Thế nên, việc hình thành hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng rất quan trọng trong dạy học Làm văn, nó giúp cho học sinh rèn luyện một cách chi tiết, cụ thể các kĩ năng làm văn như kĩ năng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tùng
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN
VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2Lê Thị Tùng
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN
VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học văn
Trang 3Lời đầu tiên, chân thành nhất tôi xin gởi lời cảm ơn đến thầy hướng dẫn
TS Trần Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời
gi an tôi làm luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, với tấm lòng biết ơn, trân trọng nhất tôi xin cảm ơn đến:
- Quý thầy, cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy văn khóa 19
- Phòng khoa học công nghệ và sau đại học Trường đại học Sư phạm
T hành phố Hồ Chí Minh
- Ban giám hiệu và học sinh các trường Trung học phổ thông tại Tây Ninh: Trung học phổ thông Dương Minh Châu, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Nguyễn Trung Trực - Tây Ninh
- Gia đình đồng nghiệp và bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Lê Thị Tùng
Trang 4MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 7
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ 7
THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG 7
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1 ĐOẠN VĂN TRONG VĂN TỰ SỰ, HUYẾT MINH VÀ NGHỊ LUẬN 9
1.1 Đoạn văn 9
1.1.1 Khái niệm đoạn văn 9
1.1.2 Đặc điểm của đoạn văn 11
1.1.3 Những yêu cầu chung của đoạn văn 11
1.1.4 Một số vấn đề chung của đoạn văn 15
1.2 Đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh và nghị luận 30
1.2.1 Đoạn văn trong văn tự sự 30
Trang 5KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
42
2.1 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn 45
2.1.1 Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn 45
2.1.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn 45
2.1.3 Bài tập rèn luyện kĩ năng phát hiện và chữa lỗi đoạn văn 82
2 2 Bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự, thuyết minh, nghị luận 87
2.2.1 Bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự 87
2.2.2 Bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh 94
2.2.3 Bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận 103
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 113
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm Sư phạm 113
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 113
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 113
3.2 Quy trình thực nghiệm Sư phạm 113
3.2.1 Kế hoạch thực nghiệm (Học kì 1 và học kì 2) 113
3.2.2 Các bước thực nghiệm 114
3.3 Phương pháp thực nghiệm 118
3.4 Soạn giáo án thực nghiệm 118
3.4.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 118
3.4.2 Phân tích giáo án thực nghiệm 135
3.5 Nhận xét kết quả thực nghiệm 139
3.5.1 Kết quả học tập của học sinh 139
3.5.2 Nhận xét tiết thực nghiệm 142
Trang 6PHỤ LỤC 153
Trang 7Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn
Hình 2.2 Sơ đồ hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong văn tự
sự, đoạn văn thuyết minh, đoạn văn nghị luận
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ
THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG
Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng Bảng 3.3 Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng Bảng 3.5 Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng
Trang 8Hình 3.2 Biểu đồ thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm
tác giả cùng với từ “theo” đứng trước; nếu trích SGK, sách do nhiều tác giả biên
soạn, chúng tôi thống nhất chỉ ghi tên sách, không ghi tên tác giả; với những đoạn văn tác giả tự viết, hoặc do đặc điểm của bài tập, những đoạn văn đó không có phần ghi chú
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làm văn là phân môn được học ở tất cả các cấp học: Tiểu học, Trung học cơ
sở (THCS), Trung học phổ thông (THPT) Ngay cả ở các trường Đại học đặc biệt là Đại học Sư phạm, môn học này chiếm một vị trí quan trọng, được xếp ngang hàng với tất cả các môn học khác Từ sau cải cách giáo dục Làm văn được xem là phân môn của Tiếng Việt Theo chương trình dạy học mới, dạy học theo quan điểm tích hợp thì Làm văn được xem là phân môn của Ngữ văn Phân môn này cũng góp phần giúp học sinh tiếp xúc và hướng tới xây dựng các văn bản thông thường Ở cấp THCS Làm văn là phân môn chiếm nhiều số tiết: từ tự sự, miêu tả cho đến biểu cảm, nghị luận, hành chính công vụ… Trong những kiểu văn bản ấy thì kiểu văn bản tự sự, thuyết minh, nghị luận được học ở lớp 10 chiếm vị trí quan trọng trong chương trình Bài làm văn chính là thước đo trình độ tri thức, phương pháp tạo lập văn bản và thể hiện tư tưởng, tình cảm của người viết cũng như khả năng nhận thức
về các lĩnh vực của đời sống tự nhiên và xã hội Đồng thời bài văn cũng là sự thể hiện trình độ, tri thức và kĩ năng tiếng Việt của người học bộ môn này trong nhà trường phổ thông
Xuất phát từ vai trò và vị trí của môn học Ngữ văn trong đó có phần Làm văn
ở nhà trường phổ thông, nhiều nhà nghiên cứu tâm huyết với phần học này đã có những đóng góp đáng kể nhằm làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học Tuy nhiên, thực tế dạy học Làm văn ở nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều bất cập Dù
đã có những định hướng đổi mới nhưng vẫn còn có những vấn đề cần được quan tâm hơn nữa trong tiến trình thực thi tinh thần đổi mới phương pháp dạy học như: quan điểm đổi mới dạy - học cách dạy của giáo viên, cách học của học sinh, cách ra
đề thi, kiểm tra…tất cả các yếu tố trên đều có liên quan đến phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học Làm văn nói riêng
Trong dạy học Làm văn, giáo viên đánh giá kết quả bài làm của học sinh qua các kĩ năng như: trình bày, bố cục, lập dàn ý, xây dựng đoạn…Vì vậy, phân môn
Trang 10Tập làm văn có tốt hay không là cách sử dụng từ ngữ, viết câu, phân đoạn Nội dung có cảm xúc hay không là kết quả cho sự rèn luyện của hai phân môn Văn học
và tiếng Việt Nhưng học tốt văn học và Tiếng Việt chưa chắc đã làm tốt một bài làm văn nếu các em không nắm được các bước cơ bản khi tiến hành làm một bài Tập làm văn đó là những bước gì, mỗi bước có điểm gì cần lưu ý Đặc biệt hơn là cái sai lớn nhất của các em là không biết phân đoạn như thế nào cho phù hợp, đa số học sinh làm bài phần thân bài là một đoạn văn là điều rất đáng lo ngại
Như chúng ta được biết, văn bản là một chỉnh thể thống nhất thường bao gồm nhiều đoạn văn Vì vậy, để tạo được một văn bản thì vấn đề xây dựng đoạn văn
là khâu có vị trí quan trọng rất đáng kể khi tạo lập văn bản Các đoạn văn trong văn bản thường tách ra một cách rõ rệt, lại vừa cần có sự liên kết với nhau Bên trong mỗi đoạn văn rất cần có sự liên kết của các câu theo những mô hình cấu trúc nhất định và tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn khác nhau Thế nên, việc hình thành hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng rất quan trọng trong dạy học Làm văn, nó giúp cho học sinh rèn luyện một cách chi tiết, cụ thể các kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu đề và phân tích đề, kĩ năng tìm ý và lập dàn bài, kĩ năng xây dựng đoạn văn, kĩ năng diễn đạt, lập luận…trước khi bắt tay tạo lập một văn bản hoàn chỉnh Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng rất quan trọng như là bước tập dượt ban đầu, chuẩn bị khung sườn, chuẩn bị những bước đầu tiên, những bước nhỏ cho việc xây dựng văn bản đặc biệt là kĩ năng viết đoạn văn trong đó gồm kĩ năng dựng câu, lập luận, liên kết ý trong đoạn… Nếu những kĩ năng này được rèn luyện, được chuẩn bị tốt thì có lẽ sẽ không còn quá nhiều những bài văn không đạt yêu cầu như hiện nay
Từ thực tế dạy học Ngữ văn nói chung, phương pháp dạy học Làm văn nói riêng đang còn nhiều bất cập, trên tinh thần đổi mới phương pháp nhằm hướng đến việc rèn luyện có hiệu quả việc thực hành viết đoạn văn cho học sinh, học sinh viết
đoạn tốt là bước đầu thể hiện bài văn tốt, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống
bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông”
với hy vọng góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm văn, bổ sung
Trang 11bài tập thực hành viết đoạn văn nhằm giúp người dạy và học có một hệ thống bài tập để thực hành dạy học tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề
Trước đây phần học Làm văn ít được người dạy, người học thật sự chú ý đến
so với phần giảng văn (đọc - hiểu) và Tiếng Việt Làm văn chủ yếu được dạy học theo quy trình cung cấp lý thuyết rồi thực hành, viết bài trên lớp hoặc về nhà Các cuộc hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn cũng ít chú ý về phần học này Nếu có đề cập cũng chỉ dừng lại ở việc đề xuất dạy Làm văn thông qua thực hành với các phương pháp thường gặp trong giảng dạy Ngữ văn nói chung
Những công trình nghiên cứu, những bài viết về Làm văn nói chung và văn nghị luận nói riêng là những công trình khiến chúng tôi quan tâm nhiều nhất bởi đây
sẽ là những tư liệu quý giá, sát thực với đề tài mà chúng tôi triển khai Những công trình nghiên cứu về Làm văn này đã cung cấp cho chúng tôi các tri thức công cụ
làm cơ sở lí luận khoa học để triển khai đề tài Đó là những công trình:
Lê A (1990), Một số vấn đề dạy và học Làm văn, ĐH Sư phạm Hà Nội
GS Phan Trọng Luận (2002) (Chủ biên), Phương pháp dạy Văn NXB Giáo
Mai Thị Kiều Phượng (2009), Giáo trình phương pháp dạy và học kĩ năng
làm văn…NXB Đại học quốc gia Hà Nội
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (2007) (Chủ biên), TS Phạm Minh Diệu,TS
Nguyễn Thành Thi, Làm văn, (Dùng cho các trường Cao đẳng Sư phạm), NXB Đại
học Sư phạm Công trình này đã cung cấp cho chúng tôi cở sở lí thuyết về văn tự
sự, văn thuyết minh và văn nghị luận sát với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện
Trang 12Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về Tiếng Việt có liên quan đến dạy học Làm văn của các nhà nghiên cứu tên tuổi đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc thực hiện đề tài, đó là các công trình:
Lê A (chủ biên) (1997), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục
Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp, Văn bản, Mạch lạc, Liên kết, Đoạn văn
NXB Khoa học Xã hội
Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (2000), Ngữ
pháp văn bản và việc dạy làm văn, NXB Giáo dục
Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo
dục
Lưu Văn Lang (1988), Bài viết cấu trúc đoạn trong những vấn đề ngữ pháp
tiếng Việt NXB khoa học xã hội, Hà Nội
Trần Thanh Bình (1986), “Về một hướng gắn bó ngữ pháp với Tập làm văn”,
Tập san Giáo dục cấp III, số 1 Trong bài viết này Tiến sĩ Trần Thanh Bình đã đặt
ra vấn đề gắn bó ngữ pháp với tập làm văn, hướng tới loại “bài tập văn bản” chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ pháp với tập làm văn
Điểm qua các công trình về sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chỉ dừng lại ở những định hướng chung hoặc
nặng về tính lý thuyết hơn thực hành Chẳng hạn như quyển “Phát triển năng lực
ngôn ngữ cho học sinh trong việc dạy học tiếng Việt” (Tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên chu kỳ 1997-2000) chỉ dành 5 trang cho phần hướng dẫn dạy kiến thức và kĩ
năng làm văn nghị luận Nguyễn Quốc Siêu có quyển “Kĩ năng làm văn nghị luận ở
phổ thông”- NXBGD, 2004, nhưng cũng chỉ dừng lại ở kiểu lí thuyết về văn nghị
luận
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lí thuyết và thực hành Làm văn, chúng tôi cũng quan tâm tìm hiểu đến chương trình Làm văn ở trường phổ thông trong khoảng thời gian gần đây, nhất là khi nước ta thực hiện đổi mới sách giáo khoa (2006) Phần viết về cấu tạo chương trình làm văn thường được viết chung với các phần khác của môn Ngữ văn (văn học, tiếng Việt) Những cái nhìn bao quát
Trang 13chương trình dạy học cũng như quan điểm, định hướng mới về nội dung dạy học, phương pháp dạy học của các tác giả viết sách đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều khi định hướng và thực hiện đề tài
Gần với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện nhất là những công trình viết về thực hành làm văn được trình bày dưới hình thức những luận văn, luận án khoa học của các tác giả là học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh, và những bài viết của những nhà nghiên cứu, nhà giáo có tâm huyết với nghề đăng trên các tạp chí khoa học:
Lê Thị Anh (2004), Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự trong quá trình
dạy văn bản tự sự cho học sinh lớp 6 - THCS (Luận văn thạc sĩ) Trường Đại học Sư
phạm, Hà Nội
Mai Văn Năm (2010), Một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn
văn nghị luận cho học sinh lớp 10, Giáo dục (231), 37- 39
Phan Thị Mĩ Tiên (2007), Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn
bản tự sự cho học sinh THCS (Luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm,
Tp.HCM
Nguyễn Thị Ly Na (2008), Từ thực tế viết văn nghị luận của học sinh trung
học phổ thông xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn (Luận văn thạc
sĩ), Trường Đại học Sư phạm, Tp.HCM
Lê Thị Hiền (2008), Dạy thực hành làm văn ở bậc phổ thông theo quan điểm
giao tiếp (Luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm, Tp.HCM
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu vào hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh về đoạn văn và đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh, nghị luận có trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 Chính vì vậy, quan tâm đến phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn bậc THPT nói chung và phần Làm văn 10 nói riêng, đặc biệt quan tâm đến kĩ năng viết đoạn văn - bước quan
trọng của quá trình tạo lập văn bản, chúng tôi hướng đến đề tài “Xây dựng hệ thống
bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT” Nghiên cứu đề
tài, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 14Làm văn hiện nay và nhằm giúp giáo viên có một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn để dạy học tốt hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm giải quyết những vấn đề sau:
Khảo sát những lỗi về kĩ năng viết văn đặc biệt lỗi kĩ năng viết đoạn mà học sinh thường mắc phải
Khảo sát việc học Làm văn của học sinh lớp 10 trường THPT Dương Minh Châu, Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Nguyễn Trung Trực - Tây Ninh
Thực nghiệm các bài dạy trong SGK Ngữ văn 10 và các tiết dạy của giáo viên với các bài luyện tập viết đoạn văn gồm 3 bài:
Luyện tập viết đoạn văn tự sự
Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
Luyện tập viết đoạn văn nghị luận
Bổ sung hệ thống bài tập tương ứng với khả năng viết đoạn văn của học sinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, trong quá trình thực hiện, chúng tôi
đã kết hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp thực nghiệm, cụ thể là:
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện, rút
ra những kết luận cần thiết về cơ sở về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học, Tâm lí học, Lí luận và Phương pháp dạy học Văn,…có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài
Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về tình hình dạy học văn đang diễn ra ở Trường THPT Dương Minh Châu và Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu trên địa bàn huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh cùng với Trường THPT Nguyễn Trung Trực thuộc huyện Hòa Thành, Tây Ninh
Trang 15Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để thống kê các tài liệu liên quan đến phân môn Làm văn; thống kê các phiếu tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh về thực tế dạy học làm văn; thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các nội dung về thực hành Làm văn, kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các đơn vị ngôn ngữ (từ, câu)
mà học sinh vận dụng khi làm bài để đưa ra các nhận xét, đánh giá và giải pháp phù hợp khi giúp học sinh rèn luyện kĩ năng Làm văn
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng để thực nghiệm các giáo án và đề xuất kiểm nghiệm khả năng ứng dụng của dạy học rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh cũng như xem xét mức độ đúng đắn, tính khả thi của luận văn này
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: xây dựng quan niệm đầy đủ, khoa học và toàn diện về
quan điểm dạy học mới và về tính thực hành của giờ học Làm văn
Ý nghĩa thực tiễn: bổ sung hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng Làm văn, đặc
biệt kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh tạo lập một đoạn văn hoàn chỉnh, thật hiệu quả
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ trong hoạt động nghiên cứu và dạy học Làm văn hiện nay bằng phương pháp thực hành
Khẳng định tính thực hành và vai trò của bài tập trong dạy học Làm văn Xây dựng và cung cấp cho giáo viên, học sinh một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn
Trang 167 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh, nghị luận
Chương này cung cấp lí thuyết đoạn văn, khái niệm, đặc điểm yêu cầu của đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh và nghị luận
Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT, chương này trình bày hệ thống bài tập về đoạn văn
Chương 3 Thực nghiệm Sư phạm
Chương này mô tả quá trình thực nghiệm, thống kê kết quả thực nghiệm để
từ đó đánh giá được khả năng ứng dụng của hệ thống bài tập đã xây dựng vào dạy học Làm văn
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐOẠN VĂN TRONG VĂN TỰ SỰ, HUYẾT
MINH VÀ NGHỊ LUẬN
1.1 Đoạn văn
1.1.1 Khái niệm đoạn văn
Về phương diện lí thuyết, chung quanh khái niệm đoạn văn còn những vấn
đề bàn cãi và chưa có sự thống nhất ý kiến Thông thường, mỗi nhà nghiên cứu tự xác định một nội dung về nó để làm việc Trong luận văn này, việc xác định khái niệm đoạn văn và tầm quan trọng của đoạn văn để hướng dẫn học sinh tạo lập văn bản là điều hết sức rõ ràng và cần thiết Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đưa ra những ý kiến thống nhất về đoạn văn để tiện việc thực hiện đề tài
Dưới đây, là một số quan niệm về đoạn văn:
Trong các tài liệu về Ngữ pháp văn bản đã thừa nhận: “Giữa câu và văn bản
có một đơn vị ngữ pháp Đơn vị này được gọi bằng những tên gọi khác nhau: chỉnh thể cú pháp phức hợp, chỉnh thể trên câu, thành tố của văn bản, khổ văn xuôi, đoạn văn, đó là đơn vị trung gian giữa câu văn bản Ngoại trừ văn bản chỉ có một câu, thông thường văn bản có nhiều câu Nhưng câu không phải là đơn vị cấu tạo nên văn bản mà chỉ là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên đơn vị trung gian này “Chỉnh thể trên câu là đơn vị ngữ pháp có sự gắn bó nội tại chặt chẽ, có một kết cấu nhất định
và thể hiện hoàn chỉnh một tiểu chủ đề Còn đoạn văn là một bộ phận của văn bản mang nhiều màu sắc phong cách” (Phong cách cá nhân và phong cách chức năng)
[54,tr.7]
Trong bài giảng Tiếng Việt thực hành cho sinh viên trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, giáo sư Trần Ngọc Thêm viết: “Đoạn văn là bộ phận của
văn bản bao gồm một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức, thể hiện một tiểu chủ đề trong văn bản và được tách ra khỏi đoạn văn khác
Trang 18bằng dấu hiệu chấm qua hàng, được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa thụt đầu dòng”[65, tr.3]
Đoạn văn, coi như một cấu tạo văn bản nhỏ nhất Ở đấy các kiến thức về văn bản, về cấu trúc ngoài liên kết được vận dụng [6, tr.3]
Trong quyển Làm văn do phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống chủ biên, Nhà Xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành năm 2007, đã nêu rõ cấu trúc của đoạn văn như sau:
chỉnh có cấu trúc như sau:
Các cách hiểu về đoạn văn và cấu trúc đoạn văn nêu trên cũng chính là cách hiểu hiện nay: kết hợp cả hai tiêu chí hình thức và nội dung Đoạn văn vừa là sự phân đoạn nội dung, vừa là sự phân đoạn hình thức của văn bản
thể hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh
Trang 19- Về hình thức: đoạn văn phải đảm nhận chức năng phân chia văn bản, luôn
1.1.2 Đặc điểm của đoạn văn
Đoạn văn có những đặc điểm cơ bản sau đây:
* Đoạn văn là đơn vị tạo thành văn bản: đơn vị cấu tạo nên văn bản chính là đoạn văn Đoạn văn có cấu tạo lớn hơn câu
* Đoạn văn có dấu hiệu, hình thức rõ ràng, được thể hiện ở chỗ:
- Đoạn văn được mở đầu bằng cách thụt đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng
- Đoạn văn thường sử dụng các phương tiện liên kết hình thức để liên kết các câu trong một đoạn văn
- Đoạn văn thường chứa câu chủ đề
- Mỗi đoạn văn đều phải thể hiện một phong cách thống nhất chung với toàn bộ văn bản Đoạn văn sẽ là phương tiện phân đoạn về mặt phong cách
1.1.3 Những yêu cầu chung của đoạn văn
1.1.3.1 Đoạn văn phải có sự thống nhất nội tại chặt chẽ
Một là, mỗi đoạn văn trong bài làm văn thường biểu hiện một ý, một tiểu
chủ đề Vì vậy, các câu trong đoạn văn phải thống nhất hữu cơ với nhau, thể hiện tập trung nội dung của đoạn văn hay chủ đề con của đoạn văn Như vậy, bắt buộc mỗi câu đều phải hướng về đối tượng được nói đến và bắt buộc phải thể hiện rõ các mối quan hệ giữa các câu với đối tượng ấy trong một đoạn văn Nói cách khác, các câu phải hướng đến một nội dung mà đoạn văn sẽ triển khai Mặt khác, muốn tất cả các câu trong đoạn văn cùng biểu hiện được một tiểu chủ đề thì bắt buộc các câu
Trang 20trong đoạn văn ấy phải tuân thủ theo nguyên tắc phát triển, theo trình tự logic hay giữa chúng phải có mối quan hệ logic với nhau
Ví dụ:
Thơ mới không nói đến đấu tranh cách mạng, đó là nhược điểm lớn, và Thơ mới nói chung buồn, đó là nỗi buồn của cả một thế hệ người trong xã hội thực dân nửa phong kiến, nó thành ra nỗi buồn về số kiếp con người, cái buồn tưởng như là bản chất của cuộc đời Cũng có những bài thơ vui, những vần thơ vui, có vài nhà thơ mà tâm hồn thiên về cảm xúc vui, nhưng bao trùm Thơ mới có thế nói là nỗi buồn day dứt, nỗi buồn của thế hệ Nhưng cái buồn của Thơ mới đâu có phải đều là hủy mị Nỗi buồn của con hổ nhớ rừng là chan chứa hoài niệm về giang san, đất nước chứ! Nỗi buồn trong bài Tràng giang không phải là lòng yêu quê hương đó sao?
(Huy Cận - Mấy nét về Thơ mới trong cách nhìn lại hôm nay)
ý và kết cấu của đoạn văn Bởi vì, khi các câu trong đoạn văn cùng hướng đến một tiểu chủ đề, cùng thể hiện một trình tự phát triển logic và hợp lí thì tự nhiên các câu
ấy sẽ được thể hiện bằng một hình thức với kết cấu phù hợp Nói rõ hơn, đoạn văn cần phải đảm bảo chặt chẽ về mặt logic Tính chặt chẽ này được thể hiện ở việc phản ánh đúng đắn sự tồn tại, vận động của hiện thực được nói đến trong đoạn văn
và đồng thời nó còn được thể hiện ở chính ngay trong quá trình trình bày của người viết về hiện thực đó
Hai mặt hình thức và nội dung của một đoạn văn gắn bó chặt chẽ với nhau,
có mối quan hệ qua lại với nhau như hai mặt của một tờ giấy Người viết có bảo đảm được điều kiện này thì đoạn văn mới có thể được tồn tại và phát triển trong văn bản Tức là đoạn văn phải có sự thống nhất giữa các ý, ý sau không mâu thuẫn với ý trước, ý sau không phủ định ý trước, phải sắp xếp theo đúng quy luật nhận thức của từng dụng ý
Đoạn văn khi đi vào văn bản cần phải đạt sự thống nhất về đề tài, về tiểu chủ
đề Nhưng như vậy chưa đủ Đi vào văn bản, đoạn văn cần phải đảm bảo sự chặt
Trang 21chẽ về mặt logic Tính chặt chẽ này được thể hiện ở việc phản ánh đúng đắn sự tồn tại, vận động của hiện thực nói tới trong đoạn văn này ở chính ngay việc trình bày
về hiện thực đó Để đạt được tính chặt chẽ về logic trong việc thể hiện sự tồn tại, vận động của hiện thực, đoạn văn cần phản ánh chính xác hiện thực để sao cho hiện thực hiện ra trong tác phẩm đúng như nó vốn có Để đạt được tính chặt chẽ trong việc trình bày, đoạn văn cần phải có sự thống nhất giữa các ý; ý sau không mâu thuẫn với ý trước, phủ nhận ý trước; ý sau nối tiếp ý trước, phát triển, giải thích hoặc chứng minh cho ý trước; các ý đưa vào trong đoạn văn cần được trình bày, sắp xếp theo đúng quy luật của nhận thức, tư duy
sư Wright không chọn tôi làm phụ tá cho ông tại phòng thí nghiệm riêng, nơi tôi tìm
thực tế, nếu như chiến tranh thế giới không xảy ra , thương vong không nhiều đến mức các loại thuốc chưa kiểm tra cũng được phép sử dụng, thì pênêxilin chưa chứng minh được công hiệu của mình và bản thân tôi chưa được giải Noben
(Hóa học ngày nay - 3/1993) 1.1.3.2 Đoạn văn phải đảm bảo có quan hệ chặt chẽ với các đoạn văn khác trong văn bản
Khi đi vào trong văn bản, đoạn văn không đứng biệt lập, tách rời hoàn toàn với các đoạn văn khác nhau trong văn bản mà chúng phải vừa được tách ra một cách hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời vừa phải liên kết chặt chẽ với các đoạn văn khác nhau trong văn bản Tức là đoạn văn này phải nằm ngay trong mối quan
hệ với đoạn văn khác, hoặc có thể làm cho rõ ý, hoặc bổ sung ý, hoặc theo quan hệ liệt kê, hoặc theo quan hệ nhân quả, hoặc theo quan hệ tương phản, hoặc theo quan
Trang 22hệ đối chiếu…nhưng cần chú ý rằng các mối quan hệ đó phải là mối quan hệ liên đoạn văn
Như vậy, mối quan hệ giữa đoạn văn này với đoạn văn khác trong văn bản tương tự như mối quan hệ liên câu trong nội bộ đoạn văn nhưng phức tạp hơn và đa dạng hơn Mối quan hệ này được thể hiện ra hình thức bên ngoài của đoạn văn Đó
là việc sử dụng các từ ngữ nối đoạn, chuyển đoạn để cụ thể hóa, tường minh hóa, những mối quan hệ giữa đoạn trước với đoạn sau, giữa đoạn này với đoạn khác
Ví dụ:
Nhưng văn học dân gian cũng có những hạn chế, những chỗ dở mà chúng ta
cần nhận rõ, nhất là những nét tính cách không phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay Ví dụ: thái độ an phận, cam chịu sự nghèo nàn, lạc hậu; cách nhìn hẹp hòi với những gì khác lạ với những thói quen, những quan niệm vốn có của mình…
( SGK Ngữ văn 7- Tập 1) 1.1.3.3 Đoạn văn phải phù hợp với phong cách chung của văn bản
Đoạn văn phải phù hợp với phong cách chung của văn bản Đoạn văn nằm trong văn bản và vì áp lực chung của văn bản mà đoạn văn phải có sự khác nhau về phương tiện ngôn ngữ, trong đó có sự khác nhau nhất định nào đó về kết cấu đoạn văn, về câu chữ dùng trong đoạn văn…không đảm bảo được đặc tính này, đoạn văn
sẽ mất đi tính thống nhất chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức với cấu trúc chung của toàn văn bản
Ví dụ, hai đoạn văn dưới đây có kết cấu khác nhau bởi lẽ nằm trong những văn bản thuộc hai phong cách khác nhau
a Đường phố bắt đầu hoạt động và huyên náo Những chiếc xe vận tải nhẹ,
xe lam, xe xích lô máy nườm nượp chở hàng hóa và thực phẩm từ vùng ngoại ô về các chợ Bến Thành, Cầu Muối đánh thức cả thành phố dậy với những tiếng máy nổ giòn
Thành phố mình đẹp quá! Đẹp quá đi!
(Nguyễn Mạnh Tuấn)
Trang 23b Cái tật “nói chữ” không chỉ có hại ở chỗ nói gây khó hiểu cho người nghe, người đọc, làm cho tiếng ta vốn là trong sáng, hóa ra đục và tối; tật xấu đó còn đưa đến một thói quen khá nguy hiểm là dùng chữ sẵn, điệu nói sẵn để lắp vào bất cứ trường hợp này, nghĩa là dùng cái “sáo” thường khi chẳng có ý nghĩa gì, để thay thế sự suy nghĩ, những ý và tình chân thật, xuất phát từ đáy lòng và diễn tả bằng tiếng nói thông thường, mộc mạc, hồn nhiên và có ý vị
(Phạm Văn Đồng)
1.1.4 Một số vấn đề chung của đoạn văn
1.1.4.1 Cách trình bày nội dung đoạn văn
Là một đơn vị cơ bản của văn bản, đoạn văn có cấu trúc rất linh hoạt và nhiều khi phụ thuộc vào phong cách, cá tính của người viết Trên đại thể, có thể nhận thấy các kiểu trình bày nội dung đoạn văn có những kiểu cấu trúc chủ yếu như sau:
Đoạn văn có cấu trúc diễn dịch thường có chỉ có một câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát, có chức năng liên kết bao quát nằm ở vị trí đầu đoạn văn, còn các câu còn lại là các câu cụ thể có cấu trúc song song ngang bằng, liên kết ngang với nhau, hoặc cũng có thể chúng có mối liên hệ phụ thuộc có chức năng minh họa cho câu chủ đề khái quát
Ví dụ:
“Nhật kí trong tù” canh cánh một tấm lòng nhớ nước Chân bước đi trên
đất Bắc mà lòng vẫn hướng về Nam, nhớ đồng bào trong cảnh lầm than, có lẽ nhớ
cả tiếng khóc của bao nhiêu em bé Việt Nam qua tiếng khóc của một em bé Trung Quốc, nhớ người đồng chí đưa tiễn đến bến sông, nhớ lá cờ nghĩa đang tung bay phất phới Nhớ lúc tỉnh và nhớ cả lúc mơ
(Hoài Thanh)
Trang 24Đoạn văn có cấu trúc quy nạp là đoạn văn có các câu cụ thể có cấu trúc song song, ngang bằng, liên kết ngang với nhau, hoặc chúng cũng có mối quan hệ phụ thuộc nằm ở đầu đoạn văn Các câu cụ thể đứng ở đầu đoạn văn có chức năng minh họa cho một câu chủ đề khái quát mang tính kết luận, có chức năng liên kết bao quát cho toàn bộ đoạn văn và nằm ở vị trí cuối đoạn văn
Ví dụ:
- Nhân dân ta tốt thật Nhưng ta nên nhớ câu chuyện anh Tăng Địch tuyên truyền xảo quyệt và bền bỉ, ngày này đến ngày khác, năm này đến năm khác, “giọt
nước nhỏ lâu đá cũng mòn” Cho nên không khỏi có một số đồng bào bị địch
tuyên truyền mãi mà hoang mang
(Hồ Chí Minh)
dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hàng Thế là chẳng những chúng không "bảo
hộ" được ta, trái lại, trong năm năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật
(Hồ Chí Minh)
Khác với hai loại trên, đoạn văn có cấu trúc diễn dịch kết hợp với cấu trúc
quy nạp là đoạn văn có đến hai câu chủ đề Câu chủ đề thứ nhất mang ý nghĩa khái quát, có chức năng liên kết bao quát nằm ở vị trí đầu đoạn văn, tiếp theo đó là các câu cụ thể có cấu trúc song song, ngang bằng, liên kết ngang với nhau, hoặc cũng có thể chúng có mối quan hệ phụ thuộc, có chức năng minh họa cho câu chủ đề khái quát ở đầu đoạn văn, đồng thời, những câu cụ thể này hướng đến câu chủ đề thứ hai nằm ở vị trí cuối đoạn văn có tính chất kết luận cho toàn bộ đoạn văn
Ví dụ:
Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều rất khó nói
Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào, cũng như không thể phân tích cái đẹp của ánh sáng của thiên nhiên Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy và thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng nước ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn
Trang 25lớn Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt nam rất đẹp,
bởi vì cuộc sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là
vĩ đại, nghĩa là rất đẹp
(Phạm Văn Đồng)
Khác với ba loại trên, đoạn văn có cấu trúc móc xích kết hợp với cấu trúc song song có thể có câu chủ đề hoặc cũng có thể không có câu chủ đề Nhưng loại đoạn văn có cấu trúc này có có lối kết cấu và triển khai đặc biệt ở chỗ: ý của câu sau
kế tiếp ý của câu trước được lặp lại được thay thế bằng từ ngữ tương đương ở phần đầu của câu kế theo sau Các câu trong đoạn văn vừa móc xích, vừa thể hiện mối quan hệ phụ thuộc vừa kết hợp song song với nhau
Ví dụ:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước và thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
(Hồ Chí Minh)
Khác với bốn loại trên, đoạn văn có cấu trúc song hành hoàn toàn không chứa các câu chủ đề khái quát Tất cả các câu trong đoạn văn đều là các câu cụ thể, đều
có vai trò song song, ngang bằng, cùng liên kết ngang với nhau, hoặc cũng có thể chúng có mối quan hệ phụ thuộc, cùng triển khai chung một hướng với tiểu chủ đề mang ý nghĩa hàm ẩn hay ngầm ẩn của đoạn văn
Ví dụ:
Do lao động, tri thức tăng thêm
Do lao động, sức khỏe tăng thêm
(Hồ Chí Minh) 1.1.4.2 Câu chủ đề của đoạn văn
Như đã nói, đối với đoạn văn, câu chủ đề là một yếu tố quan trọng
Để nhận diện câu chủ đề của đoạn văn người viết cần phải chú ý đến:
Trang 26Thứ nhất là, vị trí câu chủ đề
Nếu đoạn văn diễn dịch thì câu chủ đề thường đứng ở vị trí đầu đoạn văn
Ví dụ:
Nghệ thuật trong Nhật kí trong tù rất phong phú Có bài là lời phát biểu
trực tiếp, đọc hiểu ngay Có bài lại dùng lối ngụ ngôn rất thâm thúy Có bài tự sự
Có bài trữ tình hay vừa tự sự vừa trữ tình Lại có bài châm biếm Nghệ thuật châm biếm cũng nhiều vẻ Khi là tiếng cười mỉa mai Khi là tiếng cười phẫn nộ Cũng có khi đằng sau nụ cười là nước mắt
(SGK Văn học lớp 12 - Năm học 1980 - 1981) Nếu đoạn văn quy nạp thì câu chủ đề thường đứng ở vị trí cuối cùng của đoạn văn
Ví dụ:
Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của
(Hồ Chí Minh) Nếu đoạn văn theo mô hình tổng - phân- hợp thì câu chủ đề thường đứng ở vị trí đầu đoạn văn lẫn ở vị trí cuối đoạn văn
Ví dụ:
Trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đều có các dân tộc thiểu số anh
em tham gia Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước đã đem quân giúp Đinh Công Tráng trong cuộc khỏi nghĩa Ba Đình Trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh, Tống Duy Tân cũng được Cầm Bá Thước giúp sức Hoàng Hoa Thám chống Pháp được gần ba mươi năm ở Yên Thế, cũng là do Hoàng đã biết dựa vào đồng bào miền núi Rồi đến Cách mạng tháng Tám, trước ngày Tổng khởi nghĩa và trong thời kháng chiến chống Pháp căn cứ địa của Cách mạng cũng ở Việt Bắc, ở giữa đồng bào thiểu số
Các dân tộc thiểu số anh em đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp
Trang 27(Vũ Ngọc Phan) Nếu đoạn văn song hành thì không có câu chủ đề
Ví dụ:
Mưa đã ngớt Trời rạng dần Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó, bay
ra hót râm ran Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh
(Tô Hoài)
Thứ hai là, ý nghĩa khái quát của câu chủ đề
Câu chủ đề luôn mang nội dung khái quát của đoạn văn Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh nhận diện bằng cách cho các em quan sát tất cả các câu trong đoạn văn từ câu đầu đến câu cuối cùng, nếu các em thấy câu văn nào mang ý nghĩa khái quát nhất của đoạn văn thì đó là câu chủ đề của đoạn văn
Câu chủ đề có nhiệm vụ quan trọng trong đoạn văn, cần lưu ý các nhiệm vụ sau:
Một là, câu mở đầu có nhiệm vụ mở ra nội dung khái quát của đoạn văn
viết phải biết đưa ý chính của đoạn văn trước ra đoạn văn sau - đoạn văn hiện tại mà người viết đang viết - bằng một câu nối thực hiện chức năng mở ra nội dung khái quát của đoạn văn Đó là các kiểu quan hệ sau: quan hệ liệt kê; quan hệ tương phản; quan hệ chứng minh; quan hệ bình luận; quan hệ nhân quả; quan hệ câu hỏi - trả lời…
Tuy nhiên, tất cả các câu triển khai phải đều hướng đến một chủ đề thống nhất và nhằm làm rõ cho chủ đề đã được nêu ở câu chủ đề của đoạn văn
Đối với đoạn văn diễn dịch thì ý của câu kết thúc đoạn văn vẫn tiếp tục ý của các câu cụ thể đang triển khai đoạn văn
Đối với đoạn văn quy nạp hay đoạn văn tổng - phân- hợp thì đoạn văn có câu kết thúc phải là câu chủ đề khái quát có chức năng kết luận các các ý đã được triển khai ở trên ( giải thích hoặc chứng minh)
Đối với đoạn văn song hành thì không cần viết câu kết thúc đoạn văn
Trang 281.1.4.3 Tách đoạn văn
Mỗi văn bản thường chứa nhiều đề tài nhỏ hoặc nhiều tiểu chủ đề Vì vậy, nếu như không tách riêng từng đề tài nhỏ hoặc tiểu chủ đề này, người đọc sẽ rất khó theo dõi hoặc dễ bị nhầm lẫn các nội dung trình bày Vì vậy, sau mỗi đề tài nhỏ hoặc tiểu chủ đề, ta có thể tách thành một đoạn văn
Việc tách đoạn văn này không phải chỉ tùy thuộc vào dụng ý cá nhân của người viết mà còn tùy thuộc vào bản thân đối tượng đang được trình bày trong văn bản và mối quan hệ giữa đoạn văn này với đoạn khác của văn bản ấy
Ví dụ:
Văn học dân gian không chỉ phản ánh những hiện tượng thực tế Nó còn
diễn tả những suy ngẫm, những tình cảm của nhân dân về những hiện tượng ấy hoặc do những hiện tượng ấy gợi lên Đáng chú ý là những cảm nghĩ, những tâm tư của người dân thường về thân phận và cuộc đời họ và về những vấn đề xã hội Ví dụ: những hiện tượng áp bức, bất công; những nỗi khổ của nhân dân lao động…Đặc biệt, văn học dân gian thường có những ý kiến riêng đối với những sự kiện và nhân vật lịch sử Ví dụ: Văn học dân gian thường bày tỏ (dưới hình thức nghệ thuật) cách đánh giá riêng của nhân dân về công trạng các anh hùng dân tộc, tài đức, các danh nhân văn hóa, sự tích các anh hùng nông dân…Về mặt này, các thể loại văn học dân gian nói chung, nhất là sử thi, truyền thuyết, vè lịch sử…có tác dụng quan trọng trong việc bổ sung, đính chính và sàng lọc những kiến thức của
Văn học dân gian có ý nghĩa và tác dụng giáo dục phong phú Những kinh
nghiệm và hiểu biết thực tế của nhân dân được tích lũy qua bao thế kỉ trong văn học dân gian có giá trị vừa thiết thực vừa sâu xa, bền vững đến mức những sáng tác nghệ thuật này được khoa học định nghĩa là trí khôn dân gian Quả thật, tác phẩm văn học dân gian thuộc bất cứ thể loại nào bao giờ cũng có thể gợi cho người ta, ở mọi cảnh ngộ, một bài học có ích về lối ứng xử, về nếp sống, về đạo lý làm người…theo quan niệm của nhân dân, ý nghĩa giáo dục dồi dào về nhiều mặt của
Trang 29các thể loại vốn được làm ra với dụng ý răn day như tục ngữ, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười…thì ai cũng biết rõ Nhưng ngay những bài ca kèm theo trò chơi dành cho trẻ em cũng có tác dụng giáo dục nhẹ nhàng mà bổ ích khi nó làm cho trẻ em cảm thấy vui vẻ và hòa hợp với nhau, lại thêm nhanh nhẹn, khéo léo
Hai đoạn văn trên trình bày hai khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề Vấn đề thứ nhất: Văn học dân gian có ý nghĩa và tác dụng giáo dục phong phú Chính vì sự khác biệt nhau như vậy về đề tài và chủ đề nên phần văn bản trên đã được người viết tách ra thành hai đoạn là hợp lý
Một văn bản có thể được trình bày theo sự thay đổi của không gian và thời gian Nếu như thấy cần tập trung sự chú ý của bạn đọc vào những sự kiện, hiện tượng diễn ra trong thời gian và không gian đó, hoặc thậm chí muốn tập trung hướng sự quan tâm của bạn đọc vào chính ngay sự biến đổi của thời gian và không gian ấy, có thể tách từng khoảng thời gian và không gian đó thành một đoạn riêng biệt
Ví dụ:
Buổi sáng, sương muối phủ trắng cành cây, bãi cỏ Gió bắc hun hút thổi,
đem lại cái lạnh tê tái Núi đồi, thung lũng, làng bản chìm trong biển mây mù Mây
bò trên mặt đất, tràn vào trong nhà, quấn lấy người đi đường
Gần trưa, mây mù tan Bầu trời sáng ra và cao hơn Phong cảnh hiện ra rõ
rệt Trước bản, rặng đào đã trút hết lá Trên những cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non và lơ thơ những cánh hoa đỏ thắm đầu mùa Những cây thông già như bất chấp tất cả thời tiết khắc nghiệt Trời càng rét, thông càng xanh Lá thông
vi vu một điệu đàn bất tuyệt…
(Tiếng Việt 3 - NXB Giáo dục) Phần văn bản trên được tác giả tách thành hai đoạn văn riêng biệt vì mỗi đoạn trình bày những sự việc, hiện tượng xảy ra ở những thời điểm khác nhau Sự tách đoạn như vậy là hợp lý
Trang 30Hoặc như phần văn bản dưới đây lại được tách ra theo sự thay đổi của không gian:
Tại B-ra-xin, nguồn cung cấp cafe ở nội địa này, nhất là cung cấp cà phê
cho ngành chế biến trở nên khan hiếm Hiệp hội các nhà chế biến cà phê tan của
nguồn cung nhưng chưa được chấp nhận Mặc dù cà phê vụ mới của B-ra-xin đang được bán ra thị trường nhưng chất lượng kém, hạt nhỏ, độ ẩm cao nên các nhà kinh doanh ngần ngại mua vào
Trong khi đó, tại Niu I-ooc, lượng cà phê đăng ký bán tính đến tuần 8/8 bị
giảm mạnh làm các nhà kinh doanh lo ngại cà phê giao kỳ hạn tháng 7/97 sẽ bị thiếu hụt Tất cả các yếu tố trên đã khuyến khích các hoạt động mua vào đẩy giá cà
Hai tuần qua, giá cà phê Ro-bus-ta tại Luân Đôn cũng tăng 6 – 100 tấn/ so
với giữa tháng 7/97 lên 1610-1680 USD/tấn
(Hoài Linh - Cà phê A-ra- bi-ca lại tăng giá mạnh - Thời báo kinh tế Việt
Nam)
Tách phần văn bản trên thành ba đoạn khác nhau vì mỗi đoạn văn ứng với một không gian trình bày khác nhau
Đây là cách tách đoạn thường sử dụng khi tác giả:
- Muốn nhấn mạnh vào những thông tin chứa đựng trong nội dung phần được tách riêng ra thành đoạn văn đó
- Muốn thể hiện phong cách riêng của mình trong việc trình bày
Cái riêng này là cái riêng mang tính chất tự do nhưng không thể vì thế mà tùy tiện Cái riêng chỉ được coi là hay khi nó một mặt phù hợp với nội dung cần thể hiện, phù hợp với phong cách tác giả, mặt khác phải được bạn đọc chấp nhận như một sáng tạo mới mẻ của tác giả
Dưới đây là một ví dụ về việc tách đoạn theo mục đích tu từ:
Một năm đã qua
Trang 31Thế rồi một hôm, Hoài Văn đang luyện tập với sáu trăm gã hào kiệt, thì có tin đồn thái tử nhà Nguyên là Trần Nam Vương Thoát Hoan thống lĩnh năm mươi vạn binh mã, đã phạm vào cửa ải Quan quân đã giao chiến với giặc
(Lá cờ thêu sáu chữ vàng- Nguyễn Huy Tưởng) 1.1.4.4 Liên kết và chuyển đoạn
Để cho các câu trong một đoạn văn, một văn bản tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức, không những các câu được liên kết với nhau mà bản thân các đoạn, các phần của văn bản cũng cần có sự liên kết và chuyển mạch với nhau Chính sự liên kết và chuyển đoạn như vậy góp phần cho đoạn văn liền mạch hơn và chặt chẽ hơn
Mỗi đoạn văn bao giờ cũng phải trình bày tương đối hoàn chỉnh một ý Các câu trong đoạn văn phải có quan hệ về ý nghĩa và phải liên kết chặt chẽ với nhau bằng các phương tiện liên kết Trong đó, phương tiện liên kết những từ, những tổ hợp từ dùng để liên kết câu Phép liên kết là cách sử dụng các phương tiện liên kết
để liên kết câu Có các phép liên kết sau: phép nối, phép lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép nghịch đối…
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín Tre hy sinh bảo
vệ con người Tre anh hùng lao động Tre anh hùng chiến đấu
(Thép Mới) + Lặp cú pháp:
Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường
(Hồ Chí Minh)
Trang 32- Phép tĩnh lược:
Ví dụ:
Tinh thần yêu nước cũng như các thứ quý, của quý Có khi được trình bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng, dễ thấy, nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương trong hòm.( tĩnh lược chủ ngữ)
Để liên kết và chuyển đoạn có thể dùng những phương tiện sau:
+ Dùng những từ ngữ chỉ trình tự, chỉ sự liệt kê để liên kết
Ví dụ:
Trang 33Thứ nhất, đó là chức năng thông tin Quảng cáo là một loại thông tin thị
trường nhằm mục đích đưa tin tức về hàng hóa Một nhà kinh tế đã nói: “ làm kinh doanh mà không quảng cáo khác nào nháy mắt với một bạn gái trong bóng tối, chỉ
có mình bạn biết bạn làm gì” Tuy nhiên, thông tin quảng cáo không thể thay thế được thông thị trường do tính cục bộ, chủ quan của quảng cáo Nếu mọi người tiêu dùng đều tin tưởng ở quảng cáo thì khác nào đổ thóc giống ra mà ăn
Chức năng thứ hai của quảng cáo là chức năng tạo sự chú ý Quá trình diễn
biến tâm lý của khách hàng thường trải qua các giai đoạn: chú ý, thích, quyết định mua Bằng ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc…quảng cáo sẽ tác động chính vào thời điểm khởi đầu của chuỗi tâm lý khách hàng, khai thông những bế tắc trong chuỗi”
(Nguyễn Hải Đạt - Nghệ thuật quảng cáo hiện đại)
“Rồi Hớn kể cho tôi nghe về sự ăn chơi ở Sài Gòn Sài Gòn có nhiều nhà
massage ta, massage Tây đủ cỡ…Chuyện người ta làm ăn không nói làm gì Nhưng khổ cho Hớn vì nhà hàng nào lạ, đắt tiền mới khai trương là mấy ông bạn hàng quốc doanh có quan hệ làm ăn với Hớn lại điện thoại đến gợi ý chiêu đãi Nhiều khi không phải chỉ chiêu đãi mình ông ta mà còn bao cả bạn bè họ hàng ông ấy Còn
vợ con họ thì phải phong bì đều đều mỗi tháng Thời buổi này cánh tư nhân muốn làm ăn với doanh nghiệp nhà nước đều phải “nôn đậm”, không thế thì bị “cắt cầu, rút ván”
(Dẫn theo Nguyễn Đức Dân)
+ Dùng từ ngữ chỉ sự tương phản, đối lập để liên kết
Ví dụ:
Trái với hai mảng đề tài trên, cung bậc tiếng cười của truyện tiếu lâm dành cho tầng lớp quan lại, cường hào lại mang màu sắc khác Phải chăng, người nông dân đã xác định được rõ ràng bọn quan lại là kẻ bóc lột, tàn bạo, gây nên bao nhiêu đau khổ, là nguyên nhân dẫn đến các bất công xã hội Vì vậy mà tiếng cười ở những truyện này là quyết liệt, trực diện, ít khoan nhượng…
(Lời giới thiệu - Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam)
Trang 34+ Dùng từ chỉ ý nghĩa tổng kết, tóm tắt, khái quát để liên kết
Ví dụ:
Bởi vậy cho nên khi chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó, xuất hiện giữa thi đàn Việt Nam, bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu Nó cứ luôn luôn đi theo những chữ anh, chữ bác, chữ ông đã thấy chướng Huống bây giờ nó đến một mình!
Nhìn chung, để liên kết và chuyển đoạn, có thể dùng những từ ngữ liên kết như khi liên kết với câu: từ ngữ lặp lại, từ ngữ thay thế, từ ngữ nối kết, từ ngữ liên tưởng Khi dùng để liên kết và chuyển đoạn, các từ ngữ thường đặt ở câu đầu tiên trong các đoạn đi sau
Câu thực hiện chức năng liên kết thường chiếm vị trí ở giữa hai đoạn cần liên kết, hoặc ở vị trí đầu của đoạn đi sau Câu này thường gồm hai phần: phần đầu tổng kết nội dung của đoạn đi trước, phần sau mở ra nội dung của đoạn đi sau Hoặc mỗi phần có được biểu hiện thành một câu riêng
Ví dụ:
Trở lên, tôi đã đứng về phía người đọc, người nghe mà nhìn nhận tác dụng
(Hoài Thanh)
Ở trên, tôi đã nói Xuân Diệu là một nhà thơ dồi dào, dưới đây tôi xin bàn
thêm: Xuân Diệu là một nhà thơ luôn luôn tìm tòi
(Tế Hanh)
Đó là sự cân xứng cú pháp, sự song hành cú pháp, sự giống nhau về kết cấu
cú pháp của những câu mở đầu các đoạn đi liền nhau trong một văn bản Nhờ đó, các đoạn này liên kết với nhau rõ rệt
Ví dụ:
Trang 35“Việt Nam! Cái tên yêu dấu ấy sẽ khắc sâu vào lòng mọi người chúng ta Cái tên ấy là tên chung cho bao thế hệ Kinh, Thổ, Thái, Mán, Mường, Êđê, Xêđăng…ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ
Việt Nam! Đó là sự biểu hiện của tính cần cù và lòng yêu nước sẽ làm cho Tổ quốc ta bất diệt, mạnh hơn lên, giàu có hơn nữa để cùng với nhân loại tiến lên xây dựng những ngày hòa bình hạnh phúc lâu dài”
(Văn Phong - Nhân dân Việt Nam cần cù và yêu nước)
“Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau
ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết
những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu”
(Hồ Chí Minh) 1.1.4.5 Rút gọn và mở rộng đoạn văn
Nén câu được thực hiện tùy thuộc vào kiểu cấu tạo đoạn văn
Đối với loại đoạn văn song song, không có câu chủ đề thì việc nén câu được
thực hiện là người viết có thể tóm tắt, khái quát ý nghĩa của các câu trong đoạn văn chỉ còn lại một vài câu
Đối với loại đoạn văn có câu chủ đề thì người viết cũng có hai cách nén câu
Có thể nén câu bằng cách lược bỏ các câu cụ thể dùng để triển khai các ý phụ
mà người viết chỉ để lại hay giữ lại các câu thể hiện ý chính của đoạn văn
Người viết có thể nén câu bằng cách lựa chọn không những từ câu chủ đề mà còn có thể lựa chọn từ các câu cụ thể Sau đó, muốn nén câu, người viết tiếp tục tiến
Trang 36hành các thao tác sau đây: đầu tiên là tìm ra ý cụ thể của từng câu trong đoạn văn; tiếp theo là tìm cách khái quát ý chung của cả đoạn văn; cuối cùng là người viết tự diễn đạt lại ý khái quát chung đó bằng một vài câu theo cách riêng của mình
Tóm gọn thành một câu (nén câu): Hồ Chủ Tịch qua đời nhưng đã để lại cho
chúng ta một di sản quí giá: độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội
những câu diễn đạt ý phụ mà chỉ có giữ lại những câu diễn đạt ý chính
Ví dụ:
(1) Kĩ thuật tranh làng Hồ đã đạt tới sự trang trí tinh tế (2) Những bộ tranh
tố nữ áo màu, quần hoa tranh nền đen lĩnh, một thứ màu đen rất Việt Nam (3) Màu đen không pha bằng thuốc mà luyện bằng bột than của những chất liệu gợi nhắc tha thiết đến đồng quê đất nước: than của rơm nếp, than của cói chiếu và than của lá tre mùa thu rụng lá (4) Có màu trắng điệp cũng là một sự sáng tạo góp vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội họa (5) Màu trắng ấy càng ngắm càng ưa nhìn (6) Những hạt cát của điệp trắng nhấp nhánh muôn ngàn hạt phấn làm tăng thêm
vẻ thâm thúy cho khuôn mặt, tăng thêm sức sống cho dáng người trong tranh
Trang 37- Mở rộng bậc 1: Thêm những câu B, C, D, …trực tiếp làm sáng rõ chủ đề (A)
- Mở rộng bậc 2: Thêm những câu B1, C1, D1, làm sáng rõ cho câu phụ B,
C, D,…
- Mở rộng bậc 3: Thêm những câu B2, C2, D2,…làm sáng rõ cho câu phụ B1, C1, D1…
Ví dụ:
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng
Viết mở rộng đoạn văn từ câu chủ đề cho sẵn trên như sau:
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Âm nhạc phản ánh cuộc sống
bằng đường nét, màu sắc, những mảng màu sáng tối Điêu khắc phản ánh cuộc sống
bằng hình khối, bằng những nét phác họa tài tình
b Mở rộng đoạn không có câu chủ đề
Các ý trong đoạn lần lượt được triển khai mở rộng theo chiều hướng phát triển ý trước nó
Ví dụ:
Ở lầu xanh, Kiều đã gặp Từ Hải Từ đã giúp Kiều “báo ân báo oán” Nhưng
Hiến Từ chết đứng còn Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn
Đoạn văn trong ví dụ trên không có câu chủ đề vì vậy việc mở rộng có thể tiến hành như sau:
Ở lầu xanh, Kiều đã gặp Từ Hải Từ đã giúp Kiều “báo ân báo oán” Nhưng
có ngờ đâu, chỉ vì nghe lời Kiều mà Từ mắc kế “chiêu an dụ hàng” của Hồ Tôn
Hiến Từ chết đứng còn Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn May mà có Giác
Duyên nên Kiều được cứu sống
Trang 381.2 Đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh và nghị luận
1.2.1 Đoạn văn trong văn tự sự
Trong văn tự sự có nhiều đoạn văn Mỗi đoạn văn thường có câu nêu ý khái quát gọi là câu chủ đề Các câu khác triển khai làm rõ ý khái quát qua sự diễn đạt những ý cụ thể
Mỗi văn bản tự sự gồm nhiều đoạn văn và mỗi đoạn văn có nhiệm vụ khác nhau chẳng hạn đoạn văn là phần mở bài thì có nhiệm vụ giới thiệu câu chuyện Các đoạn thân bài kể diễn biến sự việc, chi tiết Đoạn kết bài kết thúc câu chuyện, tạo ấn tượng khiến người đọc phải suy nghĩ hoặc có cảm xúc
1.2.1.1 Khái niệm
tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, tường thuật Trong SGK Ngữ văn 6, tập 1- tr.28, Nhà xuất bản Giáo dục (2002), nêu định nghĩa về văn tự sự như sau:
“Tự sự”(kể chuyện), trần thuật, tường thuật Tự sự giúp người kể giải thích
sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người nêu vấn đề
và bày tỏ thái độ khen, chê”
Theo quan niệm này thì kể chuyện về sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, tường thuật một hội nghị, một vụ hỏa hoạn,…đều thuộc phương thức tự sự Nói cách khác khái niệm tự sự bao gồm cả nội dung trần thuật, kể chuyện đã học trong chương trình Làm văn trước đây
Văn tự sự chia làm 2 dạng: kể chuyện đời thường và kể chuyện tưởng tượng + Kể chuyện đời thường (kể chuyện đời sống): là kể người thực, việc thực ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày Yêu cầu của dạng văn này phải tôn trọng sự thật
+ Kể chuyện tưởng tượng: khái niệm kể chuyện tưởng tượng chỉ mang tính ước lệ…Vì kể chuyện bao giờ cũng phải tưởng tượng để hình dung sự việc và kể
Trang 39cho người khác nghe Kể chuyện tưởng tượng là tưởng tượng cụ thể về số phận và cuộc sống của sự việc, về một kết thúc khác của một câu chuyện đã viết Kể lại chuyện cổ tích theo cách nhìn mới, cách hiểu mới, người kể phải hóa thân thành nhân vật, thậm chí phải thay đổi ngôi kể để kể chuyện hấp dẫn hợp lý
Mối quan hệ giữa tự sự với các phương thức khác:
Trong quá trình tạo lập văn bản (đoạn văn) tùy vào mục đích, nội dung và tính chất của văn bản (đoạn văn) mà người viết kết hợp các phương thức biểu đạt với nhau Điều đó cũng có nghĩa là không thể kết hợp các phương thức một cách tùy tiện Trong thực tế, tự sự có thể kết hợp với hầu hết các phương thức biểu đạt, song chủ yếu là các phương thức miêu tả, biểu cảm và lập luận
Ví dụ 1:
“Trong gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng, những bức tranh của thí sinh treo kín bốn bức tường Bố, mẹ tôi kéo tôi chen qua đám đông để xem bức tranh của Kiều Phương đã được đóng khung, lồng kính Trong tranh một chú bé đang ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầy trời trong xanh Mặt chú bé như tỏa sáng ra một thứ ánh sáng rất lạ Toát lên từ cặp mắt, tư thế ngồi của chú không chỉ sự suy tư mà còn rất mơ mộng nữa Mẹ hồi hộp thì thầm vào tai tôi:
Con có nhận ra con không?”
(Bức tranh của em gái tôi - Nguyễn Minh Châu)
Ví dụ 2:
Nhưng, ô kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phủ phàng kéo dài suốt cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch Đó là chiếc lá cuối cùng ở trên cây Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuộm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành, cách mặt đất lưng chừng 20 bộ
(Chiếc lá cuối cùng - O’Henri)
Trang 40Ví dụ 3:
Chao ôi! Đối với những người ở xung quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu
họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc bần tiện, xấu xa bỉ ổi…toàn là những thứ để
ta tàn nhẫn không bao giờ ta thương…Vợ tôi không ác nhưng thị khổ quá rồi Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một thứ
bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng buồn đau, ích kỉ che lấp mất Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận…
( Trăng sáng - Nam Cao) 1.2.1.2 Đặc điểm của đoạn văn tự sự
Có thể xác định một số đặc điểm chung của văn bản tự sự (VBTS) qua mấy nét cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tự sự hay VBTS dùng lời kể và miêu tả của người kể chuyện để
thông báo về thời gian, địa điểm, gọi ra đặc điểm của nhân vật, sự kiện, phân tích
tâm trạng, tình huống, nhằm làm hiện lên bức tranh đời sống
Thứ hai, VBTS có sự kiện, biến cố, cốt truyện trong khi các loại văn bản
khác không có hay không cần đến các yếu tố này
Thứ ba, VBTS, nhất là văn bản truyện, có khả năng thể hiện nhân vật trong
thế giới nghệ thuật của nó một cách linh hoạt, đa dạng, đầy đặn
Thứ tư, VBTS rất giàu các hình thức ngôn ngữ và thường kết hợp hài hòa,
linh hoạt các hình thức văn bản khác (miêu tả, biểu cảm, nghị luận…) Có thể nói, ngôn ngữ tự sự được tết dệt nên bởi vô vàn lời nói, cách nói, giọng nói khác nhau
Tự sự theo nghĩa rộng là phương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện
theo mối quan hệ nào đấy như: quan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng Cốt truyện của tác phẩm tự sự được thể hiện qua một chuỗi tình tiết, thông thường mỗi tình tiết được kể bằng một đoạn văn Bởi vậy, đoạn văn tự sự có thể giới thiệu nhân vật (lai lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng…) hoặc kể về các việc làm, hành động, lời nói, kết quả và sự thay đổi do các hành động ấy đem lại Ở đoạn có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với một đoạn hội thoại, tức là đoạn đối thoại ấy