1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào

129 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 710,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn hiện nay, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân LàoCHDCND đang đẩy mạnh phát triển giáo dục, mục tiêu ưu tiên hàng đầu là xây dựng chính sách phát triển giáo dục một cách toàn diện,

Trang 1

Kettavong Vilavanh

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU PHẦN VHDG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN

LỚP 9 THPT CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

Kettavong Vilavanh

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU PHẦN VHDG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN

LỚP 9 THPT CHDCND LÀO

Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp Dạy học Văn

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THANH BÌNH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên, chân thành nhất tôi xin gởi lời cảm ơn đến thầy hướng dẫn

TS Trần Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi làm luận văn tốt nghiệp

Đồng thời, với tấm lòng biết ơn, trân trọng nhất tôi xin cảm ơn đến:

- Quý thầy, cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy văn khóa 19

- Phòng khoa học công nghệ và sau đại học Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban giám hiệu, thầy cô và học sinh các trường Trung học phổ thông tại Lào: Trường THPT Keang kok Huyện Cham Phon Tỉnh Savannakhet, Trường THPT Houy xaiy Huyện Cham Phon Tỉnh Savannakhet

Gia đình đồng nghiệp và bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Kettavong Vilavanh

Trang 4

1.1.1 Nước Lào 9 1.1.2 Văn học dân gian Lào 10

1.2 Chương trình VHDG trong SGK Ngữ văn lớp 9 của Lào 33

1.2.1 Cấu trúc chương trình VHDG lớp của Lào 33 1.2.2 Nội dung chương trình VHDG lớp 9 của Lào 35 Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined.

Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 THPT CHDCND LÀO 622.1 Tiếp cận những vấn đề về câu hỏi trong dạy học 62

2.1.1 Một số vấn đề về câu hỏi trong dạy học 62 2.1.2 Những vấn đề về câu hỏi trong dạy học văn 64 2.1.3 Thiết kế câu hỏi trong dạy học 83

2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương 88

2.3 Từ việc khảo sát câu hỏi trong SGK lớp 9 phần văn học dân gian Lào, định hướng xây dựng hệ thống câu hỏi bổ sung phục vụ dạy học Ngữ văn ở Lào (phần VHDG)93

Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined.

Ch ương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 100

Trang 5

3.1.2 Yêu cầu 100

3.2 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 102

3.3.Nội dung thực nghiệm 102

3.3.1 Giáo án thực nghiệm Truyện cổ tích Núi Chàng Núi Nàng 102 3.3.2 Ti ến hành kiểm tra 109

3.4 Kết quả thực nghiệm 110

3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm 112

3.6 Những khó khăn khi Thực nghiệm Sư phạm 113

Tiểu kết chương 3 114 KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Bảng thống kê các cặp thực nghiệm – Đối chứng 117

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.6 Biểu đồ phân loại học sinh (a) và đồ thị đường lũy tích (b) bài

kiểm tra lần 1cặp TN1-ĐC1 (15 phút) 129 Hình 3.7 Biểu đồ phân loại học sinh (a) và đồ thị đường lũy tích (b)

bài kiểm tra lần 1, cặp TN2- ĐC2 (15 phút) 129

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (họp từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 3 năm 2011 tại Viên-chăn) đã khẳng định quyết tâm tiếp tục đưa đất nước tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội đoàn kết thống nhất,

dân chủ, công bằng và văn minh theo khẩu hiệu: “Tăng cường đoàn kết toàn dân và

thống nhất trong Đảng; nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng; tạo bước đột phá trong việc tổ chức thực hiện đường lối đổi mới; xây dựng cơ sở vững chắc

để đưa đất nước thoát khỏi sự kém phát triển vào năm 2020 và tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội”

Để thực hiện thành công mục tiêu này, Đảng và Chính phủ Lào nhận thấy rất rõ: nhân tố quyết định chính là nguồn nhân lực con người; và để phát triển nguồn nhân lực cần phải phát triển giáo dục

Trong giai đoạn hiện nay, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào(CHDCND) đang đẩy mạnh phát triển giáo dục, mục tiêu ưu tiên hàng đầu là xây dựng chính sách phát triển giáo dục một cách toàn diện, đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học cho học sinh… Theo tinh thần đổi mới: học để biết, học để làm, học để phát triển, việc dạy học trong trường phổ thông cần giúp học sinh nhanh chóng tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trên cơ sở đó hình thành và phát triển ở học sinh khả năng giải quyết những vấn đề mà thực tiễn sản xuất và đời sống đặt ra, có phương pháp tư duy và hành động khoa học… Dựa trên quan điểm chỉ đạo đó, kết hợp với những bước chuyển biến của dạy học hiện đại, chúng ta nhận thấy rằng đổi mới PPDH là một giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục của đất nước Lào trong giai đoạn hiện nay Người thầy từ chỗ là người truyền đạt tri thức chuyển thành người cung cấp cho học sinh phương pháp thu nhận, lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống, có

tư duy và sáng tạo Cốt lõi của việc đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập

Trang 10

chủ động nhằm giúp các em phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, rèn luyện khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Học sinh là đối tượng của hoạt động

dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học; tự tìm tòi, khám phá, luyện tập, khai

thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Do đó, trung

tâm của quá trình dạy học đã chuyển từ hoạt động dạy của thầy sang hoạt động học

của trò

Đối với môn Ngữ văn, yêu cầu đổi mới PPDH trong nhà trường phổ thông

càng trở nên cấp thiết bởi đây là một môn học có tính đặc thù Trong bài Tiếp tục

thực thi tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, GS Phan Trọng Luận cho

rằng: “Lí thuyết đổi mới hiện đại hóa dạy học Ngữ văn hiện nay trên thế giới cũng

khá phong phú Có lí thuy ết đáp ứng, có lí thuyết kiến tạo trong đọc văn, lí thuyết về hành vi sáng tạo, thậm chí có lí thuyết về hành vi chính trị và bảo vệ dân chủ (Defense of democracy)… Nhưng nổi bật lên vẫn là tư tưởng đề cao sự năng động sáng tạo ở người học Ở Việt Nam những thập kỉ gần đây đã đề xướng tư tưởng học sinh là trung tâm, sau đó đã có sự điều chỉnh cho thích hợp trong môn Văn là coi học sinh là bạn đọc sáng tạo” [13, tr.100] Chúng tôi tin rằng quan điểm đổi mới đó

cũng hoàn toàn thích hợp với việc dạy học môn Văn ở đất nước Lào chúng tôi

Đặt câu hỏi là trọng tâm của phương pháp dạy học tích cực Điều quan trọng

là phải lựa chọn được loại câu hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút các em vào các cuộc thảo luận hiệu quả Phương pháp dạy học bằng cách đặt câu hỏi được thực hiện thông qua việc xây dựng những hệ thống câu hỏi nhắm đến các kỹ năng tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp và đánh giá Đưa ra các câu hỏi có tính thách thức có thể kích thích học sinh khám phá các ý tưởng và ứng dụng kiến thức mới vào nhiều tình huống khác Trong mối tương quan với việc đổi mới phương pháp dạy học, đặt câu hỏi có ý nghĩa tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh, chống lại thói quen thụ động trong giờ học Câu hỏi chính là phương tiện cho học sinh tự học để giáo viên dẫn dắt học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức

Trang 11

Hiện nay việc dạy học môn Văn ở trường trung học phổ thông của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào còn đang gặp nhiều khó khăn: chương trình SGK xây dựng đã lâu nhưng không thường xuyên được cập nhật; tài liệu hướng dẫn dạy học còn thiếu, nội dung hướng dẫn dạy học Văn được biên soạn khá sơ sài, đơn điệu, không có tác dụng định hướng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh

Cho đến thời điểm này, mặc dù nền giáo dục của nước Lào đã sử dụng một

số phương pháp dạy học mang lại những hiệu quả nhất định như phương pháp diễn giảng, đàm thoại, nêu vấn đề, … nhưng trong thực tiễn dạy học, học sinh Lào vẫn còn nhiều thụ động; giáo viên Lào vẫn đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi thiết

kế giáo án Vì vậy, trong thời gian theo học chương trình đào tạo Sau đại học tại Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi rất quan tâm đến kinh nghiệm triển khai, nghiên cứu các con đường, cách thức của dạy học hiệu quả, tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh mà giáo dục học và lí luận dạy học Việt Nam đã thu được

Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề rất lớn và phức tạp Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn cụ thể hoá những kiến thức

lí thuyết đã học được ở Việt Nam bằng đề tài: Xây dựng hệ thống câu hỏi hướng

dẫn đọc hiểu phần phần văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn lớp 9 Trung học phổ thông CHDCND Lào nhằm góp một phần nhỏ vào việc đổi phương pháp

dạy học của nhà trường phổ thông CHDCND Lào hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học không còn là vấn đề mới trên thế giới Ngay từ những năm trước công nguyên, vấn đề này đã gắn liền với tên tuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN) Khổng Tử (551 - 479 TCN) cho rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức là đặt ra cho họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học

Ở nước Lào hiện có rất ít những công trình nghiên cứu về văn học dân gian

cũng như về phương pháp giảng dạy văn học; sách giáo viên và các tài liệu hướng

Trang 12

dẫn dạy học rất khó tìm và hầu như không thể tìm được ở tỉnh Savanaket của chúng tôi Hiện tượng thiếu tài liệu tham khảo ấy gây khó khăn không ít cho việc giảng dạy, bồi dưỡng nâng cao trình độ của giáo viên Lào, đồng thời cũng gây khó khăn nhất định cho chúng tôi khi triển khai nghiên cứu đề tài này

Triển khai nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hoàn toàn dựa vào các tài liệu của Việt Nam Các mảng tài liệu mà chúng tôi quan tâm trước hết là:

Một là, những công trình nghiên cứu văn học dân gian, ví dụ:

- Viện Văn hóa dân gian (1990), Quan niệm về Folklore, NXB Khoa học xã

hội

- Viện Văn hóa dân gian (1989), Văn hóa dân gian, những lĩnh vực phương

pháp nghiên cứu, NXB Khoa học xã hội

- Viện Văn hóa dân gian (1990), Văn hóa dân gian - những phương pháp

nghiên cứu, NXB Khoa học xã hội

- Chu Xuân Diên (1989), Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên

- Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1998), Văn học

dân gian, những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục, v.v

gian, ví dụ:

- Chuyên đề : Văn bản văn học dân gian và việc phân tích tác phẩm văn học

dân gian trong nhà trường phổ thông, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì

1997-2000 cho giáo viên THCS và THPT

- Đỗ Bình Trị (1995), Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXB Giáo dục

- Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy, nghiên cứu

văn học dân gian, NXB Giáo dục

- Bùi Mạnh Nhị, Phân tích tác phẩm văn học dân gian, An Giang, 1988

- Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian trong nhà trường, NXB Giáo

dục v.v

Trang 13

Ba là, những công trình nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học văn,

ví dụ:

- Phan Trọng Luận (1988), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Sư

phạm Hà Nội

- Guy Palmade (H.2002), Các phương pháp sư phạm, NXB Thế giới

- Z.Ia.Rez (1983), Phương pháp luận dạy văn học (Phan Thiều dịch), Nxb

Giáo dục…

Bốn là, những tài liệu tham khảo liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài, ví dụ :

- Nguyễn Quang Cương (2002), Câu hỏi và bài tập với việc dạy học tác

phẩm văn chương trong nhà trường, NXB ĐHQGHN

- Đoàn Thị Bình (2008), Cách đặt câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học

sinh trong giờ giảng văn lớp 9, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 12

- Lê Sử (2010), Những điểm mới của hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài

trong SGK Ngữ văn THPT, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 7 v.v

Ngoài ra, chúng tôi hết sức quan tâm đến các chuyên đề của các GS, PGS, TS Việt Nam đã trình bày tại khoá 19 đào tạo Sau đại học và một số luận văn Sau đại học về Lí luận và phương pháp dạy học văn mà các anh chị đi trước đã thực hiện ; coi đây là những định hướng, gợi ý quan trọng để thực hiện đề tài cũng như tiếp tục công việc nghiên cứu, học tập sau này

Trong quá trình tìm hiểu tư liệu, chúng tôi được biết : một số tác giả Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về văn học Lào nói chung, văn học dân

gian Lào nói riêng được đánh giá cao ; chẳng hạn : công trình Hợp tuyển văn học

Lào của Tuyết Phượng, Đinh Kim Cương, Võ Quang Nhơn biên soạn và dịch (NXB

Văn học, 1981), bài báo Truyện quả bầu ở Lào của Nguyễn Năm (tạp chí Văn học

số 4/1984), bài báo Từ truyện quả bầu Lào đến huyền thoại lụt ở Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc (tạp chí Văn học số 4/1984), luận án tiến sĩ So sánh một số kiểu

truyện cổ dân gian ở Lào và ở Việt Nam của Lại Phi Hùng v.v Rất tiếc, do gặp

nhiều khó khăn khách quan, chúng tôi chưa có điều kiện tham khảo những tài liệu này

Trang 14

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các công trình trên, chúng tôi nhận thấy : việc thực hiện đề tài của chúng tôi nhìn chung khá thuận lợi vì có thể tiếp thu trực tiếp nhiều kiến thức hết sức bổ ích từ các công trình đi trước Đối với truyền thống và kinh nghiệm nghiên cứu văn học, lí luận và phương pháp dạy học của Việt Nam, đề tài mà chúng tôi chọn không phải là một đề tài mới và khó, nhưng đối với nền khoa học giáo dục còn non trẻ của CHDCND Lào, có thể coi đây là một trong những thử nghiệm bước đầu của việc vận dụng kiến thức lí thuyết đã có ở Việt Nam vào việc giải quyết một vấn đề thực tiễn của việc giảng dạy văn học ở Lào nói chung và văn học dân gian Lào nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm dạy học của Việt Nam, mục đích, nhiệm

vụ nghiên cứu của đề tài là vận dụng để xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn dạy học phần Văn học dân gian lớp 9 ở trường THPT Lào theo phương pháp đọc hiểu, góp phần tích cực hóa hoạt động dạy và học ở trường THPT Lào; đồng thời hướng đến việc cung cấp thêm một tư liệu tham khảo bổ ích về phương pháp dạy học văn cho các bạn đồng nghiệp Lào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chung của luận văn là giáo viên, học sinh và việc dạy học văn lớp 9 trường THPT Lào; đối tượng nghiên cứu cụ thể của luận văn là giáo viên, học sinh và việc dạy học văn lớp 9 trường THPT Chăm phon, tỉnh Savanaket, CHDCND Lào

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hoạt động dạy học phần Văn học dân gian lớp 9 bằng hệ thống câu hỏi của một

Trường trung học phổ thông của Lào Trong phạm vi đó, ngoài việc quan tâm tìm hiểu những vấn đề chung về lí luận và phương pháp dạy học văn, quan điểm đổi mới phương pháp dạy học văn, luận văn đi sâu vào việc xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu để việc dạy học Văn học dân gian đạt hiệu cao hơn, đồng thời thể hiện được định hướng đổi mới, tích cực hoá hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Do phạm vi đối tượng nghiên cứu khá rộng, chúng tôi không tìm

Trang 15

hiểu toàn bộ Chương trình văn học dân gian lớp 9 của CHDCND Lào mà xin phép chỉ giới hạn ở những văn bản tự sự dân gian mà thôi

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề mà luận án đặt ra, trong quá trình thực hiện, người viết đã kết hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cụ thể là:

– Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn

đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học, Tâm lí học, Lí luận văn học, Lí luận và Phương pháp dạy học văn, Lí thuyết tiếp nhận văn học… có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài

– Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về tình hình dạy học văn học dân gian ở CHDCND Lào có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

– Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm các giáo án đề xuất để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng của hệ thống câu hỏi vào quá trình giảng dạy văn học dân gian cũng như xem xét mức độ đúng đắn, tính khả thi của luận án này

– Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm của phương pháp dạy học với hệ thống câu hỏi có tính gợi mở, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học nói chung và phù hợp với đặc trưng của việc dạy học văn nói riêng trên con đường hiện thực hóa luận điểm cơ bản của việc dạy học văn hiện nay: học sinh là bạn đọc

Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo hướng đọc hiểu góp thêm tiếng nói mới, cách nhìn mới trong nỗ lực tìm kiếm cách thức đổi mới phương pháp day học hiện nay

Trang 16

7 C ấu trúc của luận văn

Luận văn dài … trang Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo

và Phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1… (…trang)

Chương 2……(… trang)

Chương 3……(… trang)

Trang 17

Chương 1: CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƯỜNG THPT CHDCND LÀO

1.1.1 Nước Lào

Nước Lào - đất nước Triệu Voi (Lạn Xạng) là một trong “các quốc gia trẻ” ở

khu vực Đông Nam Á, giáp Trung Quốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía Nam với đường biên giới dài 535 km; giáp Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 2069 km, giáp Mianmar ở phía Tây Bắc với đường biên giới dài 236 km; giáp Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1835

km

Lào cũng là một quốc gia đa dân tộc, bộ tộc (phầu), nhưng khối thống nhất của cộng đồng quốc gia dân tộc Lào được hợp thành bởi 3 nhóm dân tộc lớn theo địa hình: người Lào Thông (sống ở rẻo giữa hay lưng chừng vùng núi, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer), người Lào Lùm (sống ở vùng đồng bằng, thuộc nhóm ngôn ngữ Lào – Thái) và người Lào Xủng (sống ở vùng núi cao, thuộc nhóm ngôn ngữ Mèo – Dao, Tạng – Miến) Các dân tộc ở Lào đều “chui ra” từ quả bầu mẹ

Truyện quả bầu là huyền thoại giải thích nguồn gốc chung của toàn thể các dân tộc

sinh sống trên đất Lào ngày nay

Nước Lào nằm sâu trên bản đảo Đông Dương, hơn ba phần tư đất đai là rừng núi Rừng gắn bó mật thiết với người Lào cả trong đời sống kinh tế xã hội và cuộc sống tinh thần từ xưa cho đến nay Ham thú đi rừng (đơn đông) của người Lào tạo nên một sắc thái văn hóa, một đời sống tâm hồn rất Lào, độc đáo nhất ở khu vực Đông Nam Á Cũng chính bởi địa hình rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn nên người Lào giao lưu và tiếp xúc với thế giới bên ngoài, đặc biệt là với các nền văn hóa lớn phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ khá muộn, chậm; và sự tiếp thu ảnh hưởng giao thoa văn hóa ấy thường thông qua một quốc gia trung gian khác

Nhà nước Lạn Xạng được thành lập tính từ thế kỷ XIV, sau khi vua Phà Ngừm thống nhất các mường Lào Từ năm 1520, đất nước này mở mang nhanh chóng, bắt đầu đặt thủ đô tại Viên-chăn Thế kỷ XVIII – XIX, Lào bị phong kiến

Trang 18

Xiêm thống trị Từ năm 1893 Lào bị thực dân Pháp đô hộ (1893 – 1954) và đế quốc

Mỹ thống trị (1955 – 1975) Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân dân Lào đã tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, đân chủ đánh Pháp, đuổi Mỹ ra khỏi đất Lào và toàn thắng vào năm 1975 Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh

của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Từ năm 1975 đến nay nước Lào hòa bình, độc lập, nhân dân Lào đang ra sức xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN Hiện nay quan hệ với Việt Nam vẫn là quan hệ cơ bản, nền tảng trong chính sách

đối ngoại của Lào

1.1.2 Văn học dân gian Lào

Văn học Lào tồn tại, phát triển không tách rời với mội trường văn hóa của dân tộc Lào Văn học thành văn Lào sinh thành và trưởng thành trong sự đùm bọc, nuôi dưỡng của văn học dân gian, một ngọn nguồn phong phú, vô tận của văn hóa Lào

Ở Đông Nam Á nói chung, ở Lào nói riêng, văn học dân gian giữ một vị trí quan trọng Nó là bộ phận văn học phong phú và có một quá trình phát triển dài lâu nhất trong toàn bộ tiến trình phát triển của văn học dân tộc và khu vực Nó cũng là mặt mạnh, là sở trường sở đoản của nhân dân xứ sở này, một xứ sở mà mỗi người dân là một “nghệ sĩ”, thích kể chuyện, thích đọc thơ và múa hát tập thể hơn là ngồi xem sách, viết lách một mình

Do có một quá trình phát triển lâu dài, liên tục, lại được nhân dân yêu mến

và tận tình chăm sóc, vun xới mà văn học dân gian Lào ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn và vị thế của nó cũng ngày càng được khẳng định rõ ràng hơn Nhiều mặt của đời sống thiên nhiên và xã hội, của lao động và đấu tranh từ xưa đến nay đều được phản ánh, thế hiện trong văn học bằng những thể loại khác nhau và với một số lượng sáng tác rất lớn

Trang 19

1.1.2.1 Thể loại tự sự dân gian

Thể loại tự sự dân gian Lào có năm loại hình tiêu biểu:

1) Thần thoại

Theo người Lào, thần cao nhất là thén Phạkhươn hay thén Luống (thần Trời) thần cai quản các thần khác và sáng tạo ra muôn loại; các thần khác (khún thén) như thén Teng thì trông coi việc làm ăn, sinh sống và trị vì hạ giới, thén Phen thì chăm

lo đời sống văn hóa tinh thần cho loài người, Bên cạnh thén còn có phí (ma) Phí cũng có nhiều loại: phí thén (ma trời), phí hươn (ma người), phí bạn (ma bản), phí mương (ma xứ), phí pà (ma rừng), phí phu (ma núi), phí mè nặm (ma sông), Ngoài

ra còn có Pu Nhơ Nhà Ngàm, thạu Lày mè Mốt mà xưa nay người Lào vẫn coi là tổ tiên trực tiếp của họ, được họ kính cẩn tôn thờ Và sau này, bên cạnh thén, phí là

thần, ma bản địa, lại có thâm in, phồm là thần du nhập từ Ấn Độ

Thần, ma sinh ra từ sự tín ngưỡng những vật linh thiêng Thần, ma thì ở mường trên, con người thì ở mường dưới Sự phân chia đó tuy có làm cho hệ thống thần, ma ở Lào linh thiêng hơn nhưng không vì thế mà trở nên cách biệt với con người, trái lại giữa thần, ma và con người vẫn có quan hệ gần gũi, luôn luôn đi lại với nhau

Thần thoại Lào đề cập đến nhiều vấn đề lớn thuộc phạm vi thế giới – nhân loại cũng như quốc gia – dân tộc chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của thần thoại Lào là:

a) Giải thích sự tạo lập thế giới và loài người

Ví dụ:

- Truyện “Nên đất nên nước” chỉ rõ: xưa kia trên trái đất chẳng có gì hết; về

sau thần mới đến sửa đất và mang nước đến

- Truyện “Bun la phăn tha” kể: xưa kia chưa có đất có nước mà chỉ có lửa:

Bun la phăn tha đã xây đất và làm ra nước

- Truyện “Nguồn gốc của đất” nói rằng: xưa kia trên trái đất chỉ toàn là

nước; về sau trên mặt nước nổi lên một thân cây rồi từ thân cây có dần dần sinh ra đất

Trang 20

- Truyện “Pù Nhơ Nhà Nhơ xuống trần” (trong hệ thống truyện về cặp vợ

chồng thần Pù Nhơ Nhà Nhơ) khẳng định: Thời ấy trên trái đất chỉ có nước; theo bước chân của Pu Nhơ Nhà Nhơ trên dòng nước, mặt đất đã hình thành

- Truyện “Khún Bu Lôm”: nêu bật vai trò của bốn vị thần được vua trời phải

xuống mường trần trong việc tạo dựng cuộc sống nơi đây

- Truyện “Tạo dựng trái đất” cho biết: thuở xưa, trái đất còn rất hỗn mang;

thần Trời dùng sức mạnh của mình tạo nên bầu trời, làm ra mười mặt trời, chín mặt trăng và vô số vì sao, rồi dùng ánh nắng mặt trời chiếu rọi liên tục để cho mặt đất dần dần khô và cây cối mọc lên, tiếp đó lại làm ra các con vật và cuối cùng thì lấy đất vắt nên con người: kể từ đó, con người thay thần làm chủ trái đất

Như vậy là các truyện thần thoại nói trên đã giải thích thế giới từ chỗ chưa có đến chỗ có nước, có đất, có cây cỏ rồi đến các sinh vật khác và cuối cùng là con người Cách giải thích đó mang tính chất lãng mạn thần kỳ nhưng vẫn có cơ sở từ thực tế

b) Giải thích nguồn gốc dân tộc và các nhóm dân tộc người ở Lào

Ví dụ:

Truyện quả bầu: là sản phẩm độc đảo của Lào đã giải thích một cách có căn

cứ và đầy sức thuyết phục về sự hình thành dân tộc và các nhóm dân tộc người ở Lào

Truyện kể rằng các giống người ở Lào đều sinh ra từ một quả bầu Người Lào Thơng sinh ra đầu tiên được coi là anh cả, người Lào Lùm sinh ra tiếp theo được coi là anh thứ và người Lào Xủng sinh ra sau cùng được coi là em út Trình tự sinh ra của các giống người này rất phù hợp với sự xuất hiện của các nhóm tộc người trên đất Lào: nhóm Lào Thơng – nhóm Lào Lùm – nhóm Lào Xủng

Việc giải thích “các giống người đều sinh ra từ một quả bẩu” có liên quan chặt chẽ đến nhận thức “các con đều sinh ra từ một người mẹ” (trong chế độ xã hội thị tộc mẫu quyền, con người tôn thờ huyết thống theo mẹ) Những khái niệm

thường dùng ở Lào như “muôn ma nụt” (toàn nhân loại), “mốt thục khôn” (tất cả

mọi người) ít nhiều đều liên quan đến quan niệm và nhận thức nói trên

Trang 21

c) Phản ánh công cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên:

Thiên nhiên xa xưa là một nỗi đe dọa thường xuyên đối với cuộc sống bình yên của con người Bởi vậy, từ buổi bình minh của xã hội loài người, con người đã tiến hành một cuộc đấu tranh liên tục và bền hỉ nhằm chống lại các thế lực thiên nhiên “khủng khiếp” đó Cuộc đấu tranh oanh liệt này đã được thể hiện một cách

sống động trong hình tượng thần thoại “Cung tên và hạn hán”, đặc biệt là trong hình tượng thần loại “Pù Nhơ Nhà Nhơ” của Lào

Trong thần thoại “Cung tên và hạn hán”, thần đã cầm dao cầm rìu vào rừng

chặt cây về làm cung tên bắn vào mặt trời, mặt trăng để cứu loài người khỏi cái chết

do hạn hán gây ra Trước những hiện tượng thiên nhiên đang trở thành hiểm họa lớn đối với con người, họ không khoanh tay ngồi nhìn mà đã vùng đứng lên, tìm mọi

cách chế ngự bằng được chúng Cũng vậy, trong hệ thống thần thoại Pù Nhơ Nhà

Nhơ, lại một lần nữa chúng ta được chứng kiến nhiều hành động tương tự của một

cặp vợ chồng có tên là Pù Nhơ Nhà Nhơ có đôi chân kỳ diệu để mỗi bước chân

bước đi trên dòng nước là mặt đất được hình thành Và khi đã trở thành người đầu tiên trên trần gian thì mỗi việc làm của Pù Nhơ Nhà Nhơ không chỉ mang sức mạnh của thần mà còn có sức mạnh của người nữa Sức mạnh đó đã được bộc lộ một cách

rõ rệt nhất qua những hành động đầy lòng quả cảm của Pù Nhơ Nhà Nhơ khi giết

hai con quái vật xíng Khalôôc và xạng Mangcon, cứu loài người khỏi sự đe dọa của chúng; khi chặt đứt cây leo khổng lổ che khuất mường trần, cứu loài người khỏi rét mướt, băng giá và có được ánh nắng và sự ấm áp; đặc biệt khi đi lên mặt trời lấy lửa

về nhét vào lòng quả đất làm cho mặt đất ấm dần lên và mọi vật bắt đầu sinh sôi nảy

nở Vì có lòng dũng cảm và đức hy sinh lớn lao, Pù Nhơ Nhà Nhơ đã trở thành hình

tượng bất tử, sống mãi trong lòng nhân dân Nhân dân đời đời ca tụng tôn thờ Pù

Nhơ Nhà Nhơ như những vị thần cao cả, thiêng liêng nhất và coi Pù Nhơ Nhà Nhơ

như tổ tiên, giống nòi của họ

2) Truyền thuyết

Truyền thuyết Lào hình thành và phát triển mạnh trong thời kỳ trước khi quốc gia – dân tộc Lào hình thành và tiếp tục sinh thành cho mãi tận về sau

Trang 22

Những vấn đề lớn của đất nước và xã hội Lào trước khi hình thành quốc gia dân tộc đều được phản ánh trong truyền thuyết Đó là công cuộc xây dựng và bảo vệ các mường cổ như mường Xí khột ta boong, mường Pá kăn, mường Chăn thạ bu li, mường Xiêng đông, Xiêng thoong, mường Xiêng xen, của các bộ tộc Lào cổ

(truyền thuyết Xí khột ta boong, truyền thuyết Chàng Chăn thạ pha nít, truyền thuyết Khún bu lôm – Khún Lo, truyền thuyết về Khún chương) Đó là công cuộc

xây dựng và bảo vệ các thành đô ở phía Bắc của các bộ tộc Thái – Lào để rồi kết hợp với các mường đã xây dựng từ trước thành những mường lớn như mường Xoa

(truyền thuyết Khún Bu Lôm, truyền thuyết Xí Khột tạ boong, truyền thuyết Chàng

Chăn tha pha nít) Đó là sự hội tụ của các bộ tộc Thái – Lào trong những vùng rộng

lớn ở mường Xoa để rồi xây dựng nơi đây thành trung tâm chính trị của cả nước sau

này (truyền thuyết Khún Bu Lôm – Khún Lo)…

Nói chung truyền thuyết thời kỳ này còn giữ được tính chất cổ sơ của nó một cách khá đầy đủ Lịch sử của Lào thời kỳ này được ghi nhận và lưu truyền qua hình thức truyền thuyết là chính

Từ thế kỷ XVI trở đi, tức từ khi quốc gia – dân tộc Lào được hình thành, thì cũng với truyền thuyết, việc ghi chép lịch sử đã được thực hiện Nếu trước kia lịch

sử cũng bị truyền thuyết hóa thì từ nay, sự thật lịch sử được trả về cho lịch sử Nội dung, tính chất truyền thuyết thời kỳ này ít nhiều có thay đổi Nó được đánh dấu hỏi hai mốc chính:

- Phản ánh công cuộc bảo vệ và xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, phản

ánh công cuộc sáng tạo văn hóa (các truyền thuyết về Luống Pha Bang, Thạt

Luống, mường Viêng Chăn, chùa In hăng, tháp Phạ nôm, tháp Uvăng)

- Phản ánh công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm (chống phong kiến Miến,

Thái, và đế quốc Pháp) qua các truyền thuyết Lát Xạ Vông, Phu Mi Bun, Chậu Phạ

Pắt Chay, Ông Kẹo Ông Kôm Mạ Đăm, Phò Cá Đuột,

Một số truyền thuyết tiêu biểu:

Truyền thuyết Khún Bu Lôm – Khún Lo

Trang 23

Đây là một truyền thuyết có nội dung lịch sử sâu sắc và có giá trị, ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, đã làm nổi bật một vấn đề lớn của đất nước và xã hội Lào,

đó là công cuộc xây dựng nhà nước phong kiến tại mường Xoa và các mường khác

Từ một con người được coi là có thật, Khún Bu Lôm đã trở thành một nhân vật truyền thuyết Khún Bu Lôm được vua Trời phái xuống mường trần cùng với bốn vị thần khác để trông coi hạ giới Khún Bu Lôm đã cử bảy người con trai của mình đến cai trị ở bảy mường khác nhau Người con cả là Khún Bu Lôm tài giỏi, phúc đức, được nhận trọng trách tại mường Xoa (Luống Phạ Bang) và trở thành ông vua đầu tiên của Lào Với con mắt tinh tường và tầm hiểu biết sâu rộng Khún Bu Lôm đã cùng bảy người con trai của mình làm được nhiều việc cho hạ giới và trở thành vị tổ tiên vĩ đại nhất của người Lào

Truyền thuyết Xí Khột Tạ Boong

Truyền thuyết phản ánh công cuộc xây dựng và mở rộng vùng cư trú, bành trướng quyền lực của mường Xí Khột Tạ Boong ở phía Nam bán đảo Đông Dương Nhưng trong khi mở rộng vùng cư trú và bành trướng quyền lực lên phía Bắc, mường Xí Khột Tạ Boong đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của các mường khác, đặc biệt là mường Viêng Chăn Vua mường Viêng Chăn nhận thấy không thể thắng được bằng quân sự mới nghĩ kể phản công bằng chính trị để giết vua mường Xí Khột Tạ Boong, dẫu sao trong truyền thuyết vua Xí Khột Tạ Boong cũng là người phi thường đã có công lao to lớn trong việc đánh giặc và giúp dân xây dựng làng bản

Truyền thuyết Chàng Chănthaphanít

Truyền thuyết kể về một người buôn trầu, hay ngủ lại ở chùa, qua một giấc

mơ đẹp mà trở nên giầu có và cuối cùng đã trở thành ông vua trị vì bản mường

Thông qua câu chuyện nói trên, truyền thuyết đề cao chàng Chănthaphanít, một tù trưởng có công lao xây dựng mường Xiêng đôngXiêng thoong trước thời kỳ xây dựng mường Xoa, đồng thời phản ánh một thời kỳ mà xã hội Lào có sự phát triển tương đối cao, nhất là vùng từ Luống Phạ Bang đến Viêng Chăn và phụ cận Việc buôn bán, trao đổi hàng hóa đã trở thành một nhu cầu của xã hội Sự giàu đẹp

Trang 24

và mặt tài nguyên của mường Xiêng đông Xiêng thoong đã có sức thu hút mạnh đối với các cư dân đến đây làm ăn, sinh sống

Truyền thuyết về Khún Chương:

Khún Chương trong truyền thuyết được xây dựng vừa như một nhân vật anh hùng chiến trận lại vừa như một nhân vật sáng tạo văn hóa

Trong cuộc chiến tranh với các tướng lĩnh của quân Keo mèn như Engka, Thaoquà, Hùnbăng, Aihing ở mường Ngơnnhang (Xiêng xén) và mường Pákăn (Xiêng khoảng), Khún Chương – chúa mường Ngơnnhang đã liên tiếp giành chiến thắng, nhiều lần đẩy quân địch ra khỏi căn cứ và nơi cư trú của chúng Bị thất bại nặng nề, quân địch đã phải cầu cứu đến sự giúp đỡ của các mường khác như mường Tumvang, mường Xiêng hùng và cuối cùng phản công lại một cách quyết liệt Khún Chương đã hy sinh anh hùng trong một trận giao tranh với quân Keo mèn Nhưng nhân dân đã miêu tả Khún Chương như một con người bất tử Sau khi chết, hồn ma

Khún Chương đã chỉ huy một đội quân ma lên chiến đấu và chiến thắng oanh liệt các thần ở trên mường Trời Truyện kể Khún Chương có phép, có voi trắng, có khiên và có kiếm thần Khi đánh nhau, chỉ cần Khún Chương giơ kiếm thần lên trời cũng đủ làm cho quân địch chế như ra

Là một anh hùng chiến trận, Khún Chương cũng đồng thời là một nhà sáng tạo văn hóa Sau mỗi lần chiến đấu và chiến thắng địch ở mường Pákăn, Khún Chương đều làm rượu cho quân sĩ uống Rượu được đựng trong những chiếc chum

đá – Phải chăng những chiếc chum đá còn lại đến ngày nay ở Cánh đồng chum là dấu ấn của một thời chinh chiến với những chén rượu mừng vui chiến thắng

Trang 25

Chàng Tức Khức (trong truyện Tức Khức) là một chàng trai có sức khỏe, có

ý chí và nghị lực Chàng nguyện mang hết khả năng, sức lực to lớn của mình để khai phá núi rừng, biến những vùng hoang vu hiểm trở thành đồng bằng phì nhiêu

và cao nguyên trù phú Không những thế, chàng còn đào mương đắp phai dầu nước

về đồng ruộng, tạo ra những cánh đồng lúa xanh tươi, trữu bông nặng hạt Kể từ đó cuộc sống bản thân, gia đình và làng bản đã có sự đổi thay, không còn cực khổ thiếu thốn như trước nữa mà đã trở nên no đủ, sang túc Hoàn thành công cuộc khái phá rừng núi ở phía Nam, chàng đi lên phía Bắc để tiếp tục công cuộc khai phá đó ở một vùng rừng núi hiểm trở hơn Nhưng khi đến Xiêng khoảng, chàng đã bị một con yêu quái làm hại Công cuộc khai phá vùng rừng núi phía Bắc vì thế phải dừng lại Do

đó mà địa hình Bắc Lào ngày nay vẫn hiểm trở hơn, cây cối rậm rạp hơn

Cũng vậy, chàng Chếtháy (trong truyện “Chàng Chếtháy”) cũng là một

chàng trai khỏe mạnh, thân hìh cao lớn và sức lực dồi dào Mỗi khi vào rừng lấy gỗ, chàng thường chọn những cây to, cao để chặt rồi cắp nách mang về cho dân bản làm nhà Vì thế mà chẳng bao lâu dân bản đã có nhà cửa khang trang, nơi ăn chốn ở đàng hoàng Tuy nhiên, trong lao động chàng cũng không tránh khỏi những trở lực như chàng Tứckhức đã gặp Lúc đó, chàng vẫn cần đến sự hỗ trợ của những lực lượng khác như chàng đóng cọc, chàng chèo bè, chàng voi, mới vượt qua được trở ngại và giành chiến thắng Nhờ vậy, chàng cũng đã có được những đóng góp xứng đáng trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người

b) Truyện cổ tích phản ánh mâu thuẫn, xung đột gia đình và xã hội

Đó là các mâu thuẫn, xung đột gia đình thường diễn ra giữa chồng và vợ, giữa vợ cả và vở lẽ, giữa con vợ cả và con vợ lẽ, giữa di ghẻ và con chồng, giữa anh

cả và em út, giữa chị dâu và em chồng,

Thuộc kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam và cũng là kiểu truyện phổ biến trên thế giới, ở Lào có truyện Nạng tàu khăm (Nàng rùa vàng) Truyện Nạng tàu

khăm trước hết nhằm biểu hiện mâu thuẫn xung đột gia đình giữa vợ cả và vợ lẽ ông

phò bạn, giữa con vợ cả (Chăn tha) và con vợ lẽ (Chăn thi), giữa dì ghẻ và con

Trang 26

chồng (tức con ông phò bạn) Nhưng mâu thuẫn, xung đột gia đình đã chuyển sang mâu thuẫn xung đột xã hội một cách mau lẹ khi mẹ Chăn Thi giết Chăn Tha để đưa

con mình vào làm vợ vua Cũng như bao cô gái mồ côi trong kiểu truyện Tấm Cám,

Chăn Tha không chết; cô đã sống lại và đã báo thù

Thể hiện mâu thuẫn xung đột giữa người anh cả và người em út, ở Lào có

truyện Xúc ca tố xúc ca tá Vì lòng tham vô đáy, người anh cả đã chà đạp lên tình

cảm máu mủ ruột rà Nhưng người em với tấm lòng cao thượng đã sẵn sàng bỏ qua những hành động đáng nguyền rủa của người anh

Ngoài nhân vật là người, trong truyện cổ tích Lào còn có loại nhân vật là quỷ

trá hình người Đó là chúa quỷ Xum tha ra trong truyện Phu Thao Phu Nang (Núi

Chàng núi Thiếp) đã xúi giục và xúc xiểm nhà vua khoét mắt một lúc mười hai cô gái đã là vợ vua để giành lấy cái ngôi chính cung hoàng hậu cho mình Nhưng mọi

âm mưu quỷ kế của chúng cuối cùng đền bị lộ tẩy và chúng phải chuốc lấy thất bại nhục nhã

Nói đến mâu thuẫn xung đột trong truyện cổ tích Lào không thể không đề cập đến mâu thuẫn xung đột giữa những con người bé nhỏ trong xã hội mà tiêu biểu

là những người mồ côi với bọn tộc trưởng, chậu mường, pha nha Đây là sự thể hiện tập trung và rõ nét nhất những mâu thuẫn, xung đột giữa những lực lượng đối địch

Tên chậu mường gian ác và tham lam trong truyện Kăm phạ nang Nga đã

dùng mọi thủ đoạn để chiếm bằng được nàng Nga xinh đẹp, vợ của chàng mồ côi Hắn đã bày ra đủ trò như chọi gà, chọi trâu, đấu voi, đua thuyền, để hòng giành phần thắng và buộc chàng mồ côi phải trao vợ đẹp cho mình Nhưng tất cả những mưu ma chước quỷ của hắn đều không thành công và cuối cùng hắn phải chết Với bản chất ngoan cố, sau khi chết, hồn ma của hắn vẫn tìm cách quấy phá hạnh phúc gia đình của chàng mồ côi Nhưng chàng mồ côi được sự hỗ trợ từ bên ngoài đã giành chiến thắng

Nếu như tên chậu mường trong Kăm phạ nang Nga thấy người đẹp tìm cách chiếm đoạt thì tên pha nha trong Con bò đỏ thấy bò khỏe cũng gạ mua Mua không

xong thì cũng bày ra cách chọi bò để hòng chiếm đoạt Nhưng bò của hắn không

Trang 27

thắng nổi bò của chàng mồ côi và buộc hắn phải chết Hắn trở mặt lật lọng, bắt bò của chàng mồ côi phải chọi với trâu và đấu với voi của hắn Kết cục thì trâu và voi của hắn cũng bị thua và chết Không còn cách nào khác, hắn đã dùng nọc độc của rắn hổ mang mới giết được bò của chàng mồ côi Sau khi bò đỏ của chàng mồ côi không còn nữa, hắn đã biến chàng mồ côi thành nô lệ của hắn và bắt chàng phải làm việc cực nhọc Dẫu sao, cuối cùng tên pha nha vẫn phải chấp nhận cái chết đau đớn: còn chàng mồ côi thì trở thành vị pha nha được nhân dân kính phục

c) Truyện cổ tích phản ánh về đời sống tình cảm của nhân dân Lào

Đó là tình cảm mẹ con gắn bó, dù phải trải qua bao gian lao thử thách vẫn không thể xa rời nhau (tình cảm giữa nàng Am ma la và ba người con yêu quý của

mình trong truyện Vợ chồng Phôn xa nga)

Đó là tình cảm anh em khăng khít, sống chết có nhau giữa những người mồ

côi trong truyện Con bò đỏ Người anh vì thương em và vì muốn có bò để cày kéo

đã tình nguyện làm con bò suốt đời

Đó là tình cảm vợ chồng keo sơn, bền chặt, không thể nào chia cắt giữa

Nũđỏ và Cămdua (truyện Nàng Cămdua), giữa Kămphạ và nang Ngà (truyền K ăm

phạ - nang Ngà), giữa hoàng tử Phôn xa nga và nàng Am ma la (Truyện vợ chồng Phôn xa nga)

Đó là tình cảm lứa đôi chung thủy, trong sáng, sẵn sàng, hy sinh tất cả vì tình yêu và vì người yêu Hình ảnh nàng Canghy và chàng Phụt thạ xến trong truyện

Núi Chàng núi Thiếp, hình ảnh chàng mồ côi và con gái ông tộc trưởng trong truyện Huội ta ngâu sẽ là những gương sáng mãi mãi soi vào lòng người

4) Truyện ngụ ngôn

Truyện ngụ ngôn Lào không chỉ dừng lại ở sự quan sát các loài vật mà thông qua đó đã đạt ra và giải quyết những vấn đề xã hội, nhân sinh

Truyện ngụ ngôn Lào gồm các loại:

Ví dụ:

Trang 28

Truyện Rùa và ngỗng nhắc nhở con người không nên chủ quan mà phải biết

lắng nghe ý kiến người khác trước khi hành động

Truyện Vua và chúa vẹt nhắc nhở con người không nên nóng nảy mà phải

bình tĩnh suy nghĩ, cân nhắc kỹ càng trước khi hành động

Truyện Bò Nănthạcá và sư tử Laxạxí nhắc nhở con người trong quan hệ tình

bạn phải chân thành nhưng đồng thời cũng phải tỉnh táo nếu không sẽ mất bạn hoặc

sẽ bị lừa dẫn đến hậu quả khôn lường (ví như bò khó có thể kết bạn với sư tử được

vì bản tính của bò khác hẳn với sư tử nên rất dễ bị sư tử ăn thịt)

Truyện Khỉ và chim sẻ nhắc nhở con người khi làm việc nghĩa cũng phải

đúng đối tượng và đúng lúc, nếu không sẽ chuốc lấy tại họa Chẳng hạn như chim

sẻ mách bảo khỉ một việc làm có ích nhưng đã bị khỉ đáp lại bằng hành động bất nhã: vứt tổ chim sẻ ra khỏi cành cây

Truyện Vợ chồng chim sẻ phê phán thói vị kỷ, hẹp hòi của người đàn ông và

nhắc nhở về lòng tiết nghĩa của người đàn bà trong quan hệ vợ chồng Ví như gia đình chim sẻ gặp nạn mà chim sẻ chồng chỉ lo thoát thân, bỏ mặc vợ con chết cháy trong tổ

Truyện Hổ và mèo cũng nhắc nhở con người chân thành, tỉnh táo trong tình

bạn, không nên trở mặt như hổ đối với mèo và phải có ý thức cảnh giác như mèo đối với hổ (Mèo đã dạy cho hổ cách vồ mồi nhưng hổ đã lợi dụng luôn lời dạy đó

để vồ mèo Song, do cảnh giác, mèo đã kịp nhảy lên cành cây Biết rõ bản chất của

hổ, mèo vẫn giấu bài học này không dạy cho hổ)

b) Những truyện mang tính chất đấu tranh xã hội, đề cao óc thông minh, tài trí

Truyện Cào cào đọ sức với khỉ đã cung cấp cho chúng ta một bài học bổ ích

và lý thú Đó là yếu có thể thắng mạnh nếu có mưu lược và hành động thống nhất, còn mạnh có thể thua yếu nếu chủ quan khinh địch Ví như cào cào nhỏ yếu vẫn đọ sức thắng lợi đối với loài khỉ to khỏe

Truyện Phượng hoàng và chim cu phê phán những luật lệ vô lý của Ngọc

Hoàng, tức cũng là của giai cấp thống trị Những luật lệ đó chỉ được thực hiện khi

có lợi cho giai cấp thống trị, ngược lại sẽ bị vứt bỏ

Trang 29

Các truyện Chuột và sư tử, Gà và cáo, Voi và chim xày, Quạ ăn sâu, Đại

đấu tranh Các con vật nhỏ tượng trưng cho nhân dân lao động bị áp bức nếu khôn khéo và biết đoàn kết, tập hợp lực lượng thì có thể chiến thắng kẻ thù

5) Truyện cười

Cũng như truyện cười của nhiều dân tộc trên thế giới, truyện cười Lào vừa có tính khôi hài vừa có tính chiến đấu Bởi đối tượng của nó gồm nhà vua, quan lại sư sãi, cho đến những người dân bình thường Có thể tạm phân truyện cười Lào ra thành truyện khôi hài và truyện trào phúng

a)Truyện khôi hài:

Truyện khôi hài là những truyện nhằm mục đích mua vui, giải trí là chính Nhân vật trong truyện nói chung là những người lao động Nhân dân dùng tiếng cười khôi hài để nhắc nhở, khuyên bảo nhẹ nhàng đối với những cử chỉ, hành vi bảo

thủ, máy móc, phiến diện, không bình thường như trong các truyện Phúa mia mày (Vợ chồng mới), Xoọc mia (Tìm vợ), Xoóng siều pay khạ (Đôi bạn đi buôn), Phúa

chạ mia lắc (Chồng dại vợ khôn)… Để nắm được những biểu hiện cụ thể của những

hành vi, cử chỉ, nói trên, chúng ta tìm hiểu thêm nội dung của một số truyện sau:

Truyện Xì nuộc kể về hành động và lời nói sai trái của nhân vật tai điếc Truyện Phí hươn đíp phê bình sự ngờ ngệch, dại dột của chàng trai mê gái, si

tình

Truyện Xoóng xiều pai lặc cày chỉ ra mâu thuẫn giữa khả năng và hành động

thực tế của một chàng trai tai điếc và một chàng trai mắt mù

Truyện Chữ của bò kể về một chú tiểu thông minh đã cứu vị sư thầy của

mình khỏi một cuộc thì tài bất đắc dĩ Biết vị sư khách sắp đến chùa, chú tiểu bắt một con cua nhúng vào trong mực rồi cho nó bò lên trang giấy của một cuốn sách

Vị sư khách vừa đến chùa đã nhìn thấy ngay chú tiểu đang ngồi đọc sách bên gốc cây và nét chữ trên trang sách rất lạ Vị sư khách tò mò muốn biết và được chú tiểu

giải thích: đây là trang đầu của bộ kinh sách có tên là “Pay pu” (cua bò) Nghe

xong, vị sư khách giật mình, kính hoàng và tỏ vẻ thán phục té ra vị sư trụ trì tai

Trang 30

chùa này có vốn tri thức uyên bác hơn ta Thôi! Ta không dám đọ sức, thi tài nữa

Ở Lào, truyện trào phúng cũng gồm hai loại là trào phúng bạn và trào phúng thù Đối tượng và mức độ phê phán, chỉ trích hoặc đả kích ở mỗi loại có khác nhau

- Trào phúng bạn: Đối tượng của truyện trào phúng bạn là những người

thuộc hàng ngũ lao động và những người thuộc tầng lớp trung gian (như nhà sư, chú tiểu) mà phẩm chất, tư cách có giảm sút do thiếu rèn luyện hoặc do có ham muốn, sở thích không lành mạnh, chính đáng Phương pháp và phương tiện đấu tranh đối với loại đối tượng này là phê phán, chỉ trích (phê phán những thói hư, tật xấu của họ như bủn xỉn, tham lam, lười biếng, giả dối, bịp bợm, dậm dãng, tự cao tự đại, ) nhằm hoàn lương cho họ Ví dụ:

+ Truyện Xiêng phốt và truyện Bịp gặp bợm đều chỉ trích, phê phán những hành động lèo lái, thiếu thật thà của những người buôn bán Trong truyện Bịp gặp

bợm, hai chàng lái buôn đã trao đổi hàng rởm cho nhau mà bên nào cũng cho là

mình được lời, đến khi mở hàng ra xem mới biết mình bị lừa

+ Truyện Mia lịn xụ chạc phúa (vợ bỏ chồng đi chơi với người yêu) phê

phán hành vi ngoại tình trái đạo đức của người phụ nữ

+ Truyện Phờn cá đắt tô cá đọ phê phán kẻ tỉ tiện, chỉ lo vun vén cho mình

và gia đình mình mà chẳng hể nghĩ đến người khác

+ Truyện Sự xơi gan trâu và truyện Sư mắc bệnh kín đều chỉ trích, phê phán

những nhà sư thoái hoa, biến chất hoặc do tham ăn hoặc do ham mê sắc dục Nhìn vào tình cảnh của mỗi nhà sư mà buồn cười chua xót, cười ra nước mắt Cho nên tục ngữ Lào có câu: “Muốn giàu hãy mua bò về bán, muốn phá sản hãy mang sư về nuôi”

cho giai cấp thống trị như nhà vua; quan lại, Với loại đối tượng này, phương pháp

và phương tiện đấu tranh là đả kích mạnh mẽ vào bản chất xấu xa, tàn bạo và những hành động lố lăng, kệch cỡm của chúng Những truyện trào phúng thù thường là những truyện dài, gồm nhiều truyện nhỏ, tạo thành một hệ thống truyện móc xích

Trang 31

nhau, trong đó nhân vật chính (thường là chàng mồ côi, chú tiểu) hoạt động liên tục

và chiến thắng giòn dã Các truyện Xiêng miệng, Xiêng phốt, Lung Pao, Thao Pộ,

Thạo Xốm bò khít, Tai chang bu hang, đều thuộc loại truyền trào phúng thù

Những chàng mồ côi và những chú biểu trong truyện bẩm sinh là những đứa bé ương bướng, nghịch ngợm và rất thông minh, lớn lên tung hoành khắp đó đây, không kiêng nể một ai cả, kể cả vua quan đầy quyền lực cho đến bọn cường hào, phú ông giàu có, hung hãn Nhiều phen mặt đối mặt với vua quan, Xiêng miệng và các nhân vật đồng sự khác tỏ ra rất thông minh, linh hoạt, biết dùng mưu mẹo và cách ứng xử nhanh, kịp thời xoay chuyển tình hình, giành lấy thế chủ động tấn công

và tấn công liên tục, đẩy dịch vào thế bị động, lúng túng và cuối cùng giành chiến thắng Vua quan, từ chỗ là kẻ thống trị có oai quyền, nghiễm nhiên trở thành kẻ khờ khạo, ngốc ngếch đến nỗi bị Xiêng miệng và đồng sự đánh lừa, chơi khăm ra ngồi

ngoài ao (truyện Lừa phạ nha ra ngồi ngoài ao), dưới mưa (truyện Lừa phạ nha ra

ngồi dưới mưa), lội xuống nước, nhảy lên bờ (truyện Lừa phạ nha xuống ao và lên bờ) hoặc nhịn đói chờ Xiêng miệng (truyện Thuốc đắng ngon cơm)

Rõ ràng là với truyện trào phúng thù, những kẻ đại diện cho giai cấp thống trị đã đến lúc mục ruỗng nhưng vẫn cố tạo ra vẻ tôn nghiêm, oai phong đã bị nhân dân lột mặt nạ, biến thành trò hề, thành con rối, thành đối tượng chế giễu, đả kích trong truyện cười

Thể loại trữ tình dân gian Lào có hai loại hình nổi bật, tiêu biểu là xú pha xít

và lăm, khắp

1) Xú pha xít

Xú pha xít của Lào có nội dung, ý nghĩa tương tự như tục ngữ, thành ngữ, ca dao của Việt Nam Nếu như ở Việt Nam và nhiều nước khác, tục ngữ, thành ngữ (cùng với câu đố) không được xếp vào thể loại trữ tình dân gian thì xú pha xít của Lào vẫn được coi là loại hình nổi bật và vẫn có một vị trí nhất định trong thể loại trữ tình dân gian ở nước Lào Bởi lẽ, trong xú pha xít của Lào, tục ngữ, thành ngữ không hoàn toàn tách khỏi ca dao Hơn nữa, xú pha xít của Lào được nhân dân sử

Trang 32

dụng như một thể thơ dân gian đặc biệt trong nhiều trường hợp, kể cả trong dân ca các miền (lăm, khắp) của Lào

Về mặt nội dung, xú pha xít Lào đề cập đến nhiều vấn đề (lao động, sản xuất, đấu tranh giai cấp và dân tộc, đầu tranh nội bộ nhân dân, triết lý xã hội) và nhiều mối quan hệ (gia đình, làng bản, bạn bè, người thân, ) trong cuộc sống

a) Là một loại hình văn học dân gian, xú pha xít Lào gắn bó trực tiếp với lao động sản xuất của nhân dân Lào qua nhiều thế kỷ

Trong lao động sản xuất, người nông dân Lào phải lao động cật lực mới có ăn:

Uống lưng lên trời, cắm mặt xuống đất, cuối cùng mới có ăn

Khi mà công cụ sản xuất còn thô sơ, khi mà vật chất chưa hề no đủ thì trong công việc đồng áng, đi sớm về muộn đối với họ là một lẽ thường tình:

Đi trước quạ, về dẫm nhái

Có lao động thì mới có ăn Đó là qua luật tất yếu đối với người lao động Nhận thức sâu sắc về quy luật đó, người Lào thường nhắc nhở nhau:

Muốn ăn cơm phải làm ruộng

Muống ăn cá phải vãi chài

Mỗi thành quả đạt được trong lao động đều gắn liền với tâm sức con người

bỏ ra Cần cù lao động vốn là đặc tính của người dân Lào:

Có không rậm vì chủ rẫy năng dẫy,

Ruộng rẫy bằng vì chủ nó chăm san

Người Lào không những cầu cù, siêng năng mà còn rất chu đáo, tận tình Trong bất cứ công việc gì, đã không làm thì thôi, nhưng khi đã làm thì họ làm hết mình, làm đến nơi đến chốn:

Đặt cọc làm mốc cho rẫy, hay cho hết tầm mắt,

Đặt cọc làm mốc cho ruộng, hãy cho khuất tiếng kêu

Từ thực tiễn lao động sản xuất và xây dựng người nông dân đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý Những kinh nghiệm đó, nhiều lúc được họ đem so sánh với những kinh nghiệm khác trong một số lĩnh vực khác của đời sống;

Trang 33

- Ruộng tốt tìm hỏi lúa giống,

Con tốt tìm hỏi cha mẹ chúng

Đi buôn đừng tiếc vốn

- Ruộng tốt vì mạ, dao sắc vì mài đá

Đừng trồng chuối vào lúc hạn

b) Thường xuyên lăn lộn trong lao động sản xuất, một nắng hai sương với

ruộng đồng và bao công việc khác Từ bao đời nay, người dân Lào đã phải chịu đựng bao gian lao vất vả Không những thế, để bảo vệ độc lập cho dân tộc và cuộc sống bình yên cho mọi người, họ còn phải bao phen chống chọi với bọn xâm lược nước ngoài và bọn áp bức bóc lột ở trong nước

Trong cuộc đọ sức một mất một con kẻ thù xâm lược, nhân dân Lào đã khẳng định quyết tâm sắt đá của mình là thà hy sinh tính mệnh chứ nhất quyết

không chịu làm nô lệ: “Chết làm ma còn hơn sống làm nô lệ”

Càng thấy rõ âm mưu của kẻ thù, họ càng nhắc nhở nhau luôn cảnh giác đối với chúng:

Đừng rước giặc về làng,

Đừng bỏ rễ hồng hoàng vào ruộng

Với kẻ thù xâm lược, họ đã có một tinh thần cảnh giác như vậy thì với bọn quan lại trong nước, họ cũng không thể tin:

Sỏi đá chẳng hề là ngọc nhẫn

- Tay cầm gậy, miệng nói điều hay

- Thấy sư tử già giữ đức, đừng vội tin

Khi đàn mồi đến sẽ tan biến mất

Chính vì giai cấp thống trị là kẻ áp bức, bóc lột nhân dân nên nhân dân phải đấu tranh chống lại chúng Không đấu tranh, chúng sẽ càng lấn tới:

Trang 34

- Đừng co mình như con sâu, quạ sẽ mổ

c) Cùng với việc phản ánh lao động sản xuất và đấu tranh chống xâm lược, chống áp bức, bóc lột, xú pha xít Lào còn đề cập đến nhiều mối quan hệ đa dạng, phức tạp trong xã hội Đây là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến từng cá thể người và có thể nói là hoàn toàn thuộc về con người Bởi vậy, bộ phận xú pha xít nói về nó cũng vô cùng phong phú:

- Ban đêm là cáo,

Ban ngày là cú,

Buổi sáng là mèo ma

- Được mới quên cũ,

Được rùa quên chó,

Được cá quên chài,

Được vải quên lụa,

Được sau quên trước

Được ăn lạp bò, khen làm khéo làm ngon

Mà bên trong đắng như là cà thâm

Đừng gửi cá cho mèo…

d) Khác với giai cấp thống trị, những người lao động bình thường luôn nêu cao phẩm chất tốt đẹp của một con người chân chính, “mình vì mọi người” và “mọi người vì mình” Đó không chỉ là phẩm chất cao quý mà đồng thời cũng là phương châm sống và hành động đúng của họ Nói đến quan hệ cha mẹ - con cái, chồng -

vợ, anh - em trong gia đình, xú pha xít có những câu rất chí lý, chí nghĩa, chí tình:

- Công cha cao như núi,

Công mẹ rộng như trời

Trang 35

Vợ chồng cãi nhau một chốc hóa người dưng

Nhưng quan hệ gia đình không thể tách rời quan hệ làng bản, mường xứ Đó

là quan hệ với bà con thân thích, bạn bè thanh lịch, ngọt bùi cùng chia xẻ Những quan hệ này cũng không kém phần đậm đà tình cảm:

Đi đường không dẫm lên vết chân nhau

Bà con nhiều lớp mới tốt

Đặc biệt đối với những người trẻ tuổi, bắt đầu yêu đương, lấy vợ gả chồng, xú pha xít cũng có những lời chỉ bảo chân tình và thẳng thắn:

Chọn gái hãy xem mẹ

Xuyên qua tất cả các mối quan hệ nói trên, nhân dân Lào đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý, đúc kết được nhiều câu xú pha xít hay, mang tính triết lý sâu sắc:

Mười thấy chẳng bằng tay cầm

- Người phúc thắng kẻ có tội

- Một cái chuông vang, vang ra cả làng

Trong xú pha xít Lào không chỉ có tục ngữ, thành ngữ mà còn có ca dao Và, khi cần thể hiện cảm xúc, tục ngữ thành ngữ gắn kết với ca dao khá chặt chẽ : hoặc tục ngữ, thành ngữ chuyển hoá và mang phong cách ca dao Hoặc ca dao được đưa vào

xú pha xít và mang chức năng tục ngữ, thành ngữ :

Trang 36

- Chim bỏ cây bay xa,

Vì chồng không mang lại hạnh phúc cho

Thông thường xú pha xít Lào có từ một đến hai câu (mỗi câu có từ năm, sáu

âm tiết trở lên) hoặc dài hơn ( ba bốn câu hoặc hơn thế) Trường hợp nhiều câu trong một bài thường là trường hợp có sử dụng ca dao (như mấy ví dụ trên đây) hoặc thơ cổ, truyện cổ (như bài xú pha xít thơ trích từ truyện thơ Xỉn xay của Lào) Song, cũng có trường hợp chỉ có ba, bốn từ mà vẫn là xú pha xít;

Ví dụ: “ chín trước ương”, “ cưỡi cổ hổ”, “ chim hai đầu ”, “ cắt tốt hơn nối

”, thịt đi cá về”, “vắt trấu ra mỡ”…

Xú pha xít thường xuất hiện trong những ngày hội tưng bừng, trong những đêm vui hò hẹn của tuổi trẻ, trong lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt tập thể của cộng đồng Nó trở thành nguồn chất liệu cần thiết cho nhiều hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, nhất là trong lăm, khắp Ngày nay, trong hoàn cảnh và điều kiện mới, nhiều câu xú pha xít mới vẫn tiếp tục ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc sống mới và góp phần làm phong phú hơn nữa kho tàng văn

Trang 37

học dân gian vốn đã phong phú của Lào

2) Lăm, khắp

Dân ca là loài hình nghệ thuật dân gian mà ở nước nào cũng có, ở dân tộc nào cũng có Ở Lào, dân ca các miền trong cả nước được gọi dưới cái tên chung là lăm

và khắp Về cơ bản, hiện nay lăm và khắp không khác gì nhau Người Lào ở các

tỉnh phía Nam thường gọi các điệu dân ca quen thuộc của mình là lăm với nghĩa là hát dân gian; người Lào các tỉnh phía bắc thì lại gọi các điệu dân ca ấy của họ là khắp với nghĩa tương tự Tuy nhiên, trong quá khứ, lăm và khắp có khác nhau ít nhiều Đã từ lâu lăm được dùng khá phổ biến và thường có động tác múa đi kèm; còn khắp gắn với từng địa phương và từng bộ tộc: mãi về sau, do nhu cầu đưa khắp

đi biểu diễn ở nhiều nơi mà trong khắp mới có múa Tính chất giai điệu, nhịp điệu của khắp tự do hơn lăm Lời thơ trong khắp đôi chỗ không vần vẫn được Việc đổi đáp trong lăm và trong khắp cũng không hoàn toàn giống nhau Đáp lời người con trai, người con gái trong lăm thường nói, còn người con gái trong khắp lại thường nói và đọc thơ

Nói chung trai gái Lào đều biết lăm và khắp Họ có thể lăm, khắp một mình (lăm đơn, khắp đơn) hoặc lăm, khắp đổi đáp Lăm, khắp một mình là loại lăm, khắp chỉ có một người lăm hoặc khắp Nó không được quy định thành bài hay thành lượt

mà phụ thuộc vào tình cảm của người lăm, người khắp là chính (người lăm, người khắp thích vấn đề nào hoặc nghĩ ra điều gì là có thể lên tiếng lăm, khắp về những cái đó) Trong lăm, khắp một mình không nhạc cụ đệm Loại lăm, khắp này thường diễn ra lúc làm ruộng rẫy, lúc lên núi xuống khe hay lúc vào rừng chặt cây, lây củi…

Lăm, khắp đối đáp là loại lăm, khắp có từ hai người trở lên cùng lăm, khắp với nhau nhưng hấp dẫn nhất là trường hợp chỉ có một đôi trai gái lăm, khắp đối đáp nhau Khác với lăm, khắp một mình, lăm, khắp đối đáp dùng nhạc cụ đệm, nhất là tiếng khèn và có nguyên tắc bài bản hẳn hoi Loại lăm, khắp này được dùng nhiều trong hội hè lễ lạt, vui chơi và có khi cả trong lao động

Trang 38

Việc lăm, khắp có thể chỉ nhằm mục đích vui chơi giải tri nhưng cũng có thế

để thử sức, đua thi xem ai hơn ai kém Trong lăm, khắp đua thi, có bài, có đoạn lăm, khắp được chuẩn bị trước nhưng cũng có bài, đoạn được ứng tác lại chỗ

Với một nước đất không rộng, người không đông như Lào nhưng lại ccó đến hàng trăm điệu lăm, khắp khác nhau cùng tồn tại và phát triển Điều đó chứng tỏ lăm, khắp phong phú da dạng biết chứng nào Ở tỉnh Chăm pa xắc có lăm sì phăn đon, lăm xốp, lăm bạn thồng; ở tỉnh Xá văn na khệt có lăm khón xá văn, lăm bạn xooc, lăm phụ thay, lăm tạng vái lăm tám lói; ở tỉnhXả lạ văn có lăm xả lạ văn; ở tỉnh Khăm muồn có lăm mà há xay; và ở một số tỉnh khác còn có những điệu lăm khác nữa

Ba điệu lăm tiêu biểu của Lào là lăm vay, lăm loong và lăm tợi Đây là ba điệu lăm khác nhau nhưng nhiều khi lại được lăm liền một mach theo với trình tự lăm vay - lăm loong - lăm tợi

Trước hết là lăm vay (hay còn gọi là lăm xặn): “vay” theo tiếng Lào là nhanh

mà “xặn” theo tiếng Lào lại là ngắn Tất nhiên “vay” và “xăn” không hoàn toàn chỉ

có nghĩa là nhanh và ngắn trong suốt một bài lăm Thường thì giọng lăm lướt nhanh

và ngắn, thậm chí có chỗ lời thơ được trình bày gần như nói có âm thanh nhịp điệu nhưng không phải không có chỗ ngân dài ra, nhất là cuối mỗi câu mỗi đoạn

Ví dụ:

Ai đến nghe lăm của tôi thành lung tung linh tinh,

Nghe thủng nghe thẳng thành lùng nhùng lằng nhằng

Nhựa dính vào que, vẻ vè ve kêu,

Tháng tư chờ nhựa dính, ai người theo để dính

Nguyên nhân của lời thơ và giọng lăm lúc ngắn lúc dài, lúc nhanh lúc chậm là

do nhịp thơ, vần thơ, dấu thanh luôn thay đổi trong câu thơ; sự thay đối thường xuyên đó thế hiện tính chất tương đối tự do, không thật ổn định của lăm vay

Trang 39

Lăm loong (còn gọi là lăm nhao - lăm kéo dài ra) là điệu lăm xuôi dòng của những người làm nghề sông nước dọc theo các triền sông Khi lăm, bao giờ người ta cũng lấy giọng từ thấp rồi dần mới lên cao và sau đó lại xuống thấp Giống như lăm vay, lăm loong chưa mang tinh chất của một bài hát hoàn chính Phần nào khác với lăm vay, lăm loong có âm điệu, vần điệu, nhịp điệu uyển chuyển hơn và lời thơ, giọng lăm cũng thường kéo dài hơn Ví dụ:

Cuối tháng mười một, chạp gió mới lại thổi ngược

Đầu ngọn tre đung đưa, gió lật sau lật trước

………

Gió thổi vạn lần rét như lửa thổi đốt

Chưa ngồi đã lại đứng, mắt chợp chẳng được, mệt thật thôi

Lăm tợi hình thành từ phần cuối của thế lăm liên hoàn, kết thúc thể lăm liên hoàn Có nhiều điều lăm tợi: tợi Me khoong, tợi Mương nưa, tợi Thăm mẹ đa, tợi Húa đơn tan…

Khắp ở Lào có nhiều điệu: khắp Xăm nứa, khắp Phuôn, khắp Ngừm, khắp Thụm, khắp Xá lăng xắn xạo v.v Các điệu khắp cũng được chia thành khắp đơn và khắp đối đáp trai gái Khắp đơn thường diễn ra trên nương rẫy hay lúc đi rừng; còn khắp đối đáp được tổ chức lúc có lễ hội hay lúc có trai gái bản khác đến chơi bản mình Dưới đây là một điệu khắp Phuôn giao duyên được nhiều người ưa thích: Trai:

Trai đến đây → Không muốn chèo thuyền tránh

Anh không nỡ rời bước → Từ giã em yêu

Cây hoa kia → Từ nơi nào đến nở

Đến gặp em → Anh muốn nối lá “lan”

Trang 40

Gái:

Đã vì lời đẹp → Đã nghe lời hay

Kể từ khi anh đến đó → Em mới có anh ơi !

Ta hãy thưởng thức một vài đoạn khắp Ngừm trong bài “Khit hót noọng” (Nhớ đến em), một bài khắp được truyền tụng rộng khắp vùng sông Nặm ngừm và thủ đô Viên-chăn:

Ôi này em ơi !

Đêm vừa rạng rồi

Ánh mặt trời rực sáng đã tới nơi

Mỗi người sẽ xa cách nhau

Xa nhau chẳng biết lâu, mau em à !

Em về bên đó anh về bên này

Mỗi người một ngả đắng cay trong lòng

Xa anh về bản, buồn không ?

Vạn lần gian khó, anh chỉ nhớ mong em thôi mà

………

Ôi này em ơi !

Hãy nhớ tới anh, người thương nhé

Chớ quên anh, người đã tình ý cùng em

Lúc em ngủ, mơ nhớ luôn anh đây, em nhé !

Qua tiếp cận với một số điệu lăm, khắp điển hình, ta thấy lăm, khắp của Lào vốn rất đa dạng phong phú Trải qua các thời kỳ, lăm khắp không ngừng được hoàn thiện và phát triển, bổ sung và ngày nay càng trở nên phong phú, đa dạng hơn bao giờ hết Nó có đầy đủ khả năng biểu hiện những cung bậc khác nhau của tình cảm, những nét chung và riêng của cả nước và của từng bộ tộc khác nhau ở Lào Nó đã

và sẽ là cơ sở cho sự phát triển của văn học viết và các loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp Nó xứng đáng có một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa,tinh thần

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Ân (2010), chuyên đề bài giảng “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm tác phẩm văn chương ở trường THPT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm tác phẩm văn chương ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Năm: 2010
2. Đoàn Thị Bình (2008), Cách đặt câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh trong giờ giảng văn lớp 9, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đặt câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh trong giờ giảng văn lớp 9
Tác giả: Đoàn Thị Bình
Năm: 2008
5. Chu Xuân Diên (1989), Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1989
6. Nguyễn Tấn Đắc, Bài báo Từ truyện quả bầu Lào đến huyền thoại lụt ở Đông Nam Á của (Tạp chí Văn học số 4/1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ truyện quả bầu Lào đến huyền thoại lụt ở Đông Nam Á
7. Lại Phi Hùng, So sánh một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và ở Việt Nam
8. Nguyễn Năm, Bài báo Truyện quả bầu ở Lào của (Tạp chí Văn học số 4/1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện quả bầu ở Lào
9. Triều Nguyên (2003), Tiếp cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi , NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2003
10. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1998), Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu , NXB Giáo dục, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian trong nhà trường , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Xuân Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Phan Trọng Luận (1988), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1988
14. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2004
15. Guy Palmade (H.2002), Các phương pháp sư phạm, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp sư phạm
Nhà XB: NXB Thế giới
16. Tuyết Phượng, Đinh Kim Cương, Võ Quang Nhơn biên soạn và dịch, (1981) Hợp tuyển văn học Lào, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học Lào
Nhà XB: NXB Văn học
17. Lê Sử (2010), Những điểm mới của hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK Ngữ văn THPT, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 7 v.v Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK Ngữ văn THPT
Tác giả: Lê Sử
Năm: 2010
19. Đỗ Bình Trị (1995), Phân tích tác phẩm văn học dân gian , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học dân gian
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
20. Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy, nghiên cứu văn học dân gian , NXB Giáo dục21 . Tủ sách văn hóa học (2003-2004), Tuyển tập V.la. Prốp( tập 1 và 2), Văn hóa dân tộc và tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy, nghiên cứu văn học dân gian", NXB Giáo dục 21. Tủ sách văn hóa học (2003-2004), "Tuyển tập V.la. Prốp
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo dục 21. Tủ sách văn hóa học (2003-2004)
Năm: 1983
25. Một số tài liệu tham khảo bằng tiếng Lào (tài liệu dạy học, tài liệu nghiên cứu văn học dân gian bằng tiếng Lào…) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. thống kê các cặp TN - ĐC - xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc   hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào
Bảng 3.1. thống kê các cặp TN - ĐC (Trang 109)
B ảng 3.3. Bảng  phân phối tần suất tích lũy bài kiểm tra (15 phút) - xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc   hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào
ng 3.3. Bảng phân phối tần suất tích lũy bài kiểm tra (15 phút) (Trang 118)
B ảng 3.4. Bảng phân loại kết quả bài kiểm tra (15 phút) - xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc   hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào
ng 3.4. Bảng phân loại kết quả bài kiểm tra (15 phút) (Trang 119)
Hình 3.7. Bi ểu đồ phân loại học sinh (a) và đồ thị đường lũy tích (b) - xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc   hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào
Hình 3.7. Bi ểu đồ phân loại học sinh (a) và đồ thị đường lũy tích (b) (Trang 120)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w