Khảo sát “Nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ” để thấy rõ hơn dấu ấn đời sống tinh thần của người phụ nữ trong văn học với ý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Thái Xuân Thiện
NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000 QUA SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Thái Xuân Thiện
NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000 QUA SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN KHA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ văn và quí thầy cô giáo là giảng viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Kha, người thầy trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Nguyễn Du – tỉnh Ninh Thuận – nơi tôi đang công tác, quí đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn
Tp H ồ Chí Minh, ngày 28 tháng 03 năm 2012
Thái Xuân Thiện
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CH ƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮNVÀ DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 21
1.1 Quan niệm về truyện ngắn 21
1.2 Diện mạo của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000 27
1.3 Nhân vật nữ là kiểu nhân vật được quan tâm trong truyện ngắn của các nhà văn nữ 40
CH ƯƠNG 2 TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮNCỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 48
2.1 Quan niệm về tính nữ 48
2.2 Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến 2000 64
CH ƯƠNG 3 HAI KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 76
3.1 Kiểu nhân “tầng đời nền móng” 77
3.2 Kiểu nhân vật “phá cách” 94
CH ƯƠNG 4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 114
4.1 Điểm nhìn trần thuật 114
4.2 Ngôn ngữ đối thoại 120
4.3 Miêu tả ngoại hình - Ngôn ngữ thân thể 127
4.4 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 132
PHẦN KẾT LUẬN 139
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 1 152
PHỤ LỤC 2 154
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 đã có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, trong đó ghi nhận những nỗ lực và sự đóng góp của các nhà văn nữ Với một đội ngũ đông đảo, cùng với sự mạnh dạn tìm tòi đổi mới, truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến 2000 phát triển với tốc
độ khá nhanh về qui mô số lượng cũng như chất lượng, sự đa dạng về phong cách,
từ đó tạo nên bức tranh giàu màu sắc và đường nét cho truyện ngắn Việt Nam hôm nay Có thể khẳng định, chính các nhà văn nữ đã góp phần thay đổi diện mạo và làm phong phú văn học nước nhà
Nhân vật nữ là hình tượng văn học nhận được sự quan tâm của người nghệ sĩ
từ cổ chí kim Ở mỗi thời kì, người phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá dưới những góc độ khác nhau Điều này phụ thuộc vào quan niệm thẩm mỹ của mỗi thời đại Mặt khác, đó còn là cách nhìn, cách đánh giá của nhà văn, mà trước hết ở người phụ
nữ bộc lộ, phát huy, ý thức được bản thân mình trong cuộc sống, xã hội, thời đại Viết về người phụ nữ chính là đi vào vương quốc của cái đẹp, của sự dịu dàng, đằm thắm Chính vì vậy các nhà văn trở nên giàu cảm xúc hơn, các trang viết trở nên lung linh hơn
Sau 1975, cùng với sự mở rộng đề tài trong văn học, phụ nữ trở thành đề tài thu hút sự chú ý của người nghệ sĩ Nguyên tắc dân chủ cho phép những phần thầm kín, riêng tư, góc khuất của lòng người được giãi bày nhiều hơn trong văn chương Khi viết về người phụ nữ, các nhà văn nữ thể hiện cách nhìn nữ tính, sự đồng cảm
và hóa thân vào chính nhân vật của mình Họ khai thác và gặm nhấm cái tôi nội cảm Bằng giọng văn nhẹ nhàng, nữ tính các nhà văn nữ đã mạnh dạn bóc đến tận đáy sâu đời sống tâm hồn của người phụ nữ Sáng tác của họ thường đề cập đến những câu chuyện đời thường gần gũi với bản thân, họ suy nghĩ về cuộc đời bằng ngòi bút tinh tế, nhạy cảm, nữ tính với đầy đủ sắc thái: buồn đau – hạnh phúc – thất vọng… Nhân vật nữ thường được khám phá ở nhiều chiều kích khác nhau, đó là
Trang 6hình ảnh người phụ nữ quay quắt giữa bộn bề lo toan, là khát vọng được yêu thương trọn vẹn, là hành trình kiếm tìm hạnh phúc Mỗi người có một số phận riêng, hoàn cảnh riêng, không ai giống ai Qua mỗi trang viết, mỗi thân phận là bức thông điệp thú vị về cuộc sống: dù có đau đớn, mất mát, tan vỡ nhưng vẫn thấm đẫm chất nhân văn
Là người cùng giới nên các nhà văn nữ rất nhạy bén trong việc bóc tách, khám phá những góc khuất, giãi bày những điều thầm kín của người phụ nữ Họ hiểu những khao khát rất đời thường, rất con người trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mỗi thân phận, mỗi mảnh đời là sự chia sẻ, cảm thông, chiêm nghiệm của nhà văn về con người, về cuộc sống Mỗi tác phẩm được viết ra như vắt kiệt sức nhà văn, đồng thời mỗi tác phẩm là một bức thông điệp nồng nàn với cuộc sống thắm thiết niềm tin yêu con người Những vấn đề “rất phụ nữ” được giải bày bởi chính tâm hồn, tình yêu, sự dằn vặt, tài năng của các nhà văn nữ Đó chính là tiếng nói thiết tha của nhà văn trong việc tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Tìm hiểu truyện
ngắn các nhà văn nữ trong phạm vi của đề tài “Nhân vật nữ trong truyện ngắn
Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ” là để
thấy được phần nào sức sáng tạo và sự phong phú trong tâm hồn, sự đa dạng trong phong cách thể hiện của các nhà văn nữ Qua những trang viết mang đậm dấu ấn cá nhân, chúng ta không chỉ bắt gặp số phận, tâm hồn tác giả, mà còn cảm nhận được hiện thực đời sống xã hội, hiện thực lịch sử và không khí thời đại
Với xu hướng mở cửa giao lưu hội nhập với thế giới, trong xã hội Việt Nam hiện đại, người phụ nữ càng có điều kiện để tự do phát triển toàn diện Khảo sát
“Nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ” để thấy rõ hơn dấu ấn đời sống tinh thần của người
phụ nữ trong văn học với ý nghĩa là bức tranh sinh động về đời sống của người phụ
nữ, là tiếng nói phát đi từ những thân phận trong đời sống thực Từ kết quả nghiên cứu cho thấy cách nhìn nhân văn của xã hội và chổ đứng, nhân cách của người cầm bút trong xã hội hiện đại Vì thế, nghiên cứu về nhân vật nữ trong phạm vi truyện ngắn của các nhà văn nữ có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân văn; đồng thời vừa có
Trang 7tính thời sự, vừa có ý nghĩa khoa học khẳng định sự đóng góp của nhà văn nữ cho văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề:
Trong quá trình nghiên cứu, người viết tổng hợp, đánh giá dựa trên các
nguồn tư liệu sau:
Một số luận án, luận văn của các Nghiên cứu sinh và Học viên cao học Các công trình nghiên cứu chuyên sâu
Trên các báo, tạp chí khoa học: Nghiên cứu văn học, Tạp chí văn học, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Tạp chí Nhà văn, báo Văn nghệ…
Trên các website: http://vnca.cand.com.vn, http://tapchisonghuong.com.vn, http://phienbancu.vanvn.net, http://www.vienvanhoc.org.vn, http://tuoitre.vn
Trên cơ sở những tư liệu thu thập được, chúng tôi tạm chia làm hai loại ý kiến sau:
- Ý kiến bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi sau 1975, đặc biệt từ sau 1986
- Ý kiến bàn về các nhà văn nữ và nhân vật nữ trong sáng tác của họ
2.1 Ý kiến bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi sau 1975
2.1.1 Bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn tiêu biểu
Trong phần này, chúng tôi tổng hợp những ý kiến bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì này, những người được xem là tiên phong và có nhiều đóng góp như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Thái Bá Lợi, Nguyễn Quang Sáng…
Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết Nguyễn Minh Châu những năm 80
và sự đổi mới cách nhìn về con người đã nhận xét nhân vật phụ nữ là nhân vật
thường trực và đầy sức hấp dẫn trong sáng tác của ông “Phần lớn những người đàn
bà trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đều có một số phận éo le, vất vả, ít gặp may mắn trong tình yêu, sự yên bình trong cuộc sống gia đình… Nguyễn Minh Châu viết về người đàn bà trong nhiều tư cách khác nhau, nhưng anh đầy hào hứng
và ưu ái khi viết về người đàn bà làm mẹ, người đàn bà luôn cảm nhận không chỉ
Trang 8bằng ý thức mà bằng bản năng thiên chức làm mẹ, người mẹ sinh ra và chăm sóc những con người, nguồn gốc và nền tảng của cuộc sống”[43, tr.20]
Trong chuyên luận Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, tiến sĩ Tôn
Phương Lan chú ý đến kiểu nhân vật mang thiên tính nữ: “Mô típ về thiên tính nữ được thể hiện qua những nhân vật này, thực sự là một nét độc đáo của Nguyễn Minh Châu Bản thân sự chịu đựng nhẫn nại, sự dịu dàng, chung thủy của họ dường như tương phản với tất cả những ồn ã, xô bồ của đời sống, với sự ác liệt của chiến tranh…”[72, tr.90] Cùng với mô típ thiên tính nữ là mô típ về lòng chung thủy của những người đàn bà vọng phu, phải chăng đó chính “là niềm mong muốn được chia
sẻ, những vất vả đau đớn, mất mát của những người thân yêu đang sống “ở những chân trời có súng nổ có lửa cháy”, là sự gửi gắm vào người sống những ước mơ và
dự định chưa thành của những người thân yêu đã vĩnh viễn ra đi… Còn những người đàn bà vọng phu này, họ sống được một cách vững vàng là do biết đợi chờ chung thủy và hy vọng”[72, tr.94]
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Tôi không chúc bạn thuận buồm
xuôi gió đã nhận xét sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mang nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ Theo tác giả “Thiên tính nữ trước hết là tinh thần của cái đẹp… Đẹp
là một phẩm giá tinh thần cao quí của người phụ nữ Đó là tấm lòng “bao dung, hào
phóng với tất cả mọi người (Nàng Bua) Đó là thiên tính làm mẹ, tình cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp (Tâm hồn mẹ) Đó là sự đau khổ với những giọt nước mắt trong lành và mầu nhiệm (Nàng Sinh) Đó là tấm lòng bao la sẵn sàng
thông cảm với mọi người, kể cả những con người độc ác… Thiên tính nữ còn là tinh thần vị tha và đức tính hy sinh… Thiên tính nữ cũng phong phú và bao la như tâm hồn phụ nữ”[49, tr.507,508]
Trong bài viết Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, phó giáo
sư Phùng Quí Nhâm nhận định: “Một loại nhân vật khác đầy sức hấp dẫn trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng là nhân vật phụ nữ Họ là những con người có tâm hồn trong sáng, giàu nghị lực, có những tình cảm mạnh mẽ ứng xử trong nhiều thử thách
Trang 9gay cấn Tôi vẫn thích cái bướng mà có duyên của các nhân vật phụ nữ trong sáng của Nguyễn Quang Sáng”[90, tr.208]
Bàn về Thế giới nhân vật Nguyễn Khải theo dòng thời gian, thạc sĩ Đào Thủy Nguyên nhận định: “Người phụ nữ trước đây trong Mùa lạc, Chuyện người tổ
trưởng máy kéo, Một cặp vợ chồng… dường như đi từ bóng tối ra ánh sáng Còn
bây giờ, người phụ nữ trong Đời khổ, trong Người vợ lại đi trong sự giao hòa của
những khoảng sáng tối Cái dấu ấn một thời của họ dường như được hòa tan trong cái vĩnh viễn của mọi thời Qua đó, người vợ, người mẹ cụ thể được đưa lên tầm người phụ nữ Việt Nam mà không cần một lời bình luận văn vẻ hay một sự khoa trương nào”[103, tr.76]
Tác giả Nguyễn Thị Bích trong bài viết Nhân vật người phụ nữ trong "Trốn
nợ" của Ma Văn Kháng đã nhận xét: “Trong Trốn nợ, nhà văn “trình ra” trước
người đọc những bức chân dung tâm hồn phong phú của người phụ nữ: dịu dàng mà mạnh mẽ; bao dung mà hào hiệp; đời thực mà thánh thiện; trong sáng nhưng cũng lắm khát khao nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông đẹp về hình thức và tâm hồn, có tư chất tài năng, biết tự khẳng định mình trong xã hội… Thể hiện vẻ đẹp hình thể, tâm hồn, trí tuệ của những nhân vật nữ, Ma Văn Kháng bộc lộ cảm hứng ngợi ca, trân trọng cái đẹp ở đời Chính điều đó đã mang đến cho tác phẩm của ông giá trị nhân văn sâu sắc”[17]
Trong bài viết Thái Bá Lợi và quá trình đổi mới bút pháp sáng tạo, tiến sĩ
Phan Ngọc Thu cho rằng: “hai hình tượng nổi bật thường gặp trong sáng tác của Thái Bá Lợi là người lính và người phụ nữ”[127, tr.38] Theo tác giả “nhân vật người phụ nữ trong tiểu thuyết của Thái Bá Lợi vừa mang những phẩm chất cao cả của cộng đồng vừa có được những nét riêng của thân phận, không ai giống ai Hoàn cảnh buộc họ có lúc phải cương nghị, nén lòng, nhưng cũng rất giàu nữ tính”[127, tr.39] Thái Bá Lợi đã khám phá được vẻ đẹp tính mẫu của người phụ nữ trong chiến tranh là dù trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến, họ vừa phải gánh vác nhiệm vụ, nhưng ngọn lửa tình yêu vẫn luôn bừng cháy Họ “là biểu tượng của tình yêu thương, là chỗ dựa tinh thần cho người lính nơi chiến trận Họ gánh vác trên đôi
Trang 10vai mềm mại của mình cả tiền tuyến và cả hậu phương Họ là tiếng nói thầm, là niềm ám ảnh thương nhớ không nguôi trong tầm hồn những người chiến sĩ”[127, tr.40] Không chỉ miêu tả người phụ nữ trong chiến tranh, nhà văn còn gửi gắm khát
vọng của mình về một mẫu người phụ nữ trong xã hội hiện đại qua tác phẩm Khê
ma ma: “vừa sống chan hòa gần gũi với thiên nhiên, vừa giàu tình cảm nhân ái, vừa thông tuệ và đầy đủ bản lĩnh để thích ứng chủ động trước mọi hoàn cảnh đổi thay của cuộc sống Phải chăng, người phụ nữ muôn đời vẫn là nơi cội nguồn sinh thành
và nuôi dưỡng mọi vẻ đẹp của sự sống và tính cách trên cõi đời này”[127, tr.40]
Nhìn chung, khi xây dựng các nhân vật nữ, các nhà văn nam khai thác và ngợi ca vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát huy quan điểm thẩm mỹ và giá trị truyền thống Đó là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, sự độ lượng, tấm lòng khoan dung, trắc ẩn và đức hy sinh của người phụ nữ
2.1.2 Bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi sau 1975
Song song với những ý kiến bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn cụ thể, chúng tôi cũng tiến hành tổng hợp những ý kiến bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi sau 1975 nói chung
Tiến sĩ Tôn Phương Lan trong tiểu luận Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự
vận động của thể loại đã nhận xét: “Góa phụ” trở thành một mô típ nổi trội trong
truyện ngắn viết về chiến tranh… Những chân dung “hòn vọng phu” thời hiện đại
đã cho chúng ta nhận dạng thêm một chiến trường không kém phần ác liệt dù ở đó không hề có tiếng súng mà trong cuộc chiến đấu đó bản thân người phụ nữ vừa là
“địch” là “ta”, vừa là “tham mưu” cũng vừa là “tác chiến”…”[73, tr.69]
Trong bài viết Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới,
tiến sĩ Tôn Phương Lan đã khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên mà văn xuôi thời kì này, nhất là những năm đầu của thập niên chín mươi, nhân vật cô đơn là phụ nữ xuất hiện rất phổ biến Những người phụ nữ đi qua chiến tranh thường không chỉ mang nỗi cô đơn vì thường xuyên phải sống nơi “chốn giáp ranh giữa địa ngục và trần gian”, vì quanh năm suốt tháng họ chỉ có tiếp xúc với những người cùng giới với nhau trong công việc và sinh hoạt hàng ngày… Sau chiến tranh, khi cuộc sống
Trang 11trở lại với cái yên ả của đời thường, không ít người phụ nữ đã giật mình vì tuổi xuân của họ đã không còn mà phần “nửa cuộc đời” của họ thì hoặc đã nằm lại nơi chiến trường, hoặc không còn cơ hội tìm lại được”[71, tr.46]
Trong bài viết Phụ nữ - Nguồn cảm hứng của sáng tác văn xuôi Việt Nam
thời kì đổi mới, tác giả Đào Đồng Diện cho rằng: “Sự “lên ngôi” của người phụ nữ
trong văn xuôi đổi mới như nói trên là một kết quả hợp lý và là sự gặp gỡ, sự cộng hưởng giữa nỗ lực đổi mới của nhà văn và hiện thực cuộc sống đất nước ta sau chiến tranh và nhất là khi bước sang thời “mở cửa” Bởi nếu như nói “chiến tranh không mang khuôn mặt đàn bà” thì chốn của họ là nơi im tiếng súng Để cổ vũ cho sức mạnh dân tộc trong chiến tranh thì tốt nhất nên nói về những đấng nam nhi, những trang hào kiệt Còn để nói chuyện đời thường, chuyện thế sự đời tư thì còn cách nào hơn là nói chuyện đàn bà”[27]
Tác giả Đào Đồng Diện trong bài viết Phụ nữ là đàn bà đã nhận định:
“Trong xu hướng tìm lại con người ở những đặc trưng bản thể và khát khao trần thế, các nhà văn thời kỳ đổi mới nhìn nhận người phụ nữ nghiêng về những gì thuộc về thiên tính, thiên chức của họ… Văn học đổi mới không còn nhiều những phụ nữ sắt
đá, kiên cường nữa mà thay vào đó là những con người yếu đuối, nhẹ dạ cả tin, đa cảm, đa đoan Chính bằng sự dũng cảm thay đổi cách nhìn của mình, các nhà văn đổi mới đã tìm thấy ở phụ nữ một “công cụ” hữu hiệu để đổi mới đề tài”[28]
Trong luận án Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên
90, tiến sĩ Hoàng Thị Văn nhận xét: “Những người con gái vào chiến trường cứu thương, tải đạn, mở đường, giữ hàng… hứng chịu sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh Lòng nhiệt tình, sự hăng say, tinh thần xả thân vì lợi ích cộng đồng của các
cô gái được ghi vào sử sách, được viết thành bài ca Dẫu có mất mát, đau thương khi trở về thì ít ra họ cũng được an ủi bởi cộng đồng đã ghi nhận những chiến công của họ Còn những người phụ nữ, những người mẹ, người vợ, người yêu của lính ở lại hậu phương, có mấy ai hiểu cho họ những mất mát hy sinh ? Truyện ngắn 75 –
95 với ánh nhìn cảm thông đến từng số phận con người, trân trọng hạnh phúc mỏng
Trang 12manh trong cõi riêng tư của mỗi người, đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với từng nỗi đau nhỏ bé”[137, tr.67,68]
Trong công trình Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam
1975 – 2000, tiến sĩ Nguyễn Văn Kha nhận định: “Trong truyện Việt Nam hôm nay, một số tác giả đã dành những tình cảm đằm thắm, trong sáng cho người phụ nữ… Sau 1975, lòng nhân ái, sự cảm thông, lòng trắc ẩn của người phụ nữ Việt Nam – người bao dung, chia sẻ với những hy sinh, mất mát, cưu mang sự sống trước sự tàn
khốc của chiến tranh được Tạ Duy Anh thể hiện trong truyện Xưa kia chị đẹp nhất
làng Chị Túc dành trọn tình yêu của mình cho người lính Chị đã hóa thân để làm dịu bớt nỗi đau của con người trong cuộc chiến ngày hôm qua… Lòng vị tha, sự bao dung, là phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam Nhưng tha thứ, yêu thương cả kẻ thù như người mẹ trong truyện của Võ Nguyên quả là một trường hợp
hiếm hoi Người mẹ (trong truyện Mẹ - Võ Nguyên) đã cứu một lính Mỹ bị thương
trong một trận đánh xảy ra ngay trên quê hương của mẹ, trong khi con trai là du kích và hai người con khác của mẹ bị lính Mỹ giết hại Bản thân mẹ cũng bị hai lính
Mỹ đi càn đe dọa, uy hiếp… Có những người mẹ đau khổ vì những đứa con lầm đường lạc lối – trở thành tai họa cho bao nhiêu người lương thiện, đã không ngần
ngại cắt đứt cả khúc ruột của mình Đó là trường hợp của bà Cà Xợi trong Hòn đất
của Anh Đức Với người mẹ của Võ Nguyên, thêm một lần nữa phẩm chất nhân hậu, bao dung của người mẹ Việt Nam được ngời sáng”[63, tr.86,87]
Trong luận án Khảo sát đặc điểm truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long từ
1975 đến nay, tiến sĩ Trần Mạnh Hùng có nhận xét: “Với những người đàn ông,
những người lính, chiến tranh đã quá đỗi nghiệt ngã Song, sự tàn phá còn nặng nề bội phần hơn đối với số phận người nữ Trong truyện ngắn về chiến tranh hôm nay, vấn đề tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ được quan tâm và trở thành nỗi ám ảnh, trăn trở hơn bao giờ hết Những mất mát của họ bao gồm cả thương vong, cái chết như bất kì người đàn ông nào, nhưng họ còn phải chịu đựng thêm những mất mát mà đối với người phụ nữ, có khi quan trọng hơn cả việc được sống Chiến tranh
đã cướp mất của họ rất nhiều, cả một thời con gái – cái thời để được yêu và được
Trang 13làm vợ, làm mẹ”[56, tr.69] Theo tác giả “không phải ngẫu nhiên mà trong khá nhiều truyện ngắn Đồng bằng Sông Cửu Long từ 1975 đến nay, nỗi niềm cô đơn của người phụ nữ được các cây bút khắc họa đậm nét… Có thể nói, số phận của người phụ nữ luôn luôn là nguồn cảm hứng sáng tác văn chương Nhưng rõ ràng, trong truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long sau 1975, mới có một số truyện ngắn
đề cập đến nỗi thiệt thòi trong lĩnh vực sâu kín, riêng tư và tế nhị của người phụ nữ Nhưng dẫu sao đó cũng là bước đi dò đường cho văn học nói chung, và truyện ngắn nói riêng, phát triển đề tài người phụ nữ theo một hướng mới”[56, tr.74] Tuy vậy, luận văn cũng chỉ mới bước đầu điểm qua hiện tượng văn học nữ, chưa đi vào tìm hiểu, làm sáng tỏ hiện tượng thú vị này
Điểm qua các ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, trong văn xuôi Việt Nam đương đại nhân vật nữ giành được sự quan tâm và ưu ái của các nhà văn Qua từng câu chuyện, từng mảnh đời, từng số phận là sự day dứt khôn nguôi, là sự cảm thông
và sẻ chia của người cầm bút Mỗi câu chữ, mỗi trang viết là sự ngợi ca vẻ đẹp tính
nữ cũng như thể hiện cái nhìn nhân văn về người phụ nữ của nhà văn
2.2 Ý kiến bàn về các nhà văn nữ và nhân vật nữ trong sáng tác của họ 2.2.1 Bàn về đặc điểm của văn học nữ
Trong cuộc tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương, nhà nghiên cứu Vương
Trí Nhàn nhận định: “Phụ nữ Việt Nam vốn có duyên với sáng tác văn chương… Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới Họ luôn luôn gần với cái lỉnh kỉnh dở dang của đời sống Mặt khác, với cái cực đoan sẵn có – tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng – từng cây bút phụ nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm”[88, tr.63] Đặng Anh Đào thì nhận thấy: “Phụ nữ thường mạnh ở cái chỗ là họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách hoặc nói như phương Tây, người ta vẫn nói, họ tự ăn mình”[88, tr.63] Khi nêu lên vấn
đề sự xuất hiện ồ ạt của các cây bút nữ hiện nay, Ngô Thế Oanh đã phân tích khá chi tiết: “Trước tiên là cái hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh Phụ nữ vốn là những người hiểu một cách sâu sắc, hiểu bằng cả tâm hồn mình, cái sức ép trước đây của
Trang 14hoàn cảnh Nỗi đau hôm qua ở họ thấm thía, nên sự hồi sinh của dân tộc những năm này họ cũng cảm nhận đầy đủ hơn Ngoài ra, hoàn cảnh bây giờ có nhiều cái kích thích đời sống của mỗi con người Từ sách của Freud đến những lời quảng cáo trong các chương trình ti vi hàng ngày – những cái đó cũng tạo thêm cơ may để
“nền văn học của các cây bút nữ” có dịp phát triển”[88, tr.64]
Trong bài Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ, giáo sư Phương Lựu khẳng
định “sáng tác của phụ nữ hay tập trung vào đề tài tình yêu Bởi vì ái tình là một lĩnh vực mãnh liệt nhất của con người, lại gắn với cảnh sống của gia đình với một diện sống không quá bao la, rồi tình yêu lại mang “vị đắng” mà người phụ nữ phải nếm trải nhiều nhất trong bao đời này”[78, tr.68]
Trong bài viết Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay, nhà nghiên cứu Phạm
Xuân Nguyên nhận xét: “Có một nét đặc biệt trong truyện ngắn hôm nay là sự xuất hiện đông đảo, tự tin của đội ngũ viết trẻ và nhất là các cây bút nữ Số lượng nhiều tác giả nữ, lại tỏ ra khá chắc tay trong cái dàn chung, đem đến cho văn học nói chung truyện ngắn nói riêng một sinh khí mới cần thiết để thể hiện bề sâu của cuộc sống con người hôm nay… Trên các trang viết của họ, nỗi buồn, nỗi đau nhân thế luôn được nhìn nhận ở khía cạnh tinh tế rất “phụ nữ”, có lúc cũng hùng hổ gắt gao nhưng thường là đằm sâu Đặc biệt họ thường dự cảm mong manh về hạnh phúc nên cảm xúc của họ đưa lại cho người đọc là niềm tha thiết cuộc sống, tha thiết yêu,
dù quá khứ còn nặng nề, dù hiện tại còn đau khổ vẫn mong cuộc sống ngày mai tốt đẹp hơn cho người và cho mình”[105, tr.28]
Tác giả Bích Thu trong bài viết Sự trưởng thành của đội ngũ các nhà văn nữ
đã nhận xét: “Bên cạnh sự trưởng thành và phát triển về đội ngũ, lực lượng viết nữ cũng đã thể hiện những nổ lực của mỗi cá nhân trong quá trình sáng tạo Dường như trong các chị đều trải qua một sự lựa chọn và tự nguyện đến với văn chương Cho nên dù ở lứa tuổi nào, các chị vẫn đều đặn sáng tác… Những người phụ nữ làm thơ, viết văn đều như muốn gửi gắm, kí thác những nỗi niềm, tâm trạng, những buồn vui
ấm lạnh của chính mình trên trang viết”[125, tr.6] Cùng với việc làm rõ đặc điểm đội ngũ các nhà văn nữ, tác giả Bích Thu cũng chú ý đến phong cách nghệ thuật
Trang 15trong sáng tác của các nhà văn nữ Theo đó, “bên cạnh phẩm chất nổi bật trong sáng tác của các cây bút nữ: giàu nữ tính, thấm đẫm tình đời, tình người, mang đậm chất nhân văn và những cách thể hiện, những phương thức biểu cảm khác nhau trong đề tài, bút pháp, giọng điệu, ngôn từ, tạo nên một bức tranh giàu màu sắc, đường nét về các nhà văn nữ Việt Nam hiện đại”[125, tr.6]
Tác giả Bích Thuận trong bài viết Tuyển văn các tác giả nữ Việt Nam đã
nhận xét rất tinh tế về đặc điểm của các nhà văn nữ: “Người phụ nữ sinh ra nói chung, được trời phú cho một cơ thể mảnh mai, một tâm hồn nhạy cảm, thường nhẹ
dạ cả tin lại mang trên đôi vai thiên chức làm vợ làm mẹ, đúng ra họ phải được nâng niu, được chăm sóc, được hưởng hạnh phúc, nếu bị lừa dối, bị chà đạp thì nỗi đau của họ sẽ tăng lên gấp bội Bởi vậy, ngòi bút của các nhà văn nữ chạm đến cung bậc nào, cung bậc ấy cũng bật lên tiếng lòng da diết”[128, tr.6]
Trong bài viết Điểm qua sự vận động của truyện ngắn các cây bút nữ, tác giả
Lê Hương Thủy cho rằng: “Sự bổ sung về đội ngũ, sự phá cách và đặc trưng trong việc chiếm lĩnh hiện thực của các cây bút nữ đã tạo nên những sắc màu mới cho truyện ngắn các nhà văn nữ thời kì đổi mới, trước hết là sự đa dạng và phong phú về dấu ấn phong cách Ở họ vừa có sự gặp gỡ, có những mối quan tâm chung trong cách nhìn nhận hiện thực lại có những đặc điểm mang tính cá biệt mà đặt trong đời sống văn học, nhiều người đã tìm cho mình một lối đi riêng, một cách thể hiện dấu
ấn sáng tạo”[130, tr.68]
Trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt
Nam đương đại, tác giả Nguyễn Đăng Diệp cho rằng: “Ở Việt Nam, văn học sau
1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ Đó là chưa kể đến việc nhiều nhà văn nam giới cũng lên tiếng ủng hộ
Trang 16sự bình đẳng giới và thừa nhận nữ giới là chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ thể thẩm mĩ thông qua những tác phẩm xuất sắc của họ”[29] Mặt khác, tác giả lưu ý: “Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn chưa được giới học thuật nước
ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại Đồng thời, nó cho thấy, bên cạnh những bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề bản thể văn chương, vẫn tồn tại những khuynh hướng phê bình chính trị, xã hội Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá”[29]
Trong bài viết Dấu hiệu nữ quyền trong văn học nữ Việt Nam đương đại, tác
giả Bùi Thị Thủy đã nhận xét: “Tình yêu, hạnh phúc cá nhân là một trong những đề tài thuộc “gu” thẩm mỹ của các nhà văn nữ Đó cũng là một cách để họ tự soi chiếu mình Khi viết về tình yêu, họ khám phá toàn diện về mọi mặt, mọi cung bậc: từ những dư vị ngọt ngào đến những dư vị đắng chát, từ đớn đau đến xót xa Từ những nhẹ dạ, cả tin đến những mạnh mẽ, chủ động, già dặn và từng trải v.v… tất cả đều là những bộc bạch chân thực nhất Dấu hiệu ý thức nữ quyền thấy rõ trong thái độ chủ động cũng như quyết liệt đấu tranh để giành, giữ tình yêu, dám sống thật với chính mình và dám đi đến tận cùng bản thể”[131] Bên cạnh đó, vấn đề tình dục cũng được các nhà văn nữ được khai thác cặn kẽ, mạnh bạo, “khiêu khích” hơn bao giờ hết “Như vậy xét về phương diện khách quan cũng như chủ quan đã có sự “cởi trói”, “phá rào” trong chính nội lực của các nhà văn nữ Điều đó chứng tỏ xu hướng dân chủ hóa trong văn chương từ quan niệm thẩm mỹ đến bình diện nội dung và cả lực lượng người sáng tác Đó chính là một dấu hiệu ý thức “nữ quyền” rõ nét nhất”[131]
Nhìn chung, khi bàn về đặc điểm của các nhà văn nữ, giới nghiên cứu đều thống nhất ở điểm là đặc điểm giới có ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của đội ngũ các cây bút nữ Bên cạnh đó, nhà văn nữ cũng đã mạnh dạn tìm tòi đổi mới, tìm hướng đi riêng cho mình Một điểm lưu ý nữa là các nhà văn nữ đã bắt đầu chú ý và
đề cập đến vấn đề phái tính và ý thức nữ quyền trong sáng tác của mình
Trang 172.2.2 Bàn về nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ
Trong bài viết Điểm qua sự vận động của truyện ngắn các cây bút nữ, tác giả
Lê Hương Thủy cho rằng thế giới nhân vật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ cũng mang một dấu ấn riêng rất phụ nữ “Nổi bật trong thế giới nhân vật phong phú
và đa dạng của các cây bút nữ là những người phụ nữ trong xã hội hiện đại với cuộc đời, thân phận cụ thể Nhạy cảm với nỗi đau của những cuộc tình duyên trắc trở, những ước vọng không thành, họ đã “đau cái đau của người cùng giới, buồn cái buồn của người đàn bà đang yêu”… Các tác phẩm với những cách tiếp cận khác nhau đã thể hiện khát vọng tình yêu và niềm mong mỏi hạnh phúc của người phụ
nữ, bộc lộ cái nhìn trắc ẩn, niềm thương cảm với nỗi đau và thân phận đàn bà Các cây bút nữ đã biết phát huy lợi thế của mình trong việc diễn tả hiện thực tâm trạng, đời sống nội tâm của nhân vật nữ tìm được sự đồng cảm ở người đọc”[130, tr.70]
Trong bài viết Nguyên lí tính mẫu trong truyền thống văn học Việt Nam,
Dương Thị Huyền cho rằng sau 1975 “với hình tượng người phụ nữ, văn học Việt Nam đã khắc họa họ dưới cái nhìn nhiều chiều của cuộc sống Chính vì những lý do
đó mà ta bắt gặp ở thời kỳ này rất nhiều cây bút viết về người phụ nữ và thể hiện họ dưới nhiều góc độ khác nhau Ta bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài với một chiều sâu về mặt tâm hồn, vốn được làm lên từ chính những giác quan nhạy cảm của người phụ
nữ Họ hiện lên là những người phụ nữ đẹp, khoan dung, trắc ẩn và đắm đuối”[57]
Nhận xét về thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn của một số nhà văn nữ,
Bùi Thị Thủy trong bài viết Dấu hiệu nữ quyền trong văn học nữ Việt Nam đương
đại cho rằng: nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ “đa phần là
những người đàn bà bất hạnh trong tình duyên và trong đời sống gia đình Nhưng hơn bao giờ hết họ luôn có thái độ chủ động trong tình yêu, dám làm tất cả những gì mình khao khát Họ ý thức rất rõ về hạnh phúc và luôn đấu tranh để đi đến hạnh phúc ấy”[131] Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Y Ban cũng “là những con người, dám xông xáo trên con đường đi tìm tình yêu mặc dù họ biết trước rằng cuối cùng mối tình ấy cũng chỉ là vô vọng”[131] Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Võ
Trang 18Thị Hảo là “những người đàn bà khổ vì yêu, rút hết gan, hết ruột để yêu và hi sinh cho tình yêu bất cần những hệ lụy sau đó”[131]
Bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của Lê Minh Khuê, trong chuyên luận
Truyện ngắn Việt Nam: lịch sử - thi pháp - chân dung, Giáo sư Phan Cự Đệ nhận
xét: “trong truyện ngắn Lê Minh Khuê xuất hiện khá nhiều nhân vật buồn… Lê Minh Khuê đã khá tinh tế trong việc khắc “gương mặt buồn” của các nhân vật nữ Buồn vì nuối tiếc những kỉ niệm đẹp đẽ, buồn vì cũng có thể con người “cố giãy giụa” để thoát khỏi nỗi thiếu thốn tình cảm, nhưng cuối cùng thì hạnh phúc là một cái gì mong manh dễ vỡ, vụt đến vụt đi Nhiều người phụ nữ đã khóc thương cho tình yêu của mình”[34, tr.59]
Trong bài viết Ngôi nhà gương của Võ Thị Xuân Hà, tác giả Hà Phạm Phú
nhận xét về thế giới những người đàn bà trong truyện của Võ Thị Xuân Hà như sau:
“Thế giới đàn bà của Hà là một thế giới riêng, không lẫn vào ai Những người đàn
bà của chị hình như cũng là sự xáo trộn giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỉ, rất tự tin nhưng cũng dễ bị cám dỗ, sống yên phận nhưng lại không chịu yên với số phận đã an bài Mỗi người phụ nữ là một bí ẩn”[40, tr.359,360]
Trong bài viết Dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống mô
típ chủ đề, tác giả Bích Thu nhận định: “Một số cây bút đã hướng ngòi bút vào số
phận của những người đàn bà đi suốt cuộc đời vẫn không tìm thấy tổ ấm, một nơi trú ngụ tinh thần bởi sự thất vọng về tình yêu, về người bạn trăm năm, vì vậy họ phải luôn đối diện với sự trống vắng của tâm hồn bởi những hụt hẫng vô cớ, thất
thường của trạng thái cô đơn”[123, tr.28]
Nhìn chung, thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đa dạng và phong phú Nhân vật nữ được khám phá dưới nhiều chiều kích khác nhau Chính vì thế, chân dung người phụ nữ hiện lên nguyên vẹn trên từng trang viết Là người cùng giới, các nhà văn có cái nhìn bao dung và cảm thông đối với nhân vật
Trang 192.2.3 Bàn về những hạn chế trong truyện ngắn của các nhà văn nữ
Song song với những ý kiến bàn về những ưu điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ, giới nghiên cứu còn chỉ ra một số hạn chế trong truyện ngắn của đội ngũ này
Giáo sư Phương Lựu trong bài viết Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ đã chỉ
ra nhược điểm của văn học nữ “trước hết những sáng tác của nữ giới thường mang
màu sắc tự truyện, bởi vì diện sống nói chung không được sâu rộng”[78, tr.68] Mặt khác, “đề tài tình yêu chiếm một vị trí khá lớn, và là đặc điểm chung trong sáng tác của họ… Tất cả những cây bút nữ này, nếu không phải chỉ viết về tình yêu, thì chủ yếu cũng mới chỉ viết hay về tình yêu”[78., tr.68]
Nhà phê bình Đặng Anh Đào cho rằng: “Đọc Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh khá hào hứng, tuy nhiên phải nói thật là ở mỗi người nguy cơ lặp lại mình, đơn điệu trong cái kiểu của mình, nguy cơ ấy đã khá rõ”[88, tr.64]
Tác giả Nguyễn Đăng Diệp trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ
quyền trong văn học Việt Nam đương đại có nêu nhận xét: “Việc đề cao phụ nữ và
nỗ lực nhấn mạnh bản ngã của giới nữ không phải không có lúc rơi vào quá đà Nó rất dễ dẫn tới hội chứng ghét nam (thay vì hội chứng ghét nữ đã từng tồn tại một thời gian dài trong lịch sử)… Rõ ràng, để tạo nên những tác phẩm văn học thực sự
có giá trị, chỉ có cảm xúc và sự thôi thúc của nội tâm thì chưa đủ, nó cần đến những suy tư sâu sắc và tỉnh táo mang tính triết học”[29]
Tác giả Lê Hương Thủy trong bài viết Điểm qua về sự vận động của truyện
ngắn các cây bút nữ nhận xét về hạn chế của truyện ngắn nữ: “Đề tài sáng tác chưa
thật phong phú, nhiều khi đã có hiện tượng lạm dụng khai thác một số đề tài nhất định và sự lặp lại mình”[130, tr.71]
Nhà văn Trang Hạ trong bài viết Phụ nữ viết văn: Lao công của nghề viết đã
nêu ra nhược điểm của các nhà văn nữ là: “Trong tác phẩm, nếu nhân vật bỏ việc để
ở nhà phụng sự đấng lang quân, bạn là người phụ nữ yếu đuối, bạc nhược Còn nếu
bỏ chồng rồi theo đuổi sự nghiệp cho tới thành công, bạn là người phụ nữ tân tiến, tích cực Rất nhiều tác phẩm văn học nữ giới đã rạch ròi tốt – xấu, yêu – ghét theo
Trang 20kiểu đó Sau khi nắm được một sợi dây ý tưởng, người viết rất dễ dàng bê y nguyên những cảm nhận, kinh nghiệm, đời mình vào văn Và sự mẫn tiệp của người phụ nữ viết không cứu được tác phẩm bị xếp vào loại sách đàn bà!”[41]
Bên cạnh những ưu điểm, truyện ngắn của các nhà văn nữ cũng bộc lộ không
ít những nhược điểm Đó là đề tài chưa thật sự phong phú, nguy cơ lặp lại chính mình, một số nhà văn rơi vào tình trạng là đề cao nữ giới… Những hạn chế này ít nhiều do đặc điểm giới chi phối
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết bàn về truyện ngắn của các nhà văn nữ, những bài viết về tác giả và tác phẩm… cùng với đó là những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về truyện ngắn của các nhà văn nữ Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn nên chúng tôi không thể khảo sát hết
Với việc điểm qua những bài viết, những công trình nghiên cứu trên trên, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn của các nhà văn nữ cũng như nhân vật nữ trong sáng tác của họ đã được giới nghiên cứu quan tâm, chú ý Nhìn chung, các ý kiến trên thể hiện sự tìm tòi, tổng kết, chỉ ra thành công và hạn chế của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Tuy nhiên, những ý kiến trên chỉ là cách nhìn tạt ngang, chưa
có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống Trên cơ sở đó, cùng với việc tiếp thu thành quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi có điều kiện để đi sâu hơn, phát hiện thêm những điều mới mẻ trong cách xây dựng nhân vật nữ cũng như truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Về thời gian khảo sát, luận văn tìm hiểu truyện ngắn của các nhà văn nữ trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2000 Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ 1986 là vì đây là năm diễn ra đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đất nước bước vào giai đoạn đổi mới; văn học Việt Nam bắt đầu vận động và phát triển theo qui luật đời thường Năm 2000 là năm đánh dấu sự
mở đầu thế kỉ XXI, mốc thời gian từ 1986 đến 2000 còn là sự tổng kết quá trình 15 năm văn học nước nhà tiến hành đổi mới
Trang 21Về lực lượng sáng tác, là các nhà văn nữ hiện đang sống và làm việc trong nước
Về thể loại, luận văn khảo sát các truyện ngắn đã được tuyển tập, in thành sách; những truyện ngắn đoạt giải trong các cuộc thi viết truyện ngắn và các truyện ngắn được dư luận đánh giá và quan tâm trên các báo Văn nghệ, Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội…
6 Nguyễn Thị Thu Huệ
7 Lê Minh Khuê
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận văn, nhằm làm sáng rõ đề tài người viết cũng tiến hành khảo sát một số truyện ngắn của các nhà văn nữ khác; cùng với đó là một số sáng tác của các nhà văn nam cùng giai đoạn như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Hoa…
Trang 224 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn
Luận văn sử dụng những hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp lịch sử
Phương pháp này sẽ giúp làm rõ sự tác động, ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch
sử xã hội đến truyện ngắn của các nhà văn nữ như thế nào? Đồng thời thấy được truyện ngắn của các nhà văn nữ đã phản ánh, khám phá con người, xã hội ra sao? Cũng như những vấn đề và thách thức của thời đại mà các nhà văn đặt ra trong sáng tác của mình
4.2 Phương pháp nghiên cứu loại hình
Phương pháp này được sử dụng nhằm để lựa chọn khảo sát truyện ngắn của các nhà văn nữ, từ đó định ra những nét bản chất, đặc trưng khi miêu tả và nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ
4.3 Phương pháp cấu trúc – hệ thống
Phương pháp này được sử dụng nhằm sắp xếp nhân vật theo hệ thống, từ đó tìm hiểu đặc trưng chung của kiểu nhân vật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Đồng thời tìm hiểu các thủ pháp xây dựng nhân vật
4.4 Hướng tiếp cận thi pháp học
Hướng tiếp cận này sẽ giúp làm rõ những đặc điểm về mặt thi pháp trong truyện ngắn của các nhà văn nữ, từ kết cấu, cốt truyện đến cách xây dựng nhân vật…
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh… được vận dụng thường xuyên để khảo sát tác phẩm theo hướng chiều sâu
5 Những đóng góp của luận văn
5.1 Về giá trị khoa học
Nghiên cứu “Nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến
năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ” người viết hướng đến những mục
tiêu sau:
- Khái quát diện mạo và những đóng góp của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000
Trang 23- Chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt trong việc miêu tả nhân vật nữ trong truyện ngắn của nhóm tác giả nữ được khảo sát
- Nêu bật cách khám phá, thể hiện nhân vật nữ giàu tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Ca ngợi vẻ đẹp tính nữ và sự phong phú, đa dạng trong tính cách của người phụ nữ Việt Nam Qua đó, thấy được tư tưởng của nhà văn nữ trong cách nhìn nhân vật nữ Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ nghệ thuật biểu hiện nhân vật nữ độc đáo, mới lạ, nữ tính trong thủ pháp nghệ thuật
- Luận văn có sự mở rộng, so sánh với nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nam để thấy được nét tương đồng cũng như sự khác biệt, từ đó thấy được
sự phong phú và đa dạng về phong cách nghệ thuật của truyện ngắn nữ trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại
5.2 Về giá trị thực tiễn
Chúng tôi hy vọng luận văn có thể trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn học sinh – sinh viên và những ai quan tâm đến truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Quan niệm về truyện ngắn và diện mạo truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000
1.1 Quan niệm về truyện ngắn
1.2 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000
1.3 Nhân vật nữ là kiểu nhân vật được quan tâm trong truyện ngắn của các nhà văn nữ
Chương 2 Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam từ
1986 đến 2000
2.1 Quan niệm về tính nữ
2.2 Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến 2000
Trang 24Chương 3 Hai kiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến 2000
3.1 Kiểu nhân vật “tầng đời nền móng”
Trang 25CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
1.1 Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là một khái niệm đa dạng, phức tạp, khó xác định về nội dung lẫn hình thức Đã có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu với những định nghĩa khác nhau về truyện ngắn nhưng đến nay vẫn chưa đạt đến sự thống nhất Trong luận văn này, người viết liệt kê một số khái niệm về truyện ngắn được trích dẫn từ các sách từ điển văn học, thuật ngữ văn học, các sách lí luận, các công trình nghiên cứu chuyên sâu để từ đó có cái nhìn tổng thể về thể loại này
1.1.1 Quan niệm về truyện ngắn trong các sách từ điển văn học, thuật ngữ văn học
Từ điển văn học định nghĩa truyện ngắn như sau: “Truyện ngắn; thứ truyện
bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, miêu tả một khía cạnh, một tính cách, một mẩu trong cuộc đời nhân vật”[98, tr.1699]
Đây là một định nghĩa tương đối ngắn gọn, chỉ nêu được đặc trưng chung nhất về mặt hình thức, chưa đi sâu làm rõ những đặc điểm cơ bản về mặt thể loại và
đặc trưng thi pháp
Trong cuốn Từ điển văn học bộ mới, tác giả đã định nghĩa về truyện ngắn
như sau: “Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ… Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách trọn vẹn… Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, không gian; nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con người”[97, tr.1846,1847]
So với cuốn Từ điển văn học của nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn thì cuốn Từ
điển văn học bộ mới của nhà xuất bản Thế Giới đã đưa ra định nghĩa về truyện ngắn
Trang 26đầy đặn hơn, các tác giả đã chú ý đề cập đến mặt thể loại, hình thức, đặc trưng thi pháp của nó Tuy nhiên, cả hai định nghĩa trên chỉ mới giới thiệu những đặc điểm
cơ bản nhất của truyện ngắn ở góc độ thể loại, chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích rõ đặc trưng thể loại
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân định
nghĩa về truyện ngắn như sau: “Truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và
xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ… Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại, cũng như truyện vừa, truyện dài hiện đại đều ít nhiều mang những đặc tính của tư duy tiểu thuyết Tuy vậy, khác với truyện vừa và truyện dài – vốn là những thể tài mà qui mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự toàn vẹn, đầy đặn của nó, - truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo…”[9, tr.345,356]
Ở đây tác giả đã chú ý đến đặc tính tư duy tiểu thuyết của truyện ngắn và để làm rõ đặc điểm về mặt thể tài, tác giả tiến hành so sánh truyện ngắn với truyện vừa
và truyện dài để từ đó đưa ra nhận định về những đặc điểm chung nhất của thể loại truyện ngắn
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa về truyện ngắn như sau: “Truyện ngắn
hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học… Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá… Yếu tố quan trọng bậc
Trang 27nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết”[42, tr.371]
Nhìn chung, hệ thống từ điển, thuật ngữ văn học có sự đồng nhất trong quan niệm về truyện ngắn Các công trình này đều đưa ra những định nghĩa về truyện ngắn tương đối ngắn gọn, rõ ràng; tuy nhiên đa phần các định nghĩa chỉ giới thiệu những nét cơ bản của thể loại truyện ngắn, chưa đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm
và đặc trưng thể loại Mặc dù là giới thiệu một cách khái quát nhưng đây là tiền đề,
là cơ sở khoa học để đi sâu tìm hiểu đặc trưng thể loại truyện ngắn
1.1.2 Quan niệm về truyện ngắn trong lí luận văn học và những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện ngắn
Chuyên luận Sổ tay người viết truyện ngắn do Vương Trí Nhàn chủ biên xuất
bản năm 1988 được xem là một công trình công phu, có chất lượng và chuyên sâu
về thể loại truyện ngắn từ trước cho đến thời điểm lúc bấy giờ Cuốn sách gồm ba phần, trong đó phần một và hai là tập hợp những ý kiến của các nhà văn trong nước
và thế giới bàn về truyện ngắn cùng những kinh nghiệm trong quá trình viết truyện ngắn, phần ba là phần tổng hợp và đánh giá của tác giả về truyện ngắn Theo quan điểm của tác giả: “Trên nguyên tắc, không có lý luận riêng về truyện ngắn Ở đây chỉ có vấn đề mà người ta quen gọi là dung lượng: truyện dài hay ngắn Còn như phản ánh về con người như thế nào, trên cơ sở một quan niệm triết học ra sao, mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh là thuận hay nghịch… bấy nhiêu thứ thuộc phần lý luận về tiểu thuyết Truyện ngắn chỉ là một dạng tiểu thuyết đặc biệt”[87, tr.174] Tác giả lưu ý với bạn đọc điểm hạn chế của công trình này là chưa đề cập đến những cách tân của thể truyện ngắn trong thời gian gần đây Bên cạnh đó, chuyên luận này chủ yếu là tổng hợp những ý kiến của các nhà văn bàn về truyện ngắn ở thế kỉ XX, cùng với thời gian và sự phát triển không ngừng của văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng thì những ý kiến ấy trở nên không phù hợp
Một công trình nghiên cứu chuyên sâu khác về truyện ngắn rất đáng chú ý là
cuốn Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng
xuất bản năm 2000 Công trình này gồm ba phần, ngoài phần hai và ba tổng hợp ý
Trang 28kiến của các nhà văn trong và ngoài nước bàn về truyện ngắn, phần một là phần có giá trị nhất của công trình Phần này gồm năm chương, tác giả đi sâu cắt nghĩa khái niệm truyện ngắn, tìm hiểu nguồn gốc, đặc trưng của thể loại, giới thiệu các kiểu truyện ngắn Ở phần này, tác giả giành một chương để khái quát quá trình phát triển truyện ngắn Việt Nam thế kỉ XX Cùng với quá trình đi sâu tìm hiểu những vấn đề
lý thuyết và thực tiễn thể loại truyện ngắn, tác giả đồng thời đưa ra quan niệm của mình về truyện ngắn, theo tác giả: “Truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ (chữ nhỏ ở đây được hiểu là ngắn gọn, cô đúc… Ngắn gọn ở đây là cái tinh anh của nhà văn và cái tinh chất của tác phẩm)… Tính qui định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định Nhân vật truyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại… Tuy nhiên, cũng như một cơ thể sống bất kì, truyện ngắn trong quá trình hình thành và phát triển lại thâu nạp thêm những đặc điểm mới bởi sự thâm nhập tác động lẫn nhau giữa các thể loại văn học cũng như do cách đọc của thời đại qui định”[117, tr.34,35]
Năm 2007, nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản công trình Truyện ngắn Việt
Nam, Lịch sử – Thi pháp – Chân dung của Giáo sư Phan Cự Đệ Đây là công trình
nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn Việt Nam công phu, đầy đặn nhất từ trước tới nay Điểm nhấn của công trình là tác giả đã tìm hiểu đặc trưng của truyện ngắn qua nhiều định nghĩa của các nhà văn và các nhà lí luận trong và ngoài nước; đồng thời, tiến hành so sánh và tìm sự tác động qua lại giữa truyện ngắn với tiểu thuyết
và các loại hình văn học nghệ thuật khác Trên cơ sở đó, tác giả tổng kết thành một định nghĩa có khả năng bao quát nhất về truyện ngắn:
“Định nghĩa của chúng ta bao gồm một hệ thống đặc điểm nhằm phản ánh những đặc trưng về hình thức, về chủ đề, về kết cấu và cốt truyện, về ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật của thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn và tiểu thuyết đều là những hình thức hư cấu tự sự bằng văn xuôi Hai thể loại này đều nằm trong khu vực trực tiếp với cái hiện thực đang vận động và phát triển, đều huy động kinh nghiệm sống và từng trải của chính tác giả,
Trang 29đều sử dụng một thứ văn xuôi giàu chất tạo hình và đa thanh Tuy nhiên, so với tiểu thuyết là hình thức hư cấu tự sự cỡ lớn, truyện ngắn là hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ
Truyện ngắn thường miêu tả một lát cắt của đời sống, một giai đoạn, thậm chí một khoảnh khắc, một phút lóe sáng đầy ý nghĩa khám phá trong cuộc đời nhân vật
Với truyện ngắn, người tiếp nhận có thể tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ Do tính ngắn gọn nên truyện ngắn thường tập trung cao độ xung quanh một chủ đề; cốt truyện thường được xây dựng trên một hành động cỡ nhỏ, đơn giản trong một khoảng không gian và thời gian nhất định với những chi tiết được chắt lọc, tiết kiệm, dồn nén nhằm hướng tới một hiệu quả duy nhất ở phần kết thúc
Do tính cô đúc, dồn nén, tập trung những chi tiết, tính hàm ý, hàm súc của
ngôn ngữ, tính biểu tượng của các nhân vật nên những truyện ngắn thành công nhất vẫn có thể biểu hiện những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn
Trong quá trình phát triển, truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới do sự tác động qua lại giữa các thể loại, do sự chi phối của các trào lưu và phương pháp sáng tác, của các phương tiện đọc và cách đọc, nghe, nhìn qua các thế kỉ”[34, tr.443]
Có thể khẳng định ba công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn trên
đã soi rọi, làm sáng rõ những đặc trưng cơ bản nhất của thể loại truyện ngắn Mỗi công trình có những ưu – khuyết riêng, nhưng cả ba đã bổ trợ cho nhau để từ đó đưa đến những lý giải căn cơ và khoa học về đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn đã được liệt kê ở trên, các sách lí luận văn học cũng đã cung cấp cho bạn đọc những kiến
thức nền tảng về thể loại truyện ngắn Sách Lí luận văn học do Phương Lựu chủ
biên xuất bản năm 2002 đã đưa ra kiến giải về truyện ngắn như sau: “Truyện ngắn
là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải Nó gần với tiểu
Trang 30thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời”[80, tr.397] Trong định nghĩa trên thì tác giả Phương Lựu chú ý đến chất “tiểu thuyết” của truyện ngắn
Trong Giáo trình lí luận văn học phần tác phẩm văn học, tác giả Lê Tiến
Dũng đưa ra một định nghĩa rất dễ hiểu về truyện ngắn Theo tác giả “Truyện ngắn
là loại văn xuôi tự sự cỡ nhỏ Nó khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung hơn Phạm vi đời sống mà truyện ngắn đề cập có thể là một khoảnh khắc của đời sống… Nhưng cũng có nhiều chuyện ngắn không chỉ miêu tả một khoảnh khắc
mà miêu tả cả một đời người… Cho nên nếu chỉ xem cái “khoảnh khắc” như một đặc trưng riêng biệt của truyện ngắn là chưa đầy đủ… Truyện ngắn có thể được xác định trên hai bình diện: tính chất ngắn gọn về mặt dung lượng và sự cô đọng, súc tích trong miêu tả”[30, tr.197]
Học giả W Boyd trong bài viết rất công phu của mình Mỗi truyện ngắn hay,
như một viên polivitamin dẫn lời của Pritchett định nghĩa truyện ngắn như “một cái
gì chợt thoáng nhận thấy trên đường”[21, tr.12] Đồng thời, tác giả cũng đánh giá cao hình thức văn học này vì “nó đưa ra khả năng thấu hiểu ý nghĩa của cái thường nhật, diễn tả những thời điểm trong cuộc đời (thông thường là dưới hình thức thăng hoa) và sử dụng cấu trúc dồn nén”[21, tr.12]
Có thể khẳng định từ sau 1975, giới nghiên cứu rất quan tâm tìm hiểu về truyện ngắn; có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về truyện ngắn được đưa
ra Dù đó là những công trình nghiên cứu chuyên sâu hay chỉ là một mục từ trong sách từ điển thì các tác giả đều cố gắng làm nổi bật những đặc trưng chung nhất của thể loại truyện ngắn Cho dù chưa có sự thống nhất trong quan niệm về truyện ngắn nhưng điều này cũng cho ta thấy truyện ngắn là một thể loại văn học hết sức đa dạng, phong phú, mang tính thời sự, cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
1.1.3 Cách hiểu về truyện ngắn hiện đại trong luận văn
Trên cơ sở khảo sát những định nghĩa về truyện ngắn có tính chất “hàn lâm” trong các sách từ điển văn học, thuật ngữ văn học, lí luận văn học, các công trình
Trang 31nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn… chúng tôi có thể rút ra cho mình một cách hiểu về truyện ngắn hiện đại:
- Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ
- Truyện ngắn có tính cô đọng, có khả năng dồn nén cao, nó không chỉ phản ánh một khoảnh khắc, một lát cắt của đời sống mà còn có thể phản ánh cả một đời người
- Truyện ngắn có tính đại chúng cao Về cơ bản truyện ngắn hiện đại dễ tiếp nhận, dễ phổ biến; không những thế nó còn phản ánh một cách nhanh nhạy những vấn đề gai góc, những sự kiện mang tính thời sự đang diễn ra hằng ngày hằng giờ trong con người và trong các phạm vi của đời sống xã hội
- Kết cấu truyện ngắn hiện đại tự do và uyển chuyển, nó không tuân theo qui tắc kết cấu truyền thống là kết thúc có hậu, đoạn kết thường để ngỏ, độc giả trở thành người đồng sáng tạo Điều này bị chi phối bởi nhu cầu hiện thực và tâm lý tiếp nhận của con người hiện đại
Đây chính là cơ sở, là nền tảng để chúng tôi vận dụng tìm hiểu, phân tích,
đánh giá, nghiên cứu truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến 2000
1.2 Diện mạo của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000
Năm 1975 là cột mốc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của lịch sử dân tộc - đất nước bước vào thời kì thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội Bối cảnh
xã hội thay đổi nhưng văn học chưa kịp thời chuyển đổi theo Khoảng thời gian từ
1975 đến 1985 văn học Việt Nam vẫn tiếp tục truyền thống trước 1975 – “văn học
sử thi” Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI với phương châm đổi mới toàn diện là động lực quan trọng thúc đẩy mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vận động tiến lên, trong đó có văn học Từ sau 1986, văn học Việt Nam thực sự đổi mới, vận động và phát triển theo qui luật đời thường
Văn xuôi từ 1986 đến 2000 phát triển nhanh, khởi sắc Trong đó truyện ngắn nổi lên như một thể loại tiên phong Điều này hoàn toàn phù hợp với qui luật bởi truyện ngắn vốn năng động, linh hoạt và nhạy cảm trước những biến đổi mạnh mẽ
và phức tạp của hiện thực đời sống Hơn nữa, sự lên ngôi của truyện ngắn không chỉ
Trang 32bởi sự phát triển nội tại của bản thân thể loại mà còn chịu sự tác động của nhiều yếu
tố ngoài văn học Chưa bao giờ truyện ngắn Việt Nam lại phát triển phong phú, đa dạng như hôm nay cả về phương diện số lượng cũng như chất lượng
Truyện ngắn đã trở thành một thể loại chủ yếu của văn học Việt Nam sau
1975, đặc biệt là từ sau 1986 Truyện ngắn không phải là thể loại duy nhất nhưng tập trung nhiều nhất yếu tố của một nền văn học đang đổi mới Truyện ngắn phát triển nhanh về số lượng, khởi sắc về chất lượng Chính sự phát triển vượt bậc này
đã tạo nên diện mạo phong phú và độc đáo của truyện ngắn hôm nay
1.2.1 Những tiền đề thúc đẩy quá trình đổi mới của truyện ngắn Việt Nam
Quá trình đổi mới của văn học từ 1986 đến 2000 nói chung và truyện ngắn nói riêng phụ thuộc vào những tiền đề sau
1.2.1 1 Hoàn cảnh đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang, ngày 30/04/1975 miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối Từ đây, đất nước bắt đầu một kỉ nguyên mới: độc lập, tư do; cả dân tộc hăm hở bắt tay vào công cuộc kiến thiết đất nước
Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, văn học tạm thời gác lại các chức năng khác, đồng thời hướng đến nhiệm vụ phục vụ chính trị Văn học được xem là một mặt trận và người nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy Nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 “như một tấm gương tinh thần của cuộc sống đất nước, có chung vận mệnh và đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử”[77, tr.47]
Từ sau 1975, bối cảnh lịch sử xã hội thay đổi, đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, “từ một cuộc sống với những qui luật không bình thường trong chiến tranh sang cuộc sống bình thường hàng ngày của nhân dân”[37, tr.371] Khi chiến tranh kết thúc, tính chất sử thi mờ nhạt dần, từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng thế sự đời tư, văn học đã có sự thay đổi lớn về tư duy và quan niệm nghệ thuật Văn học trở về với qui luật đời thường, quan tâm đến số phận, hạnh phúc cá
Trang 33nhân của con người Nhà văn không chỉ miêu tả con người công dân mà còn chú ý đến con người xã hội, con người tự nhiên
Công cuộc đổi mới trong văn học không phải diễn ra ngay lập tức và triệt để
mà trải qua hai chặng đường Thời kì 1975 – 1986, văn học theo đà trượt “quán tính” của văn học thời kì chống Mĩ cứu nước kéo dài đến đầu những năm 80 mới dần dần có chuyển biến, có thể xem mười năm đầu là giai đoạn chuyển mình, bắt đầu có sự thức tỉnh và đổi mới Đây là một chặng đường quan trọng chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kì hậu chiến
Từ năm 1986 đến nay, văn học Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) chủ trương đổi mới toàn diện, từng bước đưa nước
ta vượt qua thời kì khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, bền vững, tiến tới hội nhập với quốc tế Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực trong đó
có lĩnh vực văn hóa, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết 05(*) về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới” được Bộ Chính trị ban hành tháng 11/1987 đã thực sự “cởi trói”, tạo động lực mới cho đời sống văn học nghệ thuật Đây là thời điểm cần thiết để “Văn học nhìn vào chính nó là để thấy khuôn mặt thật của mình, ánh sáng thật của tâm hồn mình, đồng thời những khuyết tật ngay trên cơ thể mình Thật ra văn học thời nào mà chẳng suy nghĩ và tự phản tỉnh về chính mình Nhưng trong những thời điểm đặc biệt của lịch sử, khi có những biến chuyển
xã hội đánh động vào ý thức nghệ thuật, khi nền văn học đạt đến một độ chín nhất định về tư duy, thì văn học mới có đủ dũng cảm và khả năng nhìn thẳng vào chính mình và tự vấn về con đường đi của mình”[107, tr.43] Giờ đây, văn học không chỉ nhìn lại chính mình để đổi mới và phát triển mà văn học còn được “cởi trói” và
(*) Ngày 2 8/11/1987, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI chính thức
Trang 34được trả về đúng với vị trí và chức năng của nó Văn học là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…”[22, tr.2] Như vậy, từ 1986 trở đi là văn học thời kì đổi mới, đây là chặng đường mà văn học nước nhà phát triển nhanh, sôi nổi với những thể nghiệm, những cách tân táo bạo về phương diện nội dung lẫn nghệ thuật
1.2 1.2 Sự giao lưu quốc tế và hội nhập văn học thế giới
Giao lưu là nguyên tắc chung của sự phát triển trong xã hội hiện đại, giao lưu văn hóa là một bộ phận của giao lưu quốc tế Ngày nay, khi thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại cùng tồn tại hòa bình và tập trung nguồn lực quốc gia cho sự tăng trưởng kinh tế; cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, của truyền thông thì việc giao lưu văn hóa trên thế giới càng được mở rộng hơn bao giờ hết Khoảng cách, lằn ranh địa lí dần dần được thu hẹp, rút ngắn lại; con người, đặc biệt là giới trẻ và trí thức ngày càng thống nhất và gặp nhau trong cách nghĩ, lối sống và hành động
Năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, giao thương với các nước với phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước” Minh chứng cụ thể và sống động cho quá trình hội nhập và giao lưu ấy là Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1995, cùng năm đó chúng ta trở thành thành viên chính thức của khối ASEAN, năm 1998 chúng ta gia nhập APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương)… Do đó, văn hóa Việt Nam cũng có sự hòa nhập với văn hóa thế giới Trong điều kiện đó, Đảng đã xác định đường lối giao lưu văn hóa trong bối cảnh mới: “Phát triển văn hóa với nước ngoài, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hóa độc hại, bảo vệ nền văn hóa dân tộc”[15, tr.3]
Văn học thế giới phát triển ngày càng phong phú, đa dạng Nhiều trường phái, trào lưu văn học mới ra đời, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn học nói
Trang 35chung, văn học Việt Nam nói riêng Có thể kể ra như: Phân tâm học của S.Freud, Hiện tượng học của E.Husserl, trào lưu chủ nghĩa Hậu hiện đại, lý thuyết Nữ quyền… Xu thế hội nhập với văn học thế giới là một trong những tiền đề thúc đẩy quá trình đổi mới văn học Chính sự giao lưu rộng rãi với văn học thế giới, tiếp thu những thành tựu bên ngoài, cùng với đó là nỗ lực tìm tòi, sáng tạo của từng cá nhân Việc tiếp nhận các trường phái hiện đại và hậu hiện đại phương Tây làm cho văn học Việt Nam đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mỹ
Trong xu thế hội nhập, nhiều tác phẩm văn học đương đại của chúng ta được
dịch ra nhiều thứ tiếng như: Thời xa vắng của Lê Lựu, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, tập Truyện ngắn Việt Nam (gồm 10 truyện của nhiều tác giả) được dịch và giới thiệu ở Nhật; Phố của Chu Lai được dịch và xuất bản ở Pháp; tập truyện ngắn Tình yêu sau chiến tranh – Văn xuôi Việt
Nam đương đại được dịch và phát hành ở Mĩ…
Một số tác phẩm được nhận giải thưởng quốc tế như: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được trao giải thưởng của báo The Independent (Anh), Thiên sứ của
Phạm Thị Hoài nhận giải Literaturpeis 1993 tại Triển lãm sách báo quốc tế ở Frankfurt (Đức) Một số nhà văn được trao Giải thưởng Văn học Asean như: Tố Hữu (1996), Ma Văn Kháng (1998), Nguyễn Khải (2000), Nguyễn Đức Mậu (2001)… Đây là những thành tựu bước đầu ghi nhận sự nỗ lực và cố gắng của các nhà văn trong hành trình hội nhập với văn học thế giới, đồng thời khẳng định vị thế mới của văn học Việt Nam
1.2 1.3 Văn học chịu sự chi phối của qui luật đời thường
Từ sau 1975, chiến tranh kết thúc, bối cảnh xã hội thay đổi dẫn đến đời sống văn học cũng thay đổi theo hướng dân chủ hóa, chịu sự chi phối của qui luật đời thường Đại hội lần thứ VI của Đảng với tinh thần: “Đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào
sự thật” và Nghị quyết 05 của Bộ Chính Trị về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới” đã tạo cơ sở tư tưởng cho
xu hướng dân chủ hóa trong văn học phát triển mạnh mẽ Đời sống văn học trở nên
Trang 36sôi nổi; báo Văn nghệ đã trở thành diễn đàn, là nơi đăng tải các ý kiến tranh luận về văn học Cùng với không khí tranh luận, các nhà văn cũng được tự do sáng tác, nhà văn có thể thâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội và đời sống tinh thần của con người Nhiều lĩnh vực, đề tài trước đây bị cấm kỵ, né tránh nay được “khai phá” Hiện thực sôi động của cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho các cây bút thỏa sức khai vỡ Vấn đề đặt ra ở đây là các nhà văn “phải vắt kiệt mình ra mới làm nổi chính là việc ghi lại cái “thần” của đời sống mà mình đang chứng kiến, cái cảm quan của thời đại mà mình đang cọ xát”[107, tr.42]
Tâm lí tiếp nhận cũng có sự thay đổi, tư duy văn học cũ ngày càng trở nên không thích hợp, người đọc hôm nay có yêu cầu cao hơn, khắt khe hơn, nhu cầu mới hơn Điều này bắt buộc văn học phải bứt phá, phải thay đổi từ nội tại Nhà văn phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo, đổi mới, khẳng định phong cách, cá tính của mình
Cơ chế thị trường cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy văn học phát triển Văn học trở thành một sản phẩm hàng hóa, đòi hỏi người viết phải thỏa mãn thị hiếu của công chúng Thị trường in ấn và xuất bản sách văn học nghệ thuật từ
1986 đến 2000 thực sự bùng nổ Theo số liệu thống kê của Cục Xuất bản (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) thì năm 1994 cả nước có 36 nhà xuất bản, năm 1997 có 40 nhà xuất bản, năm 2000 tăng lên 43 nhà xuất bản Số lượng sách văn học nghệ thuật được xuất bản cũng tăng theo từng năm Năm 1986: 556 đầu sách, năm 1990: 888 đầu sách, năm 1995: 2104 đầu sách, năm 2000: 2610 đầu sách Văn học dịch cũng phát triển mạnh mẽ Theo thống kê năm 2000 có 564 đầu sách được dịch và xuất bản(*) Việc giới thiệu và phổ biến những tác phẩm có giá trị của nhiều nước khác nhau đã góp phần kích thích sự sáng tạo, tiếp nhận ở người viết và người đọc Có thể khẳng định thị trường văn học chưa bao giờ sôi động và phát triển mạnh mẽ như vậy
Từ sau 1986, văn học nước nhà có sự chuyển mình mạnh mẽ “Nó vừa phải đảm đương trách nhiệm xã hội mà công cuộc đổi mới gửi gắm qua tiếng nói của nó,
(*) Xem: Nguyễn Nghĩa Trọng, Thử nhận diện văn học ba mươi năm qua, in trong sách Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, 2006
Trang 37vừa phải đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống bình thường đặt ra, tức là viết về đời thường, về những mảnh vỡ của số phận… Nó vừa phải nghiền ngẫm về hiện thực vì hiện thực đang đặt ra những vấn đề không thể làm ngơ… Nó vừa không thể đứng ngoài cơ chế kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường không phải lúc nào cũng bất lợi đối với văn học và nhà văn, vừa phải giữ để không phải bị chìm đi, bị đánh mất mình…”[134, tr.149]
1.2.1.4 Báo chí với vai trò tạo đà cho công cuộc đổi mới văn học
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam xuyên suốt thế kỉ thứ XX, báo chí giữ vai trò và ảnh hưởng to lớn Riêng từ 1986 đến nay, báo chí được xem như là cú hích, là nguồn động lực quan trọng tạo đà, mở đường cho công cuộc đổi mới văn học
Theo thống kê, đến đầu năm 2000, nước ta có gần 700 tờ báo và tạp chí(*), bao gồm: báo in, báo hình, báo ảnh, báo nói, báo điện tử Ưu thế lớn nhất của báo là tính thời sự và diện phủ sóng rộng Báo chí đã đăng tải kịp thời một khối lượng tác phẩm văn chương đồ sộ Mảng văn học là một phần quan trọng của báo chí Ngoài các báo và tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu văn học, tạp chí Nhà văn, tạp chí Văn nghệ Quân đội, tạp chí Văn học nước ngoài, báo Văn nghệ… các báo khác và báo điện tử cũng dành nhiều “không gian” cho văn học bằng việc đăng tải những tác phẩm văn học, phê bình, nghiên cứu văn học
Những năm giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, báo chí trở thành một diễn đàn tranh luận sôi nổi bàn về công cuộc đổi mới văn học “Mối quan hệ giữa văn nghệ
và chính trị được thảo luận công khai trên báo chí Không khí ấy làm cho người cầm bút tự tin hơn trong những tìm tòi sáng tạo của mình khi viết về các vấn đề phức tạp của cuộc sống, mạnh dạn đưa ra những kiến giải của mình trước những tình huống, những sự kiện và tính cách được miêu tả trong tác phẩm”[134, tr.135] Bên cạnh đó, báo chí cho đăng tải hàng loạt phóng sự, tiểu thuyết, truyện ngắn thu hút sự chú ý của độc giả và gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi Cùng với đó là hàng loạt ý kiến, bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà văn cũng lần lượt được giới
(*) Xem: Nguyễn Nghĩa Trọng, Thử nhận diện văn học ba mươi năm qua, in trong sách Văn học Việt Nam
Trang 38thiệu Chính không khí sôi động và dân chủ đó, báo chí trở thành “điểm tựa tinh thần”, đồng thời lãnh trách nhiệm tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học
Cùng với việc cho đăng tải các tác phẩm văn học, những năm 90 của thế kỉ
XX, hàng loạt cuộc thi viết truyện ngắn do các báo, tạp chí tổ chức như: báo Văn nghệ, báo Tuổi trẻ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội… đã thu hút một số lượng lớn tác giả tham gia, từ những cây bút thâm niên cho đến những cây bút trẻ Phải thừa nhận chưa bao giờ không khí văn học lại sôi nổi như lúc bấy giờ Hàng trăm tác phẩm có giá trị được giới thiệu, nhiều tuyển tập truyện ngắn được xuất bản, nhiều cây bút trẻ sớm khẳng định tên tuổi bên cạnh những cây bút “gạo cội” của làng văn
Ngoài những sáng tác, báo chí còn cho đăng nhiều bài viết thuộc các lĩnh vực
lí luận phê bình, nghiên cứu văn học, dịch thuật… cả trong và ngoài nước Vừa tạo không khí dân chủ, vừa tăng cường giao lưu văn học, tạo môi trường thuận lợi để văn học Việt Nam nhanh chóng đổi mới tư duy trong sáng tạo nghệ thuật
Vai trò “phổ biến” văn học của báo chí còn được thể hiện ở chổ là báo chí hiện nay có nhu cầu vay mượn những tác phẩm văn học để chuyển thể thành các kịch bản truyền thanh, truyền hình, phim truyện Nhiều tác phẩm chuyển thể đã tạo nên tiếng vang lớn như: Sống ở đáy sông, Vợ chồng A Phủ, Làng Vũ Đại ngày ấy… Càng ngày càng có nhiều tác phẩm văn học được chuyển thể sang tác phẩm báo chí
Có thể khẳng định, báo chí đã sống cùng với văn học, đã thừa hưởng thành tựu to lớn và quí báu của văn học, kịp thời giới thiệu những tác phẩm hay đến với bạn đọc
“Dĩ nhiên, như một qui luật tất yếu, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, công cuộc đổi mới nền văn học dân tộc nhất định sẽ được tiến hành nhưng với sự đóng góp tích cực và đầy hiệu quả của báo chí, công cuộc đổi mới văn học đã diễn
ra nhanh chóng hơn, tốc độ hơn và đúng định hướng hơn”[77, tr.157]
Có thể xem đây là những tiền đề cơ sở đặt nền móng cho quá trình đổi mới của truyện ngắn nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Bên cạnh sự tác động của các yếu tố bên ngoài thì ngay trong tự thân của thể loại truyện ngắn cũng đặt ra yêu cầu đổi mới để thích ứng và phát triển
Trang 391.2.2 Sự đa dạng của lực lượng sáng tác
Truyện ngắn từ 1986 đến 2000 đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thay đổi diện mạo văn học nước nhà Việc tìm hiểu đội ngũ tác giả viết là cần thiết, từ đó có thể xác định được những đóng góp của họ cho sự phát triển của truyện ngắn hôm nay Đội ngũ sáng tác của văn học Việt Nam sau 1975 đa dạng, phong phú Riêng trong lĩnh vực truyện ngắn, có một dòng chảy liên tục với sự đồng hành của bốn thế hệ
Thế hệ thứ nhất là những nhà văn “tiền bối” như: Trang Thế Hy, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Anh Đức, Nguyễn Bản, Vũ Thị Thường… Đây là thế hệ chứng kiến đầy đủ những biến thiên dữ dội của lịch sử dân tộc Bản thân họ cũng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cả thời kì bao cấp và Đổi mới Thế hệ này tuy lớn tuổi nhưng một số nhà văn vẫn sáng tác đều đặn Họ viết theo phong cách cổ điển, tức là có sự hài hòa trong cấu trúc truyện, cốt truyện và tính cách nhân vật rõ ràng, câu văn trong sáng, giản dị Trong giai đoạn đầu của thời
kì đổi mới, một số nhà văn đã mạnh dạn tìm tòi đổi mới Tuy nhiên, càng về cuối họ càng tỏ ra bị “đuối”, thể hiện sự già nua và mỏi mệt Dù chưa thể khẳng định là đã thành công nhưng ít nhiều ghi nhận nỗ lực và đóng góp của họ Có thể kể đến như: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng …
Thế hệ thứ hai là những người có độ tuổi trên dưới năm mươi, thế hệ giữa 5X và đầu 6X như: Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Phạm Hoa, Phạm Thị Minh Thư, Tạ Duy Anh, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy… Đây được xem là đội ngũ đông đảo và sung sức nhất của văn học hôm nay
Họ trải nghiệm sâu sắc những khó khăn của đất nước thời hậu chiến, bao cấp và Đổi mới Phong cách viết của họ phóng khoáng hơn, không còn bị chi phối bởi “tư duy
cổ điển” Họ mạnh dạn tìm tòi, tiếp thu, thể nghiệm để tạo nên “một giọng điệu mới phù hợp với hoàn cảnh mới của thời cuộc, và để không quá xa cách hoặc xa lạ với những gì được xem là mới mẻ, tân kì trong văn chương thế giới”[75, tr.95] Đây được xem là thế hệ “nòng cốt”, có nhiều đóng góp vào quá trình đổi mới văn học cũng như “giữ nhịp” cho văn học Việt Nam hôm nay
Trang 40Thế hệ thứ ba (trên dưới bốn mươi tuổi) là lực lượng hùng hậu Họ có công
“nâng tầm vóc” truyện ngắn lên ngang tầm với các thể loại văn học khác như tiểu thuyết, thơ Đây hầu hết là những cái tên đã trở nên quen thuộc với độc giả khắp cả nước như Hồ Anh Thái, Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Ấm… Đây là thế hệ được đào tạo bài bản, có điều kiện tiếp thu tinh hoa văn học thế giới, cùng với sự năng động, và lối viết thông minh, táo bạo, sắc sảo, có khi tinh quái Nhờ thế mà sáng tác của họ giàu giọng điệu, sắc thái, giàu những cách biểu hiện nghệ thuật
Thế hệ thứ tư là đội ngũ những người viết sinh ra sau chiến tranh, có tuổi đời
và tuổi nghề còn trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Châu Giang, Văn Cầm Hải, Như Bình, Nguyễn Thị Phước, Đỗ Bích Thúy, Lưu Minh Sơn, Phong Điệp… Khát khao thể hiện mình, họ viết “khỏe” và táo bạo tìm hướng đi riêng của mình Đây được xem là “thế hệ đối ứng và đáp ứng trực tiếp và sâu xa nhất trước hiện thực hôm nay; thế hệ có thẩm quyền nói lên chính tiếng nói của cuộc sống hôm nay; thế
hệ không ai thay thế được họ, trong tư cách là người đại diện”[75, tr.98]
Những năm sau chiến tranh, đặc biệt là từ sau 1986, văn đàn chứng kiến sự xuất hiện sự đông đảo của các cây bút nữ Chỉ tính riêng thế hệ thứ ba và thứ tư thì
có đến 75% người viết truyện ngắn là nữ(*) Chính sự đông đảo về đội ngũ, sự phá cách và phong cách nghệ thuật rất riêng của các cây bút nữ đã góp phần tạo nên sắc màu mới cho truyện ngắn nữ nói riêng và truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới nói chung
Như vậy, truyện ngắn Việt Nam bước vào thế kỉ XXI với một đội ngũ hùng hậu, có sự đồng hành và tiếp nối của bốn thế hệ Sự nối tiếp các thế hệ tạo nên dòng chảy liên tục của văn xuôi đương đại nói chung và truyện ngắn nói riêng Điều này làm nên sắc thái riêng có của truyện ngắn giai đoạn này Đồng thời là hành trang, là niềm tin vào sự “đột phá” của truyện ngắn Việt Nam ở thế kỉ mới
(*) Xem: Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn hôm nay, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 1/2004