Thực trạng của nền kinh tế biểu hiện ở những mặt: cơ cấu hạ tầng vật chất và xã hội thấp kém, trình ñộ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, kém khả năng cạnh tranh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta ñang từng bước quá ñộ ñi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai
ñoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nên nước ta thiếu cái " cốt vật chất" của một
nền kinh tế phát triển Thực trạng của nền kinh tế biểu hiện ở những mặt: cơ cấu
hạ tầng vật chất và xã hội thấp kém, trình ñộ cơ sở vật chất và công nghệ trong
các doanh nghiệp lạc hậu, kém khả năng cạnh tranh; sản xuất phân tán, kỹ thuật
thủ công mang nặng tính bảo thủ, trì trệ; phân công lao ñộng chưa sâu sắc, các
mối liên hệ kinh tế kém phát triển, thị trường còn sơ khai; thu nhập của dân cư
quá thấp, sức mua thấp, nhu cầu tăng chậm dẫn ñến ñình trệ sản xuất kinh doanh
là khó tránh khỏi; thiếu một ñội ngũ những người quản lý sản xuất kinh doanh
có khả năng tham gia cạnh tranh trong và ngoài nước Mặc dù sau hơn 15 năm
ñổi mới, nước ta ñã ñạt ñược những thành tựu ñáng kể, ñang trong quá trình
chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển sang nền kinh tế hàng hoá vận hành
theo cơ chế thị trường nhưng nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều
nước trong khu vực là rất lớn
Trước tình hình ñó, cùng với xu thế phát triển của thời ñại, Đảng và Nhà
nước ta cần tiếp tục tiến hành và ñẩy mạnh công cuộc ñổi mới toàn diện ñất
nước, trong ñó phát triển kinh tế ñóng vai trò then chốt, giữ vai trò chủ ñạo
Đồng thời với ñó là ñổi mới về chính trị cũng mang tính cấp bách bởi giữa kinh
tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng với nhau, ràng buộc chặt chẽ với
nhau, không thể tách rời Chính vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
của ñất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng giàu
mạnh
Sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình
của thầy giáo tôi ñã lựa chọn ñề tài “Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức, vận dụng nó vào sự nghiệp ñổi mới ở nước ta hiện nay” Do thời gian và
kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót Vậy kính mong sự góp ý của thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn
Trang 2Vật chất là một phạm trù triết học dùng ñể chỉ thực tại khách quan ñược
ñem lại cho con người trong cảm giác, ñược cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác
Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể rất phong
phú Các sự vật, hiện tượng ñó rất khác nhau, song chúng ñều có thuộc tính
chung, ñó là thuộc tính tồn tại khách quan ở ngoài và ñộc lập với ý thúc của con
người
Lê Nin gọi ñây là " thuộc tính duy nhất " của vật chất mà chủ nghĩa duy
vật gắn liền với sự thừa nhận thuộc tính ñó
Mọi ñối tượng vật chất dù vi mô hay vĩ mô,dù dưới dạng hạt hay dạng
trường, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng ñều là những ñối tượng
khánh quan, ñộc lập với ý thức con người, có nghĩa chúng ñều là các dạng cụ thể
của vật chât mà thôi Bởi vì " Khái niệm vật chất không có gì khác hơn : thực tại
khách quan tồn tại ñộc lập ñối với ý thức con người và ñược ý thức con người
phản ánh "
Trang 3Khi ñịnh nghĩa " Vật chất là một phạm trù triết học" Lê Nin một mặt
muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn và một mặt muốn
phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái
quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể, với những " hạt nhỏ " cảm
tính Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những ñặc tính cụ
thể có thể cảm thụ ñược Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục ñược những
quan ñiểm siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ ñồng nhất vật chất với những hình
thức biểu hiện cụ thể của nó Lê Nin cho rằng vật chất vốn tự nó có, không do ai
sinh ra, không thể tiêu diệt ñược, nó tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào cảm
giác và ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan Khác với quan
niệm " ý niệm tuyệt ñối" của chủ nghĩa duy tâm khách quan, " thượng ñế " của
tôn giáo, "vật tự nó không thể nắm ñược " của thuyết không thể biết, vật chất
không phải là lực lượng siêu tự nhiên tôn tại ở ñâu ñó Trái lại, phạm trù vật chất
là kết quả của sự khái quát các sự vật, hiện tượng có thật, hiện thực và do ñó
các ñối tượng vật chất có thật, hiện thực có khả năng tác ñộng vào các giác quan
ñể gây cảm giác và nhờ ñó mà ta có thể biết ñưọc, hiểu ñược, nắm bắt ñược ñối
tượng này Định nghĩa vật chất của Lê Nin ñã khẳng ñịnh ñược câu trả lời của
chủ nghĩa duy vật về hai mặt của vấn ñề cơ bản của triết học, phân biệt về
nguyên tắc chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tam khách quan cũng
như với thuyết không thể biết
Ngoài ra, Lê Nin còn khẳng ñịnh vật chất ñược cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Khẳng ñịnh
như vậy, một mặt Lê Nin muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò của
nó ñối với ý thức và mặt khác, khẳng ñịnh phương pháp và khả năng nhận thức
thế giới khách quan của con người Chính vì vậy mà không chỉ phân biệt chủ
nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết, ngoài ra còn
phân biệt ñược chủ nghĩa duy vật với nhị nguyên luận
Như vậy quan niệm duy vật biện chứng về ý thức ñã ñược thể hiện tập
trung ở ñịnh nghĩa vật chất của Lê Nin nó có ý nghĩa thế giới quan và phương
pháp luận quan trọng ñể khắc phục những cuộc khủng hoảng trong sự phát triển
Trang 4của khoa học, ñể tiếp thu những phát minh mới của khoa học, ñể ñấu tranh có
kết quả chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết
quan ñiểm siêu hình, chủ nghĩa chủ quan duy ý chí Định nghĩa ñó cổ vũ các nhà
khoa học ñi sâu nghiên cứu thế giới vật chất không ngừng làm phong phú thêm
tri thức con người về thế giới Định nghĩa ñó mặc dù ra ñời cách ñây gần một
trăm năm, nhưng cho ñến nay nó vẫn giữ nguyên giá trị góp phần giúp chúng ta
có thái ñộ khách quan và ñòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan
trong suy nghĩ và hành ñộng
2 Các ñặc tính của vật chất
• Vận ñộng là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của
vật chất
Trong cuộc sống thường ngày, người ta thường hiểu sự vận ñộng là sự di
chuyển vị trí của sự vật trong không gian Tuy nhiên sự phát triển của thưc tiễn
và nhận thức khoa học cho thấy rằng nếu hiểu vận ñông nếu theo nghĩa như vậy
thì hạn hẹp và không ñầy ñủ Theo nghĩa chung nhất, vận ñộng là mọi sư biến
ñổi nói chung Ăngghen viết :" Vận ñộng hiểu theo nghĩa chung nhất là phương
thức tốn tạicửa vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thí bao gốm tất cả
mọi sự thay ñổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,kể từ sự thay ñổi giản ñơn
ñến tư duy"
Vận ñộng có nhiếu hình thức trong ñó có năm hình thừc vận ñộng cơ
bản:thứ nhất là vận ñộng cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không
gian);thứ hai là vận ñộng vật lý( vận ñộng của các phân tử, các hạt cơ bản, vận
ñộng ñiện tử, các quá trình nhiệt, ñiện ); thứ ba là vận ñộng hoá học (vận ñộng
của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải các chất) ; thứ tư là vận
dộng sinh học(trao ñổi chất giữa cơ thể sống vầ môi trường); thứ năm là vận
ñộng xã hội ( sự biến ñổi, thay thế của các hình thái kinh tế xã hội) Các hình
thức vận ñộng này ñều có quan hệ với nhau Một hình thức vận ñộng nào ñó
ñược thực hiện là do sự tác ñộng qua lại với những hình thức vận ñộng khác,
trong ñó hình thức vận ñộng cao bao giờ cũng bao hàm những hình thức vận
ñộng thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hình thức vận ñộng cao lầ tổng số ñơn
Trang 5giản của các hình thức vận ñộng thấp Mỗi sự vật, hiện tượng cụ thể có thể gắn
với nhiều hình thức vận ñộng nhưng bao giờ cũng ñược ñậc trưng bởi một hình
thức vận ñộng cơ bản
Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận ñộng không ngừng
Không thể có vật chất không vận ñộng, tức là vật chất tồn tại bằng cách vận
ñộng và thông qua vận ñộng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, hay nói cách khác
vận ñộng là phườn thức tồn tại của vật chất Ăngghen nhận ñịnh rằng các hình
thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức ñược thông qua
vận ñộng mới có thể thấy ñược thuộc tính của vật thể Trong thế giới vật chất từ
các hạt cơ bản trong thế giới vĩ mô ñến các hệ thống hành tinnh khổng lồ, từ vô
cơ ñến hữu cơ, ñến xã hội loài người, tất cả ñều luôn ở trạng thái vận ñộng Bất
cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có một kết cấu xác ñịnh
gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại,
ảnh hưởng và tác ñộng lẫn nhau Sự tác ñộng qua lại gây ra biến ñổi Nguồn gốc
của vận ñộng là do những nguyên nhnân bêb trong, vận ñộng của vật chất là tự
thân vận ñộng
Vận ñộng là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận ñộng bên
ngoài vật chất Vận ñộng không do ai sáng tạo ra và không thể riêu diệt ñược, do
ñó vận ñộng ñược bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng Khoa học ñã chứng
minh rằng, nếu một hình thức vận ñộng nào ñó cuẩ sự vật nhất ñịnh mất ñi thì tất
yếu nó nảy sinh một hình thức vận ñộng khác thay thế nó Các hình thức vận
ñộng chuyển hoá lẫn nhau, còn vận ñộng của vật chất nói chung thì vĩnh viễn
tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất
Trong khi coi vận ñộng là thuộc tính bên trong vốn có của vật chất, chủ
nghĩa duy vật biện chứng không phủ nhận sự ñứng im mà coi ñứng im như
trường hợp riêng của vận ñộng và ñứng im là tương ñối Như vậy, ñứng im là sự
bảo toàn tính quy ñịnh của sự vật, bảo toàn cấu trúc của nó, là sự tái tạo tổ chức
nhất ñịnh của các yếu tố của nó Nói cách khác ñứng im là một dạng của vận
ñộng, trong ñó sự vật chưa thay ñổi căn bản về chất, nó còn là nó,chứ chưa
chuyển thành cái khác Ăngghen khẳng ñịnh rằng khả năng ñứng im tương ñối
Trang 6của các vật thể, khả năng tạm thời là những ñiều kiện chủ yếu của sự phân hoá
vật chất, và do ñó cũng là ñiều kiện quan trọng của sự sống và của ý thức Đứng
im tương ñối còn là ñiều kiện quan trọng cho sự nhận thức vật chất vận ñộng
Không có ñứng im tương ñối thì không thể nhận thức bản thân các sự vật, hiện
tượng Đứng im và vận ñộng tạo thành sự thống nhất biện chứng của các mặt ñối
lập, nhưng ñứng im là tương ñối còn vận ñộng là tuyệt ñối
* Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất
Không giam và thời gian là những hình thức khách quan của vật chất,
chúng tồn tại ñộc lập với ý thức của con người Lê nin viết : " Những khái niệm
ñang phát triển của chúng ta về không gian và thời gian ñều phản ánh thời gian
và không gian thực tại khách quan"
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quãng tính, sự tồn
tại, trật tự, kết cấu,sự tác ñộng lẫn nhau Thời gian là hình thức tồn tại của vật
chất xét về mặt ñộ dài diễn biến,sự kế tiếp của các quá trình Là thuộc tính vốn
có và là hình thức tồn tại khách quan của vật chất vận ñộng, không gian, thời
gian là không gian thời gian vật chất; không có không gian và thời gian thuần
tuý bên ngoài vật chất Ăngghen cho rằng : " Dĩ nhiên, cả hai hình thức tồn tại
này của vật chất nếu không có vật chất sẽ là hư vô, là những quan niệm, những
trừu tượng trống rỗng chỉ tồn tại trong ñầu óc của chúng ta"
Tóm lại : Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về không gian và
thời gian có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng Quá trình nhận thức sự vật,
hiện tượng phải gắn liền với ñiều kiện không gian và thời gian tồn tại của nó;
phải tính ñến quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của sự vật Có như vậy
nhận thức mới có thể ñạt tới chân lý khoa học
* Sự thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trước, quyết ñịnh vật chất, do ñó
cũng cho rằng thế giới thống nhất ở tinh thần Còn chủ nghĩa duy vật biện chứng
khẳng ñịnh rằng, tính thống nhất chân chính của thế giới là ở tính vật chất của
nó Ăngghen viết: " Tính thống nhất chân chính của thế giới là ở tính vật chất
của nó Tính vật chất ấy ñược chứng minh không phải bằng vài ba lời khéo léo
Trang 7Căn cứ vào ñời sống thực tiễn và sự phát triển của khoa học, chủ nghĩa duy
vật biện chứng chứng minh rằng :" Bản chất của thế giới vật chất, thế giới thống
nhất ở tính vật chất" Điều ñó thể hiện chỉ có một thế giới vật chất, không có thế
giới tinh thần, thế giới thần linh, ma quỷ tồn tại ở ñâu ñó bên trên, bên dưới, ở
trong hay ở ngoài thế giới vật chất Đồng thời khẳng ñịnh rằng các bộ phận thế
giới ñều là những dạng cụ thể cuẩ vật chất, có liên hệ thống nhất với nhau như
liên hệ về cơ cấu tổ chức, liên hệ về lịch sử phát triển và ñều tuân thủ theo quy
luật khách quan của thế giới vật chất Do ñó, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn,
vô hạn và vô tận, không do ai sinh ra và cũng không mất ñi Trong thế giới ñó,
không có cái gì khác ngoài những quá trình vật chất ñang biến ñổi và chuyển
hoá lẫn nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau
Tóm lại, thế giới vật chất tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức
con người Con người xuất phát từ thế giới làm căn cứ cho hoạt ñộng có mục
ñích của mình Con người càng phản ánh ñầy ñủ và ñúng ñắn thế giới khách
quan, thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả theo nhu cầu của mình
II Ý thức Nguồn gốc, bản chất và kết cấu
1 Nguồn gốc của ý thức
• Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức ra ñời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con ngươì và bộ óc con người Khoa học ñã chứng minh rằng
thế giới vật chất nói riêng ñã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người;
rằng hoạt ñộng cuẩ con người diễn ra trên cơ sở hoạt ñộng ainh lý thần kinh của
bộ não con người Không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt ñộng của bộ não vì ý
thức là chức năng của bộ não, bộ não là khí quan của ý thức Sự phụ thuộc của ý
thức vào sự hoạt ñộng của bộ não thể hiện ở chỗ khi não bị tổn thương thì hoạt
ñộng ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, không thể quy một cách ñơn giản ý thức
về các quá trình sinh lý bởi bộ óc con người chỉ là cơ quan phản ánh ý thức là
sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Sự xuất hiện của ý thức
Trang 8gắn liền với sự phát triển của ñặc tính phản ánh, ñặc tính này phát triển cùng với
sự phát triển của thế giới tự nhiên Sự xuất hiên của con người và xã hội loài
người ñưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh, ñó là sự phản ánh ý thức Sự
phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu
phát triển của xã hội
* Nguồn gốc xã hội
Ý thức không giản ñơn là phản ánh mà là phản ánh sáng tạo thế giới xung
quanh bộ óc con người
Sự ra ñời của bộ óc con người, cũng như sự hình thành con người và xã hội
loài người nhờ hoạt ñộng lao ñộng và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ Lao ñộng
của con người là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,
thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục ñích của bản thân con người Chính nhờ lao
ñộng, con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển Lao ñộng là
phương thức tồn tại cơ bản ñầu tiên con người Lao ñộng ñồng thời ngay từ ñầu
ñã liên kết những con người với nhau trong mối quan hệ khách quan tất yếu;
mối quan hệ ñến lượt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao ñổi kinh nghiệm và tổ
chức lao ñộng, nhu cầu "cần phải nói với nhau một cái gì"; và kết quả là ngôn
ngữ ra ñời Ngôn ngữ ñược coi là cái vỏ của vật chất, của tư duy Với sự xuất
hiện củâ ngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành ngon
ngữ trực tiếp, trở thành tín hiệu vật chất tác dộng tới các giác quan của con
người và gây ra cảm giác Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp, trao ñổi
tư tưởng, tình cảm với nhau, truyền ñạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua ñó mà
ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội xâm nhập vào
ý thức cá nhân Ngôn ngữ ñã trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu
ñược của sự trừu tượng hoá, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức Và
chính nhờ trừu tượng hoá, khái quát hoá mà con người có thể di sâu vào bản
chất của sự vật, hiện tượng, ñồng thời tổng kết ñược hoạt ñộng của mình trong
toàn bộ quá trình phát triển lịch sử Ph Ăngghen coi lao ñộng và ngôn ngữ là
"hai sức kích thích chủ yếu" làm c huỷen biến dần dần bộ óc con vật thành bộ óc
con người, tâm lý ñộng vật thành ý thức
Trang 9Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Phản
ánhn là thuộc tính của vật chất, song thuộc tính phản ánh ñó phát triển từ thấp
ñến cao Đặc ñiểm nổi bật của sự phản ánh ý thức con người là phản ánh mang
tính ttích cực sáng tạo
Bản tính phản ánh của vật chất thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài là
biểu thị nội dung nhận ñược từ vật gây ra tác ñộng và ñược truyền ñi trong quá
trình phản ánh Bản tính phản ánh quy ñịnh mặt khách quan của ý thức, tức là ý
thức lấy cái khách quan làm tiền ñề, bị cái khách quan quy ñịnh và có nội dung
phản ánh là thế giới khách quan
Ý thức ngay từ ñầu ñã gắn liền với lao ñộng, với hoạt ñộng sáng tạo, cải
biến, thống trị tự nhiên của con người và ñã trở thành mặt không thể thiếu ñược
của hoạt ñộng ñó Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở chỗ, nó không chụp
lại một cách thụ ñộng nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với quá trình cải
biến, thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của
ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá
trình chủ ñộng tác ñộng vào thế giới ñể phản ánh thế giới ñó
Phản án và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời
Không có phản ánh thì sẽ không có sáng tạo vì phản ánh là ñiểm xuất phát, là cơ
sở của sáng tạo Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh ý
thức Đó là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông
tin, là sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan của ý thức
Ý thức chỉ ñược nảy sinh trong lao ñộng, trong hoạt ñộng cải tạo thế giới
của con người Hoạt ñộngñó không thể là hoạt ñộng ñơn lẻ mà là hoạt ñộng xã
hội Do ñó ý thức ngay từ ñầu ñã là sản phẩm của xã hội ý thức trước hết là tri
thức củâ con người về xã hội và bị chi phối bởi tồn tại xã hội cùng các quy luật
của sự tồn tại xã hội ñó, và ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng ý thức xã
hội Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng
tạo Sự thống nhất ñó thể hiện ở tính năng ñộng chủ quan của ý thức, ở quan hệ
Trang 103 Kết cấu của ý thức Vấn ñề tự ý thức và vô thức
Cũng như vật chất, có rất nhiều quan niệm về ý thức theo các trường phái
khác nhau Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khẳng ñịnh rằng
ý thức là ñặc tính và là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới
khách quan vào bộ óc con người thông qua lao ñộng và ngôn ngữ Mac nhấn
mạnh rằng : tinh thần, ý thức chẳng qua chỉ là cái vật chất ñược di chuyển vào
trong bộ óc con người vầ ñược cải biến ñi trong ñó
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý
thức, tri thức, tình cảm, ý trí Trong ñó các bộ phận ñó tri thức là quan trọng
nhất, là phương thức tồn tại của ý thức
Quá trình hình thành và phát triển ý thức cũng chính là quá trình con người
tìm kiếm, tíach luỹ tri thức về thế giới xung quanh Hiểu biết về sự vật càng
nhiều thì ý thức của con người về sự vật ñó càng sâu sắc Việc nhấn mạnh tri
thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức, có ý nghĩa chống quan ñiểm
giản ñơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin, ý chí Quan ñiểm ñó chính là biểu
hiệ cuẩ bệnh chủ quan duy ý chí, của niềm tin mù quáng, của sưh tưởng tượng
chủ quan Tuy nhiên việc nhấn nạnh yếu tố tri thức cũng không ñòng nghĩa với
việc phủ nhận hoặc coi nhẹ vai trò của các nhân tố tình cảm, ý chí
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức Chủ nghĩa duy tâm coi
tự ý thức là một thực thể ñộc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện sự
hướng về bản thân mình, tự khẳng ñịnh " cái tôi" riêng biệt tách rời những quan
hệ xã hội Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức và ý thức
hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài
Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt mình, ñối lập mình
với thế giới ñó và tự nhận thức mình như một thực thể hoạt ñộng, có cảm giác,
có tư duy, có các hành vi ñạo ñức và có vị trí trong xã hội Mặt khác, sự giao
tiếp xã hội và hoạt ñộng thực tiễn xã hội ñòi hỏi con người phải nhận thức bản
thân mình và tự ñiêud chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội
Trang 11Vô thức là một hiện tượng tâm lý Nó liên quan ñến những hoạt ñộng xảy
ra bên ngoài phạm vi của ý thức hoặc chưa ñược con người ý thức ñến Có hai
loại vô thức : loại thứ nhất liên quan ñến các hành vi chưa ñược con người ý
thức; loại thứ hai liên quan ñến các hành vi trước kia ñã ñược ý thức nhưng do
lặp lại nên ñã trở thành thói quen, có thể diễn ra " tự ñộng" bên ngoài sự chỉ ñạo
của ý thức Vô thức ảnh hưởng ñến nhiều phạm vi hoạt ñộng của con người
Trong những hoàn cảnh nào ñó, nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng
thẳng trong hoạt ñộng Việc tăng cường rèn luyện ñể biến những hành vi tích
cực thành thói quen có vai trò rất quan trọng trong ñời ssống con người Trong
con người, ý thức vẫn là cái chủ ñạo, cái quyết ñịnh hành vi cá nhân Vô thức
thật ra là vô thức trong trạng thái có ý thức của con người xã hội
Trang 12LêNin viết :" Sự ñối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghía tuyệt ñối
trong những phạm vi hết sức hạn chế Trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong
vấn ñè nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước, cái gì có sau ? Ngoài
phạm vi ñó thì không còn nghi ngờ gì nữa, rằng sự ñối lập chỉ là tương ñối"
Như vậy dể phân ñịnh ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,
ñể xác ñịnh bản tính và sự thống nhất của thế giới, cần có sự ñối lập tuyệt ñối
giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào quyết
ñịnh Không như vậy thì sẽ lẫn lộn hai ñường lối cơ bản của triết học, lẫn lộn vật
chất vầ ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan ñiểm duy vật Song sự ñối lập giữa
vật chất và ý thức chỉ là tương dối nếu chúng ta xét chúng như là những nhân tố,
những mặt không thể thiếu ñược trong hoạt ñộng của con người, ñặc biệt là hoạt
ñộng thực tiễn cải tạo thế giới của con người Bởi vì, ý thức tự nó không thể cải
biến ñược sự vật, không có khả năng tự biến thành hiện thực; nhưng thông qua
hoạt ñộngthực tiễn của cob người, ý thức có thể cải biến ñược tự nhiên, thâm
nhập vào sự vật, hiện thức hoá những mục ñích mà nó ñề ra cho hoạt ñộng của
mình Điều này bắt nguồn từ ngay bản tính phản ánh, sáng tạo và xã hội của ý
thức; và chính nhờ bản tính ñó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng
cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang dã thành tự nhiên trù
phú, sinh ñộng, tự nhiên của con người Như vậy, tính tương ñối trong sự ñối lập
giữa vật chất và ý thức thể hiệnở tính ñộc lập tương ñối, tính năng ñộng của ý
thức Mặt khác, ñơid sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa
ñời sống vật chất và ñời sống tinh thần trong ñó những nhu cầu về tinh thần
ngày càng phong phú, ña dạng bà những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá
Khẳng ñịnh tính tương ñối của sự ñối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa
là khẳng ñịnh rằng hai nhân tố có vai trò như nhau trong ñời sống con người
Trái lại triết học Mac_ Lênin khẳng ñịnh rằng, trong hoạt ñộng của con người,
những nhân tố vật chất và ý thức có tác ñộng qua lại, song sự tác ñộng ñó diễn
Trang 13Trong hoạt ñộng của con người,những nhu cầu vật chất xét ñến cùng bao
giờ cũng giữ vai trò quyết ñịnh,chi phối va quy ñịnh mục ñích hoạt ñộng của
con người vì nhân tố vật chất quy ñịnh khả năng các nhân tố tinh thần có thể
thâm gia vào hoạt ñộng của con người,tạ ñiều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc
các nhân tố khác biến thành hiện thực và qua ñó quy ñịnh mụch ñích chủ trương
biện pháp mà con người ñề ra cho hoạt ñộng của mình bằng cách chọn lọc,sửa
chữa bổ xung, cụ thể hoá mụch ñích chủ trương, biện pháp ñó.Hoạt ñộng nhận
thức của con người bao giờ cũng hướng ñến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm
thoả mãn nhu cầu sống,hơn nữa, cuộc sống tinh thần con người xét ñến cùng bị
chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và vào những
ñiều kiện vật chất hiện có Nó khẳng ñịnh vai trò cơ sở, quyết ñịnh trực tiếp
nhân tố vật chất của triê học Mác_
Lênin ñồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần,của tính
năng ñộng chủ quan Nhân tố ý thức có tác dụng ngược lại rất quan trọng ñối với
nhân tố vật chất Hơn nữa, trong hoạt ñộng của mình, con người không thể ñể
cho thế giớ khách quan, quy luặt khách quan chi phối mà chủ ñộng hướng nó ñi
theo con ñường có lợi cho mình ý thức con người không htể tạo ra các ñối
tương vật chất, cũng không thể thây ñổi ñược quy luật vận ñộng của nó Do ñó,
trong qquá trình hoạt ñộng của mình Con người phải tuân theo quy luật và chỉ
có thể ñề ra nhưng muc ñích, chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh vật chất cho
phép
Trang 14TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I Vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng
giữa kinh tế và chính trị
Khi khẳng ñịnh vai trò quyết ñịnh của vật chất ñối với ý thức, chủ nghĩa
duy vật biện chứng cũng ñồng thời vạch rõ sự tác ñộng trở lại vo cùng quan
trọng của ý thức ñối với vật chất Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện
chứng ljẫn nhau Nhân tố vật chất giữ vai trò là cơ sở, quyết ñịnh,còn nhân tố ý
thức lại có tác dụng trở lại ñối với nhân tố vật chất Trong nhiều trường hợp
nhân tố ý thức quyết ñịnh ñến sự thành bại trong hoạt ñộng cải tạo con người
Điều này thể hiện rõ trong tác ñộng của ñường lối, chủ trương, chính sách ñổi
mới kinh tế của Đảng Song xét ñến cùng, tác ñộng của ý thức chỉ có tính chất
tương ñối, có ñiều kiện Vai trò tích cực của ý thức chỉ ñược trong một thời gian
nhất ñịnh và ñiều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận ñộng theo
quy luật khách quan ñòi hỏi ý thức phải biến ñổi phù hợp với nó, và nếu tiêu
cực, ý thức sớm muộn sẽ bị ñào thải Mặt khác, ý thức là cái có sau, là cái phản
ánh, hơn nữa vai trò của nó còn tuỳ thuộc vào mức ñộ chính xác trong quá trình
phản ánh hiện thực Do vậy, xét toàn cục, ý thức vẫn là nhân tố thứ hai bị quyết
ñịnh Cần chú ý rằng, vai trò của ý thức chỉ có thể có ñược nếu nó thâm nhập
vào quần chúng và tổ chức hoạt ñộng Nếu như chúng ta ñưa nó vào những ñièu
kikện và hoàn cảnh cụ thể thì chúng ta có thể thấy rằng : giữa kinh tế (biểu hiện
của vật chất) và chính trị ( biểu hiện của ý thức) cũng cố mối ràng buộc với
nhau Bởi vì, chúng ta thấy rằng, tình hình kinh tế cuẩ một nước là cơ sở, là
quyết ñịnh, song chính trị lại là cơ bản Nếu kinh tế của một nước mà giàu
mạnh, nhưng chính trị thì luôn luôn bất ổn, ñấu tranh giai cấp, tôn giáo giữa các
ñảng khác nhau của một quốc gia thì ñất nước ñó cũng không thể trở nên yên ấm
và tồn tại lâu dài ñược, cuộc sống của nhân dân sung túc, ñầy ñủ nhưng luôn
Trang 15phải lo âu sợ hãi vì nội chiến, chết chóc Do ñó, nếu chính trị của một nước mà
ổn ñịnh, tuy có nhiều ñảng khác nhau, nhưng vẫn quy về một chính ñảng thống
nhất ñất nước, và ñảng này vẫn ñem lại sự yên ấm cho nhân dân mà ñất nước ñó
giàu có thì cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no hạnh phúc Ngược lại, nếu
nnhư nước ñó nghèo thì dù cho chính trị có ổn ñịnh ñến ñâu, cuộc sống của nhân
dân cũng trở nên khó khăn và ắt sẽ dẫn tới ñảo chính, sụp ñổ chính quyền, ñể
thay thế một chính quyền mới ñem lại nhiều lợi ích cho nhân dân hơn
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay ñổi theo từng hình thái kinh tế
xã hội Con người ñã trải qua năm hình thái xã hội : thời kỳ nguyên thủy, nô lệ,
phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Trình ñộ tổ chức, quản lý và
tính chất hiện ñại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy ñịnh trình ñộ hiện ñại và
mức sống xã hội Sản xuất vật chất còn là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ
xã hội và ñời sống tinh thần của xã hội Hiện thực lịch sử ñã chỉ ra rằng : mọi
quan hệ của ñời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị, nhà nước pháp quyền,
ñạo ñức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ñược hình thành và biến ñổi phát triển
gắn liền với cơ sở kinh tế, sản xuất nhất ñịnh Trong xã hội ấy, theo Mac, quan
hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất ( quan hệ kinh tế ) là quan hệ
cơ bản nhất quyết ñịnh tất cả các quan hệ khác Một khi sản xuất phát triển, cách
thức sản xuất cuẩ con người thay ñổi, năng suất lao ñộng tăng, mức sống ñược
nâng cao thì các mối quan hệ và mọi mặt của ñời sống xã hội cũng thay ñổi theo
Sản xuất vật chất hay kinh tế kà cơ sở ñầu tiên, quan trọng nhất tham gia vào
quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người, thoả mãn những
nhu cầu của con người và xã hội Sản xuất vật chất, môi trường tự nhiên và ñiều
kiện xã hội ñòi hỏi thể lực, trí tuệ và nhân cách của con người phải phát triển
thích ứng với nó Yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, phát triển sản
xuất làm cho khoa học kỹ thuật và ñiều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát
triển và hoàn thiện Đó chính là cơ sở quyết ñịnh sự phát triển và hoàn thiện
chức năng của con người, của chính trị và của xã hội là nhân tố quan trọng hàng
ñầu của lực lượng sản xuất xã hội Sự phong phú và ña dạng của những quan hệ
vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và ñời sống tinh thần