Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ ở nước ta đã được quan tâm khi các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu vấn đề phân vùng, quy hoạch, phân bố lực lượng sản xuất như “Tổng sơ đồ phát triển và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Luận án là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, các trích dẫn trong luận án là trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về các trích dẫn và nguồn tư liệu
Tác giả luận án
NCS Hoàng Công Dũng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN 8
MỤC LỤC 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 11
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU 12
DANH MỤC BẢN ĐỒ 14
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 14
MỞ ĐẦU 169
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỒ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 181
1.1.Cơ sở lí luận 181
1.2.Cơ sở thực tiễn 209
1.3.Hướng tiếp cận nghiên cứu TCLTCN TP Hồ Chí Minh 217
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 218
2.1 Khái quát về tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 218
2.2 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh 221
2.2.1 Vị trí địa lí 221
2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên 222
2.2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 224
2.2.4 Đánh giá chung các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTCN 235
2.3 Thực trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 237
2.3.1 Khái quát thực trạng phát triển công nghiệp TP Hồ Chí Minh 237
2.3.2 Thực trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở TP Hồ Chí Minh 240
2.3.3 Đánh giá chung thực trạng TCLTCN TP Hồ Chí Minh 282
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TP HỒ CHÍ MINH 286
Trang 53.1.1 Bối cảnh 286
3.1.2 Định hướng phát triển công nghiệp Việt Nam 287
3.1.3 Định hướng phát triển KTXH của TP HCM 289
3.2 Định hướng TCLTCN Ở TP Hồ Chí Minh 293
3.2.1 Định hướng chung 293
3.2.2 Định hướng cụ thể 296
3.3 Giải pháp 307
3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 307
3.3.2 Các giải pháp vi mô 308
3.3.3 Đề xuất và kiến nghị 311
KẾT LUẬN 313
TÀI LIỆU THAM KHẢO 316
PHỤ LỤC 323
Trang 6AFTA : Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN TP HCM : Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
CSSXCN : Cơ sở sản xuất công nghiệp
CVCNĐT : Công viên công nghiệp đô thị
CVPM : Công viên phần mềm
DCN : Dải công nghiệp
ĐTNN : Đầu tư Nhà nước
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA : Hiệp định thương mại tự do
GDP : Tổng thu nhập trong nước
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
GTSXCN TP HCM: Giá trị sản xuất công nghiệp TP Hồ Chí Minh HEPZA : Ban Quản lí các khu công nghiệp TP Hồ Chí Minh
KCN : Khu công nghiệp
VKTTĐPN : Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam
WTO : Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 71 Bảng 2.1 Dân số, GDP của TP HCM so với cả nước 60
2 Bảng 2.2 Cơ cấu, chỉ số phát triển khu vực II của TP HCM và GDP bình quân USD/người của TP.HCM, cả nước, thế giới (2000 – 2010) 61
3 Bảng 2.3 Dân số đô thị và tỉ lệ dân đô thị cả nước và 2 đô thị đặc biệt……67
4 Bảng 2.4 GDPCNtrong GDP của TP HCM giai đoạn 2000 – 2010 68
5 Bảng 2.5 Thu hút vốn đầu tư vào KCN, KCX qua các giai đoạn 71
6 Bảng 2.6 Tăng trưởng GTSXCN của TP HCM, vùng KTTĐPN và cả nước giai đoạn 2000 – 2010 .79
7 Bảng 2.7 Tỉ trọng GTSXCN của TP HCM, VKTTĐPN và cả nước …… 79
8 Bảng 2.8 Tốc độ tăng trưởng GTSXCN của TP HCM, VKTTĐPN, cả nước so với năm 2000 theo giá so sánh (%) … ……… 80
9 Bảng 2.9 Tỉ trọng GTSXCN của TP HCM và một số địa phương so với cả nước giai đoạn 2000 – 2010 .………80
10 Bảng 2.9a GTSXCN bình quân đầu người của TP HCM so với một số tỉnh thành và cả nước ……… 81
11 Bảng 2.10 GTSXCN khu vực ngoài Nhà nước phân theo lãmh thổ quận, huyện …… ……… 83
12 Bảng 2.11 Phân bố các CCN theo lãnh thổ ở TP.HCM ……… 88
13 Bảng 2.12 Phân bố các KCN theo lãnh thổ ở TP.HCM (2010)…… 92
14 Bảng 2.13 Dự án, vốn đầu tư KCN, KCX tại TP HCM … ……… 94
15 Bảng 2.14 Dự án đầu tư FDI vào TP HCM còn hiệu lực ……… 94
16 Bảng 2.15 Dự án, vốn đầu tư theo ngành, lao động tại KCN, KCX …… 96
17 Bảng 2.16 Quy mô vốn FDI bình quân/1 dự án đang hoạt động trong KCN, KCX tính đến 31/3/ 2011 …… ……… 97
18 Bảng 2.17 Trình độ lao động các KCN, KCX ở TP HCM ………98
19 Bảng 2.18 Kim ngạch xuất khẩu của KCN, KCX so với toàn Thành phố 99 20 Bảng 2.19 Đóng góp ngân sách của KCN, KCX ……… …… 100
21 Bảng 2.20 Tỉ trọng GTSXCN các ngành chủ lực của TP.HCM … ….…109
22 Bảng 2.21 Thay đổi thứ hạng, cơ cấu ngành CN chủ lực của TP HCM 110
23 Bảng 2.22 Lao động các ngành chủ lực ở TP HCM 2000 - 2010….…… 113
24 Bảng 2.23 Một số chỉ tiêu về CN của TP HCM ……… 114
25 Bảng 2.24 Bình quân GDPCN /lao động CN của TP HCM ……… 115
26 Bảng 2.25 Cơ cấu GTSXCN ngoài Nhà nước của các quận, huyện…… 116
27 Bảng 2.26.GTSXCN và tốc độ phát triển CN theo thành phần kinh tế của TP HCM (theo giá so sánh 1994)……….118
28 Bảng 2.27 Các chỉ số về lao động SXCN, GTSXCN của TP HCM phân theo thành phần kinh tế ………120
29 Bảng 2.28 Sự thay đổi tỉ trọng GTSXCN phân theo thành phần kinh tế của TP.HCM giai đoạn 1995 – 2010 ………122
30 Bảng 3.1.Dự kiến chỉ tiêu chung các phương án TCLT của CNTP.HCM 138
31 Bảng 3.2 Dự báo nhu cầu và cơ cấu vốn đầu tư của TP HCM đến 2025 143
Trang 91 Một số khu công nghiệp Việt Nam ……… 57
2 Phân bố dân cư và mật độ dân số TP Hồ Chí Minh ……… 66
4 Công nghiệp TP HCM năm 2000 ……… 85
5 Hiện trang TCLTCN TP HCM năm 2010 ……… 93
6 Định hướng TCLTCN TP HCM năm 2020 ……… 151
7 Định hướng TCLTCN khu trung tâm vùng TP.HCM năm 2025 …… 153
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 1 Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ dân số TP Hồ Chí Minh so với cả nước ……… 60
2 Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ GDP TP Hồ Chí Minh so với cả nước ………… … 60
3 Biểu đồ 2.3 GTSXCN của TP.HCM so với cả nước……… 80
4 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu dự án đầu tư FDI công nghiệp ở TP.HCM ……… 95
5 Biểu đồ 2.5 Quy mô vốn FDI của các dự án trong KCN ………… … 97
6 Biểu đồ 2.6 Tỉ trọng vốn các dự án FDI theo ngành trong KCN … 97
7 Biểu đồ 2.7 Tỉ trọng CN trong cơ cấu GDP TP HCM (2000 – 2010) 107 8 Biểu đồ 2.8 Tốcđộ tăng trưởng GTSXCNcủa TP.HCM (2000 – 2010) 108 9 Biểu đồ 2.9 Cơ cấu GTSXCN các ngành chủ lực của TP HCM 109
10 Biểu đồ 2.10 GTSXCN và tốc độ tăng trưởng của các thành phần kinh tế ở TP Hồ Chí Minh .…… 119
11 Biểu đồ 2.11 Cơ cấu lao động CN theo thành phần kinh tế 121
12 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu GDP năm 2010 và 2020……… 134
13 Biểu đố 3.2 Hiện trạng và dự báo GDPCN/ LĐ ở TP HCM ………… 138
14 Biểu đố 3.3 Hiện trạng và dự báo GDPCN củaTP HCM ………… 138
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp là ngành kinh tế động lực trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, CN giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế – xã hội đối với mỗi quốc gia TCLTCN một cách khoa học sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển không chỉ ngành CN mà còn thúc đẩy nhanh nền kinh tế –
xã hội của đất nước Việt Nam là một quốc gia đang tiến hành CNH - HĐH từng bước đưa nước ta vượt qua giai đoạn có thu nhập trung bình thấp1, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có thu nhập theo giá thực tế 3000 USD/người [15, tr.103] CN Việt Nam nói chung và CN
TP HCM nói riêng đang phát triển với tốc độ khá cao liên tục nhiều năm, nhưng chủ yếu phát triển theo chiều rộng nên giá trị gia tăng thấp, năng suất lao động thấp, tính cạnh tranh yếu
TP HCM là TTCN lớn nhất cả nước, cơ bản phát huy được các điều kiện thuận lợi đặc biệt về vị trí địa lí, nguồn lực kinh tế xã hội,… nên đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH – HĐH Công nghiệp TP HCM chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong VKTTĐPN và cả nước Năm 1991, TP HCM xuất hiện hình thức TCLTCN mới, đó là KCX Tân Thuận
Đến năm 2010, TP HCM đã có nhiều hình thức TCLTCN như KCN, KCX, KCNC và CVPM; ngoài KCN tập trung còn có 30 CCN và số lượng CSSXCN lên đến 56 959 cơ sở GTSXCN chiếm 22,18% cả nước, GDP bình quân mỗi lao động CN đạt 6581 USD Tuy vậy, trong 10 năm gần đây (2000 – 2010), CN TP HCM vẫn phát triển theo chiều rộng, GTSXCN có xu hướng giảm
về tốc độ tăng trưởng, giảm tỉ trọng và giảm tốc độ tăng trưởng GTSXCN bình quân đầu người so với cả nước và một số địa phương khác Cơ cấu GTSXCN theo ngành của TP HCM chuyển dịch chậm, cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế tuy chuyển dịch rất nhanh nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ, cực nhỏ với những hạn chế lớn về vốn, kĩ thuật, máy móc thiết bị và quản lí,… dẫn đến năng suất lao động thấp, giá trị gia tăng thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, tính cạnh
1 Theo WB công bố năm 2009 phân loại nước có thu nhập USD/người/năm như sau: thu nhập thấp ≤ 935; trung bình thấp 936 – 3705; trung bình cao 3706 – 11455; thu nhập cao ≥ 11456
Trang 11tranh trên thương trường yếu,… Đặc biệt các ngành công nghệ cao phát triển chậm chạp, nhiều cơ sở công nghiệp của TP HCM còn gây ô nhiễm môi trường trầm trọng; phát triển công nghiệp chưa gắn chặt với xử lí chất thải đúng theo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường; việc phân bố và đầu tư CN vẫn còn những vấn đề bất cập về cơ cấu, chưa ổn định, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu chậm chạp Để CN TP HCM khắc phục những tồn tại hạn chế, vượt qua thách thức tụt hậu, phát triển nhanh, đúng hướng, phát huy hết mọi nguồn lực, đem lại hiệu quả cao về KTXH và môi trường thì nhất thiết phải nghiên cứu và TCLTCN một cách khoa học, để góp phần cho CN TP HCM thực
sự vừa khắc phục những tồn tại, hạn chế, vừa thực hiện đi trước, đón đầu, phát triển đúng quy luật trong thời đại toàn cầu hoá
Đặc biệt, sau khi nước ta gia nhập WTO (1/2007), xuất hiện rất nhiều cơ hội và thách thức to lớn trong SXCN, đòi hỏi chúng ta phải làm như thế nào để vượt lên, hội nhập sâu rộng và đạt tốc độ tăng trưởng cao trong CN gắn liền với phát triển bền vững? Một trong những mấu chốt nhằm phát huy tổng hợp sức mạnh của mọi nguồn lực, đó chính là TCLTCN một cách khoa học
Đề tài luận án “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh” nhằm góp phần TCLTCN tốt hơn, đúng định hướng, đạt hiệu quả cao hơn, trên cơ sở phân bố, sắp xếp, các ngành CN một cách hợp lí, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả KTXH, môi trường; đưa CN TP HCM phát triển nhanh, hiện đại, bền vững
trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc về lí luận và thực tiễn TCLTCN, nghiên cứu, đánh giá thực trạng và hiệu quả TCLTCN ở TP HCM, phát hiện những hạn chế, bất cập trong TCLTCN của TP HCM giai đoạn 2000 - 2010
Đề xuất định hướng, giải pháp, phù hợp với TCLTCN ở TP HCM
Trang 12– Phân tích thực trạng TCLTCN trên địa bàn TP HCM
– Đề xuất định hướng, giải pháp để khắc phục những bất cập, hạn chế, phát huy cao độ mọi nguồn lực, nhằm đạt hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững
2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung:
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTCN TP Hồ Chí Minh
+ Nghiên cứu thực trạng TCLTCN trên địa bàn TP HCM, trong đó chủ yếu nghiên cứu KCN tập trung và Trung tâm công nghiệp TP Hồ Chí Minh
+ Đề xuất định hướng, giải pháp phù hợp với TCLTCN ở TP HCM
giữa thế kỉ 20, nổi bật là lí thuyết “Chu trình năng lượng sản xuất” của N.N
Koloxopxki (1947), lí thuyết “Phân công lao động theo địa lí” của N.N
Trang 13Baranxki,…có ảnh hưởng tích cực đến TCLT kinh tế và TCLTCN Trong nghiên cứu TCLT, các nhà khoa học Xô viết dùng thuật ngữ lãnh thổ “Territory”
Ở châu Âu, việc nghiên cứu TCLT cũng đã được nghiên cứu từ lâu, đặc biệt phát triển nhanh từ nửa sau thế kỉ 20 và đã trở thành một khoa học quản lí
lãnh thổ có hiệu quả Có thể nói, từ các cơ sở lí thuyết kinh tế như lí thuyết “Bàn
tay vô hình” của Adam Smith và lí thuyết “Quy luật lợi thế so sánh” của David
Ricardo đến các công trình nghiên cứu của J.Tuynen (1826), của Alfred Weber (1909) đưa ra “lí thuyết định vị CN” nhằm cực tiểu hoá chi phí và cực đại hoá lợi
nhuận; “Lí thuyết điểm trung tâm” của W Christaller (1933), lí thuyết “Cực tăng
trưởng” của Françoi Perroux (1949), đã hình thành các cơ sở lí thuyết và được vận dụng rộng rãi vào thực tiễn ở nhiều nước phương Tây và Hoa Kì Trong nghiên cứu TCLT, các học giả phương Tây đã dùng thuật ngữ không gian
“Space”
Hai thuật ngữ “Space” và “Territory” tuy có khác nhau về từ ngữ, nhưng
cả hai đều hàm chứa nội dung không gian và lãnh thổ Do vậy, trong nghiên cứu TCLT có thể sử dụng hai thuật ngữ này đồng nghĩa về nội dung
• Về tổ chức không gian kinh tế, có nhiều công trình nghiên cứu của
các học giả phương Tây Các khái niệm về tổ chức không gian kinh tế được nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau như J.R.Boudeville đã đưa ra định nghĩa : “Không gian kinh tế vừa là không gian địa lí, vừa là không gian toán học… là sự áp dụng toán học vào không gian địa lí, là sự phân bố, liên hệ kĩ thuật và mối quan hệ ứng xử giữa người sản xuất với người tiêu thụ” Theo R.L.Morill : “Tổ chức không gian là kinh nghiệm của con người sử dụng không gian Trái Đất” Nhìn chung các tác giả phương Tây đã đưa ra khái niệm chung nhất về TCKG kinh tế hay nói cách khác là TCLT kinh tế, trong đó có TCLTCN
và tìm cách để sử dụng lãnh thổ đó một cách có hiệu quả cao nhất
– Ở Việt Nam:
Đầu thế kỉ XX đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế Từ sau ngày hoà bình lập lại, có nhiều nhà khoa học như GS Lê Bá Thảo, GS.TS Trần Đình Gián, GS.TS Lê Thông, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Ngô Doãn Vịnh, PGS.TS Đặng Văn Phan, PGS.TS
Trang 14Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, PGS TS Phạm Xuân Hậu… và nhiều luận án Tiến sĩ nghiên cứu các vần đề liên quan đến TCLT kinh tế – xã hội nước ta
Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ ở nước ta đã được quan tâm khi các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu vấn đề phân vùng, quy hoạch, phân bố lực lượng sản xuất như “Tổng sơ đồ phát triển và phân bố công nghiệp” (1994),… Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, nếu xét trên phạm vi tổ chức hành chính là một nội dung của tổ chức lãnh thổ thì từ khi lập nước, cứ mỗi lần thay đổi triều đại là mỗi lần lại thay đổi cương vực và cả tên của các khu vực hành chính Như vậy, trên thực tế từ ngàn xưa, các dân tộc sống trên lãnh thổ của từng quốc gia đã luôn luôn “tổ chức” lãnh thổ của mình (dù tự giác hay không tự giác) nhằm đảm bảo cuộc sống và hưng thịnh quốc gia [37] Ngày nay, tổ chức lãnh thổ KTXH nói chung và TCLTCN nói riêng được quan tâm hơn bao giờ hết
3.2 Các lí thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ
– Trên thế giới:
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các lí thuyết về TCLT (TCKG) Trong đó, một số quan điểm chủ yếu dựa vào các nhân tố khách quan gắn liền với cơ cấu nguồn nội lực lẫn ngoại lực của từng vùng, từng quốc gia và đặc điểm kinh tế – kĩ thuật cụ thể của từng ngành công nghiệp; những quan điểm còn lại đặt nền tảng vào hành vi của các nhà đầu tư, của chủ doanh nghiệp Các lí thuyết về phân bố công nghiệp tối ưu đầu tiên được nghiên cứu do Alfred Weber (1909) đưa ra, sau đó được các tác giả Greenhut (1956) và Adam Smith (1981) cải thiện Lí thuyết vị trí phân bố công nghiệp tối ưu quan tâm đến hai yếu tố đầu vào và đầu ra; còn lí thuyết hành vi do O’Kelly (1989) và Adam Smith (1995) đưa ra, phân tích cơ cấu của đơn vị có nhu cầu lựa chọn địa điểm đầu tư và tạo ra những liên kết Mỗi lí thuyết đều có cơ sở riêng, có giá trị nhất định trong điều kiện hoàn cảnh đương thời; song dường như chưa có lí thuyết nào cân nhắc đầy
đủ đúng nghĩa yếu tố vận động theo thời gian – mà trong đó khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão – làm lu mờ và thay thế nhanh cái cũ, làm xuất hiện
và tăng nhanh cái mới hầu khắp trong các ngành CN Đó là một đặc trưng mới hiện đại trong TCLTCN ngày nay
Trang 15– Ở Việt Nam:
Ở nước ta nói chung và TP HCM nói riêng, vấn đề nghiên cứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã được nhiều nhà khoa học cũng như các nhà quản lí quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, ví dụ một số công trình sau đây:
– Từ những năm 80 của thế kỉ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu tổ chức không gian KTXH nhằm mục đích phân vùng KTXH Việt Nam Các vấn đề liên quan đến TCKG KTXH đã được đưa vào giảng dạy ở nhiều trường đại học ở nước ta và thu hút nhiều đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng và các nghiên cứu sinh Các công trình tiêu biểu của các nhà khoa học như:
- Cố GS Lê Bá Thảo, 1992, Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và
các tuyến trọng điểm, đến năm 1996 GS Lê Bá Thảo tiếp tục nghiên cứu Cơ sở khoa học của việc TCLT Việt Nam Qua các công trình nghiên cứu của minh GS
Lê Bá Thảo đã phân tích thực trạng phân bố không gian CN Việt Nam, qua việc
so sánh với lí thuyết, giáo sư chỉ ra tính hợp lí và bất hợp lí Qua đó, giáo sư đã đưa ra các điều kiện và khả năng phân bố CN, dự báo sự phát triển một số ngành
CN Việt Nam
– PGS Văn Thái năm 1995 đã “Nghiên cứu đánh giá toàn bộ KCX ở Việt
Nam”; công trình “Nghiên cứu sự hình thành và phát triển các KCN tập trung ở Việt Nam” của Lê Văn Ninh,… Các tác giả đã phân tích cơ sở khoa học trong việc hình thành và phát triển, các quan điểm về KCN, KCX, việc quy hoạch các KCN, KCX ở Việt Nam
– GS TS Lê Thông và PGS TS Nguyễn Minh Tuệ, năm 2000 đã viết cuốn “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam”, trình bày cơ sở lí thuyết và thực tiễn về TCLTCN [52]
– Bản báo cáo tổng hợp “Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” tháng 4/2004, chủ nhiệm đề tài là TS Trần Du Lịch, PGS.TS Đặng Văn Phan [20], đề tài này đã phân tích hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN, đánh giá vấn đề tồn tại phát triển kinh tế của vùng, đồng thời đánh giá các KCN, KCX trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 16– Kỉ yếu KCN, KCX Việt Nam 2002 – NXB TP HCM Kỉ yếu hội nghị – hội thảo quốc gia:15 năm xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam (1991 – 2006) Trong các báo cáo đã trình bày những thành tựu và hạn chế của các KCN, KCX ở nước ta
– HEPZA – Ban quản lí các KCX và công nghiệp TP HCM đã cho ra kỉ yếu “10 năm phát triển và quản lí các KCX và công nghiệp TP HCM 1992 - 2002” Giới thiệu các KCN, KCX, KCNC trên địa bàn TP HCM Trang Web HEPZA thường xuyên giới thiệu, đưa tin hoạt động của các KCN [89] và báo cáo của HEPZA năm 2011,
– Năm 2004, TS Trần Du Lịch đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Các KCN tập trung, các CCN trên địa bàn TP HCM, thực trạng và kiến nghị điều chỉnh” [19] Nội dung đề tài liên quan đến các vấn đề quan tâm là : đề nghị chuyển đổi một số KCN thành CCN (như KCN Phú Mỹ, Tân Quy, Bắc Thủ Đức, Phong Phú, Đông Thạnh, Phú Hữu) Hướng phân bố một số ngành gây ô nhiễm độc hại như hoá chất, cao su được đề nghị di dời và phát triển về phía đông nam (ở phía
hạ lưu sông Sài Gòn – như ở KCN Hiệp Phước)
– Tháng 11 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt phát triển CN TP HCM đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020” Trong đó có nhiều chỉ tiêu quan trọng như GTSXCN so với cả nước (năm 2010 : 29,1%, năm 2020 : 30,1%), tỉ trọng CN trong cơ cấu GDP của Thành phố năm 2010 : 39,28%, năm 2020 : 39,66%, lao động CN của Thành phố năm 2010 : 1,2 triệu, năm 2020 : 1,55 triệu người
- Đến tháng 1 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 [63]
Ở Việt Nam đã có các hình thức TCLTCN : điểm CN, CCN, KCN, KCX, KCNC, CVPM, TTCN, dải CN, vùng CN
Ở TP HCM đã có các hình thức TCLTCN : ĐCN, CCN, KCN, KCX, KCNC, CVPM, TTCN
Trang 17Về TCLTCN, chưa có công trình chuyên biệt nào mang tên “Nghiên cứu
TCLTCN ở TP HCM” Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan
như đề cập ở phần trên, cùng với quan điểm của các nhà khoa học về TCLT nói chung và TCLTCN nói riêng là các tư liệu quý giá để tác giả có thể tiếp tục nghiên cứu đề tài này một cách sâu sắc hơn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã cố gắng thu thập tổng hợp tài liệu
về công nghiệp, về các tư liệu liên quan và tiến hành khảo sát thực địa tại các ĐCN, CCN, KCN, KCX, KCNC, CVPM và TTCN Trên cơ sở đó, xử lí số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng TCLTCN TP HCM, nhằm đưa ra những nhận định, định hướng TCLTCN TP HCM có cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, phù hợp với bối cảnh và xu thế nền công nghiệp thế giới, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường Tuy nhiên, với khuôn khổ của một luận
án và thời gian có hạn nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết Tác giả luận án rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chân thành của các Nhà khoa học, quý Thầy, Cô và quý độc giả để đề tài hoàn thiện hơn
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Trang 18xây dựng tổ chức lãnh thổ công nghiệp hiện tại, tương lai một cách đúng đắn, khoa học, phù hợp với các nguồn lực và xu thế thời đại
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Công nghiệp là một hệ thống nhiều ngành, tổ chức lãnh thổ công nghiệp bao gồm cơ cấu và phân bố các ngành công nghiệp và các kết hợp sản xuất lãnh thổ, hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ và khả năng điều khiển của các hệ thống trong không gian các ngành Vì thế, khi nghiên cứu đề tài Tổ chức lãnh thổ công nghiệp TP HCM cần phải chú ý đến quan điểm hệ thống
4.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Quá trình hình thành, phát triển TCLTCN ở TP HCM có sự biến đổi rõ nét qua từng giai đoạn lịch sử, gắn với phát triển KTXH của đất nước nói chung
và TP HCM nói riêng Trong quá trình đổi mới đường lối phát triển KTXH, sự hợp tác kinh tế quốc tế và khu vực ảnh hưởng rất lớn đến TCLTCN cả nước và
TP HCM
Do vậy, khi nghiên cứu TCLTCN ở TP HCM cần phải chú ý phân tích, đánh giá tình hình phát triển và phân bố CN trong bối cảnh lịch sử nhất định Đặc biệt cần chú ý đến các mốc lịch sử quan trọng như thời kì đổi mới KTXH, thời điểm Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN, WTO, lộ trình thực hiện các cam kết FTA, WTO
Mặt khác, quan điểm viễn cảnh cũng được đặc biệt quan tâm với thuật ngữ “tầm nhìn” như quy hoạch đến năm 2020, 2025 và tầm nhìn xa hơn liên quan rất mật thiết với xu thế của thời đại
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Sự phát triển và phân bố CN có những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, tài nguyên: cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu Trong quá trình phát triển sản xuất CN và đô thị hoá, nhất là giai đoạn đầu, công nghiệp thường phát triển và phân bố tự phát, thiếu sự
tổ chức, quản lí, thiếu quy hoạch chính xác Do đó, tình trạng TCLTSX không
Trang 19hợp lí như bố trí các CSSXCN gây ô nhiễm môi trường phân bố trong khu dân
cư, hoặc các CSSXCN bố trí gần nhau nhưng không tạo được mối liên hệ về mặt kinh tế, kĩ thuật, mà ngược lại gây cản trở cho nhau trong sản xuất như làm giảm chất lượng sản phẩm, gây ách tắc giao thông,
Vì vậy, TCLTCN ở TP HCM cần phải chú ý quán triệt quan điểm phát triển bền vững xuyên suốt từ khi lập các phương án phát triển, phân bố các KCN, CCN, các xí nghiệp CN sao cho vừa đảm bảo phát triển KTXH, vừa bảo vệ môi trường sinh thái, không phương hại đến các thế hệ tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thống kê
TCLTCN là vấn đề rất rộng, do vậy khi nghiên cứu cần phải dựa vào khối lượng các nguồn tư liệu rất lớn, từ số liệu thống kê trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Thống kê TP HCM, Viện kinh tế TP HCM, các số liệu của các KCN, KCX, Sở CN TP HCM, của Viện Quy hoạch
Đô thị, Sở Tài nguyên Môi trường, Niên giám Thống kê của các quận huyện TP HCM,… Trên cơ sở thống kê, tác giả lựa chọn tư liệu, xử lí số liệu, phục vụ việc nghiên cứu đề tài luận án
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh
Dựa trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được, tác giả đã xử lí, sắp xếp, phân loại và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Tác giả so sánh lợi thế của TTCN, KCN, KCX TP HCM, xác định hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp TP HCM Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của lãnh thổ CN TP HCM, từ đó đưa ra định hướng TCLTCN ở TP HCM
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các số liệu của các cơ quan ban ngành trong cả nước về thống kê KTXH, về TCLTCN trong nước để phân tích, so sánh
4.2.3 Phương pháp thực địa
Phương pháp thực địa là phương pháp đặc trưng của Địa lí học, giúp tác giả xác định được thực tế phân bố và phát triển TCLTCN ở TP HCM, khẳng định mức độ tin cậy của các tài liệu, số liệu Tác giả tiến hành thực địa, nghiên cứu các ĐCN, CCN, KCN, KCX, KCNC, CVPM và TTCN TP HCM, tìm hiểu
Trang 20những thành công và thách thức đối với TCLTCN, nhằm góp phần đưa ra những định hướng, giải pháp có cơ sở
Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia: các nhà khoa học, các nhà quản lí về vấn đề TCLTCN ở TP HCM nói riêng và TCLTCN nói chung để có sự phân tích đa chiều Tác giả đi thực địa, tìm hiểu các KCN về những tác động của các xí nghiệp CN đối với KTXH và môi trường
4.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Bản đồ và biểu đồ vừa là nguồn tư liệu quý để tác giả nghiên cứu, đồng thời là phương tiện để tác giả trình bày công trình nghiên cứu của mình, vận dụng đưa kết quả nghiên cứu vào các bản đồ thể hiện TCLTCN ở TP HCM từ hiện trạng đến định hướng
4.2.5 Phương pháp dự báo
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tổ chức, phân bố sản xuất công nghiệp trong quá khứ, hiện tại; Nghị định 92 của Thủ tướng Chính phủ năm 2006 [62], Quyết định Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP HCM đến năm
2025 [63] và bối cảnh, xu thế phát triển CN của thế giới, xu thế toàn cầu hoá, ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, từ đó đưa ra các dự báo phương án phát triển Phương pháp dự báo dựa trên nguồn lực và thực trạng, phân bố CN chủ yếu từ năm 2000 đến năm 2010 để định hướng TCLTCN đến năm 2020, 2025
4.2.6 Phương pháp hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS) phân tích xử lí các thông tin về lãnh thổ công nghiệp, thiết lập các bản đồ hiện trạng TCLTCN năm 2010, định hướng TCLTCN 2020, khu trung tâm vùng
TP HCM năm 2025
5 Những đóng góp chính của luận án
- Đúc kết có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTCN ở các nước trên
thế giới và Việt Nam áp dụng vào thực tế nghiên cứu TCLTCN ở một địa phương cụ thể
- Đánh giá khách quan, khoa học những nhân tố tác động, những tồn tại, hạn
chế, bất cập, những thời cơ và thách thức trong quá trình TCLTCN ở TP HCM
Trang 21- Đề xuất định hướng, giải pháp TCLTCN ở TP HCM nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, hiện đại hoá và phát triển bền vững
- Đề xuất mô hình phát triển Công viên công nghiệp đô thị (sạch, xanh, hiện
đại, bền vững) phù hợp với xu thế thời đại
- Luận án là tài liệu thiết thực giúp cho việc tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy, đặc biệt giúp cho các nhà quản lí địa phương, các ngành có thêm cơ sở
để ra các quyết định chính xác về TCLTCN nói riêng và TCLTKT nói chung của địa phương
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Chương 2 : Thực trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Chương 3 : Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ công nghiệp TP Hồ Chí
Minh
Trang 22CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỒ CHỨC
LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm tổ chức lãnh thổ (tổ chức không gian)
1.1.1.1 Khái niệm không gian
Các Mác đã khẳng định: ‘‘Với trình độ phát triển nhất định của năng suất lao động bao giờ cũng cần một không gian nào đó’’
Theo từ điển Địa lí của Oxford Universiry Press, 1997, không gian (space) là phạm vi của một vùng hay một khu vực thường được thể hiện dưới dạng bề mặt Trái Đất Các mối quan hệ không gian giữ vị trí trung tâm trong Địa
lí học Tuy nhiên, ở đây cần phân biệt hai khái niệm không gian tuyệt đối và
không gian tương đối
Không gian tuyệt đối là một không gian tuyệt đối khách quan Không gian tương đối là một không gian nhận thức bởi con người hay xã hội có liên
quan tới các mối liên hệ giữa những đối tượng và khuynh hướng của đối tượng
đó [38]
Thuật ngữ lãnh thổ : “Territory” là thuật ngữ mà trường phái các nhà khoa học Xô Viết thường dùng trong TCLT Ở nước ta, lãnh thổ cũng được hiểu theo nghĩa không gian bao gồm : vùng đất, vùng trời, vùng biển và vùng dưới lòng đất Do vậy, tổ chức lãnh thổ ở đây bao hàm nghĩa không gian TCLTCN là một bộ phận của quy hoạch tổng thể về tổ chức không gian kinh tế – xã hội được
cụ thể hoá
1.1.1.2 Tổ chức không gian kinh tế – xã hội
• Nhận thức về tổ chức lãnh thổ KTXH
Theo quan điểm của các nhà Địa lí phương Tây: TCLT (TCKGKTXH)
được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỉ lệ, quan hệ hợp lí về sự phát triển KTXH giữa các ngành trong một vùng lớn hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối quan
hệ giữa các quốc gia để tạo nên giá trị mới
Trang 23Theo quan điểm của các nhà Địa lí Xô viết: TCLT KTXH là sự sắp xếp,
bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối liên hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực
để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường
Tổ chức lãnh thổ được hiểu là toàn bộ quá trình hoạt động của con người nhằm phân bố các cơ sơ sản suất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên có liên quan đến các mối liên hệ, quan hệ, các phụ thuộc lẫn nhau của chúng Các hoạt động này phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và trên cơ sở các quy luật kinh tế hoạt động trong hình thái xã hội tương ứng Mục tiêu cơ bản
của nền kinh tế là đạt đến cơ cấu sản xuất năng động hợp lí, phát triển bền vững
của đất nước hay từng vùng cụ thể Tổ chức lãnh thổ cũng nhằm phát triển tổng hợp, có hiệu quả cao cho nền sản xuất, sử dụng hợp lí các nguồn lực tài nguyên, nâng cao thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân Như vậy, tổ chức lãnh thổ KTXH góp phần vào mục đích phát triển kinh tế bền vững
Tổ chức lãnh thổ KTXH còn được hiểu như sự kết hợp của các cấu trúc lãnh thổ đang hoạt động : cấu trúc lãnh thổ quần cư, cấu trúc không gian xã hội, cấu trúc không gian sản xuất,… Tổ chức lãnh thổ (không gian) chính là hướng tới quy luật phát triển khách quan trên con đường phát triển tối ưu của một lãnh
thổ [38], [56]
• Không gian KTXH
Không gian kinh tế – xã hội là một bộ phận lãnh thổ có khả năng cung cấp các nguồn lực phát triển, chứa đựng các hoạt động KTXH thông qua những quan
hệ phân bố, những liên kết kinh tế liên ngành, liên vùng và quốc tế Dưới góc độ
tổ chức không gian, người ta thường xem không gian KTXH là một trường lực với 3 thành phần sau đây:
+ Trung tâm KTXH (còn gọi là cực hay nút phát triển): là nơi có nhiều nguồn lực thuận lợi, tập trung dân cư đông đúc, các hoạt động công nghiệp chế biến và dịch vụ phát triển hơn cả Đây là bộ phận tạo ra các lực liên kết kinh tế –
xã hội, hay còn được gọi là bộ phận tạo lực
Trang 24+ Hành lang phát triển: là nơi diễn ra các dòng liên kết kinh tế – xã hội
giữa các trung tâm Thực chất đây chính là mạng lưới hạ tầng, bao gồm : đường
sá, bến bãi, điện, thông tin liên lạc thông qua hành lang, sức phát triển từ trung tâm sẽ dẫn truyền ra các bề mặt, hành lang phát triển đi đến đâu, ở đó sẽ có sự phát triển
+ Bề mặt: là những “vùng trống” của không gian kinh tế – xã hội, nơi dân
cư thưa thớt, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp hoặc công nghiệp khai thác đơn thuần Bề mặt là bộ phận chịu tác động bởi các lực từ trung tâm thông qua hành lang, những nơi nào gần trung tâm và hành lang thì sẽ có trình độ phát triển cao hơn; càng xa trung tâm, xa hành lang thì càng kém phát triển Nơi nào sức ảnh hưởng của trung tâm trở nên không đáng kể thì nơi đó chính là ranh giới của bề mặt
o Vùng phân cực
Vùng phân cực là một không gian không đồng nhất, các bộ phận khác nhau của nó có tính chất bổ sung lẫn nhau và duy trì với một cực chi phối và trao đổi với cực này nhiều hơn bất kì một cực nào khác có cùng quy mô tầm cỡ chi phối một vùng kế bên “Vùng phân cực là tổng thể những liên hệ có thang bậc, tồn tại giữa các cực kinh tế, tuỳ theo các dòng nối liền chúng với nhau” (J.R.Boundeville)
Hai yếu tố đặc trưng của vùng phân cực là khái niệm liên hệ (liên kết) và khái niệm thang bậc (phi đối xứng)
Sự phân cực là tổng thể một mạng lưới những giao lưu, những liên hệ Chính vì các đơn vị kinh tế tồn tại trên lãnh thổ (ngành, khu vực, thành phố) giao lưu với nhau mà hợp thành những tổng thể phân cực
Các liên hệ được quan tâm xem xét :
+ Liên hệ vị trí – địa lí
+ Liên hệ kĩ thuật – công nghệ
+ Liên hệ kinh tế, thị trường song phương, đa phương
o Quan niệm về ‘‘cực’’ [34], [37]
Trang 25Cực là một phức hợp tổng thể những hoạt động kinh tế – xã hội có hiệu quả, tạo nên sức hút, trên cơ sở những liên hệ bổ sung lẫn nhau đa chiều, nhờ đó
mà duy trì được sức hút Đó là lí do tồn tại cực
+ Cực phát triển: khi tổng thể các hoạt động của cực có một hoạt động có
tính động lực thì đó là cực phát triển Cực phát triển là một phức hợp trong đó có một hoạt động động lực xoay quanh nó, nhờ đó có những tác động lôi cuốn mạnh
mẽ đối với các khu vực xung quanh, các vệ tinh và toàn bộ nền kinh tế vùng Tác động ấy rất đa dạng và thể hiện khác nhau theo tình hình cụ thể, nhưng bản chất
là năng động, đổi mới, dẫn đến tiến bộ kinh tế có thể thúc đẩy tạo lập những ngành hoạt động mới, có thể làm cho tổng quy mô của ngành hiện có thay đổi cơ
cấu, đổi mới kĩ thuật, đổi mới phương thức tổ chức
+ Cực tăng trưởng: là một tổng thể, một phức hợp những hoạt động, chịu
ảnh hưởng thúc đẩy của cực phát triển Các cực tăng trưởng là các vệ tinh của
cực phát triển Nhịp độ phát triển của các cực vệ tinh – cực tăng trưởng, thường
là mạnh, bởi chúng phản ứng mạnh và sâu đối với những thúc đẩy lôi cuốn từ cực phát triển
+ Cực liên kết: là một cực phát triển gắn liền hai hệ thống đô thị từ khi
chưa có mối liên hệ nào cho đến lúc nó tạo ra các mối liên hệ chặt chẽ, nhờ đó không chỉ tác dụng lôi cuốn của nó tăng lên mà các cực tăng trưởng vệ tinh cũng
tăng lên
– Thang bậc (tính phi đối xứng): hiện tượng phân cực dựa trên sự tồn tại của
các liên hệ, mà sau đó các liên hệ thay đổi tăng, giảm trong quá trình phát triển, dẫn đến các thay đổi theo tiêu chuẩn thang bậc Thang bậc là yếu tố chìa khoá
Trang 26+ Sự lan truyền đổi mới công nghệ kĩ thuật, thúc đẩy những nghiên cứu khoa học, sáng tạo khoa học – kĩ thuật
+ Lan truyền đổi mới về văn hoá, giáo dục, thể chế, những đổi mới về tư tưởng và tâm lí, thị hiếu của người sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến đổi mới nhu cầu về lượng và chất
Vậy, “ tổ chức không gian KTXH là quá trình lựa chọn có tính chiến lược
các cách thức phát triển và bố trí những trung tâm, những hành lang, các bề mặt, trên cơ sở tận dụng và phát huy cao nhất các nguồn lực, tạo ra cơ cấu không gian KTXH tối ưu trong một giai đoạn phát triển nhất định có tính đến tương lai xa hơn.”
Để đảm bảo tính chiến lược, có tầm nhìn xa sâu rộng và tổng hợp, quá trình
tổ chức không gian kinh tế – xã hội phải được thực hiện một cách trình tự, có kế thừa và điều chỉnh qua lại giữa các bước cơ bản sau đây:
+ Tổng hợp đánh giá các nguồn lực trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu
+ Đánh giá hiện trạng lãnh thổ, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế
có tính quy luật đối với tổ chức không gian kinh tế – xã hội của lãnh thổ được nghiên cứu
+ Lập các phương án tổ chức không gian để lựa chọn phương án tối ưu + Hoạch định các giai đoạn phát triển lãnh thổ cùng phương án quản lí điều hành và triển khai các biện pháp đầu tư, thực hiện
Như vậy, để tiến hành nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phải có sự phân tích những phân dị địa lí nhằm tìm ra các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), phân tích mối quan hệ lãnh thổ, sự tác động qua lại giữa các cấu trúc không gian thành phần để tổng hợp lại, nhận dạng một không gian tổng hợp vận động theo định hướng tối ưu Đó chính là sự định dạng mang tính khoa học
Trang 27
Không gian công nghiệp là một bộ phận đặc biệt quan trọng của không gian KTXH, vì tổ chức không gian công nghiệp gắn liền và đi trước một bước trong quá trình CNH - HĐH đất nước
Do vậy, quá trình tổ chức không gian CN có những ảnh hưởng lớn lao, thậm chí là quyết định đến toàn bộ quá trình tổ chức không gian KTXH, nhưng đồng thời cũng chịu những tác động từ các quá trình tổ chức không gian thuộc các lĩnh vực còn lại; như vậy đòi hỏi sự tương thích đồng bộ giữa tổ chức không gian KTXH với tổ chức không gian công nghiệp Các khái niệm về không gian KTXH, về sự hình thành và phát triển các không gian KTXH là những lí luận cần thiết khi xem xét đến cơ sở lí luận của việc phát triển và TCLTCN
TCLTCN được nghiên cứu từ lâu ở các nước châu Âu, châu Mĩ TCLTCN hợp lí, khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH Thực chất TCLTCN là một bộ phận quan trọng được cụ thể hoá chi tiết nằm trong tổng thể
tổ chức lãnh thổ KTXH
Theo A.T.Khơrusov (1979): TCLTCN là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất lao động cũng như tiết kiệm chi phí
để khắc phục sự không phù hợp trong lịch sử về phân bố các nguồn nguyên liệu,
Trang 28năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao [52]
Trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ta, TCLTCN
thường được hiểu “là việc bố trí hợp lí các cơ sở sản xuất công nghiệp, các điểm
dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên một phạm vi lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài lãnh thổ đó” [53]
Khái niệm TCLTCN được rút ra:
TCLTCN là một quá trình thiết lập, định dạng, chọn lọc, bố trí sản xuất công nghiệp một cách khoa học; tạo dựng các mối quan hệ tương tác đa ngành, liên vùng và quốc tế ngày càng sâu sắc; phát huy được các nguồn lực, thích ứng với khoa học công nghệ mới, tạo ra hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường
trong quá trình vận động phát triển bền vững
1.1.3 Các lí thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp
• “ Lí thuyết điểm trung tâm” của W Christaller:
“Lí thuyết điểm trung tâm” - Central Place Theory (CPT) của W.Christaller nhà Địa lí học người Đức (1933), sau đó được nhà bác học Đức A Lösch (1954)bổ sung và phát triển W Christaller và A Lösch đã khám phá ra quy luật phân bố không gian từ tương quan giữa các điểm phân bố dân cư, phát hiện một trật tự được tính toán trong sự phân bố các thành phố và nông thôn Điều đó được áp dụng khi quy hoạch dân cư trên lãnh thổ mới khai phá hoặc nghiên cứu những hệ thống không gian, hay làm cơ sở để xác định các nút trọng điểm Lí thuyết này chính là cơ sở để bố trí các điểm đô thị mới cho những vùng còn trống vắng đô thị
Trang 29• Lí thuyết cực tăng trưởng của Françoi Perroux – (introduced the idea of economic Growth Poles in 1949):
Sự phát triển kinh tế diễn ra không đều đặn tại tất cả các địa điểm trên phạm vi một lãnh thổ trong một thời gian nhất định, mà ngược lại có một số địa điểm kinh tế phát triển mạnh mẽ, còn những nơi khác thì trì trệ chưa phát triển Những điểm phát triển nhanh, mạnh là những trung tâm có nhiều lợi thế so với toàn vùng – đó là “ Cực tăng trưởng” Françoi Perroux đã đưa ra lí thuyết này, nhằm lựa chọn các lãnh thổ trọng điểm vào những năm đầu thập niên 50 của thế
kỉ XX Lí thuyết này chú trọng vào những thay đổi trong khuôn khổ một vùng, một khu vực của lãnh thổ, làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ Lí thuyết này giải thích sự cần thiết của việc phát triển có trọng điểm và các cực tăng trưởng [37]
Theo Françoi Perroux [37] quy định các cực tăng trưởng trong ý tưởng của ông là không gian kinh tế trừu tượng, gồm 3 loại:
Trang 30Paris làm cho các vùng lân cận rất khó khăn trong việc thúc đẩy phát triển kinh
tế
• Lí thuyết đầu tư tập trung:
Ở Trung Quốc vào thập niên 90 của thế kỉ XX, người ta đã đề xướng
Chính sách đầu tư tập trung và phát triển những vùng duyên hải phía Đông để
tạo động lực Trên cơ sở các điều kiện ràng buộc: vốn đầu tư và lao động kĩ thuật, điều kiện kết cấu hạ tầng tập trung vào một số nơi, lãnh thổ KTXH được phát triển với chủ trương đầu tư tập trung để đạt được hiệu quả kinh tế nhanh và cao, tạo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cho toàn bộ nền kinh tế, giảm bớt nghèo nàn và tạo sự tăng trưởng ổn định cho nền kinh tế Trung Quốc đã thành lập, hoạt động có hiệu quả các đặc khu kinh tế ở khu vực ven biển phía Đông và tiếp tục phát triển các vùng kinh tế, các khu công nghệ cao ở phía Tây và khu vực miền Trung của Trung Quốc
• Lí thuyết vị trí phân bố công nghiệp tối ưu (Khu vi luận):
Alfred Weber (1909) là người đầu tiên đưa ra lí thuyết phân bố công nghiệp tối ưu, sau đó được các tác giả khác tiếp tục phát triển như Greenhut (1956) và Smith (1981) Lí thuyết này chú ý đến hai yếu tố chính là:
– Yếu tố đầu vào rất quan trọng là nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, lao động, vốn đầu tư và đầu ra là thị trường tiêu thụ sản phẩm
– Yếu tố quan trọng thứ 2 là các chi phí đầu vào và chi phí phân phối sản phẩm đến thị trường tiêu thụ phải thấp, đặc biệt yếu tố chi phí được coi là yếu tố quan trọng nhất
Theo lí thuyết khu vi luận của Alfred Weber với mục đích tìm vị trí phân
bố CN tối ưu phải đạt được yêu cầu giá thành sản phẩm thấp nhất – “ Cực tiểu
hoá chi phí, cực đại hoá lợi nhuận” Dựa vào lí thuyết này để lựa chọn vị trí
thuận lợi nhằm xây dựng và phân bố CN Hiện nay, lí thuyết vị trí phân bố CN tối ưu vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành CN, kể cả CN kĩ thuật cao và dịch vụ thương mại Theo các nhà nghiên cứu TCLT cho rằng, lí thuyết này phù hợp với nền kinh tế đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình ĐTH, CNH, khi CN phát triển chưa mạnh (như nước ta chẳng hạn)
Trang 31• Lí thuyết hành vi:
O’Kelly (1989) và Smith (1995) đã đưa ra lí thuyết hành vi, nội dung của
lí thuyết này dựa vào “tính hợp lí có giới hạn” và “cách tiếp cận hệ thống” để xác định vị trí phân bố CN Tính hợp lí có giới hạn có nghĩa là các công ti xí nghiệp thường khó đạt đến những vị trí phân bố tối ưu khách quan do bị giới hạn bởi một số yếu tố có tính chủ quan Các yếu tố đó thể hiện trong việc bố trí xí nghiệp, nhà máy còn phụ thuộc vào chính người ra quyết định, hoặc phụ thuộc vào tổ chức mà người đó chịu ảnh hưởng Do đó, việc lựa chọn địa điểm bố trí nhà máy,
xí nghiệp và bỏ vốn đầu tư còn phụ thuộc vào đường lối, chính sách phát triển
CN và ý nghĩ chủ quan của người quyết định tổ chức sản xuất Lí thuyết hành vi ảnh hưởng đến việc lựa chọn các vị trí phân bố CN ở trong các trường hợp cụ thể sau:
– Phân tích cơ cấu của đơn vị sản xuất có nhu cầu lựa chọn địa điểm đầu
tư và tạo những mối liên kết
– Mô hình hoá dự báo tăng trưởng và liên hệ với thực trạng của đơn vị
– Phân tích những tác động từ môi trường kinh tế bên ngoài đối với chiến lược phát triển của đơn vị
Lí thuyết hành vi có ưu điểm nổi bật là cân nhắc đến ảnh hưởng của những thay đổi trong môi trường kinh tế bên ngoài đối với hành vi của người ra quyết định điểm đầu tư Tuy nhiên, quan điểm hành vi quá đề cao vai trò quản trị của cá nhân, đôi khi lại bỏ qua những cơ sở khách quan cần thiết có ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả lựa chọn vị trí phân bố các xí nghiệp, nhà máy
• Các lí thuyết về phân công và hợp tác giữa các ngành công nghiệp:
Nhiều tác giả rất chú trọng đến công nghệ sản xuất trong CN, đặc biệt là tính liên hệ sản xuất thường xuyên giữa các ngành, tính liên tục giữa các khâu trong quá trình sản xuất, từ đó có những giải pháp phân bố các ngành CN cho phù hợp với các nguồn lực của từng nơi, từng vùng
Trang 32*Lí thuyết chu trình năng lượng sản xuất:
Quan điểm này do N.N Koloxopxki (1947) đề xướng và được nhiều nhà kinh tế Liên xô (cũ) ủng hộ vào những năm 1960 – 1970 Xuất phát từ đặc điểm công nghệ sản xuất của các ngành CN, nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả kinh tế gắn liền với sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tận dụng phế phụ phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các tác giả đã làm rõ những liên hệ sản xuất giữa các ngành khác nhau trên cơ sở sử dụng một loại tài nguyên nhất định
Chu trình năng lượng sản xuất là tập hợp các quá trình sản xuất có liên
quan với nhau, trong đó có nhiều quá trình sản xuất phụ xoay quanh một quá trình sản xuất chính; dựa trên cơ sở chế biến tổng hợp một loại nguyên liệu chủ yếu Như vậy, khi phân bố các xí nghiệp gần nhau phải theo những quy định chặt chẽ chứ không thể tuỳ tiện Đó là những xí nghiệp có liên hệ mật thiết với nhau
về sản xuất, có tác động mạnh mẽ đối với nhau chứ không chỉ đơn giản là cùng tồn tại trong một phạm vi không gian nào đó Mặt khác, sự tồn tại của xí nghiệp trong chu trình cũng phải phù hợp với cơ cấu nguồn lực
Trong các tài liệu về tổ chức không gian CN ở Mĩ, ở Anh, khái niệm liên hợp CN (industrial complex) đồng nghĩa với khái niệm chu trình năng lượng sản xuất
* Lí thuyết phân công chuyên môn hoá sâu và hợp tác hoá rộng:
Quy mô xí nghiệp gia tăng làm phát sinh nhu cầu chuyên môn hoá sâu trong các ngành CN Tổ chức sản xuất CN theo dây chuyền chuyên môn hoá được khởi xướng đầu tiên là Taylor Chuyên môn hoá sâu là quá trình phân công sản xuất ngày càng tỉ mỉ giữa các ngành CN Mỗi ngành chỉ tập trung sản xuất một bộ phận, thậm chí một chi tiết của bộ phận thành phẩm
Chuyên môn hoá sâu đã góp phần nâng cao tay nghề và tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm mà giá thành lại hạ Tuy nhiên, các xí nghiệp chuyên môn hoá sâu có xu hướng tách rời về không gian, ngày càng ít liên hệ với nhau, điều đó có thể dẫn đến mất cân đối công suất thiết kế, kém đồng
bộ về tiêu chuẩn kĩ thuật, đồng thời tăng chi phí vận chuyển các bộ phận, các chi tiết của thành phẩm Do đó, chuyên môn hoá sâu cần phải kèm theo hợp tác rộng
Trang 33Hợp tác hoá rộng là quá trình tổ chức những liên hệ sản xuất thường
xuyên giữa các xí nghiệp chuyên sâu, để từ nhiều nguyên liệu khác nhau tạo ra một loại sản phẩm cuối cùng
Các xí nghiệp hợp tác hoá có thể phân bố gần nhau để thuận lợi cho việc liên kết Như vậy, một khi đã có khả năng tạo địa bàn cho các xí nghiệp CN tập trung cao thì các xí nghiệp đó cần chuyên môn hoá sâu trong một tổ chức hợp tác hoá hơn là tập trung các đơn vị sản xuất ít liên hệ, thậm chí không liên hệ gì với nhau Thực hiện điều này, ngoài việc làm tăng hiệu quả tập trung, còn tránh được những tác động bất lợi có thể xảy ra giữa các xí nghiệp có mâu thuẫn về mặt công nghệ Tất nhiên, không hẳn toàn bộ các tổ chức hợp tác hoá đều phải phân
bố tập trung các xí nghiệp chuyên sâu của mình Khi quy mô tập trung vượt quá giới hạn cho phép của các nguồn lực, thì khiến chi phí sản xuất gia tăng, nên tốt hơn cả là bố trí các xí nghiệp chuyên sâu phân tán vào những nơi có lợi thế, thậm chí những quốc gia sẵn có các nguồn lực cần thiết cho xí nghiệp Như vậy, không gian hợp tác giữa các xí nghiệp chuyên sâu có thể mở rộng trên toàn quốc, thậm chí đa quốc gia
* Lí thuyết tạo cực phát triển:
Nhà kinh tế học người Pháp Françoi Perroux đã đưa ra lí thuyết tạo cực phát triển vào đầu những năm 1950, sau đó được các tác giả Albert, O.Hirshman, Gunnar, Myrdal, Friedmann tổng hợp, hoàn thiện Lí thuyết này cho rằng, CN và dịch vụ có vai trò to lớn trong việc tạo ra cực phát triển
Mỗi cực phát triển luôn có một “hạt nhân” CN hoặc hạt nhân dịch vụ làm then chốt gắn với địa bàn có lợi thế nhiều nhất so với toàn vùng Ngành CN hoặc dịch vụ then chốt đó phát triển thì kéo theo sự phát triển của các ngành khác, nhiều ngành CN và dịch vụ mới được thu hút vào Do đó, giải quyết được công
ăn việc làm, tăng thu nhập, sức mua tăng lên Đó chính là tổ chức không gian CN
và dịch vụ theo hướng tạo cực phát triển, phù hợp với những quốc gia thiếu vốn đầu tư, cần thu hút vốn từ nước ngoài (FDI)
Lí thuyết cực phát triển đã được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á như các nước ASEAN, Việt Nam, các đô thị lớn như TP HCM là các cực phát triển Trong TCLTCN ở TP HCM, việc xây dựng các khu đô thị mới được xác định là
Trang 34những cực tăng trưởng gắn với sự hình thành và phát triển KCN, KCX, KCNC, CVPM
1.1.4 Các yêu cầu cơ bản của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
* Tính khách quan của TCLTCN
Theo dòng lịch sử, nền kinh tế nông nghiệp gắn liền với sản xuất nhỏ và tiểu thủ công, công nghệ kĩ thuật lạc hậu, sản xuất theo lối truyền thống Khi máy móc ra đời, sản xuất CN hình thành và thay thế dần sản xuất nông nghiệp (chuyển dịch cơ cấu, tăng năng suất, giải phóng sức lao động) CN khi mới hình thành, phát triển tự phát, phân bố rải rác ở một số nước, lúc đó người ta chưa nghĩ đến tổ chức, quy hoạch lãnh thổ Càng về sau, CN phát triển lan rộng, quá trình CNH – HĐH đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết Do đó, người
ta chú ý đến việc nghiên cứu tổ chức sắp xếp nhà máy, xí nghiệp cần phân bố ở những vị trí phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đó là đòi hỏi khách quan của sản xuất CN, thúc đẩy việc nghiên cứu TCLTCN theo hướng định dạng, bố trí, sắp xếp SXCN khoa học, hợp lí để phát triển nhanh và bền vững, mang lại hiệu quả cao nhất về KTXH và môi trường
* Phân công lao động xã hội là tiền đề cuả TCLTCN:
Phân công lao động xã hội được hình thành khách quan từ nhu cầu phát triển của đời sống xã hội Khi sản xuất phát triển, nền sản xuất hàng hoá hình thành thay thế nền sản xuất tự cung tự cấp, tạo điều kiện cho sự phân công lao động xã hội phát triển và hình thành các ngành nghề riêng biệt, tạo ra sự CMH trong sản xuất
Cơ sở khoa học của TCLTCN xuất phát từ sự phân công lao động xã hội theo ngành và sự phân công lao động theo lãnh thổ ngày càng sâu sắc trong điều kiện khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển mạnh, làm cho TCLTCN có sự biến đổi sâu sắc Giữa các lãnh thổ KTXH có tốc độ tăng trưởng rất khác nhau, cơ cấu các ngành kinh tế nói chung và cơ cấu CN nói riêng có sự khác biệt sâu sắc Tuy nhiên, giữa chúng lại có mối quan hệ kinh tế, kĩ thuật sâu sắc, tạo nên những đặc trưng riêng về lãnh thổ KTXH và lãnh thổ SXCN
* Tập trung công nghiệp theo lãnh thổ:
Trang 35Tập trung CN theo lãnh thổ là tổ chức không gian CN khách quan, xuất phát từ bản chất hoạt động của ngành, được thể hiện ở hai mặt: một là, quy mô xí nghiệp ngày càng lớn; hai là, mật độ xí nghiệp ngày càng cao Tập trung hoá ngày càng cao trong CN do khả năng lan toả, tập hợp, hấp dẫn những ngành nghề khác nhau, hội tụ dân cư lao động thích ứng và tạo lập đô thị CN Tuy nhiên, quá trình tập trung CN diễn ra theo quy luật từ thấp đến cao và mức độ nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào sự chi phối mạnh mẽ của đường lối và chính sách phát triển CN trong quá trình CNH - HĐH, liên quan chặt chẽ với phân công lao động, đầu tư phát triển, thị trường
Quá trình tập trung hoá CN theo lãnh thổ còn tạo ra hệ thống không gian
CN với những cấp độ khác nhau, làm phân hoá lãnh thổ CN
1.1.5 Hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Quá trình tập trung CN thường tạo ra những lãnh thổ CN đặc thù có quy
mô, mức độ liên kết và tính đa dạng khác nhau Ở Việt Nam từ năm 1994, Viện Chiến lược – Bộ Kế hoạch Đầu tư đã đưa ra 6 hình thức TCLTCN Việt Nam: ĐCN, CCN, KCN, TTCN, dải CN, vùng CN Từ đó đến nay cùng với sự phát triển đã có thêm Khu kinh tế mở (KKTM) và tên gọi các hình thức nêu trên vẫn giữ nguyên, nhưng nhận thức nội dung bên trong có những thay đổi nhất định, như tiếp cận hướng đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, để phát triển nhanh, bền vững và tạo thế cạnh tranh trong lộ trình thực hiện các cam kết với WTO, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư hàm lượng kĩ thuật công nghệ cao, công nghiệp sạch, giá trị gia tăng cao,…
Có thể phân biệt các mức độ cơ bản của các hình thức TCLTCN từ thấp đến cao theo hệ thống phân vị nêu ở trên
* Điểm công nghiệp
ĐCN là hình thức thấp nhất trong hệ thống phân vị TCLTCN, bao gồm một vài xí nghiệp liền kề nhau, gắn với một điểm dân cư, phân bố gần nguyên
Trang 36liệu hoặc thị trường tiêu thụ, có cơ sở hạ tầng riêng Trong ĐCN thiếu vắng các mối liên hệ sản xuất với các xí nghiệp khác, nếu có cũng rất lỏng lẻo
ĐCN có thể là hạt nhân tạo ra những cụm kinh tế - xã hội ở nông thôn, giúp tận dụng nguồn nguyên liệu từ nông – lâm – thuỷ sản, lao động,… và đáp ứng kịp thời các nhu cầu trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư địa phương Tuy nhiên, đối với đô thị lớn như TP HCM, ĐCN ngoài những nét chung như có không gian, vị trí cụ thể, có quy mô chủ yếu là nhỏ, thiếu vốn và công nghệ, còn có những nét khác biệt như phân bố khá dày đặc, xen kẽ trong nhiều địa bàn dân cư, gắn chặt với thị trường, đa mối quan hệ,
áp lực về bảo vệ môi trường (nhiều CSSXCN phải di dời hoặc đóng cửa do gây ô nhiễm môi trường)
* Cụm công nghiệp
CCN là nhóm các xí nghiệp CN thường được bố trí, sắp xếp trên một địa bàn thống nhất, có quan hệ hợp tác trong xây dựng, có các công trình sử dụng chung như công trình phục vụ công cộng, công trình phụ trợ sản xuất, công trình giao thông vận tải, cấp thoát nước, cấp năng lượng và tuỳ mức độ có thể liên hệ
về dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế về vốn đầu tư, tiết kiệm đất đai xây dựng, tiết kiệm chi phí quản lí, khai thác, Quy mô diện tích thường nhỏ hơn hoặc có thể tương đương KCN Tại TP HCM có nhiều CCN đã hình thành, đang chuyển động vào hệ thống TCLTCN có nền nếp, tiêu chí ngành nghề rõ ràng Trong đó, có những CCN phát triển thành KCN như KCN An Hạ
* Khu công nghiệp
Theo quan niệm của địa lí Xô Viết, KCN là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nhưng chưa thật sự thống nhất về nội dung và những đặc trưng chủ yếu Các nhà khoa học của Đại học tổng hợp Mátxcơva đưa ra: KCN là sự tập hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp, tạo thành sự thống nhất kinh tế
và nền tảng là các ngành công nghiệp lớn có ý nghĩa toàn quốc và các ngành phục vụ có liên quan
Theo Peddle (1993): “KCN là một khoảng đất tương đối rộng chia nhiều
lô và được xây dựng hạ tầng, trong đó các xí nghiệp dễ dàng lựa chọn địa điểm
Trang 37phát triển, thống nhất sử dụng hạ tầng và hưởng những lợi thế vị trí liền kề nhau”
KCN có quy mô tập trung trung bình, bao gồm một số ĐCN phát triển gần nhau; thống nhất sử dụng mạng lưới hạ tầng, có thể có những liên hệ sản xuất nhất định giữa các xí nghiệp Hình thái tập trung này cho phép sử dụng hiệu quả hơn mạng lưới hạ tầng và các nguồn lực quan trọng khác
Trong những điều kiện không thuận lợi lắm về diện tích mặt bằng, hạ tầng, lao động, vốn đầu tư,… KCN chỉ là hạt nhân tạo nên hoặc làm tăng tốc CNH các đô thị nhỏ ở vùng nông nghiệp, như thị trấn, thị tứ,… Nhưng nếu diện tích mặt bằng có khả năng mở rộng, các điều kiện hạ tầng, lao động, vốn có thể tăng cường; đặc biệt là vị trí tiếp cận dễ dàng với các trung tâm tiêu thụ lớn (ngoại thành của thành phố lớn, trên địa bàn của thành phố loại vừa có diện tích
dự trữ, gần trục hoặc trung tâm giao thông quan trọng của quốc gia), KCN sẽ là hạt nhân tạo ra hoặc làm tăng tốc CNH các thành phố loại vừa như thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các vành đai ngoại thành Một số KCN phát triển liền kề nhau, tạo nên những TTCN quan trọng, hoặc cao hơn nữa
Theo các Nghị định của Chính phủ nước ta, như Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997: “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất” Định
nghĩa này chủ yếu nhằm phục vụ cho công tác quản lí, giúp các Ban quản lí KCN
và những cơ quan chức năng có liên quan phân biệt KCN với đối tượng khác về mặt hình thức và quy chế
Trong những năm gần đây, KCN được chú trọng phát triển và tăng cường quản lí nên đã có Ban quản lí riêng, vì vậy KCN được xem như một đối tượng quy hoạch phát triển CN Tuy nhiên, thực tế về nội dung, tính chất của KCN hiện nay đã có sự thay đổi về chất trong quá trình phát triển của KCN, các nhà máy xí nghiệp không chỉ phụ thuộc vào sự quản lí của KCN, mà còn chịu sự quản lí của
Trang 38chủ đầu tư và mối quan hệ kinh tế, kĩ thuật với các đối tác nước ngoài,… và sự giám sát của chính quyền địa phương, pháp luật của Nhà nước
Vì vậy, việc phát triển các KCN phải kết hợp với nhiều cơ quan, ban ngành và các đối tác, nhưng các dự án đầu tư vào KCN nếu đủ tiêu chuẩn thì chỉ cần đi qua xét duyệt “Một cửa, tại chỗ”
Tóm lại, có thể định nghĩa: “KCN là địa bàn thuận lợi, có ranh giới xác
định, tập trung CN tương đối lớn theo tiêu chí đề ra, chuyên sản xuất hàng CN
và thực hiện các dịch vụ liên quan đến sản xuất CN, thống nhất sử dụng cơ sở hạ tầng và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, không có dân cư sinh sống”
Xu hướng hiện đại của KCN là phát triển theo chiều sâu, bền vững, thân thiện với môi trường, tiện nghi cho người lao động Như vậy, KCN đang hướng đến mô hình Công viên CN theo ý nghĩa trên
cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu miễn thuế quan, KCN tự do,
khu ngoại thương tự do… hoặc bất kì loại khu xuất khẩu tự do nào”
+ Theo Tổ chức phát triển CN Liên Hợp Quốc (UNIDO): “KCX là một
khu vực tương đối nhỏ, phân cách về địa lí trong một quốc gia, nhằm mục tiêu thu hút đầu tư sản xuất công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho chúng những điều kiện về đầu tư, về mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần còn lại của nước chủ nhà Trong đó, đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu nguyên vật liệu dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế trên cơ sở kho quá cảng”
+ Theo Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển: “ KCX
là vùng cách biệt giữa một lãnh thổ quốc gia, được quy hoạch riêng, thường gần hải cảng, sân bay Các thiết bị, tài sản, nguyên vật liệu được nhập vào cũng như hàng hoá xuất đi từ khu vực này không phải chịu thuế hải quan, trừ những sản
Trang 39phẩm hay thành phẩm tái chế nhập/ xuất vào ngay lãnh thổ quốc gia được bảo vệ của nước chủ nhà”
+ Theo Uỷ ban Kinh tế – xã hội châu Á- Thái Bình Dương của Liên Hợp
Quốc: “KCX là KCN nằm trong vùng tự do thương mại Các hoạt động sản xuất
kinh doanh ở đây chủ yếu hướng vào xuất khẩu”
Các khái niệm nêu trên về KCX đều có những xác định điểm chung: KCX
là khu vực TCLTCN nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất CN hướng về xuất khẩu, trên cơ sở có các điều kiện thuận lợi như vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, khả năng hợp tác quốc tế và được hưởng các chính sách ưu đãi của nước chủ nhà
+ Theo dự thảo pháp lệnh KCX của Việt Nam ban hành: “ KCX là KCN
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu do Chính phủ quyết định thành lập tại những địa bàn có vị trí thuận tiện cho xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh
g iới địa lí ấn định, có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, có cổng ra vào, có hải quan riêng Hàng hoá của các xí nghiệp trong KCX được coi như hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ nước ngoài hoặc xuất khẩu ra nước ngoài”
Dưới góc độ TCLT nền kinh tế - xã hội, KCX là một dạng đặc biệt của KCN tập trung với các đặc trưng tổ chức lãnh thổ:
– Sản xuất CN tập trung, chuyên môn hoá các sản phẩm nhằm mục đích xuất khẩu
– Quy mô lãnh thổ KCX lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng phân bố kết hợp các nguồn vốn
– Đặc điểm xây dựng KCX phải thể hiện nhiều lợi thế so sánh so với nước ngoài, đồng thời thể hiện nhiều ưu thế đối với lãnh thổ trong nước
– Nước có KCX góp vốn dưới dạng cho thuê đất đai, mặt bằng xây dựng,
hệ thống cấu trúc hạ tầng, lao động và nguyên liệu Các chủ đầu tư (chủ yếu là nước ngoài) góp vốn dưới dạng ngoại tệ, xây dựng nhà máy, thiết bị công nghệ, vật tư kĩ thuật, nhân viên quản trị kĩ thuật và có thể một số nguyên liệu từ các nước láng giềng
Trang 40– Tạo khả năng thu hút vốn đầu tư
+ Tính biệt lập: KCX nằm cách li với các vùng xung quanh của nội địa,
các hoạt động sản xuất kinh doanh kinh tế trong khu đặt ngoài sự chi phối, điều tiết của nền kinh tế trong nước, hoàn toàn chịu sự chi phối của các nhà đầu tư
+ T ính một cửa: Việc quản lí và điều hành KCX được đặt dưới quyền của
cơ quan quản trị Nhà đầu tư khi gia nhập KCX chỉ biết và quan hệ duy nhất với
cơ quan quản trị trong suốt quá trình đầu tư từ khi nộp đơn xin gia nhập đến lúc giải thể xí nghiệp, đưa vốn và tài sản về nước Cơ quan quản lí thay mặt Nhà nước có quyền xử lí tất cả các công việc đối với nhà đầu tư cũng như hoạt động
của KCX
– Tăng khả năng xuất khẩu
+ Các hoạt động thương mại diễn ra ở KCX không bị chi phối bởi cơ quan thuế trong nước, hàng hoá xuất nhập khẩu đều được miễn thuế xuất nhập khẩu KCX có cửa khẩu và kho bãi chuyên dùng, hệ thống vận chuyển riêng, giảm bớt việc thẩm định lại hàng hoá vào nội địa Nhà đầu tư có thể thuận tiện nhập vật tư nguyên liệu từ nước ngoài và xuất hàng hoá ra nước ngoài
+ KCX được áp dụng các chính sách ưu đãi về tài chính, các biện pháp hành chính thông thoáng để khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư
– Tăng hiệu quả KTXH
• Đối với các chủ đầu tư, đặc biệt là các công ti xuyên quốc gia đầu tư vào
KCX, KCN vì những mục đích:
+ Giảm chi phí sản xuất Hưởng những ưu đãi về thuế Tận dụng những ưu đãi về tài chính Tìm chỗ đứng vững chắc và lâu dài tại thị trường đầu tư
• Đối với nước nhận đầu tư, việc thành lập các KCX nhằm mục tiêu:
+ Tăng cường xuất khẩu và thu ngoại tệ
+ Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước
+ Giải quyết việc làm
+ Thu hút kĩ thuật công nghệ, kinh nghiệm, quản lí hiện đại