Sóc Trăng là tỉnh nằm trên hạ lưu Sông Hậu, có điều kiện tự nhiên điển hình của vùng ĐBSCL, một miền đất được hình thành và phát triển với một nền văn hóa giao thoa của 3 dân tộc Kinh, K
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ VĂN HIỆU
NGHIÊN GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG PHỤC VỤ CHO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ VĂN HIỆU
NGHIÊN GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG PHỤC VỤ CHO
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀO NGỌC CẢNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Văn Hiệu
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học: TS.Đào Ngọc Cảnh đã dành nhiều thời gian quý báu và tâm huyết hướng dẫn, cung cấp những ý kiến cùng những gợi ý sâu sắc và độc đáo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn Quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi, Quý thầy cô trong Khoa Địa Lý Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Tôi cũng xin cám ơn Ban Giám hiệu, phòng KHCN&SĐH, các phòng ban đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Sư Phạm, Quý thầy cô và đồng nghiệp trong Bộ môn Sư phạm Địa lý, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thơi gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn Ủy ban Nhân Dân, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng; Ban giám đốc Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng, Thư viện tỉnh Sóc Trăng… đã cung cấp cho tôi nguồn tài liệu, những thông tin bổ ích trong quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin cám ơn các vị Sư trong chùa Sà Lôn, chùa Dơi đã cung cấp cho tôi những thông tin bổ ích liên quan đến đề tài
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến người thân và bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ, khích lệ, động viên và chia sẽ những khó khăn giúp tôi thêm vững tin để hoàn thành luận văn này
TP.Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2011
Lê Văn Hiệu
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
2 BTS Base Transceiver Station
Trạm thu phát gốc
3 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
4 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
5 FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
7 GDTX Giáo dục thường xuyên
8 IUOTO International Union of Official Travel Oragnization
Hiệp hội quốc tế các tổ chức lữ hành
15 UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
16 UNSC United Nations Statistics Council
Hội đồng thống kê Liên hợp quốc
17 UNWTO United Nations World Tourism Organization
Trang 6Tổ chức Thương mại Thế giới
2.1 Tình hình kinh doanh du lịch tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2005 -
2.2 Bản đồ phân bố dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng
2.3 Bản độ du lich văn hóa tỉnh Sóc Trăng
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI - 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU - 2
3 MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI - 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU - 4
5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 4
5.1 Quan điểm nghiên cứu - 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu - 6
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN - 8
PHẦN NỘI DUNG - 9
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN - 9
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH - 9
1.1.1 Khái niệm du lịch - 9
1.1.2 Tài nguyên du lịch - 10
1.1.3 Sản phẩm du lịch - 15
1.1.4 Khách du lịch - 15
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA - 18
1.2.1 Khái niệm văn hóa - 18
1.2.2 Văn hoá tộc người - 19
1.2.3 Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể - 20
1.2.4 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch - 21
1.2.5 Lễ hội - 24
1.2.6 Du lịch văn hóa - 25
1.3 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER NAM BỘ - 26
1.3.1 Quá trình hình thành tộc người Khmer Nam Bộ - 26
1.3.2 Đặc điểm cư trú, sản xuất và hình thái xã hội - 26
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 29
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH SÓC TRĂNG - 29
2.1.1 Lịch sử hình thành - 29
2.1.2 Vị trí địa lí - 31
2.1.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên - 32
2.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội - 35
2.2 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER TỈNH SÓC TRĂNG - 39
2.2.1 Đặc điểm tổ chức xã hội - 39
Trang 82.2.2 Hoạt động kinh tế - 40
2.3 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH SÓC TRĂNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 41
2.3.1 Văn hóa vật thể của người Khmer ở Sóc Trăng - 41
2.3.1.1 Ngôi chùa Khmer - 41
2.3.1.2 Nghệ thuật điêu khắc tượng - 47
2.3.1 3 Nhà ở - 49
2.3.1.4 Trang phục - 50
2.3.1.5 Ẩm thực - 51
3.2.1.6 Chiếc Ghe Ngo - 53
3.2.1.7 Làng nghề - 54
2.3.2 Văn hóa phi vật thể của ngươi Khmer Sóc Trăng - 56
2.3.2.1 Đạo Phật của người Khmer - 56
2.3.2.2 Lễ hội - 58
2.3.2.3 Văn nghệ dân gian - 67
2.4 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH SÓC TRĂNG - 70
2.4.1 Khái quát về ngành du lịch Sóc Trăng - 70
2.4.2 Khách du lịch - 70
2.4.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch - 72
2.4.4 Hoạt động của các tuyến điểm tham quan du lịch tỉnh Sóc Trăng - 73
2.4.5 Lao động ngành du lịch - 74
2.5 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA NGƯỜI KHMER SÓC TRĂNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 75
2.5.1 Khách tham quan các điểm du lịch văn hóa Khmer - 75
2.5.2 Một số loại hình sản phẩm du lịch văn hóa Khmer - 76
2.5.3 Hoạt động của một số điểm du lịch văn hóa Khmer - 79
2.5.4 Đánh giá chung - 80
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA NGƯỜI KHMER TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH SÓC TRĂNG - 83
3.1 CƠ SƠ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG - 83
3.1.1 Đánh giá tiềm năng qua sơ đồ SWOT - 83
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng - 84
3.1.3 Những quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020 85 3.1.4 Một số vấn đề kinh tế xã hội khác - 87
3.2 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG TRONG PHÁT TRIÊN DU LỊCH SÓC TRĂNG - 88 3.2.1 Định hướng phát triển theo ngành - 89
3.2.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch - 89
Trang 93.2.3 Định hướng phát triển tuyến, điểm và loại hình du lịch - 90
3.2.4 Định hướng về đầu tư phát triển cơ sở vật chất du lịch - 91
3.2.5 Giữa gìn tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường thiên nhiên và nhân văn - 92
3.2.6 Nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch - 92
3.3 ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA KHMER Ở SÓC TRĂNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 92
3.3.1 Định hướng loại hình du lịch - 92
3.3.2 Định hướng tổ chức không gian - 93
3.3.3 Định hướng thị trường khách du lịch - 93
3.4 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN - 94
3.4.1 Hình thành sản phẩm du lịch văn hóa dân tộc Khmer đặc thù - 94
3.4.2 Xây dựng chiến lược quảng bá du lịch của tỉnh - 95
3.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch - 95
3.4.4 Kêu gọi và thu hút đầu tư - 96
3.4.5 Liên kết phát triển du lịch văn hóa Người Khmer với các địa phương khác trong vùng - 97
3.4.6 Nâng cấp cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật - 98
3.4.7 Công tác quản lý - 98
3.4.8 Bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch - 98
PHẦN KẾT LUẬN - 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 102
PHỤC LỤC -130
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Nếu như trước kia, du lịch chủ yếu là hình thức tiêu khiển của tầng lớp thượng lưu trong xã hội thì ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu cần thiết của mọi người trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), số lượng khách du lịch
và doanh thu của ngành du lịch Thế giới ngày càng tăng Năm 2005, số lượng khách du lịch trên thế giới là 720 triệu lượt khách, đến năm 2010 đã tăng lên 935 triệu lượt khách, và dự báo đến năm 2020 tăng lên 1600 triệu lượt khách Thu nhập từ du lịch hiện nay đạt 944 tỷ USD (UNWTO) Như vậy, nhu cầu du lịch đã tạo cơ hội cho kinh doanh du lịch phát triển mạnh mẽ Hiện nay, ngành du lịch đã trở thành một trong 5 ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới và là ngành kinh tế trọng yếu ở nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, du lịch đã và đang được chú ý phát triển và ngày càng có vai trò quan trong trong nền kinh tế nước ta Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ đã khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Thực tế cho thấy trong giai đoạn 1990 – 2010, ngành du lịch Việt Nam đã có bước tiến đột phá Năm 1990, ngành du lịch Việt Nam đón khoảng 1 triệu lượt khách nội địa, 250 ngàn lượt khách quốc tế và doanh thu đạt 1.350 tỷ đồng, đến năm 2010 khách nội địa là 28 triệu lượt, khách quốc tế là 5 triệu lượt, doanh thu đạt 96.000 tỷ đồng
Xuất phát từ quan điểm coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, các địa phương trong cả nước tích cực xây dựng chiến lược nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng du lịch của mình
Sóc Trăng là tỉnh nằm trên hạ lưu Sông Hậu, có điều kiện tự nhiên điển hình của vùng ĐBSCL, một miền đất được hình thành và phát triển với một nền văn hóa giao thoa của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, nhất là những giá trị văn hóa của người Khmer là một thế mạnh để phát triển du lịch, trong đó nổi bật là du lịch văn hóa
Những năm gần đây, ngành du lịch Sóc Trăng đã có những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa tương xứng với thế mạnh của tỉnh Một trong những nguyên nhân chính là các tài nguyên du lịch của tỉnh vẫn chỉ ở dạng tiềm năng, chưa được tổ chức khai thác hợp lí
Trang 11và chưa được đầu tư phát triển đúng mức để trở thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, có sức hút và hấp dẫn với du khách
Để góp phần giúp ngành du lịch Sóc Trăng có thể khai thác tốt nhất những tiềm năng
vốn có của tỉnh, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu giá trị văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc
Trăng phục vụ cho phát triển du lịch” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về cộng đồng người Khmer đã và đang thu hút sự quan tâm của các cơ quan nghiên cứu cũng như các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực như: văn hoá học, dân tộc học, lịch sử, văn học, kiến trúc, tôn giáo, kinh tế, xã hội Có thể nêu ra đây một vài nghiên cứu cụ thể:
- Đề tài nghiên cứu “Người Khmer tỉnh Cửu Long” - Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Xuân
Chí, Hoàng Túc - Đặng Vũ Thị Thảo, Phan Thị Yến Tuyết, 1987, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Cửu Long xuất bản Đề tài này đi sâu tìm hiểu một số nét về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, văn học nghệ thuật, truyền thống đoàn kết Việt - Khmer của người Khmer tỉnh Cửu Long cũ, nay là tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh
- Trường Lưu với công trình “Văn hoá người Khmer vùng ĐBSCL”, NXB Văn hoá
Dân tộc trình bày rất phong phú về yếu tố văn hoá, phong tục tập quán, văn học, các loại
hình nghệ thuật đặc sắc của người Khmer đồng bằng
- Các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer được trình bày rất cụ thể qua công trình
song ngữ “Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ” - Sơn Phước Hoan (Chủ
biên), Sơn Ngọc Sang, Danh Sên, 1998, NXB Giáo dục
- Các loại hình sân khấu, nghệ thuật truyền thống của người Khmer cũng được quan
tâm nghiên cứu trong đề tài “Về sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ” - Sở Văn hoá
Thông tin tỉnh Sóc Trăng & Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1998
- Những nét văn hoá truyền thống về nhà ở, trang phục, ăn uống, giao tiếp của người
Khmer được Phan Thị Yến Tuyết tìm hiểu trong công trình nghiên cứu “Nhà ở - Trang phục – Ăn uống của các dân tộc vùng ĐBSCL” -NXB Khoa học Xã hội, 1993
- Tiếp đó Nguyễn Mạnh Cường với công trình “Vài nét về người Khmer Nam Bộ”,
NXB Khoa học Xã hội, năm 2002, cũng có một nghiên cứu khái quát về nhiều mặt của đời sống người Khmer Nam Bộ như tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội, các yếu tố văn hoá vật
thể, phi vật thể,
Trang 12Công trình nghiên cứu “Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng” - Trần Hồng Liên
(Chủ biên), NXB Khoa học Xã hội, năm 2002, đã ghi nhận hiện trạng vấn đề dân tộc, tôn giáo của người Kinh, người Khmer, người Hoa ở Sóc Trăng Công trình được thực hiện dưới dạng tập hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu nên phần nào phản ánh sự phong phú của cách tiếp cận dân tộc học, tôn giáo, văn hoá Nhưng cũng vì vậy công trình chưa có
sự gắn kết của các góc độ tiếp cận nhằm giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và hoàn chỉnh về các cộng đồng dân tộc ở Sóc Trăng
Nghiên cứu của Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp “Thực trạng kinh tế - xã hội và những giải pháp xoá đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng”, NXB Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003, đã phản ánh rất cụ thể hiện trạng đời sống kinh tế -
xã hội của cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng Đề tài cũng phân tích một số vấn đề trong đời sống của người Khmer nhưng cách tiếp cận chủ yếu từ góc độ nghiên cứu đánh giá nghèo đói Các yếu tố văn hoá, phong tục tập quán chưa được xem như là các chỉ báo tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội
- Năm 2007, TS Trần Thanh Bé (chủ nhiệm đề tài) – Viện nghiên cứu phát triển
ĐBSCL, Đại học Cần Thơ với đề tài nghiên cứu: “Tác động của phong tục tập quán đến phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng người tỉnh Sóc Trăng”, đã tìm hiểu cụ thể những
phong tục, tập quán của người Khmer Sóc Trăng tác động đến hoạt động kinh tế - xã hội của
3.2 Nhiệm vụ
Trang 13- Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch và văn hóa là cơ sở khoa học cho luận văn
- Đánh giá các giá trị văn hóa của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng và hiện trạng khái thác trong hoạt động du lịch của tỉnh
- Nghiên cứu đưa ra những định hướng và giải pháp để phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Vê nội dung:
+ Nghiên cứu những giá trị văn hóa của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng đối với hoạt động du lịch
+ Nghiên cứu hiện trạng khai thác những giá trị văn hóa của dân tộc Khmer trong
hoạt động du lịch tỉnh Sóc Trăng
+ Nghiên cứu định hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa dân tộc Khmer ở Sóc Trăng
4.2 Vê Không gian: Nghiên cứu trên phạm vi địa bàn tỉnh Sóc Trăng
5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp thực chất là việc vận dụng quan điểm biện chứng trong địa lý Ta
đã biết rằng mối liên hệ qua lại là thuộc tính chung nhất của thế giới khách quan Các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan luôn có quan hệ mật thiết với nhau bằng các mối quan
hệ tác động, ảnh hưởng, liên kết, chuyển hoá, thúc đẩy hay ức chế lẫn nhau rất phức tạp Quán triệt quan điểm tổng hợp khi nghiên cứu đề tài này đòi hỏi người nghiên cứu phải xem xét các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tác động giữa chúng, tránh tách rời
hoặc xem xét chúng một cách riêng rẻ V.I.Lênin đã viết: “Tổng hợp tất cả các mặt của hiện tượng thế giới hiện thực và các mối quan hệ đó chính là chân lý”
Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ còn gọi là quan điểm “vùng” là quan điểm đặc thù của địa lý Trong thực tế các sự vật, hiện tượng địa lý luôn có sự phân hoá trong không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Chính sự phân hóa lãnh thổ đó đã hình thành nên những điều kiện kinh tế xã hội, những nguồn lực về tự nhiên và nhân văn mang nét đặc thù riêng cho từng vùng lãnh thổ Sự khác biệt đó còn gọi là “sự sai biệt lãnh thổ”
Trang 14Quán triệt quan điểm “lãnh thổ”, khi nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu giá trị văn hóa của người Khmer Sóc Trăng trong phát triển du lịch” cần chú ý đến sự sai biệt lãnh thổ của các sự vật hiện tượng nhằm tìm ra những nét độc đáo của lãnh thổ nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Nội dung chính của quan điểm hệ thống là ở chỗ đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống Hệ thống đó bao gồm nhiều phân hệ, có môi quan hệ qua lại mật thiết với nhau Chỉ cần một thay đổi nhỏ của một phân hệ sẽ dẫn đến những hậu quả dây chuyền và ảnh hưởng chung đến toàn bộ hệ thống Do đó, cần phải quán triệt quan điểm hệ thống khi nghiên cứu đề tài này
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Các sự vật hiện tượng mà địa lý nghiên cứu là những hiện tượng có tính lịch sử, tức là chúng có sự vận động và phát triển theo thời gian Như vậy quán triệt quan điểm lịch sử khi nghiên cứu đề tài này cần tìm đến nguồn gốc lịch sử của người Khmer Nam bộ nói chung và
ở Sóc Trăng nói riêng, cũng như vấn đề khai thác giá trị văn hóa người Khmer trong du lịch Quan điểm lịch sử giúp cho người nghiên cứu hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hiện tại, thấy được bản chất của sự vật hiện tượng; Mặt khác nó còn giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn “động”, tránh xem xét các sự vật hiện tượng một cách “tĩnh lại”
Song song với quan điểm lịch sử là quan điểm viễn cảnh, Mendeleev đã viết: “Mọi khoa học đều nhằm hai mục đích: thấy trước và có lợi” Quan điểm viễn cảnh chính là
nhằm vào mục đích “thấy trước” của khoa học Nó đảm bảo tính dự kiến (hay dự báo) cho tương lai
Quán triệt quan điểm viễn cảnh, trong đề tài này cần phải căn cứ vào xu hướng vận động của sự vật hiện tượng để lập các dự báo có căn cứ khoa học cho tương lai Quan điểm
“viễn cảnh” đảm bảo tính sáng tạo và tích cực của địa lý kinh tế Nó hoàn toàn xa lạ với việc
vẽ ra một tương lai viển vông không có căn cứ thực tế Vì vậy, quan điểm “viễn cảnh” gắn liền với quan điểm “lịch sử” nhằm đảm bảo tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học
Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững ra đời trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, phản ánh xu thế phát triển của thời đại và định hướng cho tương lai của nhân loại Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này đòi hỏi phải luôn
Trang 15quán triệt quan điểm phát triển bền vững Trong đề tài này, phát triển bền vững vừa được coi là quan điểm nghiên cứu, vừa là mục tiêu nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1.Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Trong nghiên cứu khoa học việc thu thập và xử lý tài liệu lá không thể thiếu Khoa học không thể phát triển được nếu thiếu tính kế thừa, thiếu sự tích lũy những thành tựu của quá khứ Nguồn tài liệu cần thu thập và xử lý rất đa dạng và phong phú bao gồm các tài liệu
đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ và các cơ quan khác nhau theo chương trình hay đề tài nghiên cứu và cả những tài liệu đươc đăng tải trên các trang Web
Quán triệt phương pháp này khi nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu giá trị văn hóa người Khmer trong phát triển du lịch Sóc Trăng” cần thu thập những tài liệu liên quan, trên cơ sở các tài liệu thu thập được tiến hành lựa chọn, xử lý (Phân tích, tổng hợp, so sánh ) nhằm chắt lọc những thông tin cần thiết cho nội dung đề tài
Các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu như:
- Các tài liệu viết về người Khmer Nam bộ
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2007 – 2010 và định hướng đến năm 2020
5.2.2 Phương pháp thực địa
Là một phương pháp truyền thống của địa lí học, được sử dụng rộng rãi trong địa lí du lịch để tích lũy tài liệu thực tế, kiểm định tính chính xác của thực tế so với sách vở, đồng thời giúp ngời nghiên cứu phát huy tính độc lập trong nghiên cứu và nhìn nhận vấn đề toàn diện hơn Có thể nói đây là phương pháp duy nhất để thu được lượng thông tin đáng tin cậy
và xây dựng ngân hàng tư liệu cho các phương pháp phân tích khác (bản đồ, toán học, cân đối…)
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã nhiều lần đến với Sóc Trăng để thu thập tài liệu, chụp hình, phỏng vấn và tham quan, tìm hiểu các điểm du lịch gắn với văn hóa người Khmer
5.2.3 Phương pháp xã hội học
Phương pháp này giúp người nghiên cứu thu thập được nhưng thông tin đa dạng, nhanh chóng, khách quan, cập nhật trong khoảng thời gian ngắn Hơn nữa, phương pháp này nhằm vào đúng mục đích và đối tượng nghiên cứu
5.2.4.Phương pháp bản đồ
Trang 16Phương pháp này có mặt ngay từ khi địa lí du lịch ra đời với tư cách như một khoa học Bản đồ không chỉ như một phương tiện phản ánh những đặc điểm không gian về nguồn tài nguyên, các luồng khách, các cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch hoặc các thuộc tính riêng của hệ thống nghỉ nơi du lịch (tính ổn định, tính thích hợp…), mà còn là một cơ sở để nhận được những thông tin mới và vạch ra tính qui luật hoạt động của toàn bộ hệ thống Bên cạnh đó bản đồ cò là phương tiện để thể hiện một cách trực quan, khái quát một số đối tượng nghiên cứu Do đó, khi nghiên cứu đề tài này, từ những bản đồ thu thập được làm cơ
sở để xây dựng những bản đồ theo mục đích nghiên cứu
5.2.5 Phương pháp sử dụng các phần mền công nghệ thông tin
Hiện nay việc sử dụng các phần mền công nghệ thông tin trong nghiên cứu khoa học
là không thể thiếu, giúp cho quá trình nghiên cứu thận lợi và tính chính xác cao khi xử lý tài liệu Khi nghiên cứu đề tài này tác giả đã sử dụng một số phần mền sau: Phần mền Microsoft Offices để xử lý tài liệu dưới dạng văn bản, biểu bảng ; phần mềm Mapinfo 9.0
để xây dựng một số bản đồ; mạng Internet để tìm kiếm các thông tin liên quan
5.2.6 Phương pháp SWOT
Việc sử dụng sơ đồ SWOT sẽ giúp làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển du lịch Sóc Trăng Thông qua việc phân tích sơ đồ SWOT, những nguyên nhan dẫn đến những điểm yếu, thách thức đối với việc phát triển hoạt động
du lịch tại Sóc Trăng sẽ được nhận diện để từ đó có định hướng khắc phục và phát huy những cơ hội, điểm mạnh
Sơ đồ SWOT
Thể hiện những giá trị văn hóa
Khmer đặc sắc ở Sóc Trăng trong động
du lịch
Những hạn chế liên quan đến cơ
sở hạ tầng, công tác tổ chức du lịch văn hóa ở Sóc Trăng
Nêu lên được những điều kiện
thuận lợi để Sóc Trăng có thể phát triển
được du lịch
Dự báo những tác động xấu đến
du lịch, cảnh quan, môi trường, tài nguyên thiên nhiên
Trang 176 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trinh bày trong 3 chương
- Chương 1 Cơ sở lí luận
- Chương 2 Giá trị văn hóa của dân tộc Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng
- Chương 3 Định hướng khai thác giá trị văn hóa người Khmer trong phát du lịch tỉnh sóc trăng
Trang 18PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 M ỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm du lịch
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội còn rất mới mẻ so với nhiều lĩnh vực hoạt động khác Ngày nay, du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính ien ngành, ien vùng và xã hội hóa cao Ngành khoa học về
du lịch trên thế giới được hình thành vào đầu thế kỷ XX và đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện
Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng Tuy nhiên, có nhiều
ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này Theo một số học giả du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được la tinh hóa thành “Turnur”
và sau đó trở thành một từ trong tiếng Pháp “Tour” có nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi,
còn “Touriste” là người đi dạo chơi Theo Robert Langquar (1980), từ “Tourism” lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số học giả khác lại cho rằng thuật ngữ du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến một nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi tòan thế giới… Như vậy, nguồn gốc của thuật ngữ du lịch chưa có sự thống nhất, tuy nhiên điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một
nới khác và quay trở lại Trong tiếng Việt, “Du lịch” là một từ Hán-Việt, trong đó “du” cũng
có nghĩa tương tự như chữ “Tour” (du khảo, du ngoạn, du xuân…), “lịch” có nghĩa là sự
từng trải
Trong mấy thập kỷ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế (IUOTO – International of Union Official Travel Organization) tại Hà Lan năm 1925 đến nay, khái niệm du lịch vẫn luôn được tranh luận
Trước đó, vào năm 1811 khái niệm về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại Anh: Du lịch
là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí Khái niệm này nhấn mạnh giải trí là yếu tố quyết định đến hoạt động du lịch
Trang 19Năm 1930 ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa như sau: Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó có chỗ cư trú thường xuyên
Theo hai học giả Hunziker và Krapf – hai người đặt nền móng cho lý thuyết về cung – cầu du lịch đưa ra đinh nghĩa như sau: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời Khái niệm của hai ông đưa ra tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch
Song khái niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch
Theo I.I.Pirojnic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nân g cao trình độ nhận thức-văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về
tự nhiên, kinh tế và văn hoá”
Tháng 6 năm 1991, tại Otawa (Canađa), Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đã đưa
ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Tóm lại, khái niệm du lịch thể hiện mối quan hệ tác động tổng hợp của các yếu tố liên quan đến hoạt động du lịch Trong điều kiện phát triển du lịch hiện nay, chúng ta có
thể hiểu: “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức…và nhìn chung là vì những lý do không phải để kiếm tiền.” – Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO, 1994)
1.1.2 Tài nguyên du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Tài nguyên hiểu theo nghĩa chung nhất là tất cả các nguồn vật chất, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng để thỏa mãn các
Trang 20nhu cầu trong đời sống và sản xuất của mình Tài nguyên được phân thành tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên còn tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên
du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch Tài nguyên du lịch luôn được coi là tiền đề, là điều kiện đặc biệt quan trọng để phát triển của du lịch Bản ang tài nguyên du lịch cũng có tính lịch sử và có xu hướng ngày càng mở rộng do nhu cầu phát triển du lịch
Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động ang tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm
du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”
Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Như vậy, có thể hiểu rằng: Tài nguyên du lịch là những yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo
có khả năng khai thác và sử dụng để thoả mãn nhu cầu du lịch
1.1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
a Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình : địa hình là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất Địa hình biểu hiện
bằng các yếu tố như độ cao, độ dốc, trạng thái… Người ta thường chia tổng quát địa hình thành 3 dạng : miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển
Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có nhiều khả năng thu hút khách du lịch Có rất nhiều loại hình du lịch ở miền núi : du lịch thám hiểm, du lịch văn hóa, săn bắn, leo núi
và thể thao, du lịch mạo hiểm… Địa hình núi thường có rừng, thác nước và hang động… Vì vậy, miền núi có nhiều hướng phát triển du lịch Tuy nhiên, hạn chế của du lịch ở miền núi
là giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển…
Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển : tắm biển, nghỉ biển, du thuyền ra đảo, lặn biển và các loại hình du lịch thể thao Ngoài
ra, biển có nhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng
Trang 21Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch Tuy nhiên, đồng bằng thường là nơi dân cư trập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch
- Khí hậu : Khí hậu có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người Trước hết,
trạng thái của cơ thể con người gắn liền với các chỉ số sinh khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ
ẩm Những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng Ví dụ ở Việt Nam, Sa Pa và Đà Lạt là hai điểm du lịch rất nổi tiếng
Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch Thường thì mùa Hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới Mùa Đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng
ôn đới… Nhịp điệu mùa du lịch cũng có thể gián tiếp hình thành do mùa sinh hoạt của con người Ví dụ, người Việt Nam có câu : “Tháng Giêng là tháng ăn chơi’’
- Nước : Nước có vai trò rất quan trọng đối với con người Du lịch đòi hỏi phải đảm
bảo cung cấp nước cho du khách Nước còn là môi trường cho nhiều loại hình hoạt động du lịch : tắm, bơi lặn, du thuyền, lướt ván, câu cá, tham quan đáy biển…
Các hồ nước, thác nước, sông suối… cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với du lịch
Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghỉ dưỡng
Trên thế giới có nhiều điểm du lịch nổi tiếng về nước khoáng
- S inh vật : Tài nguyên sinh vật cũng có giá trị du lịch rất to lớn Các vườn quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động-thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch văn hóa, tham quan nghiên cứu…
Các tài nguyên sinh vật còn có thể được tổ chức thành các điểm tham quan sinh vật hoang dã, bán hoang dã hoặc nhân tạo Ví dụ các vườn thú, bảo tàng sinh vật, điểm nuôi các động vật hoang dã…
Tài nguyên sinh vật còn phục vụ cho loại hình du lịch săn bắn, câu cá…
+ Các hiện tượng tự nhiên đặc biệt : Có nhiều hiện tượng thiên nhiên độc đáo và đặc
sắc tạo nên sự thu hút du khách Ví dụ hiện tượng nhật thực, tuyết rơi, đêm trắng Bắc cực…
b Tài nguyên du lịch nhân văn
- Di tích lịch sử - văn hoá Di tích lịch sử văn hóa – đó là những gì mà quá khứ để lại
Di tích được chia thành 4 nhóm chủ yếu như sau :
+ Di tích khảo cổ : là những di tích liên quan đến các nền văn hoá cổ của loài
người trên thế giới Thường bao gồm những loại hình là di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng
Trang 22+ Di tích lịch sử : liên quan đến các giai đoạn lịch sử khách nhau Các di tích
lịch sử thường là các nơi xảy ra các sự kiện lịch sử quan trọng như những trận đánh lớn, những kinh đô cổ, những địa điểm liên quan đến các nhân vật lịch sử…
+ Di tích kiến trúc nghệ thuật : là các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật
cao tiêu biểu cho những thời kỳ lịch sử nhất định Ví dụ như : đền tháp, đình, chùa, miếu, nhà thờ…
+ Danh lam thắng cảnh : đây là loại di tích đặc sắc trong đó có sự kết hợp yếu
tố nhân tạo với tự nhiên Các danh thắng thường thể hiện sự tính tế và sự tổ điểm của con người vào thắng cảnh thiên nhiên làm cho nó trở thành tuyệt tác Ví dụ, núi Bài Thơ (Quảng Ninh), chùa Hương (Hà Tây)…
- Lễ hội : Lễ hội là những hình thức sinh hoạt cộng đồng của dân cư Lễ hội có nhiều
dạng nhưng thông thường đều bao gồm hai phần liên quan với nhau rất chặt chẽ : phần lễ
mang tính lễ nghi, trang trọng nhằm tưởng niệm, hoặc cầu chúc… phần hội mang tính sinh
hoạt vui chơi của cộng đồng Đương nhiên có thể sự phân chia này cũng mang tính tương đối Có thể có lễ hội hoà quyện cả hai phần làm một, có lễ hội thì phần lễ là chính hoặc có lễ hội lại chỉ có phần hội
Lễ hội có sức hấp dẫn du lịch rất cao Người ta thường ví nó như những bảo tàng
sống về văn hoá của cộng đồng Khách du lịch không chỉ tham quan, tìm hiểu lễ hội mà còn
có thể tham gia vào các hoạt động lễ hội
- Làng nghề truyền thống : Nghề thủ công truyền thống là những loại hình hoạt động
kinh tế-xã hội rất phong phú Nghề thủ công trên thế giới rất đa dạng có tính độc đáo nên có nhiều giá trị thu hút du lịch Mặt khác, các sản phẩm thủ công cũng mang nhiều giá trị nghệ thuật nên đã trở thành những mặt hàng lưu niệm đối với du khách
- Các đặc trưng văn hóa dân tộc : Đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện ở nhiều mặt
như trang phục, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, hoạt động kinh tế, văn hoá
nghệ thuật… Vì vậy, khả năng khai thác du lịch cũng rất đa dạng và đặc sắc
- Sự kiện văn hoá-thể thao : Có rất nhiều yếu tố thuộc nhóm này Dưới đây là một số
yếu tố cơ bản :
+ Các hội chợ, triển lãm : Hội chợ triển lãm rất đa dạng về loại hình và quy mô
Nó tạo ra khả năng thu hút nhiều loại đối tượng đến tham quan, mua sắm, tìm cơ hội thị trường… Hiện nay có xu hướng kết hợp hội chợ triển lãm với lễ hội Ví dụ thế giới có rất
Trang 23nhiều loại lễ hội mang tính chất quảng bá thương mại và du lịch như lễ hội bia, lễ hội trái cây, lễ hội sôcôla…
+ Các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thi hoa hậu, thi âm nhạc….cũng là những sự kiện có tác động rất mạnh đến du lịch
- Các tài nguyên du lịch nhân văn khác :
+ Bảo tàng : đây là những điểm tham quan du lịch rất có giá trị giúp cho du
khách tìm hiểu về các di tích, các hiện vật và nhiều chủ đề khá tập trung và hấp dẫn
+ Công trình và sản phẩm kinh tế : Ví dụ như các cầu lớn, các nhà máy thuỷ
điện, các đập và hồ nước nhân tạo, các đặc sản …
+ Giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực…
1.1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch (trong sản
phẩm du lịch, tài nguyên chiếm giá trị từ 80-90%) Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều
yếu tố, song trước hết phải kể đến tài nguyên du lịch Như vậy, việc đầu tư về phương tiện vật chất và dịch vụ để biến tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch là một nghệ thuật kinh doanh trong lĩnh vực du lịch Khách du lịch bị thu hút bởi Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế hay Nha Trang, Đà Lạt… trước hết bởi giá trị của tài nguyên du lịch ở những nơi này Chính sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng về sản phẩm du lịch Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch càng cao
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Trong quá
trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng của
du khách, các loại hình du lịch mới xuất hiện và phát triển không ngừng
Tài nguyên du lịch cũng là một cơ sở đặc biệt quan trọng cho việc phát triển các loại hình du lịch Chúng ta luôn dễ dàng nhận thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa các loại tài nguyên du lịch với các loại hình du lịch Không có các hang động bí hiểm, các đỉnh núi cao hùng vĩ và hiểm trở, các khu rừng nguyên sinh âm u huyền bí thì không thể có các loại hình
du lịch thám hiểm Các loại hình du lịch văn hóa lại luôn gắn liền với các di tích lịch sử-văn hóa, lễ hội và nghề cổ truyền…
Tuy nhiên, không nên hiểu đơn giản rằng mỗi loại tài nguyên chỉ có thể phát triển một loại hình du lịch Trên thực tế, tài nguyên du lịch chỉ là tiền đề, còn việc phát triển các loại hình du lịch nào lại thuộc về chiến lược và nghệ thuật kinh doanh du lịch Ví dụ, tài
Trang 24nguyên du lịch biển đảo có thể phát triển du lịch tắm biển, lặn biển, tham quan đáy biển bằng tàu đáy kính, du thuyền trên biển, thể thao trên biển…
Tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọng trong tổ chức lãnh thổ du lịch Luật Du lịch Việt Nam có nêu : “Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Điều đó có thể hiểu rằng tài nguyên du lịch
chính là cơ sở để tổ chức lãnh thổ du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ không gian của các yếu tố trong hoạt động du lịch Các yếu tố đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất-kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên
và hệ thống điều hành quản lý du lịch
Trong hệ thống lãnh thổ du lịch, tài nguyên du lịch được coi là yếu tố quyết định Sự phân bố tài nguyên du lịch đã tạo nên các khu du lịch, điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch và vùng du lịch – tức là những biểu hiện của việc tổ chức hoạt động du lịch theo lãnh thổ Có thể nói rằng : mọi quá trình tổ chức lãnh thổ du lịch đều bắt đầu và kết thúc bằng tài nguyên du lịch
1.1.3 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm là tất cả những gì con người làm ra để thỏa mãn nhu cầu của bản thân hoặc của xã hội Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị
Theo M.M.Coltman : “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất, hữu hình và vô hình Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát”
Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp những dịch
vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Tựu chung lại, sản phẩm du lịch chính là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.và các dịch vụ du lịch Sản phẩm du lịch có thể biểu diễn theo công thức sau :
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Dịch vụ du lịch
1.1.4 Khách du lịch
Khách du lịch được coi là yếu tố trung tâm trong hoạt động du lịch Có thể hiểu đơn giản rằng: Khách du lịch (du khách) là người đi du lịch Tuy nhiên để xác định rõ khách du lịch với những đối tượng khác, một số tác giả đã đưa ra định nghĩa như sau:
Trang 25Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Jozep định nghĩa: Khách du lịch là
hành khách xa hoa, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế
Odgilvi - Nhà kinh tế học người Anh cho rằng: Để trở thành khách du lịch phải có 2 điều kiện: (1) Đi xa nhà trong thời gian dưới 1 năm; (2) Phải chi tiêu tại nơi nghỉ lại bằng tiền kiếm được ở nơi khác
Hội nghị của Tổ chức du lịch quốc tế họp tại Roma (1968) đã xác định: “Bất cứ ai
ngủ một đêm tại nơi không phải nhà của mình và mục đích chính của cuộc hành trình không
nhằm kiếm tiền đều được coi là khách du lịch”
Nhìn chung, có nhiều quan niệm về khách du lịch Song, về cơ bản chúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm Một số mói chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch hoặc tách du lịch khỏi chức năng kinh tế xã hội
Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (năm 1989) đã đưa ra quan niệm: “Khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ
cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn khách quan hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải dời khỏi nước đến tham quan
để về nước thường trú của mình hoặc đi đến một nước khác”
Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống kê Liên hợp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch
Khách du lịch quốc tế ( International tourist) bao gồm:
- Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist) là những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia
- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist) là những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài
Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi
du lịch trong nước
- Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến
Trang 26- Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Khách du lịch quốc tế được hiểu là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến một nước khác trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm thu được thù lao ở nơi đến
Cụ thể hơn, khách du lịch quốc tế bao gồm:
+ Những người đi vì lý do giải trí, sức khoẻ, gia đình hoặc các lý do tương tự
+ Những người đi họp với tư cách đại biểu các hội nghị khoa học, chính trị, ngoại giao, kinh tế, tôn giáo…
+ Những người đi vì mục đích kinh doanh, công vụ (tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng…)
+ Những người tham gia các chuyến đi du lịch trên biển (Sea Cruise) kể cả khi họ có
thời gian thăm viếng dưới 24 giờ
Những người không được coi là khách du lịch quốc tế:
+ Những người đi sang nước khác hành nghề (dù có hay không có hợp đồng) hoặc tham gia các hoạt động kinh doanh ở nước đến (những người hưởng lương hoặc có thu nhập ở nước đến)
+ Những người nhập cư vào nước đến
+ Những học sinh, sinh viên đi học ở nước đến
+ Những dân cư vùng biên giới, những người cư trú tại một quốc gia và đi làm ở quốc gia láng giềng
+ Những hành khách đi xuyên qua một quốc gia và không nghỉ lại cho dù cuộc hành trình kéo dài trên 24 giờ
Khách du lịch trong nước (khách du lịch nội địa) là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình ở trong nước với thời gian liên tục trên 12 tháng cùng các mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành công việc nhằm được trả thù lao ở nơi
đến Nói cách khác khách du lịch trong nước tức là những người đi du lịch trong phạm vi
quốc gia của họ
Tóm lại, quan niệm về khách du lịch ít nhiều có những điểm khác nhau, song nhìn chung chúng đều đề cập đến :
Trang 27- Động cơ khởi hành (tham quan, nghỉ dưỡng, thăm người thân,…trừ động cơ kiếm tiền
- Yếu tố thời gian (đặc biệt chú ý đến sự phân biệt giữa khách tham quan trong ngày
và khách du lịch là những người nghỉ qua đêm)
- Những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và những đối tượng không được liệt kê
là khách du lịch
Ở nước ta, theo Luật du lịch Việt Nam, năm 2005, tại điều 4, chương 1 thì: “Khách
du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
Tại điều 34, chương V qui định: “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách
du lịch quốc tế Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA
1.2.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, ien quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa biểu hiện trong lí tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lí tưởng thẩm mĩ Có thể tìm thấy những biểu hiện của văn hóa trong các phương thức và công cụ sản xuất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp giữa người và người, trong trình độ học vấn và khoa học kĩ thuật, trong trình độ sáng tạo và thưởng thức văn học, nghệ thuật
Cho đến nay, khái niệm về văn hóa đã được nhiều nhà lý luận văn hóa trên thế giới diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau Định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở Châu Âu của nhà nhân học văn hóa người Anh E B Tylor trong công trình nghiên cứu “văn hóa nguyên thủy” năm 1871, Ông cho răng: “Văn hóa hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt tới với tư cách là một thành viên trong xã hội”
Nguyên tổng giám đốc UNESCO, ông Mayo (F Mayor), đưa ra một khái niệm về văn hóa vừa mang tính khái quát vừa có tính đặc thù: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm
Trang 28cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”
Ở Việt Nam, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi khi nghiên cứu về văn hóa đã cho rằng:
“Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của cuộc sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng” Giáo sư, tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình”
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
1.2.2 Văn hoá tộc người
Văn hoá tộc người là một trong những khái niệm cơ bản của khoa dân tộc học, nó là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi khiến người ta phân biệt tộc người này với các tộc khác, văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người Một dân tộc bị đồng hoá, tức bị mất văn hoá riêng thì ý thức tộc người trước sau cùng bị mai một
Có sự phân biệt nào đó giữa văn hoá tộc người và văn hoá của tộc người Văn hoá của tộc người là tổng thể những hiện tượng văn hoá trong diện mạo hiện tại của tộc người
đó, không kể các yếu tố văn hoá đó có sắc thái tộc người hay trung tính về tộc thuộc Thí dụ, các hình thức trang phục kiểu châu Âu, các món ăn kiểu châu Âu hay kiểu Trung Hoa, các kiểu xây cất nhà cửa của người Việt đang được các dân tộc miền núi tiếp thu, các hình thức tôn giáo đạo Phật, Thiên chúa giáo, Tin lành ở các dân tộc đều là các hiện tượng văn hoá của dân tộc, nhưng lại không mang sắc thái đặc trưng tộc người còn văn hoá tộc người
là tổng thể các yếu tó văn hoá mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác Các yếu tố văn hoá tộc
Trang 29người như vậy, phải kể đầu tiên là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, nhất là trang phục phụ nữ, các tín ngưỡng và nghi lễ, là vốn văn hoá dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc
Thực ra, không phải lúc nào văn hoá tộc người và văn hoá của tộc người cũng có ranh giới rõ rệt và bất biến Trong quá trình phát triển, không ít hiện tượng văn hoá lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn, nhưng dần dần được "dân tộc hoá" "bản địa hoá", trở thành văn hoá tộc người, ít nhiều mang bản sắc dân tộc Hơn thế nữa, bất cứ một yếu tố văn hoá ngoại lai nào được vay mượn thì ít nhiều cũng được sử dụng và tái tạo theo cách riêng của người vay mượn ấy1
1.2.3 Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người Văn hóa phi vật thể là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, các phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời), các giá trị và thái độ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, các phương thức giao tiếp và cách thức tổ chức xã hội Kiến thức
là nhân tố hàng đầu của văn hóa,thường được đo một cách hình thức bằng trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng kiến thức khoa học, hệ thống kiến thức được con nguời phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sung nâng cao và không ngừng đổi mới qua các thế
hệ
Trong thực tế, văn hóa vật thể và phi vật thể luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể
chuyển hóa cho nhau: không phải ngẫu nhiên mà K.Marx nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ” Bởi vậy mà tuỳ theo những
mục đích khác nhau, việc phân biệt văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau
1 GS- PS Ngô Đức Thịnh “Các sắc thái văn hóa tộc người”
Trang 301.2.4 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Từ những khái niệm và định nghĩa về văn hóa, du lịch như đã nêu trên, có thể thấy mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa là mối quan hệ biện chứng Hoạt động du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội, tạo điều kiện nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng, thúc đẩy phát triển văn hóa Ngược lại, văn hóa phát triển, bản sắc văn hóa được giữ gìn, công trình văn hóa được tôn tạo, vốn văn hóa truyền thống được khôi phục, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thu hút du khách, tăng trưởng kinh tế du lịch
- Văn hóa là tài nguyên của du lịch
Các đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn Tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo, hiếm hôi; tài nguyên nhân văn thu hút du khách do tính phong phú, đa dạng, đặc sắc bởi tính truyền thống, tính địa phương của
nó Tài nguyên nhân văn là cơ sở chủ yếu tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú Mặc khác, nhận thức văn hóa còn nhiều yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách
Mỗi dân tộc dù nhỏ bé, lạc hậu về kinh tế đến đâu vẫn có khả năng đóng góp những giá trị văn hóa xứng đáng vào di sản văn hóa chung của nhân loại Những di sản văn hóa ấy
có thể trở thành tài nguyên du lịch của quốc gia Việt Nam có những điều kiện thuận lợi rất lớn về tài nguyên du lịch Bên cạnh thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam còn có cả một kho tài nguyên văn hóa phong phú: bề dày lịch sử và văn hóa, hàng ngàn di tích được xếp hạng thế giới và quốc gia, hàng vạn thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng làm cho nơi nào cũng phản phất khí thiêng sông núi, lung linh những giá trị lịch sử, giá trị nhân văn đặc thù Hàng trăm lễ hội dân gian trong cả nước tạo nên sức sống cho các di tích, các địa danh với nhiều màu sắc khác nhau về văn hóa lịch sử và văn hóa tâm linh Việt Nam mang trong mình một vốn nghệ thuật dân tộc với nhiều loại hình phong phú về dân ca, dân vũ, sân khấu truyền thống, mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc… mà mỗi loại hình đều thể hiện màu sắc đặc trưng theo từng tộc người, từng vùng, từng miền trong đó đặc biệt là nghề thủ công truyền thống rất đa dạng, phong phú và tinh xảo… Việt Nam có 54 dân tộc anh em thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, đại diện cho các ngữ hệ, các sắc tộc của vùng Đông Nam Á Nét đặc sắc của các tộc người như một vườn hoa đa sắc màu về văn hóa tộc người phân bố rải rác khắp mọi miền đất nước và vẫn còn giữ được đầy đủ nét hoang sơ trong phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,nếp sống vật chất, tinh thần… Ở Việt Nam đâu đâu người ta cũng tìm thấy một nền văn hóa ẩm thực phong phú, độc đáo, hấp dẫn theo từng vùng, miền
Trang 31Trải qua nhiều thử thách của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa, Việt Nam vẫn khẳng định được bản sắc văn hóa của mình Qua lịch sử và thực tế giao tiếp, không ai phủ nhận được dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam nói chung có truyền thống hiếu khách, biết thương yêu và quý trọng con người, chuộng hòa bình, coi trọng đạo lý, nặng nghĩa tình…
Tóm lại, Việt Nam có rất nhiều cơ sở và điều kiện để phấn đấu xây dựng một ngành
du lịch vững chắc trên nền tảng các giá trị văn hóa đúng nghĩa và chân chính nhất Nói khác
đi văn hóa là điểm tựa vững chắc nhất của du lịch Việt Nam trên bước đường hội nhập với
du lịch khu vực và du lịch thế giới
- Sản phẩm du lịch mang nội dung văn hóa
Sản phẩm du lịch là lọai sản phẩm có tính tổng hợp, ngoài sản phẩm vật chất hữu hình (văn hóa vật thể), tuyệt đại bộ phận là sản phẩm vô hình (văn hóa phi vật thể) thỏa mãn nhu cầu tinh thần của du khách Do đó giá trị sử dụng và giá trị của sản phẩm du lịch có một
số đặc điểm riêng
Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch là ở chỗ nó có thể thõa mãn nhu cầu có tính tổng hợp của du khách trong quá trình du lịch, một mặt vừa bao gồm các nhu cầu cơ bản như ăn, ở, đi lại của du khách, mặt khác còn bao gồm các nhu cầu tinh thần như tham quan,
du ngoạn, làm phong phú kiến thức, tăng cường giao lưu… Do đó giá trị sử dụng của nó có tính đa chức năng Mặc khác, sản phẩm du lịch là sự kết hợp của sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch ngày càng phong phú, chỉ có thể thông qua sự đánh giá của du khách, đo lường của du khách
Sản phẩm du lịch kết tinh lao động phổ biến của con người, là kết quả tiêu hao sức lực, trí lực của con người, có giá trị như hàng hóa vật chất nói chung, nhưng sản phẩm du lịch có nhu cầu phức tạp, nội dung phong phú Giá trị của sản phẩm du lịch có thể chia ra làm ba nội dung là giá trị sản phẩm vật chất, giá trị dịch vụ du lịch và sức thu hút của du khách Trong đó, giá trị sản phẩm vật chất và giá trị dịch vụ du lịch có thể xác định được, trong khi tố chất văn hóa, kỹ năng chuyên môn, trình độ đạo đức nghề nghiệp của cán bộ du lịch… là khó xây dựng cho nên sức thu hút du khách là nội dung quan trọng tạo thành sản phẩm du lịch Nó vừa là sự thu hút thuần túy tự nhiên lại vừa bao gồm sự thu hút từ cảnh quan, hiện tượng xã hội, nhân văn…
Du lịch là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người, được phát triển phù hợp với quy luật của nền văn minh nhân loại trên những thang bậc mới Hoạt động du lịch hoàn
Trang 32thành chức năng tái sản xuất sức lao động xã hội bằng phương thức tăng nhịp độ hoạt động của đời sống tinh thần của con người
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể phân tích rõ đặc thù của sản phẩm du lịch là: giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch không phải là ở cái tồn tại vật chất, hiện hữu Đối tượng “mua
và bán” không phải là tài nguyên du lịch mà là cái chứa đựng trong tài nguyên du lịch những khả năng thỏa mãn nhu cầu của du khách Do vậy, giá trị sử dụng của những sản phẩm du lịch không mất đi sau mỗi lần “bán” mà ngược lại, càng qua bán nhiều lần giá tri
sử dụng này càng tăng Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch không phải là cái ổn định ngang bằng với mọi đối tượng mua Cấu tạo giá trị của sản phẩm du lịch là lợi nhuận của ngành du lịch phản ánh đặc thù sự hình thành sản phẩm của ngành Du khách mua giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch tức là mua cái khả năng thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của họ Cấu trúc nhu cầu đặc trưng rất phong phú, đa dạng, bao gồm những mặt chủ yếu như sau: nhu cầu cảm thụ cảnh quan; cảm thụ giá trị văn hóa lịch sử và truyền thống; nhu cầu nghỉ ngơi,tìm kiếm, khám phá những tri thức, cảm xúc mới Những nhu cầu này thể hiện tính văn hóa của hoạt động du lịch, nói cách khác sản phẩm du lịch mang nội dung văn hóa vì sản phẩm của du lịch chính là sự kết tinh của ba yếu tố: cảnh quan thiên nhiên, bản sắc dân tộc
và những thành tựu của nền văn minh vật chất Như vậy, văn hóa chính là nền tảng tạo ra chất lượng và hiệu quả cho các sản phẩm của du lịch Các giá trị văn hóa quyết định nét đặc sắc, độc đáo của các sản phẩm du lịch
- Du lịch là một phương tiện quảng bá văn hóa
Văn hóa gắn với các hoạt động của con người nên có tính giao lưu, nhờ giao lưu mà các hoạt đọng văn hóa được lan truyền giữa các vùng, miền và các quốc gia với nhau Du lịch ngày nay là con đường để nhận biết tính đa dạng và đặc sắc của các nền văn hóa Du lịch là cầu nối hòa bình, thông qua du lịch du khách thấu hiểu hơn về nền văn hóa của vùng đất họ đến tạo điều kiện cho các dân tộc gần nhau hơn
Trong thời gian đi du lịch du khách sẽ tiếp xúc trực tiếp với các sản phẩm du lịch, các loại hình văn hóa đa dạng, phong phú là những yếu tố quyết định chất lượng của chuyến
đi, cái tạo nên sự thích thú đặc biệt của du khách
- Ảnh hưởng tích cực của du lịch đối với văn hóa, kinh tế, xã hội
Du lịch vừa là đòn bẫy kinh tế vừa là hiện tượng văn hóa xã hội Sự phát triển nhanh chống của du lịch có ảnh hưởng rất rõ rệt đối với kinh tế thế giới và văn hóa của nhân loại
Trang 33Đặc điểm nổi bật nhất của du lịch hiện đại là tính đại chúng Sự to lớn về quy mô du lịch trên thế giới hiện nay khiến du lịch hình thành mối quan hệ đan chéo phức tạp hơn so với trước đây Ảnh hưởng của nó liên quan đến nhiều lĩnh vực của văn hóa xã hội và ngày càng được coi trọng Lúc đầu ngành du lịch của một số nước đang phát triển chỉ nặng về kinh tế, coi nhẹ sự ảnh hưởng của nó về văn hóa xã hội Về sau, cùng với sự mở rộng về quy mô du lịch, sự trưởng thành của ngành du lịch đã coi trọng mặt ảnh hưởng của du lịch đối với văn hóa xã hội Việc này nếu không được chú trọng thì ảnh hưởng văn hóa xã hội của du lịch sẽ trở nên phức tạp, đa dạng Các loại mâu thuẫn lợi ích do nó sinh ra sẽ càng gay gắt
1.2.5 Lễ hội
1.2.5.1 Khái niệm
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào và bất cứ mùa nào đều có những lễ hội Lễ hội là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân, thể hiện tính cộng đồng sâu sắc Tạp chí Người đưa tin UNESCO, 12/1989
đã viết: “Lễ hội đã dệt nên tấm thảm muôn mầu mà ở đó mọi sự đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khống khó,
cô đơn và đoàn kết, trí tuệ và bản năng”
Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với những bí ẩn vừa mơ, vừa thực Lễ hội trở thành dịp cho con người hành hương về với cội dễ, bản thể của mình Trong kho báu di sản của quá khứ để lại cho ngày hôm nay, các lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả
về hình thức lẫn nội dung Lễ hội gắn với các di tích lịch sử văn hóa như hình với bong và
có sức hấp dẫn kì diệu
Như vậy, lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, những khát khao, ước
mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được
Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội
- Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các lễ hội, du lớn hay nhỏ, du dai hay ngắn với những nghi thức trang nghiêm và trọng thể Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giời cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hung dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ long tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, câu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và
Trang 34phồn vinh hạnh phúc Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc với yếu tố văn hóa linh thiêng đầy giá trị thẩm mỹ đối với toàn bộ cộng đồng người đi hôi trước khi chuyển sang phần hội
- Phần hội diễm ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lý và văn hóa cộng đồng, chứa đựng những quan niệm của một dân tộc về thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên Trong hội thường có những trò chơi, những đêm thi nghề, thi hát, tượng chưng cho sự nhớ
ơn và nghi công người xưa Tất cả những gì tiêu biểu nhất của một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn đem lại miềm vui cho mọi người
Lễ hội thường xuất hiện vào thời điểm linh thiêng chuyển giao mùa, hoặc đánh dấu
sự kết thúc của một chu kỳ lao động và chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới
1.2.5.2 Vai trò của lễ hội đối với du lịch
Lễ hội thường được tổ chức vào những thời điểm nhất định trong một không gian là danh lam thắng cảnh, di tích hoặc ở những thiết chế văn hóa phù hợp với tính chất lễ hội Các trò vui chơi giải trí, những hoạt động văn hoá, xã hội khác như thi hát, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu, ném còn, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã ở khắp các làng xã Chính sự gắn kết giữa cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như vậy đã tạo nên sự hấp dẫn du lịch
Lễ hội thấm sâu và lan toả rộng ra khắp nơi, tác động lên các hoạt động của con người, trở thành động lực và mục tiêu của mọi hoạt động xã hội cũng như sự phát triển văn hóa, kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch
Lễ hội là một loại tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc của đất nước Sự tồn tại của lễ hội quyết định sự tồn tại và phát triển của loại hình du lịch lễ hội
Du lịch có mối quan hệ mật thiết đối với lễ hội, lễ hội tạo ra sức hấp dẫn du lịch Lễ hội đã tạo ra sự gắn kết giữa cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân văn, thống nhất trong
hệ thống văn hoá hoàn chỉnh nên có sức hấp dẫn du lịch lâu dài và bền vững Cộng đồng dân cư nơi có lễ hội, những người tổ chức cho khách du lịch đến với lễ hội đều cần phải có trình độ văn hoá nhất định nào đó, phải hiểu biết về lễ hội mới có thể phục vụ được khách
du lịch, mới có thể tạo ra được môi trường du lịch lễ hội tốt
1.2.6 Du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại Khoản 1, Điều 4, Chương I : “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”
Trang 35Du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển, được quan tâm đầu tư phát triển ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam
Du lịch văn hoá là một sản phẩm du lịch sử dụng những giá trị văn hoá dậm đà bản sắc của địa phương, thông qua các vật dẫn hoặc phương thức biểu đạt, cung cấp cho du khách cơ hội để hime ngưỡng, thử nghiệm và cảm thụ văn hoá của các địa phương Vật hấp dẫn bao gồm các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử, hoạt động tôn giáo, nghi thức xã hội đặc thù, đồ ăn, thức uống, biểu diễn âm nhạc kịch, vũ điệu địa phương, nghệ thuật sản xuất thủ công truyền thống và làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán
1.3 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER NAM BỘ
1.3.1 Quá trình hình thành tộc người Khmer Nam Bộ
Khoảng thời gian 200 – 300 năm trước Công nguyên, người Khmer ở Nam Bộ đã sống tập trung thành Phum, không còn du canh du cư Họ cất nhà bằng lá dừa nước để ở, biết trồng lúa nước, đồng thời còn săn bắt, hái trái để ăn, hơn thế nữa họ còn biết làm gốm, làm đồ trang sức… Như vậy, người Khmer đã sớm có một trình độ phát triển nhất định, họ
có tiếng nói riêng, tín ngưỡng riêng Qua đó ta thấy tộc người Khmer đã có mặt ở Nam Bộ vào TCN
Địa bàn cư trú của người Khmer ở Nam Bộ rất rộng Họ có thể sống trên đất giồng, trên đất ruộng, ven kênh rạch, ven chân núi, dọc theo đường bộ… và tiến hành khai phá vùng đất xung quanh để lao động sản xuất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Họ sống tập trung theo qui mô nhỏ khoảng vài chục người và chia rải rác ra khắp nơi Do đó, khi người Việt đến đây khai phá đã tiếp xúc với người Khmer và hai tộc người này đã cùng chung sống với nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất và chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt Sự hợp tác này được duy trì cho đến ngày hôm nay
1.3.2 Đặc điểm cư trú, sản xuất và hình thái xã hội
Người Khmer ở Việt Nam có dân số 1.260.640 người Người Khmer cư trú tập trung chủ yếu tại các tỉnh Sóc Trăng (373.597 người, chiếm 28,97 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số người Khmer tại Việt Nam), Trà Vinh (317.203 người, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số người Khmer tại Việt Nam), Kiên Giang (210.899 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 % tổng số người Khmer tại Việt Nam An Giang (90.271 người), Bạc Liêu (70.667 người), Sóc Trăng (29.845 người), thành phố Hồ Chí Minh
Trang 36(24.268 người), Sóc Trăng (21.820 người Cần Thơ (21.414 người), Hậu Giang (21.169 người) Bình Phước (15.578 người), Bình Dương (15.435 người)2
Người Khmer Nam Bộ là cư dân sớm nhất của vùng đất này, họ cư trú thành những cụm rời, nhỏ là một ấp, lớn là vài xã xen kẽ với các xã ấp của người Việt và Hoa Ở khu vực Trà Vinh người Khmer cư trú trên các giồng, khai thác những vùng đất thấp phía trước và sau giồng, từng bước biến chúng thành đồng ruộng Ở khu vực Sóc Trăng giồng ít, nên người Khmer khai thác, cư trú giữa những đồng lúa lớn cùng những vùng trồng hoa màu Ở khu vực Tây Ninh, An Giang và một phần Kiên Giang là Hà Tiên, thì người Khmer định cư dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia
Từ xa xưa người Khmer đã biết trồng lúa nước, biết sử dụng các biện pháp thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp như: tận dụng sông, rạch khi thủy triều lên để đưa nước vào ruộng rồi đắp bờ để giữ nước rửa phèn cho ruộng, đến kỳ hạn thì họ phá đập để xổ phèn, bắt
cá, sau đó đợi thủy triều lên lần nữa để cho nước vào mang phù sa xuống cho đồng ruộng Theo một số nghiên cứu, biện pháp thủy lợi rửa phèn là một phát minh độc đáo của người Khmer xưa, dựa trên cơ sở những điều kiện địa lý cụ thể của ĐBSCL Khi người Việt đặt chân đến ĐBSCL, hay người Khmer từ Hoa Nam đến, họ chưa có những biện pháp thủy lợi
kể trên, nhất là lợi dụng thủy triều để rửa phèn và đưa nước vào ruộng
Người Khmer sống tập trung thành những tập thể láng giềng, mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát đất trồng trọt gọi là “Phum” Đơn vị cao hơn Phum và bao gồm nhiều phum là “Srok” (sóc) Người ta thường đồng nhất phum người Khmer với ấp của người Việt, sóc với xã Thật ra không hoàn toàn như thế, từ mấy thế kỷ nay người Khmer chung sống với người Việt, người Khmer, các phum Khmer xen kẽ với ấp của người Việt, Hoa Có những trường hợp đặc biệt một số phum nhỏ tự khuôn mình vào một ấp lớn, với tư cách là yếu tố cấu thành ấp lớn ấy, trong đó người Khmer, Việt, Hoa cùng cư trú Phum, srok không phải là đơn vị hành chính chính thức, mà để chỉ địa danh cư trú người Khmer
Về mặt tín ngưỡng – tôn giáo người Khmer Nam bộ theo phật giáo Tiểu Thừa và tin vào các lực lượng siêu nhiên thần bí khác mà họ chưa có khả năng nhận thức và chế ngự
Do đó, ngôi chùa trong đời sống tinh thần của người Khmer có ý nghĩa đặc biệt Với nhu cầu tôn giáo là chỗ dựa tinh thần nên hầu hết các địa phương của người Khmer đều có chùa Chùa là một thiết chế xã hội không thể thiếu trong đời sống của họ, cho du ở nơi cư trú có mật độ dân số đông hay thưa thớt Chùa Khmer vừa là trung tâm hoạt động văn hóa xã hội,
2 Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
Trang 37đồng thời đó cũng chính là bảo tàng nghệ thuật đặc sắc, điển hình của người Khmer, thể hiện rõ nét bản sắc dân tộc được các thế hệ chân trọng và gìn giữ chu đáo Về mặt xã hội, hình thức và nội dung và hoạt động của chùa Khmer phần nào phản ánh đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Khmer trong khu vực ảnh hưởng của chùa
Trang 38CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH SÓC TRĂNG
Năm 1835, vùng đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên, gồm 03 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 03 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt Đến năm 1876, thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành 04 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc Năm 1882, Pháp tách 02 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 03 tổng của tiểu khu Rạch Giá thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu Tiếp theo một vài thay đổi (tách, nhập, xóa bỏ), nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 27/12/1892 quy định Nam kỳ có 02 thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và 20 khu xếp theo thứ tự A, B, C như sau: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh Cho đến cuối thời kỳ Pháp thuộc, 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ Tỉnh Sóc Trăng thuộc miền Tây Nam kỳ, gồm 03 quận: Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú) Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 04 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú và Phú Lộc Năm
1932, Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong các tỉnh Nam kỳ, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ quyết định thành lập lại quận Phú Lộc
Sau Cách mạng tháng 8/1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị Trong
kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu giao
Trang 39qua Sau đó, ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị Cũng trong thời kỳ này, Sóc Trăng có thêm một số xã của tỉnh Rạch Giá và Cần Thơ giao qua
Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh Châu cho tỉnh Bạc Liêu Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá Cũng trong năm này, tỉnh Sóc Trăng sáp nhập 02 huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy tên là Vĩnh Lợi – Vĩnh Châu (năm 1962 lại tách 02 huyện ra như cũ) Đầu năm 1958 huyện Kế Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng có 02 thị xã (thị xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 07 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai)
Tháng 11/1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam bộ, Sóc Trăng giao các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại cho tỉnh Sóc Trăng từ năm 1961) Nghị định số 31/NĐ, ngày 21/2/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang
Trong kỳ hợp lần thứ 10 (khóa VIII) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 02 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã Sóc Trăng
Ngày 11/01/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 04/2002/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú và thành lập thêm huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Ngày 31/10/2003, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 127/2003/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thạnh Trị và thành lập thêm huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Ngày 08/2/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 22/2007/NĐ-
CP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng Ngày 24/9/2008, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 02/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ Tú và thành lập thêm huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng Đến ngày 23/12/2009, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị
Trang 40quyết số 64/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính hai huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và thành lập thêm huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.3
Tính đến năm 2010, đơn vị hành chính của tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố với 109
Nằm ở khu vực ĐBSCL thuộc miền Nam của Việt Nam, tỉnh Sóc Trăng với hệ tọa
độ địa lí từ 9014’22’’ đến 9055’30’’ vĩ Bắc và 105034’16’’ đến 106017’50’’ kinh Đông
Về vị trí tiếp giáp Sóc Trăng tiếp giáp với:
- Phía Bắc – Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang
- Phía Nam giáp Biển Đông
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh
- Phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu
3 Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng ( http://www.soctrang.gov.vn )