B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phan Thị Mỹ Hạnh XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phan Thị Mỹ Hạnh
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ
LỚP 12 (BAN NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phan Thị Mỹ Hạnh
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ
LỚP 12 (BAN NÂNG CAO)
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số: 601410
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Mạnh Dung
TP Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh và những người thân trong gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:
TS Nguyễn Mạnh Dung, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng
đề cương và hoàn thành luận văn
PGS.TS.Trịnh Văn Biều, nguyên trưởng khoa Hóa trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, người thầy không những đã dẫn dắt chúng tôi những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà còn luôn luôn quan tâm và chỉ bảo chúng tôi trong quá trình làm luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Hóa, cùng các thầy cô trong khoa của trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và trường Đại học Sư phạm Hà Nội, những thầy cô đã tổ chức và thực hiện thành công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học, tạo cơ hội học tập nâng cao về trình độ chuyên môn về lĩnh vực mà tôi tâm huyết
Phú, Tân Châu, Lương Thế Vinh – tỉnh Tây Ninh và nhiều anh chị em đồng nghiệp đã giúp
đỡ trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm
Xin gửi lời cảm ơn Phòng khoa học công nghệ - sau đại học, các bạn cùng lớp cao học khóa 19, những người đã cùng chúng tôi trao đổi,chia sẻ những khó khăn và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng thời gian
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH 9
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Những điểm mới của đề tài: 3
9 Dự kiến cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm 5
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.2.Phân loại trắc nghiệm 7
1.2.3 Phân tích câu trắc nghiệm 13
1.2.4 Một số lỗi thường mắc phải khi soạn thảo câu TNKQ 15
1.3 Tổng quan về các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học vô cơ 15
1.3.1 Phương pháp bảo toàn 15
1.3.2 Phương pháp tính theo trị số trung bình (khối lượng mol trung bình, số nguyên tử trung bình ) 22
1.3.3 Phương pháp sơ đồ đường chéo 23
Trang 51.3.4 Phương pháp quy đổi 27
1.4 Vận dụng phương pháp giải nhanh vào một số dạng bài toán hóa học vô cơ lớp 12- Nâng cao 31
1.4.1 Bài toán về kim loại 31
1.4.2 Bài toán về oxit kim loại 42
1.4.3 Bài toán về hiđroxit kim loại 42
1.4.4 Bài toán điện phân 50
1.5 Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài toán hóa học có cách giải nhanh trong dạy học phần hoá vô cơ lớp 12 -nâng cao ở các trường trung học phổ thông 51
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra 51
1.5.2 Kết quả điều tra 51
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TNKQ CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 12- NÂNG CAO 54
2.1 Tổng quan về chương trình hóa vô cơ lớp 12 - Nâng cao 54
2.1.1 Cấu trúc phân phối chương trình 54
2.1.2 Mục tiêu cơ bản của nội dung chương trình Hóa học vô cơ lớp 12 - nâng cao 56
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 59
2.3 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học 59
2.3.1 Các bước giải một bài tập hóa học trên lớp 59
2.3.2 Một số ví dụ minh họa sử dụng bài tập hóa học trên lớp 60
2.4 Hệ thống bài toán hóa học TNKQ nhiều lựa chọn 74
2.4.1 Bài tập về kim loại 74
2.4.2 Bài tập về oxit kim loại 83
2.4.3 B ài tập hỗn hợp kim loại và oxit kim loại 86
2.4.4 Bài tập về hiđroxit kim loại 90
2.4.5 Bài toán điện phân 94
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 97
3.1 Mục đích thực nghiệm 97
Trang 63.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 97
3.3 Đối tượng thực nghiệm 97
3.4 Nội dung thực nghiệm 98
3.5 Tiến trình thực nghiệm 98
3.5.1 Chuẩn bị trước thực nghiệm: Tiến hành các công việc sau 98
3.5.2 Tiến hành TNSP 99
3.5.3 Xử lí số liệu thực nghiệm 99
3.6 Kết quả thực nghiệm 101
3.6.1 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích và tham số thống kê đặc trưng 101
3.6.2 Biểu diễn kết quả bằng đồ thị 105
3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
1 Kết luận 112
2 Kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
112
Bảng 3.10: Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi bài kiểm tra số 3
115
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bài tập là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học Qua thực tế, quá trình dạy học có hiệu quả hay không, học sinh có nhận thức tích cực, sáng tạo và hình thành các kĩ năng, kĩ xảo hay không… phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tập được thiết kế có hay không Vì vậy vấn đề bài tập trong dạy học cũng là một chuyên đề đáng lưu ý Hiện nay, người ta thường chú ý đến các bài tập do các chuyên gia biên soạn và giới thiệu trong các sách bài tập hóa học Chúng tôi muốn nói tới hệ thống bài tập do người dạy tự soạn khi lên lớp Một giờ học có lí thú không, có tích cực hóa được hoạt động nhận thức của học sinh không thường phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của bài tập tự soạn này Bởi vì số lượng bài tập hóa học thì rất nhiều, đa dạng, trong khi số tiết giải bài tập rất hạn chế (15 – 20% tổng số tiết học) Vì vậy giáo viên cần chọn bài tập điển hình về nội dung và phương pháp Từ bài tập đó, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau để rút ra kết luận cho những bài tập khác, nghĩa là thông qua một bài tập mà hướng dẫn học sinh phương pháp giải hàng loạt các bài tập có nội dung liên quan
Để thực hiện Nghị quyết số: 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị số TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, Bộ GD & ĐT trong quá trình chỉ đạo và triển khai thực hiện đã áp dụng phương pháp KT-ĐG bằng TNKQ ở các môn Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ trong các kì thi TN THPT và tuyển sinh ĐH - CĐ từ năm học 2006-
14/2001/CT-2007 và tiến tới sẽ áp dụng cho nhiều môn khác KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng TNKQ, đặc biệt là hình thức TNKQ nhiều lựa chọn đã khắc phục được nhiều yếu điểm của phương pháp kiểm tra tự luận: Khối lượng kiến thức được kiểm tra lớn, bao quát chương trình, tránh hiện tượng học tủ, hạn chế hiện tượng quay cóp, gian lận trong thi cử; kết quả đánh giá chính xác, khách quan, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm; việc chấm
chấm và xử lí kết quả của bài thi TNKQ
Với hình thức thi TN hiện nay, HS phải hoàn thành đề thi trong một khoảng thời gian ngắn với số lượng câu hỏi nhiều, mỗi bài toán phải tìm ra đáp án nhanh trong 2 đến 3 phút
Vì vậy, giải nhanh bài toán hóa học có một ý nghĩa quan trọng Việc xây dựng câu hỏi và
Trang 11bài tập TNKQ trong KT- ĐG là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng dạy học nên đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Trường, Trần Trung Ninh, Ngô Ngọc An Tuy nhiên, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống bài toán có cách giải nhanh làm câu TNKQ thì còn tương đối mới và chưa nhiều nên đã tạo sự hứng thú cho bản thân tôi Chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm ra các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học không những góp phần vào việc nâng cao chất lượng KT-ĐG mà còn giúp học sinh phát triển tư duy, rèn khả năng suy luận nhanh và phát triển trí thông minh, góp phần thực hiện thành công mục tiêu dạy học
Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu” Xây dựng và sử
dụng hệ thống bài toán trắc nghiệm khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao)”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống các bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh- phần vô cơ lớp 12 (ban nâng cao) dùng trong dạy học và KT-ĐG kiến thức của học sinh, nhằm góp phần đổi mới phương pháp KT-ĐG và nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn hóa học ở trường THPT
b Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán hóa học
TNKQ có cách giải nhanh trong dạy học phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
(Ban nâng cao)
TNKQ đã xây dựng
Trang 125 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập hóa học TNKQ cóa cách giải nhanh đa dạng, phong phú có chất lượng tốt và sử dụng hợp lí trong dạy học thì sẽ nâng cao được chất
lượng dạy và học hóa học ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến phương pháp TNKQ, đi sâu nghiên cứu về phương pháp TNKQ nhiều lựa chọn
+ Nghiên cứu các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học
+ Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học phần vô cơ lớp 12 (ban nâng cao)
+ Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh trong học dạy học và KT-ĐG ở trường THPT của tỉnh Tây Ninh trong những năm qua
+ Thực nghiệm sư phạm:
+ Sử dụng các phần mềm tin học để lưu trữ, phân tích, xử lý câu, bài trắc nghiệm
7 Phạm vi nghiên cứu
a Về nội dung: Hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần vô cơ ở
lớp 12 (Ban nâng cao)
b Về địa bàn thực nghiệm sư phạm: Tại một số trường THPT của tỉnh Tây Ninh
c Về thời gian thực hiện đề tài: Từ 1.4.2010 đến 30.6.2011
8 Những điểm mới của đề tài:
Chất lượng dạy và học hóa học ở trường PTTH được nâng cao trên cơ sở:
vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao)
Trang 139 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài toán hóa học có cách giải nhanh dưới dạng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Với riêng môn hóa học, hiện nay có rất nhiều phương pháp giải nhanh bài tập Đăc biệt với việc đổi mới hình thức thi bằng TNKQ trong các kì thi TN THPT và tuyển sinh ĐH hiện nay thì việc giáo viên dạy cho học sinh các cách giải nhanh, thông minh và học sinh áp dụng những cách giải này để hoàn thành các bài thi dưới dạng TNKQ trong một thời gian ngắn là một tất yếu Do đó việc nghiên cứu các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học từ trước đến nay đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Chúng tôi xin nêu một vài nghiên cứu gần đây có liên quan đến các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học:
giải nhanh làm câu TNKQ nhiều lựa chọn- phần hóa hữu cơ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ
Chí Minh
pháp giải nhanh làm câu TNKQ nhiều lựa chọn-Hóa học 10(Nâng cao), luận văn thạc sĩ,
ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
tập trắc nghiệm khách quan Hóa học vô cơ ở trường THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
Các đề tài nghiên cứu trên đều có ưu điểm là đưa ra được nhiều phương pháp giải nhanh bài toán học học Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống bài tập chưa phong phú, đa dạng, không bao quát hết các kiến thức cơ bản,cần cung cấp cho học sinh; sự phân dạng bài tập chưa rõ ràng
1.2 Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1.1 T rên thế giới
Trang 15Theo Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan: các phương pháp đo lường và trắc nghiệm đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII – XVIII ở khoa tâm lý Năm 1879 ở châu Âu: phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên được Wichlm Weent thành lập tại Leipzig
Đến năm 1904 Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp trong quá trình nghiên cứu trẻ
em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh
Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh Từ
đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet
Theo giáo sư Trần Bá Hoành [15] vào đầu thế kỷ XX, E.Thorm Dike là người đầu tiên
đã dùng TNKQ như là phương pháp “ khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn học khác
Trong những năm gần đây, trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến
Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của học sinh Năm 1961 có 2126 mẫu trắc nghiệm chuẩn Đến năm 1963 đã sử dụng máy tính điện tử thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng
Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn cho các trường trung học
Ở Nga, trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử dụng kinh nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bị phê phán Đến năm 1962 đã phục hồi khả năng sử dụng trắc nghiệm trong dạy học
Ở Trung Quốc đã áp dụng trắc nghiệm trong kì thi đại học từ năm 1985
Ở Nhật Bản cũng đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm và có một trung tâm quốc gia tuyển sinh đại học phụ trách vấn đề này
Ở Hàn Quốc, từ những năm 1980 đã thay các kì tuyển sinh riêng rẽ ở từng trường bằng
kì thi trắc nghiệm thành quả học tập trung học bậc cao toàn quốc
1.2.1.2 Ở Việt Nam
Có thể nói ở miền Nam trước những năm 1975 TNKQ phát triển khá mạnh Từ năm
1956 đến những năm 1960 trong các trường đại học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi TNKQ ở bậc trung học Năm 1969 trắc nghiệm đo lường thành quả học tập của giáo sư
Trang 16Dương Thiệu Tống được xuất bản [32] Như vậy đã có tài liệu tham khảo về TNKQ cho giáo viên, học sinh và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ
Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ [32] Sau năm 1975 một số trường vẫn áp dụng TNKQ, song có nhiều tranh luận nên không áp dụng TNKQ trong thi
cử
Những nghiên cứu đầu tiên của TNKQ ở miền Bắc là của giáo sư Trần Bá Hoành Năm 1971, ông đã công bố: “Dùng phương pháp test để kiểm tra nhận thức của học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp IX” Một số tác giả khác cũng
đã sử dụng trắc nghiệm vào một số lĩnh vực khoa học chủ yếu là trong tâm lý học và một số ngành khoa học khác chẳng hạn như tác giả Nguyễn Như Ân (1970) dùng phương pháp trắc nghiệm trong việc thực hiện đề tài “ Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lý của sinh viên đại học sư phạm”…
Năm 1993, trường đại học Bách Khoa Hà Nội có cuộc hội thảo khoa học “Kĩ năng test
và ứng dụng ở bậc đại học” (4/12/1993) của tác giả Lâm Quang Thiệp, Phan Hữu Tiết, Nghiêm Xuân Nùng Năm 1994 Vụ Đại học cho in “Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” (tài liệu lưu hành nội bộ) của tác giả Lâm Quang Thiệp
Từ năm 2007 đến nay, hình thức thi trắc nghiệm khách quan đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo áp dụng trong các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH
Từ năm 1998 đến năm 2003, các luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ:
thông trung học của tác giả Nguyễn Thị Khánh, ĐHSP Hà Nội
trung học của tác giả Hoàng Thị Kiều Dung, ĐHSP Hà Nội
của học sinh lớp 12 trường THPT của tác giả Phạm Thị Tuyết Mai, ĐHSP Hà Nội
1.2.2 Phân loại trắc nghiệm
1.2.2.1 Trắc nghiệm tự luận
a Khái niệm: Trắc nghiệm tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập
bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi hay bài toán, học sinh trả lời dưới dạng bài viết trong một khoảng thời gian đã định trước
Trang 17TNTL đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác, rõ ràng
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan, điểm bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất Một bài tự luận thường có ít câu hỏi
vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời
b Các dạng câu trắc nghiệm tự luận
Câu tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tương đối rộng và khái quát, học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận Loại câu trả lời này được gọi là tiểu luận
tương đối hẹp Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nên việc chấm điểm dễ hơn
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn
không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà học sinh phải trả lời bằng một câu hay một từ (trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết)
giới hạn của giáo viên
đúng theo yêu cầu của đề bài
c Ưu - nhược điểm của TNTL
được nhiều mức độ tư duy, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh của học sinh
bài tập định tính và định lượng của học sinh
thích và khả năng diễn đạt các tư tưởng Hình thành cho học sinh thói quen sắp xếp ý tưởng, suy diễn, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp… phát huy tính độc lập, tư duy sáng tạo
Trang 18- Vì số lượng câu hỏi ít nên không thể kiểm tra hết nội dung trong chương trình học, học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ và có tư tưởng quay cóp
1.2.2.2 Trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
a Khái niệm:
Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi TNKQ Trắc nghiệm được gọi là khách quan vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm
Một bài TNKQ gồm nhiều câu hỏi với nội dung kiến thức khá rộng , mỗi câu trả lời thường chỉ thể hiện bằng một dấu hiệu đơn giản Nội dung bài TNKQ cũng có phần chủ quan vì không khỏi bị ảnh hưởng tính chủ quan của người soạn câu hỏi
b Các dạng câu TNKQ:
một trong hai phương án đúng hoặc sai
trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện Vì vậy soạn loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm
học sinh học thuộc lòng hơn là hiểu, ít phù hợp với đối tượng học sinh giỏi
+ Đúng cũng phải đúng hoàn toàn, sai cũng phải sai hoàn toàn
+ Tránh những điều chưa thống nhất
Câu này có hai dãy thông tin, một bên là các câu hỏi và bên kia là câu trả lời Số câu
được ghép thì chất lượng trắc nghiệm càng cao
THCS Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết kiến thức hay những mối tương quan
khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức, để soạn loại câu hỏi này để đo mức trí nâng cao đòi hỏi nhiều công phu Hơn nữa tốn nhiều thời gian đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi của học sinh
Trang 19* Câu trắc nghiệm điền khuyết
Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để trống
Có 2 cách xây dựng dạng này
nào đó để các phương án điền là duy nhất
câu trả lời
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là loại câu được dùng nhiều nhất và có hiệu quả nhất Một câu hỏi nhiều câu trả lời (câu dẫn) đòi hỏi học sinh tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều khả năng trả lời có sẵn các khả năng các phương án trả lời khác nhau nhưng đều có vẻ hợp lý ( hay còn gọi là câu nhiễu )
Chẳng hạn như :
+ Xác định mối tương quan nhân quả
+ Nhận biết các điều sai lầm
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
+ Định nghĩa các khái niệm
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật
+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật
+ Xét đoán vần đề đang tranh luận dưới nhiều quan điểm
Độ tin cậy cao hơn khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, học sinh buộc phải xét đoán phân biệt kỹ trước khi trả lời câu hỏi
Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn người ta có thể đo được khả năng nhờ áp dụng nguyên lý định luật, khả năng khái quát hóa rất hữu hiệu
Trang 20Dùng phương pháp phân tích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định được câu nào quá dễ, câu nào quá khó, câu nào không có giá trị đối với mục tiêu cần trắc nghiệm, có thể xem xét câu nào không có lợi hoặc làm giảm giá trị câu hỏi
Thật sự khách quan khi chấm bài Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh hoặc chủ quan của người chấm
Loại câu này khó soạn và phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì thì cũng có vẻ hợp lí Ngoài ra phải soạn câu hỏi sao cho có thể đo được các mức trí nâng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu
Không thỏa mãn với những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án
Các câu TNKQ nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu TNTL soạn kỹ
Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi
Câu TNKQ loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức độ biết, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy khi soạn câu loại này cần lưu ý:
được, còn các câu nhiễu đều có vẻ hợp lý
động thu hút các học sinh kém hơn
một vấn đề, tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh
Trang 21để học sinh không bị nhầm Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu rõ mình đang được hỏi vấn đề gì ?
dẫn, phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn
hơn thì khả năng đoán mò, may rủi sẽ tăng lên Nhưng nếu có quá nhiều phương án để chọn thì giáo viên khó soạn và học sinh mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
nội dung kiến thức nào đó
ngẫu nhiên, số lần xuất hiện ở mỗi vị trí A, B, C, D, E phải gần như nhau
khác nhau của kiến thức
học sinh
chấm bài rất nhanh và chính xác
quay cóp Việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo đề thi sẽ hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài
lập luận, không luyện tập cho học sinh cách hành văn, cách trình bày, không đánh giá được khả năng tư duy, ý thức, thái độ của học sinh
Trang 221.2.3 Phân tích câu trắc nghiệm
1.2.3.1 Mục đích và phương pháp phân tích các câu hỏi trắc nghiệm
* Mục đích:
sinh kém
phải sửa đổi như thế nào cho tốt hơn
số người làm bài trắc nghiệm
* Độ khó trung bình( độ khó vừa phải) của câu hỏi trắc nghiệm:
100% + % may rủi
Độ khó trung bình của câu trắc nghiệm =
2
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 75% học sinh trả lời đúng câu đó
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 62,5% học sinh trả lời đúng câu đó
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 60% học sinh trả lời đúng câu đó
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 50% học sinh trả lời đúng câu đó
Trang 231.2.3.3 Độ phân cách câu trắc nghiệm
được học sinh giỏi và học sinh kém
giỏi (nhóm cao) và 27% số bài có điểm thấp nhất xếp vào nhóm kém (nhóm thấp), tính độ phân cách câu theo công thức sau:
D = x 100%
Số người một nhóm
Để tính độ phân cách câu trắc nghiệm, ngoài phương pháp như trên, ta có thể tính toán một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn với máy vi tính bằng phương pháp tính hệ số tương quan câu hỏi- tổng điểm hay hệ số tương quan điểm nhị phân Với phương pháp này, ta tính tương quan cặp giữa tổng điểm (điểm toàn bài trắc nghiệm) của học sinh trong nhóm với điểm số về mỗi câu trắc nghiệm (đúng là 1, sai là 0) của các học sinh trong nhóm ấy
* Ý nghĩa của độ phân cách:
Ta thấy số người làm đúng ở nhóm cao hay số người làm đúng ở nhóm thấp đều nhỏ hơn hoặc bằng số người một nhóm, như vậy D có giá trị nằm trong khoảng +100% đến -100%
người ở nhóm thấp đều làm sai câu đó D =-100% nếu tất cả những người ở nhóm cao đều làm sai câu đó và tất cả những người ở nhóm thấp đều làm đúng câu đó Đây là những câu
có độ phân cách tuyệt đối, thường ta phải loại bỏ
1.2.3.4 Phân tích các mồi nhử
Ngoài việc phân tích độ khó và độ phân cách câu trắc nghiệm, ta có thể làm cho câu trắc nghiệm trở nên tốt hơn bằng cách xem xét tần số đáp ứng sai (số người chọn trong từng mồi nhử) cho mỗi câu hỏi Nghĩa là với câu trả lời đúng, số học sinh trả lời đúng trong
Trang 24với câu trả lời sai, số học sinh trong nhóm cao lựa chọn phải ít hơn số học sinh trong nhóm thấp
1.2.3.5 Các bước phải làm khi soạn các mồi nhử
Trong câu TNKQ nhiều lựa chọn, bên cạnh phương án đúng thì có những phương án sai(còn gọi là câu nhiễu hay mồi nhử) Việc xây dựng những phương án sai có sức hấp dẫn đối với học sinh (mồi nhử) là khó nhất Câu trắc nghiệm được đánh giá là tốt khi các phương án đưa ra đều có hiệu quả đúng như mục đích của nó Câu nhiễu(mồi nhử) phải có
vẽ hợp lí và thu hút đối với học sinh kém và làm “boăn khoăn” đối với học sinh khá Một mồi nhử mà không có học sinh nào lựa chọn thì không có tác dụng gì
Vậy, muốn được các “mồi nhử hay” thì việc xây dựng các mồi nhử phải dựa trên những sai lầm mà học sinh hay mắc phải về mặc lí thuyết hay giải bài tập Nên chọn những câu sai thường gặp của chính học sinh chứ không phải là những câu nhiễu do chonhs người soạn tự nghĩ ra Thực tế từng thấy có câu nhiễu do giáo viên nghĩ ra và cân nhắc rất kĩ nhưng vẫn không hấp dẫn học sinh
Để có được các mồi nhử tốt cần tiến hành theo các bước sau:
trả lời
những câu trả lời sai
1.3 Tổng quan về các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học vô cơ
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để giải bài toán hóa học Với hình thức thi TNKQ đòi hỏi học sinh cần tìm ra những phương pháp giải nhanh nhằm tiết kiệm thời
gian Trong phạm vi đề tài, tôi đi sâu nghiên cứu một số phương pháp sau:
1.3.1 Phương pháp bảo toàn
a Định luật bảo toàn khối lượng
Trang 25Nguyên tắc: “Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng
các ch ất tạo thành trong phản ứng”
Dù phản ứng xảy ra vừa đủ hay có chất dư thì ta luôn có:
Từ ĐLBT khối lượng trong 1 quá trình hóa học, ta có các hệ quả sau:
tổng khối lượng các ion có trong chất đó, hoặc bằng tổng khối lượng các nguyên tố trong
học thông thường, tổng khối lượng một nguyên tố trong các chất phản ứng luôn bằng tổng
khối lượng nguyên tố đó trong các chất sau phản ứng
mol nguyên tố X trong hỗn hợp sau phản ứng
Để áp dụng tốt phương pháp này nên:
hệ số) để biểu diễn các biến đổi cơ bản của nguyên tố cần quan tâm
sơ đồ hợp thức, sau đó căn cứ vào chất đầu và chất cuối, bỏ qua các phản ứng trung gian
Một số ví dụ:
Ví d ụ 1: Thổi từ từ V lít hỗn hợp khí (đktc) gồm CO và H2 đi qua một ống
( Σn X ) trước pư = ( Σn X ) sau pư
Trang 2632 ,
Ví dụ2: Cho 2,48 g hỗn hợp 3 kim loại Fe, Al, Zn phản ứng vừa hết với dung dịch
Chọn đáp án B
Ví dụ 3: Hỗn hợp chất rắn A gồm 0,1 mol Fe2O3 và 0,1 mol Fe3O4 Hòa tan hoàntoàn A bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch B Cho NaOH dư vào B thu được kết tủa C Lọc kết tủa, rửa sạch rồi đem nung trong không khí đến khối lượng không đổi
Trang 27thu được m gam chất rắn D Gía trị của m là
+ +
2
2 H O t O
Ví dụ 4: Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp gồm 0,12 mol FeS2 và a mol Cu2S vào dung dịch
FeS Fe (SO ) Cu S CuSO
0,12 mol 0,06mol a mol 2amol
b Định luật bảo toàn điện tích
• Bảo toàn điện tích electron(trong các phản ứng oxi hóa- khử)
Nguyên tắc: “Trong phản ứng oxi hóa – khử, tổng số mol electron mà các chất khử
cho bằng tổng số mol electron mà các chất oxi hóa nhận”
Trang 28Cần lưu ý:
của các chất khử và chất oxi hóa và viết 2 sơ đồ: sơ đồ chất khử nhường e và sơ đồ chất oxi
sơ đồ, số lượng nguyên tử của mỗi nguyên tố ở hai vế phải bằng nhau; và điện tích hai vế phải bằng nhau
có bao nhiêu chất cho e và số mol e từng chất, có baqo nhiêu chất nhận e và số mol e từng chất( có thể phải đặt ẩn số)
Ví d ụ 1 : Khi cho m gam Fe tác dụng vừa đủ với dung dịch HNO3 thu được dung
Ví d ụ 2: Hòa tan 11,2 g Fe bằng dung dịch H2SO4 (loãng, dư) thu được dung dịch X
Trang 29Ví d ụ 3: Thổi luồng không khí đi qua m (gam) bột sắt nung nóng, sau một thời gian
đktc) Khối lượng của m là
• Bảo toàn điện tích ion
Nguyên tắc:“Trong dung dịch các chất điện ly trung hoà về điện, tổng điện tích R(+)R
Trang 30
Với nRđiện tích R= nRionR.điện tích ion
Từ ĐLBT điện tích, ta có mối quan hệ số mol các chất và ion sau:
từ đó thiết lập phương trình tổng điện tích dương bằng tổng điện tích âm
Trang 31Theo ĐLBTĐT ion: ∑nRđt(+) R = ∑nRđt(–) R ⇔ 0,12.3 + 2a.2 = 0,24.2 + a.2 ⇒
Cl NO CO
2 2 1 1
n n
M n M n
+
+
với MR1R < M < MR2R Giá trị trung bình dùng để biện luận tìm ra nguyên tử khối hoặc phân tử khối hay số nguyên tử trong phân tử hợp chất
Sau đây là một số ví dụ:
Ví dụ1 Hỗn hợp X gồm hai kim loại A, B nằm kế tiếp nhau trong cùng một nhóm IA
Lấy 6,2 gam X hoà tan hoàn toàn vào nước thu được 2,24 lít hiđro(đktc) A, B là
Trang 32Ví dụ 2 Hòa tan 5,94 gam hỗn hợp hai muối clorua của hai kim loại A và B (cùng
–
của hai muối clorua lần lượt là
Ví dụ 3 Hoà tan hoàn toàn 4,68 gam hỗn hợp muối cacbonat của hai kim loại A và B
0,05
Biện luận: A < 33,6 → A là Mg = 24; B > 33,6 → B là Ca = 40
Đáp án B
1.3.3 Phương pháp sơ đồ đường chéo
Nguyên tắc của phương pháp: “ Dựa vào mối quan hệ về khối lượng hoặc về thể tích của 2 dung dịch có cùng một loại chất tan đem trộn lẫn vào nhau”
Trang 33Phương pháp đường chéo- một kĩ thuật rất hay gặp trong các bài toán hóa học phổ
Được sử dụng trong các bài toán trộn lẫn dung dịch có cùng chất tan, cùng loại nồng
độ hoặc trộn lẫn các chất khí không tác dụng với nhau hoặc là trộn các chất khí khác nhau
mà giữa chúng không xảy ra phản ứng
C (%) là nồng độ dung dịch thu được sau khi trộn lẫn
Với CR1R < C < CR2
• Các chất cùng nồng độ mol
M(2) M 1
Trang 34d là khối lượng riêng dung dịch thu được sau khi trộn lẫn
- Ch ất rắn coi như dung dịch có C = 100%
- Dung môi coi như dung dịch có C = 0%
Sau đây là một số ví dụ:
Ví d ụ 1 Cho 6,12g Mg tác dụng với dung dịch HNOR3R thu được dung dịch X chỉ có
Hướng dẫn giải: Gọi x: số mol NO, y: số mol NR2RO
Trang 358y 2y y
⇒ N O 2 = =NO
Ví dụ 2 Cần trộn VR1R ml dung dịch HCl 2M với VR2R ml dung dịch HCl 0,5M thu được
Ví d ụ 3: Để pha được 500 ml dung dịch nước muối sinh lý (C = 0,9%) cần lấy V
Trang 36⇒ m =20⇒ m 80 g =
1.3.4 Phương pháp quy đổi
Khái niệm : Quy đổi là một phương pháp biến đổi toán học nhằm đưa bài toán hóa
học từ các dữ kiện ban đầu là một hỗn hợp phức tạp về dạng đơn giản hơn, qua đó các phép
tính trở nên đơn giản và thuận tiện hơn
Nguyên tắc của phương pháp quy đổi là dựa trên nguyên tắc bảo toàn nguyên tố và
bảo toàn điện tích (bảo toàn số oxi hóa)
Phân loại: Có nhiều dạng quy đổi khác nhau:
1) Quy đổi phân tử
nhiên các hỗn hợp này nếu dùng phương pháp quy đổi nguyên tử sẽ đơn giản hơn
2) Quy đổi thành nguyên tử
Là phương pháp quy đổi hỗn hợp nhiều chất phức tạp thành các nguyên tử hoặc đơn chất tương ứng
Trang 37Thay tác nhân oxi hóa (hoặc khử) này bằng tác nhân oxi hóa (hoặc khử) khác (quy về
số mol electron trao đổi như nhau)
Các chú ý khi áp dụng phương pháp quy đổi:
lượng hỗn hợp
• Quy hỗn hợp X về hai chất Fe (x mol) và Fe R 2 R O R 3 R (y mol)
Fe + 6HNOR3R → Fe(NOR3R)R3R + 3NOR2R + 3HR2RO
Trang 38• Quy hỗn hợp X về hai chất FeO và Fe R 2 R O R 3 R :
Ngoài ra cũng có thể quy đổi hỗn hợp trên về 1 "chất" tương đương
• Quy hỗn hợp X về một chất là Fe R x R O R y R (FeRxRORyR chỉ là công thức giả định)
3 6 2 7
=
× − × = 0,025 mol
Nhận xét: Quy đổi hỗn hợp gồm Fe, FeO, Fe R2ROR3R, FeR3ROR4R về hỗn hợp hai chất là FeO,
FeR2ROR3Rsẽ tính toán đơn giản nhất
Trang 39lượng không đổi, được m gam hỗn hợp rắn Z Giá trị của m là
A 11,650 B 12,815 C 17,545 D 15,145
Hướng dẫn giải:
Quy đổi hỗn hợp trên thành Fe (x mol) và S (y mol) ta có:
Ví d ụ 3(ĐH khối B-2007): Nung m gam bột sắt trong oxi, thu được 3 gam hỗn
(ở đktc) (là sản phẩm khử duy nhất) Giá trị của m là
Cách 2: Quy đổi tác nhân oxi hóa:
0
Trang 40trong bài toán thành 1 quá trình oxi hóa duy nhất bằng oxi
3,6 gam
160
6 , 3
1.4 Vận dụng phương pháp giải nhanh vào một số dạng bài toán hóa học vô cơ lớp 12- Nâng cao
1.4 1 Bài toán về kim loại
1.4 1.1 Kim loại tác dụng với axit
a UKim loại + 1 axitU
Dạng 1.U Kim loại tác dụng với dung dịch axit loại 1: HCl, H R 2 R SO R 4 R loãng (H P
+
PR Rđóng vai trò là chất oxi hóa)