Năm 2006 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: kim ngạch xuất khẩu đạt 39,6 tỷ USD, trong đó kim ngạch thủy sản đạt mức 3,348 tỷ USD, hàng thủy sản xuất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHI MINH
NGUYỄN XUÂN MINH
HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ QUẢN LÝ VÀ KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ QUỐC DÂN
Mã số: 5.02.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH -NĂM 2006
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS, TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN
2 THÁI ĐẮC LIỆT
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
- Thư viện Quốc gia
Trang 3CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
1 Nguyễn Xuân Minh (2006), Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Thương mại,
số 8-2006, tr 3-6
2 Nguyễn Xuân Minh (2006), Doanh nghiệp Việt Nam trong chiến
lược xuất khẩu thủy sản, Tạp chí Thương mại, số 9-2006, tr 6,32
3 Nguyễn Xuân Minh (2006), Phát huy vai trò điều tiết của Nhà
nước và tính tự quản của cộng đồng trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam thông qua mô hình Hội đồng điều hành phát triển thủy sản,
Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 16-2006, tr 36-41
4 Nguyễn Xuân Minh (2001), Một số quy định về nhập khẩu thủy
sản của Nhật Bản, Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 126, tr 21
5 Nguyễn Xuân Minh (2004), Để thâm nhập thị trường thủy sản
Nhật Bản, Tạp chí Thương nghiệp – Thị trường Việt Nam, số
3-2004, tr 14, 42
6 Nguyễn Xuân Minh (2006), Export seafood 2006: Remove new
obstacles, Economic Development Review, số 139, tr 18-20
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu:
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tư cách thành viên trong tổ chức này giúp Việt Nam nắm bắt những cơ hội mới để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều sâu, trong đó xuất khẩu sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ với vị thế mới trên trường quốc tế Năm 2006 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: kim ngạch xuất khẩu đạt 39,6 tỷ USD, trong đó kim ngạch thủy sản đạt mức 3,348 tỷ USD, hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam có mặt tại 127 thị trường trên thế giới và hoạt động xuất khẩu thủy sản đã tạo ra hiệu quả kinh tế –xã hội lớn lao
Tuy nhiên, từ thực tiễn của hoạt động xuất khẩu thủy sản thời gian qua cũng đã phát sinh nhiều hạn chế và vướng mắc, chẳng hạn như: liên kết giữa các khâu cung ứng nguyên liệu – thu mua – chế biến trong nước lỏng lẻo; chất lượng thủy sản xuất khẩu chưa ổn định, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ, an toàn thực phẩm của các thị trường xuất khẩu mục tiêu, các doanh nghiệp trong nước chưa phát huy tính cộng đồng trong kinh doanh; các nước nhập khẩu đưa ra nhiều rào cản thương mại và kỹ thuật như tên gọi hàng hóa,
dư lượng kháng sinh, hệ thống đảm bảo chất lượng, áp dụng các biện pháp chống bán phá giá… các tranh chấp thương mại cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động thương mại thủy sản
Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên là Việt Nam chưa triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản một cách bền vững Yêu cầu cấp thiết của thực tế đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ giữa các yếu tố trong từng khâu và giữa các khâu trong toàn chuỗi hoạt động liên quan đến xuất khẩu thủy sản, gồm: nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản Chính vì vậy tác giả đã chọn thực hiện luận án
với đề tài: “Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020”.
2 Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định cần phải đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong tình hình mới,
Trang 5- Phân tích những kết quả đạt được và các yếu tố tác động đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên cơ sở đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản thời gian qua
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động xuất khẩu thủy sản của các chủ thể trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhưng do điều kiện nghiên cứu, việc khảo sát được thực hiện chủ yếu tại các tỉnh, thành phía nam
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình xuất khẩu thủy sản Việt
Nam từ năm 1990 đến năm 2006; các giải pháp đề xuất sẽ được áp dụng từ nay cho đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, mô tả, phân tích và thống kê để xử lý số liệu, kết hợp nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường Đặc biệt, để thực hiện Luận án, tác giả đã sử dụng phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học với 3 cuộc khảo sát công phu: khảo sát các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản (297 doanh nghiệp), khảo sát các hộ nuôi trồng thủy sản (258 hộ) và cuộc khảo sát kiểm chứng (297 doanh nghiệp và 258 hộ đã tham gia những cuộc khảo sát trước đó) Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS
5 Những đóng góp khoa học mới của luận án:
- Đánh giá toàn diện thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn
1990 - 2006, đặc biệt rút ra những điểm mạnh, các hạn chế, rào cản, vướng mắc trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong bối cảnh cạnh tranh mới trên phạm vi khu vực và thế giới,
- Đưa ra một số quan điểm mới làm cơ sở cho việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản: đẩy mạnh xuất khẩu trong điều kiện mới phải đáp ứng tốt hiệu quả kinh tế xã hội toàn diện, dựa trên một hệ thống giải pháp triển khai đồng bộ giúp thủy sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường thế giới một cách chủ động, tích cực trong đó cần quan tâm thích đáng đến môi
Trang 6trường kinh doanh quốc tế, liên kết bốn nhà: nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà thương lái cần xác lập cơ chế và mô hình cụ thể, phù hợp với thực tiễn mới của ngành thủy sản
- Đưa ra hệ thống giải pháp đưa ra đảm bảo tính đồng bộ giữa các yếu tố trong toàn bộ quy trình xuất khẩu thủy sản Đặc biệt, các giải pháp đưa ra đáp ứng được những thay đổi nhanh chóng của môi trường thương mại quốc tế về thủy sản hiện nay, trong điều kiện các rào cản phi thuế quan ngày càng được áp dụng rộng rãi, các tranh chấp thương mại diễn ra thường xuyên hơn khi thị phần của thủy sản xuất khẩu Việt Nam tăng lên, môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt hơn
- Đề xuất thành lập Hội đồng Điều hành phát triển thủy sản vùng, đảm bảo sự chỉ đạo nhạy bén, kịp thời của Nhà nước trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường trên cơ sở khai thác triệt để sức mạnh của tính tự quản từ cộng đồng nhằm đảm bảo thủy sản sạch và an toàn “từ
ao nuôi đến bàn ăn”
6 Bố cục của luận án:
Luận án gồm 169 trang, 31 bảng, hình, 4 phụ lục Nội dung được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 2: Tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam thời gian qua
- Chương 3: Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020
CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Cơ sở lý luận về sự cần thiết xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam:
Trong điều kiện Việt Nam đang nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, hoạt động xuất khẩu ngày càng được chú trọng, đẩy mạnh, trong đó có hoạt động xuất khẩu thủy sản Chủ trương đó xuất phát từ
cơ sở lý luận mà các nhà kinh tế học đã xây dựng, kế thừa và phát triển qua nhiều thế kỷ như: chủ nghĩa trọng thương, lý luận về phân công lao
Trang 7động, lợi thế tuyệt đối và lý thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, lý thuyết yếu tố thâm dụng của Hecksher – Ohlin, lý thuyết và khả năng cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, lý thuyết về quản trị chiến lược và lý thuyết phát triển
bền vững
Qua nghiên cứu các lý thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại, xét trong điều kiện vận động phát triển hiện nay của ngành thủy sản Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện mới hiện nay là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam
- Nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên phạm vi toàn cầu vẫn ở mức cao
- Việt Nam có khả năng đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
- Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản có tác động tích cực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.3 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của một số quốc gia:
Luận án đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và của các tổ chức như Cục Nghề cá biển (SEAFISH) của Vương quốc Anh, Hội đồng Xuất khẩu Thủy sản Nauy (NSEC) Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản của các nước và tổ chức này, Luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam gồm:
Một là, phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ trong tất cả các
khâu nuôi trồng, đánh bắt, bảo quản, chế biến thủy sản xuất khẩu; chú trọng vấn đề vệ sinh dịch tễ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đầu
tư đổi mới công nghệ;
Hai là, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng đóng một
vai trò quan trọng trong việc triển khai chiến lược sản phẩm tại thị trường nước ngoài;
Ba là, chú trọng việc mở rộng thị trường để khai thác tốt các phân
khúc thị trường có thể thâm nhập được và tránh các rủi ro về sự quá phụ thuộc vào thị trường;
Trang 8Bốn là, dành nhiều nguồn lực ưu tiên cho các hoạt động xúc tiến
xuất khẩu, quảng bá thương hiệu trên cơ sở đảm bảo chất lượng và giá cả cạnh tranh;
Năm là, phát triển ngành thủy sản trên cơ sở bền vững và chú
trọng theo đuổi những khuynh hướng mới như thủy sản sinh thái, sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao;
Sáu là, để có thể phối hợp đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản, cần thành lập một tổ chức điều phối, quản lý hoạt động khai thác, đánh bắt để đảm bảo nguồn lợi thủy sản không bị khai thác quá mức, đảm bảo sự phát triển bền vững và xúc tiến, quảng bá hoạt động xuất khẩu thủy sản trên cơ sở khai thác hiệu quả của phưong thức
“đồng quản lý” với sự tham gia tích cực của cộng đồng và tăng cường vai trò tích cực của Nhà nước trong việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu thủy sản
Những kinh nghiệm trên đều đã được các nước áp dụng một cách đồng bộ và triển khai kiên trì trong nhiều năm liền để tạo ra một bước chuyển biến thực chất trong toàn ngành thủy sản và trong hoạt động xuất khẩu
Tóm lại, qua nghiên cứu các lý thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại trong điều kiện vận động phát triển hiện nay của ngành thủy sản Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều kiện mới hiện nay là hết sức cần thiết Với khuynh hướng tiêu thụ thủy sản hiện nay, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn nhiều khả năng đáp ứng cả về số lượng, chủng loại và chất lượng thủy sản Tiềm năng nguồn lợi thủy sản; khả năng khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn có thể cho phép ngành thuỷ sản tiếp tục phát triển, mở rộng Việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc, Thái Lan, Aán Độ và các tổ chức phát triển xuất khẩu thủy sản cũng giúp cho Việt Nam rút
ra 6 bài học kinh nghiệm cần thiết cho việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong giai đoạn mới
Như vậy, trên cơ sở xem xét các khía cạnh có liên quan đến hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng Việt Nam có đầy đủ điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trên cơ sở khai
Trang 9thác bền vững tài nguyên biển đi đôi với việc phát triển nguồn lợi thủy sản, đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 2.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam thời gian qua
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu
Thời gian qua, thủy sản đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và thủy sản chỉ đứng sau dầu thô, gạo, dệt may nếu xét về kim ngạch xuất khẩu Trên thị trường thế giới, Việt Nam đang dần trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản quan trọng với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm Từ năm 1990 đến năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn luôn tăng
Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 205 triệu USD Mười năm sau, năm 2000, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã đạt 1.478, 5 triệu USD bằng 721% so với năm 1990 Ngành thủy sản chỉ mất 12 năm để tăng kim ngạch xuất khẩu lên gấp 10 lần, từ 205 triệu USD lên đến 2021,7 triệu USD vào năm 2002, năm 2006 đạt 3.348 triệu USD Như vậy, trong 16 năm qua, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt kết quả khá ngoạn mục so với các ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực
Bảng 2.1: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM NĂM
Trang 10(Nguồn: Tổng cục Thống kê, VASEP) ([81], [82], [83], [84], [103])
ngạch xuất khẩu thủy sản lớn trong cả nước, đứng đầu là Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang… Nhìn chung, trong các tỉnh dẫn đầu cả nước về xuất khẩu thủy sản, khuynh hướng phổ biến là duy trì được tốc độ
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khả quan (Bảng 2.2-Luận án)
2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Với nguồn lợi thủy sản phong phú, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều loại thủy sản có tính kinh tế cao Tuy nhiên, trong thực tế thời gian qua các mặt hàng thủy sản vẫn còn khá đơn điệu; tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Khối lượng và tỷ trọng về giá trị xuất khẩu của nhóm hàng thủy sản khô, mực và bạch tuộc có khuynh hướng giảm
Bảng 2.3: CƠ CẤU THỦY SẢN XUẤT KHẨU NĂM 1998 - 2006
Ngoài các nhóm sản phẩm trên, các doanh nghiệp cũng đã nỗ lực
đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu như: trứng cá, thịt ốc, lươn, ba khía, cá
Trang 11muối, hải sản, chả lụa, jambon, sứa muối, sò khô… và các sản phẩm giá trị gia tăng khác Nhìn chung các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là các mặt hàng sơ chế hoặc nguyên liệu Các mặt hàng chế biến có giá trị gia tăng cao vẫn còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn
2.1.3 Thị trường xuất khẩu
Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm mở rộng khả năng tiêu thụ và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc là những thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu của Việt Nam nhưng vị trí của các thị trường này cũng biến động theo thời gian Tính đến tháng 12/2006, hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt ở 127 quốc gia và vùng lãnh thổ
Thị trường Nhật Bản
Trong thời gian qua Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản rất quan trọng của Việt Nam, có tính ổn định khá cao và sản phẩm Việt Nam đã nhận được sự chấp nhận của người tiêu dùng Nhật Bản và trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam vẫn nên tiếp tục khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam tại thị trường này
Thị trường Mỹ:
Mỹ là thị trường có sức tiêu thụ lớn nhất thế giới với khối lượng và giá trị trao đổi hàng hóa lớn nhất Trong thời gian qua, sau khi các hoạt động mậu dịch được nối lại, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng đã năng động thâm nhập thị trường này Dù đây là thị trường có nhiều ràng buộc, cản trở thương mại, hệ thống luật pháp phức tạp nhưng đây cũng là thị trường nhập khẩu còn nhiều tiềm năng chưa khai thác
Thị trường EU:
EU là thị trường tương đối khó tính đối với các mặt hàng thực phẩm nói chung và đặc biệt là thủy sản vì đây là loại thực phẩm được tiêu thụ phổ biến tại các nước thành viên EU Do vậy, mức độ và quy mô thâm nhập vào thị trường này còn hạn chế, cả về khối lượng lẫn giá trị (Bảng 2.8 - Luận án)
Trang 12Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông:
Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông có sức mua thủy sản rất lớn
do dân số ở thị trường này đông và tập quán tiêu dùng thủy sản trong các bữa ăn hàng ngày hay lễ tiệc là rất phổ biến Trung Quốc là thị trường tương đối dễ tính Một phần thủy sản nhập khẩu đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân Trung Quốc, phần khác dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản của nước này (Bảng 2.10
- Luận án)
Thị trường ASEAN:
Thủy sản xuất khẩu sang các nước ASEAN chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành chế biến trong nước Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường ASEAN tăng vọt, bằng 226,7% kim ngạch năm 2003 nhưng năm 2005, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 74,4% của năm 2004
Các thị trường khác:
Nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thủy sản của các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện khá rõ khi tỷ trọng giá trị xuất khẩu thủy sản sang thị trường khác ngoài Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, Hồng Kông và ASEAN đã tăng từ 14,7% năm 1997 lên đến 24,7% vào năm 2003 Giá trị tuyệt đối cũng đạt tốc độ phát triển rất cao, từ 115,4 triệu USD vào năm 1997 lên đến 597,3 triệu USD vào năm 2005
2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian qua
Để các đánh giá, phân tích các yếu tố môi trường bên trong và môi trường bên ngoài, tác giả đã tiến hành cuốc khảo sát các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản (với 236 phiếu trả lời) và khảo sát các hộ nuôi trồng thủy sản (với 258 phiếu trả lời) Các chuyên gia trong ngành cũng được tham khảo ý kiến đánh giá về các yếu tố của môi trường tác động đến chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản khi xây dựng các ma trận yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
2.2.1 Các yếu tố bên trong: Các yếu tố bên trong tác động đến kết quả
xuất khẩu thủy sản thời gian qua gồm: các hoạt động chủ yếu (bao gồm: đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và tổ chức xuất khẩu thủy sản) và các hoạt động chức năng mang tính bổ trợ (gồm: vai trò của các hội,
Trang 13hiệp hội ngành nghề; dịch vụ tài chính, tín dụng, vận tải, bảo hiểm; công tác marketing xuất khẩu thủy sản và thông tin thị trường; tính liên kết giữa các khâu trong chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản; công tác lãnh đạo, điều hành của Bộ Thủy sản) Qua phân tích tất cả các yếu tố bên trong tác động đến hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam có thể nhận thấy rằng Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Tuy nhiên, quá trình xuất khẩu thủy sản thời gian qua đã bộc lộ rõ những vướng mắc lớn như sau:
Một là, sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của các thị trường nhập khẩu về vệ sinh, an toàn thực phẩm
Hai là, các doanh nghiệp chưa chú trọng công tác xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu, chuẩn bị chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài
Ba là, các mắt xích trong chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản phát triển chưa bền vững
Bốn là, chưa hình thành các liên kết dọc và ngang có hiệu quả trong chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu và chưa có mô hình quản lý, điều hành chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản
Trên cơ sở những phân tích trên đây, tổng hợp ma trận các yếu tố bên trong của chuỗi hoạt động xuất khẩu thủy sản như sau:
Bảng 2.23: MA TRẬN CÁC YẾU TỐ BÊN TRONG (I.F.E)
2 Trình độ sản xuất, chế biến ngang tầm
3 Triển khai các hệ thống quản lý và đảm
4 Quan hệ công nhận chất lượng với các
nước chưa đáp ứng tốt nhu cầu phát
triển xuất khẩu thủy sản
0,07 2 0,14
5 Thị trường xuất khẩu rộng; kim ngạch