Tên đề tài:NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG PHỤC VỤ GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ Nghiên cứu địa lí địa phương có mục đích quan trọng đối với giáo dục, những kiến thức địa lí mà nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Hoàng Lan
NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH
SÓC TRĂNG PHỤC VỤ GIẢNG DẠY
ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Hoàng Lan
NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH
SÓC TRĂNG PHỤC VỤ GIẢNG DẠY
ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Kim Hồng, đã hướng dẫn, động
viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Xi n chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Địa lý đã tận tình dạy bảo, cho tôi những lời khuyên bổ ích Cám ơn Cục Thống Kê, Sở Lao động, Thương binh - Xã hội Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài Nguyên – Môi Trường, Sở Nông Nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ của tỉnh Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các thông tin tư liệu giúp tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Học viên thực hiện
Trần Thị Hoàng Lan
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… 1
Mục lục……… 2
Danh mục các bảng……….5
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu - nhiệm vụ - giới hạn và phạm vi nghiên cứu……….6
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
3 1.Tình hình nghiên cứu địa lí địa phương trên thế giới và Việt Nam 7
3 1.1.Ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu. 7
3 1.2.Ở Pháp 7
3 1.3 Ở nước ta 8
3 1.4 Ở tỉnh Sóc Trăng 8
3 2.Lịch sử nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội……… 8
4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9
4 1 Hệ quan điểm nghiên cứu: 9
4 2 Các phương pháp nghiên cứu: 11
PHẦN 2: NỘI DUNG 13
Chương 1: 14
1 Những khái niệm cơ bản 14
2.Nội dung nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội địa phương 14
2.1 Nghiên cứu địa lí dân cư 14
2.2 Nghiên cứu địa lí kinh tế 16
2.2.1.Côn g nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 17
2.2.2 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp 17
2.2.3 Giao thông vận tải 17
2.2.4 Thương mại và dịch vụ 18
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu 18
3.1.Vị trí của Địa lí kinh tế - xã hội trong hệ thống khoa học Địa lí 18
4 Đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế - xã hội 20
4.1 Về đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế 20
4.2 Quan niệm của các nhà địa lí Xô Viết 20
4.2.1.Trước năm 1955 20
4.2.2.Từ năm 1955 cho tới thập niên 70 của thế kỉ XX 21
4.2.3 Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX cho đến nay 23
5 Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của Địa lí kinh tế - xã hội 24
Chương 2: 27
1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Sóc Trăng 27
1.1.Phạm vi lãnh thổ 27
1.2 Sự phân chia hành chính qua các thời kỳ (địa lí lịch sử hình thành) 28
2 Địa lí tự nhiên 31
2.1.Vị trí địa lý 31
2.2 Các nguồn lực tự nhiên 32
2 2.1.Địa hình 32
2.2.2.Khí hậu 32
2 2.3 Thủy văn 34
2.2.4.Đất đai 39
2.2.5.Sinh vật 41
Trang 52.2.6.Khoáng sản 41
3 Địa lí dân cư 42
3.1.Dân cư 42
3.1.1 Dân số và động lực tăng dân số 42
3.1.2 Kết cấu dân số 43
3.1.2.1 Kết cấu theo độ tuổi và giới tính 43
3.1.2.2 Kết cấu dân tộc 45
3.1.2.3.Kết cấu xã hội 45
3.2.Phân bố dân cư và đô thị hóa 47
3.3 Nguồn lao động và việc sử dụng nguồn lao động 48
3.4 Dân cư 51
3.4.1 Tôn giáo và tính ngưỡng 51
3.4.2 Phong tục tập quán 51
3.5 Văn hóa – xã hội 52
3.5.1.Giáo dục 52
3.5.2.Y tế 53
3.6.Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 53
4 Địa lí kinh tế 55
4.1 Khái quát chung 55
4.2 Sự đổi dịch cơ cấu kinh tế 58
4.3.Sự phát triển các ngành kinh tế 60
4.3.1 Ngành nông – lâm – ngư nghiệp 60
4.3.1.1 Nông nghiệp 60
4.3.1.2.Lâm nghiệp 69
4.3.1.3.Ngư nghiệp 69
4.3.2 Ngành công nghiệp, thủ công nghiệp 71
4.3.2 1 Công nghiệp 71
4.3.2.2 Các khu công nghiệp trong tỉnh 74
4.3.2.3 Thủ công nghiệp 78
4.3.2.4 Một số nghề thủ công nghiệp tiêu biểu 79
4.3.3 .Ngành dịch vụ 80
4.3.3.1 Du lịch và thương mại 80
4.3.3.2 Giao thông vận tải 91
4.3.3.3 Thông tin liên lạc 95
CHƯƠNG 3: 96
1.Định hướng phát triển kinh tế xã hội 96
1.1 Mục tiêu tổng quát 96
1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu 96
1.3.Nhiệm vụ và giải pháp 97
2 Định hướng phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp 97
2.1.Về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 97
2.2.Về lâm nghiệp: 98
2.3.Về thủy sản 98
2.4.Phát triển kinh tế biển, vùng ven biển năm 2010 – 2015 và tầm nhìn đến 2020 99
2.4.1.Mục tiêu tổng quát 99
2.4.2.Mục tiêu cụ thể: 99
2.4.3.Nhiệm vụ và giải pháp: 99
Trang 63.Định hướng phát triển ngành công nghiệp 100
3.1.Nhiệm vụ: 100
3.2.Giải pháp 100
4.Định hướng phát triển ngành dịch vụ 101
4.1.Về thương mại trong tỉnh 101
4.2.Đẩy mạnh phát triển du lịch: 101
4.3.Về Tài chính, Ngân hàng: 102
5.Định hướng phát triển các lĩnh vực văn hóa – xã hội 102
5.1.Mục tiêu tổng quát 102
5.2.Các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội: 103
5.3.Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: 103
5.3.1 Đổi mới và phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào 103
5.3.2 Chăm lo phát triển văn hóa 106
5.3.3.Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xh 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC……… 117
Trang 7Bảng 2.6 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Sóc Trăng 65 Bảng 2.7 Diện tích, sản lượng bắp, khoai lang và sắn ở Sóc Trăng 68
Bảng 2.9 Diện tích một vài loại cây chính thuộc nhóm cây công nghiệp hàng
Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
Bản đồ sản xuất Nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Bản đồ Khu công nghiệp tỉnh Sóc Trăng
Trang 8Tên đề tài:NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH SÓC
TRĂNG PHỤC VỤ GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ
Nghiên cứu địa lí địa phương có mục đích quan trọng đối với giáo dục, những kiến thức địa lí mà nhà trường trang bị phải có giá trị thực tiễn để học sinh có khả năng ứng dụng những kiến thức ấy vào công việc, lao động sản xuất
ở địa phương Vì vậy cần phải có những đề tài nghiên cứu về tình hình kinh tế -
xã hội của địa phương, cập nhật những thông tin, số liệu về hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình Nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng sẽ góp phần đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các định hướng, giải pháp phù hợp nhằm đưa kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng phát triển Bên cạnh
đó với đề tài “Nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng phục vụ giảng dạy địa lí địa phương” tôi muốn được góp phần nghiên cứu và cung cấp tài liệu cho giáo viên và học sinh của tỉnh Sóc Trăng trong học giảng dạy và học tập địa
lí địa phương trong nhà trường phổ thông
2 Mục tiêu – nhiệm vụ - giới hạn và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu:
Nghiên cứu các vấn đề về địa lí địa phương phục vụ trong giảng dạy địa lí địa phương ở nhà trường phổ thông Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu về các vấn đề
Trang 9về kinh tế - xã hội của địa phương Mục đích chủ yếu của đề tài là cung cấp tài liệu cho giáo viên, học sinh trong nhà trường phổ thông trong giảng dạy và học tập địa lí địa phương
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Góp phần cung cấp tài liệu cho giáo viên và học sinh trong tỉnh Sóc Trăng trong quá trình giảng dạy và học tập địa lý địa phương trong chương trình Địa lí lớp 12
2.3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài nghiên cứu các vấn đề về địa lí địa phương của tỉnh Sóc Trăng Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng phục vụ cho giảng dạy địa lí địa phương
- Thời gian: Từ năm 1992 – 2010 dựa trên cơ sở số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, các cơ quan chức năng trong tỉnh
- Không gian: phạm vi lãnh thổ của tỉnh Sóc Trăng
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
3 1.Tình hình nghiên cứu địa lí địa phương trên thế giới và Việt Nam
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, địa lí địa phương được coi như một nội dung của môn địa lí trong nhà trường phổ thông
3 1.1.Ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu
Có nhiều công trình nghiên cứu địa lí địa phương cả về lí luận và về thực tiễn Tổng kết vấn đề này, K F Stroev (1974) khẳng định tài liệu địa lí địa phương là cơ sở tốt nhất để hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí cho học sinh
và minh họa cho bài giảng địa lí Chính địa lí địa phương là môi trường tốt nhất
để học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sinh động nơi các em sinh sống
3.1.2.Ở Pháp
Chương trình địa lí địa phương cũng được đưa vào chương trình địa lí phổ thông bắt đầu từ việc tìm hiểu địa phương cho tới việc công bố các chương trình nghiên cứu và hướng dẫn giảng dạy địa lí địa phương (E.Delteilet và
Trang 10P.Maréchat – 1958, M.Beautier và C.Daudel – 1981 ) Mục đích của việc giảng dạy địa lí địa phương trong nhà trường Pháp là góp phần giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, bồi dưỡng cho học sinh khả năng tìm hiểu và năng lực tư duy tổng hợp đối với các vấn đề ở địa phương
3 1.3 Ở nước ta
Nghiên cứu địa lí địa phương đã được tiến hành từ lâu Có thể coi Nguyễn Trãi với Dư địa chí (ra đời vào giữa thế kỉ XV) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu này, Tiếp sau ông là các công trình của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú Gần đây có hàng loạt “Địa chí” đã được biên soạn như “Địa chí Hà Bắc”, “Địa chí Hải Phòng”, “Đất nước ta” (Hoàng Đạo Thúy chủ biên) hoặc
“Địa lí địa phương các tỉnh” (Viện Khoa học xã hội) “Địa lí Hà Sơn Bình” (Đại học Sư phạm Hà Nội I)
Một số công trình nghiên cứu địa lí địa phương khác như:
- “Địa lí địa phương” – PGS.TS Lê Huỳnh và PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ
phương riêng của tỉnh
3 2.Lịch sử nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội
Trang 11Nghiên cứu về Địa lý kinh tế - xã hội nói chung và địa lí kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như các vùng kinh tế trong cả nước thì có nhiều công trình nghiên cứu, phải kể đến như:
- Về địa lí kinh tế - xã hội đại cương bao gồm: Giáo trình địa lí kinh tế
- xã hội đại cương do PGS.TS Nguyễn Kim Hồng chủ biên năm 1997, Địa lí kinh tế - xã hội đại cương do PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ chủ biên
- Về địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam: Địa lí & Kinh tế Việt Nam thế kỷ
XXI của Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007, Địa lí kinh tế Việt Nam của PGS.TS Văn Thái năm 2003, Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam do GS.TS Đỗ Thị Minh Đức chủ biên năm 2008
- Về địa lí kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng phải kể đến: địa lý các tỉnh
thành phố của giáo sư tiến sĩ Lê Thông là một tài liệu có giá trị, được phân tích
cụ thể trong đó có địa lý kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng Tài liệu thứ hai là cuốn Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng sau 15 năm tái lập do Cục thống
kế Sóc Trăng xuất bản năm 2007 cung cấp các số liệu cụ thể về những thành tựu
và hạn chế về kinh tế - xã hội Sóc Trăng từ năm 1992 đến 2007 Ngoài ra còn
có các đề tài luận khoa học nghiên cứu về văn hóa, xã hội, du lịch hay một một lĩnh vực cụ thể về kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng Tuy nhiên việc nghiên cứu chi tiết về nguồn lực, tình hình kinh tế - xã hội và các định hướng phát triển trong tương lai thì còn nhiều hạn chế
4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Hệ quan điểm nghiên cứu:
- Quan điểm hệ thống
Một vài thập kỉ gần đây, quan điểm hệ thống thường được sử dụng trong nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội Phần cốt lõi của quan điểm này là chỗ đối tượng nghiên cứu được coi là hệ thống Hệ thống đó bao gồm nhiều phân hệ (hay hệ thống nhỏ), mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Chỉ cần một thay đổi
nhỏ của một phân hệ sẽ dẫn đến những hậu quả dây chuyền và ảnh hưởng đến hoạt động chung của cả hệ thống
Trang 12- Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí nói chung và Địa lí kinh tế - xã hội nói riêng, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Điều đó bắt nguồn chính từ đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này
Các hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội rất phong phú và đa dạng Chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện tượng khác Để có kết quả nghiên cứu khách quan khoa học, trong các nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội nhất thiết phải sử dụng quan điểm tổng hợp
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội đều tồn tại trong một thời gian nhất định Nói cách khác, các hiện tượng này có quá trình phát sinh, phát triển
và suy vong Trong quá trình nghiên cứu, khi xem xét hay đánh giá cần phải đứng trên quan lịch sử
Quan điểm này đòi hỏi phải nhìn nhận quá khứ để lí giải mức độ nhất định cho hiện tại và dự báo tương lai phát triển của hiện tượng địa li kinh tế - xã hội Nếu tách rời quá khứ khỏi hiện tại thì khó có thể giải thích thỏa đáng sự phát sự phát triển ở thời điểm hiện tại và nếu không chú ý đến tương lai thì ngành khoa học này mất đi khả năng dự báo
- Quan điểm kinh tế
Trong nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội, việc quan điểm kinh tế thường được coi trọng là lẽ tự nhiên Quan điểm này được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế… Trong cơ chế thị trường, việc sản xuất phải đem lại lợi nhuận và tất nhiên, khó có thể chấp nhận
sự thua lỗ triền miên Tuy nhiên, cũng nên tránh xu hướng có thể gặp là phải đạt mục tiêu kinh tế bằng mọi giá Điều đó rất nguy hiểm vì nếu thiếu nhìn xa trông rộng thì những món lợi trước mắt về kinh tế sẽ không thể bì đắp được tổn thất to lớn lâu dài gây ra từ chính những món lợi đó
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trang 13Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối mới, ra đời trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh, phản ánh xu thế phát triển của thời đại và định hướng cho tương lai của nhân loại Đối với việc nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội, phát triển bền vững có thể được coi là quan điểm, vừa
là mục tiêu nghiên cứu
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi đảm bảo sự bền vững về
cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Về mặt kinh tế, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế Dưới góc độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Còn về phương diện môi trường là giữ gìn tính đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự ô nhiễm và xuống cấp của môi trường
Trong quá trình nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội các quan điểm cơ bản nói trên được vận dụng không phải một cách riêng rẽ mà là một cách tổng hợp Việc vận dụng tổng hợp các quan điểm giúp cho công trình nghiên cứu không phiến diện, một chiều và đem lại những kết quả có độ tin cậy cao Trên nền chung đó, phụ thuộc vào nội dung, thời gian và địa điểm nghiên cứu cụ thể, có thể quan điểm này hay quan điểm kia sẽ được chú ý nhiều hơn
4 2 Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội nói riêng Khoa học không thể phát triển được nếu thiếu tính kế thừa, thiếu sự tích lũy
những thành tựu của quá khứ
Các nguồn tài liệu thu thập tương đối đa dạng, phong phú bao gồm tài liệu
đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ và các cơ quan khác nhau theo chương trình hay đề tài nghiên cứu riêng cũng như các tài liệu trên thực địa và
cả tài liệu trên mạng Internet trong những năm gần đây…
Đối với công tác nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội, trước hết cần quan tâm các dạng thông tin sau đây:
Trang 14+ Trình bày bằng văn bản (các bách khoa toàn thư, sách, tạp chí, kết quả các chương trình hay đề tài nghiên cứu có liên quan…)
+ Số liệu thống kê;
+ Các bản đồ, ảnh hàng không và viễn thám;
+ Các dạng khác (thực địa, điều tra khảo sát, trên mạng…)
Các nguồn tài liệu này thường được lưu giữ ở các cơ quan chức năng của trung ương và các địa phương
- Phương pháp phân tích, hệ thống tổng hợp
Sau khi đã thu thập được tài liệu, bước tiếp theo là xử lí theo mục tiêu của việc nghiên cứu Trong quá trình xử lí tài liệu, hàng loạt phương pháp truyền thống được sử dụng như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
Việc sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trước hết đối với việc “làm sạch” tài liệu, đặc biệt là số liệu Các số liệu
Luận văn gồm 3 chương chính
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG Chương II: ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG
Chương III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 15
PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 16Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
1 Những khái niệm cơ bản
Đối với nhà Địa lí học Liên Xô cũ trước đây, địa lí địa phương được đồng nghĩa với Địa phương học Theo A.C Berkov (1961) Địa phương học là các môn
có nội dung và phương pháp khác nhau, nhưng đều tập trung vào nhiệm vụ nhận thức toàn diện một địa phương nhằm mục đích xây dựng địa phương đó
Đối với tiến sĩ Nguyễn Minh Tuệ và Phạm Tế Xuyên (1994) thì địa lí địa phương được giới hạn như một lĩnh vực nghiên cứu tổng hợp một lãnh thổ cụ thể cả về phương diện tự nhiên lẫn về phương diện kinh tế xã hội phục vụ giảng dạy và học tập ở trường phổ thông
2 Nội dung nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội địa phương
Nội dung nghiên cứu địa lí địa phương được xác định bởi các điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội của lãnh thổ quy mô công việc và nhiệm vụ thực tiễn của chúng
Nội dung nghiên cứu bao gồm 3 phần chính: điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên, dân cư – văn hóa và kinh tế Tuy nhiên, 3 nội dung này được nghiên cứu không tách rời nhau và được quan tâm chú ý trong mối tác động và ảnh hưởng qua lại giữa chúng
Trong phạm vi giới hạn của đề tài tác giả chỉ giới thiệu khái quát về địa lí
tự nhiên của địa phương, đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực về địa lí kinh tế - xã hội của địa phương Bao gồm nghiên cứu địa lí dân cư và địa lí kinh tế của địa phương
2 1 Nghiên cứu địa lí dân cư
Địa lí địa phương nghiên cứu mối liên hệ giữa cộng đồng người với phần đất (lãnh thổ) mà họ sinh sống Dân cư vừa là lực lượng sản xuất vừa là nguồn tiêu thụ của cải vật chất, là đại diện của nền văn hóa và là cơ sở tổ chức chính trị - xã hội Vì vậy, nghiên cứu địa lí dân cư là một nội dung chủ yếu trong
Trang 17nghiên cứu địa lí địa phương một tỉnh Nghiên cứu địa lí dân cư có ý nghĩa tiền
đề cho việc nghiên cứu và giải quyết hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội khác
Nghiên cứu địa lí dân cư tập trung vào 5 vấn đề sau chính sau:
- Số dân, động lực tăng dân số và sự phân bố dân cư
- Cấu trúc dân số
- Nguồn lao động và việc sử dụng lao động
- Quần cư
- Phương hướng điều khiển dân số
Việc nghiên cứu trên nhằm giải quyết 2 yêu cầu sau:
- Thấy rõ sự phát triển và sự phân bố dân cư, lao động của địa phương, sức sản xuất và sức tiêu thụ chủ yếu để điều khiển dân số
- Sử dụng lao động và giải quyết vấn đề lao động của địa phương
Trong nội dung nghiên cứu địa lí dân cư và một địa phương trước hết phải
đề cập đến đặc điểm phân bố dân cư Phân bố dân cư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh sự phân công lao động theo lãnh thổ cũng như những yêu cầu tiêu thụ trên các địa bàn có những khác biệt về mật độ dân số Sự phân
bố dân cư tùy thuộc tổng thể các nhân tố từ lịch sử đến các điều kiện tự nhiên, kinh tế - kỉ thuật và xã hội, văn hóa, trong đó nhân tố kinh tế - xã hội thường đóng vai trò quyết định; điều kiện cụ thể của phương thức sản xuất xã hội, các kiểu sản xuất và kỉ thuật sản xuất sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố dân cư không thể không nghiên cứu các điểm dân cư Sự phân bố và mật độ của các điểm dân cư thể hiện sinh động bức tranh phân bố dân cư của địa phương Mỗi điểm dân cư có những đặc điểm riêng và chúng khác biệt nhau theo những dấu hiệu như: hình dạng, kiểu quy hoạch, kiểu cư trú, số lượng người trong vùng dân cư Vì thế, trước hết cần có một quan niệm thống nhất về điểm dân cư
Trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) đã đưa
ra khái niệm về điểm dân cư như sau: “Điểm dân cư là cơ sở đầu tiên để cư trú của con người trên một phạm vi không gian nhất định, trong đó có các hình thức vật chất để ở Chức ăng cơ bản của điểm dân cư là sử dụng nó như một lãnh thổ
để sinh sống Dấu hiệu bắt buộc của điểm dân cư là nó phải là được sử dụng
Trang 18thường xuyên để cư trú dù là theo mùa, nhưng lại phải thường xuyên trong các năm.”
Trong Từ điển Thống kê Việt Nam (1977) điểm dân cư được định nghĩa là:
“Nơi con người ở thường xuyên (không kể số người nhiều hay ít và cách ở như thế nào) và một tên gọi nhất định”
Các điểm dân cư có hai dạng chủ yếu là điểm quần cư nông thôn và điểm quần cư thành thị, chúng khác nhau về cơ cấu sản xuất và về cơ sở hạ tầng, kiến trúc nhà ở
Nội dung thứ hai cần đề cập trong việc nghiên cứu dân cư một địa phương
là kết cấu dân số Xét theo ý nghĩa dân số học và ý nghĩa thực tiễn, khi nghiên cứu kết cấu dân số của một đơn vị hành chính, trước hết phải nghiên cứu kết cấu nam - nữ và kết cấu theo lứa tuổi Tỉ lệ giới tính thể hiện cán cân nam - nữ trong dân số Trong kết cấu theo lứa tuổi cần đặc biệt chú ý tới độ tuổi lao động,
độ tuổi dưới và trên tuổi lao động, tức là kết cấu về mặt sinh học và xã hội Ngoài ra còn có kết cấu theo dân tộc, nghề nghiệp, trình độ… Nghiên cứu kết cấu dân số sẽ giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quy hoạch có biện pháp sử dụng và phân bố nguồn lao động, giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan đến dân số Nghiên cứu dân cư không thể thiếu việc nghiên cứu động lực học dân số, tức là nghiên cứu các biến động, chiến lược tăng giảm dân số phụ thuộc vào tương
quan giữa tỉ lệ gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ giới Dân cư là lực lượng sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế của lãnh thổ, vì thế cần phải nghiên cứu kĩ vấn đề lao động về các mặt:
- Nguồn lao động: quy mô và sự gia tăng nguồn lao động, chất lượng lao động (truyền thống, kinh nghiệm sản xuất, trình độ chuyên môn kỹ thuật)
- Sử dụng nguồn lao động: phân bố lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, vấn đề tạo việc làm trong quá trình đa dạng hóa nền kinh tế…
2 2 Nghiên cứu địa lí kinh tế
Nghiên cứu địa lí kinh tế địa phương và nghiên cứu thể tổng hợp kinh tế địa phương, hướng tới việc phân tích lãnh thổ và sự phân bố các đối tượng theo
Trang 19các cấu trúc ngành và vùng Nội dung nghiên cứu địa lí kinh tế cần đề cập tới 4
nhóm ngành chủ yếu:
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
- Giao thông vận tải
- Thương mại du lịch
2 2.1.Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại, cần đặt biệt chú ý tới các nghề thủ công truyền thống phát triển ở cả 3 khu vực: hợp tác xã chuyên nghiệp , hợp tác xã nông nghiệp, và các hộ gia đình Về tiểu thủ công nghiệp, cần nghiên cứu vấn đề sử dụng lực lượng lao động địa phương trong các ngành nghề, sự biến động của sản lượng thủ công nghiệp của địa phương trước đây, hiện nay và tương lai Về công nghiệp, cần đề cập đến các đặc điểm phát triển công nghiệp
và các cơ sở công nghiệp chủ yếu…
2 2.2 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Nghiên cứu theo các nội dung chính:
- Những biến đổi về cơ cấu và phân bố Cần nhấn mạnh sự thay đổi về cơ cấu ngành theo thời gian và giải thích sự thay đổi đó Về phân bố cần chú ý tới sự thay đổi từ phân tán đến hình thành các vùng chuyên canh tập trung và thâm canh theo sự phân công lao động trên toàn lãnh thổ địa phương
- Những cây trồng và vật nuôi chính của địa phương Với mỗi loại cần nêu: mục đích phát triển, sản lượng (số lượng), sự phân bố, tỉ trọng trong toàn ngành trồng trọt (hoặc chăn nuôi) của địa phương
- Các ngành chuyên môn hóa: Cần nêu rõ diện tích và dân số tham gia, sản lượng (số lượng), tỉ trọng so sánh với cây trồng vật nuôi trong toàn vùng và toàn địa phương
- Các ngành nghề phát triển tổng hợp trong vùng và phương hướng phát triển chính của vùng
2 2.3 Giao thông vận tải
Trang 20Cần phân tích rõ hai nội dung: đặc điểm chung của giao thông vận tải, các loại đường cùng chức năng của chúng (quốc lộ, đường liên tỉnh, đường liên huyện, đường liên xã) Cần nêu một số khả năng, phương hướng phát hiện giao thông vận tải của địa phương nhằm hoàn thiện mối liên hệ kinh tế trong và ngoài phạm vi địa phương
2 2.4 Thương mại và dịch vụ
Cần đề cập đến những nội dung sau:
- Tính chất của ngành thương mại và dịch vụ ở địa phương
- Đặc điểm địa lí kinh tế của ngành thương mại dịch vụ Trong đó cần chú
ý tới dịch vụ kỹ thuật cho sản xuất như năng lượng, phân bón, thuốc trừ sâu, vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất thủ công nghiệp, khai thác tài nguyên và lao động để tham gia vào dịch vụ sản xuất
- Sự phân hóa trong không gian của ngành thương mại và dịch vụ
Sau khi phân tích từng ngành, cần nêu lên một số vấn đề then chốt của kinh tế địa phương, trong đó cần làm rõ:
- Vị trí và thế mạnh của địa phương
- Cơ cấu và phân bố sản xuất của địa phương
- Định hướng phát triển kinh tế địa phương
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
3.1 Vị trí của Địa lí kinh tế - xã hội trong hệ thống khoa học Địa
lí
3.1.1 Địa lí học là một ngành khoa học cổ
Bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp, địa lí theo nghĩa đơn thuần của từ là sự
mô tả Trái Đất Ngày nay, khoa học địa lí không dừng lại ở việc mô tả, mà chủ yếu là nghiên cứu, giải thích mối quan hệ giữa các hiện tượng tự nhiên, kinh tế -
xã hội về mặt lãnh thổ và trở thành khoa học dự báo và cải tạo bề mặt Trái Đất
Đối với việc xác định vị trí của khoa học Địa lí kinh tế, nói một cách đơn giản nhất, cho đến nay vẫn tốn tại hai nhóm trường phái chủ yếu với những khác biệt nhất định Đó là trường phái địa lí phương Tây (hiểu theo nghĩa
là cả Tây Âu và Bắc Mĩ) và trường phái địa lí Liên Xô cũ (trước đây)
Trang 213.1.2 Theo trường phái địa lí phương Tây, Địa lí học là một khoa học bao gồm nhiều bộ phận, trong đó có sự hòa quyện giữa địa lí tự nhiên và địa
lí kinh tế thành một thể thống nhất, Thậm chí, có người còn cho rằng việc phân chia Địa lí thành Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế là do ý muốn chủ quan của người nghiên cứu và mang tính chất giả tạo
Như vậy, Địa lí kinh tế không phải là một khoa học độc lập như
quan niệm của trường phái Liên Xô cũ, mà chỉ là một bộ phận (hay một nhánh) của Địa lí học Theo Keith D Harries và Robert E Norris (1986) Địa lí học bao gồm các nhánh như Địa lí tự nhiên, Địa lí sinh vật, Địa lí y học, Địa lí văn hóa, Địa lí nhân văn và Địa lí định lượng, trong đó mỗi nhánh tương ứng với một lĩnh vực khoa học nhất định Với cách phân loại này thì Địa lí kinh tế chỉ còn là một
bộ phận của nhánh Địa lí nhân văn
3.1.3 Theo trường phái địa lí Liên Xô cũ, về mặt cấu trúc, Địa lí học là một hệ thống khoa học bao gồm hai nhóm chính: nhóm các khoa học Địa
lí tự nhiên và nhóm các khoa học Địa lí kinh tế (từ nửa sau thập niên 70 của thế
kỉ XX chuyển thành Địa lí kinh tế - xã hội) với sự khác nhau về đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nhóm các khoa học Địa lí tự nhiên gồm có Địa lí tự nhiên (Cơ sở địa lí tự nhiên và Cảnh quan học) và các khoa học bộ phận (Địa mạo học, Khí hậu học, Địa lí thủy văn, Địa lí thổ nhưỡng, Địa lí sinh vật) Như vậy, Địa lí tự nhiên tổng hợp nghiên cứu lớp vỏ địa lí như một thể thống nhất và hoàn chỉnh Trong khi đó, mỗi khoa học bộ phận chỉ nghiên cứu môt hợp phần riêng của lớp
vỏ địa lí
Nhóm các khoa học Địa lí kinh tế gồm Cơ sở địa lí Kinh tế, Địa lí dân cư và Địa lí các ngành kinh tế (Địa lí công nghiệp, Địa lí nông nghiệp, Địa lí giao thông vận tải, Địa lí thương mại, Địa lí du lịch…)
Về mặt phân loại khoa học, Địa lí tự nhiên được xếp vào các khoa học tự nhiên, còn Địa lí kinh tế lại thuộc về các khoa học xã hội Tuy nhiên, cả hai nhóm cùng song song tồn tại, phát triển và nằm trong thống các khoa học Địa
lí chuyên nghiên cứu các tổng thể tự nhiên, kinh tế - xã hội Lí do để hai nhóm
Trang 22này tập hợp lại trong Địa lí học chính là sự thống nhất biện chứng giữa Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế Tách khỏi Địa lí kinh tế thì Địa lí tự nhiên sẽ bị mất mục đích nghiên cứu cuối cùng của mình, vì suy cho cùng, các nghiên cứu phải phục
vụ cho sản xuất và đời sống Ngược lại, Địa lí kinh tế không thể tồn tại nếu tách rời Địa lí tự nhiên, bởi vì loài người và mọi hoạt động của họ đều diễn ra trong một môi trường tự nhiên nhất định
4 Đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế - xã hội
Mỗi một khoa học đều có một đối tượng nghiên cứu cụ thể Trong quá trình phát triển của Địa lí học, tồn tại song song hai quan điểm thuộc hai trường phái khác nhau Địa lí kinh tế theo trường phái địa lí Liên Xô cũ là một khoa học độc lập có đối tượng nghiên cứu rõ ràng Trong khi đó, theo một số tác giả thuộc trường phái Địa lí phương Tây, Địa lí kinh tế chỉ là một phần của Địa
lí nhân văn hay của Địa lí học
4.1 Về đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế các nhà địa lí
phương Tây đã đưa ra hàng loạt quan niệm Ví như A Vebơ cho rằng, Địa lí kinh tế nghiên cứu lí thuyết về sự phân bố của các hoạt động kinh tế trong không gian trước Hoặc theo U.Smith, đối tượng nghiên cứu của địa lí kinh tế là sự phân bố các dạng đời sống kinh tế…
Tựu chung lại, xuất phát từ chỗ coi Địa lí kinh tế chỉ là một bộ phận của Địa lí nhân văn hay Địa lí học nên trường phái này coi đối tượng nghiên cứu của nó chỉ bó hẹp trong phạm vi sản xuất hoặc kinh tế, dù diễn đạt ở bất kì hình thức nào
4.2 Quan niệm của các nhà địa lí Liên Xô (trước đây) về vấn đề
này cũng rất khác nhau Trong quá trình đi tìm chân lí, thực tiễn chỉ ra rằng đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lí kinh tế được nâng dần từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng trở nên hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu cả về mặt khoa học cũng như về mặt sản xuất và đời sống
Có thể tóm tắt quá trình này thành ba giai đoạn:
4.2.1 Trước năm 1955
Trang 23N.N Baranxki là một trong những người đặt nền móng cho khoa học Địa lí kinh tế Liên Xô (trước đây), Theo ông, Địa lí kinh tế nghiên cứu sự đa dạng về kinh tế các nước, các vùng và những khác biệt không gian của nó trên
bề mặt Trái Đất, Ông khẳng định rằng, nếu không có sự khác biệt này thì không
có Địa lí kinh tế Ngoài ra, ông còn chú ý đến việc tìm hiểu các nguyên nhân gây nên sự khác biệt theo không gian và vạch ra tính quy luật về sự thay đổi kinh tế dưới góc độ lãnh thổ
Một nhà địa lí nổi tiếng khác, V.A.Anusin, quan niệm đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế là bộ phận xã hội của hoàn cảnh địa lí (dân cư, kinh tế) Trong quan niệm này, ông chú trọng đếm bộ phận xã hội, nghĩa là xã hội loài người và các hoạt động kinh tế của họ diễn ra trên môi trường địa lí
Các quan niệm khác về đối tượng nghiên cứu còn nhiều, song dẫu sao trong thời gian này vẫn chưa thể có một quan niệm chính thống được đông đảo các nhà địa lí thừa nhận
4.2.2 Từ năm 1955 cho tới thập niên 70 của thế kỉ XX
Dưới ánh sáng của quan điểm Mác – Lênin về các vấn đề xã hội và với cuộc tranh luận lâu dài, đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế đã xác định tại Đại hội lần thứ 2 của Hội Địa lí Liên Xô (1955) Đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự phát triển của khoa học Địa lí kinh tế
Địa lí kinh tế là khoa học xã hội nghiên cứu sự phân bố địa lí của sản xuất (hiểu là sự thống nhất giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất), các điều
ki ện và đặc điểm phát triển của nó ở các nước, các vùng khác nhau
Như vậy, linh hồn của quan niệm này là sự phân bố địa lí của sản xuất (hay sự phân bố sản xuất về mặt địa lí) Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu phân bố sản xuất có sự tham gia của nhiều ngành khoa học Tuy nhiên, sự phân
bố sản xuất theo không gian (lãnh thổ) vẫn là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu và làm cho Địa lí kinh tế khác với các khoa học khác
Quan niệm này còn nhấn mạnh đến các điều kiện và đặc điểm phát triển của sản xuất ở các lãnh thổ (quốc gia, vùng…) khác nhau Đó chính là sự khác biệt theo không gian để tạo nên bức tranh phân bố muôn màu, muôn vẻ
Trang 24nhưng vẫn mang tính quy luật nhất định Nói tóm lại, muốn hiểu rõ đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế thì chỉ cần trả lời được các câu hỏi sau đây: Địa lí kinh tế nghiên cứu ở đâu? Sản xuất ra được cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Tại sao ở chỗ đó, bằng phương pháp đó mà lại không phải ở chỗ khác, bằng phương pháp khác?
Mặc dù vẫn còn một vài ý kiến chưa đồng tình, nhưng về cơ bản, phần lớn các nhà địa lí Liên Xô (trước đây) đã ủng hộ đối tượng nghiên cứu của địa li kinh tế do Đại hội lần thứ hai Hội Địa lí Liên Xô đưa ra Tại các đại hội tiếp theo của Hội Địa Liên Xô (lần thứ ba năm 1960, lần thứ tư năm 1964, lần thứ năm 1970…) hầu như các nhà địa lí vẫn nhất trí với quan niệm này
Vào nửa đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển mạng mẽ và đạt được nhiều thành tựu Một số khoa học chính xác như Toán học, Điều khiển học được áp dụng đại trà vào nhiều ngành khoa học, trong đó có Địa lí học Trước thực tế đó, một nhóm các nhà địa lí mà tiêu biểu là Iu.G.Xauskin đã đặt vấn đề xem xét lại đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế
Trong tác phẩm khá đồ sộ của mình với tiêu đề “Địa lí kinh tế: lịch
sử, lí luận, phương pháp, thực tiễn” (1973) Iu.G Xauskin đã trình bày phát triển
của Địa lí kinh tế về mặt lí luận trên bình diện thế thế giới cũng như ở Liên Xô lúc đó, các vấn đề cơ bản và hiện đại của khoa học này về phương pháp nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn Và lẽ dĩ nhiên, đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế cũng được đề cập đến
Theo ông, Địa lí kinh tế là một khoa học về các quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội theo lãnh thổ và việc điều khiển các hệ thống đó
Đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế, theo cách hiểu Iu.G.Xauskin, là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội có cấu trúc phức tạp và tồn tại một cách khách quan Địa lí kinh tế có nhiệm vụ phát hiện ra các hiện các hệ thống đó và mặt khác, nghiên cứu quá trình hình thành, cấu trúc, hướng phát triển và cả phương pháp quản lí chúng Các hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội
Trang 25được hiểu như là vùng kinh tế và các quần hợp của nó, các vùng ngành hoặc các điểm dân cư…
Sau khi quan niệm của Iu.G.Xauskin ra đời đã có sự phân hóa ở chừng mực nhất định giữa các nhà địa lí Một số vẫn tiếp tục ủng hộ quan niệm của Đại hội lần thứ hai Hội Địa lí Liên Xô Trong khi đó, một số khác lại nghiêng về việc nghiên cứu các hệ thống lãnh thổ Dĩ nhiên, hai quan niệm nói trên không phải là mâu thuẫn với nhau Mỗi quan niệm có những ưu thế riêng và cùng tồn tại song hành
4.2.3 Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX cho đến nay
Những thay đổi quan trọng về đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh
tế đã diễn ra vào nửa sau thập niên 70 Tên gọi của ngành khoa học này trước đó
là Địa lí kinh tế được chuyển thành Địa lí kinh tế - xã hội và tồn tại cho đến hiện nay Sự thay đổi này không phải đơn thuần về hình thức là tên gọi, mà thực chất
là ở nội dung của nó
Vậy tại sao phải thay đổi tên gọi cũng như đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này, và nó có những bổ sung gì?
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, xin hãy trở lại thời điểm năm 1955 Đứng trên quan điểm lịch sử, quan niệm của Đại hội lần thứ hại Hội Địa lí Liên
Xô đã quy tụ được các nhà địa lí và mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển của khoa học Địa lí kinh tế Song cần lưu ý, con người đâu chỉ có mỗi một việc
là sản xuất dù rằng sản xuất có s nghĩa cực kì quan trọng ở chỗ không có nền sản xuất thì không thể tồn tại xã hội loài người Bên cạnh phần “sản xuất” còn có phần “xã hội” với hàng loạt mối quan hệ đa dạng, chằng chịt, phức tạp có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sản xuất Như vậy, việc nghiên cứu địa lí của sản xuất mới chỉ là điều kiện “cần”, nhưng chưa “đủ”, đối với ngành khoa học này
Mặt khác, về phương diện thực tiễn, lúc này Cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi tương quan giữa các lĩnh vực trong nền kinh tế Các hoạt động phi sản xuất của con người ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng Đó là sự bành trướng theo đúng xu thế của lĩnh vực dịch vụ so với giữa
Trang 26thập niên 50 Về phương diện dân cư, nếu chỉ nghiên cứu động lực, kết cấu phân
bố, các hình thức quần cư thì chưa đủ, mà phải quan tâm đến hàng loạt các vấn
đề văn hóa, xã hội có liên quan như dân tộc, tôn giáo, việc làm, giáo dục, y tế… Rồi còn nhiều khái niệm về xã hội học, tâm lí học như nhu cầu, giá trị, hành vi… ngày càng được sử dụng rộng rãi trong Địa lí học đề phân tích, lí giải các hiện tương địa lí kinh tế…
Trước những yêu cầu đó, thuật ngữ địa lí kinh tế - xã hội chính thức dùng trong Địa lí học Liên Xô (trước đây) nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phải chủ yếu đầy đủ hơn các yếu tố xã hội của Địa lí kinh tế
Về câu hỏi thứ hai, đối tượng nghiên cứu của Địa lí kinh tế - xã hội được bổ sung các khía cạnh xã hội và việc tổ chức đời sống xã hội theo lãnh thổ
Rõ ràng, Địa lí kinh tế - xã hội là một khoa học độc lập tiếp tục sự nghiệp của Địa lí kinh tế trước đó Việc bổ sung cụm từ “xã hội” vào tên gọi là muốn nhấn mạnh một số điểm chính sau đây:
- Các hiện tượng kinh tế cần được xem xét trong mối liên hệ biện chứng với hệ thống xã hội, chính trị bắt đầu từ sản xuất
- Chú ý hơn tới khía cạnh lãnh thổ của xã hội và các vấn đề chủ yếu của
xã hội mà Địa lí học phải quan tâm
- Đáp ứng đầy đủ hơn tình hình và nhiệm vụ của Địa lí kinh tế trong giai đoạn trước mắt và lâu dài
Với những lí do đó, có thể nêu ra quan niệm sau đây của E.V.Alaev (1983): Địa lí kinh tế - xã hội là một khoa học xã hội nghiên cứu các quy luật phân bố sản xuất xã hội (hiểu là sự thống nhất giữa sức sản xuất) và sự định cư của dân cư (nói cách khác là tổ chức lãnh thổ đời sống xã hội) cũng như các đặc điểm của chúng được thể hiện ở các nước, các vùng khác nhau
5 Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của Địa lí kinh tế - xã hội
5.1 Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Địa lí kinh tế - xã hội là vạch ra tính quy luật về phân bố sản xuất và xác định sự phân bố đó trên cơ sở
sử dụng hợp lí, có hiệu quả các nguồn lực (về vị trí địa lí, về tự nhiên, kinh tế -
xã hội) nhằm đem lại hiệu quả cao nhất (về mặt kinh tế, xã hội, môi trường)
Trang 27Việc nghiên cứu phân bố là đặc trưng của Địa lí kinh tế - xã hội, làm cho ngành khoa học này khác với các ngành khoa học khác Đề cập đến địa
lí kinh tế - xã hội nói chung và địa lí ngành nói riêng, không thể không nhấn mạnh đến sự phân bố Vấn đề còn lại là chỗ phân bố như thế nào Phân bố thật
sự là một nghệ thuật sử dụng tổng hợp các nguồn lực vốn có Có thể có nhiều ngành khoa học cũng quan tâm đến sự phân bố, nhưng nếu chỉ xem xét phiến diện dưới góc độ của ngành thì dễ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Trong khi
đó, về nguyên tắc, Địa lí kinh tế - xã hội có đầy đủ cơ sở để nghiên cứu sự phân
bố một cách khách quan, khoa học và hiệu quả
5.2 Ở tầm vĩ mô, Địa lí kinh tế - xã hội có nhiệm vụ nghiên cứu phân công lao động xã hội và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển sản xuất và phân
bố sản xuất
Phân công lao xã hội tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là phân công lao động xã hội theo ngành và phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, trong đó hình thức thứ hai có ý nghĩa đặc biệt đối với Địa lí kinh tế - xã hội Như N.N.Baranxiki khẳng định, đó là toàn bộ gia tài của khoa học này
Gắn với phân công lao động theo lãnh thổ là nhiệm vụ nghiên cứu tổ chức lãnh thổ với nền sản xuất xã hội nói chung và từng ngành (lĩnh vực) kinh tế nói riêng Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Địa lí kinh
tế - xã hội Thông qua tổ chức lãnh thổ, ngành khoa học này được đắm mình trong thực tiển và mang tính ứng dụng cao
5.3 Dân cư và các vấn đề có liên quan là nhiệm vụ nghiên cứu không thể thiếu được của Địa lí kinh tế - xã hội Dân cư với tư cách vừa là lực lượng lao động, vừa là thị trường tiêu thụ cùng với sự đa dạng về quần cư và hàng loạt khía cạnh văn hóa, xã hội của nó như chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chất lượng cuộc sống…dưới lăng kính địa lí như là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng các hạt giống của khoa học này
Kể từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX, nhiệm vụ trên ngày càng trở nên quan trọng Những biến động sâu sắc của nền kinh tế - xã hội thế giới và những thành tựu lớn lao khi nhân loại đang tạo dựng và làm chủ nền kinh tế tri
Trang 28thức đã mở ra cho Địa lí kinh tế - xã hội cùng với các ngành khoa học khác những thời cơ và cả thách thức mới trên chặng đường phát triển của mình
Trang 29Chương 2:
ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG
1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Sóc Trăng
1.1 Phạm vi lãnh thổ
Sóc Trăng là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, ở đoạn cuối cùng của dòng Hậu Giang đổ vào Biển Đông tại cửa Định An và cửa Tranh Đề Lãnh thổ của tỉnh về phía bắc và tây bắc giáp với tỉnh Hậu Giang, phía tây là tỉnh Bạc Liêu, phía đông bắc giáp tỉnh Trà Vinh và phía đông nam trông ra Biển Đông rộng lớn với 7 km đường bờ biển Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng với
độ cao trung bình từ 0,5m – 1m so với mực nước biển, có dạng lồng chảo, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong, từ Biển Đông và từ kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền
Tỉnh Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long Địa danh trên theo tiếng Khơ – me (Srok Khleang) cóa nghĩa là xứ sở của thóc gạo nằm trong vùng hạ lưu sông Hậu, trên trục lộ giao thông thủy bộ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Tây Nam bộ Có bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông
Vị trí tọa độ: 9°14'-9°56' B
105°34'-106°18' Đ
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.311,7 km2, chiếm gần 1% diện tích cả nước với số dân là 1.292.853 người (2009) chiếm khoảng 1,5% dân số toàn toàn quốc
Với phạm vi lãnh như vậy, Sóc Trăng có vị trí quan trọng về mặt kinh tế Nằm không xa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Sóc Trăng có nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thông qua các mối liên hệ qua về sản xuất, hàng hóa, công nghệ…
Nhờ mạng lưới giao thông, Sóc Trăng có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh trong nước và với quốc tế Về đường bộ, có giá trị hơn cả là hai tuyến giao
Trang 30thông huyết mạch: 1A và 60 Quốc lộ 1A nối Sóc Trăng với các tỉnh phía Nam
và phía Bắc của đất nước Còn quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Tiền Giang
Về đường thủy, thông qua sông Hậu và mạng lưới kênh rạch chằng chịt,
từ Sóc Trăng có thể đi tới khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Hơn thế nữa, ngược dòng sông Hậu có thể giao lưu với Cam-pu-chia, còn xuôi theo dòng sông này ra biển là cả một thế giới đang rộng mở Với 72 km đường bờ biển Sóc Trăng có nhiều tiềm năng đề phát triển các hoạt động kinh tế biển
Về mặt vị trí địa lí, Sóc Trăng có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội, đây là tiền đề quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong cơ chế thị trường và và xu thế hội nhập
1.2 Sự phân chia hành chính qua các thời kỳ (địa lí lịch sử hình thành)
Địa lí hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ Gia Định Lấy đất Đồng Nai (Nông Nại) làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên, lưu mộ dân từ Quảng Bình trở vào đến ở, chia đặt thôn, ấp Năm 1732, chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè (lúc đó là Cái Bè Dinh), năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và đổi tên
là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh Lúc này Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc (nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định)
Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 06 tỉnh, 03 tỉnh miền Đông là: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; 03 tỉnh miền Tây gồm: Vĩnh Long,
An Giang, Hà Tiên Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long
Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh
An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên, gồm 03 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh
và Vĩnh Định Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này
Trang 31Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 03 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt Đến năm 1876, thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành 04 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc Năm 1882, Pháp tách 02 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 03 tổng của tiểu khu Rạch Giá thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu Tiếp theo một vài thay đổi (tách, nhập, xóa bỏ), nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 27/12/1892 quy định Nam kỳ
có 02 thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và 20 khu xếp theo thứ tự A, B, C như sau: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định,
Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân
An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long Đến tháng 5/1895, lập thêm thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) Nghị định ngày 20/12/1899 của toàn quyền Đông Dương quy định: Kể từ ngày 01/01/1900, tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Dương (trong đó có cả các khu ở Nam kỳ) đều thống nhất gọi là tỉnh (Province) Đứng đầu mỗi tỉnh ở Nam kỳ là một chủ tỉnh, cũng gọi là Chánh Tham biện (Administrateur de la) Cho đến cuối thời kỳ Pháp thuộc, 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ Tỉnh Sóc Trăng thuộc miền Tây Nam kỳ, gồm 03 quận: Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú)
Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 04 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú và Phú Lộc Năm 1932, Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong các tỉnh Nam kỳ, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ quyết định thành lập lại quận Phú Lộc
Về phía ta, sau Cách mạng tháng 8/1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu giao qua Sau đó, ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị Cũng trong thời kỳ này, Sóc Trăng có thêm một số xã của tỉnh Rạch Giá và Cần Thơ giao qua
Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh Châu cho tỉnh Bạc Liêu Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận
Trang 32thêm thị xã Bạc Liêu và các huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá Cũng trong năm này, tỉnh Sóc Trăng sáp nhập 02 huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy tên là Vĩnh Lợi – Vĩnh Châu (năm 1962 lại tách 02 huyện ra như cũ) Đầu năm 1958 huyện
Kế Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng
có 02 thị xã (thị xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 07 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai)
Tháng 11/1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam bộ, Sóc Trăng giao các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại cho tỉnh Cà Mau từ năm 1961) Nghị định số 31/NĐ, ngày 21/2/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang
Trong kỳ hợp lần thứ 10 (khóa VIII) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 02 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị,
Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã Sóc Trăng
Ngày 11/01/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 04/2002/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú và thành lập thêm huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Ngày 31/10/2003, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định
số 127/2003/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thạnh Trị và thành lập thêm huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Ngày 08/2/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 22/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng Ngày 24/9/2008, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 02/NĐ-
CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ Tú và thành lập thêm huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng Đến ngày 23/12/2009, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị quyết số 64/NQ-CP, điều chỉnh địa giới
Trang 33hành chính hai huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và thành lập thêm huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
Tính đến năm 2010, đơn vị hành chính của tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố với 109 xã, phường, thị trấn, gồm:
Đơn vị Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/Km2)
Bảng 2.1 Các đơn vị hành chính tỉnh Sóc Trăng năm 2010
( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010)
2 Địa lí tự nhiên 2.1 Vị trí địa lí
Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần Thơ 62km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang
- Vị trí tọa độ: 9°14'-9°56' Đ 105°34'-106°18' Đ
Trang 34- Diện tích tự nhiên 3.311,7 km2 (chiếm khoảng 1% diện tích cả nước và 8,3% diện tích của khu vực đồng bằng sông Cửu Long)
- Đường bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông
- Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang;
+ Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu;
+ Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh;
+ Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông
2 2.Các nguồn lực tự nhiên
2 2.1.Địa hình
Địa hình của Sóc Trăng khá bằng phẳng Đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh là thuộc vùng đất liền Phần nhỏ còn lại kẹp giữa hai nhành sông Hậu là một dải cù lao với diện tích hàng trăm km2
Địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo với độ cao trung bình từ 0,5 đến 1,0m so với mực nước biển Hướng dốc chính của địa hình từ ba phía là sông Hậu, Biển Đông và kênh Quản Lộ thấp dần vào trung tâm Do địa hình lòng chảo nên khu vực thấp nhất ở phía nam huyện Mỹ Tú và Thạnh Trị khó thoát nước, bị ngập úng kéo dài
2 2.2.Khí hậu
Khu vực Nam Bộ của Việt Nam (trong đó có tỉnh Sóc Trăng) nằm hoàn toàn trong vành đai khí hậu khí hậu nhiệt đới cận xích đạo và là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của gió mùa châu Á Hướng gió mùa đông và gió mùa hè hoàn toàn đối lập nhau, tương ứng với hai mùa gió là hai mùa khô và mưa rõ rệt Giữa hai mùa có thời kỳ chuyển tiếp những không dài
Trang 35Nói đến khí hậu nhiệt đới đặc điểm đầu tiên ta phải nhắc đến tính chất nóng Nằm ở vĩ độ thấp (từ 9014’22” đến 9055’30” vĩ Bắc) hàng năm tỉnh Sóc Trăng có 2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh (khoảng giữa tháng 4 và cuối tháng 8), độ cao mặt trời lớn, ít thay đổi trong năm Do vậy Sóc Trăng được tiếp nhận một lượng bức xạ dồi dào Chính lượng bức xạ mặt trời dồi dào này đã tạo cho Sóc Trăng một nền nhiệt độ cao và tương đối ổn định Nhiệt độ không khí trung bình năm xấp xỉ 270C, trong năm không có tháng nào nhiệt đô trung bình dưới
250C Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng không nhiều, biên độ nhiệt năm (chênh lệch giữa tháng nóng nhất và ít nóng nhất) là 3,30C Nhiệt độ trung bình tháng của từng năm cụ thể chỉ chênh lệch so với trung bình nhiều năm khoảng 0,40
C (chênh lệch lớn nhất là 1,80C) Những biến thiên của nhiệt độ trung bình ngày giữa ngày này qua ngày khác cũng chỉ khoảng 10
C
Đặc điểm thứ 2 của khí hậu nhiệt đới mà Sóc Trăng có được là tính chất ẩm, mưa nhiều Độ ẩm không khí trung bình năm của Sóc Trăng là 84%, không có tháng nào có độ ẩm không khí trung bình dưới 75% Sở dĩ khí hậu Sóc Trăng có độ ẩm cao như vậy là do chế độ mưa phong phú Trong khi nhiệt độ tương đối ổn định quanh năm thì lượng mưa có sự phân bố rõ rệt (cả về không gian và thời gian) Tổng lượng mưa năm trung bình của các địa phương trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm trong khoảng 1.500 – 2.000 mm Dựa theo phân hóa mưa theo thời gian, có thể chia khí hậu Sóc Trăng thành hai mùa trong một năm: mùa khô và mùa mưa
Như vậy chế độ mặt trời và ảnh hưởng của hoàn lưu khí quyển đã đem lại cho Sóc Trăng một nền tảng khí hậu có tính nhiệt đới gió mùa với những đặc điểm sau:
- Nền nhiệt độ cao, tương đối ổn định quanh năm
- Lượng mưa khá phong phú nhưng có sư phân hóa rõ rệt theo 2 mùa: khô và mưa, phù hợp với 2 mùa gió Đông bắc và Tây nam
Sóc Trăng là tỉnh có khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ cao quanh năm với một mùa mưa và một mùa khô tương phản tương đối sâu sắc Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh là 27,30C Nhiệt độ cao nhất là tháng 5 đạt 29,70C (tối đa
Trang 3637,80C vào tháng 4-1958) và thấp nhất là tháng 1 với 25,90C (thấp nhất với 23,80C vào tháng 1 – 1998)
Tổng lượng bức xạ trung bình năm đạt khoảng 140 – 150 kcal/cm2
Độ ẩm trung bình năm ở mức 84%, nhưng cao nhất vào mùa mưa (89%) và thấp nhất vào mùa khô (77%)
Nhìn chung, khí hậu của Sóc Trăng có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế Khí hậu có tính chất cận xích đạo, nắng lắm, mưa nhiều thích hợp cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là tình trạng thiếu nước ngọt cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong mùa khô, nhất là vùng ven biển và vùng cách xa nguồn nước ngọt
2.2.3 Thủy văn
Đối với tài nguyên nước trên mặt, tỉnh Sóc Trăng có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và giao thông vận tải
Có giá trị lớn nhất phải kể tới sông Hậu, sông Mê Kông khi chảy vào nước ta chia thành hai nhánh: Tiền Giang và Hậu Giang Đoạn cuối cùng của sông Hậu chảy qua tỉnh Sóc Trăng và đổ ra biển qua cửa Định An và cửa Tranh Đề Lưu lượng nước sông Hậu vào khoảng 7000 – 8000 m3
/giây trong mùa mưa và giảm 2000 – 3000 m3
vào mùa khô
Tỉnh Sóc Trăng được chi phối bởi 3 hệ thống sông, kênh chính là sông Mỹ Thanh ở phía Nam, sông Hậu ở phía Đông và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp ở phía Tây Bắc Do nằm tiếp giáp với biển Đông nên hệ thống sộng rạch Sóc Trăng chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai lần nước lên và hai lần nước xuống Trong một tháng có hai đỉnh
Trang 37triều cường (thường vào ngày 2 và ngày 17 hàng tháng – tính theo âm lịch) và hai chân triều (thường vào ngày 10 và ngày 25 tháng – tính theo âm lịch) Trong một năm mực nước triều lên cao nhất vào tháng 10,11 và xuống thấp nhất vào tháng 6 Vào tháng 10,11 do ảnh hưởng kết hợp triều cường biển Đông và nước
lũ từ đầu nguồn sông Cửu Long đổ về làm mực nước các sông rạch trong tỉnh lên cao gây ngập úng và làm tràn hoạch bể bờ bao của các xã trên Cù lao hoặc các xã ven sông Hậu
*Hệ thống sông rạch + Sông Hậu
Sông Hậu (còn gọi là Ba Thắc), là một nhánh của hệ thống sông Mê Kông Được hình thành do một đứt gẫy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chạy
từ Châu Đốc ra biển Tỉnh Sóc Trăng nằm cặp sông với chiều dài hơn 60 km và
ở vị trí hạ lưu sông Hậu, sát biển Đông Sông có độ dốc thấp, tốc độ dòng chảy không lớn
Sông Mê Kông có tổng diện tích lưu vực khoảng 795.000 km2
, chiều dài dòng chính khoảng 4.200 km Nó được bắt nguồn từ cao nguyên Tây tạng ở độ cao khoảng 5.000 m Tổng lượng nước bình quân năm khoảng 14.000 – 15.000m3/s Lưu lượng sông trãi rộng trên lãnh thổ 6 nước là Trung Quốc, Thái Lan, Myanma, Lào, Campuchia và Việt Nam Trong đó phần lãnh thổ thuộc Trung Quốc và Myanma chiếm 23% diện tích lưu vực, 77% diện tích lưu vực còn lại thuộc lãnh thổ 4 nước trong đó có Việt Nam
Sông Hậu là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho tỉnh, lưu lượng
và lượng phù sa của nó chiếm khoảng 50% lưu lượng phù sa của hệ thống sông
Mê Kông Trung bình tại trạm Cần Thơ vào mùa mưa 7.000 – 8.000 m3
/s, mùa khô: 2.000 – 3.000 m3/, lưu lượng kiệt: 700 – 1.000m3/s Về mùa khô, sông Hậu
là nguồn nước ngọt gần như là chủ yếu (ngoài ra còn nước ngầm) cung cấp cho sản xuất và đời sống của tỉnh
Nước sông Hậu được đưa về địa phận tỉnh Sóc Trăng qua các tuyến kênh chính như: Cái Côn – Quản lộ Phụng Hiệp,, Ba Rinh – Tà Liêm, Rạch Vọp, Cái Trâm, Số Một, Ba Xuyên – Saintarnd, Mỹ Thanh – Cổ Cò- Mỹ
Trang 38Phước… với lưu lượng chiếm khoảng 0,5 – 1% tổng lưu lượng của toàn hệ thống sông Mê Kông, cụ thể khoảng 55 – 60m3
/s (riêng kết quả đo lượng kênh Cái Côn của Phân viện Khảo sát và Quy hoạch Thủy lợi Nam Bộ vào tháng 5 –
1999 là 51,7m3/s), và bằng 1/3 lượng nước đi vào bán đảo Cà Mau Bình thường, do vị trí nằm ở duyên hải nên gần 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh ở sát biển bị nhiễm mặn Nước mặn theo hệ thống sông Mỹ Thanh – Nhu Gia – Cổ
Cò và các sông Ba Xuyên – Saintard trong mùa khô xâm nhập vào đồng ruộng Những năm gần đây, do chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau của Nhà nước, diện tích đất bị nhiễm mặn đã giảm đi hơn phân nửa, chỉ còn khoảng gần 1/3 diện tích tự nhiên của tỉnh, kể cả việc mở rộng vùng quy hoạch nuôi tôm nước
lợ Nước ngọt từ sông Hậu theo các kênh Cái Côn – Quản Lô – Phụng Hiệp, Ba Rinh – Tà Liêm, Rạch Vọp, Cái Trâm, Số Một, Ba Xuyên – Saintarnt… cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt
Chất lượng nước sông Hậu nhìn chung tốt, hàm lượng phù sa trung bình trong thời kì từ đầu tháng 8 đến tháng 10 trong khoảng 0,27 – 0,3kg/m3
, là nguồn bổ sung quý giá cho độ phì nhiêu đất đai của tỉnh Một ngày 2 lần nước có thể tự chảy vào đồng ruộng nhờ biên độ triều lớn
Về giao thông, vận tải và quân sự, sông Hậu có vai trò quan trọng đối với tỉnh Sóc Trăng nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung Đây là đường giao thông thủy quốc tế đi Campuchia, ra biển Đông giao lưu quốc tế với nhiều cảng khá lớn trong khu vực như cảng Cần Thơ, cảng Mỹ Thới, cảng Cái Cui, cảng Đại Ngãi, cảng cá Trần Đề…
Vấn đề bồi lắng tại cửa sông Hậu là có thật và đang được quan tâm
Do phá rừng ở đầu nguồn, đất bị rửa trôi nhiều hơn nên lượng phù sa tải ra biển nhiều hơn; do xây dựng nhiều hồ chứa ở thượng nguồn để tưới tiêu và làm thủy điện; do mở rộng diện tích canh tác và tăng vụ; do thoát nước ra biển Tây…nên tốc độ dòng chảy có thể bị chậm lại; do nước biển dâng làm hạn chế dòng chảy tại cửa sông và biến đổi khí hậu nên các cửa Định An, Trần Đề tại sông Hậu bồi lắng rất nhanh Nhà nước đang điều tra, khảo sát và tìm các giải pháp khắc phục
Trang 39Xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội địa đang là một xu hướng Bình thường hàng năm nước mặn trong mùa khô thường vào sâu đến Đại Ngãi
và cầu Trà Canh trong đất liền Trong khoảng 20 năm gần đây mặn đã vào sâu hơn cả chục km, có thể vượt qua vàm Kế Sách Về nguyên nhân mặn xâm nhập sâu cũng tương tự như trên
+ Các sông, rạch bắt nguồn từ sông Hậu
Đa phần các sông, rạch, kinh lớn ở tỉnh Sóc Trăng đều được bắt nguồn từ sông Hậu Tỉnh có 3 hệ thống sông, kinh, rạch lớn
- Hệ thống sông Mỹ Thanh:
Sông Mỹ Thanh là một sông tự nhiên lớn nhất tỉnh và là một trong những con sông lớn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Nó nằm gần như trọn vẹn trong địa phận tỉnh Sóc Trăng, tuy ngắn nhưng khá rộng, chiều rộng trung bình khoảng 200m, đoạn cửa sông khoảng 100 – 400m, chiều sâu trung bình 8m, thông thuyền 250 – 500 tấn, Sông Mỹ Thanh có 2 nhánh lớn, nhánh Cổ
Cò – Nhu Gia – Mỹ Phước, nhánh Bạc Liêu Nhánh Bạc Liêu trước đây có tên gọi là sông Cà Mau có 2 chi lưu là rạch Bạc Liêu và rạch Càu Mau Nhánh Cổ
Cò có 5 chi lưu là sông Bãi Xàu chảy từ Cổ Cò lên Mỹ Xuyên, chi lưu Nhu Gia –
Mỹ Phước, Mỹ Phước – Tân Lập – Long Hưng, Nhu Gia – Chàng Ré – Cái Trầu – Ngã Năm; 4 chi lưu sau đều đổ vào kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp
Chế độ thủy văn sông Mỹ Thanh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế
độ thủy triều biển Đông, nước sông Hậu đổ về và chế độ mưa nội vùng Sông chỉ
có nước ngọt vào mùa mưa, bị xăm nhập mặn trong mùa khô và có chức năng như là trục tiêu cho canh tác vào mùa mưa và dẫn mặn cho gần hết diện tích quy hoạch nuôi trồng thủy sản tại các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên và Vĩnh Châu vào mừa khô Hiện sông đã có hệ thống đê bao ngăn mặn xâm nhập nội đồng, nhất là
ở vùng trồng lúa nằm ở phía tây Quốc lộ 1
Sông Mỹ Thanh là một trong những đường giao thông thủy nội tỉnh quan trọng, ngoài ra nó có thể đi vào Bạc Liêu và Cà Mau Cửa Mỹ Thanh nằm sát biển và đổ ra cửa Trần Đề nên bị ảnh hưởng triều rất lớn, biên độ triều chênh
Trang 40nhau khá cao và hiện cũng đang bị bồi lắng nên độ sâu trong mùa kiệt chỉ 4 – 5m
- Hệ thống sông Cái Côn bao gồm:
Sông Cái Côn cũ chạy từ Cái Côn và Mang Cá xã Đại Hải, sau nối vào kinh Ba Rinh phụ lưu của rạch Nhu Gia, dài khoảng hơn 30km, rộng khoảng 20m, sâu khonagr 6 – 7 m Ngoài nhiệm vụ là đường giao thông thủy, nó có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho một phần diện tích nằm ở phía Tây huyện Kế Sách
Sông Cái Côn mới bắt đầu từ Cái Côn chạy khoảng 16 – 17km, rộng 100 – 120m, sâu 12 – 15m gắn với hệ thống kinh Ngã bảy tại thị xã Phụng Hiệp tỉnh Hâu Giang, trong đó có kinh Quản Lộ Phụng Hiệp chạy đến Cà Mau, dài hơn 80km, rộng trung bình 70m, sâu trung bình 5,5m, có khả năng thông thuyền đến 250 tấn, là nguồn chủ yếu đưa nước ngọt về phía tây của tỉnh Sóc Trăng như Mỹ Tú, Ngã năm và tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau Đây là hệ thống kinh đào lớn nhất ở Nam Bộ, được thực dân Pháp đào vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX nhằm mục đích mở rộng diện tích canh tác lúa, an ninh quân sự và giao thông thủy ở phía Tây 4 tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liệu, Cà Mau Hiện là đường giao thông thủy quốc gia, cửa ngõ đi vào bán đảo Cà Mau và là nguồn nước ngọt lớn nhất đưa từ sông hậu vào khu vực này
Các rạch Cái Trâm dài 11km, rộng khoảng 30 – 35m sâu 4,5m, bắt nguồn từ sông Hậu tại An Lạc Thôn chạy ngang xã Trinh Phú gặp sông Cái Côn
cũ, khả năng thông thuyền nhỏ hơn 50 tấn Rạch Vọp bắt đầu từ sông Hậu tại An Lạc Tây chạy vào mang cá, Đại Hải dài khoảng 15km, rộng trung bình khoảng 27-30m, sâu 4m; rạch Kế Sách hay kinh số 1 bắt nguồn từ sông Hậu tại Nhơn
Mỹ chạy đến Ngã Bảy Phụng Hiệp dài khoảng 30km, rộng trung bình khoảng 37 – 40m, sâu khoảng 5m, thông thuyền nhỏ hơn 50 tấn… đều nằm ở huyện Kế Sách, phục vụ cho sản xuất và đời sống
- Sông Ba Xuyên – kinh Saintard:
Sông Ba Xuyên nguyên là một con sông cũ, khởi đầu từ Đại Ngãi chạy vào thương cảng Bãi Xàu đổ vào rạch Cổ Cò thuộc huyện Mỹ Xuyên trước