BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH --- Ngô Thanh Huyền XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC Chuyên ngành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- - Ngô Thanh Huyền
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC
12 NÂNG CAO
Thành phố Hồ chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Ngô Thanh Huyền
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Thành phố Hồ chí Minh - 2012
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gởi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu trường ĐHSP TP HCM, Phòng Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khóa học được hoàn thành tốt đẹp
Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học, xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, mở rộng
và làm sâu sắc kiến thức chuyên môn, đã chuyển những hiểu biết hiện đại của nhân loại về Giáo dục học Hóa học đến cho chúng tôi
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướng sáng suốt giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn Đồng thời, tôi trân trọng cảm
ơn quý thầy, cô giảng dạy ở khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, đặc biệt PGS.TS Trịnh Văn Biều đã có nhiều ý kiến quý báu và lời động viên giúp tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu này
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn đến thầy cô ở các trường THPT Võ Thị Sáu Tân Thông Hội - Tp HCM, Châu Thành - TP Bà Rịa - Vũng Tàu, chuyên Long
trường PTTH trong và ngoài địa bàn TP HCM đã có những giúp đỡ trong quá trình thực nghiệm sư phạm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này
Tác giả
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1.1 Một số đề tài nghiên cứu về xây dựng và sử dụng HTBT hóa học 5
1.1.2 Một số luận văn thạc sĩ về tự học 6
1.1.3 Vấn đề tự học trên thế giới 7
Trang 51.2 BÀI TẬP HÓA HỌC 9
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học [45], [57], [58] 9
1.2.2 Phân loại bài tập hóa học [15], [30], [36], [45], [58] 10
1.2.3 Tác dụng của bài tập hóa học [36], [38], [45] 12
1.2.4 Xu hướng phát triển của BTHH [9], [10], [46], [48] 13
1.3 TỰ HỌC 15
1.3.1 Khái niệm tự học 15
1.3.2 Vai trò của tự học [4], [12], [14], [45] 15
1.3.3 Các hình thức tự học 18
1.4 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ VIỆC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 19
1.4.1 Mục đích điều tra 19
1.4.2 Đối tượng điều tra 20
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra 21
1.4.4 Kết quả điều tra 22
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC 12 NÂNG CAO 35
2.1 BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC 35
2.1.1 Khái niệm bài tập hỗ trợ tự học, hệ thống bài tập hỗ trợ tự học 35
2.1.2 Đặc điểm của HTBT hỗ trợ tự học 35
2.2 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC 36
Trang 62.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại 36
2.2.2 Đảm bảo tính logic, hệ thống 36
2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng, phù hợp với các đối tượng HS 36
2.2.4 Đảm bảo tính vừa sức 37
2.2.5 Bám sát nội dung dạy học, chú trọng kiến thức trọng tâm 37
2.2.6 Gây hứng thú cho người học 37
2.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 37
2.2.8 Vận dụng được kiến thức và phát triển tư duy 38
2.3 QUI TRÌNH XÂY DỰNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC 38
2.4 HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC 12 NÂNG CAO 40
2.4.1 Tổng quan về HTBT hỗ trợ tự học phần kim loại 12 nâng cao 40
2.4.2 Hệ thống bài tập chương 5 “Đại cương về kim loại” 42
2.4.3 Hệ thống bài tập chương 6 66
2.4.4 Hệ thống bài tập chương 7 66
2.4.5 Hệ thống bài tập tổng hợp 66
2.5 Một số dạng bài tập phần kim loại lớp 12 và hướng dẫn giải 66
2.5.1 Một số kiến thức cần nắm (Lưu ở đĩa CD) 66
2.5.2 Phương hướng chung khi giải một số dạng bài tập phần kim loại 66
2.5.3 Hướng dẫn giải một số dạng bài tập 71
2.6 SỬ DỤNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC 12 NÂNG CAO 98
2.6.1 Hướng dẫn sử dụng HTBT hỗ trợ tự học 98
Trang 72.6.2 Những lưu ý đối với học sinh khi sử dụng HTBT 98
2.6.3 Những lưu ý đối với giáo viên khi sử dụng HTBT 99
CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 103
3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 103
3.3.TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM 104
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượng phiếu điều tra HS 20
Bảng 1.2 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH 21
Bảng 1.3 Ứng xử của HS khi gặp bài tập khó 22
Bảng 1.4 Thời gian HS dành để làm BTHH 22
Bảng 1.5 Sự chuẩn bị của HS cho tiết bài tập 23
Bảng 1.6 Số lượng bài tập HS làm được 23
Bảng 1.7 Kết quả điều tra về việc giải bài tập tương tự của HS 23
Bảng 1.8 Những khó khăn của HS khi giải BTHH 24
Bảng 1.9 Các yếu tố giúp HS giải tốt bài tập 24
Bảng 1.10 Kết quả điều tra về sự cần thiết của tự học 25
Bảng 1.11 Kết quả điều tra về lí do HS phải tự học 26
Bảng 1.12 Kết quả điều tra về thời gian HS tự học 26
Bảng 1.13 Kết quả điều tra về cách thức tự học của HS 27
Bảng 1.14 Khó khăn của HS trong quá trình tự học 27
Bảng 1.15 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của tự học 27
Bảng 1.16 Nhận xét của GV về sự cần thiết phải sử dụng thêm BTHH 28
Bảng 1.17 Mức độ sử dụng thêm BTHH của GV 28
Bảng 1.18 Hình thức thiết kế HTBT của GV 28
Bảng 1.19 Cách thức sử dụng HTBT của GV 29
Bảng 1.20 Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học 29
Bảng 1.21 Số lượng bài tập mà GV hướng dẫn giải trong 1 tiết học 29
Bảng 1.22 Kết quả điều tra về % số HS làm được bài tập 30
Bảng 1.23 Những khó khăn của GV khi dạy BTHH 30
Bảng 1.24 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH 30
Bảng 1.25 Mức độ cần thiết của các định hướng xây dựng hệ thống BTHH 31
Bảng 2.1 Cấu trúc của HTBT 40
Bảng 2.2.Nhận biết các ion kim loại 66
Bảng 3.1 Các lớp TN và ĐC 102
Trang 10Bảng 3.2 Điểm bài kiểm tra 1 tiết lần 1 105
Bảng 3.3 Điểm bài kiểm tra 1 tiết lần 2 106
Bảng 3.4 Điểm bài kiểm tra 1 tiết lần 3 106
Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất bài kiểm tra 1 tiết lần 1,2, 3 107
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả học tập 3 bài kiểm tra 110
Bảng 3.7 Tổng hợp các tham số đặc trưng 3 bài kiểm tra 112
Bảng 3.8 Nhận xét của GV về HTBT 114
Bảng 3.9 Thống kê số lượng phiếu nhận xét của HS 115
Bảng 3.10 Nhận xét của HS về nội dung và hình thức của HTBT 116
Bảng 3.11 Nhận xét của HS về tính khả thi và hiệu quả và phương pháp hướng dẫn giải bài tập 117
Trang 11DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập 9
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại chi tiết BTHH ở trường phổ thông 11
Hình 2.1 Mô hình giải thích tính dẻo của KL 42
Hình 2.2 Thí nghiệm về điều chế kim loại 42
Hình 2.3 Pin điện hóa (a) 43
Hình 2.4 Pin điện hóa (b) 43
Hình 2.5 Pin điện hóa (c) 44
Hình 2.6 Thí nghiệm ăn mòn điện hóa 46
Hình 2.7 Sơ đồ tách chất 65
Hình 2 8 Mạng tinh thể của kim loại 71
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 108
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 108
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 3 109
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 3 bài kiểm tra 109
Hình 3.5 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra lần 1 110
Hình 3.6 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra lần 2 111
Hình 3.7 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra lần 3 111
Hình 3.8 Biểu đồ kết quả bài tổng hợp 3 lần kiểm tra 112
Trang 12M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nhân loại đã bước vào thập niên đầu của thế kỉ XXI, thế kỉ mà tri thức và kĩ năng của con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội Người ta nói thế kỉ XXI là nền văn minh trí tuệ, để có được nền văn minh đó thì giáo dục phải đào tạo những con người thông minh, trí tuệ, sáng tạo, phát triển và giàu tính nhân văn cho xã hội
Muốn đáp ứng được mục tiêu đào tạo đó thì trong chiến lược giáo dục nhất thiết phải đổi mới phương pháp dạy học để thích ứng với sự bùng nổ tri thức, có tác dụng quyết định với tiến trình phát triển xã hội, ngược lại nếu việc dạy và học một cách thụ động sẽ không đáp ứng được những yêu cầu đó
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay là: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học; Bồi dưỡng phương pháp
tự học; Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Hình thành thái độ tình cảm hứng thú học tập cho học sinh Chủ yếu là để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại
Vậy việc tăng cường năng lực tự học cho học sinh nói chung là một yếu tố rất quan trọng và dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy Dạy cách học chủ yếu là dạy phương pháp tự học
Một trong những phương pháp hỗ trợ HS tự học môn hóa học ở trường THPT
là sử dụng HTBT BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới
Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian
ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc tự học ở nhà của HS là rất quan trọng và cần thiết
Trang 13Ngoài ra phần hóa vô cơ được đánh giá là phần trọng tâm của chương trình hóa học lớp 12 Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “XÂY DỰNG VÀ
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC 12 NÂNG CAO”
Tôi hy vọng sẽ góp phần giúp các em nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống Mặt khác cung cấp cho các em một hệ thống bài tập để ôn luyện, phục vụ cho các kỳ thi cuối cấp
Đây là ý tưởng thiết thực giúp giáo viên nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, giúp học sinh có kĩ năng tự học để tự học suốt đời, giúp học sinh có khả năng hợp tác trong học tập hiện nay và trong lao động sau này
2 M ục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học phần kim loại hóa học 12 nâng cao
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
quá trình dạy học
THPT
xuất từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
kim loại hóa học 12 nâng cao trường THPT
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
HS tự học đã đề xuất
6 Ph ạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức được giới hạn trong 3 chương: “Đại cương về kim loại”,
chương trình nâng cao ở trường THPT
7 Gi ả thuyết khoa học
kim loại hóa học 12 thì sẽ nâng cao được kết quả dạy học hóa học hiện nay ở trường THPT
8 Những đóng góp của đề tài
Trang 15- Đề xuất nội dung và phương pháp hỗ trợ việc tự học của HS
hỗ trợ HS tự học
hóa học ở trường THPT
THPT
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 T ỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Một số đề tài nghiên cứu về xây dựng và sử dụng HTBT hóa học
nâng cao chất lượng dạy học phần phi kim, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP Hồ
Chí Minh
kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP
Hồ Chí Minh
hóa học THPT theo hướng dạy học tích cực, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP Hồ
Chí Minh
THPT dùng cho học sinh khá giỏi, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí
Minh
sinh giỏi phần kim loại lớp 12 THPT chuyên, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP
Hồ Chí Minh
khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (ban nâng cao), Luận văn thạc
sĩ giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
độ tư duy trong dạy học chương chương "Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic" lớp 11
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Trang 179 Phạm Thị Thanh Hương (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập gây hứng
10 Võ Nguyễn Hoàng Trang (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo
hướng dạy học tích cực phần hoá học vô cơ lớp 11 ban cơ bản THPT, Luận văn thạc
sĩ giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
11 Nguyễn Thị Hồng Quyên (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực
nghiệm trong dạy học phần hóa học phi kim ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ giáo
dục, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao” do tác giả Nguyễn Cửu Phúc chỉ mới làm theo từng chương
hướng dẫn học sinh tự học ở từng dạng bài tập trong bài học cụ thể
1.1.2 Một số luận văn thạc sĩ về tự học
môn I) cho HS ở trường Cao đẳng Sư phạm bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội
cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
chương “Đại cương về kim loại” chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
nhằm hỗ trợ HS tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
5 Trần Thị Thanh Hà (2009), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 12, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Trang 18học cho HS giỏi hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
lớp 10 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí
Minh
xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
1.1.3 Vấn đề tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo
phương tiện giáo dục" Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm, tư tưởng này đã được đưa vào TN: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác", "Phương
Trang 19pháp cá thể hoá" … Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV là người trọng tài, đạo diễn, thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học
kỷ XX đã cho rằng " Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn HS
tự học"
Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học như:
đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình [33]
nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái
gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp [32]
đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [26]
Thạch dịch đã được tái bản lần thứ 25 Với cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra cách kết hợp phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phương pháp trở thành sinh viên giỏi hơn, với nhau thành một hệ thống để trở thành sinh viên đạt toàn điểm 10 [22]
Khoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản Với cuốn sách này, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tìềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của
con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [25]
Trang 201.2 BÀI T ẬP HÓA HỌC
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học [45], [57], [58]
vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định
Theo nhà lý luận dạy học Liên Xô Zueva M.V., bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo TN
Ở nước ta, hiện nay trong SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 12 là một “bài tập” và ngược lại, đối với HS lớp 12, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”
Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau
+ Bài tập - đối tượng
+ Người giải - chủ thể
động qua lại với nhau đó là những điều kiện và những yêu cầu
cách biến đổi, thao tác trí tuệ )
Trang 21
Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài
tập là nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là
nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học
và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn Thuật ngữ “BTHH” chung hơn khái niệm “bài toán hóa học” và bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học và
có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết
và phương pháp hóa học
1.2.2 Phân loại bài tập hóa học [15], [30], [36], [45], [58]
loại BTHH theo những cách khác nhau dựa trên những cơ sở khác nhau
thuyết và bài tập TN
lượng
+ Bài tập hóa vô cơ: Bài tập về các kim loại, phi kim, các hợp chất oxit, axit, bazơ,
thành bài tập cơ bản hay bài tập tổng hợp
Trang 22- Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành: Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất, tính thành phần % của hợp chất, nhận biết, tách chất,
bài tập rèn luyện tư duy khoa học,
mới; bài tập để rèn luyện, củng cố kỹ năng; bài tập kiểm tra - đánh giá
phân loại BTHH thành bài tập cơ bản và bài tập phức hợp
hợp
nghiệm tự luận (thường quen gọi là bài tập tự luận) và bài tập trắc nghiệm khách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm)
của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều bài tập của cách phân loại khác Mỗi cách phân loại bài tập ở trên đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, mỗi cách phân loại đều nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định trong những điều kiện nhất định
Trang 231.2.3 Tác dụng của bài tập hóa học [36], [38], [45]
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm giúp HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất BTHH có những tác dụng cơ bản sau:
kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ
Í
BÀI TẬP THỰC NGHIỆM
ƯỢ
BT viết PTHH của các pư biểu diễn
dãy biến hóa Xác định CTPT của hợp chất
Tính % về khối lượng hoặc thể tích
của hỗn hợp
Lắp dụng cụ thí nghiệmNhận biết các chất Xác định thành phần % của hỗn hợp
BÀI TẬP
LÍ THUYẾT Í
BÀI TẬP LÍ
THUYẾT
Trang 24được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kỹ năng thực hành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hoá chất
mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng nên gấp nhiều lần so với một HS giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn
- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững
hợp lý
xác
chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch ), nâng cao hứng thú học tập bộ môn
1.2.4 Xu hướng phát triển của BTHH [9], [10], [46], [48]
Thực tế hiện nay có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách giải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hóa học thì ít và không gắn với thực tế Khi giải những
Trang 25bài toán này mất rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về hóa học lĩnh hội được
từ bài toán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hóa học mà HS được học vào đó Những bài tập này nhiều khi làm cho các HS học trung bình dễ chán nản, thậm chí là cả những HS khá, giỏi nhiều khi cũng như vậy Vì bài tập này đòi hỏi quá nhiều thời gian, đôi khi nó quá khó so với trình độ hiện có của HS
Theo định hướng xây dựng SGK mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), quan điểm thực tiễn và đặc thù của bộ môn hóa học cần được hiểu như sau:
- Nội dung hóa học phải có tính chất gắn liền với thực tiễn đời sống, sản xuất, xã hội
Theo quan điểm đó thì xu hướng phát triển chung của BTHH hiện nay là:
vào rèn luyện và phát triển các kĩ năng cho HS, các năng lực tư duy của HS
ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
thuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học
sang bài tập trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường
lắp dụng cụ thí nghiệm
Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư duy của HS ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi có tính chất lí thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là những bài tập có tính chất rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, độc lập của HS
Trang 261.3 T Ự HỌC
1.3.1 Khái niệm tự học
là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…” [12, tr.38]
- Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi v v ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [39, tr.59-60]
Từ quan điểm về tự học nêu trên, có thể định nghĩa về tự học như sau: Tự học
là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
1.3.2 Vai trò của tự học [4], [12], [14], [45]
“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy”- Gibbon
Chính vì vậy, ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lo truyền
dạy phương pháp tự học cho HS
huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng
Trang 27- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đường quan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn
làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triển khả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thể dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mức thấp nhất giá thành đào tạo
như sau [4, tr.125-126]:
trực tiếp đến chất lượng học tập của người học
thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này
luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc
giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn
trong việc hiểu và tiếp thu tri thức mới Theo Aditxterrec: "Chỉ có truyền thụ tài liệu của GV mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của HS Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó HS phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân"
ích mà còn giúp họ rất nhiều trong công việc sau này khi họ trở thành sinh viên cũng như sau này là những người chủ thực sự góp phần xây dựng đất nước Họ có năng lực hoạt động thực tiễn hay không? Chất lượng công tác như thế nào? phụ thuộc phần lớn vào tự học
Trang 28- Không chỉ có vậy, tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho HS Việc tự học rèn luyện cho HS thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập
chọn nghề nghiệp cho mình
những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ
Tổng hợp những ý kiến từ các tài liệu trên, theo chúng tôi tự học có vai trò như sau:
thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò PP suy nghĩ, PP nghiên cứu, PP học tập,
PP giải quyết vấn đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng - 1969) GV cần giúp cho HS tìm
ra PP tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện, tài liệu tự học có hiệu quả chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
Trang 29các phương tiện thông tin khác
ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
thể diễn ra theo 3 cách sau [41, tr.61]:
qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách Đó là tự học ở mức cao
các phương tiện thông tin viễn thông khác Đó là tự học có hướng dẫn
hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn
[30]:
kinh nghiệm của người khác
tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông
minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được
sự giúp đỡ khi gặp khó khăn
Trang 30- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung
* Tự học có hướng dẫn
HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ
GV Đối với tự học có hướng dẫn từ tài liệu, HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho HS tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó
Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân loại các hình thức tự học như sau: Tự học hoàn toàn (không có thầy hướng dẫn), tự học có hướng dẫn thì chia thành 2 dạng:
liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.4 TH ỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ VIỆC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.4.1 Mục đích điều tra
1.4.1.1 Đối với học sinh
HS giải thành thạo một dạng bài tập
bài tập và giải bài tập của HS
Trang 31- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học
1.4.1.2 Đối với giáo viên
hóa học
khăn gặp phải khi sử dụng BTHH
làm bài tập
1.4.2 Đối tượng điều tra
các trường THPT ở Tp.HCM và 33 GV ở các tỉnh khác (GV ở tỉnh Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An và một số học viên lớp cao học LL và PPDH hóa học K19) Số phiếu thu hồi được là 62
khác nhau ở Tp Hồ Chí Minh, tỉnh Long An, tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Số phiếu thu hồi được là 477
Trang 32Bảng 1.1 Thống kê số lượng phiếu điều tra HS
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra
cho HS (phụ lục 1, 2)
1.4.3.1 Phiếu điều tra học sinh
Gồm các câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
Trang 331.4.3.2 Phiếu điều tra giáo viên
Gồm các câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:
gặp phải khi sử dụng BTHH
bài tập
1.4.4 Kết quả điều tra
1.4.4.1 Phiếu điều tra học sinh
Câu 1 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Bảng 1.2 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Câu 2 HS chưa thích giờ bài tập ở những điểm:
Kết quả điều tra cho thấy HS đã nêu nhiều ý kiến khác nhau Sau đây là một số
ý kiến đáng lưu ý:
Trang 34- Bài tập tương tự không có hướng dẫn giải và đáp số
Câu 3 Ứng xử của HS khi gặp một bài tập khó
Bảng 1.3 Ứng xử của HS khi gặp bài tập khó
Bảng 1.3 cho thấy: Có đến 42,97 % HS xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn;
là khoảng 2/3 số HS có nhu cầu xem bài mẫu để định hướng giải cho bài tập Do đó, việc phân tích, giải kĩ một bài mẫu cho từng dạng bài tập giúp HS có cơ sở để định hướng giải khi gặp các bài tập cùng dạng thiết nghĩ là một trong những việc cần thiết khi dạy BTHH
Câu 4: Thời gian HS dành để làm BTHH trước khi đến lớp
Trang 35Bảng 1.5 Sự chuẩn bị của HS cho tiết bài tập
Bảng 1.5: Số HS chuẩn bị kỹ, làm trước bài tập về nhà chỉ 42,9 % Có 35,76 %
HS chưa chuẩn bị tốt cho tiết bài tập (1/3) Vì vậy để HS chuẩn bị bài tập ở nhà tốt hơn cần phải giúp HS nhận thức rõ hơn tác dụng của BTHH và có tài liệu hỗ trợ để
Câu 6 Số lượng bài tập HS làm được
Bảng 1.6 Số lượng bài tập HS làm được
Câu 7 Việc giải bài tập tương tự của HS
Bảng 1.7 Kết quả điều tra về việc giải bài tập tương tự của HS
Trang 36Bảng 1.7 cho thấy: Có khoảng 83 % HS không thường xuyên tìm giải bài tập tương tự ở nhà Như vậy, phần đông HS chưa có thói quen làm bài tập tương tự ở nhà
để rèn kỹ năng giải bài tập Cũng có thể do chưa có HTBT tương tự cho HS tự học và chưa có phương pháp giải từng dạng cũng như bài giải mẫu giúp HS nắm rõ các bước giải của dạng bài tập đó
Câu 8 Những khó khăn mà HS gặp phải khi giải BTHH
Bảng 1.8 Những khó khăn của HS khi giải BTHH
Số ý kiến Tỉ lệ %
Bảng 1.8 cho thấy: Khoảng 40% HS gặp khó khăn vì các bài tập không được xếp từ dễ đến khó và không có đáp số cho bài tập tương tự; khoảng 1/2 HS gặp khó khăn vì thiếu bài tập tương tự, không có bài giải mẫu và các bài tập lộn xộn không theo dạng
Như vậy việc xây dựng HTBT có bài tập mẫu và hướng dẫn giải theo từng
dạng, có đáp án chi tiết thì rất cần thiết cho đa số HS
Câu 9 Yếu tố giúp HS giải tốt bài tập
Bảng 1.9 Các yếu tố giúp HS giải tốt bài tập
Trang 37Như vậy, những yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập xếp theo mức
độ cần thiết giảm dần là:
2 - Xem lại bài tập đã giải
4 - Tự làm lại bài tập đã giải
tư liệu tham khảo mất nhiều thời gian, còn học thêm thì đã có thầy hướng dẫn sẵn, soạn sẵn Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thầy bên cạnh, nên xét cho cùng nếu như HS có được phương pháp tự học đúng đắn thì chắc chắn các em sẽ thích thú về việc làm bài tập hơn
Vì vậy GV cần giúp HS nhận thức đúng vai trò của tự học và tạo niềm tin giúp
các em tự học
Câu 11 Lý do HS cần phải tự học
Trang 38Bảng 1.11 Kết quả điều tra về lí do HS phải tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Bảng 1.11 cho thấy: Tỉ lệ HS nhận thức rõ vai trò của tự học chưa cao Điều này có nghĩa là tỉ lệ HS đã có ý thức tốt về nhiệm vụ học tập, nhưng vấn đề tự học thì
chưa cao
Câu 12 HS sử dụng thời gian tự học
Bảng 1.12 Kết quả điều tra về thời gian HS tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Bảng 1.12 cho thấy: Tỉ lệ HS dành nhiều thời gian để đọc lại bài và chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn cao hơn tỉ lệ HS dành thời gian để đọc tài liệu tham khảo Như vậy, việc GV soạn tài liệu hướng dẫn HS theo nội dung đã học ở lớp là rất cần
thiết
Câu 13 Cách thức tự học của HS
Trang 39Bảng 1.13 Kết quả điều tra về cách thức tự học của HS
Số ý kiến Tỉ lệ %
Câu 14 Những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình tự học
Bảng 1.14 Khó khăn của HS trong quá trình tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Từ kết quả thăm dò trên thiết nghĩ GV nên hướng dẫn cụ thể cho việc học tập hơn nữa, soạn thêm tài liệu học tập, tham khảo, kiến thức trọng tâm có hướng dẫn cụ thể để hệ thống hóa kiến thức và hỗ trợ cho HS tự học
Câu 15 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học
Bảng 1.15 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Nhận xét: HS đã nhận thức được vai trò của niềm tin và sự chủ động của bản thân chưa cao lắm HS vẫn đánh giá đánh giá cao vai trò của sự tổ chức, hướng dẫn của thầy và tài liệu hướng dẫn học tập
Như vậy, để giúp các em tự học thì việc biên soạn tài liệu hướng dẫn cũng như
sự tổ chức, hướng dẫn của GV là rất quan trọng
Trang 401.4.4.2 Phiếu điều tra cho giáo viên
Câu 1 Sự cần thiết phải sử dụng thêm HTBT để nâng cao kết quả học tập của
Bảng 1.17 cho thấy: Gần 90% GV thường xuyên sử dụng thêm BTHH