1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại (thế kỉ xv đến thế kỉ xix)

115 3K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 865,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu công phu, có chất lượng và uy tín khoa học cao cũng đã giới thiệu cho bạn đọc thêm những cách hiểu cơ bản về khái niệm “kì ảo” như: Tìm hiểu các dạ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Trong quá trình h ọc tập tại trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ những tấm lòng mà tôi trân trọng tri ân:

Tôi xin g ửi lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Thu Yến, giảng viên trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, người hướng dẫn luận văn

Xin chân thành c ảm ơn quý thầy cô khoa ngữ văn trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi trong su ốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin c ảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện và động viên tôi trong

th ời gian vừa qua

Người viết luận văn

Lê Thùy Dung

Trang 4

M ỤC LỤC Trang ph ụ bìa

L ời cảm ơn

M ục lục

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Các khái ni ệm 7

1.1.1.Văn xuôi trung đại 7

1.1.2 Y ếu tố kì ảo 13

1.2 Cơ sở hình thành các yếu tố kì ảo trong văn học trung đại 21

1.2.1 Văn học trung đại mang đậm dấu ấn văn học dân gian 21

1.2.2 Văn học trung đại chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Nho - Phật - Đạo 25

1.2.3 Văn học trung đại gắn liền với tín ngưỡng dân gian người Việt 27

Chương 2 : NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG M ỘT SỐ TÁC PH ẨM VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI 31

2.1 C ốt truyện kì ảo 31

2.1.1 C ốt truyện bắt nguồn từ các môtip kì ảo 31

2.1.2 C ốt truyện bắt nguồn từ các tình huống kì ảo 41

2.2 Nhân v ật kì ảo 44

2.2.1 Nhân v ật có yếu tố kì ảo 45

2.2.2 Nhân v ật kì ảo 52

2.3 Không gian, th ời gian kì ảo 63

2.3.1 Không gian kì ảo 64

2.3.2 Th ời gian kì ảo 72

Chương 3 : GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG MỘT SỐ TÁC PH ẨM VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI 81

3.1 Cái kì ảo là yếu tố phản ánh hiện thực và phản ánh nhận thức, tư tưởng về cu ộc sống 81

3.1.1 Ph ản ánh hiện thực cuộc sống 81

Trang 5

3.1.2 Ph ản ánh nhận thức, tư tưởng về cuộc sống 91

3.2 Kì ảo có ý nghĩa như một thủ pháp nghệ thuật có sức hấp dẫn riêng 94

3.2.1 Kích thích trí tưởng tượng 94

3.2.2 Khơi dậy sự ham muốn khám phá 98

K ẾT LUẬN 102

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

thấy yếu tố kì ảo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức cũng như

tạo cho tác phẩm cái vẻ riêng, hấp dẫn, có một sức mê hoặc kì lạ

Yếu tố kì ảo đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học nhân loại Sử

dụng yếu tố kì ảo là một trong những thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu và độc đáo

của kho tàng văn xuôi thế giới Ngoài vai trò tạo sự "lạ hoá" nhằm hấp dẫn người đọc, yếu tố kì ảo còn có tác dụng giúp nhà văn biểu hiện, khám phá

hiện thực và thể hiện những quan niệm mới mẻ về nhân sinh, thế sự, con người Phương thức sử dụng cái kì ảo để sáng tác văn học nghệ thuật, đã được các nghệ sĩ phương Đông và phương Tây áp dụng từ thời cổ đại và cho đến ngày nay Có lẽ, trong các tác phẩm văn học dân gian cổ đại, yếu tố kì ảo đã

có mặt, phản ánh nhận thức còn “ngây thơ”, niềm tin lý tưởng của người cổ đại về thế giới Yếu tố kì ảo thành một dòng chảy liên tục trong dòng chung

của lịch sử văn học nhân loại từ thời cổ đại, qua trung đại đến cận đại Nó đã tôn tạo cho tác phẩm văn chương vẻ đẹp lung linh huyền ảo, đa màu sắc Các nghệ sĩ đã sử dụng nó như một biện pháp nghệ thuật nhằm khai thác sâu hơn,

rõ hơn bản chất của xã hội thực tại và đi thẳng vào đời sống với muôn mặt

Trang 7

của nó Yếu tố kì ảo là cầu nối để đưa ta vào thế giới chưa biết, huyền diệu và

bí ẩn trong trí tưởng tượng, vào những giấc mơ không thật, tìm lí tưởng trong

suốt như pha lê đã bị thực tại đen tối phá vỡ Yếu tố kì ảo đã đem đến cảm giác mới lạ cho người đọc, mở ra một chân trời mới của sức tưởng tượng bay

bổng Mặt khác, nó khiến con người không quay đi với đời sống thực tại mà luôn sẵn sàng đối diện thẩm định nhận thức cuộc sống một cách sâu sắc hơn Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn: “Yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại (thế kỉ XV đến thế kỉ XIX)” Tìm hiểu yếu tố kì ảo trong văn

xuôi trung đại sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về thế giới nghệ thuật

của các nhà văn cũng như có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về quá trình vận động của văn xuôi giai đoạn này

được bàn luận vào sau những năm 1975 và thực sự sôi nổi vào những năm

đầu thế kỉ XXI Có thể kể đến bài viết Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên c ứu văn học của Lê Nguyên Long Bài viết đã bước đầu thể hiện

sự quan tâm đến văn học kì ảo và khái niệm cái kì ảo Trong bài viết này, tác

giả đã tổng hợp nhiều quan niệm về thuật ngữ kì ảo và văn học kì ảo của các tác giả nước ngoài Từ đó tác giả đưa ra ý kiến của mình: “cái kì ảo là cái không th ể cắt nghĩa được bằng lý tính từ điểm nhìn của chúng ta với tầm

Trang 8

nhận thức hiện tại Chính sự không cắt nghĩa được bằng lý tính ấy đã tạo nên

m ột “sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ”(Rogee Caillois), gây ra tâm

tr ạng hoang mang cho người nào đối diện với nó” Hay trong bài nghiên cứu Cái kì ảo và văn học huyễn ảo của Lê Huy Bắc, tác giả đã đề xuất dùng khái

niệm “văn học huyễn ảo” “với mục đích nhằm bao quát cả một lịch sử sáng tạo văn chương nơi xuất hiện sự đan cài của hai yếu tố thực và ảo mà hàm lượng bao giờ cũng nghiêng qua phần ảo” Từ đó tác giả đã nhấn mạnh “thế

gi ới của văn học huyễn ảo là thế giới của trí tưởng tượng, nơi sự khác lạ hoang đường, thần diệu … luôn ngự trị Có lúc nó giúp người đọc bình tâm,

tự tại; có lúc nó khiến họ hoang mang, khiếp đảm và có lúc khiến họ hoài nghi, b ối rối…” Bài viết này đã có những đóng góp nhất định trong việc xác

định quan niệm về văn học kì ảo

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu công phu, có chất lượng và uy tín khoa học cao cũng đã giới thiệu cho bạn đọc thêm những cách hiểu cơ bản

về khái niệm “kì ảo” như: Tìm hiểu các dạng truyện kì ảo trong văn học cổ trung đại và cận đại Đông Tây của Nguyễn Huệ Chi, Dư ba của truyện truyền

kì, chí d ị trong văn học Việt Nam hiện đại của Vũ Thanh, Yếu tố kì ảo trong truy ện ngắn Việt Nam hiện đại sau 1975 của Phùng Hữu Hải, Đi tìm nguyên nhân h ồi sinh của yếu tố kì ảo trong văn học đương đại Việt Nam của Bùi

Thanh Truyền… Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã đưa

ra một cơ sở lý thuyết khá xác thực về yếu tố kì ảo

Riêng ở bộ phận văn xuôi trung đại, trong bài viết Văn xuôi tự sự Việt Nam th ời trung đại - những bước đi lịch sử cùng với các cuốn tuyển soạn,

Nguyễn Đăng Na đã có cái nhìn khái quát, hệ thống về tiến trình phát triển

của văn xuôi tự sự nói chung và các thể loại truyện ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi nói riêng Bộ phận văn học này đã có những đóng góp nhất định cho văn học trung đại Văn xuôi tự sự không chỉ là một bộ phận cấu thành văn

Trang 9

học dân tộc mà còn là ảnh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật của nền

văn học đã sản sinh ra nó

Nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong văn học đã được các nhà nghiên cứu bàn luận ở nhiều phạm vi, mức độ khác nhau Nhưng nhìn chung các bài viết nghiêng nhiều về nghiên cứu lý luận Còn nghiên cứu về thực tiễn sáng tác thì

chủ yếu gắn với văn học hiện đại Việt Nam như Nghệ thuật kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam

của Bùi Thanh Truyền, Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 c ủa Hoàng Thị Văn, Vai trò của yếu tố kì ảo trong truyện Việt Nam sau 1975 c ủa Nguyễn Văn Kha, Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuy ết Việt Nam của Đặng Anh Đào… Thực tế cho thấy chưa có nhiều bài

viết về yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại, nếu có thì chỉ ở vài tác phẩm riêng lẻ hoặc chỉ ở dạng phác họa, điểm qua Chúng tôi tìm thấy có những bài

viết như: Cái kì trong tiểu thuyết truyền kì của Đinh Phan Cẩm Vân, Những biến đổi của yếu tố kì và thực trong truyện ngắn truyền kì Việt Nam của Vũ Thanh, Y ếu tố kì ảo trong Thánh Tông di thảo của Lê Nhật Ký, Thể loại truy ện kì ảo Việt Nam thời trung đại của Vũ Thanh, Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truy ền kì mạn lục của Nguyễn Dữ của Nguyễn Phạm Hùng,

Vũ Trinh và Lan Trì kiến văn lục trong dòng truyện truyền kì Việt Nam của

Trần Thị Băng Thanh… Các bài viết trên đã đưa ra những nhận định, phân tích, lý giải yếu tố kì ở những góc nhìn khác nhau

Vì những nguyên nhân khách quan và năng lực chủ quan, chúng tôi rất

lấy làm tiếc khi chưa thể tiếp cận và thống kê thật đầy đủ các bài viết, công trình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong văn học đã được công bố Trong phạm

vi của một luận văn chúng tôi rất trân trọng những ý kiến, quan điểm, đánh giá, nhận xét của các nhà khoa học đã đề xuất Những ý kiến quý báu đó sẽ giúp chúng tôi có những định hướng đúng đắn, vững chắc về mặt phương

Trang 10

pháp luận và phương pháp nghiên cứu, cũng như về mặt tư liệu tham khảo để

có thể hoàn thành mục tiêu đề ra của luận văn

3 M ục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là khảo sát, phân tích lý giải những biểu hiện

của yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại Việt Nam (thế kỉ XV đến hết thế kỉ XIX) và tìm ra những giá trị thẩm mĩ đặc sắc mà những yếu tố kì ảo đó mang

lại

4 Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Trên bước đường mười thế kỉ hình thành và phát triển, văn xuôi trung đại đã để lại rất nhiều những tác phẩm đậm chất kì ảo, hoang đường Yếu tố

kì ảo trong văn xuôi trung đại gắn liền với thể loại truyện truyền kì Do vậy, ở

đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát và tìm hiểu yếu tố kì ảo trong một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu như: Nam ông mộng lục, Thánh Tông di thảo (thế

kỉ XV); Truyền kì mạn lục (thế kỉ XVI); Công dư tiệp kí, Sơn cư tạp thuật, Truyền kì tân phả (giữa thế kỉ XVIII); Lan Trì kiến văn lục (cuối thế kỉ XVIII), Tang thương ngẫu lục, Hát đông thư dị, Việt Nam kì phùng sự lục (thế kỉ XIX)… Từ đó, luận văn đi vào miêu tả, lý giải sức hấp dẫn của các

yếu tố kì ảo trong những tác phẩm văn học này

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, luận văn chúng tôi không loại trừ phương pháp luận nghiên cứu văn học nào, song đối với đối tượng nghiên cứu

của mình, chúng tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học (vận dụng lí thuyết thi pháp về không gian và thời gian nghệ thuật và thi pháp nhân vật để làm sáng tỏ yếu tố

kì ảo trong văn xuôi trung đại)

Trang 11

- Phương pháp hệ thống, thống kê, khảo sát (nhằm nhận biết những

biểu hiện kì ảo trong một số tác phẩm văn xuôi trung đại làm cơ sở để hệ

thống hóa thành những luận điểm khoa học của vấn đề)

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh (làm rõ những đặc điểm và giá trị thẩm mĩ của các yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại)

- Phương pháp lịch sử - xã hội (lí giải các yếu tố kì ảo trong văn học

một thời đại)…

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được tổ

chức thành ba chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG

1.1.Các khái niệm

1.2 Cơ sở hình thành các yếu tố kì ảo trong văn học trung đại

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI

2.1 Cốt truyện kì ảo

2.2 Nhân vật kì ảo

2.3 Không gian, thời gian kì ảo

Chương 3: GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI

3.1 Cái kì ảo là yếu tố phản ánh hiện thực và phản ánh nhận thức, tư tưởng về

cuộc sống

3.2 Kì ảo có ý nghĩa như một thủ pháp nghệ thuật có sức hấp dẫn riêng

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Các khái ni ệm

1.1.1.Văn xuôi trung đại

1.1.1.1 Thời kì trung đại trong văn học Việt Nam

“Trung đại” là một thuật ngữ của khoa học lịch sử phương Tây để chỉ

một thời đại nằm giữa thời cổ đại và thời cận đại, có nghĩa là giai đoạn lịch sử

gắn liền với chế độ phong kiến Thời trung đại được xem là thời đại văn hóa

lớn trong lịch sử nhân loại Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hóa truyền thống có ảnh hưởng đến ngày nay Đối với Việt Nam, thời trung đại là

thời hình thành toàn bộ di sản văn hóa thành văn của dân tộc

Thời trung đại chuyển sang thời hiện đại thông qua thời kì quá độ là

thời cận đại Xét về mặt lịch sử, thời cận đại ở nước ta được đánh dấu bằng sự

kiện Pháp xâm lược (1858) Về mặt văn học, thời cận đại không thật rõ nét,

chỉ là giai đoạn giao thời chuyển sang thời hiện đại (30 năm đầu thế kỷ XX)

Thời hiện đại được tính từ cái mốc tiếp nhận và sáng tạo các hình thái văn hóa

mới Đầu thế kỉ XX là thời điểm đánh dấu sự tiếp xúc, giao lưu toàn diện về văn hóa, văn học của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới Đó là

nền văn học mới với đề tài, phương thức truyền bá, và những quan niệm văn

học, lí tưởng thẩm mĩ, phương pháp sáng tác, sự xuất hiện của báo chí, in ấn,

xuất bản… Sự thay đổi cơ bản này đã đem đến cho văn học Việt Nam một

diện mạo mới, bắt đầu vào quá trình hiện đại hóa Do vậy có thể xem văn học

Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX thuộc phạm trù trung đại và từ đầu XX

Trang 13

đến nay thuộc phạm trù hiện đại Thời kỳ văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX ở ta, trước đây có nhiều nhà văn học sử đã gọi nhiều tên khác nhau: Văn

học viết thời phong kiến; Văn học cổ; Văn học cổ điển; Văn học Hán Nôm;

Văn học trung đại; Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX

Văn học Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Đó là quá trình xây dựng văn học viết bằng cách dựa vào truyền thống và những thành tựu văn hóa, văn học dân gian, trên

cơ sở tiếp thu một cách chủ động ảnh hưởng của văn hóa, văn học nước ngoài Đó cũng là quá trình nền văn học phát triển gắn liền với vận mệnh đất nước và số phận con người, thể hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ, đồng thời mang

những đặc điểm loại hình thi pháp văn học trung đại trong sự vận động theo

hướng dân tộc hóa và dân chủ hóa

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ khi ra đời, văn học trung đại

Việt Nam đã gắn với vận mệnh đất nước và con người Chủ đề nổi bật của văn học thời kì này là chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng Chủ đề ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học, từ thơ ca của các nhà sư đời Lí, các vị tướng đời Trần đến các nhà thơ nhà văn lớn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, tư tưởng yêu nước

và nhân đạo có những biểu hiện khác nhau

Đã trở thành qui luật, nền văn học trung đại của dân tộc nào cũng được xây dựng trên cơ sở nền văn hóa, văn học dân gian của dân tộc đó Văn học dân gian Việt Nam là nền tảng hình thành nền văn học viết trên nhiều phương

diện Tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, văn học viết có cơ sở vững chắc

để phát triển Từ những tác phẩm văn xuôi thành văn đầu tiên: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái ra đời trên cơ sở sưu tầm ghi chép các truyền

thuyết dân gian đến những tác phẩm có qui mô lớn như Đại Việt sử kí toàn thư cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn học dân gian Cũng không ai có thể

Trang 14

phủ nhận ảnh hưởng đậm đà của văn học dân gian về văn liệu, thi liệu, bút

pháp… đối với những tác phẩm truyền kì như Thánh Tông di thảo, Truyền kì

m ạn lục, thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Khẳng định giá trị và tìm hiểu

đặc điểm của văn học viết trung đại cũng đồng thời là sự đánh giá cao vai trò,

vị trí của văn học dân gian – nguồn mạch nuôi dưỡng văn học viết

Trong thời kì trung đại, sự giao lưu ảnh hưởng của các nền văn học lâu đời (Trung Hoa, Ấn Độ…) với các nền văn học hình thành sau (Nhật Bản, Triều Tiên…) là một tất yếu khách quan Ở Việt Nam mặc dù đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nền văn hóa văn học dân tộc vẫn không bị đồng hóa Sự

tiếp thu ảnh hưởng văn học Trung Hoa không làm mất đi bản sắc dân tộc mà càng làm cho nền văn học thêm phong phú đậm đà bản sắc Đặc biệt trên phương diện thể loại, sự tiếp thu đã diễn ra một cách toàn diện Tuy nhiên con đường phát triển của văn học dân tộc vừa là tiếp thu vừa Việt hóa những yếu

tố Hán song song với việc sáng tạo những yếu tố hình thức mang tính dân tộc

Sự tiếp thu một cách chủ động tinh hoa văn học Trung Quốc trên tinh thần dân tộc vừa làm giàu có cho nền văn học, vừa thể hiện ý thức dân tộc mạnh

mẽ của cha ông ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa của dân tộc mình Cũng như văn học viết trung đại các nước trên thế giới, văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX chịu sự qui định của thi pháp văn học trung đại nói chung Nổi bật hơn cả là tính chất ước lệ của hình thức biểu hiện Tính ước lệ trung đại được biểu hiện ra ở tính chất tập cổ, tính qui phạm, tính công thức, nghi thức, tính trang trí, nệ truyền thống rất nặng Ngoài ra văn học trung đại cũng ưu tiên cho các chức năng hành chính, giáo huấn, nghi lễ… coi nhẹ biểu

hiện cá tính Tuy nhiên các đặc điểm thi pháp trên không làm hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học Bằng trí tuệ, tâm hồn, tài năng sáng tạo

của các tác giả, văn học trung đại đã để lại nhiều áng thơ văn làm say đắm

lòng người Trên đường sáng tạo, nền văn học luôn vận động theo hướng dân

Trang 15

tộc hóa, dân chủ hóa, thường xuyên tự đổi mới bằng cách bám sát cuộc sống

của dân tộc để phản ánh Văn học đã dần trở nên gần gũi với tâm thức người dân Đó cũng chính là nhu cầu tự thân để văn học trung đại ngày càng làm cho các qui phạm dần bị lỏng lẽo, phá vỡ, đồng thời tạo tiền đề cho quá trình

hiện đại hóa nền văn học đầu thế kỉ XX

Các đặc điểm cơ bản trên giúp ta nhận rõ đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam trong qui luật chung của các nền văn học trung đại thế giới Và qua những đặc trưng ấy mới có thể hiểu được văn học trung đại như là một bộ

phận hữu cơ của nền văn hóa trung đại Đi trọn mười thế kỉ, văn học trung đại

kết thúc vai trò lịch sử của mình trong tiến trình văn học dân tộc: phản ánh chân thực sinh động đời sống của con người Việt Nam trên các phương diện

vật chất và tinh thần để lại cho nền văn học nhiều kinh nghiệm quí giá

1.1.1.2 Thể loại văn xuôi trung đại

Theo thi pháp học, văn xuôi gồm hai thể văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình Thời trung đại chưa xuất hiện văn xuôi trữ tình Có hai loại hình tự sự trong văn học Việt Nam thời trung đại: tự sự bằng văn vần (truyện Nôm) và

tự sự bằng văn xuôi (văn xuôi chữ Hán) Theo Nguyễn Đăng Na, dựa vào quy

mô và tính chất từng tác phẩm, có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm: truyện ngắn, kí và tiểu thuyết chương hồi

Về tiểu thuyết chương hồi – một thể loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung Quốc thịnh hành vào đời Minh Thanh, loại này ở Việt Nam thời trung

đại không nhiều Ta có thể kể ra những tác phẩm như: Nam triều công nghiệp

di ễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Tây Dương Gia Tô bí lục (Phạm Ngộ Hiên)… Các tác phẩm hoàn toàn theo

mô hình chương hồi Trung Quốc, quy mô lớn Mỗi tác phẩm viết về một vấn

đề trọn vẹn và dài trên trăm trang Đó là đề tài về lịch sử - lịch sử đương đại nên tính thời sự chính trị của chúng rất cao

Trang 16

Về truyện và kí, thời trung đại, hai thể loại này thật khó tách bạch đâu

là truyện đâu là kí Ngoài một số đặc điểm về cốt truyện, nhân vật, thời gian không gian, đặc biệt là tính chất hư cấu – yếu tố giúp tách truyện ra khỏi các hình thức ghi chép khác như lục, kí, chí thì thái độ người cầm bút, sự thể hiện cái tôi cá nhân của tác giả là dấu hiệu làm nên sự phân biệt giữa kí với truyện Nhưng không chỉ có thế, ở nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại, khái niệm truyện và tiểu thuyết cũng gần như không có sự phân biệt Chính vì vậy việc tách biệt thể loại tác phẩm của văn học trung đại là điều khó khăn Đó là lí do lâu nay người ta chấp nhận những cách gọi khác nhau tên nhiều tác phẩm tự

sự: truyện văn xuôi chữ Hán; truyện ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết chữ Hán; truyện ngắn truyền kì; tiểu thuyết truyền kì…

Truyện Việt Nam thời trung đại có một tỉ lệ lớn truyện truyền kì Truyền kì được hiểu là truyền đi một sự lạ Truyền kì có tính chất là những truyện kì lạ được lưu truyền lại Truyện truyền kì có nguồn gốc trong văn học Trung Quốc Nó thúc đẩy sự ra đời của thể loại truyền kì trong văn học vùng Đông Á trong đó có Việt Nam Truyền kì trở thành một thể loại truyện mang tính chất “kì văn dị sự” – một bộ phận tạo nên diện mạo nền văn xuôi trung đại Việt Nam Trên bước đường mười thế kỉ hình thành và phát triển, văn xuôi trung đại đã để lại rất nhiều những tác phẩm đậm chất kì ảo, hoang đường Yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại gắn liền với thể loại truyện truyền kì Những cái kì lạ, phi thường, siêu nhiên trong truyện truyền kì đã tạo nên những “kì văn” với những “kì nhân”, “kì sự” Chúng tạo nên sức hấp dẫn

lạ lùng, góp phần làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm Chúng không chỉ

thể hiện trình độ tư duy nghệ thuật độc đáo mà còn là phương tiện, thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả cao trong phản ánh hiện thực và chuyển tải những vấn

đề nhân sinh Do vậy, ở đề tài này, luận văn tập trung khảo sát và tìm hiểu yếu

Trang 17

tố kì ảo trong một số tác phẩm tiêu biểu như: Nam Ông mộng lục, Thánh Tông di th ảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Lan Trì kiến văn lục…

1.1.1.3 Văn xuôi trung đại từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XIX

Trên các chặng đường thịnh suy, các giai đoạn phát triển khác nhau của

lịch sử - xã hội Việt Nam thời trung đại, nền văn học cũng vận động phát triển qua nhiều giai đoạn Tiến trình phát triển của văn xuôi trung đại có thể tạm chia qua ba chặng đường: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV, từ đầu thế kỉ XV

đến hết thế kỉ XVII, từ đầu thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX

Giai đoạn đầu văn xuôi tự sự chưa tách khỏi văn học chức năng và văn

học dân gian Dù vậy, những tác phẩm giai đoạn này vẫn giữ vị trí cực kì quan trọng bởi chúng làm nhiệm vụ đặt nền móng về nội dung cũng như phương thức tư duy nghệ thuật cho văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại nói riêng và cho văn xuôi cận hiện đại nói chung

Từ thế kỉ XV, văn xuôi tự sự đã thoát li khỏi mối ràng buộc của văn

học dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra loại hình truyện ngắn văn

học; loại truyện ngắn đó vừa mang đậm sắc thái dân tộc, vừa phản ánh sinh động hiện thực đương thời Thành tựu nổi bật ở thế kỉ XV – XVII phải kể đến hai tác phẩm Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông) và “thiên cổ kì bút” Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) Ngoài ra, ta còn có thể kể thêm Nam Ông

m ộng lục của Hồ Nguyên Trừng…Có thể nói, thế kỉ XV – XVII chủ yếu là

thế kỉ của truyện ngắn truyền kì Các tác giả đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật: văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh Với đặc điểm dùng hình thức kì ảo làm phương thức chuyển tải nội dung, truyện truyền kì có sức hấp dẫn mọi lứa tuổi, mọi thời đại Từ đầu thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của nền văn học trung đại và về cơ bản, các hình thức tự sự bằng văn xuôi như truyện ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi đều được hoàn thiện Thành

Trang 18

tựu phong phú nhất thuộc về thể truyện, kí với các tác giả tác phẩm như:

Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Lan Trì ki ến văn lục (Vũ Trinh), Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ)…

1.1.2 Yếu tố kì ảo

1.1.2.1 Y ếu tố kì ảo

Mấy chục năm gần đây, cái kì ảo trong văn học nghệ thuật đã trở thành đối tượng hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu và phê bình văn học Kì ảo vốn là

một khái niệm xuất phát từ thời cổ đại Cách hiểu về nó cũng thay đổi theo

thời gian Theo từ điển ngôn ngữ Pháp, “kì ảo” là tính từ, bắt nguồn từ tiếng

Hy Lạp“Phantastitos”, tiếng La tinh“Phantasticus” để chỉ những gì được tạo

nên bởi trí tưởng tượng chứ không tồn tại trong thực tế Các từ ngữ Hy Lạp và

La Tinh trên đều có liên quan với từ “Phantasia” (tiếng Pháp: “Fantasie”,

tiếng Anh: “Fantasy”) có nghĩa là trí tưởng tượng phóng túng Trong Hán

ngữ đại tự điển, “kì” là “khác thường”, còn “ảo” là “không thực” Nó thiên về

tính chất li kì, hiếm thấy Trong tiếng Việt,“kì ảo” là từ Hán Việt, “kì” là “lạ lùng”, “ ảo”là không có thật Cái kì ảo là cái lạ lùng, không có thật, không thể

bắt gặp trong thực tế Theo định nghĩa của “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê, nxb Đà Nẵng, 1998) thì “ Kì ảo là kì lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng tượng” Và tất nhiên, một tác phẩm văn chương kì ảo phải có những

yếu tố siêu nhiên, kì lạ, hư ảo, huyễn hoặc trong nhân vật, cốt truyện, chủ đề

tạo nên những phản ứng nhận thức của người tiếp nhận một cách mạnh mẽ

Trên thế giới, người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ cái kì ảo là một học

giả người Anh tên là Joseph Addison (1672-1719) Theo ông, những sáng tác

ảo “tạo ra một khoái cảm về nỗi sợ hãi trong tâm trí độc giả và làm thoả mãn trí tưởng tượng của độc giả bởi những cái lạ lùng và tính chất khác thường của những con người được miêu tả trong đó Chúng nuôi dưỡng trong trí nh ớ của chúng ta những câu chuyện ma mà chúng ta nghe từ thuở ấu thơ

Trang 19

và thích thú với những nỗi khiếp sợ bí mật, những nỗi sợ hãi mà trí óc con người phải lệ thuộc vào nó một cách tự nhiên”[37] Sau đó có rất nhiều ý kiến

khác nhau về khái niệm kì ảo như R Cailois, Todorov… Tên gọi yếu tố kì ảo

đã gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu văn học, mỗi học giả đưa ra mỗi cách hiểu khác nhau Vì thế, việc tìm ra một khái niệm chính danh là hoàn toàn không đơn giản Để tiện cho công việc nghiên cứu, chúng tôi điểm qua

một số ý kiến về yếu tố kì ảo trong các bài viết, công trình nghiên cứu văn

học, từ đó có thể làm sáng tỏ một quan niệm mang tính khái quát nhất

Theo các nhà nghiên cứu phương tây, "cái kì ảo là một phạm trù tư duy nghệ thuật, nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường, độc đáo… Nó có mặt trong văn học dân gian, văn học viết qua các thời đại Nó tồn tại trên trục thực - ảo và tồn tại độc lập, không hoà tan vào các dạng thức khác nhau của trí tưởng tượng… Yếu tố kì ảo trong văn học tạo nên sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ, tạo ra sự do dự, phân vân trong lòng độc giả Nó là quãng lặng, là sự

ng ắt mạch, là sự xâm lấn của cái siêu nhiên trong cuộc sống đời thường, là

s ự xâm lấn của cái phi lôgic trong một thế giới lôgic”[4;16]

Todorov cho rằng: “Trong một thế giới chính là thế giới của chúng ta này, th ế giới như chúng ta vẫn biết là chẳng có quỷ dữ, thiên thần hay ma cà

r ồng… xảy ra một sự kiện không thể giải thích được bằng các quy luật của

th ế giới thân thuộc Người chứng kiến sự kiện này phải lựa chọn một trong hai gi ải pháp có thể xảy ra: hoặc anh ta là nạn nhân của một ảo giác trong

nh ận thức, một sản phẩm của trí tưởng tượng và những quy luật của thế giới

do vậy vẫn tiếp tục tồn tại, hoặc sự kiện này đã thực sự xảy ra, nó là một bộ

ph ận trọn vẹn của hiện thực – nhưng thế thì hiện thực này bị kiểm soát bởi

nh ững quy luật mà chúng ta không biết…Cái kì ảo diễn ra trong một khoảnh

kh ắc của sự không xác định được này (…) Cái kì ảo là do sự do dự được cảm

Trang 20

nhận bởi một người đang đối mặt với một sự kiện có vẻ siêu nhiên, mà anh ta

l ại chỉ biết các quy luật tự nhiên” [56] Roger Cailois gọi yếu tố kì ảo trong văn học là: “Mọi cái kì ảo đều là một sự vi phạm trật tự quen thuộc, một sự đảo lộn của cái không thể tiếp nhận được trong lòng những quy luật bất biến

c ủa đời thường” [4] Còn Vax thì nhận định: “ Truyện kì ảo… thích giới thiệu những con người giống như chúng ta, sống trong thế giới thực tại mà ta đang

s ống, họ đột nhiên bị đối diện với cái không thể giải thích được”[4]

Trong khi đó, ở Việt Nam, yếu tố kì ảo cũng được nhiều nhà nghiên

cứu bàn đến Phùng Hữu Hải định nghĩa: “Cái kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng… được biểu hiện bằng những năng lực, yếu tố có tính siêu nhiên,

n ằm ngoài tư duy lí tính của con người… Yếu tố kì ảo không phải là cái gì hư

vô bên ngoài con người mà nó được bắt nguồn từ chính thế giới tưởng tượng, tinh th ần, thế giới nội tâm bí ẩn của con người”[23] Ngô Tự Lập đưa ra nhận định: “Kì ảo, đó chính là mê lộ nghệ thuật, và cũng như trong những lĩnh vực khác, nó xuất hiện ở mọi nơi, khi trật tự đã trở nên bó buộc, vừa đáng ghét

v ừa đáng sợ và tính hợp lý của trật tự ấy bị đặt thành câu hỏi Tuy nhiên,

nh ững thiết chế văn minh càng chặt chẽ, càng ráo riết thì sự xuất hiện của nó càng k ịch tính, như những gì chúng ta chứng kiến ở phương Tây”[33; 29]

Tác giả Lê Huy Bắc thì cho rằng: “Thế giới của văn học huyễn ảo là thế giới

c ủa trí tưởng tượng, nơi sự khác lạ hoang đường, thần diệu… luôn ngự trị

Có lúc nó giúp người đọc bình tâm, tự tại; có lúc nó khiến người đọc hoang mang khi ếp đảm và có lúc khiến họ hoài nghi bối rối…[3]”

Tác giả Lê Nguyên Long nhận xét: “Cái kì ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính từ điểm nhìn của chúng ta với tầm nhận thức hiện tại Chính cái không th ể cắt nghĩa bằng lý tính ấy đã tạo nên một “sự đứt gãy trong chu ỗi liên kết vũ trụ”, gây ra tâm trạng hoang mang cho những người nào đối diện với nó, bởi theo Vax, khi con người không còn xem mê tín của

Trang 21

mình là điều nghiêm túc nữa thì họ sử dụng chúng để sáng tạo nên nghệ thu ật” Và ông cũng nói: “trong việc đi tìm một định nghĩa cho cái kì ảo, không nên đồng nhất cái kì ảo với cái huyền diệu, và tất cả các dạng thức tưởng tượng huyễn hoặc đối lập với hiện thực, theo đó văn học kì ảo đã ra đời

t ừ xa xưa, và các hình thức cụ thể của nó thì bao trùm một lĩnh vực rộng lớn

từ kiểu truyện cổ tích thần kì đến văn học viễn tưởng trong thời hiện đại Cái

kì ảo phải diễn ra trong một môi trường có tính hiện thực ở đó, sự tưởng tượng được phép phát triển ồ ạt và đi cùng với điều đó thì tính chất mơ hồ, lưỡng trị là đặc trưng của thể loại Cái kì ảo chỉ tồn tại khi đối diện với nó, người ta luôn ý thức về một sự độc lập giữa những cái siêu nhiên, hư huyễn

v ới thế giới thực tại.”[36]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng yếu tố kì ảo là sản

phẩm của trí tưởng tượng khó xảy ra trong thực tế Nó thường nằm ngoài tư duy lí tính của con người nhưng lại có mối quan hệ với bản chất của cái có

thật trong đời sống Yếu tố kì ảo góp phần cùng với các yếu tố nghệ thuật khác để xây dựng cốt truyện, nhân vật hướng đến việc bộc lộ chủ đề tư tưởng tác phẩm Chính các sắc thái thẩm mĩ của yếu tố kì ảo không hề làm giảm giá

trị hiện thực của tác phẩm mà nó còn cung cấp cho chúng ta cách nhận diện

về cuộc sống, làm gia tăng điểm nhìn nghệ thuật và các chiều tiếp cận hiện

thực

Như vậy, những tài liệu nghiên cứu về văn học kì ảo đã dần dần làm sáng rõ quan niệm: yếu tố kì ảo trong văn học thuộc phạm trù tư duy nghệ thuật, là sản phẩm trí tưởng tượng của người nghệ sĩ và được tiếp nhận qua trí tưởng tượng Nó là phương tiện nghệ thuật để nhà văn bộc lộ quan niệm về đời sống, về con người, là một phương thức nghệ thuật để gây nên cảm giác mãnh liệt, sức hấp dẫn của tác phẩm Những biểu hiện chủ yếu của yếu tố kì

ảo trong văn học là: không gian, thời gian chứa đựng các yếu tố siêu nhiên;

Trang 22

nhân vật kì dị, biến hóa, giấc mơ Quan niệm này là cơ sở để chúng tôi tìm

hiểu yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại Việt Nam

1.1.2.2 Văn học kì ảo

Văn học kì ảo là khái niệm đặc trưng của một vấn đề văn học mà ở đây

là cái kì ảo Văn học kì ảo chứa đựng trong nó những yếu tố ma quái, những điều lạ lùng hay những sự kiện, con người không có thực Có thể kể ra những gương mặt văn học kì ảo nổi tiếng như: Balzac, Hoffman, Akinari, Lỗ Tấn…

Ở Việt Nam, yếu tố kì ảo thật ra không hề xa lạ, trái lại nó gắn liền với văn học dân tộc ngay từ lúc mới chào đời Điều này được phản ánh rõ trong các sáng tác văn học dân gian và trong các tác phẩm cổ xưa, những tác phẩm hoang đường kì lạ chiếm lĩnh đời sống của mọi thành viên, tầng lớp xã hội Bằng cách khai thác tối đa thế mạnh từ đặc trưng của yếu tố kì ảo, những sáng tác ngôn từ của các nhà văn trung đại xứng đáng được gọi là những “kì văn” Với đặc trưng nhận thức và phản ánh cuộc sống bằng những yếu tố thần kì, linh dị, kì ảo, các sáng tác này dễ dàng giúp tầng lớp nho sĩ vốn bị kìm tỏa trong tam cương ngũ thường tìm được con đường để giải thoát những ẩn ức dồn nén, đồng thời qua đó bộc lộ suy tư chiêm nghiệm về cuộc đời Và như một tất yếu, người đọc đón nhận và xem những chuyện kì lạ hoang đường đó

là có thật – điều này xuất phát từ niềm tin mang tính chất tâm linh vào những lực lượng thần bí, siêu nhiên trong vũ trụ Đây chính là nhân tố quan trọng khiến văn xuôi có yếu tố kì ảo đương đại, dù chịu ảnh hưởng và tác động của văn học phương Tây vẫn không ngừng bám chặt để hút dưỡng chất từ truyền thống Càng về sau, với sự đa dạng của đề tài, nội dung, các sáng tác kì ảo phần nào lột tả được chân thực cuộc sống với đủ mọi gam màu sáng tối Như vậy, văn học kì ảo được xem như là bộ phận văn học nhận thức và phản ánh

cuộc sống từ đặc trưng và thế mạnh của những yếu tố khác lạ, phi thường, đôi khi vượt ra khỏi khả năng nhận thức thông thường của lí trí

Trang 23

Khác với các thể loại văn học khác từ lâu đã được các nhà lí luận văn học nghiên cứu, văn học kì ảo là một thể loại tương đối mới Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi chưa hoàn toàn thống nhất nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu phương Tây như Vax, R Cailois, Todorov… đều cho rằng văn học kì ảo là một thể loại văn học độc lập, ra đời khoảng từ thế kỉ XIX hoặc sớm hơn một chút Tuy nhiên, có một số nhà nghiên cứu còn đưa ra một

cái mốc chính xác là năm 1764 với tác phẩm "Lâu đài Otrante” của Horace

Walpole Nói như P Castex trong cuốn "Truyện kì ảo Pháp từ Nodier đến Maupassant” , bản chất thể loại này là "sự đột nhập dữ dội của cái huyền bí vào khuôn khổ đời thực” Và để minh hoạ cho quan điểm này của mình ông

đã so sánh một câu chuyện cổ tích với một tác phẩm văn học kì ảo hiện đại để thấy được rằng sự khác nhau căn bản ở đây chính là trong câu chuyện cổ phép màu là tự thân nó, mọi khả năng đều có thể xảy ra và chẳng gây nên bất kì một sự ngờ vực nào Còn trong một tác phẩm văn học kì ảo hiện đại thì sự linh ứng buộc người ta phải ngờ vực, phải đặt câu hỏi: liệu đó có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên

Quan điểm trên của P Castex đã tìm được sự đồng tình của các nhà

nghiên cứu khác ở Pháp, Vax khẳng định: "Truyện kì ảo trong khi vẫn trú ngụ trong thế giới của chúng ta, muốn giới thiệu với chúng ta những người cũng giống như chúng ta, nhưng bất ngờ phải chứng kiến những điều mà chúng ta không thể giải thích nổi”[33;17] Như vậy, có thể thấy "sự kì ảo" về bản chất

là sự hiện diện của cái bất khả thi trong khuôn khổ những quy luật đã được chấp nhận Tác phẩm kì ảo thường đưa ra những bí ẩn không thể giải thích nổi, làm xáo trộn trật tự tự nhiên và thách thức những đầu óc duy lí thông thường Đó là một thế giới, nơi cái thực và cái ảo, cái tự nhiên và cái siêu

nhiên xâm nhập lẫn nhau Trong một sáng tác kì ảo chân chính, yếu tố "thực"

sẽ làm cho tác phẩm có ý nghĩa xã hội thực tiễn và nhân văn, còn yếu tố "ảo"

Trang 24

sẽ tạo ra một hiệu ứng tâm lý thẩm mĩ mạnh mẽ và trực tiếp Vai trò của yếu

tố này trong tác phẩm kì ảo là ở chỗ nó làm đầu óc độc giả đôi khi phải làm việc hết công suất, bởi vì đây là loại truyện thường có kết cấu mở, có tính đa nghĩa để độc giả có nhiều khả năng chọn lựa cho mình một lời giải

Lần theo hành trình của văn học kì ảo thế giới, ta thấy đó thật sự là một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và trở nên gần gũi, quen thuộc với con người Trước tiên là dòng truyện kì ảo cổ đại, thường gắn với thần thoại,

cổ tích, truyền thuyết… Nó gắn với niềm tin chất phác, ngây thơ và tuyệt đối

của con người vào các thế lực siêu nhiên, thể hiện nhu cầu, khát vọng nhận

thức, cải tạo thế giới cũng như số phận của mình ở mức độ sơ khai, đơn giản

nhờ vào sự phù trợ của những bà tiên ông bụt Đồng thời đó cũng là lời giải thích cho những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà họ không thể lý giải nếu không tìm đến yếu tố kì ảo Ở Việt Nam, khởi nguồn là những sáng tác như:

Th ần trụ trời - giải thích sự hình thành mặt đất, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh - lí giải

lũ lụt hàng năm và cách phòng ngừa những cơn lũ đó Hay những truyền thuyết về người thực, việc thực song lại được bao phủ bởi ánh sáng lung linh,

hư ảo như Thánh Gióng, An Dương Vương… Còn dòng truyện kì ảo trung -

cận đại, dù vẫn mang bóng dáng của văn học dân gian nhưng đây là những sáng tác đậm dấu ấn cá nhân tác giả, gắn với sự giác ngộ, sự ý thức của con người với thực tế cuộc sống Nó không còn tính chất nguyên sơ, thuần khiết như buổi ban đầu mà như một thế giới riêng, một thế giới với những lâu đài,

hầm mộ, thành quách… một thế giới con người không thể đặt chân đến được Các sáng tác văn học nước ngoài càng tô đậm thêm cho khuynh hướng sáng tác kì ảo giai đoạn này, chẳng hạn như: Miếng da lừa của Banzăc, Rượu ngon

và qu ỷ của Hoffmann, Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu… Trong xã hội trung

đại Việt Nam, trình độ tư duy của con người đã phát triển, thoát khỏi thế giới quan thô sơ, ấu trĩ Ở thời kì này, con người phải chịu nhiều áp bức, bất công

Trang 25

do sự hà khắc của chế độ phong kiến Khi thất vọng trước thực tại đầy đen tối, người ta mượn yếu tố kì ảo để thể hiện ước mơ về hạnh phúc, công lí (ví dụ truyện cổ tích Tấm Cám, Thạch Sanh ) Bởi theo tư duy của người xưa, chỉ

các lực lượng siêu phàm mới đủ sức thay đổi trật tự xã hội, đem lại chiến

thắng cho cái đẹp Trong văn học viết trung đại nước ta, yếu tố kì ảo được

biểu hiện rõ rệt nhất ở thể loại truyền kì Đó là những câu truyện cổ kim mang nhiều yếu tố hoang đường, được các bậc trí giả sử dụng với dụng ý phản ánh

hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm sống trước cuộc đời Ví dụ:

Truy ền kì mạn lục, Truyền kì tân phả Cũng qua thể văn này, họ có thể gửi

gắm vào đó những bài học để răn dạy, giáo huấn con người Màu sắc hoang đường kì ảo làm mềm đi, mờ đi tính giáo huấn lộ liễu Văn học kì ảo hiện đại

ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu XIX ở phương Tây với những đại

diện ưu tú như Hoffmann, Edgar Poe… nó đi sâu khai thác nội tâm, khám phá

những khoảng sáng tối ngay trong tâm hồn mỗi con người Khác với tư duy

của các nhà văn cổ -trung đại, người ta không còn tin một cách ngây thơ vào

thế giới huyền thoại, cổ tích nữa Giờ đây, nó đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để nhà văn nắm bắt mọi biểu hiện của cuộc sống

Yếu tố kì ảo xuất hiện từ truyền thống đến hiện đại ở cả Đông - Tây và đều mang những đặc trưng riêng Càng về sau các sáng tác đậm chất kì ảo

xuất hiện trong văn học ngày càng đa dạng, phong phú Cùng với đó là sự đổi

mới về tư duy nghệ thuật trong sáng tạo văn chương, khiến văn học kì ảo trở thành một bộ phận không thể thiếu trong dòng chảy của văn học nhân loại Dù

trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, nhưng đặc trưng chung nhất của văn

học kì ảo là tính ước lệ, ẩn dụ, tạo ra những biểu tượng nghệ thuật, những hình tượng đa nghĩa Độc giả khi đứng trước một sáng tác có yếu tố kì ảo vẫn không bị thoát li hay tuyệt vọng trước hiện thực, mà trái lại, sau khi kết thúc tác phẩm, con người càng thêm tin yêu vào cuộc sống

Trang 26

Trong những năm gần đây, các nhà xuất bản liên tục in nhiều tập truyện được lựa chọn trên một tiêu chí chung là có sử dụng yếu tố kì ảo trong sáng

tác chẳng hạn như: "Truyện kì ảo thế giới" (NXB Văn Hoá Hà Nội 1999);

"Truyện ngắn kinh dị" (NXB Văn Hoá Hà Nội 1997); "Truyện dị thường" (NXB Văn Hoá Thông Tin, năm 2002); "Truyện ngắn kì lạ” (NXB Lao động,

2003) … Điều này chứng tỏ yếu tố kì ảo càng ngày càng đứng vững trên văn đàn

Như vậy, cho đến nay khái niệm "kì ảo" và "văn học kì ảo" vẫn đang

còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp Nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng văn học kì ảo là một loại hình văn học độc lập với những đặc trưng riêng biệt Đó

là một loại hình lớn, bao hàm trong nó nhiều loại tiểu hình, có sức hấp dẫn đối với công chúng bạn đọc ở cả phương Đông và Phương Tây

1.2 Cơ sở hình thành các yếu tố kì ảo trong văn học trung đại

1.2.1 Văn học trung đại mang đậm dấu ấn văn học dân gian

Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác

đều phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian Kho

tàng truyện kể dân gian người Việt bao gồm các truyện kể miệng như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích… đã xuất hiện từ rất xa xưa, trước khi có chữ

viết Trong đó nhiều truyện kì vĩ nói về cội nguồn dân tộc, giống nòi, có phần

chắc là đã xuất hiện từ thời Văn Lang – Âu Lạc, và vượt qua mọi thử thách

của thời gian với một sức sống trường tồn bất diệt Chính vì vậy mà khi từ

thời khởi phát, nền văn học viết dân tộc, trong đó có văn xuôi tự sự, đã không

thể không lấy các truyện kể dân gian làm nền tảng Và cứ thế suốt mười thế

kỉ, kho tàng truyện kể dân gian vẫn cứ luôn luôn như là một tác nhân mạnh

mẽ, chẳng những đã góp phần vào sự hình thành của các thể loại văn học tự

sự mà còn luôn giữ vai trò cơ sở tư tưởng – thẩm mĩ trong các thể loại đó

Mối quan hệ giữa văn học viết trung đại Việt Nam và văn học dân gian biểu

Trang 27

hiện ở chỗ: văn học viết tiếp thu văn học dân gian từ đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mĩ ở khía cạnh ngôn ngữ và thể loại Trong quá trình phát triển hai thể loại luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau

để cùng phát triển Văn học dân gian là nền tảng của sự hình thành các thể

loại tự sự, các tập văn xuôi chữ Hán, các truyện Nôm và các tập thơ ca của các tác giả… chẳng hạn Nguyễn Dữ trong Truyền kì mạn lục đã đưa môtip

truyện dân gian như “lấy vợ kì dị”, “gặp gỡ người chết”, “xuống thủy cung”,

“đối thoại người sống và người chết… để tạo ra câu chuyện mới Qua nghệ thuật truyền kì, Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm đã làm cho văn xuôi chữ Hán mang màu sắc Việt Nam đậm nét khi ông khéo khai thác những đề tài, cốt truyện và cả tinh thần tư tưởng chung của truyện dân gian Truyện Tùng bách thuy ết thoại (Truyền kì tân phả) có thể xem là một dị bản của truyện Lưu

Bình – Dương Lễ; ở đây tuy nhân vật mang những tên khác, nhưng cốt lõi của truyện cũng vẫn là môtip cho vợ đi nuôi bạn ăn học để giúp bạn thành tài Truyện Long Đình đối tụng lục vốn được xây dựng từ những huyền thoại có

môtip cốt lõi là rắn hoặc thuồng luồng quan hệ với người phụ nữ Hoặc truyện

D ạ xoa bộ soái lục chính là được sáng tạo trên cơ sở truyền thuyết Văn Dĩ

Thành, người thời Trần Trùng Quang, vốn là anh hùng địa phương đã có công giúp dân trừ dịch bệnh và chống giặc sau được thờ làm thành hoàng làng Truyện Nam Xương nữ tử truyện là tác phẩm mà Nguyễn Dữ dựa vào truyện

cổ tích dân gian “Vợ chàng Trương” để sáng tác Ông đã thêm phần “xuống

thủy cung” cho truyện ngắn của mình thêm đậm sắc điệu truyền kì “Xuống

thủy cung” vốn là môtip rất phổ biến trong kho tàng truyện dân gian và truyền

kì của các dân tộc Đông Á và Đông Nam Á (ở Việt Nam truyện cổ tích Thạch Sanh có đoạn nhân vật Thạch Sanh xuống cung vua Thủy Tề, được tặng cây

đàn thần rất đặc trưng cho môtip này) Hay trong Thánh Tông di thảo, ta có

thể nhận rõ các môtip truyện dân gian người lấy ma quỉ, tinh vật, tiên… qua

Trang 28

các truyện cổ tích người mang lốt vật; môtip phép thần phù trợ qua hàng loạt truyện dân gian có xuất hiện lực lượng thần kì, hiện tượng tương thông với

thế giới khác (địa phủ, âm cung, tiên giới…) Mặc dù nhân vật trong Thánh Tông di th ảo không có sẵn trong dân gian hay lịch sử nhưng với xu hướng

trần tục hóa thần thánh, tác giả đã tạo nên những cuộc tương ngộ tiền duyên

giữa con người và thần thánh nhằm nhấn mạnh đối tượng phản ánh là trung

tâm con người Truyện Hoa quốc kì duyên của Thánh Tông và cả truyện Từ

Th ức hôn tiên lục của Nguyễn Dữ đều được hai nhà văn sử dụng môtip

“người trần lạc vào thế giới thần tiên và kết duyên với tiên nữ” hết sức phổ

biến trong truyện cổ tích thần kì Trong tác phẩm của Thánh Tông đó là xứ sở

của loài bướm và kết duyên cùng công chúa Ở Nguyễn Dữ là thế giới hoang đảo đầy mây nước, nhà nho tài tử Từ Thức sánh duyên cùng tiên đảo Nhưng

nếu Hoa quốc kì duyên của Thánh Tông còn giữ lại nhiều tình tiết huyền ảo

của cốt truyện dân gian cũ với hương vị tình yêu đầy lãng mạn của các vị thần thì truyện của Nguyễn Dữ tràn đầy những vấn đề của cuộc sống với những mâu thuẫn xã hội gay gắt Nhân vật của Thánh Tông dẫu sao vẫn còn xa lạ

với cuộc đời thường Chu Sinh khi lạc vào thế giới hoa bướm đã lãng quên cố hương Còn Từ Thức khi kết hôn với tiên vẫn khôn nguôi nỗi nhớ dương gian,

nhớ quê hương, người thân với những buồn vui trần tục Dưới ngòi bút của nhà văn, cái thần kì cái cổ tích đã được nhào nặn để trở thành chất liệu của

hiện thực, gắn liền với đời thường Tiếp tục thể truyền kì, Đoàn Thị Điểm cũng đã có sự tương đồng trong quan niệm về cái đẹp của các tác giả truyện

cổ khi tiếp tục khẳng định tài năng và đức hạnh của người phụ nữ, ca ngợi

những người đẹp biết dùng nhan sắc của mình vào việc cứu nước giúp dân (truyện Hai nàng công chúa giúp dân, truyện Nguyễn Thị Bích Châu…) Từ

thế kỉ XVIII trở đi là sự bùng nổ các loại thần, ma trong văn xuôi Cuộc sống đầy biến động, khi đạo Phật, đạo Giáo được phục hồi, các nhà Nho vốn không

Trang 29

tin vào những sự quái dị theo truyền thống thì lại thấy cần chấp nhận nhiều

yếu tố thần quái khi ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, đặc biệt khi ghi chép lại các truyền thuyết và truyện cổ tích Vì vậy các tác phẩm giai đoạn này đều chứa đựng nhiều tư liệu văn học dân gian: Công dư tiệp kí, Lan Trì

ki ến văn lục, Tang thương ngẫu lục… Nhiều truyện của Vũ Trinh mang dáng

dấp và lưu giữ một số môtip của truyện kể dân gian Ví dụ như truyện Thanh Trì tình trái, g ần như một dị bản của Truyện Trương Chi Truyện phu nhân Lan Qu ận công có thể là chuyện thật về trạng nguyên Nguyễn Thực nhưng lại

lưu giữ môtip cô em gái út (trong ba chị em) và việc kén chồng trong truyện

kể dân gian Cô em gái út bao giờ cũng hiếu thảo, tốt bụng chịu thương chịu khó, dù vất vả gian nan nhưng cuối cùng sẽ được hạnh phúc Truyện Tiên ăn mày lại lưu giữ môtip hai anh em mồ côi và việc phân chia tài sản của cha mẹ Người em bao giờ cũng chịu thiệt thòi, thường bị người anh ngược đãi, nhưng tính tình nhân hậu, hay giúp đỡ người nghèo khó nên cuối cùng được đền đáp

trở nên giàu sang, còn người anh thì bị quả báo, bị trừng phạt, theo như quan

niệm nhân quả của Đạo Phật Các truyện Báo ân tháp, Thần giữ của, Lôi thủ pha , Quan thượng thư họ Đỗ… đều lưu giữ trong nội dung và cách kể hạt

nhân của những lời truyền ngôn, đồn đại “đầu đường góc phố” mà tác giả

“nghe và thấy” Kho tàng truyện dân gian với nhiều tín ngưỡng mà vào lúc

thịnh thời của chế độ phong kiến, nhiều nhà nho coi là dị đoan, đến giai đoạn này được khai thác rộng rãi như giấc mộng, điềm báo, sự thụ thai thần kì, cầu cúng khấn vái, biến hóa linh dị…

Dấu ấn văn học dân gian trong văn xuôi trung đại là bằng chứng xác

thực khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của nó đối với văn học viết Từ những môtip, cốt truyện dân gian, các tác giả văn xuôi trung đại đã hư cấu thành

những câu chuyện hoàn chỉnh, vừa có yếu tố hiện thực vừa có yếu tố lãng

mạn, vừa có tính tư tưởng sâu sắc vừa có giá trị nghệ thuật cao

Trang 30

1.2.2 Văn học trung đại chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Nho - Phật - Đạo

Là một bộ phận của văn hóa trung đại, văn học trung đại không nằm ngoài qui luật chung chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng, tôn giáo Nho – Phật – Đạo trong quá trình phát triển Tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã cung cấp

cảm hứng, đề tài, chủ đề và gợi ý các thể loại văn học trung đại Các tôn giáo

và học thuyết Phật, Nho, Đạo đã ảnh hưởng và tạo nên những nét đặc thù trong quan niệm của người trung đại về bản chất vũ trụ, không gian và thời gian, thiên nhiên, con người Tư tưởng tôn giáo và kinh điển còn đem lại hệ

quả quan trọng như: phân biệt văn học linh thiêng và phàm tục; hạn chế sự

biểu hiện cá nhân và ý thức cá nhân; mặt khác đem đến việc đề cao nội dung đạo đức và tính chất giáo huấn, văn học có mối quan hệ trực tiếp với tư tưởng

Những quan điểm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn chương trung đại Vì vậy muốn lí giải

những vấn đề thuộc về bản chất của văn chương, cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương thời trung đại tất yếu phải dựa trên những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới con người thời trung đại Chẳng hạn, khi tìm hiểu các truyện trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ hay Thánh Tông di thảo của

Lê Thánh Tông, chúng ta phải thấy được các truyện được viết chịu ảnh hưởng

của quan điểm Nho giáo và Phật giáo, thuyết “nhân quả” của đạo Phật ảnh hưởng khá rõ trong các kết thúc câu chuyện qua các môtip “tiên được trần tục hóa”, “người tục được thần tiên hóa” Các truyện được viết theo quan điểm Nho gia nhưng tác giả lại bảo lưu những tư tưởng phi Nho khi nói đến những

việc quái dị thường thấy trong tư tưởng của Đạo, Phật: những phép thuật, bói toán, cầu cúng, tư tưởng luân hồi nghiệp báo hoặc nói về đề tài học hành, coi

trọng đạo học, nghĩa khí, lòng trung thành của nhà nho lại được lạ hóa qua các yếu tố thần quái, bùa phép Ở các tác phẩm thế kỉ XVIII-XIX sự ảnh

Trang 31

hưởng của Đạo giáo và Phật giáo càng rõ nét hơn qua các môtip về sự thụ thai

thần kì để nhấn mạnh nguồn gốc vũ trụ của các nhân vật (Công dư tiệp kí, Tang thương ngẫu lục) Môtip này vốn từ thuật phong thủy và môtip giấc

mộng của Đạo giáo Trong Lan Trì kiến văn lục lại là quá trình tu tâm của

Phật giáo để có những khả năng phi thường

Ở Việt Nam, Nho giáo có lịch sử phát triển lâu dài Theo Nho giáo, mọi

việc đều do ý trời Họa hay phúc, may hay rủi, vui hay buồn, giàu hay nghèo… tất cả đều do thiên mệnh tiền định Để tư tưởng nhân nghĩa, hiếu, lễ, trí, tín của Nho gia được trọn vẹn thì phải có sự trợ giúp của trời phật, thần tiên, phải có sự hỗ trợ của phép thuật nhiệm màu, con người phải có niềm tin vào duyên số, phải tin rằng chết đi vẫn chưa hết vẫn còn linh hồn tồn tại và có

thể tái sinh từ cõi chết trở về

Phật giáo được truyền bá đến Việt Nam từ đầu công nguyên Do thâm

nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộng

khắp và có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Tư tưởng của Phật giáo cho

rằng nếu ở kiếp này ta làm điều lành, điều tốt thì sẽ có nghiệp tốt, báo ứng điều lành điều tốt cho kiếp sau Ngược lại nếu ở kiếp này ta làm điều ác, điều

xấu thì sẽ có nghiệp xấu, báo ứng xấu cho kiếp tiếp theo Có thể nói trong tâm

hồn mỗi con người Việt Nam đều chứa đựng ít nhiều triết lí nhà Phật, về tiên,

bụt, về kiếp luân hồi, nhân quả, thờ cúng tổ tiên…

Bên cạnh Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo khi vào Việt Nam đã sớm tìm được chỗ đứng do tư tưởng của Đạo giáo tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu của người Việt bởi từ xa xưa họ đã rất sùng bái ma thuật, những quyền lực siêu nhiên, phù phép… Họ có những niềm tin tôn giáo

hết sức mãnh liệt: người chết có thể giao tiếp với người sống, linh hồn đã chết

cần phải được cầu cúng, lập đàn tràng để giải oan, có những phép thuật linh

Trang 32

nghiệm có thể cứu giúp con người… Các phép thuật, bói toán… của Đạo giáo

đã ảnh hưởng và được thể hiện khá phổ biến trong tư tưởng của nhân dân

So với văn học dân gian, ảnh hưởng của Nho – Phật – Đạo đối với văn

học viết sâu đậm hơn “Văn hoá Nho giáo không khuyến khích hư cấu, tưởng tượng, chủ trương không nói chuyện “quái, lực, loạn, thần”, “kính quỷ thần nhi viễn chi” thì chính học thuyết đề cao vai trò của Tâm, “vạn pháp duy tâm

t ạo” (toàn bộ thế giới là hình ảnh do tâm tạo ra) đã đề cao vai trò của trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn, giúp người viết vượt lên trên tình trạng sao chép đơn giản hiện thực để hư cấu, tưởng tượng Học thuyết về kiếp, về cuộc sống sau cái chết và vấn đề tái sinh của Phật đã mở ra cho văn học truy ền kì một nguồn mạch tư duy hết sức phong phú Và triết học Lão Trang, tri ết học biện chứng tự nhiên, lại đặc biệt nhấn mạnh sự biến hoá qua lại giữa hai m ặt đối lập, những hiện tượng pháp thuật phù phép để cứu cánh cho cuộc

s ống Theo đó, âm và dương, hoạ và phúc, thực và hư, nhược và cường, chân

và ảo, v.v là một loạt những cặp phạm trù có thể được nhìn dưới quan điểm

bi ến dịch [62]” Như vậy, sự ảnh hưởng của các tư tưởng Nho – Phật – Đạo

cũng là cơ sở quan trọng hình thành nên yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung đại

1.2.3 Văn học trung đại gắn liền với tín ngưỡng dân gian người Việt

Tín ngưỡng có thể hiểu một cách nôm na là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối

với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh

hoạt của con người Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân Tín ngưỡng dân gian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như: tôn sùng tự nhiên

Trang 33

(mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…), các loại cây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…); tôn sùng vật tổ (vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ, thành hoàng, tổ tiên, ông bà); tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn với dân với nước: Thánh Gióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Bà Trưng, Lý Ông Trọng… Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng Con người thờ cúng tổ tiên, cúng tế người chết, thờ nhiên thần, thiên thần… Bởi con người có quan niệm về thế

giới: mọi vật đều có linh hồn, thuyết luân hồi đầu thai chuyển kiếp của đạo

Phật, triết lý sinh tử của Nho giáo, quan niệm chết là về cõi tiên của Đạo giáo,

nhận thức của dân gian chết là một dạng sống mới ở môi trường khác và niềm tin âm phù dương trợ đã hình thành tục thờ cúng Và bởi mọi người quan

niệm rằng khói hương sau khi khấn vái, thờ cúng sẽ là mối liên thông giữa người sống và người chết, giữa con người với trời, phật, thần tiên, ma quỷ,

giữa cõi trần với cõi âm… Những nghi lễ và phong tục thờ cúng vì thế rất quen thuộc đối với người Việt khắp nơi trong cả nước Mỗi loại tín ngưỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con người với các đối tượng siêu nhiên kia Chẳng hạn, tại sao con người lại sùng bái tự nhiên? Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hằng ngày hằng giờ tự nhiên gắn bó mật thiết và chi phối sự thành bại, tốt xấu, hay dở trong hoạt động của con người Nó nảy sinh sự sợ hãi hay e ngại, tâm lí ngưỡng mộ hay sùng bái, cũng từ đó con người nhìn nhận tự nhiên như những đấng linh thiêng, thần thánh Con người đưa tự nhiên vào bàn thờ các gia đình hay trong miếu điện Tự nhiên thành

biểu tượng trong tín ngưỡng thờ cúng, trong văn hóa mỗi dân tộc, trong văn

học và nghệ thuật nhiều thời đại Hoặc tại sao lại có tín ngưỡng sùng bái con người? Con người xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” để bắt đầu chú ý

về mối quan hệ giữa thế giới hữu hình và vô hình, nhất là giữa sự sống và cái

Trang 34

chết Họ tin rằng mỗi con người đều có phần hồn và phần xác Trong nhận

thức dân gian, thể xác và linh hồn của con người vừa gắn bó vừa tách biệt Khi con người chết đi, xác hòa vào cát bụi nhưng phần hồn vẫn tồn tại ở một

thế giới khác và liên hệ với người sống bằng hiện tượng linh hồn Người ta tin

rằng người sống có thể liên thông với người đã khuất qua giấc mộng, chiêm bao… Người sống có thể cầu xin người chết che chở, phù trợ cho sự bình yên

của cuộc sống hàng ngày Không biết sự cầu xin đó có hiệu quả như thế nào nhưng trước hết con người thấy thanh thản về mặt tinh thần, điểm tựa tinh

thần quan trọng cho cuộc sống Người chết cần có sự cúng lễ của người sống

để có thể yên ổn ở thế giới bên kia, không thành ma đói lang thang, còn người

sống có thể an bình, thanh thản khi được che chở, phù trợ một cách bí ẩn của người chết Với mong ước bình dị và niềm tin có thật ở người Việt, thờ tổ tiên được coi là thứ tín ngưỡng ở mọi lớp người Việc ứng xử với quá khứ, với

những người đã khuất không phải chủ yếu vì họ, cho họ mà là vì những người đang sống, chính vì thế tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tồn tại vững chắc trong

mọi thời gian Lý do cho sự tồn tại đó còn là lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc Một đất nước luôn bị giặc ngoại xâm dòm ngó, vận mệnh đất nước và

số phận giống nòi phụ thuộc vào ý chí tự lực, tự cường của mỗi người dân đất

Việt Trong tâm thức người Việt, họ tôn sùng những người anh hùng đã góp

phần quan trọng giữ gìn đất nước Tín ngưỡng thờ thần vì vậy được mọi người chấp nhận một cách hết sức tự nhiên

Tín ngưỡng dân gian người Việt giản dị như chính con người họ Đối

với người Việt, tín ngưỡng đôi khi chỉ là sự tin tưởng vào lời thề son sắt trong tình yêu đôi lứa, lòng tin vào quy luật nhân quả trong cuộc đời, tin vào duyên

kiếp, số mệnh, bói toán Từ lòng tin đó họ tự răn dạy bản thân, con cháu, tự an

ủi trong những lúc khó khăn… Cũng từ đó, người xưa tin vào thế giới trời,

phật, thần, tiên Thế giới siêu nhiên với những phép lạ nhiệm màu, huyền bí

Trang 35

có thể giúp con người thực hiện công lý, trừng trị những kẻ bạc ác, đem đến

hạnh phúc cho con người, nhất là những con người nhỏ bé, số phận bất hạnh Như vậy, tín ngưỡng dân gian chính là cơ sở để các tác giả trung đại tạo nên

những tác phẩm chứa đựng những yếu tố kì ảo, hoang đường – phương tiện

để khám phá thế giới tâm linh huyền bí tồn tại ngay trong cuộc sống con người

Trang 36

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ KÌ ẢO

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI

2.1 Cốt truyện kì ảo

“Cái kì ảo tạo ra cách phản ánh riêng biệt” (Todorov) bởi năng lực sáng

tạo, tìm ra một hình thức nghệ thuật phù hợp, tương ứng với chất liệu là một trong những tiêu chí quan trọng trong sáng tác của nhà văn Sự hiện diện của

nó làm cho tác phẩm mang những nét đặc trưng về hình thức khiến người đọc

dễ nhận diện và có những ấn tượng nhất định

2.1.1 Cốt truyện bắt nguồn từ các môtip kì ảo

Một trong những phương tiện hữu hiệu làm cho tác phẩm trở nên mơ

hồ, đa nghĩa nhuốm màu sắc hoang đường là việc vận dụng các môtip thần thoại, các hình thức biến hoá hư ảo Dấu ấn thần thoại, truyền thuyết, cổ tích trong cách xây dựng thế giới hình tượng của tác phẩm, việc vận dụng các môtip kì ảo để khắc hoạ tính cách, số phận nhân vật cũng như xây dựng cốt truyện có tác dụng lớn trong việc gia tăng biên độ ý nghĩa và mở rộng phạm

vi liên tưởng ở người đọc

Môtip là “thành tố bền vững, vừa mang tính hình thức vừa mang tính

nội dung của văn bản văn học; Môtip có thể được phân xuất ra từ trong một

hoặc một số tác phẩm văn học của một nhà văn, hoặc trong văn cảnh một khuynh hướng văn học, một thời đại văn học nào đó” [1; 204] “Các môtip thường di trú theo thời gian và thay đổi hàm nghĩa bởi mỗi thời đại tiếp sau Nhiều môtip văn học gần giống như môtip thần thoại, luôn đi vào kinh nghiệm tinh thần của văn hóa nhân loại”[1; 206]

Trang 37

Môtip kì ảo là một thành tố bền vững, một bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật Vì vậy môtip kì ảo có thể được hiểu là một thành tố được hình thành từ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu tố kì lạ, siêu nhiên, khác lạ Nó trở thành một hệ thống mang tính ổn định trong sáng tác văn học

Đó là quan niệm của chúng tôi về môtíp kì ảo Những môtip được các nhà văn

đã sử dụng trong các tác phẩm như: môtip gặp Tiên, môtip hoá thân, môtip

quả báo, đầu thai chuyển kiếp, thần chú

Trước hết là môtip người gặp Tiên Đây là kiểu môtip thường thấy trong các truyện thần thoại hay cổ tích Khi nhân vật trong truyện gặp nạn,

cần được giúp đỡ (những nhân vật này phải có hoàn cảnh khó khăn, nghèo

khổ hoặc đang rơi vào bế tắc tuyệt vọng) lúc này những ông Bụt bà Tiên hiền lành có phép thuật sẽ xuất hiện Họ hiện ra để giúp nhân vật hoàn thành mơ ước mà kết thúc tác phẩm bao giờ cũng là cuộc sống hạnh phúc sẽ đến với người lương thiện Kế thừa môtip này của truyện xưa, các tác giả trung đại đã sáng tạo thêm nhiều tình tiết mới khác truyền thống, góp phần mang đến cho tác phẩm sự mới lạ và hấp dẫn đối với người đọc Trong Thánh Tông di thảo,

đó là sự phù trợ của thần tiên đối với nhân vật “ta”, giúp nhân vật “ta” giải quyết mâu thuẫn Chẳng hạn trong Mai Châu yêu nữ truyện, nhờ sự giúp đỡ

của Phù Đổng Thiên Vương nhân vật “ta” đã trừ được con yêu nữ ở Mai Châu khiến cho “nữ yêu kinh sợ, ẩn trong cỏ rậm ven sông đầm, không dám tác quai tác quái như trước nữa” Trong Mộng kí khi mà nhân vật “ta” tưởng

chừng như bế tắc trước những điều bí ẩn trong bài thơ kêu oan của hai oan

hồn ở hồ Trúc Bạch thì chính sự xuất hiện và chỉ dẫn của vị tiên thổi địch đã giúp nhân vật “ta” khám phá được những điều thần bí trong hai bài thơ ấy và

giải được án oan của “quả chuông vàng và cây đàn tỳ bà bên bờ hồ” Với

Lãng B ạc phùng tiên hình thức phù trợ của các vị thần tiên dành cho nhân vật

Trang 38

“ta” lại được thể hiện dưới dạng lời khuyên của vị khách tiên dành cho Lê Thánh Tông giúp nhà vua làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình: “…Vương tử

ph ải giữ tấm thân trong sáng, chí khí tinh nhanh, cắt đặt hợp lòng người, ngôn hành đáng gương mẫu làm cho đời được thịnh trị, lên chốn xuân đại.”

Như vậy môtip chung của hình thức thần tiên phù trợ này là: nhà vua gặp việc nan giải – cầu khấn thần tiên – thần tiên hiện về giúp đỡ

Ngoài ra, yếu tố kì ảo còn được thể hiện dưới dạng các thế lực siêu nhiên (thần tiên, ma quỷ) giúp đỡ con người đạt được ước nguyện, ban cho con người những khả năng vượt trội mà thông thường khó có thể có được, đem đến cho con người danh vọng, hạnh phúc Điều này được xây dựng bằng các môtip như: môtip phù trợ bằng cách tặng cho con người những bảo vật, phú cho họ những khả năng mà người thường không có được giúp con người

chống chọi, đối phó với những thử thách, khó khăn Nàng Ngọa Vân trong

Ngư gia chí dị trước khi chia tay về lại với Đảo ấp đã trao cho Thúc Ngư “một

tí nước bọt trắng, đem hòa với nước mặn mà uống thì xuống nước không chìm, không bao gi ờ bị nạn chết đuối” (Thánh Tông di thảo) Môtip thứ hai là

môtip phù trợ bằng cách giúp cho nhân vật đỗ đạt công danh công thành danh

toại, đem lại vinh hiển cho bản thân, họ hàng, dòng tộc và người giúp đỡ

thường có quan hệ thân thích máu mủ với nhân vật từ kiếp trước Trong Hiếu

đễ nhị thần truyện, nhân vật người anh sau khi chết đi thành Sơn Âm đã giúp

con mình bằng cách đưa hai phong bì thư cho Tử Khanh giấu kĩ, “đợi đến ba ngày trước khi vào trường thi, xem chữ ghi ở trên, bắt cháu học thuộc lòng,

và có th ể đỗ nhỏ” Đến kì thi, Tử Khanh nhất nhất làm theo lời anh dặn, “quả nhiên khoa ấy con của anh đỗ tú tài Gia tư từ đấy dần trở nên giàu có”

Như vậy nếu không có sự phù trợ, giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên thì con người khó lòng có thể thực hiện được những việc kì lạ và khó khăn ấy Qua đó, dường như các tác giả muốn gửi gắm ước mơ của con người muốn

Trang 39

làm được những điều phi thường, chế ngự được thiên nhiên, vũ trụ, định đoạt

hạnh phúc cho chính mình và ban tặng phần thưởng xứng đáng cho những con người hiền lành, nhân nghĩa

Loại môtip thứ hai là môtip hoá thân Kiểu môtip này đã trở nên quen thuộc trong văn học phương Tây hiện đại Chúng ta có thể bắt gặp chuyện con người bị biến thành con gián, con tê giác, con bọ, cái ghế trong các tác

phẩm của Kafka, Ionetxcô Tất cả những truyện kì quặc đó đều phản ánh tình trạng con người bị tha hoá, mất dần nhân tính, trở nên xa lạ với chính mình Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều tác phẩm sử dụng thành công môtip này, không chỉ nhằm làm biến dạng hình hài mà còn có sự thay đổi trong tâm

hồn, tính cách nhân vật Vì một nguyên nhân hay sau một sự kiện nào đó nhân

vật biến dạng theo một trong hai chiều hướng: tốt hoặc xấu Trong văn học dân gian, kiểu biến hoá này có ở nhiều truyện: chàng Sọ Dừa biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú, chàng Cóc chính là một hoàng tử đẹp trai Trong văn xuôi trung đại, môtip hóa thân này được thể hiện ở hai dạng thức: hóa

kiếp người thành vật, vật thành người và hóa kiếp người thành tiên, tiên thành người

Hóa kiếp người thành vật thể hiện ở hiện tượng người hóa rắn, hóa hổ Các truyện về sự hóa kiếp người – hổ - người như: Hóa hổ - Tang thương

ng ẫu lục, Hổ bộc – Hát đông thư dị… Hóa kiếp người thành rắn, người mang

lốt rắn: Thị Lộ hóa thành rắn bò xuống nước khi Nguyễn Trãi bị kết tội, hoàng tử khi bị lên đậu hóa ra con thuồng luồng bò đi (Tang thương ngẫu

l ục), hai con trai Nhược Chân hóa hai con rắn vàng khi sư làm phép trừ tà (Truy ền kì mạn lục); rắn hóa làm chàng trai đẹp cưỡng hiếp người phụ nữ (Lan Trì ki ến văn lục), bà già đội lốt giao long xin ngủ trọ nhà mẹ con người nghèo (Truy ện hồ Ba Bể - Công dư tiệp kí)… Môtip này được nhà văn vận

dụng một mặt tạo sự lạ hóa cho cốt truyện đồng thời qua đó thể hiện tín

Trang 40

ngưỡng về vật thiêng của nhân dân Hiện tượng hóa kiếp này xuất phát từ học thuyết về linh hồn trong lí thuyết vật linh nguyên thủy: những con vật nhờ có thuộc tính thay da nên thường đóng vai trò quan trong về phục sinh và bất tử Theo đó, một số con vật như rắn, hổ, thuồng luồng… rất được kính trọng Chúng được xem là do người biến ra nên rất linh thiêng Chúng ta cũng có thể nhìn nhận hiện tượng này từ quan niệm của Đạo giáo Con người chết đi rồi

sống lại theo nguyên hình hay chuyển sang dạng sống khác

Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, dân gian ta cho rằng vật sống

tồn tại lâu ngày sẽ thành yêu Trong các tác phẩm văn xuôi trung đại, đó là sự

biến hiện của các tinh vật: tinh dê (con dê cô gái gặp một ngày hóa thành chàng trai chung sống hàng đêm – Dương phu truyện, Thánh Tông di thảo),

tinh chuột (con chuột đêm đêm hóa tên gian phu ân ái với vợ anh học trò –

Th ử tinh truyện, Thánh Tông di thảo ), tinh khỉ (lân đá và tinh khỉ hóa thành

Kiều Nương và Dương Giới để lấy nhau – Việt Nam kì phùng sự lục) hay con

cáo và con khỉ hóa thành hai người đàn ông vào yết kiến vua (Đà giang dạ ẩm

kí – Truy ền kì mạn lục) Không chỉ là con vật, đồ vật, cây cối lâu ngày không

dùng đến cũng thành yêu Chúng thường hóa ra cô gái đẹp đêm đêm tình tự,

trêu đùa cùng các thư sinh: tinh hoa Đào, Liễu (Tây viên kì ngộ kí – Truyền kì

m ạn lục), tinh bướm (Hoa quốc kì duyên – Thánh Tông di thảo)… Thậm chí chúng còn hóa hình thành người: chuông và đàn tì bà (Mộng kí – Thánh Tông

di th ảo); mảnh sành và quần áo rách hóa người đi ăn trộm cá nhà Nguyễn Hãn (Q ủy đấu – Lan Trì kiến văn lục)

Hóa kiếp người thành tiên biểu hiện quan niệm hóa thân của Đạo giáo Đạo giáo thần tiên chủ trương sống với trăng sao, sông nước, cây cỏ, luyện thuốc tiên đan cầu trường sinh và tu tiên kéo dài sự sống là mục đích tối cao

Có thể thấy hiện tượng hóa kiếp thành tiên ở các tác phẩm như Áp Lãng chân nhân – Nam Ông m ộng lục, Từ Thức hôn tiên lục –Truyền kì mạn lục, Hoa

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w