PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng: 7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Xuân Huệ
NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9
VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Xuân Huệ
NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9
VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số:603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khác nào
Tác giả luận văn Nguyễn Xuân Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc tác giả chân thành gửi lời cảm ơn đến:
• Phòng sau Đại học, khoa Tâm lý - giáo dục, Hội đồng Khoa học thuộc trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Quý thầy, cô tham gia
quản lý, giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
• PGS.TS Đoàn Văn Điều đã tận tình hướng dẫn cho tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này
• Sở giáo dục & Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng giáo dục & Đào tạo Quận 11 đã tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài
• Quý thầy, cô và các em học sinh lớp 9 của bốn trường Trung học cơ sở ở
Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh là:
- Trường Trung học cơ sở Nguyễn Minh Hoàng
- Trường Trung học cơ sở Phú Thọ
- Trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ
- Trường Trung học cơ sở Lê Anh Xuân
Giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
6 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 3
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.3 LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 26
1.4 ĐẶC ĐIỂM NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9 VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 41
2.1VÀI NÉT VỀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 41
2.2 KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9 VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 41
2.2.1 Thể thức và phương pháp nghiên cứu 41
2.2.2 Mẫu nghiên cứu 43
2.2.3 Kết quả nghiên cứu khảo sát trên giáo viên 45
Trang 72.2.4 Kết quả nghiên cứu khảo sát trên học sinh 57
2.2.5 So sánh kết quả nghiên cứu khảo sát giữa giáo viên và học sinh 70
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢNG DẠY VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO PHÙ HỢP VỚI HỌC SINH LỚP 9 79
3.1 Giáo dục sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên 79
3.2 Phân biệt giữa nam và nữ 80
3.3 Sự thay đổi của cơ thể tuổi mới lớn 84
3.4 Tình bạn, tình yêu, tình dục 90
3.5 Chăm sóc bản thân và làm chủ bản thân 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8B ảng 2.10 Đánh giá của học sinh về mức độ đúng của lý do giáo dục giới tính ở độ
tuổi của em………68
B ảng 2.11 So sánh đánh giá về mục đích của giáo dục giới tính trong nhà trường
giữa học sinh và giáo viên………70
B ảng 2.12 So sánh đánh giá về nội dung giáo dục giới tính được thực hiện trong nhà trường giữa học sinh và giáo viên 72
B ảng 2.13 So sánh đánh giá mức độ tiếp thu những nội dung giáo dục giới tính khi được truyền đạt giữa học sinh và giáo viên 73
Trang 9B ảng 2.14 So sánh đánh giá nội dung giáo dục giới tính khó đối với người học giữa
học sinh và giáo viên 74
B ảng 2.15 So sánh đánh giá mức độ đúng của lý do giáo dục giới tính ở độ tuổi Trung học cơ sở giữa học sinh và giáo viên 75
Trang 10M Ở ĐẦU 1.LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Tuổi thiếu niên là tuổi có nhiều biến đổi mạnh mẽ cả về thể chất và tinh thần, nhất là có những biến đổi về giới tính Tuổi các em phải chịu nhiều áp lực có tính xung năng, nhất là xung năng tính dục Phần nhiều các em ở lứa tuổi này luôn luôn băn khoăn, xao động về hình ảnh bản thân, có em rơi vào tình trạng lo lắng, hoang mang, mất phương hướng…
Ngày nay, hiện tượng quan hệ tình dục trước hôn nhân của tuổi thiếu niên đã trở thành vấn đề cần giải quyết, tỉ lệ nạo thai, hút thai, nhiễm bệnh qua đường tình dục của lứa tuổi này có xu hướng ngày càng tăng Nguyên nhân có thể do sự tiếp xúc phim ảnh, sách báo không phù hợp với lứa tuổi, sự thiếu kiến thức về giới tính Thực tế vấn đề giới tính, tình yêu, tình dục là vấn đề đang được đề cập rất nhiều, đặc biệt là vấn đề trẻ thiếu niên yêu sớm hay các em có hành vi, cử chỉ quá suồng sã, thiếu tế nhị không phù hợp với lứa tuổi Ở lứa tuổi lớp 9, các em đã có sự phát triển về sinh lý Các em thích tìm tòi, học hỏi những gì liên quan đến sự thay đổi của cơ thể mà kiến thức bên ngòai thì rất nhiều và đa dạng Hàng ngày các em tiếp xúc với nhiều điều tốt xen lẫn điều xấu, điều này bất lợi cho các em khi các em còn hạn chế hay thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính Thực trạng này không hoàn toàn do lỗi các em khi các em không được trang bị một cách đầy đủ, khoa học và chính thức các kiến thức về giới tính và giáo dục giới tính một cách phù hợp với lứa tuổi của mình
Gia đình và nhà trường là nơi quan trọng nhất để dạy cho các em hiểu biết về những kiến thức giới tính và giáo dục giới tính Thực tế, các bậc cha mẹ không hẳn
ai cũng có hiểu biết đầy đủ và khoa học về giới tính Nếu có hiểu biết thì họ cũng không dễ dàng gì đề cập vấn đề này với con cái Mặt khác, trong các nhà trường phổ thông hiện nay giáo dục giới tính chưa được xem là một môn học chính khóa
mà chỉ được thực hiện bằng cách lồng ghép vào một số môn học như: Giáo dục công dân, Sinh học, Đạo đức, kỹ năng sống, sinh hoạt tập thể và hầu hết sách giáo khoa đang được sử dụng có rất ít nội dung về giáo dục giới tính hay cả thầy, cô giáo
Trang 11cũng “ngại” khi đề cập đến vấn đề này Điều này, các em sẽ hạn chế trong nhận thức về giới tính, về giáo dục giới tính, hiểu biết lệch lạc mà gây ra không ít hệ quả đáng tiếc Vì thế, các em cần được học tập về những nội dung giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi để các em hiểu biết về chính bản thân mình, các em có ý thức hơn
về cách nghĩ và hành vi của mình, có quan điểm tích cực về tình dục, có trách nhiệm về những quyết định của chính mình Từ đó, các em biết định hướng những giá trị tốt cho bản thân
Từ thực tế trên, các trường Trung học nói chung và các trường Trung học cơ
sở nói riêng cần phải dạy và thực hiện đầy đủ hơn cho học sinh những kiến thức về giới tính, về giáo dục giới tính Đặc biệt là học sinh lớp 9 để các em nhận thức đúng
về giới tính, về giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi là vấn đề cần thiết Vậy, đề
tài nghiên cứu: “Nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính tại một số
trường Trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh” được nghiên cứu
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính, đề tài chỉ ra những hạn chế về nhận thức giáo dục giới tính của học sinh và đề xuất một số nội dung giảng dạy về giới tính và giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi các em
3 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống hóa những tài liệu có liên quan tới nhận thức về giáo dục giới tính làm cơ sở lý luận của đề tài
3.2 Khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính 3.3 Đề xuất một số nội dung giảng dạy về giáo dục giới tính cho phù hợp với học sinh lớp 9
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính
4.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 tại 4 trường Trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 125 GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 9 tại một số trường Trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh còn một số hạn chế về nhận thức giáo dục giới tính do nội dung giáo dục giới tính chưa phù hợp với lứa tuổi của các em Do đó, cần cung cấp những nội dunggiáo dục giới tính phù hợp để giúp các em nhận thức đầy đủ và đúng đắn về giới tính của mình
6 GI ỚI HẠN ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính theo nội dung quy định tại 4 trường: Trường Trung học cơ sở Nguyễn Minh Hoàng, trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ, trường Trung học cơ sở Lê Anh Xuân và trường Trung học cơ sở Phú Thọ ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài như: Nhận thức, giới tính, giáo dục giới tính, đặc điểm nhận thức của học sinh Trung học cơ sở
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến (là phương pháp chủ yếu)
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến (phiếu thăm dò ý kiến mở và phiếu thăm dò ý kiến đóng) đối với học sinh lớp 9, cán bộ quản lý, giáo viên tại 4 trường Trung học
cơ sở Nguyễn Minh Hoàng, trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ, trường Trung học
cơ sở Lê Anh Xuân và trường Trung học cơ sở Phú Thọ tại Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh
7.3 Phương pháp phỏng vấn
Gặp gỡ trò chuyện, trao đổi với Ban giám hiệu, giáo viên, học sinh về các vấn
đề liên quan đến đề tài
7.4 Phương pháp toán thống kê
Dùng phầm mềm thống kê SPSS for win phiên bản 13.0 để xử lý dữ liệu
Trang 13CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1L ịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Giáo dục giới tính là vấn đề được nhiều nước trên thế giới tiến hành nghiên cứu rất sớm Từ thế kỉ XX có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như: V.V Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki,…
Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề giáo dục giới tính và từ đó xem tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội [17, tr.5]
Từ những năm 30 của thế kỉ XX, giáo dục giới tính được nghiên cứu toàn diện hơn cả về nội dung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện như A.X Makarenko và V.A Sukhomlinxki đưa ra nhiều quan điểm khoa học về đời sống giới tính, tình yêu hôn nhân gia đình, quan tâm đến việc giáo dục giới tính, khẳng định vai trò cần thiết
và quan trọng của giáo dục giới tính cho con người, xem đó là một nội dung cần phải giáo dục cho học sinh Trong các bài giảng về giới tính A.X Makarenko cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình.” [21, tr.12]
Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ Tiểu học đến Trung học
Sau Thụy Điển là các nước Đông Âu như: Đức, Ba Lan, Hung, Tiệp và các nước Tây Âu, Bắc Âu khác, hầu hết các nước này đều coi giáo dục tình dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người và họ quan niệm rằng cần nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động của tình dục Chương trình giáo dục giới tính của họ rất đa dạng, các trường có thể tự chọn vấn đề phù hợp với đối tượng
tự học mà giảng dạy Nhà nước tận dụng các phương tiện truyền thông để tiến hành
Trang 14giáo dục giới tính Sau đó nhiều nước châu Mĩ, vùng Caribê cũng quan tâm đến giáo dục tình dục [17, tr.6]
Ngay từ năm 1959 nhiều tài liệu về giáo dục giới tính đã được biên soạn công phu như công trình của R Neubert “Sách nói về quan hệ vợ chồng”, của Z.Snabl
“Điều khó nói trong tình yêu”
Ở Châu Á, đối với nhiều nước xem vấn đề giáo dục giới tính vẫn còn là lĩnh vực “Cấm kỵ” xuất phát từ những quan niệm phong kiến và tôn giáo
Từ những năm 1960 vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành rộng rãi, được khẳng định và được nghiên cứu dần dần hoàn chỉnh với các nhà khoa học như: I.X Côn, V.A Sukhomlinxki…
Năm 1966 nhiều nước như: Ba Lan, Hunggary, Tiệp Khắc…đều đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc, còn ở Anh, Đan Mạnh, Thụy Điển, Mĩ đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh khá sớm
Năm 1968, Đại hội đồng Liên hiệp quốc bắt đầu có những hoạt động về giáo dục dân số trong từng khu vực và cũng làm nảy sinh yêu cầu giáo dục giới tính trong giáo dục dân số
“Từ những năm 1970, 1980 việc đưa giáo dục giới tính vào trường học bắt đầu được quan tâm thật sự và có bốn khuynh hướng về giáo dục giới tính xuất hiện đó là:
- Bắt buộc thực hiện ở các trường phổ thông như: Đan Mạnh, Thụy Điển, Đức, Tiệp Khắc…
- Hoan nghênh và bước đầu công nhận hợp pháp hóa như: Ba Lan, Thụy Sĩ, Pháp…
- Tán thành nhưng không hợp thức hóa về luật pháp như: Anh, Hà Lan…
- Không ngăn cấm nhưng cũng không phát triển như: Hy Lạp, Thổ Nhỉ Kỳ…Như vậy, giáo dục giới tính bắt đầu được một số nước đưa vào trường học.”
Trang 15Năm 1981 Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (cũ) đã ra chỉ thị cho tất cả các trường học trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính cho học sinh các cấp học [26, tr.10]
Riêng tại các nước Châu Á giáo dục giới tính cũng được thừa nhận là cần thiết
và cũng được thực hiện trong trường học ở các nước như: Trung Quốc, Nhật, Xingapo, Đài Loan, Philipin Riêng Philipin, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khóa của trường phổ thông cơ sở và trường Trung học phổ thông qua các giờ chính khóa, các hoạt động ngoại khóa theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Hoạt động giáo dục giới tính được nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm, cuốn hút học sinh và đạt hiệu quả cao [21, tr.15]
Năm 1984, Hội nghị quốc tế ở Mêhicô về kế hoạch hóa gia đình và giáo dục giới tính
Trong những năm 1984, 1986 các Hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình, giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục ở các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về nội dung, phương pháp trên những khía cạnh khác nhau như: Văn hóa, phong tục tập quán, định hướng giá trị về tình dục…nhưng tất cả đều thống nhất ở chổ là sự cần thiết phải giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ [17, tr.8]
Ngày nay, giáo dục giới tính ở các quốc gia trên thế giới phát triển rất nhiều như ở Châu Âu tháng 2 năm 2000 Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình Tại Đức, giáo dục giới tính không những được đưa vào trường học mà còn sử dụng cả hệ thống truyền thông để giáo dục
Trang 16Tại Mĩ hầu hết các trường học đều đưa giáo dục giới tính vào chương trình học của học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 Do những quy định khác nhau tại các Tiểu bang của Mĩ nên học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc hai kiểu là toàn diện kiến thức chung hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, về một vấn đề nào đó [http://www.xaluan.com, ngày 20.04.2008]
Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục giới tính, mặc dù tổ chức hoạt động có khác nhau, nhưng đều hướng đến phát triển nhân cách, xây dựng mối quan hệ lành mạnh và trách nhiệm giữa hai giới
1.1.2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhiều thập kỉ trước đây vấn đề giáo dục giới tính vẫn còn hạn chế bởi các phong tục, tập quán và được xem là điều “Cấm kỵ” do đó người ta cảm thấy khó nói về vấn đề tình dục, giới tính, giáo dục giới tính, nên việc nghiên cứu giáo dục giới tính hầu như “né tránh” và chưa được phổ biến
Từ những năm 1980, công tác giáo dục giới tính ở nước ta bắt đầu được quan tâm và được nghiên cứu trong một số các báo cáo khoa học giáo dục, các chuyên
đề, các bài nghiên cứu…
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân và gia đình và nuôi dạy con cái”
Từ năm 1985 những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố như: Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức…đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiều công trình nghiên cứu bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Những công
Trang 17trình này nêu lên rất nhiều vấn đề phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam [21, tr.15]
Trong năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với Công đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tính cho sinh viên các trường Đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ tuyên huấn ở các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở các Tỉnh phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính, trong đó khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Tuy nhiên nội dung giáo dục giới tính vẫn chưa thực sự thỏa mãn nhu cầu của nhiều người
Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục “Ba triệu
bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, giáo dục giới tính được đề cập đến việc giáo dục con cái ở lứa tuổi dậy thì Mặc dù vậy nó chỉ mang tính chất “phong trào” [17, tr.10]
Năm 1988 đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu là VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của chương trình Quỹ dân số Liên hiệp quốc (viết tắc là UNFPA) và UNESCO khu vực Đề án thực hiện với sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học như: Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, …đề án được nghiên cứu sâu, rộng các vấn đề sau:
- Quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh…ở nhiều nơi trong cả nước [21, tr.16]
Vào thập niên những năm 90 cùng với chương trình Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) về vấn đề bùng nổ dân số Đảng ta coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người và chủ trương thực hiện khuyến nghị của Hội nghị tư vấn khu vực về giáo dục dân số năm 1986 ở Bangkok, gồm 4 điểm:
- Giáo dục đời sống gia đình
- Giáo dục giới tính
Trang 18- Giáo dục tuổi già
- Giáo dục về đô thị hóa [17, tr.8]
Năm 1991, Bùi Ngọc Oánh đã nghiên cứu “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên học sinh” khẳng định tầm quan trọng của giáo dục giới tính, nêu lên một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh Trung học phổ thông
Năm 1996, Nguyễn Văn Phương đã nghiên cứu “Tìm hiểu nhận thức và sự quan tâm của học sinh phổ thông Trung học Thành phố Hồ Chí Minh về giáo dục giới tính” điều này làm phong phú thêm cho lĩnh vực nghiên cứu về giới tính Năm 1998, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu “nhận thức của sinh viên về tình yêu
và giới tính” đã công bố ở tạp chí Tâm lý học số 3/1998 đã có kết luận nhận thức của sinh viên về tình yêu
Năm 1999, Huỳnh Văn Sơn đã nghiên cứu “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh phổ thông trung học ở một số trường nội thành Thành phố Hồ Chí Minh đối với nội dung giáo dục giới tính”
Năm 1999, Võ Tường Vy đã nghiên cứu “ Nhận thức về các vấn đề giới tính của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”
Năm 1999, Nguyễn Bích Điểm đã nghiên cứu “Một số suy nghĩ về quan niệm tình dục của vị thành niên hiện nay đối với vấn đề tình dục”
Năm 2002, Đào Việt Cường đã nghiên cứu “Thực trạng và các biện pháp giáo dục giới tính cho học sinh trong một số trường trung học phổ thông ở Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh”
Năm 2007, Đỗ Hà Thế Bình đã nghiên cứu “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở tại Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp”
Các vấn đề nghiên cứu trên về giáo dục giới tính chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó Hiện nay, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính và vấn đề này là cần thiết, góp phần trong công tác giáo dục giới tính nói riêng và giáo dục nhân cách các em học sinh nói chung
Trang 191.2 M ỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
* Nhận thức
Theo Tự điển Bách khoa toàn thư: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như sau:
- Nhận thức cảm tính: Vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng
- Nhận thức lí tính: Vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lí
- Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai
Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà để cải tạo thế giới Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn Sự nhận thức là một quá trình vận động không ngừng, vì nó gắn liền với hoạt động thực tiễn Để tiến hành quá trình nhận thức, cần phải sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, trừu tượng hoá, khái quát hoá, vận dụng con đường nhận thức đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể”
Theo Từ điển Tâm lý học: “Nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu được những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó…” [4, tr.553]
* Giới tính
Khái niệm về giới
+ Giới là một khái niệm rất phức tạp, được nghiên cứu theo nhiều gốc độ khác nhau, và theo nhiều quan điểm khác nhau
- Giới có thể được hiểu theo mặt sinh học, là một tập hợp những đặc điểm sinh
lý cơ thể đặc trưng ở con người [21, tr.23]
Trang 20Những đặc điểm sinh lý cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lý cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục Ở con người có hai loại hệ cơ quan sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam
và hệ cơ quan sinh dục nữ, vì vậy lòai người có hai giới là giới nam và giới nữ
- Giới có thể được hiểu theo gốc độ xã hội, là những đặc điểm mà xã hội đã tạo nên ở người nam và người nữ là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ [21, tr.23] Giới xã hội thường bao gồm nhiều vấn đề như vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội
Vậy giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau [21, tr.23]
* Khái niệm về giới tính
+ Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác nhau như: Giới, tính dục, tình dục, sinh dục Nhiều người thường có quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc tính dục Đó là quan niệm chưa thực sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn
Theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng vì giới vừa bao gồm những thuộc tính
về sinh học và những thuộc tính về tâm lý xã hội, nên giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lý cơ thể và tâm lý xã hội
Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới, giúp ta phân biệt giới này và giới kia
Những đặc điểm sinh lý giới tính có thể là những đặc điểm sinh lý cơ thể như cấu trúc và chức năng của các bộ phận cơ thể, những trạng thái bệnh lý của các bộ phận sinh lý cơ thể ở nam và ở nữ và do mối quan hệ nam nữ tạo ra
Những đặc điểm giới tính cũng có thể là những đặc điểm về tâm lý, tính cách…
Trang 21Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia
Khi nói đến giới tính là đề cập đến tổng thể những đặc điểm sinh lý, tính cách, hành vi của từng giới, là toàn bộ những biểu hiện có thể quan sát được như cách ứng xử, nói năng, ăn mặc, sở thích Giới tính chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, nền văn hóa và thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội Mỗi cá thể khi được kết nạp vào cộng đồng xã hội đều đã thuộc về một giới sinh học nào đó (nam hay nữ), được cấu thành một giới tính tương ứng do
xã hội và nền văn hóa đó nhào nặn đảm nhận một vai trò, vị trí và có một giá trị nhất định trong xã hội
Do đó, giới tính là một đặc điểm nền tảng có tính chất sinh học – xã hội của con người Ý thức rằng mình thuộc giới nào ở mỗi cá nhân là kết quả của quá trình sinh học - xã hội phức tạp, liên kết thống nhất cả 3 mặt:
- Sự phát triển thể chất người;
- Sự xã hội hóa giới tính ngày càng sâu sắc;
- Sự phát triển tự nhận thức của con người
Vậy giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ [21, tr.29]
Khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ toàn diện về nhiều mặt như sinh lý và tâm lý, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn,
sự giao tiếp nam nữ…
Trang 22sắc thể X Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thụ tinh với trứng thì em bé sinh ra
sẽ là nữ (X+X) Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thụ tinh với trứng thì em bé sinh ra sẽ là nam (X+Y) Như vậy trong những điều kiện thông thường sự thụ tinh như vậy sẽ làm cho thai nhi có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hoặc nữ trong quá trình phát triển của nó Do cấu tạo khác nhau nên hoạt động sinh lý mỗi giới có những đặc điểm khác nhau Các tuyến sinh dục và các hormone tiết ra từ các tuyến này sẽ quy định những đặc điểm sinh lý cơ thể riêng biệt và các thành phần tạo nên
những nét tính cách đặc trưng cho mỗi giới
Trong quá trình phát triển của cơ thể, đặc biệt sự trưởng thành về sinh lý tạo nên những đặc điểm giới tính nhất định và đến một độ tuổi nhất định, tuyến sinh dục sẽ hoạt động và ngày càng hoạt động mạnh hơn cho đến thời kỳ trưởng thành (thời kỳ chín muồi tình dục) sẽ tạo nên những chức năng sinh lý đặc biệt của cơ thể như sự dậy thì, hoạt động tình dục, sinh sản…tuyến sinh dục ở người hình thành từ tuần thứ 8 trong đời sống ở tử cung nhưng mãi đến tuổi dậy thì (nam: 15 – 16 tuổi, nữ: 13 – 14 tuổi) thì mới hoạt động Đây là (tuổi chín muồi sinh dục), đánh dấu thời
kỳ bắt đầu khả năng sinh sản Như vậy tuyến sinh dục có vai trò rất lớn đối với việc tạo nên giới tính và cũng chính các tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) tạo nên
“giới tính đích thực” của con người vì chính nó phản ánh đặc trưng khả năng của tuyến sinh dục sản sinh ra tinh trùng hay trứng, cũng đồng thời tạo ra những hormone giới tính đặc thù và chính những hormone này ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc và sự phát triển các cơ quan sinh dục bên trong và bên ngoài cùng những đặc điểm giới tính phụ khác Từ đó, giúp cho con người có đầy đủ những chức năng thực sự của người nam hay người nữ
+ Nguồn gốc xã hội
Xã hội ảnh hưởng đến con người nhiều mặt:
- Xã hội quy định đánh giá con người theo những phẩm chất, đặc điểm, tư thế, tác phong riêng phù hợp giới tính Điều này thể hiện ở phong tục, tập quán, đạo đức
xã hội
- Xã hội quy định sự phân công lao động giữa nam và nữ khác nhau
Trang 23- Xã hội ảnh hưởng đến yếu tố có nguồn gốc sinh học Ngay cả bản năng tình dục cũng được xã hội nhìn nhận, đánh giá theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định
- Sự giáo dục của xã hội, của người lớn ảnh hưởng nhiều đến đặc điểm giới tính của con người
Giới tính còn được xác định bởi tâm lý, ý thức của chính bản thân mỗi người
và sự ý thức về giới này bị chi phối bởi nhiều yếu tố như:
• Sự nhận thức về những quy định của xã hội về giới của mỗi người
• Sự nhận thức những đánh giá của mọi người về giới của bản thân mình, làm cho mỗi người chú ý rèn luyện về những phẩm chất, đặc điểm mà mình cần có theo ý thức về giới của họ
• Sự nhận thức bản thân hoặc tự cảm nhận mình thuộc về giới nào và có những nhu cầu đặc trưng cho giới đó
• Sự tác động của những người xung quanh, chủ yếu là sự giáo dục của gia đình
và nhà trường
* Sự khác biệt giới tính
+ Sự khác biệt về mặt giải phẩu giữa nam và nữ
- Tầm vóc của phụ nữ thường nhỏ thấp hơn nam giới vì bộ xương của phụ nữ nhỏ hơn, xương chậu rộng và thấp, xương chân tay ngắn hơn
- Bề dày lớp mỡ dưới da của nữ giới bao giờ cũng ngắn hơn nam giới trong mọi lứa tuổi, da của nữ mỏng và mịn màng hơn nam giới
- Hầu hết kích thước của mặt ở nữ giới thường nhỏ hơn nam giới
- Sức cơ bắp của nam giới mạnh hơn nữ giới và khi về già tế bào não nam giới chết nhanh hơn là của nữ giới
- Tim của nam giới có khả năng bị vỡ động mạch vành gấp 2 lần tim của nữ giới, mạch máu của phụ nữ mềm mại hơn, dẻo dai hơn giúp cho phụ nữ có khả năng sống lâu hơn nam giới từ 3 đến 5 tuổi
- Cấu tạo và chức năng của hệ sinh dục nam giới hoàn toàn khác biệt với cấu tạo và chức năng của hệ sinh dục nữ giới Nguồn gốc của sự khác biệt này do nhiễm
Trang 24sắc thể khác nhau trong sự cấu thành của những tế bào sinh sản nên hoạt động tính dục của mỗi giới cũng khác nhau Các hormone sinh dục nam và nữ sẽ quy định tính cách đặc trưng của mỗi giới Đây chính là đặc điểm khác biệt quan trọng nhất quy định sự tồn tại riêng của mỗi giới
+ Sự khác biệt về tâm lý giữa nam và nữ
Những nét khác biệt tâm lý giới tính thường thấy:
- Vào tuổi dậy thì khuynh hướng vươn lên làm người lớn ở các em trai và các
em gái có khác nhau như:
Các em trai thường hướng tới sự tự khẳng định mình bằng sức mạnh, sự dũng cảm, sức dẻo dai chịu đựng, sự tự kiềm chế cảm xúc…
Các em gái tự khẳng định mình bằng sự trang điểm, làm dáng để trở nên hấp dẫn với người khác giới
- Bản chất của nam giới thường muốn tỏ ra dũng cảm, cường tráng, muốn tỏ rõ năng lực của mình so với người khác Vì thế con trai, đàn ông thường thích dấn thân vào chỗ nguy hiểm để tìm thấy sự thích thú của thành công Ngược lại, đàn bà, con gái thường tránh xa chỗ nguy hiểm và lo sợ, đa cảm dễ xúc động, khả năng tự kiềm chế cảm xúc ít hơn nam giới
- Phong cách sống của nữ giới bị ảnh hưởng bởi yếu tố gia đình, thiên chức làm vợ, làm mẹ bị chi phối nhiều hơn là nam giới Tính cách nữ giới thường cần cù, kiên nhẫn dễ thích ứng hoàn cảnh hơn nam giới, còn nam giới chủ động, cương quyết, xốc vác trong công việc
- Khả năng nhận định không gian hai chiều và vị trí trong không gian của nam giới tốt hơn của nữ giới nhưng khả năng biểu hiện tư duy bằng ngôn ngữ của nữ lại tốt hơn nam giới Thể lực, độ nhanh và sự phối hợp của các phản ứng đối với vận động thường nữ giới kém hơn nam giới
- Nhu cầu tình dục của nữ mang tính trọn vẹn hơn của nam giới ở nhiều mặt như trí tuệ, phẩm chất, sự cảm nhận sâu sắc, khả năng kinh tế
Thế nhưng, sự khác biệt này chỉ mang tính chất tương đối dù là có cơ sở thực
tế vì sự biểu hiện những đặc điểm ấy cũng không hoàn toàn chân thực và toàn diện
Trang 25Những đặc điểm đặc trưng của giới tính là điều vô cùng cần thiết ở mỗi con người, tuy nhiên, muốn có được những đặc điểm đặc trưng ấy không phải là dễ dàng mà đòi hỏi bản thân mỗi người phải trãi qua những yêu cầu nhất định [26, tr.27]
Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì như thế làm hoen ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, là không phù hợp với môi trường sư phạm, là “vẽ đường cho hưu chạy”
Gần đây việc nghiên cứu về giáo dục giới tính được xã hội quan tâm nhiều và được tiến hành một cách hệ thống, khoa học
Theo A.G Khrivcova, D.V.Kolexev, “ Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác” [21, tr.142]
Định nghĩa này thể hiện rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của giáo dục giới tính Cho thấy phạm vi của giáo dục giới tính không chỉ bó hẹp ở việc giáo dục mối quan hệ giữa nam và nữ mà bao gồm cả việc giáo dục những mối quan hệ nam nữ trong đời sống cũng như học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí…Giáo dục cho con người biết rèn luyện những phẩm chất giới tính nhằm phát huy thế mạnh của giới tính
Theo Bách khoa toàn thư Y học phổ thông – Pêtrôpxki chủ biên “Giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp Y khoa và Sư phạm nhằm giáo dục cho nhi
Trang 26đồng, thanh niên và thiếu niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính”[17, tr.15]
Định nghĩa này ngoài góc độ giáo dục còn đứng ở góc độ Y học để xem xét nội dung giáo dục giới tính, giúp thế hệ trẻ biết bảo vệ sức khỏe của chính mình và những người khác trong quan hệ nam nữ
Theo Từ điển Bách khoa về giáo dục: “Giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính Điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học, từ Nhà trẻ đến Đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính”[17, tr.15]
Định nghĩa này nêu được bản chất của công tác giáo dục giới tính Đó là sự định hướng cho thế hệ trẻ cách sống đúng đắn của con người có giới tính Ngoài ra, còn đề cập đến vai trò của các cơ quan giáo dục, của nhà trường là nơi có đủ điều kiện thuận lợi trong việc truyền thụ cho thế hệ trẻ những kiến thức giới tính một cách hệ thống Như vậy, theo định nghĩa này thể hiện rõ ràng mục đích, hình thức, đối tượng của giáo dục giới tính
Theo Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài cho rằng giáo dục giới tính “Là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em”[21, tr.142]
Theo Phạm Hoàng Gia “Giáo dục giới tính phải được xem xét như là một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệ mật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, hôn nhân – gia đình và với các mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy cần phải tiến hành công tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác”
Theo các quan niệm trên giáo dục giới tính là bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục nhân cách, giáo dục con người mới, kết hợp một cách hữu cơ
Trang 27hài hòa sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác
Như vậy, giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện
để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển.”
+ Mục tiêu giáo dục giới tính
Mục đích chung nhất của giáo dục giới tính trong mọi lứa tuổi là giáo dục nhân cách phù hợp với giới tính và lứa tuổi của mỗi cá nhân, trong đó mục tiêu cao nhất là xây dựng mối quan hệ nhân văn và có trách nhiệm giữa hai giới, hay nói cách khác là xây dựng lối sống lành mạnh trong quan hệ giữa những người khác giới Sự hình thành và phát triển nhân cách cùng các mối quan hệ của con người bị chi phối và ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học, tâm lý, tính dục, tinh thần, môi trường, truyền thống văn hoá xã hội [1, tr.8]
Theo G.I Gheraximovic và D.V Kolexev, giáo dục giới tính phải giúp cho thế
hệ trẻ em làm chủ được văn hóa đạo đức trong lĩnh vực các quan hệ qua lại giữa hai giới và làm cho họ có được nhu cầu và nguyện vọng tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức trong các mối quan hệ ấy Việc tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức trong lĩnh vực các quan hệ giữa hai giới sẽ góp phần quan trọng đối với xã hội, thể hiện :
- Mức độ cao của sức khỏe thể chất và tinh thần của mỗi công dân
- Nếp sống văn hóa, văn minh lành mạnh, bình đẳng nam nữ, cư xử lịch sự với người khác giới và với mọi người trong xã hội
- Con người có tình yêu hạnh phúc, gia đình bền vững và phát triển, làm tròn nhiệm vụ sinh con và giáo dục chúng trở nên những thành viên xứng đáng của xã hội
- Bầu không khí xã hội thuận lợi nhờ mọi công dân đều biết các đặc điểm giới tính đặc thù của những người khác giới (đặc điểm về thể lực, tinh thần, xúc cảm, cá tính…) và tôn trọng những đặc điểm đó trong quá trình hoạt động chung
Trang 28Theo đó, giáo dục giới tính góp phần giáo dục sức khỏe, chống lại các bệnh tật, nhất là đường tình dục, giáo dục về tính dục, giáo dục về tình yêu, hôn nhân và gia đình, về sự sinh sản, giáo dục thái độ tôn trọng với những người khác giới Theo
Hồ Đắc Duy mục tiêu của giáo dục giới tính là:
- Dạy cho con người biết các bí quyết của sự hoà hợp giữa âm và dương, biết các khái niệm thế nào là nam thế nào là nữ (giới tính), khái niệm về tính dục và nhân cách, để cho con người phát triển một cách toàn diện
- Dạy cho con người có đạo đức và hành vi lành mạnh, xây dựng một nhân cách phù hợp với mong muốn của xã hội và hình thành mối quan hệ có trách nhiệm trong tình bạn cũng như tình yêu
Như vậy, mục tiêu cụ thể của giáo dục giới tính là:
- Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ và quan niệm đúng đắn về những hiện tượng và đời sống giới tính, sinh lý tình dục, về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ cơ quan sinh dục, về sự
cư xử đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với mọi người, với người khác giới,
về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mĩ giới tính, tình yêu, hôn nhân và đời sống gia đình…
- Giúp các em có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho người bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi lại những cạm bẫy, quyến rũ của lối sống không lành mạnh, biết phê phán, bác bỏ những quan niệm không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệ tình dục quá sớm hoặc buông xuôi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi, yêu nhau, bỏ nhau quá dễ dàng
- Giúp các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng liêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thủy, biết được cái hay, cái đẹp của nếp sống văn hóa văn minh
- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họ phát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội phát triển giàu mạnh [2, tr.21-22]
Trang 29+ Mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở
- Hình thành ở các em những hiểu biết đúng đắn về bản chất và tâm thế đạo đức trong các quan hệ qua lại giữa hai giới
- Hình thành ở các em nhu cầu hành động theo các tiêu chuẩn và tâm thế đó trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động, từ đó hướng vào việc làm cho các em: Hiểu được ý nghĩa xã hội của các mối quan hệ qua lại giữa bạn thân và người khác giới Biết được cách giải quyết đúng đắn, hợp đạo đức các vấn đề cụ thể có liên quan đến các mối liên hệ qua lại trên Kiên định trước những lôi cuốn tình dục không chính đáng, phản đối những thái độ không đúng đắn trong quan hệ với người khác giới [5, tr.59-60]
+ Nội dung giáo dục giới tính
Theo G.I Gheraximovic, nội dung giáo dục giới tính có thể bao gồm các vấn đề:
- Các vấn đề liên quan đến thuộc tính về giới của trẻ, đến ý nghĩa của thuộc tính này đối với cá nhân và đối với xã hội
- Các vấn đề của gia đình và của các quan hệ trong gia đình, ý nghĩa của các vấn đề đối với trẻ, cũng như đối với toàn xã hội
- Các vấn đề của việc trẻ ra đời và tính kế tục của các thế hệ
- Các vấn đề thuộc đạo đức giới tính
Trang 30- Những đặc điểm hoạt động của đối tượng giáo dục cùng những đặc điểm hành vi của chúng và những mối quan hệ qua lại giữa chúng với những người cùng giới và những người khác giới
- Mức độ trưởng thành về thể chất và tinh thần của đối tượng Những đặc điểm biến đổi sinh lý cơ thể của trẻ
- Quy luật chung của việc hình thành tập thể lớp và những đặc điểm cụ thể của lớp học
- Những đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình, đối tượng giáo dục và ảnh hưởng của nó đến việc giáo dục trẻ [17,tr.26]
Theo Trần Trọng Thủy cũng xác định nội dung giáo dục giới tính bao gồm những vấn đề về tình dục, sự biến đổi về đặc điểm tính dục trong các giai đoạn phát triển cơ thể kể cả hiện tượng kinh nguyệt, mộng tinh, chế độ vệ sinh kinh nguyệt, những rối loạn của đời sống tính dục, vấn đề tình dục…những vấn đề về tình yêu, hôn nhân, đời sống gia đình, những mối quan hệ giữa nam và nữ, sự cư xử đối với nhau trong đời sống và trong gia đình, những tri thức khoa học cũng như thái độ chung của con người về các vấn đề đó, nhất là cách xây dựng gia đình hạnh phúc, quan hệ của đời sống tính dục nói chung, quan hệ của vợ chồng nói riêng, với đời sống tâm lý, xã hội, với tình cảm và nhân cách
Theo Phạm Hoàng Gia và tác giả Minh Đức, nội dung giáo dục giới tính cho con người phải: “Tùy theo các đặc điểm lứa tuổi, trình độ cấp học…cũng như sự trưởng thành về cuộc sống gia đình, nhưng cũng phải bảo đảm những vấn đề chủ yếu như: Vấn đề tình bạn khác giới và tình yêu, quan hệ cư xử, tình dục trong tình yêu, những biểu hiện về tâm sinh lý giới tính, những đặc điểm về tình dục, về vệ sinh giới tính, bệnh lý giới tính, những vấn đề tính dục, hôn nhân, sinh sản, hạnh phúc gia đình, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục con cái, dân số học…
Theo Lê Năng An “ Nội dung giáo dục giới tính khá rộng, đề cập tới các vấn
đề những đặc điểm của tuổi thơ, tuổi thanh niên, giới nam và giới nữ, để chuẩn bị cho cuộc sống gia đình, mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn, giữa trẻ em với nhau, đặc điểm tâm lý của giới nam và giới nữ”
Trang 31Tóm lại, nội dung giáo dục giới tính có thể bao gồm các vấn đề sau:
+ Đặc điểm tâm sinh lý con người có những đặc điểm về sinh lý tính dục, với những hiện tượng điển hình như sự phát triển sinh lý cơ thể, chiều cao, cân nặng, cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan sinh dục, đời sống tình dục, kinh nguyệt, sinh nở, cho con bú, những kiến thức về sức khỏe, sinh đẻ có kế hoạch, các bệnh thông thường và bệnh liên quan đến đường tình dục (sức khỏe sinh sản)…
+ Đặc điểm giới tính về đạo đức, xã hội, thẩm mỹ như cách cư xử với mọi người, với bạn khác giới, tác phong tư thế, phẩm chất đạo đức theo giới tính, quan niệm về cái đẹp, sự rèn luyện để tạo nên cái đẹp chân chính và vững bền, vấn đề chọn nghề, những vấn đề quan hệ xã hội, pháp luật liên quan đến cuộc sống gia đình như luật hôn nhân gia đình, trách nhiệm của con người trong gia đình và xã hội, phương hướng rèn luyện của con người về mặt giới tính, những đặc điểm về đời sống tâm lý con người, tâm lý giới tính theo lứa tuổi…
+ Những vấn đề về quan hệ bạn khác giới và tình yêu nam nữ như: Bản chất của tình yêu, sự cư xử trong tình yêu, quy luật của tình yêu, xây dựng tình bạn, tình yêu chân chính…
+ Những vấn đề về hôn nhân và đời sống gia đình như bản chất của hôn nhân, điều kiện để có hôn nhân hạnh phúc, cuộc sống gia đình, sự chuẩn bị cho cuộc sống gia đình, cách xây dựng một gia đình hạnh phúc
Những nội dung trên cần được thực hiện theo hình thức tổ chức giáo dục thích hợp cho những đối tượng thích hợp và theo từng điều kiện hoàn cảnh thích hợp [20, tr.155-156]
Ngày nay, việc giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông càng trở nên cần thiết và quan trọng, việc xác định chương trình nội dung giáo dục giới tính phù hợp với phong tục tập quán, dư luận xã hội và nhất là phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông có ý nghĩa rất to lớn Nhiều công trình nghiên cứu đều thống nhất rằng cần có chương trình giáo dục giới tính theo từng lứa tuổi, từng cấp học, cụ thể theo các lứa tuổi sau:
- Nội dung giáo dục giới tính cho trẻ em trước tuổi đi học
Trang 32- Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi học sinh Tiểu học
- Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở
- Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
- Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi thanh niên trưởng thành
- Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi người lớn
Bùi Ngọc Oánh đã xây dựng chương trình giáo dục giới tính cụ thể cho học sinh phổ thông, bao gồm các vấn đề sau:
- Đặc điểm sinh lý giới tính
- Đời sống tâm lý giới tính con người
- Thanh niên và đời sống đạo đức xã hội theo giới tính
- Vẻ đẹp và cách làm đẹp ở thanh niên
- Giao tiếp trong tình bạn và tình bạn khác giới
- Tình yêu và việc xây dựng tình yêu chân chính
- Hôn nhân và đời sống gia đình
- Sự bùng nổ dân số và kế hoạch hóa dân số
- Những tri thức quan trọng trong việc thực hiện “kế hoạch hóa gia đình”
- Những bệnh lây qua đường tình dục và cách phòng tránh [21, tr.157]
+ Nội dung giáo dục giới tính ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở
Theo Nguyễn Hữu Dũng nội dung giáo dục giới tính ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở bao gồm những vấn đề sau:
- Góp phần giáo dục nhân cách lành mạnh của nam và nữ
- Góp phần làm cho nhận thức và hành động phù hợp với những đặc điểm sinh
lý và tâm lý của giới mình, với những chuẩn mực đạo đức của xã hội
- Nhờ đó thiết lập được các mối quan hệ thuận lợi với giới mình và giới kia trong mọi lĩnh vực của đời sống
Như vậy, nội dung giáo dục giới tính ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở bao gồm những yếu tố sau:
+ Những kiến thức về giới và về giới tính
+ Những đặc điểm giới tính về cơ chế và về tâm lý
Trang 33+ Những kiến thức về tình bạn (cùng giới và khác giới), về tình yêu, về hôn nhân và gia đình
+ Hình thành ở các em thái độ đúng đắn, thân mật với bạn khác giới, dạy các
em cách ứng xử với bạn cùng giới hoặc khác giới [5, tr.61]
Chương trình quốc gia nghiên cứu về giáo dục giới tính và đời sống gia đình
đã xây dựng chương trình giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở và học sinh phổ thông, trước hết, tập trung vào lứa tuổi học sinh lớp 9 đến lớp 12
* Nội dung chương trình giáo dục giới tính cho học sinh lớp 9 bao gồm các chủ điểm sau:
+ Giới tính và sự khác biệt nam nữ
+ Những biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì
+ Những biến đổi tâm lý ở tuổi dậy thì
+ Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nam
+ Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nữ
+ Hiện tượng kinh nguyệt
+ Sự thụ thai và phát triển thai
+ Gia đình
+ Các mối quan hệ gia đình [21, tr.159-160]
* Phương pháp giáo dục giới tính
Sự lựa chọn hình thức, phương pháp giáo dục giới tính phụ thuộc vào lứa tuổi
và mức độ phát triển trí tuệ, phát triển tâm lý của đối tượng giáo dục, phụ thuộc vào nội dung của vấn đề cần giáo dục
Giới tính là một bộ phận của nhân cách nên về cơ bản người ta vẫn sử dụng các nhóm phương pháp giáo dục nhân cách trong quá trình giáo dục giới tính Đó là:
- Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân (diễn giảng, trò chuyện, tranh luận, nêu gương, thuyết phục)
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động để tích lũy kinh nghiệm ứng xử xã hội; phương pháp tạo tình huống giáo dục; phương pháp rèn luyện theo chế độ sinh
Trang 34hoạt; phương pháp luyện tập đạt đến thói quen; phương pháp sinh hoạt tập thể; tạo
dư luận xã hội…
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi qua khen thưởng và trách phạt Đồng thời sử dụng các phương pháp dạy học thông thường Tuy nhiên giáo dục giới tính cũng có những đặc trưng riêng của nó Đó là tính thực tiễn của đời thường, trong giáo dục giới tính cần đến là những vấn đề cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của con người Vì thế, cùng với việc sử dụng những phương pháp dạy học và giáo dục chung, giáo dục giới tính cũng có những thủ pháp riêng nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục giới tính [17, tr.127]
+ Phương pháp giáo dục giới tính ở Trung học cơ sở
Một trong những nhiệm vụ của giáo dục giới tính là hình thành ý thức (khái niệm, phán đoán, niềm tin) cho học sinh Trung học cơ sở về những vấn đề có quan
hệ đến giới và các mối quan hệ giữa những người ở các giới khác nhau về giới tính
và vai trò của chúng trong cuộc sống xã hội
Cần lựa chọn và sử dụng những phương pháp như diễn giảng, đàm thoại, tranh luận…có tác động đưa lý luận vào ý thức của học sinh và khái quát những kinh nghiệm, những hành vi, những sự ứng xử của học sinh Các phương pháp này phải làm cho học sinh biết tự mình phân tích và tổng kết kinh nghiệm ứng xử đối với người khác giới, đối với những vấn đề về giới của bản thân và của bạn bè Biết tự nhận thức, tự đánh giá và biết bảo vệ những quan điểm, niềm tin và nguyên tắc mình đã tự xây dựng
Giáo dục giới tính không chỉ ở việc trang bị những tri thức về giới, về giới tính
và mối quan hệ giữa những người khác giới mà còn cần làm chuyển biến thái độ, hành vi của học sinh
Vì vậy, trong khi lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục để giáo dục giới tính, cần chú ý đến các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và tích lũy kinh nghiệm ứng xử xã hội của học sinh Đó là những phương pháp đòi hỏi sư phạm, tạo dư luận xã hội, tập thói quen, rèn luyện và tạo tình huống giáo dục Sử dụng những phương pháp này chính là tổ chức và lôi cuốn học sinh vào hoạt động
Trang 35và giao lưu, từ đó các em tích lũy được những kinh nghiệm ứng xử với bạn bè khác giới, vận dụng vào thực tiễn giao lưu với bạn khác giới những hiểu biết đã lĩnh hội được [5, tr 66-67]
1.3 LÝ LU ẬN VỀ NHẬN THỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
Con người sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con người phải nhận
thức, bày tỏ thái độ và hành động của mình với thế giới khách quan
Nhận thức là một quá trình được xảy ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ mơ hồ đến sâu sắc Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan, những hình ảnh tâm lý sẽ giúp con người hiểu biết hiện thực xung quanh, hiểu biết chính mình một cách sâu sắc nhất
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động) Nhận thức là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẻ với chúng cũng như với các hiện tượng tâm lí khác Hoạt động nhận thức là hoạt động mà trong kết quả của nó, con người có được các tri thức (hiểu biết) về thế giới xung quanh, về chính bản thân mình để tỏ thái độ và tiến hành các hoạt động khác một cách có hiệu quả
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách quan
ở những mức độ khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm…)
Trong hoạt động nhận thức của con người, các mức độ này có quan hệ chặt chẻ và tác động lẫn nhau Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
1.3.1 Các m ức độ của nhận thức
* Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề
Trang 36ngoài, cụ thể của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người
Nhận thức cảm tính gồm hai mức độ: Cảm giác và tri giác
+ Cảm giác: Là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự
vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [36, tr.74]
+ Tri giác: Là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [36, tr.83]
Nhận thức cảm tính rất quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ tâm lý của
cơ thể với môi trường, định hướng và điều chỉnh hoạt động của con người trong môi trường hiện thực khách quan
* Nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính
là quá trình nhận thức để có kết quả, là hiểu được vấn đề chứ không chỉ dừng lại ở mức độ biết bên ngoài, là sự phản ánh những vấn đề thuộc về bản chất, là mức độ cao của quá trình tìm, biết và hiểu vấn đề
Nhận thức lý tính gồm hai mức độ: Tư duy và tưởng tượng
+ Tư duy: Là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết [36, tr.92]
+ Tưởng tượng: Là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có
trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có [36, tr.104]
Nhận thức lý tính vô cùng quan trọng trong việc hiểu biết bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng tạo điều kiện để con người làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình
Hoạt động nhận thức giúp con người phản ánh những thuộc tính bề ngoài và những thuộc tính bên trong bản chất của sự vật, hiện tượng Như vậy hoạt động
Trang 37nhận thức giúp con người hiểu biết về thế giới khách quan mà sự hiểu biết này có được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau như:
+ Cấp độ 1: Là mức độ nhận thức thấp, nắm được các dấu hiệu bên ngoài của khái niệm nhưng chưa có khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống, những hiện tượng Biểu hiện của cấp độ này là nhận ra vấn đề, nhận biết được hình thức bên ngoài của khái niệm, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể
+ Cấp độ 2: Nắm được một số thuộc tính bản chất, nắm được khái niệm sự vật, hiện tượng nhưng chưa biết giải quyết được vấn đề
+ Cấp độ 3: Một khi đã nắm vững và hiểu sâu được bản chất, thuộc tính bên trong của khái niệm và dùng các khái niệm để giải quyết được những vấn đề, tình huống phức tạp [26,tr.18]
Kết quả của nhận thức chính là quá trình tiếp thu tri thức Tri thức là yếu tố cần thiết đối với tất cả mọi người, có tri thức con người có thể định hướng nhận thức, thái độ, hành vi một cách phù hợp và tốt nhất
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: “Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống kí hiệu khác” Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, tri thức được hiểu là: "Những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật nói chung"
Có nhiều loại tri thức khác nhau như:
- Tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân và mang tính chất cảm tính trực tiếp, bề ngoài và rời rạc
- Tri thức khoa học : Những hiểu biết có hệ thống về các quy luật khách quan của thế giới (tự nhiên và xã hội) Tri thức khoa học phản ánh trình độ cao của con người đi sâu nhận thức đối tượng nhằm vạch ra bản chất của đối tượng Tri thức khoa học được chia thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận
Trang 38+ Tri thức kinh nghiệm bao gồm những hiểu biết được tích luỹ từ thực tiễn cuộc sống do quan sát, mô tả, thực nghiệm mang lại
+ Tri thức lí luận là kết quả của sự khái quát hoá những tri thức kinh nghiệm (những tài liệu kinh nghiệm, kết quả thực nghiệm) để xây dựng các hệ thống lí luận phản ánh những mối liên hệ tất yếu, cơ bản của sự vật, hiện tượng hay lớp sự vật, hiện tượng
Tri thức tồn tại trên vật mang nó (sách, tạp chí, đĩa mềm, dòng tín hiệu…) Tri thức không bị mất đi hoặc mất giá trị khi sử dụng, tri thức có thể chia sẻ cho nhiều người, được sử dụng một lúc Tri thức càng được sử dụng nhiều thì giá trị càng tăng
Tri thức luôn đi đến những nơi có nhu cầu cao nhất và rào cản ít nhất Tri thức
là nhân tố tạo nên các nền văn minh, làm nên cuộc cách mạng công nghiệp (vận dụng tri thức để chế tạo máy móc); Cách mạng quản lý (vận dụng tri thức trong tổ chức lao động) và cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại ngày nay Tri thức với nghĩa là những hiểu biết của con người về thế giới khách quan và về chính bản thân con người rất phong phú và đa dạng bao gồm kinh nghiệm sống, các quan niệm, các nhận thức quy luật khoa học…Phân loại tri thức có thể được thực hiện theo các lĩnh vực nhận thức, các ngành khoa học…Tuy nhiên, hệ thống tri thức bao gồm các thành tố cơ bản sau:
- Tri lý: Các quy luật, nguyên lý, khái niệm khoa học…
- Tri sự: Các hiểu biết về các sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, thực tiễn cuộc sống…
- Tri hành: Các tri thức hướng dẫn hành động như quy trình, hướng dẫn, các chuẩn mức…
- Tri nhân: Hiểu biết về con người, quan hệ xã hội, hệ thống giá trị [8, tr.136]
1.3.2 M ối quan hệ giữa học tập và nhận thức
Trong quá trình nhận thức, học tập là một quá trình nhận thức và hành động của người học nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển các kỹ năng trí tuệ và hành động trong một lĩnh vực cụ thể (khoa học, công nghệ, xã hội hoặc
Trang 39nghề nghiệp) góp phần hình thành và phát triển nhân cách, tạo ra thái độ và giá trị đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội [8, tr.136]
Chính sự học tập đem lại cho con người nhiều kiến thức, tri thức hay tri thức chính là kết quả học tập của con người
Sự học tập là sự biến đổi hoạt động vững chắc hợp lý nhờ một hoạt động xảy
ra trước đó, chứ không phải do các phản ứng sinh học bẩm sinh của cơ thể [36, tr.148]
Ở cấp độ nhận thức sự học tập tạo nên những quá trình phát hiện, phân tích, lựa chọn, khái quát và cố định các thuộc tính, các mối quan hệ cơ bản của đối tượng hoạt động, cũng như tạo nên các hành động sử dụng các thuộc tính và các mối quan
Sự học tập đã làm cho quá trình nhận thức của con người không chỉ phát hiện
ra thuộc tính bề ngoài, mà còn cả những thuộc tính bên trong, các quan hệ chức năng, logic và các giá trị của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, nó mở rộng phạm vi của nhận thức, tạo nên những phương thức phản ánh mới, hiệu quả, làm cho nội dung nhận thức phong phú, đa dạng, làm tăng hiệu quả, chất lượng của nhận thức và làm cho nhận thức ngày càng tiến lại gần hơn với chân lý khoa học, chân lý khách quan tạo cơ sở vững chắc cho việc định hướng, chỉ đạo hành động và các loại tâm trí của con người
Trang 40Trong thực tế, sự học tập và nhận thức không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẻ nhau, đan xen vào nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau Sự học và nhận thức vừa
là cơ sở, vừa là điều kiện, phương tiện hình thành và phát triển của nhau
* Các yếu tố của học tập ảnh hưởng đến nhận thức
Để có thể tồn tại, thích nghi và phát triển con người đều phải học, phải nhận thức mọi vấn đề, từ đó con người thay đổi hành vi hoạt động của mình cho phù hợp
để giải quyết các nhiệm vụ do hoàn cảnh sống đặt ra Tuy nhiên các yếu tố của sự học tập cũng ảnh hưởng đến nhận thức của con người
+ Yếu tố nội dung
Nội dung học tập là cái mà người học tác động vào nó, phải tiếp nhận và làm việc với nó trong quá trình dạy học [20, tr.96]
Con người không chỉ phát hiện ra những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng mà còn đưa vào hành vi và hoạt động của mình những quan hệ vật lý, mà còn
cả những quan hệ logíc, những quan hệ chức năng và những quan hệ giá trị của sự vật, hiện tượng Những mối quan hệ này thể hiện ở hình thức phản ánh khái niệm Như vậy, con người cần phải học tập các khái niệm, tức là nắm lấy tri thức mà loài người đã tích lũy lại trong suốt quá trình phát triển lịch sử loài người Chính việc học tập các khái niệm này đòi hỏi con người phải học cách tư duy Mục đích cuối cùng của tư duy là để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống xã hội đề ra, do đó con người cần phải vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tế, tức con người cần phải học các kỹ năng và luyện tập các kỹ xão Như vậy, nội dung học của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp
+ Yếu tố phương tiện
Phương tiện của sự học tập ở con người diễn ra nhờ vào quan sát, những kinh nghiệm đã tích lũy được trong đời sống cá thể và đặc biệt ngôn ngữ là phương tiện học tập quan trọng nhờ đó mà con người tư duy để giải quyết các nhiệm vụ học tập Ngôn ngữ như là một phương tiện thể hiện khái niệm đã làm cho sự học của con người thoát khỏi sự ràng buộc với những kinh nghiệm cảm tính và cho phép đưa vào sự học tập những mối quan hệ, liên hệ chung, trừu tượng của sự vật, hiện tượng