Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, sự thách thức đòi hỏi phải thay đổi về phương pháp dạy và học - Đây không phải là vấn đề riêng của nước ta mà là vấn đề đang được quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- -
Lê Thị Thiện Mỹ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON
HÓA HỌC 11 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Lê Thị Thiện Mỹ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON
HÓA HỌC 11
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số : 60 14 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Thành phố Hồ chí Minh - 2011
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gởi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu trường ĐHSP TP HCM, Phòng Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khóa học được hoàn thành tốt đẹp
Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học, chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, mở rộng và làm sâu sắc kiến thức chuyên môn, đã chuyển những hiểu biết hiện đại của nhân loại về Giáo dục học Hóa học đến cho chúng tôi
Đặc biệt, chúng tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướng sáng suốt giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn Đồng thời, tôi trân trọng cảm ơn quý thầy,
cô giảng dạy ở khoa Hóa, Trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM, đặc biệt PGS.TS Trịnh Văn Biều đã có nhiều ý kiến quý báu và lời động viên giúp tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu này
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn đến thầy cô ở các trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Trương Vĩnh Ký, Ngô Gia Tự - TP Cam Ranh, dân tộc nội trú Trà Vinh cũng như quý thầy
cô của nhiều trường PTTH trong và ngoài địa bàn TP HCM đã có nhiều giúp đỡ trong quá trình thực nghiệm sư phạm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này
Tác giả
Lê Thị Thiện Mỹ
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 11
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1.1 Vấn đề tự học trên thế giới 5
1.1.2 Vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 6
1.1.3 Vấn đề tự học đối với môn hóa học [10], [19], [42], [57] 8
1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ về tự học 8
1.2 BÀI TẬP HÓA HỌC 9
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học 9
1.2.2 Tác dụng của bài tập hóa học [35], [39], [46] 11
1.2.3 Phân loại bài tập hóa học [13], [30], [35], [46], [62] 13
Trang 51.2.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH [15] 14
1.2.5 Xu hướng phát triển của BTHH [7], [8], [47], [49] 17
1.3 TỰ HỌC 18
1.3.1 Khái niệm tự học 18
1.3.2 Các hình thức tự học 18
1.3.3 Chu trình tự học của học sinh [40, tr.160-161] 20
1 3.4 Vai trò của tự học [2], [10], [22], [24], [56] 20
1.4 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ VIỆC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 23
1.4.1 Mục đích điều tra 23
1.4.2 Đối tượng điều tra 24
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra 24
1.4.4 Kết quả điều tra 25
1.4.5 Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra 35
CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 37
2.1 BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC 37
2.1.1 Khái niệm bài tập hỗ trợ tự học 37
2.1.2 Đặc điểm của HTBT hỗ trợ tự học 37
2.2 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC 38
2.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại 38
2.2.2 Đảm bảo tính logic 38
2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 38
2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 38
2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 38
2.2.6 Bám sát nội dung dạy học 39
2.2.7 Chú trọng kiến thức trọng tâm 39
2.2.8 Gây hứng thú cho người học 39
2.2.9 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 39
2.3 QUI TRÌNH XÂY DỰNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC 40
Trang 62.3.1 Bước 1: Nghiên cứu nội dung 40
2.3.2 Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm 40
2.3.3 Bước 3: Lập ma trận hai chiều 40
2.3.4 Bước 4: Sưu tầm, biên soạn 40
2.3.5 Bước 5: Tham khảo ý kiến GV 41
2.3.6 Bước 6: Chỉnh sửa, hoàn thiện 41
2.4 HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 41
2.4.1 Hệ thống bài tập phần Dẫn xuất halogen 43
2.4.2 Hệ thống bài tập phần Ancol 49
2.4.3 Hệ thống bài tập phần Phenol 61
2.5 HƯỚNG DẪN GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP 70
2.5.1 Phương hướng chung khi giải một số dạng bài tập phần dẫn xuất hiđrocacbon 70 2.5.2 Hướng dẫn giải cụ thể một số dạng bài tập cho từng bài học 74
2.6 SỬ DỤNG HTBT HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 96
2.6.1 Hướng dẫn sử dụng HTBT 96
2.6.2 Những lưu ý đối với học sinh khi sử dụng HTBT 97
2.6.3 Những lưu ý đối với giáo viên khi sử dụng HTBT 97
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 100
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 100
3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 100
3.3.TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM 101
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 102
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
1 Kết luận 117
2 Kiến nghị 118
Trang 73 Hướng phát triển của đề tài 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượng phiếu điều tra HS 27
Bảng 1.2 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH 28
Bảng 1.3 Ứng xử của HS khi gặp bài tập khó 29
Bảng 1.4 Thời gian HS dành để làm BTHH 30
Bảng 1.5 Sự chuẩn bị của HS cho tiết bài tập 30
Bảng 1.6 Số lượng bài tập HS làm được 30
Bảng 1.7 Kết quả điều tra về việc giải bài tập tương tự của HS 31
Bảng 1.8 Ý kiến của HS về thời gian GV dành để giải bài mẫu 31
Bảng 1.9 Những khó khăn của HS khi giải BTHH 31
Bảng 1.10 Các yếu tố giúp HS giải tốt bài tập 32
Bảng 1.11 Kết quả điều tra về sự đầu tư để học tốt môn hóa học 32
Bảng 1.12 Kết quả điều tra về sự cần thiết của tự học 33
Bảng 1.13 Kết quả điều tra về lí do HS phải tự học 33
Bảng 1.14 Kết quả điều tra về thời gian HS tự học 34
Bảng 1.15 Kết quả điều tra về cách thức tự học của HS 34
Bảng 1.16 Khó khăn của HS trong quá trình tự học 34
Bảng 1.17 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của tự học 35
Bảng 1.18 Nhận xét của GV về BTHH trong SGK và sách bài tập 35
Bảng 1.19 Nhận xét của GV về sự cần thiết phải sử dụng thêm BTHH 35
Bảng 1.20 Mức độ sử dụng thêm BTHH của GV 36
Bảng 1.21 Nguồn gốc của HTBT mà GV sử dụng thêm 36
Bảng 1.22 Hình thức thiết kế HTBT của GV 36
Bảng 1.23 Cách thức sử dụng HTBT của GV 36
Bảng 1.24 Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học 37
Bảng 1.25 Số lượng bài tập mà GV hướng dẫn giải trong 1 tiết học 37
Bảng 1.26 Kết quả điều tra về % số HS làm được bài tập 37
Bảng 1.27 Những khó khăn của GV khi dạy BTHH 37
Bảng 1.28 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH 38
Bảng 1.29 Mức độ cần thiết của các biện pháp xây dựng hệ thống BTHH 38
Bảng 2.1 Các dạng bài tập phần tự luận 46
Bảng 2.2 Cấu trúc của HTBT 47
Trang 10Bảng 2.3 Thứ tự nhận biết các chất hữu cơ thường gặp 80
Bảng 2.4 Cấu tạo và tên gọi của C4H9Cl 85
Bảng 2.5 Cấu tạo và tên gọi một số gốc hiđrocacbon thường gặp 86
Bảng 2.6 Phân biệt etyl bromua, anlyl clorua, clobenzen 88
Bảng 2.7 Công thức ancol 90
Bảng 2.8 Đồng phân chứa vòng benzen có CTPT C7H8O 101
Bảng 2.9 Công thức cấu tạo A, B 103
Bảng 3.1 Các lớp TN và ĐC 111
Bảng 3.2 Điểm bài kiểm tra 15 phút 115
Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút 115
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút 116
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 15 phút 117
Bảng 3.6 Điểm bài kiểm tra 1 tiết 118
Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 tiết 118
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra 1 tiết 119
Bảng 3.9 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 1 tiết 120
Bảng 3.10 Nhận xét của GV về HTBT 121
Bảng 3.11 Số lượng phiếu nhận xét của HS 123
Bảng 3.12 Nhận xét của HS về HTBT 124
Trang 11DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập 12
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại chi tiết BTHH ở trường phổ thông 15
Hình 1.3 Chu trình tự học 22
Hình 2.1 Phân loại dẫn xuất halogen 84
Hình 2.2 Gọi tên dẫn xuất halogen 85
Hình 2.3 Tính chất hóa học của dẫn xuất halogen 87
Hình 2.4 Phân loại ancol 91
Hình 2.5 Gọi tên ancol 92
Hình 2.6 Tính chất hóa học ancol 93
Hình 2.7 Tính chất hóa học của phenol 102
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút 116
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 15 phút 117
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1tiết 119
Hình 3.4 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 1tiết 120
Trang 12M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XX đã trôi qua, nhân loại đang bước vào thế kỉ mới Một trong những đặc điểm cơ bản của thế kỉ này là cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang phát triển như vũ bão, thời đại của nền “kinh tế tri thức” đã và đang dẫn đến sự bùng nổ thông tin
Trước tình hình đó, để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, của thời đại, một yêu cầu hết sức cấp bách đang đặt ra với nền giáo dục nước ta là phải liên tục đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy học Mục đích cuối cùng là để từng cá nhân, mỗi
cá thể, mỗi công dân tự mình có ý thức tạo được một cuộc cách mạng học tập trong bản thân mỗi người
Nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại - thời đại mà mỗi người phải học tập suốt đời Để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại
Trước sự thay đổi, sự tiến bộ của xã hội như vậy thì việc dạy và học một cách thụ động sẽ không đáp ứng được những yêu cầu của xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, sự thách thức đòi hỏi phải thay đổi về phương pháp dạy và học - Đây không phải là vấn đề riêng của nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm trên mọi quốc gia trong việc phát triển nguồn lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế, xã hội
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người có năng lực, đầy tự tin, có tính độc lập, sáng tạo, những người
có khả năng tự học, tự đánh giá, có khả năng hòa nhập và thích nghi với cuộc sống luôn
biến đổi Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định: “Phải khuyến khích
tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS và bồi dưỡng phương pháp học tập mà cốt
Trang 13lõi là tự học để họ tự học suốt đời Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy Dạy cách học chủ yếu là dạy phương pháp tự học
Một trong những phương pháp hỗ trợ HS tự học môn hóa học ở trường THPT là sử dụng HTBT BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới
Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc tự học ở nhà của HS là rất quan trọng và cần thiết
Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài : “XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT
HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT”
2 M ục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon (hợp chất hữu cơ có nhóm chức) hóa học 11 nâng cao trường THPT
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ việc tự học cho HS trong quá trình dạy học
- Xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường THPT
- Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả
- TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất
từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Việc xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn
xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường THPT
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu lí luận về việc hỗ trợ HS tự học
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa
- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng các phiếu câu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- TN sư phạm đánh giá hiệu quả, tính khả thi của HTBT và các biện pháp hỗ trợ HS tự học đã đề xuất
5.3 Xử lí kết quả TN sư phạm bằng các phương pháp thống kê toán học
6 Ph ạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức được giới hạn trong 2 chương : “Dẫn xuất halogen-Ancol-Phenol”
và “Anđehit-Xeton-Axit cacboxylic ” hóa học lớp 11 chương trình nâng cao ở trường THPT
- Địa bàn nghiên cứu :
+ Trường THPT Nguyễn Văn Cừ, huyện Hóc môn, thành phố Hồ Chí Minh
+ Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Trường THPT tư thục Trương Vĩnh Ký, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Trường PTDTNT-THPT Trà Vinh, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
+ Trường THPT Ngô Gia Tự, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa
- Thời gian nghiên cứu : từ 01/06/2010 đến 30/08/2011
7 Gi ả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất
hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học hóa học hiện nay
ở trường THPT
8 Nh ững đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong quá trình tự học của HS
- Đề xuất nội dung và phương pháp hỗ trợ việc tự học của HS
Trang 15- Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao để hỗ trợ HS tự học
- Đề xuất cách lựa chọn các dạng BTHH để hỗ trợ việc tự học của HS
- Giúp HS rèn luyện các kĩ năng giải BTHH góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
- Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình học hóa học ở trường THPT
Trang 16CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề tự học của HS – SV đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Vấn đề tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới
Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi
vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo
• John Dewey (1859 - 1952) phát biểu "HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm, tư tưởng này đã được đưa vào TN: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác", "Phương pháp cá thể hoá" … Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV là người trọng tài, đạo diễn, thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học
• T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế
kỷ XX đã cho rằng " Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn
HS tự học"
• “Tự học như thế nào ” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình [33]
Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học như :
• Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái
gì và học như thế nào ? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp [32]
• “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tác giả đã
đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [25]
Trang 17• Năm 2007, cuốn “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW Green Jr do Trần Vũ Thạch dịch đã được tái bản lần thứ 25 Với cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra cách kết hợp phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phương pháp trở thành sinh viên giỏi hơn, với nhau thành một hệ thống để trở thành sinh viên đạt toàn điểm 10 [20]
• Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế !” của Adam Khoo do Trần Đăng Khoa
và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản Với cuốn sách này, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tìềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con
người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [23]
1.1.2 Vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học
là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một
GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết
về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”
Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học
• Tác giả Trần Anh Tuấn có bài viết : “Vấn đề tự học của HS từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 năm 1996 [56]
• PGS.TSKH Thái Duy Tuyên và Trần Thị Trúc có bài viết: “Tổ chức dạy học trên lớp để giúp sinh viên tự học” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 123 năm 2005 [59]
Trang 18• PGS.TS Đỗ Xuân Thảo và Lê Hải Yến có bài viết: “Đọc sách hiệu quả - Một kỹ năng quan trọng để tự học thành công” đăng trên Tạp chí Dạy và Học ngày nay số 12 năm 2007 [27]
• Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của của
HS THCS” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 201 năm 2008 [38]
• Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Quan niệm về tự học môn toán của HS THCS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 32 năm 2008 [28]
• TS Ngô Quang Sơn có bài viết: “Thiết kế và sử dụng hiệu quả tài liệu tự học điện tử
ở các trường Cao đẳng và Đại học: Thực trạng và các biện pháp quản lí” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 43 năm 2009 [34]
• PGS.TS Nguyễn Văn Đản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho HS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009 [16]
• TS Nguyễn Gia Cầu có bài viết: “Bồi dưỡng cho HS tính tích cực, chủ động trong quá trình tự học văn” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 237 năm 2010 [12]
Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :
• Trong “Tôi tự học”, tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học và đưa ra 8 nguyên tắc để làm việc [19]
• Trong “Biển học vô bờ”, GS.TS.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các tác giả đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn ở trường THPT và giúp
HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất ?” [41]
• Cuốn “Học và dạy cách học” do GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam được viết một cách
có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học” [42]
• Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào cho tốt”
đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người học thấy được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều loại khó khăn trong quá trình tự học [44] Hai cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học
Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học
Trang 191.1.3 Vấn đề tự học đối với môn hóa học [10], [19], [42], [57]
Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng thực nghiệm, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo
Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều [10], học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người
Để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unesco đề ra : Học để học cách học, học để làm, học để sáng tạo và học để chung sống với người khác thì người học phải tuân theo công thức 4H : Học- Hỏi- Hiểu- Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dung theo như tinh thần GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “học và dạy cách học” “Sáu mọi” quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này tận dụng cái kia và là tiền đề cho cái kia Nói đến cái này thì trong đó lại thấp thoáng cái kia nên dễ có cảm tưởng “trùng lặp” nhưng nếu chỉ bớt đi một cái thì lại thấy thiếu Mới nghe tưởng chừng như cách học “sáu mọi” rất căng thẳng, rất nhồi nhét Thực tế, nó rất nhẹ nhàng giống như cách học trong câu : “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Người học chỉ cần có ý thức “học”và phải kiên trì, bền bỉ Vì vậy, luyện dần cách học “sáu mọi” càng sớm càng tốt và dù muộn vẫn hơn không
Theo TS.Vũ Anh Tuấn [57], học tích cực trước hết là phải biết tự học một cách chủ
động và thể hiện một cách sáng tạo Cách học tích cực rất đa dạng, nhưng có chung một đặc
trưng là khám phá và khai phá Nếu xét tổng quát, có 4 cách học mang lại cho ta sự khám phá và sự khai phá tối đa Nói một cách nôm na, dễ hiểu, đó là “4 bất kỳ” : Học bất kỳ lúc nào, học bất kỳ nơi nào, học bất kỳ người nào, học bất kỳ nguồn nào Bốn cách học “bất kỳ” ấy cần được kết hợp liên hoàn Chúng sẽ giúp ta phát triển trí tuệ và mang lại hiệu quả cao, cả khi học tập mọi bộ môn và khi làm việc trong mọi nghề
1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ về tự học
1 Hoàng Kiều Trang (2004), Tăng cường năng lực tự học phần hoá vô cơ (chuyên môn
I) cho HS ở trường Cao đẳng Sư phạm bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội
Trang 202 Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa hữu cơ
lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
3 Phạm Thùy Linh (2009), Thiết kế E-book hỗ trợ khả năng tự học của HS lớp 12
chương “Đại cương về kim loại” chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
4 Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế E-book hóa học lớp 12 phần Crôm, sắt, đồng
nhằm hỗ trợ HS tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
5 Trần Thị Thanh Hà (2009), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm
nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 12, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP
TP Hồ Chí Minh
6 Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học
cho HS giỏi hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
7 Đặng Nguyễn Phương Khanh (2010), Thiết kế ebook hỗ trợ HS tự học hóa học lớp 9
THCS, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
8 Nguyễn Ngọc Nguyên (2010), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
9 Đỗ Thị Việt Phương (2010), Thiết kế ebook hướng dẫn HS tự học phần hóa vô cơ lớp
10 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Như vậy, việc sử dụng hệ thống BTHH phần dẫn xuất hiđrocacbon (hợp chất hữu cơ
có nhóm chức) Hóa học 11 nâng cao trường THPT hỗ trợ việc tự học cho HS vẫn chưa được
quan tâm đúng mức Điều đó gây trở ngại lớn cho HS khi học phần này Do đó, xây dựng và
sử dụng HTBT hỗ trợ việc tự học cho HS phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao
là cần thiết
1.2 BÀI TẬP HÓA HỌC
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy học hiệu quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra đáp số - một trạng thái hưng phấn , hứng thú nhận thức - một yếu
Trang 21tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển
Vậy BTHH là gì ? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt là GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiệu quả trí - đức dục cao nhất?
Khái niệm bài tập hóa học [46], [61], [62]
Theo từ điển tiếng việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định
Theo nhà lý luận dạy học Liên Xô Zueva M.V., bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo TN
Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động Một
HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 11 là một ”bài tập” và ngược lại, đối với HS lớp 11, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải” Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau
a) Bài tập - đối tượng
Trang 22
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập
Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài tập là
nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu
các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn
Theo chúng tôi, thuật ngữ “BTHH” chung hơn khái niệm “bài toán hóa học” và bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học và có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái
niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
1.2.2 Tác dụng của bài tập hóa học [35], [39], [46]
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học
− Rèn luyện cho HS khả năng vận dựng được những kiến thức đã học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định : “Kiến thức sẽ được nắm vững thực
sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết
và thực hành”
− Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
− Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất
− Rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kỹ năng thực hành như cân,
đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hoá chất
− Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải thông thường
Trang 23còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng nên gấp nhiều lần so với một HS giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn
− BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập TN định lượng
− BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp
lý
− BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác
− BTHH có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch ), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập TN
Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả: không phải một BTHH “hay” thì luôn
có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là “ người sử dụng nó” Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để
HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH mới thật sự có ý nghĩa
Trang 241.2.3 Phân loại bài tập hóa học [13], [30], [35], [46], [62]
Trong nhiều tài liệu về phương pháp dạy học hóa học, các tác giả phân loại BTHH theo những cách khác nhau dựa trên những cơ sở khác nhau Vì vậy cần có cái nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa trên việc nắm chắc các cơ sở phân loại
1 Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, chia bài tập thành bài tập lí thuyết
và bài tập TN
2 Dựa vào tính chất của bài tập, chia bài tập thành bài tập định tính và bài tập định lượng
3 Dựa vào nội dung của bài tập có thể chia thành :
• Bài tập hóa đại cương : Bài tập về dung dịch, bài tập về điện phân,
• Bài tập hóa vô cơ : Bài tập về các kim loại, phi kim, các hợp chất oxit, axit, bazơ,
• Bài tập hóa hữu cơ : Bài tập về hiđrocacbon, về ancol, anđehit,
4 Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản hoặc phức tạp có thể chia thành bài tập cơ bản hay bài tập tổng hợp
5 Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành : Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất, tính thành phần % của hợp chất, nhận biết, tách chất, điều chế,
6 Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành : Bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ, bài tập rèn luyện tư duy khoa học,
7 Dựa vào mục đích dạy học, chia bài tập thành : Bài tập để hình thành kiến thức mới; bài tập để rèn luyện, củng cố kỹ năng; bài tập kiểm tra - đánh giá
8 Dựa vào hoạt động nhận thức của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải, có thể phân loại BTHH thành bài tập cơ bản và bài tập phức hợp
9 Dựa vào phương pháp hình thành kỹ năng giải bài tập có thể phân chia BTHH thành :
Bài tập mẫu, bài tập tương tự xuôi ngược, bài tập có biến đổi và bài tập tổng hợp
10 Dựa vào hình thức kiểm tra-đánh giá, BTHH được chia làm 2 loại là bài tập trắc nghiệm tự luận (thường quen gọi là bài tập tự luận) và bài tập trắc nghiệm khách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm)
Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt vì trong bất kì loại bài tập nào của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều bài tập của cách phân loại khác Mỗi cách phân loại bài tập ở trên đều có những mặt mạnh và mặt yếu của nó, mỗi cách phân loại đều nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định và cho đến nay vẫn chưa
Trang 25có sự thống nhất về tiêu chuẩn phân loại BTHH
1.2.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH [15]
1.2.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải BTHH
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau :
a) Nghiên cứu đầu bài
- Đọc kỹ đầu bài
- Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dễ sử dụng)
- Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản
- Viết PTHH của các pư có thể xảy ra
b) Xây dựng tiến trình luận giải
BÀI TẬP THỰC NGHIỆM ĐỊNH TÍNH
BÀI TẬP THỰC NGHIỆM ĐỊNH LƯỢNG
BT viết PTHH của các pư biểu diễn
dãy biến hóa Xác định CTPT của hợp chất
Tính % về khối lượng hoặc thể tích
của hỗn hợp
Lắp dụng cụ thí nghiệmNhận biết các chất Xác định thành phần % của hỗn hợp
BÀI TẬP
LÍ THUYẾT ĐỊNH TÍNHBÀI TẬP
LÍ THUYẾT
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại chi tiết BTHH ở trường phổ thông
Trang 26Thực chất là đi tìm con đường đi tư cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là GV
đã dạy cho HS bằng bài tập Thông qua đó HS không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải
mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác Điều này được thông qua một số dạng câu hỏi như sau (GV gợi ý sau đó tập dần cho HS tự đặt
câu hỏi)
c) Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kết quả bằng cách khác không ? tối ưu hơn không ? nét đặc biệt của bài toán là gì ?, Trên thực tế ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lập luận của mình một cách sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết thúc Như vậy, chúng ta đã bỏ mất một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả
và con đường đã đi, HS có thể củng cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phải hiểu và làm cho HS hiểu : không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn lại một cái gì để suy nghĩ Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn
Tuy nhiên, việc vận dụng các giai đoạn trên vào hướng dẫn HS giải một BTHH sao cho hiệu quả còn phụ thuộc nhiều vào sự khéo léo, linh hoạt của người GV Việc đặt câu hỏi như thế nào, sử dụng phương pháp dạy học nào và tổ chức các hoạt động của HS như thế nào để HS thực hiện tốt quá trình giải (đặc biệt là giai đoạn luận giải) đồng thời nắm chắc cách giải của bài tập để có thể vận dụng vào các bài tập tiếp theo thì chưa được đề cập
1.2.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH
− Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả quá trình nhận thức bao gồm
“một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội
được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi tương ứng”
Trang 27− Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích lũy thêm kỹ năng sẽ
trở thành công cụ tư duy của HS
− Theo M.A Đanilôp “ Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động lý thuyết cũng như thực tiễn Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động mà những hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hóa Kỹ xảo là mức độ cao của sự nắm vững kỹ năng Nếu như kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là hành động đã được tự động hoá, trong đó sự tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng
− Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ : Biết, hiểu và vận dụng + Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức khác,
kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu mà HS cần đạt được trong giờ học tập
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức là nêu đúng ngoại hàm và nội diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao
− Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyết các bài toán khác nhau Ở
Trang 28đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:
1.2.5 Xu hướng phát triển của BTHH [7], [8], [47], [49]
Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách giải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hóa học thì ít và không gắn với thực tế Khi giải những bài toán này thì mất rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về hóa học lĩnh hội được từ bài toán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hóa học mà HS được học vào đó Những bài tập này nhiều khi làm cho các HS học trung bình dễ chán nản, thậm chí là cả những HS khá, giỏi nhiều khi cũng như vậy Vì bài tập này đòi hỏi quá nhiều thời gian, đôi khi nó quá khó so với trình độ hiện có của HS
Theo định hướng xây dựng SGK mới của Bộ giáo dục và Đào tạo (2002), quan điểm thực tiễn và đặc thù của bộ môn hóa học cần được hiểu như sau :
- Nội dung hóa học phải có tính chất gắn liền với thực tiễn đời sống, sản xuất, xã hội
- Nội dung hóa học gắn với thực hành thí nghiệm hóa học
- BTHH phải có nội dung phù hợp
Theo quan điểm đó thì xu hướng phát triển chung của BTHH hiện nay là :
- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích không nặng về tính toán mà tập trung vào rèn luyện và phát triển các kĩ năng cho HS, các năng lực tư duy của HS
- BTHH phải chú ý tới việc rèn luyện các kĩ năng, thao tác làm thí nghiệm
- BTHH phải chú ý tới việc mở rộng kiến thức và có sự liên hệ với thực tiễn, có sự ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Các BTHH định lượng được xây dựng trên cơ sở không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học
- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển các bài tập tự luận, tính toán sang bài tập trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường
- Đa dang hoá các loại bài tập như : Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm
Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư duy của
HS ở cả 3 phương diện : lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi có tính chất lí
Trang 29thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là những bài tập có tính chất rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, độc lập của HS
- Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn : “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải
sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình” [40, tr.59-60]
Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau : Tự
học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
1.3.2 Các hình thức tự học
Theo tài liệu Lí luận dạy học hóa học [10, tr.38], tự học có 3 hình thức :
- Tự học không có hướng dẫn : Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn : Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp : Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học có thể
diễn ra theo 3 cách sau [42, tr.61] :
Trang 30- Có SGK rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách Đó là tự học ở mức cao
- Có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Đó là tự học có hướng dẫn
- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì việc tự học có thể diễn ra theo 2 cách sau [30]:
* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
- Tự học hoàn toàn (không có GV) thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập, thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa) : HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn : Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung
- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp
* Tự học có hướng dẫn
HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn : từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV Đối với tự học có hướng dẫn từ tài liệu, HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho HS tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức
và phương pháp học nội dung kiến thức đó
Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân loại các hìn h thức tự học như sau : Tự học hoàn toàn (không có thầy hướng dẫn), tự học có hướng dẫn thì chia thành 2 dạng :
- Có hướng dẫn nhưng không giáp mặt : Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu
hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
Trang 31- Có hướng dẫn trực tiếp : Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong
tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.3.3 Chu trình tự học của học sinh [40, tr.160-161]
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thời (1) : Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Thời (2) : Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Thời (3) : Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.4 Vai trò của tự học [2], [10], [22], [24], [56]
Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau [10] :
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục : một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy’- Gibbon
Chính vì vậy, ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người
Trang 32- Tự học khắc phục nghịch lí : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn
- Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn :
- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đường quan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn
- “Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy : “Không thầy đố mày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triển khả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thể dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mức thấp nhất giá thành đào tạo
PGS.TS Hoàng Anh, PGS.TS Nguyễn Thị Châu đã nêu vai trò của tự học như sau [2,
- Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù hợp, giúp
họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn
Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh [22]:
Tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
- Tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho HS hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố, ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới
- Tự học không những giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình
- Tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp HS mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp HS hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách
Trang 33của mình
- Trong quá trình học tập ở trường, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy tiềm năng to lớn vốn có của HS, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV, GV đóng vai trò rất lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn HS tự học một cách đúng hướng và hiệu quả
Theo tác giả Trần Anh Tuấn [56] :
- Tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao thành tích, hoạt động trí tuệ của HS trong việc hiểu và tiếp thu tri thức mới Theo Aditxterrec: "Chỉ có truyền thụ tài liệu của GV
mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của HS Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó HS phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân"
- Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho HS những kiến thức mới, bổ ích
mà còn giúp họ rất nhiều trong công việc sau này khi họ trở thành sinh viên cũng như sau này là những người chủ thực sự góp phần xây dựng đất nước Họ có năng lực hoạt động thực tiễn hay không ? Chất lượng công tác như thế nào ? phụ thuộc phần lớn vào tự học
- Không chỉ có vậy, tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho HS Việc tự học rèn luyện cho HS thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong cuộc sống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình
- Hơn thế, tự học thúc đẩy HS lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ
Tổng hợp những ý kiến từ các tài liệu trên, theo chúng tôi tự học có vai trò như sau :
- Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức
đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn
mà tuổi học đường thì có hạn
- Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
Trang 34- Tự học là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp
- Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
- Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt đối với
HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học đang trở thành chìa khóa vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay
1.4 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ VIỆC TỰ
1.4.1 Mục đích điều tra
1.4.1.1 Đối với học sinh
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học
1.4.1.2 Đối với giáo viên
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hóa học
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT : mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH
Trang 35- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập
1.4.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng : HS và GV hóa học
- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 32 GV hóa học ở các trường THPT ở Tp.HCM và 39 GV ở các tỉnh khác (GV ở tỉnh Trà Vinh, Khánh Hòa và học viên lớp cao học LL và PPDH hóa học K19) Số phiếu thu hồi được là 66 phiếu
- Chúng tôi cũng đã gởi phiếu điều tra đến 628 HS (16 lớp) ở các trường THPT khác nhau ở Tp Hồ Chí Minh, tỉnh trà Vinh và tỉnh Khánh Hòa Số phiếu thu hồi được là 597 phiếu
Bảng 1.1 Thống kê số lượng phiếu điều tra HS
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra
Với mục đích điều tra trên, chúng tôi sử dụng 2 phiếu điều tra : phiếu điều tra cho
GV và phiếu điều tra cho HS (phụ lục 1, 2)
1.4.3.1 Phiếu điều tra học sinh
Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề :
Trang 36a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH (câu 1, câu 4, câu 10)
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS (câu 2, câu 3, câu 5, câu 7)
c) Tìm hiểu những khó khăn mà HS gặp phải khi giải bài tập (câu 6, câu 8) và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập (câu 9)
d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học (câu 11, câu 12, câu 13) e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học (câu 14, câu 15)
f) Tìm hiểu những khó khăn mà HS gặp phải khi tự học (câu 16) và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học (câu 17)
1.4.3.2 Phiếu điều tra giáo viên
Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung :
a) Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV (câu 2, câu 3, câu 4, câu 5, câu 6, câu 7)
b) Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hóa học (câu 1)
c) Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT : mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH (câu 8, câu 9, câu 10)
d) Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập (câu 11, câu 12)
1.4.4 Kết quả điều tra
1.4 4.1 Phiếu điều tra học sinh
Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề :
a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
Câu 1: Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Bảng 1.2 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Nhận xét : Số HS thích và rất thích giờ bài tập chiếm 49,8 % Như vậy, gần 1/2 số
HS có thái độ tích cực đối với giờ bài tập Số HS chưa nhận thức được tác dụng của giờ bài tập cũng khá cao (bình thường : 45,2 % ; không thích : 5,0 %) Nguyên nhân mà HS chưa thích giờ bài tập sẽ được làm rõ hơn ở câu 10
Trang 37Câu 10: HS chưa thích giờ bài tập ở những điểm:
Về vấn đề này HS đã nêu nhiều ý kiến khác nhau Chúng tôi tổng kết được một số ý kiến đáng lưu ý như sau :
- Thời gian dành cho giờ bài tập ít trong khi đó số lượng bài tập nhiều
- Nhiều dạng bài tập nên GV không thể giải chi tiết hết từng dạng
- Ít có bài tập tương tự từ dễ đến khó
- Bài tập tương tự không có đáp số
- Kiến thức rộng, khó bao quát
- Bài tập khó, dữ kiện phức tạp nên không biết bài toán thuộc dạng nào
Câu 4: Ứng xử của HS khi gặp một bài tập khó
Bảng 1.3 Ứng xử của HS khi gặp bài tập khó
Nhận xét: Có đến 40,6 % HS xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn; 26,1% tham khảo lời giải trong sách bài tập khi gặp bài tập khó, như vậy HS có nhu cầu xem bài mẫu để định hướng giải cho bài tập Chỉ có 19,7 % HS tích cực mày mò tìm lời giải và cũng có số lượng nhỏ hơn HS chán nản không làm ( 13,6 % ) Do đó, việc phân tích, giải kĩ một bài mẫu cho từng dạng bài tập giúp HS có cơ sở để định hướng giải khi gặp các bài tập cùng dạng thiết nghĩ là một trong những việc cần thiết khi dạy BTHH
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
Câu 2: Thời gian HS dành để làm BTHH trước khi đến lớp
Nhận xét: Số HS dành 30 – 60 phút và trên 60 phút là 30,6 % (khoảng 1/3) Như vậy,
đa số HS chưa dành nhiều thời gian cho BTHH, việc giải bài tập ở nhà của HS còn tùy hứng (thời gian không rõ – không cố định)
Câu 3: Chuẩn bị cho tiết bài tập
Trang 38Bảng 1.5 Sự chuẩn bị của HS cho tiết bài tập
Nhận xét: Nhiều HS chưa chuẩn bị kỹ cho tiết bài tập, HS chỉ đọc lướt qua các bài tập (chiếm 24,6 %) và cũng có HS không chuẩn bị gì (11,1 %) Số HS chuẩn bị kỹ, làm trước bài tập về nhà chỉ 39,7 % Vì vậy để HS chú ý chuẩn bị bài tập ở nhà tốt hơn cần phải giúp HS nhận thức rõ hơn tác dụng của BTHH và tài liệu hỗ trợ để các em có niềm tin, tập trung chuẩn bị bài
Câu 5: Số lượng bài tập HS làm được
Bảng 1.6 Số lượng bài tập HS làm được
% 1 , 50 597
) 5 , 87 81 ( ) 5 , 62 201 ( ) 5 , 37 252 ( ) 63 5 , 12
=
A
Số bài tập mà HS làm được không cao, vào khoảng 50 %
Câu 7: Việc giải bài tập tương tự của HS
Bảng 1.7 Kết quả điều tra về việc giải bài tập tương tự của HS
c) Tìm hiểu những khó khăn mà HS gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
Câu 6 : Thời gian GV dành để giải bài mẫu ở lớp
Bảng 1.8 Ý kiến của HS về thời gian GV dành để giải bài mẫu
Trang 39Số ý kiến Tỉ lệ %
Nhận xét: Có đến 35,7 % HS không kịp theo dõi và ghi chép lại bài mẫu của GV ở lớp Như vậy, việc soạn sẵn bài mẫu cho từng dạng là hết sức cần thiết
Câu 8 : Những khó khăn mà HS gặp phải khi giải BTHH
Bảng 1.9 Những khó khăn của HS khi giải BTHH
Số ý kiến Tỉ lệ %
Nhận xét: Có hơn 50 % HS gặp khó khăn vì thiếu bài tập tương tự, không có bài giải mẫu và các bài tập lộn xộn không theo dạng; ít hơn 50% HS gặp khó khăn vì các bài tập không được xếp từ dễ đến khó và không có đáp số cho bài tập tương tự
Câu 9 : Yếu tố giúp HS giải tốt bài tập
Bảng 1.10 Các yếu tố giúp HS giải tốt bài tập
Số ý kiến Tỉ lệ %
5- Em tự làm lại bài tập đã giải d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
Câu 11 : Sự đầu tư để học tốt môn hóa học
Bảng 1.11 Kết quả điều tra về sự đầu tư để học tốt môn hóa học
Trang 40Số ý kiến Tỉ lệ % Xếp hạng
Dành nhiều thời gian tự học có sự hướng
Nhận xét: Tỉ lệ HS đánh giá cao tự học còn thấp (khoảng 59,8%), HS đánh giá cao việc học thêm hơn là tự học
Câu 12 : Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc kiểm tra
Bảng 1.12 Kết quả điều tra về sự cần thiết của tự học
Câu 13 : Lý do HS cần phải tự học
Bảng 1.13 Kết quả điều tra về lí do HS phải tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Một lần nữa, câu hỏi này giúp tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò của tự học Kết quả thăm dò trên chứng tỏ tỉ lệ HS nhận thức rõ vai trò của tự học chưa cao Điều này có nghĩa là tỉ lệ HS đã có ý thức tốt về nhiệm vụ học tập, đặc biệt là vấn đề tự học chưa cao e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
Câu 14 : HS sử dụng thời gian tự học