Việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học không những giúp HS vận dụng kiến thức, phát triển tư duy tích cực mà còn giúp HS nhìn nhận được tính thiết thực của hóa học từ đó nâng cao hứn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ SỬU
Thành phố Hồ Chí Minh, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ này là một công trình nghiên cứu khoa học rất quan trọng đối với bản thân tôi vì qua đó tôi có điều kiện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình Trong quá trình làm luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các em học sinh và đặc biệt là sự quan tâm, chia sẻ của gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn:
- PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, cô là người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Ngoài những góp ý về chuyên môn, những lời động viên quan tâm thăm hỏi của cô đã khích lệ tôi rất nhiều
- PGS.TS Trịnh Văn Biều, thầy đã quan tâm giúp đỡ cho việc học tập và nghiên cứu của tôi trong suốt quá trình học tập ở trường Đại học Sư phạm TP.HCM
- Các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè đã góp ý, giúp đỡ tôi về mặt chuyên môn cũng như về thực nghiệm để luận văn được trọn vẹn hơn
- Các em học sinh đã tham gia nhiệt tình, tích cực vào quá trình thực nghiệm
sư phạm
- Và cuối cùng là những người thân trong gia đình tôi, đó là những người luôn động viên và tạo mọi điều kiện về cả thời gian, tinh thần, vật chất… để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Tác giả Phan Thị Ngọc Bích
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Ch ương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học [8], [52], [59] 5
1.3 Tính tích cực 6
1.3.1 Khái niệm tư duy tích cực [58] 6
1.3.2 Vai trò của tính tích cực trong học tập [10] 7
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập [10] 8
1.3.4 Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập [10] 9
1.4 Phương pháp dạy học tích cực 10
1.4.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực [34] 10
1.4.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14], [34] 10
1.4.3 Các phương pháp dạy học tích cực [10], [33], [48], [52] 12
1.4.4 Lựa chọn phương pháp dạy học trong dạy học hoá học 15
1.5 Bài tập hoá học 15
1.5.1 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học [56] 15
1.5.2 Phân loại bài tập hóa học [56] 16
1.5.3 Các dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức [52], [48]17 1.6 Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập hóa học ở một số trường THPT20 Ch ương 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 11 THPT THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC 26
2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim lớp 11 theo hướng dạy học tích cực 26
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim lớp 11 28
2.3 Hệ thống bài tập chương Nitơ – Photpho 31
Trang 52.3.1 Bài tập định tính 32
2.3.2.Bài tập định lượng 51
2.4 Hệ thống bài tập chương Cacbon – Silic 62
2.4.1 Bài tập định tính 63
2.4.2 Bài tập định lượng 74
2.5 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim lớp 11 theo hướng dạy học tích cực 84
2.5.1 Sử dụng hệ thống bài tập giúp học sinh hình thành kiến thức mới 84
2.5.2 Sử dụng hệ thống bài tập giúp học sinh củng cố, ôn tập kiến thức 84
2.5.3 Sử dụng hệ thống bài tập giúp học sinh nâng cao kiến thức 85
Ch ương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87
3.1 Mục đích thực nghiệm 87
3.2 Đối tượng thực nghiệm 87
3.3 Tiến trình thực nghiệm 88
3.4 Kết quả thực nghiệm 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC : đối chứng ĐHSP : Đại học Sư phạm đktc : điều kiện tiêu chuẩn
GV : giáo viên
NXB : nhà xuất bản PPDH : phương pháp dạy học PTHH : phương trình hóa học SGK : sách giáo khoa
THPT : trung học phổ thông
TNSP : thực nghiệm sư phạm Tp.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Danh sách các trường điều tra thực trạng 21
Bảng 1.2 Mức độ cần thiết và mức độ sử dụng hệ thống bài tập để tổ chức hoạt động học tập theo hướng dạy học tích cực 22
Bảng 1.3 Mức độ bao quát kiến thức và các dạng bài của bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập 23
Bảng 1.4 Mức độ cần thiết sử dụng thêm hệ thống bài tập để nâng cao kết quả học tập của học sinh 23
Bảng 1.5 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực phù hợp với HS 23
Bảng 1.6 Mức độ cần thiết của các biện pháp để xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực có hiệu quả 23
Bảng 2.1 Cấu trúc hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho 31
Bảng 2.2 Cấu trúc hệ thống bài tập chương Cacbon -Silic 62
Bảng 3.1 Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng 87
Bảng 3.2 Phân phối kết quả bài kiểm tra số 1 92
Bảng 3.3 Phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 1 92
Bảng 3.4 Phân loại kết quả của bài kiểm tra số 1 94
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 1 95
Bảng 3.6 Phân phối kết quả bài kiểm tra số 2 95
Bảng 3.7 Phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 2 96
Bảng 3.8 Phân loại kết quả của bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.9 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.10 Phân phối kết quả bài kiểm tra số 3 98
Bảng 3.11 Phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 3 99
Bảng 3.12 Phân loại kết quả của bài kiểm tra số 3 101
Bảng 3.13 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 3 101
Bảng 3.14 Phân phối kết quả 3 bài kiểm tra 102
Bảng 3.15 Phân phối tần suất lũy tích của 3 bài kiểm tra 102
Bảng 3.16 Phân loại kết quả của 3 bài kiểm tra 104
Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của 3 bài kiểm tra 104
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 1 93
Hình 3.2 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 2 93
Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 3 94
Hình 3.4 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 4 94
Hình 3.5 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 5 94
Hình 3.6 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 1 96
Hình 3.7 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 2 97
Hình 3.8 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 3 97
Hình 3.9 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 4 97
Hình 3.10 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 5 97
Hình 3.11 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 1 99
Hình 3.12 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 2 100
Hình 3.13 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 3 100
Hình 3.14 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 4 100
Hình 3.15 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 5 101
Hình 3.16 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 103
Hình 3.17 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 103
Hình 3.18 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 103
Hình 3.19 Đồ thị đường luỹ tích 3 bài kiểm tra 104
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay các phương pháp dạy học (PPDH) nói chung và PPDH hoá học nói riêng đang tìm cho mình những hướng đổi mới nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện đại Một trong những hướng đổi mới hiện nay là nâng cao tính tích cực, chủ động, tìm tòi sáng tạo của người học; giúp nguời học có thể phát hiện và giải quyết vấn đề
Vì vậy việc nghiên cứu vận dụng các PPDH tích cực, đổi mới các PPDH cụ thể, khai thác những mặt tích cực của chúng trong dạy học là những nhiệm vụ hàng đầu đặt lên vai của người giáo viên (GV) đứng lớp Sử dụng bài tập hoá học là một PPDH mang lại hiệu quả cao trong việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh (HS), giúp HS làm quen với việc phát hiện và giải quyết vấn đề
Mặt khác, với đặc thù là một môn học thực nghiệm (TN) kết hợp với lí thuyết, nội dung học tập môn hoá học gắn liền với những quy luật khái quát đòi hỏi tư duy trừu tượng về giới
tự nhiên đồng thời lại gắn bó mật thiết với đời sống xã hội Việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học không những giúp HS vận dụng kiến thức, phát triển tư duy tích cực mà còn giúp HS nhìn nhận được tính thiết thực của hóa học từ đó nâng cao hứng thú học tập môn học
Hiện nay, ngoài sách giáo khoa (SGK) ra còn rất nhiều tài liệu khác đề cập đến các bài tập hoá học Tuy nhiên khi sử dụng chúng GV thường phải mất nhiều thời gian để tổng hợp
vì mỗi cuốn thường hướng đến một khía cạnh nhất định, mặt khác các sách này thường là bài tập đơn thuần chưa có hướng dẫn sử dụng chúng sao cho hiệu quả Với mong muốn có một nguồn tư liệu phong phú và vận dụng những phương pháp sử dụng bài tập trong việc phát huy tính tích cực nhận thức cho HS tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hóa học THPT theo hướng dạy học tích cực”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng hệ thống bài tập phần hóa học phi kim lớp 11 THPT và nghiên cứu phương
pháp sử dụng chúng trong dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS góp phần đổi mới PPDH hóa học và nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở trường THPT
3 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Trang 10- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài về các vấn đề: tính tích cực trong học tập của HS, bài tập hóa học và vai trò của nó trong việc phát triển năng lực nhận thức của HS
- Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng bài tập hóa học phần phi kim theo hướng tích cực ở trường THPT
- Xây dựng các nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
- Xây dựng hệ thống bài tập phần hóa học phi kim lớp 11 THPT
- Nghiên cứu đề xuất các phương pháp sử dụng hệ thống bài tập nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học phần hóa học phi kim lớp 11 THPT
- TNSP để đánh giá tính phù hợp của hệ thống bài tập đã xây dựng và hiệu quả của các phương pháp sử dụng bài tập hóa học đã đề xuất
4 KH ÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần hóa học phi kim lớp 11 THPT theo hướng dạy học tích cực
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về nội dung: Chương 2 và chương 3 phần hóa học phi kim lớp 11 THPT – chương trình chuẩn
- Về địa bàn: Thực trạng nghiên cứu được thực hiện trên nhiều địa phương phía Nam như:
Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Tây Ninh, Bình Dương… Quá trình thực nghiệm được thực hiện ở các trường trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Thuận
- Về thời gian: Từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 11 năm 2011
• Các phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
• Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Quan sát
Trang 11- Điều tra, thăm dò lấy ý kiến GV về chất lượng hệ thống bài tập và phương pháp sử dụng chúng trong dạy học
- Phương pháp chuyên gia
- Thực nghiệm sư phạm
• Phương pháp xử lí thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả TNSP
Nếu lựa chọn và xây dựng được một hệ thống bài tập đa dạng, phong phú ở nhiều mức
độ nhận thức khác nhau cùng với các phương pháp sử dụng chúng theo hướng dạy học tích cực thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở trường THPT
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập phần hoá học phi kim lớp 11 THPT theo hướng
đa dạng hóa và tăng dần về mức độ nhận thức
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trên để thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tích cực
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đến với đề tài này, đối với tôi đó là một quá trình tích luỹ và có mầm mống từ lâu Từ ngày học THPT, tôi nhận thấy rằng nhiều bạn HS không học tập một cách tích cực, chủ động, họ đã không tìm được niềm vui trong học tập và dẫn đến kết quả học tập không tốt
Từ thực tế đó mà từ những năm còn là sinh viên cho đến nay tôi thường chú trọng hướng nghiên cứu tạo hứng thú, từ đó phát huy năng lực tự học, sáng tạo, chủ động tích cực của
HS
Mặt khác sau nhiều năm đi dạy, tôi nhận ra một thực tế là các biện pháp tạo hứng thú học tập như sử dụng chương trình hoá học vui, lồng ghép các kiến thức lịch sử hoá học vào bài giảng…chỉ mới là một bước khởi đầu trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Tiếp theo đó GV phải có phương tiện có thể tổ chức các hoạt động học tập giúp HS có thể duy trì được sự hứng thú trong học tập, từ đó có thể tham gia một cách chủ động, tích cực vào tiến trình dạy học Một trong những phương tiện để GV có thể làm được điều đó là bài tập hoá học Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng bài tập theo hướng dạy học tích cực như:
- Đinh Thị Lan (1998), Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua hệ thống bài tập lí thuyết phần hoá vô cơ lớp 11 ban khoa học tự nhiên, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
Trường ĐHSP Hà Nội
- Lê Trọng Tín (2006), Những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hoá học, Tài
liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kì III (2004-2007), Trường ĐHSP TP.HCM
- Nguyễn Thị Hà (2005), Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về hợp chất hữu cơ có nhóm chức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học hoá học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh THPT qua bài tập hoá học vô cơ, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
- Bùi Thị Hằng (2008), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần các nguyên tố phi kim lớp 11 ban nâng cao theo xu hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, Luận văn
thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
Trang 13- Thái Hải Hà (2008), Đổi mới phương pháp dạy học hoá học lớp 10 theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường ĐHSP TP.HCM
- Triệu Thị Kim Dung (2009), Vận dụng phương pháp dạy học bằng câu hỏi trong giảng dạy nội dung dẫn xuất chứa oxi của hidrocacbon - chương trình hoá học lớp 11 – THPT nâng cao góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, Khoá luận tốt nghiệp,
Trường ĐHSP Hà Nội
- Tống Đức Huy (2010), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan phần vô cơ 11 – chương trình nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của học sinh THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường ĐHSP TP.HCM
Các nghiên cứu trên đã trình bày khá đầy đủ về phần cơ sở lí luận của đề tài, ngoài ra mỗi nghiên cứu đều có những đóng góp mới trong phạm vi nghiên cứu của mình Tuy nhiên các nghiên cứu trên còn có những hạn chế như: đa số các nghiên cứu chưa đưa ra các nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập; các nghiên cứu trên hầu hết tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập mà chưa đề cập nhiều đến phương pháp sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng sao cho hiệu quả trong quá trình dạy học Mặt khác trong phạm vi bài tập dùng cho chương trình hoá học lớp 11 THPT chưa có nhiều tác giả nghiên cứu
1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học [8], [52], [59]
Luật Giáo dục (2005) tại điều 28.2 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra ở trên thì đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách của
ngành giáo dục nước ta trong những năm gần đây Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen
và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Ngoài ra PPDH tích cực còn giúp cho quá trình học trở thành quá trình kiến tạo tri thức, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Dạy học cũng chú trọng đến việc hình thành các năng lực tự học,
Trang 14sáng tạo, hợp tác cho HS Những điều này rất cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển của xã hội Cụ thể hoá những mục đích trên, PPDH hiện nay được đổi mới theo những xu hướng đổi mới cơ bản sau:
1 Phát huy tính tích cực, tự học, chủ động sáo tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển từ lối học thông báo tái hiện sang tìm tòi khám phá
2 Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp
3 Kết hợp sử dụng có chọn lọc và hiệu quả cá PPDH hiện đại với việc khai thác những yếu
tố tích cực của các PPDH truyền thống
4 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
5 Cá thể hoá việc dạy học
6 Cải tiến việc đánh giá và kiểm tra kết quả quá trình dạy học
7 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống
Các xu hướng đổi mới PPDH này đã được cụ thể hóa qua các PPDH hiện đại đã và đang được áp dụng trong dạy học ở các trường THPT
1.3 Tính tích cực
1.3.1 Khái niệm tư duy tích cực [58]
Theo GS.BS Đặng Phương Kiệt tư duy tích cực là một chủ đề rộng lớn nên cần phải tiếp cận theo quan điểm tâm lí học nhân văn và phương pháp tâm sinh lí xã hội Có thể tóm
tắt bằng 1 số nét khái quát như sau:
• Về mặt sinh học
Tư duy cũng như tất cả các hoạt động của con người đều tiêu hao năng lượng Đây là dạng năng lượng tâm trí (psychoenergy), nó cũng bắt nguồn từ năng lượng vật chất (calorie) nhưng lại có khả năng tái tạo ra năng lượng Tư duy tích cực sẽ hoạt hóa các chức năng sinh
lý khác như hệ nội tiết, hệ miễn dịch và nhất là hoạt hóa các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters) như serotonine, dopamine (gây hưng phấn)…Nhờ vậy, con người trở nên vui vẻ hơn, sảng khoái hơn, yêu đời, tự tin, sáng suốt và dễ dàng thực hiện những hành
vi tích cực, có lợi cho bản thân và cho mọi người Trái lại, tư duy tiêu cực chỉ làm tiêu hao năng lượng, gây ức chế các chức năng sinh lý khác như suy giảm các chất nội tiết, suy giảm
chức năng của hệ miễn dịch (dễ bị lây bệnh/ung thư), các chất dẫn truyền bị ách tắc, dẫn tới làm tê liệt đời sống cảm xúc, trí tuệ, vận động…
Trang 15• Về mặt tâm lý
Tư duy tích cực là một bộ phận (lòng tự tin) giúp cá nhân tự khám phá ra tất cả những tiềm năng (potential) vô tận vốn ẩn chứa trong sâu thẳm mỗi con người Nhờ năng lượng được hoạt hóa, được đánh thức (arousal), vô vàn tài năng được bộc lộ và có thể tạo ra vô vàn của cải cho xã hội Những năng lực, khả năng, tài năng đó ta thường gọi là nội lực (inner resources), là điều kiện cốt lõi giúp con người tự vượt lên chính mình, vượt qua mọi thử thách, tự khẳng định và trở thành một nhân cách tự chủ, độc lập Ngược lại, tư duy tiêu
cực gây ức chế, tiến tới triệt tiêu mọi ước muốn, nhu cầu, mọi tiềm năng mà phần lớn không được nhận ra, không dám khám phá, khiến con người tự đánh mất lòng tự tin, lòng tự trọng, biến thành một nhân cách đầy mặc cảm, tự ti, sợ hãi, dồn nén, dao động, không tự quyết đoán, dễ bị áp lực từ mọi phía, trở thành một nhân cách lệ thuộc, một sinh thể ký sinh, tự đánh mất những phẩm chất đích thực của một con người
• Về mặt xã hội
Tư duy tích cực là nguồn sáng tạo trong mỗi con người, là khả năng sáng tạo của mọi cá nhân Trong một cộng đồng xã hội, hay trong phạm vi hẹp như gia đình, những thành viên
có tư duy tích cực sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh, một xã hội đầy tính nhân văn, giúp
xã hội đó tự nó tạo ra sức mạnh đầy quyền lực và lấn át những tư duy tiêu cực, mà có thể sẽ không cần một sự can thiệp nào từ bên ngoài Ngược lại, những tư duy tiêu cực nếu cứ tồn tại ở đâu đó trong từng con người - từng cá nhân - không bị loại trừ hoặc hóa giải, sẽ có xu hướng phát triển thành một môi trường bệnh hoạn, làm xói mòn nhiều giá trị, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng của loài người…
Vì vậy, việc tư duy tích cực và thực hành tư duy tích cực là điều cần thiết cho tất cả mọi người, mang lại lợi ích cho từng cá nhân, từng gia đình và cả cộng đồng thế giới
1.3.2 Vai trò của tính tích cực trong học tập [10]
Theo I.U.C Babanxki, tính tích cực trong học tập được hiểu là: “sự phản ánh vai trò tích cực của cá nhân HS trong quá trình học, nhấn mạnh rằng, HS là chủ thể của quá trình học chứ không phải là đối tượng thụ động Tính tích cực của HS không chỉ tập trung vào việc ghi chép, ghi nhớ đơn giản hay thể hiện sự chú ý mà còn hướng HS tự lĩnh hội các tri thức mới, tự nghiên cứu các sự kiện, tự rút ra kết luận và tự khái quát sao cho dễ hiểu, tự cụ thể kiến thức mới nhằm tiếp thu kiến thức mới”
Trang 16Theo GS Hà Thế Ngữ thì tính tích cực hoạt động nhận thức của HS là sự ý thức được nhiệm vụ học tập từng bộ môn, từng bài học thông qua việc HS hăng say học tập, từ đó tự mình ra sức hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự mình khắc phục khó khăn để nắm vững tri thức, kỹ năng mới và nắm tài liệu một cách tự giác Tự giác nắm kiến thức nghĩa là với sự hướng dẫn của GV, HS tự nắm bản chất của sự vật, hiện tượng mà tri thức đó phản ánh, biến tri thức thành vốn riêng của mình, thành một bộ phận của thuộc tính nhân cách
Như vậy ta có thể coi tính tích cực trong học tập là sự tự giác tìm tòi, nắm vững tri thức
và vận dụng tri thức ấy một cách thành thạo, sáng tạo vào thực tiễn Tích cực hoá hoạt động nhận thức tức là chuyển người học từ vị trí thụ động sang chủ động, giúp người học tìm thấy niềm say mê hứng thú trong học tập HS chỉ nắm vững tri thức, hình thành cho mình những
kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực tư duy sáng tạo để từ đó hình thành và phát triển nhân cách khi các em tích cực nhận thức, có động cơ đúng đắn trong quá trình học tập Ngoài ra tính tích cực còn là một trong những điều kiện quan trọng để HS đạt kết quả cao trong học tập vì tính tích cực giúp khả năng ghi nhớ của con người tốt hơn Kiến thức có được nhờ quá trình tích cực nhận thức của HS sẽ tồn tại vững chắc hơn Do đó, tính tích cực sáng tạo trong học tập có vai trò rất quan trọng trong việc tiếp thu và nắm vững tri thức
Kết quả học tập của HS phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt dộng nhận thức nên việc học tập chỉ có hiệu quả cao khi GV phát huy hết khả năng tích cực sáng tạo của HS
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập [10]
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập ở HS như thái độ, nhu cầu, hứng thú, động cơ, ý chí, sức khoẻ, môi trường,…Trong đó yếu tố nhu cầu, động cơ và hứng thú
có ảnh hưởng rất sớm đến tính tích cực của HS
Theo tâm lý học, sự phản ánh thế giới khách quan dưới lăng kính chủ quan của chủ thể phụ thuộc vào các thuộc tính của nhân cách, trước hết là về mặt tình cảm Đối với những sự vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, sở thích, chủ thể sẽ hình thành niềm tin, ý chí hành động Đây là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người có hành động tích cực, giúp họ vượt qua tất cả khó khăn trở ngại để đạt được mục đích đề ra Và khi đã hình thành niềm tin,
ý chí chi phối được hành động thì cũng là lúc chủ thể xác định được động cơ thúc đẩy hoạt động
Các nhà tâm lí học thường chia các động cơ học tập ra làm 2 loại là động cơ bên trong
và động cơ bên ngoài:
Trang 17- Động cơ bên trong hay động cơ cá nhân: là sự hứng thú, ham thích của cá nhân muốn hoàn thiện tri thức
- Động cơ bên ngoài hay động cơ xã hội: là nghĩa vụ của bản thân đối với sự kỳ vọng hoặc các yêu cầu của gia đình, bạn bè, xã hội
Với một số HS có nghị lực và ý chí cao, động cơ bên trong chiếm phần trội hơn, nhưng với một số khác thì động cơ bên ngoài lại chiếm ưu thế Các tác động từ bên ngoài có rất nhiều dạng, ví dụ như: lo sợ bị trừng phạt hay vì phần thưởng có sức hấp dẫn, muốn làm vui lòng cha mẹ, muốn giành được uy tín để khẳng định mình với bạn bè…
Tính tích cực trong học tập của HS đòi hỏi phải có động cơ từ bên trong bởi lẽ động cơ bên trong có tính bền vững hơn Các động cơ bên ngoài dạng tiêu cực nếu không được kiểm soát sẽ dễ tạo sự căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Như vậy, động cơ và hứng thú học tập là một điều kiện rất quan trọng ảnh hưởng đến tính tích cực của HS Việc học tập nhất định phải có động cơ đúng đắn nhưng nếu không có hứng thú học tập thì động cơ đó sẽ dễ dàng bị dập tắt Hứng thú học tập là một yếu tố quan trọng kích thích được sự tích cực học tập của HS Khi hứng thú chuyển động cơ bên ngoài thành động cơ bên trong thì con đường nhận thức sẽ thuận lợi và có hiệu quả hơn Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng sự tập trung chú ý, sự say mê học tập, hình thành cho HS ý chí và quyết tâm khắc phục khó khăn và vươn lên
1.3.4 Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập [10]
• Sự chuyên cần
Tính tích cực học tập, trước hết thể hiện ở sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết vấn đề nhận thức Đối với HS phổ thông, tính tích cực trong học tập thể hiện qua sự chuyên cần biểu hiện ở sự gắng sức trong hoạt động học tập: Các em có chịu khó học bài, làm thêm bài tập không? Thực hiện nhiệm vụ của mà GV giao theo yêu cầu tối thiếu hay tối đa?
• Sự hăng hái
Bên cạnh sự chuyên cần trong học tập thì tính tích cực của HS còn thể hiện qua sự hăng hái, nhiệt tình tham gia các hoạt động học tập mà GV thiết kế trong quá trình dạy học Sự hăng hái của HS thể hiện không những qua hoạt động tích cực tìm kiếm, xử lý thông tin, vận dụng các kiến thức thu được để giải quyết nhiệm vụ học tập, thực tiễn cuộc sống mà sự
Trang 18hăng hái còn được thể hiện qua sự tìm tòi khám phá vấn đề mới, óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò trong khoa học,…
• Sự tự giác
Sự tự giác là dấu hiệu cơ bản nhất thể hiện tính tích cực HS tự giác học bài, làm bài tập, đọc thêm tư liệu hỗ trợ kiến thức cho bản thân một cách tự nguyện không chờ đợi sự nhắc nhở của gia đình và thầy cô
• Sự chú ý trong học tập
HS chú ý nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ, quan tâm các vấn đề thầy cô truyền đạt cũng là những biểu hiện dễ phát hiện của tính tích cực Tính tích cực trong học tập sẽ giúp
HS kéo dài sự chú ý trong quá trình lĩnh hội kiến thức
• Sự quyết tâm trong học tập
Tính tích cực trong học tập còn được thể hiện qua hành động kiên trì, nỗ lực, quyết tâm vượt qua các khó khăn Để xác định mức độ tính quyết tâm của HS người ta có thể dựa vào thời gian tích cực trong hoạt động, cường độ hoạt động tích cực…
1.4.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực [34]
Theo giáo sư Trần Bá Hoành, PPDH tích cực tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Từ “tích cực ở đây trái nghĩa với từ “thụ động” chứ không phải trái nghĩa với “tiêu cực” PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học, chứ không phải tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người dạy PPDH tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
1.4.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14], [34]
• Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động dạy đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo Thông
Trang 19qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức đã được GV sắp đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Từ đó, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì
GV không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập
• Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin khoa hoc, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức
ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ những ngày đi học đầu tiên
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra
sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học
có sự hướng dẫn của GV
• Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới
Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ
Trang 20chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình, được tập thể uốn nắn, điều chỉnh; phát triển tình bạn, ý thức kỉ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo không khí, niềm vui; hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ
Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho
HS
• Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trọng quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Trước đây GV thường giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
1.4.3 Các phương pháp dạy học tích cực [10], [33], [48], [52]
HS chỉ đạt kết quả cao trong học tập khi các em có ý thức về nhiệm vụ học tập của bản thân Vì vậy để giáo dục ý thức học tập, hình thành sự tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của HS, GV cần có PPDH thích hợp Sau đây là một số PPDH tích cực tiêu biểu:
• Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu rất có hiệu quả trong việc phát huy tính tự lực, tích cực, sáng tạo của HS Trong phương pháp này GV đóng vai trò quan trọng là hướng dẫn, tổ chức và
HS sẽ tự lực nghiên cứu khám phá và giải quyết vấn đề học tập HS đóng vai trò là người nghiên cứu, đưa ra giả thuyết khoa học, đề xuất phương pháp giải quyết vấn đề và thực hiện hoạt động nghiên cứu, sau đó kiểm nghiệm xác nhận tính xác thực của giả thuyết, kết luận vấn đề và vận dụng kiến thức mới thu được
Trang 21Phương pháp này giúp HS có khả năng tư duy, suy luận một cách độc lập.Vì thế kiến thức tiếp thu được rất vững chắc Hơn nữa, sự hứng thú say mê khi tự bản thân giải quyết được vấn đề sẽ là nguồn động lực giúp HS hăng say học tập Tuy nhiên quá trình HS tự lực giải quyết cấn đề luôn gặp phải những vấp váp và cần sự kiểm tra, đánh giá, uốn nắn của
Phương pháp đàm thoại có 3 loại là: đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích – minh hoạ
và đàm thoại phát hiện – ơrixtic Mức độ phát huy tính tích cực trong tư duy của HS ở các dạng này tăng dần lần lượt từ thấp đến cao
Trong phương pháp đàm thoại tái hiện GV đặt ra những cau hỏi chỉ yêu cầu HS dùng trí nhớ đơn giản để nhớ lại mà không cần đến sự suy luận hay phân tích, tổng hợp…
Phương pháp đàm thoại giải thích – minh hoạ khác với phương pháp đàm thoại tái hiện
ở chỗ yêu cầu HS phải giải thích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, HS phải nắm chắc và hiểu sâu vấn đề mới có thể giải thích được rõ ràng Nội dung giải thích được cấu thành từ hệ thống câu hỏi cùng lời giải đáp sẽ giúp HS hệ thống lại kiến thức
Phương pháp đàm thoại phát hiện ơrixtic giúp HS làm việc tích cực độc lập và tiếp thu tốt bài giảng: HS không những lĩnh hội được cả nội dung kiến thức mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói Hệ thống câu hỏi của
GV là kim chỉ nam hướng dẫn tư duy của trò Nó kích thích cả tính tích cực tìm tòi, sự tò
mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp Do đó, câu hỏi của GV có tính chất quyết định đối với sự lĩnh hội kiến thức của HS Thầy hỏi, trò đáp và nên tạo điều kiện để trò có thể hỏi
ngược lại thầy, như vậy thông tin sẽ được tiếp nhận theo 2 chiều Khi trả lời câu hỏi của
GV, HS tự mình tìm ra vấn đề cần giải quyết và chính điều này tạo cho HS niềm sung sướng nhận thức Sau đó GV khéo léo kết luận dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và nhận xét của chính
HS, bổ sung chỉnh sửa cho kiến thức chính xác súc tích và hợp lí Nhờ thế HS lại càng hứng thú và tự tin vì thấy kết luận của GV rõ ràng là có sự đóng góp quan trọng của chính mình Như vậy phương pháp đàm thoại phát hiện ơrixtic là phương pháp thực sự có hiệu quả tích cực làm cho HS có hứng thú trong học tập Phương pháp đàm thoại phát hiện ơrixtic được
Trang 22đông đảo GV áp dụng trong giảng dạy dưới hình thức đặt ra những câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn, nghịch lý để hướng HS giải quyết vấn đề Tuy nhiên phương pháp này rất tốn thời gian, chúng ta nên đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS tìm tòi vào các phiếu học tập để khắc phục hạn chế này
• Phương pháp sử dụng bài tập
Bài tập là một phương tiện dạy học quan trọng của người GV Bài tập không những giúp
HS hệ thống các kiến thức cơ bản mà còn rèn luyện cho các em năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề
Để HS lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng cần thiết qua quá trình dạy-học thì GV nên soạn
hệ thống bài tập đa dạng, từ dễ đến khó, phù hợp với thực tế và phải phù hợp với trình độ
HS Thông qua hệ thống những bài tập hấp dẫn, có tính thách đố, gợi trí tò mò, GV sẽ giúp
HS phát huy tính tích cực, sáng tạo có hiệu quả
• Phương pháp kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy-học đồng thời là một biện pháp thúc đẩy tính tích cực học tập của HS Tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm của HS dù cao đến đâu cũng không thể xem nhẹ việc kiểm tra đôn đốc của GV GV cần phải theo sát
HS, uốn nắn, sửa chữa kịp thời những sai sót của các em, giúp các em vượt qua những trở ngại trong học tập
Kiểm tra đánh giá phải được tiến hành một cách nghiêm túc trong suốt quá trình học tập của HS Không những đánh giá qua điểm số các bài kiểm tra mà còn phải đánh giá ở thái độ tích cực và quá trình học tập của HS GV không chỉ đánh giá HS mà cần khuyến khích tạo điều kiện để HS tham gia vào quá trình đánh giá hoạt động của bản thân và của các bạn cùng lớp
• Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan là PPDH có sử dụng phương tiện trực quan [53]
Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan (sự vật và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó, làm cơ sở
và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về hiện thực đó cho HS [53] Người ta chia phương tiện trực quan trong dạy học hoá học thành ba nhóm:
- Nhóm thí nghiệm dùng trong nhà trường
Trang 23- Nhóm đồ dùng trực quan như mẫu vật, hình vẽ, mô hình
- Nhóm phương tiện kĩ thuật như: thiết bị nghe nhìn, phần mềm dạy học, các kỹ thuật tin học ứng dụng trong dạy học hoá học
1.4.4 Lựa chọn phương pháp dạy học trong dạy học hoá học
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống
mà cần chú ý khai thác những nét tích cực của từng phương pháp và sử dụng chúng một cách linh hoạt, phù hợp với các yếu tố của quá trình dạy học
Khi lựa chọn và sử dụng PPDH tích cực thì chúng ta cần dựa vào các yếu tố sau:
- Mục đích, nội dung của bài học
có thể bổ sung cho nhau, hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp dạy học cụ thể
1.5 Bài tập hoá học
1.5.1 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học [56]
Bài tập hóa học có những tác dụng đức dục và trí dục to lớn sau đây:
- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến những kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình Khi vận dụng được một kiến thức nào đó HS sẽ nhớ lâu những kiến thức đó
- Đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải các bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Ôn tập, cũng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách thuận lợi nhất Trong khi ôn tập nếu chỉ đơn thuần nhắc lại kiến thức HS sẽ chán vì không có gì mới, hấp dẫn Thực tế cho thấy,
HS khá – giỏi chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập
Trang 24- Rèn luyện các kỹ năng cần thiết về hóa học như kĩ năng giải toán, kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng nhận biết hóa chất…góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS
- Phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức tác phong cho HS như: tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác, khoa học… Nâng cao hứng thú học tập; biết yêu thiên nhiên, môi trường, khoáng vật từ đó biết yêu quí bảo vệ và gìn giữ tổ quốc, môi trường…
1.5.2 Phân loại bài tập hóa học [56]
Có nhiều cách phân loại bài tập tùy vào cơ sở phân chia như:
• Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, ta có
• Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành
- Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
- Dạng bài xác định thành phần phần trăm trong hỗn hợp
- Nhận biết, phân biệt, tách các chất
• Dựa vào chức năng có thể chia thành
- Bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ
- Bài tập đánh giá các khả năng vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết…
- Bài tập rèn luyện tư duy khoa học (phân tích, tổng hợp, so sánh…)
Trang 251.5.3 Các dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức [52], [48]
Thực tế dạy học cho thấy bài tập hoá học nói chung dù ít, dù nhiều đều giúp HS rèn luyện và phát triển tư duy một cách tích cực Khi giải bài tập thì HS đã hoạt động một cách
tự lực, tích cực, sáng tạo để trau dồi kiến thức của mình Vì thế ở đây ta chỉ nêu lên một số dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa hoạt động tư duy của HS nhất
• Sử dụng bài tập có thao tác tư duy so sánh
Trong các thao tác tư duy và phương pháp logic thường dùng trong việc dạy học hoá học thì so sánh giữ vai trò hết sức to lớn So sánh là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các chất và hiện tượng với nhau và giữa những khái niệm phản ánh chúng Muốn thực hiện được việc đó thì so sánh phải kèm sự phân tích và tổng hợp: ta phân tích các mặt, những thuộc tính của một chất, một hiện tượng hay khái niệm, đối chiếu với những điều đã biết về những đối tượng cùng loại, rồi sau đó tổng hợp tất cả lại xem các đối tượng cùng loại đó giống nhau và khác nhau ở đâu Như vậy, sự so sánh không những phân biệt và chính xác hóa kiến thức mà còn giúp hệ thống chúng lại
• Bài tập dùng phép quy nạp để hình thành phán đoán
Phép quy nạp là cách phán đoán dựa trên sự nghiên cứu nhiều hiện tượng, sự vật đơn nhất để đi đến kết luận chung, tổng quát về những tính chất, những mối liên hệ và tương quan bản chất nhất và chung nhất Trong phép quy nạp, sự nhận thức đi từ cái đơn nhất, riêng biệt đến cái chung Điều kiện cần thiết chi phối phép quy nạp là sự tri giác cảm tính những tính chất và tương quan của các chất, là sự nghiên cứu TN các chất (quan sát thí nghiệm) Những số liệu của TN được phân tích, mô tả, so sánh và trên cơ sở đó đi đến kết luận chung
• Bài tập dùng phép suy diễn để hình thành phán đoán
Trong phương pháp này nhận thức đi từ một nguyên lí chung đúng đắn tới một két luận thuộc về một trường hợp riêng lẻ đơn nhất Trong dạy học hoá học phương pháp này được
sử dụng rất nhiều trong các phần dạy về các học thuyết, các định luật có tính khái quát cao Ngoài ra chúng ta cũng có thể kết hợp cả phép quy nạp và suy diễn để hình thành phán đoán
• Bài tập dùng phép loại suy để hình thành phán đoán
Loại suy là phép phán đoán đi từ cái triêng biệt này đến một cái riêng biệt khác để tìm ra những đặc tính chung và những mối liên hệ có tính quy luật của các chất và hiện tượng Bản
Trang 26chất của phép loại suy là dựa vào sự giống nhau của hai vật thể hay hiện tượng về một số dấu hiệu nào đó mà đi tới kết luận về sự giống nhau của chúng vả về những dấu hiệu khác nữa Cần chú ý rằng phán đoán thu được từ phép loại suy bao giờ cũng gần đúng, có tính chất giả thiết, nhất thiết phải kiểm tra lại bằng TN
Lịch sử hóa học đã chứng tỏ rằng nhiều quá trình hóa học, nhiều chất đã được tìm ra khi phán đoán từ phép loại suy được dùng làm giả thuyết khoa học định hướng cho việc nghiên cứu TN
Trong dạy học hóa học, phép loại suy có tác dụng lớn Vì thời gian quy định của chương trình, HS không thể nghiên cứu mọi trường hợp, mọi chất hay mọi hiện tượng hóa học về một loại chất nào đó Vì thế ta chỉ có điều kiện xét một số trường hợp mà chương trình học
đã lựa chọn Nhưng nhờ phương pháp loại suy ta có thể hướng dẫn HS đi tới những kết luận
về những trường hợp không có thời gian học
Muốn vận dụng đúng đắn phép loại suy trong dạy học ta cần chú ý cung cấp cho HS càng nhiều những tính chất bản chất và những điểm khác nhau của hai chất hay hiện tượng đem so sánh thì tính loại suy càng chính xác hơn
• Bài tập dùng tư duy khái quát hóa
Khái quát hóa là tìm ra những cái chung và bản chất trong số những dấu hiệu, tính chất
và những mối liên hệ thuộc về một loại vật thể hoặc hiện tượng
Có ba mức độ khái quát hóa là khái quát hóa cảm tính, khái quát hóa hình tượng – khái niệm và cuối cùng là khái quát hóa khái niệm hay khái quát hóa khoa học
• Bài toán hóa học
Bài toán hóa học có hai tính chất: tính chất hóa học và tính chất toán học HS cần nắm vững bản chất hóa học để có thể đề ra phương hướng giải đúng, sau đó phải nắm vững toán học để giải ra đáp số Đối với bài toán hóa học thì tính chất hóa học là trọng tâm còn toán học là công cụ để tìm ra đáp số của bài tập cho nên khi xây dựng các đề bài, người GV không nên quá chú trọng các thủ thuật tính toán mà quên mất bản chất hóa học của đề bài Cấu trúc của bài toán hóa học bao gồm phần cho gồm những điều kiện đề bài và phần hỏi gồm những yêu cầu đòi hỏi HS phải tính toán để tìm ra câu trả lời
Việc phân loại các bài toán hóa học là cần thiết khi phần lớn HS đã thành thạo cách giải các bài tập cơ bản Vì vậy việc nâng mức độ khó của bài toán hóa học được thực hiện bằng cách phối hợp các loại bài toán hóa học cơ bản để tạo thành các dạng bài tập tổng hợp
Trang 27Mỗi dạng bài toán học cơ bản được GV tổng kết thành các bước giải mẫu Dựa trên cách giải, GV có thể xây dựng bài toán hóa học ở 3 mức độ
Mức độ 1: bài toán hóa học tái hiện là dạng bài toán có nội dung tương tự dạng bài toán hoá học cơ bản mà HS đã biết cách giải, do vậy HS chỉ cần áp dụng các bước giải có sẵn là
ra đáp số
Mức độ 2: Bài toán hoá học tái hiện – sáng tạo là dạng bài toán có một phần nào đó giống với dạng bài toán cơ bản, và có phần khác với bài cơ bản để đòi hỏi HS phải vận dụng thêm kiến thức, kĩ năng trong quá trình giải
Mức độ 3: Bài toán hoá học sáng tạo là dạng bài toán mà HS phải vận dụng kiến thức đã học để tự mình tìm ra cách giải, nhằm biến đổi các dữ kiện của bài toán để chuyển chúng về một trong số các dạng cơ bản đã biết
• Bài tập thực nghiệm hóa học
Dùng bài tập TN tổ chức hoạt động học tập cho HS nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học GV cần tổ chức các hoạt động học tập:
- Giải lí thuyết: HS phân tích lí thuyết, xây dựng các bước giải bằng thí nghiệm, dự đoán hiện tượng, kết quả thí nghiệm
- Tiến hành thí nghiệm kiểm nghiệm các bước giải lí thuyết
Có hai dạng bài tập TN thường dùng ở trường THPT đó là
- Dùng thí nghiệm chứng minh, kiểm nghiệm cho một kết luận Ví dụ chứng minh
độ hoạt động của các halogen giảm dần từ clo đến iot, chứng minh nhôm là kim loại hoạt động mạnh ở nhiệt độ thường…
- Dùng thí nghiệm nhận biết các chất
• Bài tập thực tiễn
Trang 28Bài tập thực tiễn là những bài tập có nội dung liên quan trực tiếp đến những vấn đề trong thực tiễn bao gồm các hiện tượng trong tự nhiên, các quá trình trong sản xuất, các hoạt động trong đời sống con người…
Sử dụng bài tập thực tiễn tổ chức các hoạt động học tập sẽ giúp cho HS rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức Khi những kiến thức hóa học được gắn với các hiện tượng trong tự nhiên và đời sống sẽ làm cho kiến thức đó trở nên hữu ích và sinh động hơn, kích thích HS hoạt động tích cực, tự giác chủ động sáng tạo trong học tập Trong dạy học hoá học, chúng ta có thể sử dụng bài tập thực tiễn dưới các hình thức sau:
- Giải thích các hiện tượng quen thuộc trong tự nhiên hoặc trong đời sống
- Tổ chức cho HS thảo luận nhóm theo đề tài: trong phần dạy ứng dụng, trong các giờ hoạt động ngoại khoá…
- Yêu cầu HS nghiên cứu tìm hiểu cơ sở khoa học của những kinh nghiệm, biện pháp sử dụng các chất trong đời sống
- Tổ chức nghiên cứu thực tế bằng cách tổ chức cho HS đi tham quan các nhà máy, khu chế xuất, các khu vực bị ô nhiễm môi trường… và nộp lại bài thu hoạch hoặc bài báo cáo…
• Bài tập có hình vẽ, sơ đồ, đồ thị
Dùng bài tập có hình vẽ tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực quan sát, tư duy khái quát, khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức Chúng ta có thể sử dụng các hình thức như sau:
- Sử dụng hình vẽ sơ đồ trong sách giáo khoa tổ chức cho HS quan sát hiểu được nội dung kiến thức kĩ năng cần thu nhận
- Sử dụng hình vẽ sơ đồ tổ chức ôn tập, kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức khái quát
- Sử dụng hình vẽ kiểm tra kiến thức kĩ năng thực hành
- Tổ chức cho HS sử dụng đồ thị để giải bài tập hóa học hình thành phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học
- Tổ chức cho HS đề xuất, thiết kế, cải tiến dụng cụ thí nghiệm, thiết lập sơ đồ sản xuất, điều chế các chất…
1.6 Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập hóa học ở một số trường THPT 1.6.1 Mục đích điều tra
Trang 29- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc sử dụng hệ thống bài tập để tổ chức các hoạt động học tập theo hướng dạy học tích cực
- Tìm hiểu, đánh giá việc xây dựng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực của các GV hiện nay
- Kết quả điều tra là cơ sở để xác định phương hướng nhiệm vụ của đề tài đồng thời là cơ sở để phân tích các dạng bài tập từ đó xây dựng và sử dụng hiệu quả hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
1.6.2 Nội dung – phương pháp điều tra
Nội dung điều tra:
- Điều tra tổng quát về việc sử dụng bài tập để tổ chức các hoạt động học tập của
GV ở các trường THPT hiện nay
- Lấy ý kiến GV về việc xây dựng hệ thống bài tập hoá học theo hướng dạy học tích cực
- Phiếu điều tra được trình bày ở phụ lục 1
Phương pháp điều tra
- Nghiên cứu giáo án, dự giờ các tiết học hóa học ở trường THPT
- Gửi và thu phiếu điều tra
- Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với các GV và cán bộ quản lí ở 1 số trường THPT
1.6.3 Đối tượng điều tra
Các GV giảng dạy trực tiếp và các chuyên viên về môn hoá học ở trường THPT Danh sách các trường tham gia điều tra thực trạng được trình bày sau đây
Bảng 1.1 Danh sách các trường điều tra thực trạng
tham gia
1 Trần Nguyên Hãn (TP.Vũng Tàu) 9
2 Trần Văn Ơn (Bình Dương) 5
3 Trần Quang Khải (Bà Rịa – Vũng Tàu) 3
4 Trần Văn Quan (Bà Rịa – Vũng Tàu) 4
5 Trần Hữu Trang (TP.HCM) 5
6 Phan Bội Châu (Bình Thuận) 3
Trang 307 Lương Thế Vinh (Đồng Nai) 1
8 Lê Thị Riêng (Bạc Liêu) 1
9 Nguyễn Trãi (Tây Ninh) 1
15 Quang Trung (Tây Ninh) 4
16 Dương Minh Châu (Tây Ninh) 3
1.6.4 Kết quả điều tra
Bảng 1.2 Mức độ cần thiết và mức độ sử dụng hệ thống bài tập để tổ chức hoạt động học
tập theo hướng dạy học tích cực
Hình thức sử dụng
Ít cần
Bình thường Cần
Rất cần
Không
sử dụng
Ít Thường xuyên
Rất thường xuyên Nghiên cứu kiến
Trang 31Bảng 1.3 Mức độ bao quát kiến thức và các dạng bài của bài tập trong sách giáo khoa
và sách bài tập
Bảng 1.4 Mức độ cần thiết sử dụng thêm hệ thống bài tập
để nâng cao kết quả học tập của học sinh
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Bảng 1.5 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học
theo hướng dạy học tích cực phù hợp với HS
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Bảng 1.6 Mức độ cần thiết của các biện pháp để xây dựng và sử dụng
hệ thống bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực có hiệu quả
Mức độ cần thiết
Ít cần thường CầnBình Rất cần
1 - Có cả câu hỏi lí thuyết 6% 50% 44%
3 - Có các chuyên đề thảo luận nhóm, dự án học
4 - Xếp từ dễ đến khó 2% 2% 62% 34%
5 - Soạn theo từng bài học 2% 8% 32% 12%
6 - Soạn theo chuyên đề từng chương 60% 32%
7 - Có hướng dẫn cách giải cho từng dạng 10% 22% 42% 26%
8 - Có bài giải cho từng dạng 8% 26% 42% 24%
9 - Có đáp số cho các bài tập tương tự 8% 32% 36% 24%
11 - Có cả bài tập tự luận và trắc nghiệm 40% 60%
1.6.5 Phân tích kết quả điều tra
Qua điều tra thực trạng vấn đề nghiên cứu chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Trang 32- Việc sử dụng hệ thống bài tập để tổ chức các hoạt động học tập một cách tích cực đã được các GV sử dụng nhiều trong các tiết luyện tập, ôn tập và ra bài tập về nhà cho HS Tuy nhiên có một thực trạng đáng được lưu tâm là GV ít sử dụng trong các tiết dạy học về kiến thức mới, trong các hoạt động nhóm, dự án và trong việc tự học của HS; trong khi đây chính
là những hoạt động yêu cầu tính tích cực chủ động của HS rất nhiều
- Đa số các GV đánh giá hệ thống bài tập chưa đầy đủ các dạng và bao quát kiến thức của chương trình (72%) và vì thế để nâng cao kết quả học tập của HS thì phải cần thiết phải xây dựng thêm hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực phù hợp với HS (94%)
- Đối với việc định hướng để xây dựng một hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
có hiệu quả đa số các GV cần phải có cả bài tập lí thuyết và bài toán hóa học; sắp xếp từ dễ đến khó theo chuyên đề, chương; phải có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và củng cố kiến thức Về hình thức thì cần có cả bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan Nhiều ý kiến cũng cho rằng cần xây dựng cả các chuyên đề thảo luận nhóm, dự án học tập và hệ thống bài tập nên có bài giải hay đáp số
Qua phân tích kết quả thu được ở trên và tham vấn trực tiếp của GV cũng như HS chúng tôi nhận thấy việc xây dựng và sử dụng một hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
sẽ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết hiện nay trong dạy học hóa học ở trường phổ thông Đồng thời kết quả điều tra cũng là cơ sở giúp chúng tôi đưa ra những định hướng cụ thể trong việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
Trang 33TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm các nội dung sau:
1 Các phương hướng đổi mới PPDH hiện nay
2 Tư duy tích cực: Chúng tôi đã đề cập đến khái niệm tư duy tích cực; vai trò, những yếu
tố ảnh hưởng cũng như biểu hiện của tính tích cực trong học tập
3 PPDH tích cực: Dựa trên các tài liệu lí luận dạy học mà chúng tôi tham khảo cộng với
kinh nghiệm thực tiễn dạy học chúng tôi đã nêu rõ khái niệm PPDH tích cực, các đặc trưng của PPDH tích cực cũng như cách lựa chọn PPDH tích cực phù hợp với mỗi tiết
dạy
4 Bài tập hoá học: Trong luận văn có đưa khái niệm, tác dụng và các cơ sở phân loại bài
tập hoá học, bên cạnh đó luận văn cũng phân tích thêm các dạng bài tập có tác dụng tích cực hoá hoạt động tư duy của HS thông dụng nhất và một số phương pháp giải bài tập cơ bản
5 Điều tra thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập hóa học ở một số trường THPT:
Để có cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã đi khảo sát thực tiễn vấn đề sử dụng bài tập theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS Thông qua 50 phiếu điều tra GV hóa học ở trường THPT cho thấy việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực là một giải pháp thiết thực và có tính khả thi cao trong việc nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông; Đồng thời kết quả điều tra cũng là cơ sở giúp chúng tôi đưa ra những định hướng cụ thể cho việc nghiên cứu thực hiện đề tài Việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn như trên là cơ sở để chúng tôi định hướng cho việc xây dựng và sử dụng một hệ thống bài tập sao cho đạt hiệu quả cao nhất trong việc tích cực hoá hoạt động học tập của HS Công việc này được chúng tôi cụ thể hoá trong chương 2 của luận văn
Trang 342.1.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Sử dụng bài tập cũng như các hoạt động khác trong quá trình dạy học phải nhằm đến thực hiện mục tiêu môn học Theo [11] thì việc dạy học ở trường phổ thông có nhiệm vụ cung cấp hệ thống các kiến thức, kĩ năng hoá hoc cơ bản; phát triển năng lực nhận thức, hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức, thế giới quan cho HS
2.1.2 Đảm bảo phù hợp với nội dung chương trình
Hệ thống bài tập luôn yêu cầu bám sát nội dung chương trình của sách giáo khoa và chuẩn kiến thức và kĩ năng của bộ giáo dục Ngoài ra người biên soạn còn phải bám sát vào mục đích xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong các bài dạy cụ thể Ví dụ hệ thống bài tập cho HS cơ bản, hệ thống bài tập cho HS nâng cao, hệ thống bài tập cho HS lớp chuyên hoá…
2.1.3 Đảm bảo tính chính xác, khoa học
Đây là một nội dung quan trọng trong các nguyên tắc xây dựng bài tập Đảm bảo tính chính xác ở đây ta phải hiểu là chính xác cả về kiến thức hoá học, các kiến thức khoa học liên quan khác cũng như đảm bảo chính xác trong việc diễn đạt Dùng ngôn ngữ hoá học, ngôn ngữ viết để diễn đạt rõ ràng chính xác nội dung của bài tập và ngôn ngữ đó phải truyền thụ đúng nội dung đến người tiếp nhận Tính khoa học ở đây không chỉ là khoa học trong việc sắp xếp các bài tập vào đúng vị trí trong hệ thống mà nội dung của bài tập còn phải cập nhật những tri thức mới của khoa học hoá học
2.1.4 Đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống bài tập phải có tính hệ thống trên trên 3 phương diện như một cấu trúc không gian 3 chiều gồm chiều rộng, chiều sâu và sự đa dạng
Trang 35Chiều rộng ở đây được hiểu như sự bao phủ nội dung của chương trình Ngoài ra trong nội dung chúng ta có thể mở rộng cả các vấn đề về nội dung hoá học đó trong thực tiễn đời sống và tự nhiên Hệ thống bài tập về một mảng kiến thức nào đó phải thể hiện được các nội dung đầy đủ của mảng kiến thức đó
Chiều sâu thể hiện ở mức độ khó của bài tập, chúng ta cần xây dựng hệ thống bài tập gồm các bài tập từ dễ đến khó, không những thế mà các bài tập trước còn là cơ sở nền tảng kiến thức và kĩ năng cho HS thực hiện những bài tập sau Ngoài những kiến thức hoá học cơ bản, tối thiểu thì hệ thống bài tập cần phải được xây dựng thêm những phần tự chọn hoặc nâng cao Những nội dung nâng cao có thể giúp một số đối tượng HS có thể nâng cao kiến thức của mình để tiếp tục học lên cao đẳng, đại học hoặc chuẩn bị kĩ hơn cho cuộc sống lao động sau này
Sự đa dạng được thể hiện ở chỗ chúng ta có thể phân ra nhiều dạng bài tập khác nhau dựa trên sự khác nhau về hình thức, các thao tác như duy… Ví dụ ta có dạng bài tự luận và trắc nghiệm; dạng bài viết sơ đồ biến đổi, phân biệt – tinh chế - tách các chất…; Dạng câu hỏi lí thuyết, bài tập tính toán, bài tập lớn dưới dạng báo cáo hay các dự án…
Ngoài ra để đảm bảo tính hệ thống chúng ta cần kế thừa những kiến thức, kĩ năng mà các
em đã học ở những chương trình trước đó để ta có thể hệ thống kiến thức cho các em một cách trọn vẹn nhất
2.1.5 Đảm bảo tính đặc thù của bộ môn Hoá học
Bài tập hoá học phải thể hiện được những nét đặc thù của bộ môn hoá học, nó phải phản ánh những biến đổi hoá học, những kĩ năng thí nghiệm, thực hành cơ bản, tối thiểu Tính chất hoá học, ứng dụng, phương pháp điều chế của các chất phải được lồng vào trong các bài tập Thông qua hệ thống bài tập, HS được cung cấp thêm những kiến thức hoá học, kĩ năng thực hành thí nghiệm, và phương pháp nhận thức hóa học
2.1.6 Đảm bảo một cách cơ bản định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực và đổi mới về kiểm tra đánh giá
Hệ thống bài tập phải được xây dựng sao cho thuận tiện để GV và HS có thể dựa vào đó thể thiết kế, tổ chức hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động Thông qua hệ thống bài tập, HS không những được tiếp nhận tri thức hoá học mà còn có thể tự đánh giá khả năng của mình, từ đó củng cố bổ sung những kiến thức kĩ năng còn thiếu Hệ thống bài tập giúp
Trang 36GV đánh giá kiến thức, kĩ năng hoá học của HS ở cả 3 mức độ là biết, hiểu và vận dụng phù hợp với nội dung và phương pháp của chương trình chuẩn
2.1.7 Đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh
Hệ thống bài tập nếu được đầu tư kĩ lưỡng có thể có tính bao quát khá lớn, phù hợp với nhiều đối tượng HS Tuy nhiên khi mỗi GV sử dụng hệ thống bài tập cần sử dụng những bài tập vừa sức với đối tượng HS của mình Nếu bài tập quá dễ thì không chỉ khiến các em chủ quan mà còn không phát huy được hết năng lực tư duy của HS Nếu bài tập quá sức các em thì cũng có tác hại tương tự Tuy vậy, bài tập luôn phải có những thách thức về mặt tư duy
để từ đó các em có thể phát huy năng lực của mình để giải quyết vấn đề Nếu giải quyết được thì những niềm vui sướng sẽ đến với các em và đó như là chất men làm xúc tác cho quá trình học tập của mình
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim lớp 11
Việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 11 THPT được tiến hành theo các bước sau:
2.2.1 Xác định mục tiêu của hệ thống bài tập
Đầu tiên phải xác định rõ mục đích của việc xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập tập
là gì Trong luận văn này chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập hoá học phần phi kim phạm
vi lớp 11 nhằm mục đích tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học
2.2.2 Tìm hiểu, nắm vững chuẩn kiến thức và kĩ năng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, mỗi chương, phần…)
Chuẩn kiến thức, kĩ năng là căn cứ để biên soạn hệ thống bài tập cũng như nhiều tài liệu khác kể cả sách giáo khoa Bộ Giáo dục đã yêu cầu quá trình dạy học cũng như những yêu cầu về kiểm tra, đánh giá phải bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng Vì thế khi thiết kế hệ thống bài tập chúng ta phải bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng với mục tiêu là đạt được các yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, không để bài tập quá tải cũng như không quá lệ thuộc hoàn toàn vào sách giáo khoa
2.2.3 Thu thập có chọn lọc các tư liệu cần thiết
Trang 37- Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến nội dung kiến thức được đề cập, các kiến thức nâng cao, các ứng dụng trong đời sống, những hiện tượng, sự việc trong tự nhiên có liên quan đến nội dung kiến thức đề cập Việc tìm hiểu các tài liệu liên quan giúp người biên soạn hệ thống bài tập có cái nhìn toàn vẹn về các vấn đề liên quan đến những nội dung cần lựa chọn để xây dựng bài tập
- Tìm hiểu các hệ thống bài tập đã được công bố: bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo….Tuy nhiên những thông tin thu thập được chỉ có tính chất tham khảo Người biên soạn cần xác định được những điều hay trong các tài liệu tham khảo và sử dụng
bổ sung cho mình
2.2.4 Xây dựng khung hệ thống bài tập
Để hệ thống bài tập đạt được tính hệ thống, bao quát, đa dạng ta cần lập khung hệ thống bài tập Khung hệ thống bao gồm nhiều bình diện
• Phạm vi của kiến thức: Cần xác định rõ phạm vi kiến thức cho nội dung vấn đề
được đề cập trong bài tập
• Xác định các mức độ cần đạt được của bài tập: Trong hệ thống bài tập cần chứa
đựng đầy đủ các mức độ bài tập dễ đến khó Các bài tập phải kiểm tra được các mức độ kiến thức của HS từ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo
• Xác định các dạng bài tập sẽ xây dựng: GV cần xác định rõ các dạng bài tập cụ thể
cần xây dựng để đưa vào hệ thống bài tập của mình Trong phạm vi của đề tài chúng tôi sẽ thiết kế các dạng bài tập
2.2.5 Tiến hành soạn thảo
Dựa vào khung bài tập ta đã xây dựng, các tài liệu và kiến thức đã tích luỹ ta bắt đầu xây dựng hệ thống bài tập theo từng dạng như đã xác định:
• Bước 1: Xây dựng các bài tập cụ thể
Việc xây dựng các bài tập cụ thể được tiến hành như sau:
- Xây dựng bài tập định tính mới hoàn toàn GV cần tiến hành:
Trang 38+ Xác định mục tiêu bài tập
+ Xác định nội dung cần đề cập
+ Xác định độ khó của bài tập
+ Diễn đạt nội dung phù hợp với dạng bài tập (tự luận, trắc nghiệm…)
- Xây dựng bài tập định lượng mới hoàn toàn GV cần tiến hành:
+ Chọn một hệ chất cụ thể (biến đổi hóa học theo nội dung chuyên đề xác định) + Xác định dữ kiện và các yêu cầu với hệ chất đã chọn
+ Diễn đạt nội dung phù hợp với dạng bài tập (tự luận, trắc nghiệm…)
+ Giải bài tập và đưa ra đáp án
- GV cũng có thể soạn thảo bài tập thông qua việc tham khảo các bài tập trong các tài liệu khác như bổ sung thêm các dạng bài tập mà sách giáo khao và sách bài tập chưa đề cập đến hoặc phát triển các yêu cầu, các vấn đề chưa đề cập trong các bài tập này
Việc chỉnh sửa, bổ sung các bài tập trong sách giáo khoa hoặc sách tham khảo có thể thực hiện bằng các cách:
+ Thay đổi dữ kiện – yêu cầu của cùng một dạng bài tập nhằm đa dạng các bài tập trong cùng một dạng
+ Ghép các bài tập đơn giản thành bài tập tổng hợp
+ Đối với một số bài tập khó đòi hỏi nhiều thao tác tuy duy ta thêm các bài tập đơn giản hơn để định hướng các thao tác tư duy cho HS khi giải các bài tập tổng hợp phức tạp
• Bước 2: Sắp xếp bài tập xây dựng theo hệ thống xác định
Hệ thống bài tập xây dựng được sắp xếp theo nguyên tắc
- Từ dễ đến khó
- Từ tái hiện đến sáng tạo
- Từ lí thuyết đến thực hành, thực tiễn
2.2.6 Đánh giá chất lượng và tính phù hợp của hệ thống bài tập
Sau khi xây dựng hệ thống bài tập, ta cần đánh giá về chất lượng, tính chính xác và sự phù hợp của hệ thống bài tập Việc đánh giá hệ thống bài tập hóa học xây dựng được bằng cách:
- Lấy ý kiến của chuyên gia, tham khảo ý kiến của GV có kinh nghiệm
Trang 39- Tiến hành TN thông qua các hoạt động dạy học ở trường phổ thông Trong quá trình
TN, cần phân tích kết quả làm bài của HS, những sai lầm trong quá trình giải bài tập để làm căn cứ cho việc chỉnh sửa, bổ sung cho từng bài tập về nội dung và cách diễn đạt Ngoài ra, trong quá trình TN cần tạo điều kiện cho các em thắc mắc, hỏi ngược lại GV cũng như HS khác; điều này không chỉ giúp HS nắm chắc hơn bài học mà còn là một cơ sở để người biên
soạn có thể bổ sung thêm bài tập Đó không những là những bài tập thông thường mà còn là những bài tập xuất phát từ thực tế, những vấn đề mà HS hay gặp phải trong quá trình học tập
2.2.7 Chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện
Tập hợp các ý kiến của chuyên gia, GV và kết quả TN để chỉnh sửa và bổ sung cho hệ thống bài tập ngày càng toàn vẹn hơn
2.3 Hệ thống bài tập chương Nitơ – Photpho
Hệ thống bài tập chương Nitơ – photpho gồm 230 bài tập được xây dựng và chọn lọc theo cấu trúc như sau
Bảng 2.1 Cấu trúc hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho
Dạng 8: H3PO4, P2O5 phản ứng với với dd kiềm Dạng 9: Bài tập tổng hợp
- Ở mỗi dạng bài có 2 loại bài tập:
+ Bài tập tự luận
+ Bài tập trắc nghiệm
- Các bài tập được đánh số thứ tự từ 1 đến hết
- Các bài tập có đánh dấu (*) là các bài tập khó
- Các bài tập có đánh dấu (**) là bài tập có thể dùng để dạy học theo dự án
Trang 40- Các bài tập có đánh dấu [số] là các bài tập được chọn lọc từ các tài liệu tham khảo tương ứng với số trong ngoặc vuông
2.3.1 Bài tập định tính
Dạng 1: Câu hỏi lí thuyết, trình bày và giải thích các hiện tượng
I Bài tập tự luận
Câu 1 Cho biết nguyên tố Nitơ có Z=7
a Hãy xác định vị trí của Nitơ trong bảng tuần hoàn
b Hãy cho biết đặc điểm cấu tạo của nitơ Từ đó dự đoán tính chất hóa học cơ bản của nitơ
Câu 2 Dựa vào các số oxi hoá của nitơ hãy giải thích tại sao khí nitơ lại có thể thể hiện
tính oxi hoá hoặc tính khử Lấy ví dụ chứng minh Trong hai tính chất đó, tính chất nào là chủ yếu?
Câu 3 Hãy nêu phương pháp điều chế khí nitơ trong phòng thí nghiệm và trong công
nghiệp
Câu 4 (*) Nitơ là nguyên tố có độ âm điện tương đối lớn (chỉ sau F, O, Cl) nhưng tại sao
ở nhiệt độ thường nitơ khá trơ về mặt hoá học? Ở điều kiện nào nitơ trở nên hoạt động hơn?
Câu 5 (**) Hãy nêu chu trình của nitơ trong tự nhiên và vai trò của nitơ đối với đời sống
Câu 6 (**) Câu nói “Nitơ không duy trì sự cháy và sự hô hấp” và “Nitơ là nguyên tố của
sự sống” có mâu thuẫn nhau hay không? Hãy phân tích
Câu 7 (**) Thành phần chính của không khí gồm hai khí là oxi và nitơ Các em hãy đề
xuất thí nghiệm có thể xác định gần đúng thành phần % thể tích hai khí trên trong không khí và mô tả các thiết bị bằng hình vẽ
Câu 8 Quan sát sơ đồ cấu tạo phân tử NH3 và cho biết:
a Những liên kết hóa học trong phân tử NH3
b Số oxi hóa của nguyên tử N trong phân tử NH3
c Vì sao nguyên tử nitơ trong NH3 có thể tham gia liên kết với các nguyên tử khác?
Câu 9 Dựa vào các số oxi hoá có thể có của nitơ hãy giải thích tại sao NH3 chỉ thể hiện
tính khử Lấy ví dụ chứng minh