Lượng từ 15

1.2.1 Định nghĩa và phân loại 16

1.2.2 Chức năng ngữ pháp của lượng từ 21

1.2.3 Một số hiện tượng liên quan đến ngữ nghĩa của lượng từ 22

Chương 2 LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT VÀ LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 29

2.1 Khảo sát và đánh giá loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt 29

2.1.1 Khảo sát loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt 29

2.1.2 Đánh giá tình hình sử dụng loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt 51

2.2 Khảo sát và đánh giá lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại 56

2.2.1 Khảo sát lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại 56

2.2.2 Đánh giá tình hình sử dụng lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại 64

Chương 3: MỘT VÀI ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA LOẠI TỪ VÀ LƯỢNG TỪ 72

3.1 Bình diện ngữ pháp 72

3.2 Bình diện từ vựng – ngữ nghĩa 74

3.3 Bình diện ngữ dụng 78

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 31

Bảng 2.2 32

Bảng 2.3 32

Bảng 2.4 36

Bảng 2.5 36

Bảng 2.6 39

Bảng 2.7 39

Bảng 2.8 44

Bảng 2.9 45

Bảng 2.10 48

Bảng 2.11 50

Bảng 2.12 51

Bảng 2.13 51

Bảng 2.15 65

Bảng 2.16 66

Bảng 2.17 67

Bảng 2.18 67

Bảng 2.19 68

Bảng 2.20 68

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Loại từ là từ loại gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu ngôn ngữ Đầu tiên

là sự bất đồng trong việc xác định tư cách từ loại: loại từ là hư từ hay thực từ Tiếp theo, các nhà Việt ngữ học cho loại từ là hư từ hoặc thực từ lại tiếp tục bất đồng ý kiến về cách phân loại, liệt kê, xác định chức năng ngữ nghĩa, ngữ pháp của nhóm

từ này Trong các công trình nghiên cứu gần đây, Cao Xuân Hạo đặt lại vấn đề loại

từ với cách tiếp cận rất mới lạ so với ngữ pháp truyền thống Tác giả khẳng định tư cách danh từ của các nhóm từ vốn được xem là loại từ, khẳng định vị trí trung tâm của các từ này trong danh ngữ, và trong danh ngữ, các từ này có chức năng chỉ hình thức phân lập của các đơn vị cá thể trong khi chức năng chỉ loại lại thuộc về danh từ khối vì bản chất của danh từ khối là chỉ chất liệu Tuy hiện nay vẫn chưa tìm được giải pháp triệt để để có thể thống nhất về mặt lý luận, nhưng các lý lẽ mà các nhà Việt ngữ học đưa ra trong lúc tranh luận đã chứng tỏ tính cách quan trọng, phức tạp

và mở của loại từ trong tiếng Việt

Về phía người sử dụng, thiếu vắng loại từ sẽ gặp khó khăn trong việc suy nghĩ, diễn đạt trước hết là trong nhu cầu đếm số lượng, nhu cầu cấu trúc hóa thế giới khách quan theo trật tự đã được cộng đồng ước định Cũng khó khăn tương tự nếu

sữ dụng tiếng Hán mà thiếu kiến thức về lượng từ Tuy thường được định nghĩa ngắn gọn “Lượng từ là từ dùng để tính lượng các sự vật hay động tác” nhưng thao tác tính lượng trong tiếng Hán bao hàm cách phân loại sự vật hết sức phức tạp Thế giới khách quan qua cách tạo ký hiệu đầy tính tượng hình của chữ Hán như được con người sắp xếp lại, vừa chi phối số lượng, vừa chi phối ngữ nghĩa lượng từ, trong đó có nghĩa hình tượng và nghĩa sắc thái, tạo giá trị về cho lượng từ trong cả hai phương khoa học và nghệ thuật Với các lý do đó, người viết đã chọn đề tài

nghiên cứu là: “Nhóm loại từ chỉ bất động vật trong tiếng Việt và các từ tương

đương trong tiếng Hán hiện đại”

Trang 7

Loại từ trong luận văn này được lựa chọn dựa theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn Đó là các từ thuộc tiểu loại danh từ chỉ các đơn vị tự nhiên, có chức năng phụ

là phân định sự vật thành từng loại dựa vào một đặc trưng nào đó của sự vật Loại

từ được xem xét trong danh ngữ có loại từ là thành tố trung tâm hoặc trong một tổ chức trong đó loại từ kết hợp với tính từ, động từ để tạo thành một tổ hợp có thể chỉ

sự vật thay thế danh từ nên chúng tôi vẫn xét đến các trường hợp loại từ dùng để định đơn vị cho động từ

Việc lựa chọn các lượng từ tương đương với loại từ chỉ có sự chính xác tương đối do phạm vi, mục đích của luận văn và do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ

Lượng từ trong luận văn được lựa chọn dựa vào định nghĩa về lượng từ được

trích dẫn trong tài liệu của Hà Kiệt:“Từ biểu thị số lượng đơn vị sự vật hay động tác

gọi là lượng từ Lượng từ có hai loại: tính đơn vị sự vật gọi là vật lượng từ, tính đơn vị động tác gọi là động lượng từ” [19.6] Các lượng từ chúng tôi sử dụng trong

luận văn cũng được sử dụng trong tài liệu này Thuật ngữ số từ chúng tôi dùng trong

luận văn là số từ số học, tức không sử dụng ước số để khỏi lẫn lộn với lượng từ trong tiếng Việt Chúng tôi cũng sử dụng một số lượng từ tương đương với các từ

chỉ đơn vị quy ước không chính xác như miếng, cục, đoạn là những từ không được

Nguyễn Tài Cẩn xem là loại từ nhằm mục đích so sánh , đối chiếu cách dùng loại từ

và lượng từ giữa hai ngôn ngữ

2.1 Tiến trình nghiên cứu lượng từ và loại từ của các nhà Việt ngữ học

Lượng từ được xem là một từ loại với các tên gọi khác nhau trong lịch sử

nghiên cứu tiếng Việt như: lượng số chỉ định từ ( Trần Trọng Kim), ngữ vị chỉ số (Lê Văn Lí), lượng từ, thuộc tiểu loại lượng từ phỏng chừng và lượng từ bất định (Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê), lượng số chỉ định từ chỉ một lượng nhiều

hay ít (Bùi Đức Tịnh), lượng từ và lượng số từ, ước từ (Trần Ngọc Ninh), từ kèm ( Nguyễn Kim Thản), từ chỉ số lượng khái quát (Diệp Quang Ban) Quan niệm và

cách liệt kê các từ thuộc từ loại này có sự khác nhau giữa các tác giả nhưng nói chung đều xem lượng từ là những từ chỉ số lượng nhiều hoặc ít một cách tổng quát,

Trang 8

đó là từ ” mang phạm trù lượng số trong thành phần danh để chỉ định danh từ đếm

được về lượng số” (8.235), “Lượng từ là tiếng đặt trước thể từ để hạn chế về số lượng nghĩa tổng quát hay bất định của thể từ chính” [6.305] , “các lượng số chỉ định từ chỉ một lượng nhỏ, chỉ mỗi đơn vị của một toàn số, và chỉ một lượng lớn hay một toàn số” (13.62), “Từ đi kèm danh từ chuyên làm dấu hiệu về lượng” (11.57)

Các từ mang ý nghĩa lượng từ được liệt kê ra không hoàn toàn giống nhau ở các tác

giả nhưng nói chung là các từ: những, các, một, mỗi, từng, vài, mọi, mấy, nhiều, tất

cả, toàn Vậy, lượng từ trong tiếng Việt gần với số từ, không có chức năng xác định

hình thức phân lập của sự vật và phân loại sự vật, tức không mang các đặc điểm của loại từ

Loại từ được xem là một từ loại trong tiếng Việt Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, khi phân từ loại tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đều đề

cập đến từ loại này: “Loại từ là tiếng đứng trước tiếng danh từ để chỉ định tiếng

danh từ ấy thuộc loại nào” [5.49] “Loại từ là tiếng đặt trước một danh từ khái quát

để làm cho ý nghĩa của danh từ ấy được rõ ràng, đầy đủ” (13.51) “ Loại từ là những chứng tự của tự loại A (tự loại A là danh từ): chúng cho phép ta nhận định được những từ nào thuộc tự loại A, và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó vào một loại riêng biệt nữa” (7.50) “Loại từ là tiếng đặt trước thể từ cho ta biết thể từ chính trỏ sự vật thuộc loại, hạng nào, vì tùy theo sự vật thuộc loại hạng nào

mà ta dùng loại từ thích hợp” (6.281) Nguyễn Tài Cẩn (1960) xem loại từ là

thành tố phụ của danh từ trung tâm Về sau, trong Ngữ pháp Tiếng Việt (1989), ông xem là một tiểu loại của danh từ: danh từ chỉ đơn vị tự nhiên có vai trò trung tâm 1 trong một danh ngữ và là “trung tâm về mặt ngữ pháp” Nguyễn Kim Thản gọi loại

từ là phó danh từ (1963) sau đó là danh từ phụ thuộc (1981) Trong những năm 60, Lưu Văn Lăng xếp loại từ thành một nhóm nhỏ gọi là từ chỉ loại nằm trong phạm trù danh từ nhưng sau đó lại xếp các từ này vào một nhóm nhỏ mang tên là hạn từ Diệp Quang Ban xem loại từ là danh từ chỉ loại Cao Xuân Hạo xem loại từ thực

chất là một số từ trong danh từ đơn vị, phủ nhận sự tồn tại của loại từ trong tiếng Việt theo nghĩa là nhóm từ có chức năng phân loại

Trang 9

2.2 Tiến trình nghiên cứu lượng từ trong tiếng Hán

Ngữ pháp Trung Quốc trong năm đầu thập niên 30 chịu ảnh hưởng rất lớn về

mặt lí luận của ngữ pháp phương Tây Năm 1943, trong cuốn Ngữ pháp Trung

Quốc hiện đại, (1985) Vương Lực xem lượng từ là một tiểu loại của danh từ và gọi

đó là danh từ đơn vị Sau đó, trong Từ loại, ông nhắc lại quan niệm này: ” Tôi cho rằng lượng từ là danh từ và tôi gọi là danh từ đơn vị”.( trích từ Hà Kiệt.3) Tuy chưa

xác lập một vị trí độc lập cho lượng từ, nhưng Vương Lực được kể là người đầu tiên đã xem lượng từ là một bộ phận trong cơ cấu từ loại tiếng Hán

Đến đầu thập niên 40, Lã Thúc Tương xuất bản cuốn Trung Quốc ngữ pháp

yếu lược trong đó ông gọi lượng từ là Từ đơn vị, ông viết: ”Trong văn bạch thoại,

số từ không thể đứng trước danh từ để kết hợp trực tiếp với danh từ mà phải có từ

chỉ đơn vị đứng trước danh từ” Sau đó, trong sách Học ngữ pháp, ông xem lượng

từ chỉ là một loại từ ngữ hỗ trợ thêm cho danh từ và gọi là phó danh từ Tuy Lã

Thúc Tương vẫn xem lượng từ thuộc phạm trù danh từ nhưng ông là người đầu tiên gọi tên từ loại này là lượng từ: “ Phó danh từ là từ chỉ đơn vị người hay sự vật, còn được gọi là danh từ chỉ đơn vị hay lượng từ” (1982 trích từ Hà Kiệt 3) Lã Thúc Tương cho rằng, khác với danh từ, phần lớn các phó danh từ không có ý nghĩa cụ thể Lã Thúc Tương cũng đưa ra các nét khu biệt giữa danh từ và lượng từ, các đặc trưng ngữ pháp của tổ hợp số từ - lượng từ Đáng tiếc là cho đến thời điểm ấy lượng

từ vẫn chưa được xem là một từ loại độc lập

Cao Danh Khải trong Bàn về ngữ pháp tiếng Hán đã gọi lượng từ là số vị từ

và xem số vị từ là đặc trưng của hệ ngôn ngữ Hán - Tạng

Lục Chí Vĩ trong Các từ đơn âm trong tiếng Bắc Kinh đã xếp lượng từ thành một loại của đại từ chỉ thị với tên gọi là trợ danh từ Cách phân loại này cho thấy lý

luận của ông về từ loại tiếng Hán vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của ngữ pháp Ấn - Âu

Trần Vọng Đạo xem lượng từ là từ nêu ra cái cần tính toán, gọi là kế tiêu, cách gọi này có ý nhấn mạnh tác dụng đếm đơn vị của lượng từ Theo ông, gọi các

từ nêu ra vật cần đếm là phó danh từ là cách nhìn thiếu toàn diện vì vật cần đếm

số lượng không chỉ có vật tĩnh mà còn có sự động

Trang 10

Đàm Chính Bích trong cuốn Ngữ pháp cơ bản gọi lượng từ là phụ danh từ hay còn gọi phó danh từ hoặc lượng từ

Năm 1957, Trương Chí Công trong Hán ngữ ngữ pháp thường thức đã gọi

lượng từ là số lượng từ vì theo ông, thông thường từ chỉ số và từ chỉ đơn vị đi liền

nhau Đinh Thanh Thụ trong Bàn về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại cho thấy khi nghiên cứu về từ loại ông đã không những dùng tên gọi lượng từ mà còn xem đây là

một từ loại độc lập để phân tích, nghiên cứu

Đến cuối thập niên 50, lượng từ chính thức được xác định tên gọi: “Từ biểu

thị số lượng đơn vị sự vật hay động tác gọi là lượng từ Lượng từ có hai loại: tính đơn vị sự vật gọi là vật lượng từ, tính đơn vị động tác gọi là động lượng từ” [19.6]

và trở thành 01 trong 11 từ loại tiếng Hán hiện đại

Năm 1961, Chu Đức Hi trong bài giảng về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại ở Đại học Bắc Kinh đã chính thức công nhận lượng từ là một từ loại của tiếng Hán, ông

đưa ra một định nghĩa về lượng từ “ Lượng từ là từ có thể đi liền sau số từ” Nhưng

vấn đề về lượng từ vẫn chưa kết thúc ở đây mà vẫn có rất nhiều cuộc tranh luận chung quanh từ loại này kéo dài đến những năm 70

Cuối cùng, sau hơn 50 năm, qua 16 cái tên khác nhau, đến nửa sau thập niên

50 lượng từ được xác định tên gọi và đến những năm 70 thì được phổ biến rộng rãi

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở thừa nhận lí thuyết về loại từ tiếng Việt theo

quan điểm của tác gỉa Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1998) và lí thuyết về lượng từ của tác giả Hà Kiệt qua cuốn Nghiên cứu lượng từ tiếng Hán

hiện đại(2000) Các tác phẩm văn chương dùng để minh họa cho các lí thuyết này

bao gồm những 30 tác phẩm của 05 nhà văn Việt Nam và 30 tác phẩm của 05 nhà văn Trung Quốc, cụ thể là:

• Hồ Biểu Chánh: Đóa hoa rừng, Hai Thà cưới vợ, Lòng dạ đàn bà, Thầy Chung trúng số, Thầy thông ngôn

• Sơn Nam: Bốn cái ngu, Hương rừng Cà mau, Một kiểu anh hùng, Tình nghĩa giáo khoa thư, Yêu cho được

Trang 11

• Nguyễn Minh Châu: Bến quê, Bức tranh, Chiếc thuyền ngòai xa, Khách ở quê ra, Mảnh trăng cuối rừng

• Phạm Thị Hoài: Bao giờ cho đến bốn năm sau, Man nương, Thiên sứ, Thực đơn chủ nhật, Tiệm may Sài gòn

• Nguyễn Ngọc Tư: Cải ơi, Cánh đồng bất tận, Dòng nhớ, Làm mẹ, Một mối tình

• Lỗ Tấn: Cố hương - 故乡, Khổng Ất Kỷ - 孔乙己, Nhật kí người điên - 狂人

日记, Thuốc 药, Lễ chúc phúc - 祝福

• Đinh Linh: Gió mưa nhớ Tiêu Hồng - 风雨中忆萧红, Mộng Kha 梦珂, Nhật kí

Sa – phỉ - 莎菲女士的日记, Bay đến trời tự do - 我怎样飞向了自由的天地, Đêm (夜)

• Tam Mao: Bối ảnh - 背影, Tuổi mưa không trở lại - 雨季不再来, Lạc đà khóc - 哭泣的骆驼, Cô dâu bé con - 娃娃新娘, Đêm dịu dàng - 温柔的夜

• Quỳnh Giao: Song ngoại - 窗外 (Chương I - V), Xóm vắng - 庭院深深 (chương I – V ), Mùa thu lá bay - 彩云飞 (chương I - VI), Dòng sông ly biệt - 烟雨朦朦 (chương III), Hải âu phi xứ - 海欧飞处 (chương I - IV)

• Giả Bình Ao: Thiên Cẩu - 天狗, Tần xoang - 秦腔 (chương I-III), Hút thuốc

- 烟 , Bạn - 朋友, Làm người tự do - 做个自在人朋友

• Mặc Ngôn: Đàn hương hình - 檀香刑 (chương 1 -III), Báu vật của đời - 丰乳肥臀 (chương I - III), Cao lương đỏ - 红高粱 (chương I - III), Đại phong -

大风, Mưa phùn đêm xuân - 春夜雨霏霏

Đối với các văn bản tiếng Việt chúng tôi sử dụng 25 loại từ sau đây để khảo sát trên các văn bản: con, cái, tấm, bức, trận, cơn, miếng, viên, hòn, cục, cọng, bụi, ngọn, chiếc, gốc, cây, dòng, xấp, mớ, vũng, đoạn, khúc, giọt, tiếng, ổ

Đối với các văn bản tiếng Trung chúng tôi chọn các 61 lượng từ tương đương như sau:

Trang 12

con, cái: 个, 张, 口, 条, 只, 道, 床, 把, 釘, 方, 根, 面, 盏, 眼,杯, 架,件,具, 辆,领,盤,艘, 座, 纸, 篇

Trang 13

Trong một văn bản, một loại từ hay lượng từ xuất hiện từ 02 lượt trở lên sẽ được ghi số trong dấu ngoặc đơn Thứ tự trình bản văn bản sẽ được xếp theo thứ tự A,B,C, đối với các văn bản tiếng Trung sẽ dựa theo cách viết phiên âm Các văn bản được trích xuất từ các trang web và được thống kê bằng phần mềm của Microsoft

Phạm vi khảo sát sự xuất hiện của loại từ trong tiếng Việt và lượng từ tiếng Hán qua các tác phẩm văn chương chỉ giới hạn ở nội dung sau:

- Tần số xuất hiện

- Cách sử dụng

- Nêu một vài nhận xét về chức năng ngữ nghĩa của loại từ trên sơ sở xem ngôn ngữ là một trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri nhận của con người

Đề tài này sẽ được tiến hành thực hiện với các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở ngữ liệu thống kê được chúng tôi sẽ tiến hành phân tích ngữ liệu để nhận xét về chức năng ngữ nghĩa, ngữ pháp của loại từ tiếng Hán tiếng Việt qua tần số xuất hiện và qua cách dùng

Phương pháp so sánh đối chiếu: Chúng tôi sẽ so sánh đối chiếu việc sử dụng loại từ trong tiếng Hán trong tiếng Việt qua các tác phẩm văn chương để tìm những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ trong phạm vi từ loại

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu và đóng góp của đề tài

Với đề tài trên, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc tìm hiểu loại từ trong hai ngôn ngữ và qua đó, nâng cao năng hiểu và dùng

từ loại này vừa ở phương diện khoa học vừa ở phương diện nghệ thuật Chúng tôi cũng mong muốn được đóng góp vài nhận xét về các điểm giống nhau và khác nhau qua cách dùng từ loại này của hai dân tộc

Trang 14

6 Kết cấu luận văn

Nội dung luận văn của chúng tôi, ngoài hai phần Dẫn nhập và Kết luận, bao gồm 03 chương sau:

tiếng Hán hiện đại

phẩm văn chương

Trang 15

C hương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LOẠI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CỦA

LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI

Trong Ngữ pháp tiếng Việt(1989.203) thuật ngữ loại từ với các đặc trưng về từ

vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng được nêu ra khi tác giả miêu tả tổ chức của danh ngữ Một danh ngữ gồm có bộ phận trung tâm - do danh từ đảm nhiệm - chiếm

vị trí giữa lòng đoản ngữ và các thành tố phụ (gọi là định tố) phân bố ở trước và sau danh từ tạo nên phần đầu và phần cuối của đoản ngữ

Ví dụ: phần đầu phần trung tâm phần cuối

Về mặt tổ chức, các định tố đầu tuyệt đại đa số không có khả năng phát triển thành một đoản ngữ mới như định tố cuối Về mặt phân bố vị trí, mỗi kiểu định tố bao gồm một số từ có chung ý nghĩa luôn giữ một vị trí ở phần định tố đầu trong khi không có sự tương tự như thế ở phần định tố sau Về mặt ý nghĩa, định tố đầu không gây tác động đến ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trong khi định tố cuối lại tạo được tác động đó

1.1.1 Đặc trưng ngữ pháp của loại từ

Từ những kết luận như thế rút ra từ danh ngữ, tác giả cho rằng loại từ, nhóm từ thành viên của định tố đầu, chỉ là thành phần phụ bổ nghĩa cho danh từ đi sau Nhưng khi xem xét, so sánh các danh ngữ có phần định tố đầu tổ chức tương tự nhau: từ chỉ số lượng, từ chỉ đơn vị kế toán, từ chỉ sự vật cần kế toán như:

Trang 16

1) Một anh sinh viên, một cuốn sách

2) Một đoàn sinh viết, một tạ sách

Tác giả nhận thấy có sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận trước đây đối với

loại từ Trong trường hợp (1) anh, cuốn luôn bị xem là thành tố phụ trong khi ở trường hợp (2) đoàn, tạ do được đánh giá là những thực từ, lại trở thành thành phần

trung tâm trong danh ngữ Sự mâu thuẫn cũng diễn ra tương tự nếu so sánh các kiểu

câu hỏi anh nào?, cuốn gì? với kiểu câu trả lời anh sinh viên, cuốn sách Anh, cuốn trong câu hỏi được xem là thành phần trung tâm trong khi sinh viên, sách lại là

thành phần trung tâm trong các câu trả lời tương ứng với câu hỏi Để giải quyết sự

“mâu thuẫn lớn” đó, tác giả đưa ra giải pháp hai trung tâm, trong đó các từ chỉ đơn

vị, trong đó có loại từ, là trung tâm ngữ pháp trong danh ngữ (gọi là T1) Các danh

từ đơn vị ở vị trí T1 luôn có thể kết hợp với từ chỉ số lượng nên thuộc về tiểu loại danh từ trực tiếp đếm được đối lập với tiểu loại danh từ không trực tiếp đếm được là những danh từ nắm giữ vai trò trung tâm về ngữ nghĩa (gọi là T2) Danh từ chỉ đơn

vị được chia thành danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (gồm có người, động thực vật, khái niệm trừu tượng) và danh từ chỉ đơn vị quy ước (gồm có cân, thước, sào…) Danh

từ nào chỉ có thể kết hợp với danh từ chỉ đơn vị quy ước được gọi là danh từ không biệt loại đối lập với danh từ có biệt loại là những danh từ có thể kết hợp được với

danh từ đơn vị quy ước lẫn danh từ đơn vị tự nhiên Từ chỉ xuất cái luôn ở vị trí

trước danh từ chỉ đơn vị, đây là tiêu chí để phân loai danh từ chỉ xuất được đối lập với danh từ không chỉ xuất được Trong tiếng Việt, các danh từ ở T1 là những danh

từ chỉ xuất được trong khi các danh từ ở T2 không chỉ xuất được (trừ nhóm danh từ

chỉ chất liệu) Những từ chỉ số lượng những, các khi kết hợp với danh từ chỉ đơn vị

sẽ tạo ý nghĩa ngữ pháp số nhiều đối lập với những từ một, zê-rô chỉ số ít Danh từ

không có định tố cái mà cũng không có từ chỉ đơn vị đi trước thường không kết hợp được với định tố chỉ số lượng, danh từ trong trường hợp này sẽ mang ý nghĩa

số trung

Danh từ chỉ đơn vị có thể đảm đương vai trò làm thành phần câu như một danh từ thường: có thể làm chủ tố, làm bổ tố, định tố, vị tố Chúng cũng có thể trở

Trang 17

thành trung tâm của một danh ngữ với đầy đủ mọi thành tố phụ của danh ngữ Nhìn chung, từ chỉ số lượng và danh từ không thể trực tiếp kết hợp với nhau mà phải có loại từ đứng trước danh từ tuy cũng có một số trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn

không thể nói vài muối nhưng lại có thể nói vài khuyết điểm

Như vậy, theo Nguyễn Tài Cẩn, loại từ là nhóm từ giữ vị trí trung tâm ngữ pháp trong danh ngữ (T1), có chức năng tính đơn vị sự vật do danh từ biểu thị, tạo các thế đối lập có tác dụng phân tiểu loại cho danh từ như: trực tiếp đếm được/ không trực tiếp đếm được, biệt loại / không biệt loại, chỉ xuất được/ không chỉ xuất được, số ít /số nhiều /số trung dựa vào khả năng kết hợp của danh từ với các định tố

đầu trong danh ngữ

1.1.2 Đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa của loại từ

Quan điểm cho loại từ là thành phần phụ xuất phát từ việc xem các từ này là

hư từ, chúng không tác động đến ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trung tâm Khi nói Ba anh sinh viên ấy hoặc Cuốn sách này thì sinh viên và sách mới là sự vật

được nêu ở danh ngữ, và từ chỉ đơn vị anh, cuốn , nếu có thay đổi cũng không làm

thay đổi nghĩa biểu niệm của danh từ Vì vậy khi xác định phần trung tâm của danh

ngữ, trong năm 1960, Nguyễn Tài Cẩn đã cho rằng anh, cuốn chỉ là thành tố phụ bên cạnh bộ phận trung tâm sinh viên, sách và anh, cuốn là hư từ Khi tham gia biên

soạn sách Ngữ pháp phổ thông dạy thí nghiệm ở Hà Nôi (1963), tác giả đã đánh giá lại vai trò của danh từ chỉ đơn vị trong trung tâm danh ngữ và mối quan hệ giữa danh từ chỉ đơn vị quy ước và danh từ chỉ đơn vị tự nhiên trong tiếng Việt, từ đó

đưa ra kết luận loại từ là thực từ và là một danh từ tuy có phần trống nghĩa “Tuy

rằng chỉ những khái niệm có nội hàm nghèo nàn và có ngoại diện rộng nhưng chúng vẫn còn là những từ chỉ khái niệm sự vật” (Tr.211) Chưa kể trong tiếng

Việt, ngoài các từ chuyên dùng để chỉ đơn vị còn có các từ khác có thể lâm thời

dùng làm từ chỉ đơn vị Phần lớn các từ lâm thời này có nguồn gốc danh từ (như lá,

cây, cốc, thúng…), một số ít có nguồn gốc động từ (như xâu trong một xâu cá, gánh trong một gánh lúa…) Từ chỉ đơn vị có thể chia thành hai tiểu loại: tiểu loại một là

các nhóm từ chỉ đơn vị tự nhiên, có tính cá thể (như người, tên, đứa, thằng, anh,

Trang 18

chị…) và các nhóm từ chỉ thực vật, đồ đạc, khái niệm trừu tượng (như con, cây, quả, cái, chiếc, bức, tấm, …) Tiểu loại này còn có danh xưng loại từ vì ngoài chức năng chỉ đơn vị tự nhiên các từ này còn có chức năng mô tả, phân định sự vật thành từng loại dựa vào các đặc trưng của sự vật Tiểu loại thứ hai gồm các nhóm từ chỉ đơn vị quy ước.Tiểu loại này gồm những từ chỉ đơn vị chính xác (như cân, tạ, thước, mẫu…), những từ chỉ đơn vị không chính xác (miếng, cục, đoạn, bầy, dãy, loại…)

Sự phối hợp giữa danh từ đơn vị và danh từ thường được dựa trên một số nguyên tắc: danh từ chỉ chất liệu chỉ đi được với từ chỉ đơn vị quy ước (một miếng thịt, một cốc nước…), danh từ chỉ người, động vật, đồ đạc có thể đi với cả hai loại

từ chỉ đơn vị (có thể đi với loại từ như tổ hợp một cậu học sinh, một con mèo, một

cây tre, một cuốc sách…hoặc đi với từ chỉ đơn vị quy ước như một đoàn học sinh,

một bầy mèo, một tạ sách…) Việc phối hợp loại từ và các nhóm danh từ không chỉ

người có sự tương ứng chặt chẽ hơn Loại từ con thường phối hợp với danh từ chỉ động vật trong khi cây , quả thường đi trước danh từ chỉ thực vật, cuốn chỉ dùng để phối hợp với các danh từ chỉ thư tịch, ngôi dùng cho các danh từ chỉ về nhà cửa…

Do chỉ có khoảng 40 loại từ và sự phối hợp giữa loại từ và danh từ có sự tương ứng tương đối chặt chẽ nên có thể lập ra một danh sách liệt kê các nhóm danh từ và

sự tương ứng của từng nhóm vói một loại từ thích hợp Chẳng hạn có nhóm danh từ

tương ứng với loại từ cái, nhóm tương ứng với loại từ con, cây, hoặc bức, quyển

v.v…Tuy nhiên ranh giới giữa các nhóm có những vấn đề cần chú ý:

Có những trường hợp phạm vi của hai nhóm hoàn toàn tách rời nhau Chẳng

hạn nhóm danh từ phối hợp với lá sẽ không bao giờ phối hợp với ngôi

Có những trường phạm vi của hai nhóm không hoàn toàn tách rời nhau, một

số danh từ trong nhóm này có thể phối hợp với loại từ được xem là tương ứng với

nhóm khác Ví dụ loại từ bức vốn được dùng để phối hợp với các danh từ tường,

trướng, vách, ảnh, màn, địa đồ, các danh từ này cũng có thể dùng để phối hợp vối

loại từ tấm

Trang 19

Có những phạm vi của nhóm này hoàn toàn lồng vào phạm vi của nhóm khác

Ví dụ các danh từ đi với lọai từ cây như cột, bút, sào, đàn, súng, chổi, gậy hoàn toàn

có thể phối hợp với loại từ cái

Kết quả là một danh từ có thể thuộc về nhiều nhóm khác nhau, có thể phối hợp với nhiều loại từ khác nhau Quyết định chọn một loại từ để phối hợp cho các danh

từ thuộc loại này phụ thuộc ý nghĩa của danh từ thường đi sau :

Ví dụ: Một cây chuối, một quả chuối, một cây cam, một quả cam

Tóm lại, loại từ là thực từ tuy nhìn chung nghĩa của loại từ trống, thậm chí rất trống so với danh từ thường Cũng vì vậy, nghĩa của loại từ phụ thuộc vào nghĩa của danh từ thường vốn nắm giữa vai trò trung tâm về ngữ nghĩa trong danh ngữ

1 1.3 Đặc trưng ngữ dụng của loại từ

Trong phần lớn trường hợp, việc lựa chọn loại từ phụ thuộc vào ngữ nghĩa của danh từ mà loại từ có nhiệm vụ bổ nghĩa nhưng đôi khi sự lựa chọn lại do ngữ cảnh quyết định Chẳng hạn như việc lựa chọn loại từ để phối hợp với danh từ chỉ người

lệ thuộc vào tuổi tác của đối tượng, giới tính của đối tượng, mối quan hệ vị thế giữa người nói và người được nói đến, thái độ đánh giá khinh trọng về đối tượng do danh

từ biểu hiện

VD: Một ông thợ (trung hòa)

Một bác thợ (tôn trọng)

Một thằng thợ (khinh thị)

Sự lựa chọn loại từ có khi còn tùy thuộc ở cái nhìn chủ quan của người nói

Chẳng hạn với các cách dùng loại từ khác nhau như một con thuyền, một lá thuyền,

một chiếc thuyền loại từ không tác động nhiều đến nghĩa mà có giá trị bộc lộ cái

nhìn chủ quan của con người đối với sự vật do danh từ biểu thị

Việc dùng hay lược bỏ danh từ thường trong danh ngữ tùy thuộc vào bối cảnh Khi muốn nhấn mạnh vào tính đơn vị và văn cảnh cho phép thì có thể lược bỏ danh

từ thường Lúc này, sự vật tồn tại như một chỉnh thể có hình thức phân lập, có thể đếm được

Trang 20

Như vậy, dựa vào đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa mà việc sử dụng loại từ còn tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh của người sử dụng ngôn ngữ

1 1.4 Định tố cái

Loại từ cái biểu thị ý nghĩa cá thể, định tố cái là từ dùng để chỉ xuất sự vật

Trong lúc chỉ xuất, có khi biểu lộ thái độ khinh thị, nhiếc móc

Về vị trí, loại từ cái dùng làm trung tâm danh ngữ và có thể được thay bởi một

loại từ khác Ví dụ: một cái/chiếc/dãy bàn Định tố cái thì thường đứng trước vị trí trung tâm và không thể thay bằng một từ khác Ví dụ: cái chiếc/ dãy bàn này

Về khả năng kết hợp, loại từ cái chỉ có thể đứng trước danh từ chỉ đồ đạc trong

khi định tố cái có thể đặt trước bất kì danh từ nào

Tóm lại, theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn (1989) loại từ thuộc từ loại danh

từ, là một bộ phận của danh từ chỉ đơn vị giữ vị trí trung tâm ngữ pháp trong ngữ danh Ngoài chức năng định đơn vị cho danh từ loại từ có ý nghĩa phân định sự vật Với bản chất danh từ, loại từ có thể đứng trước động từ và tính từ để tạo thành một

tổ hợp có thể dùng để chỉ sự vật và để thay thế danh từ

L ượng từ là từ chỉ số lượng đơn vị người, sự vật hay động tác Lượng từ đi kèm với danh từ hoặc số từ để chỉ các vật thể có thể đo lường, đếm hoặc tính toán mức độ Lượng từ còn được dùng để phân loại sự vật do danh từ biểu thị dựa vào hình dáng và công dụng của sự vật đó

Có rất nhiều các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán tạo được những ảnh hưởng quan trọng Cụ thể là trong nước có 28 công trình và ở nước ngoài có 01 công trình nghiên cứu về việc phân loại các tiểu loại trong tiếng Hán hiện đại Có thể kể đến các cách phân loại lượng từ như sau: (1) Vật lượng từ và động lượng từ (2) Lượng từ cân đo và lượng từ không liên quan đến cân đo, (3) Lượng từ đơn thuần và lượng từ phức hợp, (4) Lượng từ cân đo và thể hình đơn vị lượng từ, (5) Lượng từ cân đo, lượng từ bộ phận, phạm từ, (6) Vật lượng từ, động lượng từ, hình lượng từ, (7) Vật lượng từ, động lượng từ, phức hợp lượng từ, (8) Vật lượng từ, động lượng từ, phức hợp lượng từ, phức âm lượng từ, (9) Trực tiếp phân thành một

Trang 21

số loại (7 loại, 8 loại, 9 loại)

Sự khác nhau trong cách phân loại lượng từ là do các nhà nghiên cứu có

những bất đồng trong tiêu chí phân loại Luận văn này dựa vào văn bản Nghiên cứu

lượng từ tiếng Hán hiện đại của tác giả Hà Kiệt Trứ để phân loại lượng từ như sau:

1.2.1 Định nghĩa và phân loại

1.2.1.1 Danh lượng từ

Danh lượng từ đứng sau số từ để biểu thị số lượng người hay sự vật Danh lượng từ có thể phân thành: lượng từ cá thể, lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận, lượng từ chuyên dùng, lượng từ mượn dùng và lượng từ lâm thời

- Lượng từ cá thể (loại biệt từ)

Là nhóm lượng từ tiêu biểu nhất của danh lượng từ và nói chung là của lượng

từ tiếng Hán, dùng để chỉ các sự vật cá thể Do vậy, danh từ đi kèm với lượng từ cá thể phải là danh từ cụ thể có thể đếm được Chẳng hạn như lượng từ cá thể 只 chỉ có

thể kết hợp với các danh từ cụ thể có thể đếm được như: 教 师, 医生, 学 者…mà

không thể kết hợp với các danh từ trừu tượng như: 思 想, 主 义…hoặc các danh từ không đếm được như: 沙 子, 牛 奶…Sự kết hợp giữa danh từ và lượng từ cá thể có quy tắc khá ổn định Từ 条 thường dùng để chỉ đơn vị cá thể các vật thể có hình dàng dài Lượng từ 张 dùng cho những vật thể có thể mở ra, 张, 粒 dùng với những

vật thể nhỏ và tròn Trong danh lượng từ cá thể, 个là lượng từ có phạm vi sử dụng

rộng rãi nhất, có thể phối hợp với rất nhiều danh từ Giữa lượng từ cá thể và danh từ

cá thể không dùng 的, nhưng giữa một lượng từ cá thể trùng điệp dạng ABB hoặc

dạng AABB và từ trung tâm thì có thể dùng 的

VD: * 一匹的张

一匹匹的张

一匹一匹的张

Thông thường, một danh chỉ có thể kết hợp được với một lượng từ cá thể Tuy

vậy, cũng có khi một danh từ có thể kết hợp với các lượng từ khác nhau và trong

Trang 22

một số trường hợp sẽ tạo nét riêng về sắc thái địa phương hoặc về phong cách ngôn

ngữ

Lượng từ cá thể là tiểu loại tiêu biểu nhất trong lượng từ tiếng Hán với các nét riêng về ngữ nghĩa, ngữ pháp, giá trị tu từ…Tính hình tượng và tác dụng tu từ của lượng từ cá thể là nét độc đáo của tiếng Hán mà ngôn ngữ Ấn Âu không sao có được Điều này đã khiến lượng từ cá thể trở thành bộ phận ngôn ngữ có vẻ đẹp tinh

tế, sống động nhất trong lượng từ tiếng Hán

- Lượng từ chỉ tập hợp

Dùng để chỉ các sự vật có số lượng từ hai đơn vị trở lên và được phân thành hai tiểu loại: (a) định lượng từ và (b) bất định lượng từ

(a) Định lượng từ

Dùng để biểu thị một số lượng cố định như: đôi, cặp, bộ, tá, tuần (, , ,

星 旗…) Một định lượng từ đã mang trong nó một số lượng nhất định, cho dù có đi

với đại từ nào, với số từ là bao nhiêu thì số lượng đó vẫn không đổi

VD: 双, 张 biểu thị người hoặc vật gồm có hai đơn vị như Đôi vợ chồng này

(张 张夫妻), C ặp gối kia ( 那 双冘张)

(b) Bất định lượng từ

Biểu thị một số lượng không xác định như: bọn, bầy, đội, đám, xấp, bộ (,

, , , , ) Số lượng người trong cách diễn đạt này có thể là mười mấy nhưng cũng có thể là mấy trăm, mấy ngàn hoặc hơn nữa Khi từ trung tâm là một danh từ trừu tượng thì lượng từ chỉ có thể kết hợp với số từ một () Lượng từ bất định ngoài chức năng biểu thị số lượng, đếm số lượng còn có chức năng tạo hình tượng biểu lộ cảm xúc Trong nhóm lượng từ bất định thì hai từ 些、点儿 có tần

suất sử dụng cao nhất Trước các lượng từ bất định có thể dùng các đại từ chỉ thị như 张, , 张 张, 那张

- Lượng từ bộ phận

Lượng từ bộ phận biểu thị lượng của một bộ phận trong mối quan hệ đối lập

với chỉnh thể của nó

Trang 23

VD: Đoạn văn (段 文章) có chỉnh thể là bài văn (篇文章)

Tép tỏi (瓣蒜) có ch ỉnh thể là củ tỏi (张蒜)

Lượng từ bộ phận bán () là m ột hiện tượng đặc biệt vì bán () vừa có

thể giữ vai trò của lượng từ vừa có thể giữ vai trò của số từ Khi là lượng từ,

半 chỉ có thể kết hợp với số từ một () Ngoài bán () ra, lượng từ bộ phận

có thể kết hợp tự do với số từ

- Lượng từ chuyên chức

Lượng từ chuyên chức là lượng từ chỉ có độc một chức năng là biểu thi lượng,

đếm lượng cho một số danh từ nào đó Ví dụ từ đao () là lượng từ chuyên chức

của danh từ giấy () T ừ giấy () có th ể đi với lượng từ trang () nhưng 张

không chỉ làm chức năng tính toán lượng mà còn biểu thi ý nghĩa về hình dạng của

sự vật nên đây không phải là lượng từ chuyên chức Phạm vi sử dụng của lượng từ chuyên chức rất hẹp Sự kết hợp giữa lượng từ chuyên chức và danh từ có tính cố

định Chẳng hạn như danh từ ngựa () ch ỉ có thể dùng lượng từ thất () Danh t

cá thể nào cũng có lượng từ chuyên chức của mình Chẳng hạn như danh từ 张 đi

với 册, 张张đi với 部…

- Lượng từ mượn dùng

Một số danh từ có thể tạm thời đóng vai trò lượng từ được gọi là lượng từ mượn dùng như trong các trường hợp: 两 张酒、一 桌子饭 菜… Một số lượng từ

mượn dùng có khả năng 儿 hóa hoặc kết hợp được với một (),trong trường hợp

này, phía sau có “”,th ể hiện ý “đầy cả” như 一桌子(的)菜 (Thức ăn đầy

khắp bàn)

Danh lượng từ mượn dùng có thể phân thành hai loại nhỏ:

- Danh lượng từ vật đựng như: 杯, , ,

- Danh lượng từ vận chuyển như: 车, , 轿

Danh lượng từ mượn dùng có các đặc điểm ngữ pháp như sau: có thể kết hợp

tự do với số từ, có thể có hình thức trùng điệp, sau lượng từ mượn dùng có thể dùng

Trang 24

đích () Do danh lượng từ tạm mượn thực chất là các danh từ dùng để dựng vật

chứa hoặc để chuyên chở nên còn được gọi là dung tải lượng từ

- Lượng từ lâm thời

Danh từ được dùng như lượng từ và có vị trí sau số từ sẽ tạo ra lượng từ lâm

thời Lượng từ lâm thời có các đặc trưng sau:

Có tính tạm thời rất rõ, chẳng hạn lượng từ thất () không cần đứng sau số từ

vẫn có thể thực hiện chức năng của lượng từ trong khi 张 phải đi sau số từ thì mới

có thể trở thành lượng từ (一 张汗)

Đại bộ phận danh từ lâm thời không thể có hình thức trùng điệp

Danh lượng từ lâm thời chỉ có thể đứng sau số từ một (一)

- Lượng từ đo lường

Đây là những từ dùng để tính toán, đo lường các sự vật và được pháp luật công nhận Các lượng từ này có tính khoa học, kĩ thuật vì vậy đòi hỏi phải có tính chuẩn xác Lượng từ đo lường có thể được phân thành các tiểu loại sau:

- Tạo ra từ môi trường mua bán như: phân (分), tấc (寸), trượng (丈), đôi (两), cân (斤), tiền (张), tạ (石), con (张), thưng (升), mẫu (张), dặm,(里), khoảnh (张)…

- Tạo ra từ môi trường từ nhà nước như: 米, 公米, 公里, 公斤, 公升, 公 张…

Trang 25

- Tạo ra bằng cách du nhập từ ngoại lai: 盎 司, 使 士, 英 张, 分 张…

- Tạo ra từ thời cổ đại: thặng (乘), tôn (樽), tầm (张), tuần (巡)…

Động lượng từ chuyên dụng chủ yếu có các từ: :次, 下, 回, 张, 张, 张, 趟, 遍,

番等

Động từ chuyên dụng không chỉ biểu thị số lượng của động tác mà còn tính

toán lượng thời gian diễn ra động tác Chẳng hạn như từ lần trong xem ba lần

(看三次), t ừ ngày trong xem ba ngày (看三天) Các động lượng từ chuyên dùng mang các ý nghĩa khác nhau và khả năng kết hợp với động từ của chúng cũng không như nhau Chẳng hạn như từ 次 và 下(儿) có thể kết hợp với

rất nhiều động từ trong khi 趟 chỉ có thể đi với ba động từ 去, ,

- Động lượng từ mượn dùng

Đây vốn là các danh từ chỉ các bộ phận cơ thể hoặc các công cụ mà nhờ đó

một động tác được thực hiện nên còn được gọi là động lượng từ công cụ

Trang 26

(1) Danh lượng từ và động lượng từ kết hợp với nhau theo hình thức AB, trong đó A là danh lượng từ và B là động lượng từ Trong ý nghĩa chỉ lượng của tổ

hợp này vừa có ý nghĩa của A vừa có ý nghĩa của B Ví dụ 人 次 có nghĩa là đếm

số lượt người

- Loại tuyển chọn

Về hình thức kết cấu, đây là sự kết hợp danh lượng với danh lượng, ý nghĩa

chỉ lượng của tổ hợp này này có thể là A mà cũng có thể là B Tần số xuất hiện của

loại này trong thực tế rất thấp Đặc điểm ngữ pháp của lượng từ phức hợp có thể tóm tắt như sau:

- Lượng từ đơn thuần có hình thức trùng điệp nhưng lượng từ phức hợp không

có hình thức trùng điệp

- Khi lượng từ đơn thuần kết hợp với số từ để tạo ra kết cấu số - lượng từ thì

kết cấu này có thể mang hình thức trùng điệp nhưng nếu lượng từ trong kết cấu là lượng từ phức hợp thì điều này không thể xảy ra

- Lượng từ đơn thuần có thể đi sau đại từ chỉ thị để tạo thành kết cấu đại - lượng, nhưng lượng từ phức hợp thì không

1.2.2 Chức năng ngữ pháp của lượng từ

Số từ, lượng từ ít khi làm thành phần chính trong câu mà chúng thường xuất hiện đồng thời với nhau, tạo nên một kết cấu gọi là số - lượng từ Lượng từ hay số - lượng từ đều có thể kết hợp với đại từ chỉ thị “张、那” hoặc với nghi vấn đại từ

“哪” để tạo ra tổ hợp chỉ - số - lượng Chức năng ngữ pháp của tổ hợp chỉ - số -

lượng tương tự như chức năng ngữ pháp của tổ hợp số - lượng từ

1.2.2.1 Đoản ngữ số - danh lượng từ

- Chức năng chủ yếu của đoản ngữ loại này là làm định ngữ, bổ nghĩa cho danh từ

1.2.2.2 Đoản ngữ số - động lượng từ

- Làm bổ ngữ động lượng tính số lượng động tác:

- Làm trạng ngữ chỉ cách thức diễn ra động tác

Trang 27

Ví dụ: 一把把我拉住 (Tôi kéo không ng ừng)

- Làm định ngữ khi đặt được đặt trong kiểu câu một…cũng/ đều +

không/chưa…

Ví dụ: 我一次张张也没看张.(Tôi thì m ột lần kịch cũng chưa xem qua)

1.2.2.3 Ch ức năng ngữ pháp của hình thức trùng điệp

Một số lượng từ được lặp lại trong khi sử dụng, kiểu như 个 个 /件件 /张张

(lượng từ là danh lượng từ), hay 次次/趟趟/回回(lượng từ là động lượng từ) được

gọi là lượng từ trùng điệp Lượng từ đo lường không có hình thức trùng điệp

- Danh lượng từ trùng điệp

Danh lượng từ trùng điệp có thể làm chủ ngữ với ý nghĩa tất cả, toàn bộ không

lo ại trừ một trường hợp nào Danh lượng từ trùng điệp cũng có thể làm định ngữ

nhưng chỉ có thể làm định ngữ cho chủ ngữ mà không thể làm định ngữ cho tân

ngữ

- Động lượng từ trùng điệp

Động lượng từ trùng điệp cũng có thể biểu thị ý không loại trừ một trường hợp

nào như danh lượng từ và có thể làm chủ ngữ

Khi các lượng từ trùng điệp như “重、张” biểu thị ý

“一张(重)又一张(重)” thì chúng vừa có thể làm làm định ngữ, vừa có thể làm trạng ngữ mà cũng có thể bổ sung ý nghĩa cho chủ ngữ và tân ngữ

Ví dụ: 两个两个地走张教室 (T ừng đôi một tiếp nối nhau tiến vào phòng học)

Nếu không làm trạng ngữ thì số từ có thể tỉnh lược và trong trường hợp này không cần đến từ 的 nữa

VD: 一件件往事 (M ọi việc trước đây)

Trang 28

Từ 一的 có thể lược bỏ nhưng với hình thức này tính hình tượng và biểu

cảm đi rất nhiều

1.2.3 M ột số hiện tượng liên quan đến ngữ nghĩa của lượng từ

1.2.3.1 Hiện tượng đồng âm

Từ đồng âm là từ có hình thức ngữ âm giống với từ khác nhưng hình thức văn tự và ngữ nghĩa của chúng khác nhau Để tạo sự khác biệt về nghĩa trong nhóm

từ đồng âm, người ta dựa vào các đặc trưng của sự vật tồn tại trong thế giới khách quan để lựa chọn các hình thức về văn tự nhằm phản ánh các đặc trưng đó

VD: 支, 只 là ba từ giống nhau ở vỏ ngữ âm (zhi) nhưng chúng có những

nét nghĩa khác nhau Từ 支 dùng để tính lượng những món đồ có hình dáng nhỏ và

dài như súng (枪), những sự vật có thể tạo ra một hình ảnh kéo dài như đội ngũ (

), nh ững vật trừu tượng như nhạc khúc (乐 曲) Từ 枝 có nét nghĩa đầu giống như từ 支, nhưng ở nét nghĩa (2), sự vật có thể tạo hình ảnh dài phải là những sản

phẩm của tự nhiên như hoa (花) và 枝 không thể chỉ lượng cho những vật trừu

tượng, không thể nói (一 枝 乐 曲) Lượng từ 只 dùng để tính lượng động vật như

chim, chó, trâu, bò… (, , …), dùng để tính lượng cho bộ phận cơ thể người

hoặc cho các đồ vật nhưng các vật này phải tồn tại ở dạng đôi như tay, giày …(,

…), tính lượng cho những thành phẩm có hình dáng dài và nhỏ như thuyền Qua

phân tích, ta thấy ba lượng từ đồng âm 支, 只 vừa có những nét nghĩa giống nhau vừa có những nét nghĩa khác biệt

Trang 29

1.2.3.2 Hi ện tượng đối nghĩa

Lượng từ 个 các từ 群,, , 拔…đều có thể chỉ lượng nhưng từ trước là lượng từ cá thể còn nhóm từ sau là lượng từ tập thể Từ 个 và các từ 群, , ,

là các từ đối nghĩa Đối nghĩa không phải là phản nghĩa Hai từ gọi là phản nghĩa

nếu phủ định từ này tức là khẳng định từ kia và ngược lại như các cặp từ sống -

ch ết, động - tĩnh Mối quan hệ giữa các từ đối nghĩa không diễn ra như thế Khẳng

định 一 片 tức là phủ định 一点 nhưng phủ định 一 片 không có nghĩa là khẳng định 一点 vì 片còn có các từ đối nghĩa khác như 星,

1.2.3.3 Hi ện tượng nghĩa dựa vào loại của lượng từ

Khi phân định từ loại, một số từ sẽ thuộc về một nhóm, mối quan hệ nghĩa

giữa các từ trong nhóm vừa có tính bổ sung vừa có tính khu biệt Loại nghĩa mang

nghĩa khái quát giống nhau trên phương diện loại nhưng vẫn có nét nghĩa dị biệt nhau gọi là hiện tượng nghĩa dựa vào loại của từ Ví dụ hai từ 群 và 批 đều nằm trong nhóm lượng từ tập hợp, đều thuộc về tiểu loại danh lượng từ trong hệ thống phân loại lượng từ Nhưng ngữ nghĩa của hai từ này vẫn có sự khác biệt: 群 tính

lượng cho các động vật có sự sống trong khi 批 dùng tính lượng cho một số vật

phẩm và tính lượng người Có thể nói 一 群牛nhưng không thể nói 一 批 牛.Việc

kết hợp hai lượng từ này với danh từ chỉ có thể diễn ra nếu danh từ thỏa mãn được yêu cầu và chính các yêu cầu này tạo nghĩa cho lượng từ

1.2.3.4 Hi ện tượng đa nghĩa

Hiện tượng lượng từ mang từ hai nét nghĩa trở lên hay còn gọi là đa nghĩa Ví

dụ lượng từ 口 có các nét nghĩa sau: (1) tính lượng người (2) tính lượng heo (3) tính lượng các vật dụng dùng để chứa (4) tính lượng những vật có thể bỏ vào miệng

để ăn hoặc để ngậm (5) tính lượng răng

Trang 30

- Dị biệt về nghĩa tình thái

, , , , , 拔 đều là lượng từ tập thể nhưng mỗi từ thể hiện thái độ đánh giá khác nhau đối với đối tượng mà nó tính lượng 批, 群 hai lượng từ này trung hòa trong sắc thái biểu cảm 帮, 伙 thể hiện thái độ xem thường, 拔 mang sắc thái khẩu ngữ

- Dị biệt trong cách chọn điểm nhấn khi phản ánh thế giới khách quan

Các từ có thể cùng phản ánh một sự vật trong thế giới khách quan nhưng cách

lựa chọn những thuộc tính của sự vật để nhấn mạnh, cho lấn át các thuộc tính khác

có thể tạo nét nghĩa đặc trưng cho một từ Chẳng hạn từ 眼, 口 đều dùng để tính

lượng cho sự vật giếng nhưng nhấn mạnh đến độ sâu trong khi 口 chú trọng miêu tả hình dáng tương tự như miệng người của cái giếng nếu nhìn từ trên

xuống

- Dị biệt về phạm trù tính lượng

Ngữ nghĩa của lượng từ tùy thuộc ở cách lượng từ chọn động từ hoặc danh từ

để phối hợp, 捏 và 撮 đều là những lượng từ lâm thời nhưng phạm vi hoạt động của chúng không hoàn toàn trùng khớp nhau, 撮 có thể kết hợp với danh từ chỉ người và

âm tính về sắc thái biểu cảm trong khi 捏 không thể kết hợp với danh từ chỉ người

1.2.3.6 Ý nghĩa sắc thái của lượng từ

Trang 31

Lượng từ không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn bộc lộ cách con người đánh giá thế giới đó Cách đánh giá thế giới mang tính chủ quan sẽ bổ sung nghĩa cho lượng từ, gọi là nghĩa bổ sung hay nghĩa sắc thái Nghĩa sắc thái được phân thành: hình tượng sắc thái, cách điệu sắc thái và tình thái sắc thái

- Hình tượng sắc thái: lượng từ trong trường hợp này vừa mang đường nét cụ

thể vừa mang ý tưởng so sánh với sự vật mà nó biểu thị khiến người đọc cảm nhận được một hình ảnh cụ thể

Ví dụ: 一 叶小 舟 (m ột lá thuyền)

- Cách điệu sắc thái: lượng từ loại này mang tính sáng tạo cá nhân, xuất phát

từ mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp mà chọn từ để biểu lộ tình ý gửi gấm vào lượng từ và tạo phong cách ngôn ngữ

Ví dụ: 一 片云 (M ột làn mây)

- Tình thái sắc thái: lượng từ mang sắc thái tình thái chi thấy thái độ yêu, ghét

hoặc khen, chê của con người đối vời sự vật mà nó có nhiệm vụ tính lượng

Ví dụ 位: thái độ tôn kính, 介: miệt thị, 掬: trân trọng, 个: xem thường

1.2.3.7 M ối quan hệ giữa lượng từ trùng điệp và nghĩa tình thái

(a) Hình thức trùng điệp dẫn đến sự thay đổi ý nghĩa ngữ pháp và tạo nghĩa

sắc thái

- Kết cấu trùng điệp khi làm chủ ngữ sẽ tác động đến nghĩa tình thái

- Khi lượng từ trùng điệp tả một tình trạng bên ngòai của sự vật như 排 排,

粒đóng vai trò chủ ngữ sẽ tạo vẻ cách điệu có tính văn học

- Lượng từ trùng điệp khi làm vị ngữ mang đậm tính cách điệu, sáng tạo văn

học (ngay cả ở các từ vốn không mang sắc thái cảm như 张, 张) Điều này chứng tỏ

sự biến đổi hình thức ngữ pháp của lượng từ sẽ tác động đến nghĩa và tạo giá trị tu

từ cho lượng từ

- Lượng từ trùng điệp làm định ngữ dẫn đến sự thay đổi ngữ nghĩa Lượng từ trong trường hợp này mang tính so sánh, tính miêu tả tạo hình ảnh cụ thể (như 张天

Trang 32

张张张张 白云) Nhờ đó lượng từ có nghĩa hình tượng, nghĩa cách điệu mang màu

sắc văn học

- Động lượng từ tính lượng thời gian (张 là từ duy nhất có thể mang hình thức trùng điệp) khi làm định ngữ sẽ bổ sung nghĩa cách điệu, mang tính sáng tạo văn

học

- Lượng từ trùng điệp làm trạng ngữ tạo tác động đối với nghĩa tình thái

- Lượng từ trùng điệp đưa ra các đặc trưng về trạng thái bên ngoài của sự vật như 张张, 重 重…khi làm trạng ngữ sẽ tạo nghĩa cách điệu, mang tính sáng tạo văn

học

Có thể thấy hình thức trùng điệp của lượng từ dẫn đến sự thay đổi nghĩa sắc thái, đặc biệt là ở các lượng từ đưa ra những đặc trưng về trạng thái bên ngoài sự vật Các lượng từ này bộc lộ tình cảm chủ quan của con người, mang giá trị tu từ và

vì thế lượng từ trùng điệp thường được vận dụng trong sáng tác văn học

(b) Hình thức trùng điệp dẫn đến sự thay đổi ý nghĩa ngữ pháp nhưng không

tạo nghĩa sắc thái

Lượng từ trùng điệp khi làm tân ngữ sẽ dẫn đến sự thay đổi ý nghĩa ngữ pháp, có nghĩa nhiều nhưng không tạo nghĩa sắc thái

- Lượng từ tập hợp có hình thức trùng điệp như 张张, 家家, 张 张… làm chủ

ngữ chỉ dẫn đến sự thay đổi về ý nghĩa ngữ pháp, không tạo ra ý nghĩa sắc thái biểu

cảm

- Lượng từ trùng điệp đưa ra những đặc trưng về hình thể khi làm định ngữ chỉ

tạo ra sự thay đổi ý nghĩa ngữ pháp, có nghĩa mỗi, không tạo ra nghĩa biểu cảm

- Lượng từ vốn chỉ những sự vật cá thể, sau khi trở thành lượng từ trùng điệp

sẽ thay đổi ý nghĩa ngữ pháp, có nghĩa mỗi một, không tạo sắc thái biểu cảm

- Khi lượng từ trùng điệp chỉ thời gian như 年年 年, 月 月…làm chủ ngữ chỉ

dẫn đến sự thay đổi về ý nghĩa ngữ pháp, có nghĩa mỗi, không tạo ra ý nghĩa sắc

Trang 33

dung từ

Trang 34

C hương 2: LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT VÀ LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN

HIỆN ĐẠI TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

2.1.1 Khảo sát loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt

2.1.1.1 Hồ Biểu Chánh

Đóa hoa rừng

Con (2), cái (32), miếng (2), cơn (1), bụi (3), chiếc (2), khúc (4), tiếng (20), ổ (1)

Trong 67 lượt xuất hiện có 62 lần loại từ có danh từ kèm theo, 03 trường hợp

trống danh từ do ngữ cảnh cho phép:

(1) - Hồi khuya nầy chúng nó đi đâu?

- Cái đó thiệt tôi không biết

(2) - Ông bị giựt bạc tại khúc nào?

- Tại chỗ có cây trắc lớn, người ta kêu là Trắc Sùm đó

(3)- Hôm nay cậu đổi mà dùng tiếng “qua” và tiếng “em”, hai tiếng ấy…

Hai trường hợp do chỉ cần nhấn tính đơn vị:

Tôi mới núp mà chuyền bụi nầy qua bụi kia, tính đi vòng ra phía sau rồi lén

lại gần mà quật hết hai đứa

Trong tác phẩm có 09 trường hợp đi sau số từ Ba trường hợp dùng từ chỉ xuất

cái cái ổ ái tình, cái thớt vườn (2)

Hai Thà cưới vợ

Con (4), cái (37), cọng (1), bụi (2), ngọn (2), vũng (1), khúc (5), tiếng (9), ổ (1)

Trong 62 lượt xuất hiện có 05 loại từ không có danh từ đi sau do ngữ cảnh

chi phối:

(1) …rồi chia giỏ mỗi người xách một cái mà xuống ruộng

(2)…đánh hoặc rầy Chỉ với Ðồ, cha chả cái đó mình không thể chịu nổi (2)

(3)…nhái trong ruộng vẫn kêu chét- chét không dứt tiếng

(4)…hình- lình con chó vện cất tiếng mà sủa

(5) Nên nghe có tiếng mấy chị hàng gánh đi chợ, họ nói chuyện ngoài

đường,…

Trang 35

Có 14 trường hợp loại từ đi kèm số từ

Lòng dạ đàn bà

Con (2), cái (51), bức (1), ngọn (3), khúc (5), tiếng (1)

Trong 63 lượt xuất hiện, chỉ có 04 trường hợp loại từ cái không có danh từ

theo, 02 trường hợp do yếu tố ngữ cảnh:

(1) Tôi tưởng chị bắt ở đặng làm bé ảnh nữa chớ Tôi nói trước cho chị biết,

cái đó không được a

(2) Hàng rào dưới xây gạch, trên song sắt, chạy dọc theo đường bị cỏ mọc che

khuất nhiều khúc

Trường hợp còn lại do tác giả chỉ muốn nhấn mạnh tính đơn vị: khúc thì dụm

năm dụm ba hỏi nhau lúa trúng ước mấy giạ một công;

Trong tác phẩm có 17 trường hợp loại từ đi sau số từ và có sử dụng từ chỉ xuất

cái: cái dịp ấy, cái hạng người ấy, cái cảnh (3), cái sắc ưu-sầu, cái tánh (2)

Thầy Chung trúng số

Con (12), cái (37), tấm (6), ngọn (2), chiếc (2), tiếng (13), miếng (1), trận (1)

Trong 73 lần được sử dụng chỉ có 02 trường hợp loại từ không có danh từ đi sau do yếu tố ngữ cảnh:

Tửu, sắc, tài, khí là bốn cái hại người Thầy bỏ bớt được một cái cũng đỡ lắm

Trong truyện có 13 trường hợp loại từ đi sau số từ và sử dụng 01 từ chỉ xuất:

cái giọng

Thầy thông ngôn

Con (3), cái (54), tấm (3), miếng (6), hòn (1), cơn (1), sợi (2), bức (18), bụi (2), ngọn(1), chiếc (7), đoạn (2), giọt (5), khúc (4), tiếng (20)

Trong 129 trường hợp loại từ được sử dụng chỉ có 03 trường hợp loại từ cái

không có danh từ theo sau do yếu tố ngữ cảnh:

(1,2 ) Thầy nhơn dịp ấy đọc hết việc nhà lại cho cha mẹ nghe Hai ông bà cứ

chắc lưỡi lắc đầu, chớ không biết sao mà khuyên giải Thầy nói tới đoạn nào thầy

khóc theo đoạn ấy

(3 ) một bộ ván hai tấm dày gần hai tấc

Trang 36

Trong tác phẩm có 36 trường hợp loại từ đứng sau số từ và 07 từ chỉ xuất cái:

cái cảnh (3), cái thói, cái giống, cái giọng, cái vóc

Nhận xét chung qua 05 tác phẩm:

Trong 05 tác phẩm có 14 trường hợp loại từ tự mình làm trung tâm danh ngữ,

03 trường hợp loại từ tạo thành một ngữ đoạn trong đó loại từ giữ vai trò bổ ngữ:

c ất tiếng, dứt tiếng, nhiều khúc Một trường hợp loại từ giữ vai trò chủ ngữ: khúc thì dụm năm dụm ba hỏi nhau lúa trúng ước mấy giạ một công; chỗ thì Như vậy chỉ

có 18 trường hợp loại từ tự mình giữ vị trí trung tâm trong ngữ danh hoặc tự mình

giữ một chức năng ngữ pháp trong câu Có 89 trường hợp loại từ kết hợp với số từ Loại từ cái có tần số xuất hiện cao nhất trong số các loại từ được dùng để khảo sát Trong Thầy thông ngôn loại từ cái được sử dụng 54 lượt trên tổng số 125 lượt

loại từ được dùng trong tác phẩm (chiếm tỷ lệ 43.2%) Trong Đóa hoa rừng con số

đó là 32/67 (47.8%), Hai Thà cưới vợ là 37/62 (60.7%), Lòng dạ đàn bà là 51/63 (81%), Thầy Chung trúng số là 37/74 (50%) Trong cả 05 tác phâm, loại từ cái xuất

hiện 211 lượt trên tổng số 391 lượt các loại từ được sử dụng, chiếm tỷ lệ 53.9%

Tần số xuất hiện của loại từ con cũng rất cao, tổng cộng có 163 lượt sử dụng

qua 05 tác phẩm, nhưng chỉ có 23 trường hợp loại từ này phối hợp với danh từ chỉ

bất động vật và chỉ có 03 danh từ chỉ bất động vật được phối hợp với loại từ con trong cả 05 tác phẩm: con mắt (18), con dao (4), con dấu (1) Sự phối hợp giữa loại

từ con với các danh từ chỉ bất động vật tỏ ra khá ổn định, các danh từ này tạo thành một nhóm không đi sau các loại từ khác và kết cấu con dao, con mắt được dùng

trong cả 05 tác phẩm:

Bảng 2.1

Trang 37

Loại từ cái có khả năng phối hợp rất rộng với các danh từ, từ những danh từ chỉ sự vật cụ thể như cái chổi, cái bàn, cái ly, cái võng…cho đến các danh từ trừu tượng như cái vui, cái thú, cái may, cái lỗi, cái thái độ, cái lương tâm, cái cảm

giác …Các danh từ phối hợp với với cái tỏ ra ổn định, một số kết cấu như cái nhà,

cái xe, cái bàn, cái ghế, cái áo, cái giường khăn, cái tủ lặp lại nhiều lần trong các

tác phẩm khác nhau như:

Bảng 2.2

từ khác Chẳng hạn danh từ đèn đi với loại từ cái trong Thầy Chung trúng số đã

xuất hiện sau các loại từ khác, trong các tác phẩm khác nhau:

Con (3), cái (12), tấm (3), bức (1), chiếc (8), đoạn (2), khúc (1), tiếng (6)

Có 01 trường hợp trong 36 lượt loại từ được dùng không có danh từ đi sau do chỉ cần nhấn mạnh tính phân lập của sự vật:

Trang 38

- Đêm qua lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không?

Trong truyện có 02 trường hợp loại từ kết hợp với số từ, ngoài ra còn có 05

trường hợp dùng từ chỉ xuất cái: cái chồng gối, cái miền đất, cái tiếng bước chân,

cái vẻ, cái điều

(2)- Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí Một bức, thật đẹp!"

Trong tác phẩm có 46 trường hợp loại từ đi sau số từ và 10 trường hợp dùng từ

chỉ xuất: cái hôm, cái chuyện, cái vẻ, cái dáng, cái cách, cái nơi, cái món, cái việc,

cái chỗ, cái buổi, cái lúc

Chiếc thuyền ngoài xa

Con (11), cái (39), tấm (17), trận (2), miếng (2), bức (8), chiếc (75), cơn (1), viên (2), giọt (2), mớ (1), ngọn (4), tiếng (8)

Trong 172 lượt xuất hiện có 06 trường hợp loại từ không kết hợp với danh từ thường tạo thành một danh ngữ vắng T2, 04 trường hợp kết hợp với số từ đứng trước để nhấn mạnh tính đơn vị, 02 có sự hỗ trợ của văn cảnh:

(1) Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng

(2) không khéo lại làm được một cái gì

(3) vùng phá nước có một cái gì đấy

(4) Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, (5) Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm

(6) Phần nhiều đàn bà, trẻ con, họ ngồi trên những chiếc mủng lúc nào cũng

thả trôi lượn lờ mé ngoài Có khi tản mát mỗi nơi một chiếc

Trang 39

Trong tác phẩm có 50 trường hợp loại từ kết hợp với số từ, 14 trường hợp kết

hợp với lượng từ, và 03 lần dùng từ chỉ xuất cái: cái hôm vô tình, cái thời, cái buổi

(2)….Và Định như đang nhìn thấy một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy

những đá Viên bé chỉ là một hòn đá kỳ lưng, hòn to cũng ngang cái đầu

Tác phẩm có 44 trường hợp loại từ đi sau số từ, 24 trường hợp dùng từ chí

xuất: cái niềm, cái vụ, cái lần, cái vùng (2), cái sự (3), cái nơi (2), cái giống (2), cái

việc, cái lúc, cái dáng, cái vẻ, cái thời (3), cái tiếng (5)

Mảnh trăng cuối rừng

Con (8), cái (22), tấm (7), trận (1), bức (6), ngọn (6), chíếc (29), dòng (1), đoạn (8), khúc (1), ổ (2), tiếng (22)

Trong 113 trường hợp loại từ được sử dụng có 08 loại từ thiếu danh từ theo sau, 06 trường hợp có sự hỗ trợ của văn cảnh, hai trường hợp do chỉ cần xác định tính phân lập:

(1,2) Tôi dán mắt qua mặt kính, thận trọng lái hai bánh trước tránh hai vệt

bánh xe như hai cái rãnh thoát nước ở giữa đường Có đoạn, bánh trước sục xuống rãnh sâu quá, Nguyệt phải xuống "xi-nhan" cho tôi kéo lên Có đoạn không nhích

lên được

(3)…gà con cựa trong ổ

(4) …rồi phát mạnh vào vai tôi một cái đau điếng

Trang 40

(5) Tôi bật chiếc bóng đèn quả dưa cho sáng hơn và bảo Nguyệt : "Cô chú ý nghe hộ, từ đây đường thường có máy bay"; Nguyệt vẫn thản nhiên ngồi nhìn ra ngoài:

- "Anh cứ yên tâm, đoạn này, em quen lắm !"

(6) Cái tôi trông thấy đầu tiên là có vết máu bên vai Nguyệt,

(7,8)- Còn một cái nữa, cái này có nhưng mà không ghi trong phiếu

Trong Mảnh trăng cuối rừng có 05 trường hợp loại từ đứng sau số từ hai lượt

dùng từ chỉ xuất: cái sợi chỉ (2)

Nhận xét chung qua 05 tác phẩm:

Trong B ến quê có 01 trường hợp loại từ tự mình làm trung tâm danh ngữ, Bức

tranh có 02 loại từ tự mình tạo nên một danh ngữ và giữ vai trò trung tâm, Chiếc thuyền ngoài xa có 06 danh ngữ chỉ có trung tâm ngữ pháp, Khách ở quê ra có 02

trường hợp loại từ giữ vai trò chủ ngữ và 03 trường hợp làm bổ ngữ, Mảnh trăng

cuối rừng có 01 trường hợp loại từ kết hợp với giới từ, 02 trường hợp làm bổ ngữ,

05 trường hợp loại từ làm trung tâm danh ngữ vắng T2 Tổng cộng có 22 trường

hợp loại từ hoặc đơn độc làm trung tâm danh ngữ hoặc tự mình tạo thành một ngữ đoạn Các trường hợp còn lại loại từ cùng với danh từ thường tạo thành một danh

ngữ có 02 trung tâm Trong 05 tác phẩm, có tất cả 144 trường hợp loại từ đi sau số

từ

Loại từ cái có tần số xuất hiện cao nhất: 302 lượt trong tổng số 777 lượt các

loại từ xuất hiện, chiếm 38.9% số lượt sử dụng đại từ trong 05 tác phẩm (Bức tranh: 53.1%, Mảnh trăng cuối rừng: 19.5%, Chiếc thuyền ngoài xa: 22.7%, Khách ở quê ra: 48.1%, Bến quê: 33.3%)

Loại từ cái chỉ phối hợp với các danh từ chỉ bất động vật để tạo thành một danh ngữ hai trung tâm và các danh từ có thể phối hợp với cái tỏ ra khá ổn định

Chẳng hạn nhóm các danh từ chỉ bộ phận bên ngoài thân thể của con người hay chỉ

con người trong ý nghĩa chỉnh thể đều có thể phối hợp với cái:

Mảnh trăng cuối rừng: cái bóng (1)

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[2] Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 1998
[3] Cao Xuân Hạo (1982), Tiếng Việt : Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt : Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
[4] Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha (2008). Danh từ và tiểu loại danh từ , Ngữ pháp tiếng Việt – những vấn đề lí luận, Viện Ngôn ngữ học, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ và tiểu loại danh từ
Tác giả: Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2008
[5] Trần Trọng Kim, Văn phạm Việt Nam, NXB Tân Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn phạm Việt Nam
Nhà XB: NXB Tân Việt
[6] Nguyễn Hiến Lê – Trương Văn Chình (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam , NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê – Trương Văn Chình
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 1963
[7] Lê Văn Lí (1972), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm học liệu - Bộ giáo dục. Trần Thị Nhàn (2000, )Loại từ trong các ngôn ngữ ở Việt Nam , T1,NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam", Trung tâm học liệu - Bộ giáo dục. "Trần Thị Nhàn (2000, )Loại từ trong các ngôn ngữ ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Lí
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1972
[8] Trần Ngọc Ninh (1974), Cơ cấu Việt ngữ, NXB Lửa Thiêng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu Việt ngữ
Tác giả: Trần Ngọc Ninh
Nhà XB: NXB Lửa Thiêng
Năm: 1974
[9] Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB từ điển Bách Khoa
Năm: 2010
[10] Nguyễn Phú Phong, Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
[11] Nguyễn Kim Thản (1981), Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1981
[12] Lý Toàn Thắng. Ngôn ngữ học tri nhận. Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận. Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
Nhà XB: NXB Phương Đông
[13] Bùi Đúc Tịnh (1972), Văn phạm Việt Nam,Trung tâm học liệu - Bộ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn phạm Việt Nam
Tác giả: Bùi Đúc Tịnh
Năm: 1972
[17] www.book.kanunu.org/files/writer/2462.html Khác
[18] www.chinesewaytogo.org/waytogo/idea/measure/measure.html, truy c ập ngày 18/04/2012 Khác
[20] www.e - thuvien.com, truy c ập ngày 28/2/2012 Khác
[21] maxreading.com/sach-hay/truyen-ngan-nguyen-quang-sang 28/2/2012 Khác
[22] www.mediafire.com/?p6frkh2505q0hq1 , truy cập ngày 15/9/2012 Khác
[23] www.motsach.info/story.php?list=story&author=ho_bieu_chanh&page=2, truy c ập ngày 18/3/2012 Khác
[24] www.music.vietfun.com/trview.php?ID=1819&cat=13, truy c ập ngày 18/3/2012.• [25] www.my285.com/yq/qiongyao , truy cập ngày 18/3/2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w