Đánh giá tác động của gói kích cầu đến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008- 2009
Trang 1Tên đề tài: Đánh giá tác động của gói kích cầu đến nền
kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008- 2009
Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn 2008 – 2009, một vấn đề bức thiết gây chấn động địa cầu đã xảy
ra đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Nó bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tàichính Mỹ từ cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển Kết quả là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều khía cạnh Một trong những giải pháp mà chính phủ các nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát triển, thoát khỏi tình trạng suy thoái Chính phủ Việt Nam cũng hành động như vậy Sau hơn 2 năm hội nhập với nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ và thách thức to lớn Để đối phó với khủng hoảng kinh tế, vào cuối năm 2008 chính phủ Việt Nam đã đưa ra gói kích thíchkinh tế trị giá 9 tỉ đôla chia làm 2 giai đoạn thực hiện Kế hoạch kích thích kính tế này củachính phủ không nằm ngoài mục đích phục hồi nền kinh tế và duy trì tăng trưởng Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một đánh giá cụ thể nào về tác động của gói kích cầu này đến nền kinh tế Việt Nam Với mục đích như vậy, đề tài nghiên cứu này cũng nhằm bày tỏ quan điểm cũng như cách nhìn riêng của chúng tôi về tác động của gói kích cầu đến nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009 Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi hi vọng
có thể có một cách nhìn khái quát về vấn đề tác động của gói kích cầu để từ đó rút ra đượcnhững kinh nghiệm, bài học cũng như những mặt còn hạn chế để từ đó định hướng cho việc tiếp tục thực hiện gói kích cầu trong năm 2010
2 Tóm tắt nội dung chính
Đề tài nghiên cứu được chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Lý thuyết kinh tế về vai trò điều tiết của chính phủ
Trang 2Đề tài chủ yếu dùng phương pháp phân tích hệ thống, thống kê, so sánh Do nhữnghạn chế khách quan nên đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra phân tích Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp phân tích không có nghĩa mang nặng tính lý thuyết màcách tiếp cận và giải quyết vấn đề dựa trên tính logic của các hiện tượng kinh tế, quy luật kinh tế và các lý thuyết kinh tế để suy luận
Trong đề tài này chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên tư tưởng kích cầu của Keynes Với cách tiếp cận này chúng tôi hi vọng có thể có một cái nhìn tổng thể
và khái quát về nền kinh tế, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, các gói kích thích cầu mà quan trọng hơn hết là tác động của các gói kích cầu đến nền kinh tế Việt Nam
Chương 1: Lý thuyết kinh tế về vai trò điều tiết của chính phủ
Trang 31.1 Lý thuyết về kích cầu và tổng cầu của Keynes
Thật khó để chính phủ có thể xác định được cần làm gì trong tình trạng nền kinh tếsuy thoái trầm trọng, khó hơn nữa đó là phải thực hiện kích thích kinh tế như thế nào chophù hợp với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Đây là một bài toán khó mà các nhà lãnh đạoViệt Nam đang gặp phải Do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (bắt đầu từ cuối năm2007) đã tác động lớn tới nền kinh tế Việt Nam làm cho nền kinh tế Việt Nam rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng trầm trọng Trước tình hình này, chính phủ ta đã đưa ra một giải phápcho đất nước đó là thực hiện một gói kích thích khổng lồ (từ 1% - 5% GDP) trong thờigian ngắn, nhưng vấn đề đặt ra ở đây đó là: sẽ là thiếu thận trọng nếu không xác định rõ
cơ sở kinh tế trên thực tiễn cũng như lý luận cho hoạt động này
Mặc dù chúng ta đang ở trong một tình trạng khó khăn và cần những quyếtđịnh mạnh mẽ, nhanh và sáng suốt Nhưng sẽ rất khó để thành công nếu chỉ dựa trên kinhnghiệm và trào lưu chung của các nước khác như các nước công nghiệp phát triển và đangphát triển (Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản,Trung Quốc ) Dường như chính phủ vẫn có mộttâm lý bất an về chính sách kích cầu liên tục được viện trợ như một cái phao cứu hộ Tuynhiên chính sách kích cầu của chính phủ thường làm dịch chuyển những nguồn lực rất lớntrong nền kinh tế, cũng như những hậu quả lâu dài Nếu thực hiện đúng thì đây sẽ là liềuthuốc hữu hiệu chữa lành căn bệnh cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhưng ngược lại
nó cũng có thể gây thương tích và những hậu quả khó lường lâu dài cho nền kinh tế
Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ xem xét nguồn gốc tư tưởng kích cầu và lýthuyết kích cầu
1.1.1 Tư tưởng kích cầu
Đầu tiên chúng ta nên dành một chút thời gian để tìm lại gốc gác làm nền tảng chonguyên lý kích cầu trong kinh tế vĩ mô
Quay trở lại thời kỳ trước khủng hoảng kinh tế thế giới thứ 2: Nền kinh tế thế giớiphát triển ổn định nhưng đến năm 1929 nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa,vấn đề này đã làm cho nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng lớn và chịu những hậu quả
Trang 4điều tiết của cơ chế thị trường sẽ đưa nền kinh tế tới sự cân bằng, không cần có sự canthiệp của nhà nước vào nền kinh tế - Chính tư tưởng này đã không giúp ích gì cho việckhắc phục khủng hoảng và tình trạng thất nghiệp mà cuộc đại khủng hoảng suy thoái1929-1933 gây ra Cụ thể là, vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây,khủng hoảng kinh tế diễn ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng Như vậy
là lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh bị thất bại trước thực tế phũ phàng của nền kinh tế TưBản Chủ
Nghĩa, đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã làm tan rã tưtưởng tự do kinh tế Mặt khác, vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sản xuất và sự xã hội hóasản xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế lực Tình hình này đòihỏi phải có sự điều chỉnh của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế ở các nước Tư BảnChủ Nghĩa Xuất phát từ thực trạng của cuộc khủng hoảng này đã hình thành nên lýthuyết kinh tế “ Chủ Nghĩa Tư Bản có điều tiết ” ra đời – hay còn gọi là trường pháiKeynes – cần có sự can thiệp của chính phủ vào kinh tế Bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụngchính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suythoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra
Sau đây là đôi nét giới thiệu về Keynes – người có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh
tế học phương Tây hiện đại và chính sách kinh tế của các chính phủ John MaynardKeynes (1883-1946) là một nhà kinh tế học người Anh đã có thành công lớn trong việchình thành nền kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trịcũng như các chính sách tài chính của nhiều quốc gia Ông chính là người khai sinh rakinh tế học vĩ mô hiện đại Ông viết nhiều tác phẩm, những tác phẩm chính của ông là
“Tiền tệ và tài chính Ấn Độ” , “Hậu quả kinh tế của hòa ước” năm 1919, “Thuyết cải cáchtiền tệ” năm 1923, “Hậu quả kinh tế của ngài Churchill” năm 1925, “Thuyết tiền tệ” năm
1930 Trong đó, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đó là “ Lý thuyết tổng quát về việc làm,lãi suất và tiền tệ ” năm 1936 Tác phẩm này đã khái quát được tư tưởng tiến bộ của ông
về vai trò điều tiết của chính phủ trong nền kinh tế Cụ thể là việc chi tiêu của chính phủ
để kích thích nền kinh tế bắt nguồn từ hai giả thuyết quan trọng của Keynes
Giả thuyết thứ nhất đó là cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sảnxuất bị dư thừa Biểu hiện của tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không
Trang 5được sử dụng hết công suất: thất nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trongkhu vực doanh nghiệp, và hàng hóa thì ế thừa… Hiện tượng dư cung khiến giá cả cókhuynh hướng giảm trên tất cả các thị trường, do đó càng không khuyến khích đượcngười mua, do vậy cầu càng ở dưới xa cung thực tế Kết quả là nền kinh tế bị rơi vào mộtcái bẫy suy thoái mà khó có thể tự thoát ra được.
Giả thuyết thứ hai, chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậmchí nhiều hơn thu nhập của mình Trong khi đó, các ngành, khu vực không phải chính phủ( tư nhân, hộ gia đình, khu vực doanh nghiệp,…) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập của
họ Bởi vì, họ có xu hướng để dành ( khuynh hướng tiết kiệm cận biên MPS>0) Trongđiều kiện bình thường, tức là nền kinh tế đang phát triển theo chiều hướng tốt, thì cáckhoản tiết kiệm đó được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư, góp phần tạo nênthành phần của tổng cầu Nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp cũng như các nhàđầu tư vì mục tiêu an toàn, không mạo hiểm họ không muốn đầu tư thêm nữa vì không cókhả năng thu được lợi nhuận
Xuất phát từ giả thiết thứ nhất, Keynes đã cho rằng nền kinh tế suy thoái vì tạmthời không có đủ cầu do cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực Do đó bài toán sẽđược giải quyết nếu xuất hiện một lượng cầu hiệu lực đủ lớn
Tương tự như vậy, xuất phát từ giả thiết thứ hai của Keynes, rằng chỉ có chính phủmới có khả năng chi tiêu vượt mức – dựa trên ý chí của mình, ngay cả khi nền kinh tếđang suy thoái ( khiến các khu vực khác như các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, cácnhà đầu tư hoàn toàn thoái chí, không muốn chi tiêu, không muốn đầu tư sản xuất) Trên
cơ sở đó, Keynes đã đề xuất một phương án mà về căn bản theo nguyên lý sau: Dịchchuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ nhằm tăng cầu hiệu lực,đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua Tóm lại, với quan điểm trọngcầu, Keynes đã xây dựng nên mô hình kinh tế vĩ mô, trong đó yếu tố trung tâm là vai tròđiều chỉnh, can thiệp của nhà nước thông qua các giải pháp kích cầu để tác động vào các
Trang 6Vậy kích cầu chính là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ ( hay còngọi là tiêu dùng công cộng ) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Tư tưởng này của học thuyết Keynes dần dần trở thành kim chỉ nam cho các hoạtđộng kinh tế của các nước trên toàn thế giới Theo thời gian cùng với một loạt các công
cụ điều hành chính phủ khác, nó đã trở thành phương tiện cơ bản của các chính sách canthiệp, và là phương án tối ưu cho các nước trong điều kiện nền kinh tế suy thoái rơi vàokhủng hoảng Biểu hiện là lý thuyết của Keynes đã có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ tưtưởng của kinh tế tư sản và được vận dụng một cách rộng rãi ở nhiều nước Tư Bảnphương Tây và ở Mỹ trong những năm 40, 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ XX Tuynhiên, đến đầu thập niên 60 của thế kỷ 20 Milton Freidman – một nhà lý thuyết kinh tế
Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất trong nửa sau thế kỷ 20 Nếu nói học thuyết Keynes là mộtcuộc cải cách lớn lao của kinh tế học Và đương nhiên nó được tiếp nối bằng một cuộcchống cải cách, trong thời gian này một số nhà kinh tế đã đóng vai trò quan trọng trongviệc phục hồi kinh tế học cổ điển trong giai đoạn từ năm 1950-2000, nhưng không ai cóảnh hưởng lớn như Freidman (Theo thời đại mới số 10/tháng 3/ năm 2007) Ông đượcđánh giá cao như vậy bởi những tư tưởng mới mẻ của ông, ông nhận diện được nhượcđiểm của trường phái Keynes Điều này thể hiện rõ nét ở lời nhận xét mà ông đưa ra năm
1962 trong một tác phẩm kinh điển bảo vệ nền kinh tế thị trường, rằng các chính sách nàyđều biến thái theo chiều hướng đơn giản hóa Tùy tiện và bị lạm dụng, theo một phiên bản
“ phân tích kiểu Keynes thô sơ ”( Freidman 1962, trang 79, xuất bản năm 2002) Qua đóchi tiêu chính phủ luôn được coi là phương tiện cứu rỗi, mà không còn cân nhắc nhiềuđến thực trạng nền kinh tế mà trong đó là những giả thuyết đầu tiên được xác lập Đây làcách nhìn nhận đúng đắn của Friedman Bởi ông đã có cách nhìn đúng đắn vào thực tế
Thật vậy, trên thực tế việc tăng chi tiêu chính phủ với mục tiêu là cứu nguy nềnkinh tế đã mang lại nhiều thuận lợi cho chính phủ, đó là: bành trướng ngân sách, từ đócủng cố và phát huy sức mạnh và quyền lực chính trị của chính phủ Không những thếchính phủ không phải thực hiện những cải cách mà rất có thể đó là những bước đi sai lầm
sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế và bản thân chính phủ và giới quan liêu nhưthể chế, luật pháp Tăng chi tiêu chính phủ còn được lòng dân chúng vì nó giữ cho giánguồn lực ở mức cao ( tiền lương lao động và lãi suất được duy trì ) Và một điều quan
Trang 7trọng là tính hiệu quả kinh tế của các khoản chi tiêu đó sẽ lan tỏa hiệu ứng số nhân nổitiếng của Keynes chứ không phải bản thân đối tượng được chi tiêu.
Xét tới các trường phái kinh tế không ủng hộ tính hiệu quả của thị trường cho rằngchính sách kiểu Keynes có thể làm giảm cơn đau của nền kinh tế đang suy thoái về mặt xãhội, nhưng đổi lại, nó kéo dài thời gian hồi phục nền kinh tế Lập luận này cũng dựa trênnhững kinh nghiệm từ cuộc đại suy thoái 1929-1933, nhưng diễn giải dưới một góc nhìnkhác Họ cho rằng việc thắt chặt tiền tệ quá lâu của cục dự trữ liên bang Mỹ đã khiến lãisuất bị giữ ở mức cao Thứ hai, các chuơng trình cứu trợ xã hội to lớn thời đó đã khiếntiền lương bị giữ ở mức cao tương đối, khiến các doanh nghiệp thời kỳ suy thoái rất khótiếp cận nguồn lao động rẻ để phục hồi sản xuất
Đây là thực tế mà các nước đã phải trải qua, chính phủ và những nhà điềuhành đất nước phải lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình Từ đó các chính phủ hiệnđại đều sử dụng chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng, cắt giảm lãisuất trong các giải pháp chống suy thoái Tuy nhiên, các chương trình an sinh xã hội vàsức mạnh của công đoàn ít khi làm giá lao động giảm đáng kể Đây là một đánh đổi trênthực tiễn: nỗi đau được xoa dịu thì buộc phải kéo dài
Trên đây là toàn bộ nguồn gốc cho tư tưởng kích cầu của các chính phủ khi đấtnước rơi vào tình trạng khủng hoảng kể từ sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 tới nay
1.1.2 Khái niệm kích cầu
Vậy kích cầu được hiểu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ ( haycòn gọi là tiêu dùng công cộng ) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế
Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai Kíchcầu chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy Tronghai loại biện pháp này, biện pháp thứ hai được cho rằng có hiệu suất kích thích tổng cầucao hơn
Nguyên tắc kích cầu: Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu
có hiệu quả thì việc thực hiện nó phải đảm bảo 3 nguyên tắc:
Trang 8Để áp dụng biện pháp này đạt được hiệu quả cao nhất thì chính phủ các nước vàcác nhà lãnh đạo phải chú ý thực hiện theo đúng 3 nguyên tắc nói trên.
Phần tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu lý thuyết về tổng cầu và kích cầu
1.2 Lý thuyết về tổng cầu và kích cầu
1.2.1 Chính sách tài khóa
Như chúng ta thấy, trước sự suy thoái của nền kinh tế, biện pháp mà được hầu hếtcác chính phủ các nước sử dụng đó là chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi, giảm thu vớimục tiêu cuối cùng là đưa sản lượng về mức sản lượng tiềm năng
Trước khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem tổng cầu là gì? chínhsách tài khóa là gì? Tại sao và khi nào chính phủ chúng ta sẽ áp dụng phương pháp đó.Theo định nghĩa trong sách giáo trình kinh tế vĩ mô (NXB Giáo dục – 2000 của Việt Namhiện nay, trang 79) thì “ tổng cầu là toàn bộ số lượng hàng hóa, dịch vụ mà các hộ giađình và các doanh nghiệp dự kiến chi tiêu, tương ứng với mức chi tiêu của họ” Còn
“chính sách tài khóa là việc chính phủ sử dụng thuế khóa và chi tiêu công cộng để điềutiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế ” Nguyên lý thì như vậy, nhưng chúng ta phải ápdụng thế nào cho phù hợp và đạt được kết quả cao nhất, đó chính là câu hỏi khó nhất màcác nhà lãnh đạo các nước gặp phải Và họ phải nghiên cứu để đưa ra các phương án giảiquyết phù hợp với tình hình biến động của nền kinh tế thị trường Sau đây, chúng ta sẽnghiên cứu cụ thể lý thuyết này trong nền kinh tế
Giả sử nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp Các doanhnghiệp, các nhà đầu tư sẽ không muốn đầu tư thêm, còn người tiêu dùng cũng khôngmuốn chi tiêu thêm nữa Lúc này tổng cầu ở mức rất thấp Trong hoàn cảnh này để mởrộng tổng cầu chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, nâng cao mức chi tiêu chungcủa nền kinh tế làm cho sản lượng tăng thêm và mức việc làm có thể đầy đủ có thể đượckhôi phục
Xét trên mô hình kinh tế, với: AD là đường tổng cầu
Y là mức sản lượng
P là mức giá
Mức sản lượng Y1 – tương ứng với đường tổng cầu AD1
Trang 9Mức sản lượng Y0 – tương ứng với đường tổng cầu AD0 – Đây là mức sản lượngtiềm năng trên thị trường cân bằng, tức là cung = cầu.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, mức sản lượng trên thịtrường lúc này là Y1 < Y0
Nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy thoái với mức cung < mức cầu, điều nàylàm cho giá cả hàng hóa tăng lên cao dẫn tới áp lực suy thoái đang đe dọa tới nền kinh tế
và nó đòi hỏi chính phủ phải ra tay hành động để làm tăng tổng cầu thông qua tăng chitiêu chính phủ, tăng mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc giảm thuế Nếu làm được điều nàythì đường tổng cầu AD1 sẽ dịch dần lên trên, và khi AD1 tiến đến AD tức là Y1 dần tới Y*,sản lượng thực tế sẽ bằng sản lượng tiềm năng Lúc này thị trường ổn định, thất nghiệp sẽgiảm và điều tất nhiên là tỉ lệ thất nghiệp thực tế sẽ trở về với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên.Như vậy là vấn đề đã được giải quyết
Trang 10Nhưng trên thực tế, khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng cần lưu
ý đó là: Khi AD1 tiến đến AD thì chính phủ phải dừng thực hiện chính sách này ngay vìnếu tiếp tục thực hiện thì đường cầu AD1 sẽ dần tiến tới AD2, khi đó Y1 tiến tới Y2 > Y*.Trong trường hợp này, mức sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng, nền kinh
tế bị áp lực cao của lạm phát Biện pháp áp dụng để giải quyết vấn đề mà các chính phủ
đã sử dụng đó là: giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ đó mức chi tiêu chung giảm đi, sảnlượng sẽ giảm theo và lạm phát chững lại
Theo lý thuyết trên chúng ta thấy rằng nền kinh tế luôn biến động và ít khi ở trạngthái hoàn hảo ( cung = cầu ) Do vậy, chính phủ phải tác động vào nền kinh tế bằng cácchính sách của mình để điều chỉnh nó cho phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu
Xét trong mô hình nền kinh tế giản đơn như trong lý thuyết của Keynes thì chínhsách tài khóa có thể là phương thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tế Tuy nhiên trongthực tế, chính sách tài khóa không có đủ sức mạnh đến như vậy, đặc biệt là trong nền kinh
tế hiện đại Do đó mà các nền kinh tế thị trường luôn không ổn định, chu kỳ kinh doanhchưa được khắc phục hoàn toàn Trước khi nghiên cứu những vấn đề áp dụng chính sách
Trang 11tài khóa trong thực tiễn, chúng ta cùng xem xet một cơ chế đặc biệt của chính sách này.
Đó là cơ chế ổn định tự động
Thật vậy, hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố tự ổn định mạnh mẽ, đó là:Những thay đổi tự động về thuế Hệ thống thuế hiện đại bao gồm thuế thu nhập lũy tiếnvới thu nhập cá nhân và lợi nhuận của doanh nghiệp Khi thu nhập quốc dân tăng lên, sốthu về thuế tăng theo, và ngược lại khi thu nhập giảm, thuế giảm ngay mặc dù Quốc hộichưa kịp điều chỉnh thuế suất Vì vậy, hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tựđộng nhanh và mạnh
Yếu tố thứ hai sau tự ổn định sau thuế chính là hệ thống bảo hiểm Bởi trong quátrình sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội, cải tạo và chinh phục tự nhiên, dù có tri thứcngày càng cao, con người vẫn phải đối mặt nhiều hơn với khả năng xảy ra tai họa từ nhiềuphía, do chính bản thân con người, do những phương tiện thiết bị của con người tạo ra.Trước mối đe dọa thường ngày như vậy, các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện biệnpháp tự bảo hiểm, nhưng tự bảo hiểm là biện pháp hiệu quả thấp và không kinh tế Do vậy
tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm và sử dụng nó để chia sẻ khi rủi ro xảy rathông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm Trong nền kinh tế hiện nay, hệ thống bảohiểm bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và các chuyển khoản mang tính chất xã hội khác Hệthống này hoạt động khá nhạy cảm
Điều này được hiểu như sau: Khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp sẽđược nhận một khoản trợ cấp – đó là trợ cấp thất nghiệp từ nhà nước Và đương nhiên làkhi có việc làm thì khoản trợ cấp này sẽ không còn nữa Như vậy, hệ thống bảo hiểm bơmtiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế, ngược lại chiều hướng của chu kỳ kinh doanh gópphần ổn định hệ thống kinh tế Tuy nhiên, những nhân tố ổn định tự động chỉ có tác dụnglàm giảm một phần các dao động của nền kinh tế, mà không xóa bỏ hoàn toàn những daođộng đó Phần còn lại đặt trên vai các chính sách tài chính và tiền tệ chủ động của chínhphủ
Không những vậy, khi chính phủ áp dụng chính sách tài khóa vào trong mô hình
Trang 12số nhân tổng cầu của nền kinh tế mở m”; khuynh hướng tiêu dùng biên MPC…Từ đó dẫntới sự sai lệch về số nhân tổng cầu, sai lệch về mức thay đổi trong chính sách tài khóa.Hơn nữa, thực thi chính sách tài khóa cần một thời gian khá dài chúng ta mới thu đượckết quả Tức là mức sản lượng thực tế đạt tới mức sản lượng tiềm năng.
Tính miễn cưỡng các nhu cầu tự định: Thực tế những thay đổi trong chính sách tàikhóa có thể đưa đến những tác động miễn cưỡng khác ( giảm xuất khẩu ròng, thoái luiđầu tư ) Nếu chính phủ không xác định được những yêu cầu miễn cưỡng này thì sử dụngchính sách tài khóa sẽ không mang lại những hiệu quả như mong muốn
Tính chậm trễ về mặt thời gian: Đây cũng chính là mặt hạn chế của chính sách tàikhóa, mặc dù chính sách tài khóa mang lại những hiệu quả mong đợi cho nền kinh tế cácnước nhưng nó lại đòi hỏi một khoảng thời gian khá dài Nó không trực tiếp tác động tớinền kinh tế ngay lập tức mà nó tác động dần dần, từ từ tới các nhân tố của nền kinh tế chotới khi nền kinh tế đạt mức cân bằng Chúng ta có thể phân độ trễ của chính sách ra làmhai loại, đó là độ trễ bên trong và độ trễ bên ngoài
Độ trễ bên trong: Đây là khoảng thời gian bắt đầu từ lúc xuất hiện những thông tin
về những cú sốc tác động vào nền kinh tế cho đến khi các biện pháp được đưa ra để giảiquyết phản ứng lại cú sốc đó Độ trễ này xuất hiện bởi khi nền kinh tế có sự biến đổi thìđòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần có thời gian để nhận thức được rằng cú sốc này
đã xảy ra và sau đó nghiên cứu đề ra các biện pháp, lối đi phù hợp cho từng trường hợp,thời kỳ
Độ trễ bên ngoài: Bao gồm quá trình phổ biến, thực thi chính sách cho tới khi pháthuy ảnh hưởng đối với nền kinh tế Loại độ trễ này xuất hiện vì chính sách không tácđộng ngay lập tức tới chi tiêu, thu nhập và việc làm
Với chính sách tài khóa, cả hai độ trễ khá dài, phụ thuộc vào các yếu tố chính trị và
cơ cấu tổ chức bộ máy Chính vì vậy những quyết định đưa ra không đúng lúc có thể làmrối loạn thêm nền kinh tế thay vì ổn định nó
Trên thực tế, chính sách tài khóa thường được thực hiện thông qua các dự án côngcộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã hội Thực tế cho thấy,ngoài một số dự án công cộng thực hiện thành công, đa số các dự án tỏ ra kém hiệu quảkinh tế
Trang 132.2 Tác động của chính sách tài khóa
Khi chính phủ tăng chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ một lượng ∆G, tổng cầu của nền kinh tế tăng lên làm dịch chuyển đường IS sang phải Kết quả tổng hợp là làm cho thunhập tăng từ Y1 lên Y2 và lãi suất theo đó cũng tăng từ i1 lên i2
Khi chính phủ giảm thuế 1 lượng là ∆T,thay đổi của chính sách này làm tăng tổng cầu.Sự gia tăng AD làm dịch chuyển IS sang phải,kết quả tổng hợp là thu nhập tăng từ Y1
lên Y2 và lãi suất tăng từ i1 lên i2
Trang 141.2.3 Chính sách tiền tệ mở rộng
1.2.3.1 Định nghĩa chính sách tiền tệ
Kinh tế thị trường thực chất là 1 nền kinh tế tiền tệ Ở đó bao giờ chính sách tiền tệcũng là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của nhà nước, bêncạnh chính sách tài khóa, chính sách phân phối thu nhập, chính sách đối ngoại…
Ngân hàng Trung Ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắt chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn Trong một quãng thời gian nhất định nào đó,chính sách tiền tệ của một quốc gia có thể được hoạch định theo 1 trong 2 hướng : Chính sách tiền tệ mở rộng và chính sách tiền tệ thắt chặt
Chính sách tiền tệ mở rộng: nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến khích đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp
Chính sách tiền tệ thắt chặt: nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát
Trang 15Do vậy, chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng Trung Ương để đạt được những mục tiêu đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỉ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.
1.2.3.2 Các công cụ chính sách tiền tệ mở rộng
Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh mức cung tiền và các tỉ lệ lãi suất bằng nhiều công cụ khác nhau nhằm tác động vào lượng tiền và số nhân tiền tệ: mức cung tiền hoặc lãi suất
1.2.3.2.1 Nghiệp vụ thị trường mở
Là việc các ngân hàng trung ương mua và bán các chứng khoán có giá trị, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng Ngân hàng trung ương mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ làm thay đổi cơ số tiền tệ (tiền đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng và tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng) Đó là nguồngốc chính gây nên sự biến động trong cung ứng tiền tệ Do đó trong trường hợp này, ngânhàng trung ương sẽ mua chứng khoán làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của ngân hàng trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng vì ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do, linh hoạt và chính xác, sử dụng được ở nhiều mức độ, nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí và thời gian…
1.2.3.2.2 Chính sách chiết khấu
Chính sách chiết khấu là công cụ của ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh Khi ngânhàng trung ương cho vay các ngân hàng kinh doanh làm tăng thêm lượng tiền dự trữ cho
hệ thống ngân hàng, từ đó làm gia tăng lượng tiền cung ứng Ngân hàng trung ương kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu)
Do đó trong trong trường hợp này, ngân hàng trung ương giảm lãi suất cho vay tái
Trang 16Chính sách chiết khấu là 1 công cụ quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệcủa ngân hàng trung ương Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng, mà còn để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng và tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế.
Tiền gửi mới được tạo ra = Tiền dự trữ ban đầu x (1 / tỉ lệ dự trữ bắt buộc)
Trong đó: 1/tỉ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số nhân tiền tệ với 2 giả thiết:
Các ngân hàng thương mại không có tiền dự trữ thừa so với tỉ lệ dự trữ bắt buộc
mà ngân hàng trung ương yêu cầu
Các khoản tiền gửi do các ngân hàng thương mại tạo ra đều được giữ lại trong hệ thống ngân hàng
Do vậy ngân hàng trung ương quyết định tăng hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm cho hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên
Thứ hai: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại Tiền dự trữ bắt buộc đều phải mở tài khoản và gửi tại ngân hàng trung ương và không được hưởng lãi, dù các ngân hàng thương mại vẫn phải trả lợi tức cho các khoản tiền gửi ở ngân hàng mình
Do vậy trong trường hợp này: Ngân hàng trung ương sẽ giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, các ngân hàng thương mại có cơ hội giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, giá các khoản vay rẻ hơn, tăng khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại và theo đó lượng tiên cung ứng tăng lên
Tuy nhiên hiện nay công cụ dự trữ bắt buộc ít được sử dụng trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương ví nó phức tạp, kém linh hoạt, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng kinh doanh
Trang 171.2.4 Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng
1.2.4.1 Tác động của tăng cung tiền tới lãi suất cân bằng
Ban đầu mức cung tiền ở mức MS0 và lãi suất cân bằng là i0
Khi ngân hàng tăng lượng tiền cung ứng lên MS1 và lãi suất cân bằng giảm xuống
i1
Cầu tiền ít co giãn với lãi suất, do đó khi tăng cung tiền tại một mức thu nhập nhất định làm giảm lãi suất đáng kể Khi lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư tăng Khi chi tiêu cho đầu tư tăng, thu nhập sẽ được mở rộng theo số nhân
1.2.4.2 Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng tới thu nhập
Tăng đầu tư làm dịch chuyển đường chi tiêu lên phía trên và tạo ra mức sản lượng cân bằng cao hơn
Trang 19Tăng cung tiền làm tăng tổng chi tiêu tại mỗi mức giá Vì mức sản lượng cânbằng tại mỗi mức giá cân bằng cho trước, đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải Sự dịch chuyển của đường tổng cầu được chuyển thành sự gia tăng của tổng sản lượng từ Y0
đến Y1
Do vậy khi nền kinh tế có các nguồn lực chưa được sử dụng và giá cả cứng nhắc, tăng cung tiền thường có tác dụng kích thích nền kinh tế tạo ra mức sản lượng cao hơn
1.2.4.4 Hiệu quả của chính sách tiền tệ
Có 3 nhân tố cơ bản quyết định sản lượng thay đổi bao nhiêu khi tăng cung tiền một lượng nhất định:
Thứ nhất : hệ số co giãn của cầu tiền với lãi suất
Thứ hai : sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất
Thứ ba : giá trị của số nhân chi tiêu
Trang 21MS0 MS1
Trang 22Khi cầu tiền co giãn mạnh với lãi suất ( đường cầu tiền tương đối thoải) thì việc
tăng cung tiền sẽ ít hiệu quả trong việc tăng sản lượng Cầu tiền co giãn mạnh với lãi suất,
tăng cung tiền có ảnh hưởng nhỏ đến lãi suất Lãi suất giảm nhẹ chỉ có ảnh hưởng gia
tăng nhỏ đối với đầu tư (A)
Khi đầu tư rất ít nhạy cảm với lãi suất (đường tổng cầu rất dốc) thì việc tăng cung
tiền sẽ ít hiệu quả trong việc tăng sản lượng Do đó việc giảm lãi suất khi tăng cung tiền
chỉ ảnh hưởng nhỏ đến đầu tư (B)
Khi đầu tư tăng ít khiến đường chi tiêu dịch chuyển ít lên phía trên,mức sản lượng
tăng lên ít (C)
Tăng cung tiền ảnh hưởng nhỏ đến lãi suất,lãi suất giảm ít sẽ ảnh hưởng nhỏ đến
đầu tư,kéo theo việc tăng cung tiền chỉ có ảnh hương nhỏ đến sản lượng (D)
1.2.5 Sự tương tác giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
1.2.5.1 Phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều nguồn lực chưa được sử dụng và thất nghiệp
cao, chính phủ có thể sử dụng hỗn hợp giữa chính sách tài khóa mở rộng và chính sách
tiền tệ nới lỏng để cho phép cung tiền tăng và do đó giữ lãi suất không thay đổi
Trang 23Các nhà kinh tế gọi chính sách tiền tệ như vậy là chính sách thích ứng bởi vì chính sách tiền tệ thích ứng với sự thay đổi của chính sách tài khóa.
Tuy nhiên nếu chính sách tiền tệ không thay đổi (cung tiền không đổi) thì việc tăngchi tiêu của chính phủ sẽ làm tăng cầu tiền, và để cho cầu tiền bằng cung tiền cố định thì phải tăng lãi suất Khi tăng lãi suất sẽ làm giảm chi tiêu cho đầu tư và giảm tổng cầu Sự suy giảm tổng cầu vì lãi suất tăng khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng được gọi là hiệu ứng lấn át Ảnh hưởng mở rộng đến nền kinh tế sẽ nhỏ hơn so với khi áp dụng chính sách thích ứng
1.2.5.2 Sự khác nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Khi sử dụng chính sách tiền tệ, chúng làm giảm lãi suất và kích thích đầu tư Như vậy mức thu nhập trong tương lai sẽ cao hơn Sử dụng chính sách tiền tệ chính phủ có thể theo đuổi cả 2 mục tiêu : việc làm và tăng trưởng cao
Khi sử dụng chính sách tài khóa với một mức cung tiền cố định,khi thu nhập tăng, lãi suất sẽ tăng để giữ cho cầu tiền đúng bằng cung tiền không thay đổi
Do vậy chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đều có thể được sử dụng để đưa nền kinh tế về mức toàn dụng nhân công, chúng lại có ảnh hưởng khác nhau đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai
1.2.5.3 Sự khác nhau về hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái trầm trọng, chính sách tiền tệ không có hiệu quả.Việc tăng cung tiền có thể ít ảnh hưởng đến lãi suất, và giảm lãi suất có thể chỉ ảnh hưởng nhỏ đến đầu tư
Tăng thâm hụt ngân sách-giảm thuế ít hơn giảm chi tiêu, hoặc tăng chi tiêu nhiều hơn tăng thuế sẽ làm suy yếu nền kinh tế Bởi vì chính phủ sẽ phải dựa vào thị trường vốn
để tài trợ thâm hụt và đầu tư tư nhân sẽ bị lấn át Tác động ròng của chính sách tài khóa
Trang 241.2.6 Cân đối ngân sách và tác động tiềm ẩn đến nền kinh tế vĩ mô
Đã từ lâu, thuế và ngân sách nhà nước đã được xem xét trong các kế hoạch pháttriển kinh tế trung và ngắn hạn Song các công cụ này chỉ hoạt động trong khuôn khổ củanền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mang nặng tính chất “cấp phát và giao nộp” , “thu đểchi”…chưa thật sự là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Mặt khác, do kết quả của nềnkinh tế suy thoái, trì trệ và một phương pháp quản lý yếu kém, ngân sách nhà nước luôntrong tình trạng thâm hụt nặng nề, thu không đủ chi, vay nợ chồng chất Và khi nền kinh
tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền tài chínhquốc gia cũng được đổi mới Việt Nam cũng tương tự như vậy
Trong phần này, chúng tôi điểm qua tình hình ngân sách của Việt Nam thông quaviệc xem xét cơ cấu thu chi trong những năm vừa qua và phân tích tình hình tác động cóthể có của gói kích cầu tới cán cân ngân sách và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam giaiđoạn 2008-2009
Cụ thể hơn, chúng ta sẽ nghiên cứu các tác động qua lại giữa các vấn đề về chitiêu, vấn đề thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế của nhà nước.Trong nhiều năm qua
đã có nhiều nghiên cứu kinh tế, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, tập trung xem xét vai tròcủa chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách đôikhi không thống nhất với nhau về việc liệu chi tiêu chính phủ có vai trò thúc đẩy hay làmchậm tăng trưởng kinh tế Những người ủng hộ quy mô lớn của chi tiêu chính phủ chorằng, các chương trình chi tiêu của chính phủ sẽ giúp cung cấp các hàng hóa công cộngnhư cơ sở hạ tầng và giáo dục Họ cũng cho rằng sự gia tăng chi tiêu chính phủ có thể đẩynhanh tăng trưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân như lý thuyếtcủa trường phái Keynes đã chỉ ra
Tuy nhiên, những người ủng hộ quy mô nhỏ của chi tiêu chính phủ lại có quanđiểm ngược lại Họ giải thích rằng, chi tiêu chính phủ quá lớn và sự gia tăng chi tiêuchính phủ sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó sẽ làm dịch chuyển nguồn lực từ khuvực sản xuất hiệu quả trong nền kinh tế sang khu vực chính phủ kém hiệu quả Họ cũngchỉ ra rằng, sự mở rộng chi tiêu công sẽ làm phức tạp thêm những nỗ lực thực hiện cácchính sách thúc đẩy tăng trưởng Ví dụ như những chính sách cải cách thuế và an sinh xã
Trang 25hội, bởi vì những người chỉ trích có thể sử dụng sự thâm hụt ngân sách làm lý do để phảnđối những chính sách cải cách nền kinh tế này.
Thật vậy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong gần một thập kỷ qua phần nhiềudựa vào các luồng chi tiêu kích cầu Chủ yếu thông qua ba nguồn: chi tiêu chính phủ; Đầu
tư trực tiếp nước ngoài; Tăng trưởng tín dụng( cung tiền )
Tăng chi tiêu chính phủ và mở rộng tín dụng doanh nghiệp, một mặt giúp nền kinh
tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài nhưlạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơchế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính
Giờ chúng ta sẽ nghiên cứu tới tác động của chính sách tài khóa tới vấn đề thâmhụt ngân sách Chính sách tài khóa có liên quan chặt chẽ tới vấn đề thâm hụt ngân sách vàthoái lui đầu tư Trước hết ta sẽ nghiên cứu về vấn đề thâm hụt ngân sách để thấy đượctầm ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế chung của đất nước Chính sách tài khóa thường thểhiện trong quá trình lập, phê chuẩn và thực hiện ngân sách nhà nước Thật vậy, chi tiêuchính phủ về hàng hóa và dịch vụ là bộ phận chính của chi ngân sách nhà nước, điều nàycũng tương tự như là thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Ngân sách nhànước là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hằng năm của chính phủ, bao gồm cáckhoản thu ( chủ yếu từ thuế ) và các khoản chi ngân sách
Hầu hết ngân sách của các quốc gia trên thế giới đều phải đương đầu với vấn đềthâm hụt ngân sách Vậy để hiểu rõ hơn về thâm hụt ngân sách thì ta nên đi vào công thứcsau đây:
Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có :
B = T – G
( Với T là thuế, G là chi tiêu của chính phủ )
Khi B > 0 ta có thặng dư ngân sách
Khi B = 0 ta có cân bằng ngân sách
Trang 26thâm hụt quá lớn và kéo dài Tuy vậy, trong nhiều nước đặc biệt là các nước đang pháttriển, các chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong đó chi ngânsách vẫn phải nằm trong khuôn khổ của thu ngân sách.
Khi áp dụng lý thuyết này vào nền kinh tế thi trường thì chúng ta nhận thấy rằng,thâm hụt ngân sách thực tế chưa phải là một chỉ bảo tốt về chính sách tài khóa của chínhphủ Điều này thật đúng, một nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính chu kỳ kinhdoanh có tác dụng không nhỏ đến thâm hụt ngân sách Chúng ta có thể nhận thấy rõ rằngthu ngân sách tăng lên trong thời kỳ phồn thịnh và giảm đi trong thời kỳ suy thoái Điềungược lại đó là chi ngân sách vận động ngược chiều với chu kỳ : Chi ngân sách tăng trongthời kỳ suy thoái và giảm trong thời kỳ phồn thịnh Chính vì vậy thâm hụt ngân sách sẽtrầm trọng hơn trong thời kỳ suy thoái, bất chấp mọi biện pháp của chính phủ
Thâm hụt ngân sách có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với tình hình hoạtđộng của nền kinh tế của một quốc gia Khi thâm hụt quá lớn và kéo dài, các chính phủphải nghĩ đến các biện pháp hạn chế thâm hụt Và các biện pháp cơ bản thường đượcchính phủ các nước dùng đó là : tăng chi và giảm thu Và điều này sẽ được áp dụng ngượclại trong trường hợp tình hình kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát, khi đó các biện pháptăng thu giảm chi sẽ không còn nữa mà thay vào đó là biện pháp kích cầu giảm thu tăngchi
Trên đây là toàn bộ lý thuyết về tổng cầu, kích cầu và cách áp dụng chúng vàotừng trường hợp cụ thể
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu về tác động của những chính sách này đến tìnhhình kinh tế và xã hội của chúng ta như thế nào Và tình hình ngân sách Việt Nam thờigian này được phản ánh dưới những con số được thu thập dưới đây:
Mức chi tiêu chính phủ tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng
từ 15-25% GDP Bảng sau cho thấy, quy mô chi ngân sách của Việt Nam hiện nay vàokhoảng 30% GDP, và gần gấp đôi so với con số của Thái Lan, Singapo và Philippin Đâythực sự là một thách thức lớn với duy trì tăng trưởng và cân bằng ngân sách trong nhữngnăm tới đối với nền kinh tế Việt Nam
Bảng so sánh quốc tế : Quy mô chi ngân sách (%GDP)
Trang 27Tên nước
1990
1995
2000
2006Tru
ng Quốc
18.5
12.18
16.29
19.2Hàn
Quốc
15.54
15.76
18.91
23.6Ind
onesia
19.6
14.68
15.83
20.07Mal
aysia
27.68
22.07
22.89
24.92Phil
ippines
20.4
18.17
19.27
17.31Sin
gapore
21.3
16.1
18.84
15.8Thá
i Lan
13.94
15.35
17.33
16.38
Việt Nam
2 1.89
2 3.85
2 3.36
2 9.79
Theo nguồn ADB(2007)
Quy mô chi tiêu quá lớn của khu vực nhà nước đã kéo theo tình trạng thâm hụtngân sách liên tục trong những năm vừa qua Thâm hụt ngân sách ( kể cả chi nợ gốc) đãvào khoảng 5% GDP mỗi năm và được tài trợ thông qua vay nợ trong nước ( khoảng 3/4)
và vay nợ nước ngoài ( khoảng 1/4) Theo số liệu tính toán bởi IMF, tính đến cuối năm
2007 tích lũy của các khoản thâm hụt hàng năm này đã tạo thành nợ chính phủ vàokhoảng 50% GDP
Trên cơ sở nhận thức mới vai trò của tài chính trong nền kinh tế thị trường, côngcuộc đổi mới hệ thống tài chính đã thu được những thành tựu đáng khích lệ Thuế và chitiêu chính phủ đang dần trở thành công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước Tuy
Trang 28Chương 2: Thực trạng áp dụng các gói kích cầu2.1 Đánh giá tổng quan tình hình kinh tế thế giới năm 2008-2009
2.1.1 Thực trạng khủng hoảng
Từ những yếu kém của khu vực tài chính đã đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái nghiêm trọng Bắt đầu từ quý III/2008 nền kinh tế thế giới bắt đầu có biểu hiện của
sự suy giảm kinh tế và sau đó mức độ càng ngày càng trầm trọng ở hầu hết các các nước
Năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 3% thấp hơn nhiều so vớimức 5,2% của năm 2007 và thấp hơn mức dự đoán là 3,9% Kể từ cuộc đại suy thoái năm1029-1930, thì đây có thể xem là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất Đây là một sự sụtgiảm đáng kể đối với nền kinh tế thế giới
Biểu đồ Tăng trưởng kinh tế Thế giới năm 2005- 2009
(Số liệu được lấy từ Tạp chí Ngân hàng Số 2+3/2010 )
Trang 29Cụ thể hơn trong 3 quý đầu năm 2009, GDP của một số nước giảm mạnh so với năm 2008, ta có bảng so sánh sau:
4,93%
-3,77%
-5,37%
TrungQuốc
2008 và năm 2009 khiến cho các nước có nền kinh tế mạnh hay yếu đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ Suy giảm kinh tế khiến thu nhập của người dân giảm dẫn đến tổng cầu giảm, khi đó tổng cung trong nền kinh tế lại khá cao Do cung > cầu nên dẫn đến GDP thấp
Mức suy giảm thương mại toàn cầu năm 2008 là 9% và là mức suy giảm lớnnhất trong 7 thập kỷ qua Cuộc khủng hoảng tài chính khiến nhu cầu hàng hóa giảm, giao thương giữa các nước cũng giảm làm cho hoạt động sản xuất bị ngưng trệ, lúc này nền kinh tế của các nước đều bị thu hẹp dẫn đến lượng xuất nhập khẩu cũng giảm mạnh Ước tính lượng xuất khẩu ở các nước phát triển là 10%, và ở các nước đang phát triển là 3%
Trong gần 30 năm qua trong tất cả các hoạt động kinh tế thì thương mại luôn là lĩnh vực tăng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng vượt GDP, thế nhưng ảnh hưởng của cuộc
Trang 30Thị trường tài chính của các nước yếu đi nhanh và bị co hẹp nhiều Các chỉ
số chứng khoán toàn cầu giảm sút rộng, sâu và liên tục Từ 1/10-7/10, chỉ số Dow Jones (được hiểu là chỉ số giá chứng khoán bình quân của thị trường chứng khoán New York bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: công nghiệp DJIA , vận tải DJTA và dịch vụ DJUA ) đã mất 1.400 điểm, tương đương mức sụt giảm 13% giá trị và xuống dưới
ngưỡng 9.500 điểm Chỉ số S&P500 ( là chỉ số bao gồm 500 loại cổ phiếu được lựa chọn
từ 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ và có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm rủi ro/lợi nhuận của các công ty hàng đầu) và chỉ số Nasdaq (là chỉ số chứng khoán của tất cả các cổ phiếu phổ thông và chứng khoán tương tự được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ và được xây dựng từ hơn 3000 cổ phiếu bộ phận bao gồm các cổ phiếu của các công ty Mỹ và công ty nước Ngoài, nên chỉ số Nasdaq không chỉ là chỉ số cổ phiếu của chứng khoán Mỹ ) cũng có mức trượt giảm trên 10% sau 5 ngày– mức giảm đi vào lịch sử ở thị trường phát triển nhất thế giới này Tóm lại giá trị vốn hóatoàn thị trường chứng khoán (cổ phiếu) Mỹ mất khoảng 7.500 tỷ USD - mức giảm lớn nhất trong lịch sử thị trường này
Trang 31Nguồn: World-Crisis.net
Nhiều ngân hàng Mỹ phá sản, hàng trăm ngân hàng nộp đơn xin hưởng “Chương trình hỗ trợ “ của chính phủ Mỹ Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10/2008 khi ngay cả những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … cũng lâm nạn Tình trạng đói tín dụng xuất hiện làm cho khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào tình thế khó khăn, điển hình là cuộc Khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010 Northern Rock và Bradford và Bingley plc của Anh cũng lâm vào tình trạng đột biến rút tiền gửi và hậu quả là phải chịu quốc hữu hóa Các ngân hàng khác phải chịu đổi chủ sở hữu bao gồm Catholic Building Society, Alliance & Leicester London Scottish Bank và Dunfermline Building Society phải chịu sự giám sát đặc biệt của Chính phủ Anh…
Khi hệ thống Ngân hàng yếu đi thì việc cho vay sẽ bị hạn chế, thu nợ khó, khiến cho lãi suất cho vay cũng tăng cao, điều này dẫn đến chi phí sản xuất tăng và đương nhiêngiá cả hàng hóa cũng tăng cao, khi đó hàng tồn kho của các doanh nghiệp càng nhiều khiến lượng công nhân mất việc làm tăng lên nhanh chóng, lúc này lạm phát và thất nghiệp của các nước cũng sẽ tăng
Trang 32Giá cả leo thang khiến giá dầu thế giới bất ổn