Đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính chủ động, sự sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức; phát triển năng lực tự học, tự đào tạo của người học, sử dụng nhiều kênh thô
Trang 1Đào Xuân Tuấn
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CƠ BẢN
VÀ NÂNG CAO PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC
12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2Đào Xuân Tuấn
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CƠ BẢN
VÀ NÂNG CAO PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC
Trang 3Trong quá trình hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực cố gắng của bản thân tôi còn được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn
bè, các em học sinh và người thân của mình Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Tiến sĩ Nguyễn Phú Tuấn, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
PGS Tiến sĩ Trịnh Văn Biều, thầy đã cho tôi những lời khuyên, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành tốt luận văn
Các thầy cô đã giảng dạy trong quá trình học tập của tôi, để tôi có được nhiều kiến thức và tư liệu thực hiện luận văn này
Các thầy cô và cán bộ trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn và khóa học này
Thầy cô và học sinh các trường THPT Lai Uyên, Tân Bình, Phước Vĩnh, Bến Cát đã nhiệt tình tham gia giúp tôi hoàn thành phần thực nghiệm
Bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý, hỗ trợ chuyên môn cho tôi
Gia đình, người thân của tôi luôn bên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn và khóa học
Đào Xuân Tuấn
Trang 4Lời cảm ơn 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH 10
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Một số vấn đề về phương pháp dạy học 5
1.2.1 Phương pháp dạy học [26] 5
1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực 6
Trang 51.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực [26], [45]
11
1.2.6 Mô hình của phương pháp dạy học tích cực [8], [13], [30] 14
1.3 Bài tập hoá học 16
1.4 Sử dụng bài tập hoá học trong dạy học [40] 20
1.5 Thực trạng sử dụng bài tập hoá học hiện nay 21
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC 12 Ở TRƯỜNG THPT 28
2.1 Hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản phần kim loại hóa học 12 THPT [49] 28
2.2 Một số phương pháp giải bài toán hoá học 31
2.3 Những định hướng khi xây dựng và sử dụng HTBT cơ bản và nâng cao phần kim loại hoá học 12 THPT 46
2.4 Quy trình xây dựng HTBT cơ bản và nâng cao phần kim loại lớp 1248 2.5 Hệ thống bài tập cơ bản và nâng cao phần kim loại hóa học 12 THPT49 2.6 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh 112
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 122
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 122
3.2 Đối tượng thực nghiệm 122
3.3 Tiến trình thực nghiệm 123
Trang 61 Kết luận 138
2 Kiến nghị 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 0
PHỤ LỤC 1 1
HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG 5 1
PHỤ LỤC 2 8
HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG 6 8
PHỤ LỤC 3 11
HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG 7 11
PHỤ LỤC 4 13
SỞ GD & ĐT BÌNH DƯƠNG ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM PHẦN “ĐỒNG” 13
PHỤ LỤC 5 15
ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA PHẦN “ĐỒNG” 15
PHỤ LỤC 6 16
SỞ GD & ĐT BÌNH DƯƠNG ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM PHẦN “SẮT” 16
Trang 7ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA PHẦN “SẮT” 19
PHỤ LỤC 8 20
SỞ GD & ĐT BÌNH DƯƠNG ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM CHƯƠNG 7 20 PHỤ LỤC 9 25
ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA CHƯƠNG 7 25
PHỤ LỤC 10 26
Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh 26
Lớp Cao học LL & PPDH hóa học 26
PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN GIÁO VIÊN 26
Trang 8BTHH : Bài tập hoá học
Dd : dung dịch
ĐC : đối chứng ĐHSP : Đại học Sư phạm
G : giỏi
GV : giáo viên
K : khá
HS : học sinh HTBT : hệ thống bài tập Nxb : nhà xuất bản PPDH : phương pháp dạy học Sgk : Sách giáo khoa
SL : Số lượng
TB : trung bình
TN : thực nghiệm THPT : trung học phổ thông TNSP : thực nghiệm sư phạm
TP : Thành phố
TS : Tiến sĩ
YK : yếu kém
Trang 9B ảng 1.1 Số giáo viên tham gia điều tra 22
B ảng 1.2 Mục đích sử dụng hệ thống BTHH trong quá trình dạy học 22
B ảng 1.3 Nguồn BTHH sử dụng trong dạy học 23
B ảng 1.4 Thời điểm sử dụng BTHH trong dạy học 23
B ảng 1.5 Tác dụng của các dạng BTHH 24
B ảng 1.6 Tính khả thi khi sử dụng các dạng bài tập cơ bản và nâng cao 25
B ảng 3.1 Danh sách các lớp thực nghiệm 122
B ảng 3.2 Phân phối tần số bài kiểm tra 15 phút 126
B ảng 3.3 Tỉ lệ % học sinh đạt kết quả bài kiểm tra 15 phút 127
B ảng 3.4 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút 127
B ảng 3.5 Các tham số đặc trưng và các giá trị kiểm định giả thuyết thống kê128 B ảng 3.6 Phân phối tần số bài kiểm tra 30 phút 129
B ảng 3.7 Tỉ lệ % học sinh đạt kết quả bài kiểm tra 30 phút 130
B ảng 3.8 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 30 phút 130
B ảng 3.9 Các tham số đặc trưng và các giá trị kiểm định giả thuyết thống kê131 B ảng 3.10 Phân phối tần số bài kiểm tra 45 phút 132
B ảng 3.11 Tỉ lệ % học sinh đạt kết quả bài kiểm tra 45 phút 133
B ảng 3.12 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 45 phút 133
B ảng 3.13 Các tham số đặc trưng và các giá trị kiểm định giả thuyết thống kê134
Trang 10Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học 6
Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 15 phút 128
Hình 3.2 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra 15 phút 129
Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 30 phút 131
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra 30 phút 132
Hình 3.5 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 45 phút 134
Hình 3.6 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra 45 phút 135
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang được đặt ra rất cấp thiết Đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính chủ động, sự sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức; phát triển năng lực tự học, tự đào tạo của người học,
sử dụng nhiều kênh thông tin đến người học; coi trọng thực hành, thực nghiệm, hoạt động ngoại khoá, Thời gian gần đây giáo viên được khuyến khích áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm hoạt động hoá người học
Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, bên cạnh việc nắm vững
lý thuyết, học sinh cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức thông qua giải bài tập, làm thí nghiệm thực hành, thực nghiệm,…Việc giải bài tập hoá học giúp rèn luyện kỹ năng vận dụng, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học Thông qua giải bài tập hoá học học sinh còn được rèn luyện trí thông minh, tính tích cực sáng tạo, phát triển khả năng tư duy, kích thích hứng thú học tập Như vậy bài tập hoá học ở trường phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá học, đặc biệt là việc sử dụng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực, hoạt động hóa người học
Đã có nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề về xây dựng và sử dụng bài tập hoá học ở trường phổ thông với các mức độ khác nhau Tuy nhiên hệ thống bài tập hoá học cơ bản và nâng cao phần vô cơ lớp 12 và việc nghiên cứu sử dụng chúng theo hướng dạy học tích cực vẫn còn nhiều vấn đề Với mong muốn tìm hiểu
và sử dụng hiệu quả các bài tập hoá học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở
trường phổ thông, tôi đã lựa chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập cơ bản và
nâng cao phần kim loại hoá học 12 trung học phổ thông”
2 M ục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng và nghiên cứu sử dụng hệ thống bài tập cơ bản và nâng cao phần kim loại hóa học 12 trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học
Trang 123 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập cơ bản và nâng cao phần kim loại hoá học 12 trung học phổ thông
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến bài tập hóa học và việc đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa hoá học lớp
5 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng bài tập có mức độ tăng dần từ cơ bản đến nâng cao trong phạm vi:
- Phần kim loại hóa học 12 trường trung học phổ thông
- Thực nghiệm tại các trường Trung học phổ thông tỉnh Bình Dương
- Thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 3/2012
6 Gi ả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập cơ bản và nâng cao có nội dung phong phú, chứa đựng những bài toán nhận thức, những vấn đề thực tiễn cần giải quyết và
Trang 13sử dụng chúng theo hướng tích cực hóa người học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học nói chung và dạy học phần kim loại hoá học 12 nói riêng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp quan sát quá trình học tập và giảng dạy hoá học ở trường phổ thông
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đánh giá hiệu quả các biện pháp sử
dụng bài tập hoá học nhằm phát huy tính tích cực của người học
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý, phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập hoá học cơ bản và nâng cao phần kim loại hóa học 12 trung học phổ thông
- Phân loại, hệ thống bài tập theo nội dung kiến thức hoá học phần kim loại theo từng chương
- Đề xuất phương hướng sử dụng hệ thống bài tập này theo hướng dạy học tích cực góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học ở trường THPT
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ
TÀI
1.1 L ịch sử vấn đề nghiên cứu
Các đề tài nghiên cứu về bài tập hoá học nói chung và bài tập phần kim loại thuộc chương trình hoá học lớp 12 THPT nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Một số đề tài nghiên cứu liên quan như:
- Nguyễn thị Khánh (1998), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm
tra kiến thức hoá học 12 PTTH, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Phạm Thị Tuyết Mai (2003), Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận trong kiểm tra, đánh giá kiến thức hoá học của học sinh lớp 12 THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2008), Thiết kế website về các phương pháp giải
nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan Hoá học Vô cơ ở trường trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế e-book hoá học lớp 12 phần crom, sắt,
đồng nhằm hỗ trợ học sinh tự học, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Nguyễn Thị Ngọc Hải (2009), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chất
lượng cao dùng để dạy học hoá học 12 nâng cao trường THPT, luận văn thạc sĩ,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Nguyễn Ngọc Vân Linh (2009), Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
khách quan phần “Các nguyên tố kim loại” lớp 12 THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP
TP Hồ Chí Minh
- Trương Đăng Thái (2009), Thiết kế bài luyện tập môn hóa học lớp 12
THPT theo hướng dạy học tích cực, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Nguyễn Cửu Phúc (2010), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học
phần kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ
Chí Minh
Trang 15- Tống Đức Huy (2010), Xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập tự luận và
trắc nghiệm khách quan phần vô cơ lớp 11- chương trình nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của học sinh THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Các đề tài đã xây dựng được hệ thống bài tập phong phú về nội dung kiến thức phần kim loại để áp dụng trong quá trình dạy học Tuy nhiên các đề tài trên chưa có sự phân loại các bài tập theo các dạng bài từ cơ bản đến nâng cao và bám sát vào nội dung riêng cho phần kim loại lớp 12
1.2 M ột số vấn đề về phương pháp dạy học
1.2.1 Phương pháp dạy học [26]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học
Theo nhà lí luận dạy học Liên Xô cũ I.Lecne thì “Phương pháp dạy học là
một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định”
Các nhà giáo dục Việt Nam cho rằng “Phương pháp dạy học là cách thức,
con đường hoạt động của thầy và của trò dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan khoa học”
Như vậy phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động cộng tác giữa giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học
Phương pháp dạy học luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các thành tố khác của quá trình dạy học là mục tiêu và nội dung dạy học Các thành tố này có mối quan hệ tương tác hai chiều với nhau theo sơ đồ:
Trang 16Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.2.2.1 Tính tích cực trong học tập [3], [11]
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Tính tích cực được biểu hiện thông qua các hoạt động của con người Trong học tập tính tích cực được hình thành và phát triển nhằm đào tạo những con người năng động, được trang bị kiến thức vững vàng thích ứng với yêu cầu xã hội và góp phần phát triển cộng đồng Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Trong hoạt động nhận thức, tính tích cực biểu hiện ở sự nỗ lực của mỗi HS khám phá và làm chủ kiến thức, hình thành kĩ năng cho bản thân Tính tích cực làm cho quá trình học tập, tìm tòi, sáng tạo của HS được định hướng cao hơn, từ đó có thể làm chủ và chiếm lĩnh kiến thức nhanh hơn
Quá trình học tập tích cực là những hoạt động chủ động của chủ thể thể hiện
ở khát vọng hiểu biết, tập trung trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực học tập thúc đẩy người học từ vị trí là đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao khả năng nhận thức, nâng cao hiệu quả học tập
MỤC TIÊU
PHÁP
Trang 17Tính tích cực học tập thể hiện trước tiên là ở động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập tạo nên tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo
* Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên đặt ra, tham gia góp ý, bổ sung cho các bạn khác
- Hay nêu ý kiến cá nhân với vấn đề nêu ra và có lập luận để bảo vệ ý kiến
Tính tích cực học tập được sắp xếp theo những cấp độ từ thấp đến cao như:
- Bắt chước: gắng sức là theo các mẫu hành động của thầy, của bạn… Bắt chước thường được biểu hiện trong các tiết thực hành: học sinh bắt chước các kĩ năng biểu diễn thí nghiệm của giáo viên và khi đạt được ở mức độ cao hơn thì biến thành kỹ năng của mình
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề… được biểu hiện khi học sinh tự giải bài tập hoá học hay
tự tiến hành thí nghiệm theo hướng nghiên cứu…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
* Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập và hứng thú nhận thức
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết tới động
cơ học tập Nếu động cơ học tập đúng sẽ tạo ra hứng thú học tập Hứng thú là tiền
đề dẫn đến sự tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực và độc lập sáng tạo của học sinh trong học tập
Trang 18Tính tích cực sẽ sản sinh ra nếp tư duy độc lập Tư duy độc lập sẽ là mầm mống của sự sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực, độc lập sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và bồi dưỡng động cơ học tập
1.2.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực [45]
Phương pháp dạy học tích cực là khái niệm nói tới những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Vì vậy phương pháp dạy học tích cực thực chất là các phương pháp dạy học hướng tới việc giúp học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động
Phương pháp dạy học tích cực chú trọng đến hoạt động học và vai trò của người học trong quá trình dạy học theo các quan điểm, tiếp cận mới về hoạt động dạy học như: “Lấy người học là trung tâm”; “Hoạt động hoá người học”; …
1.2.2.3 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như:
- Phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập
để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết
- Phương pháp dạy học có chú trọng rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự học
- Phương pháp dạy học chú chú ý đến các hoạt động học tập cá thể, hợp tác trong tập thể nhóm, tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh
- Phương pháp dạy học có phối hợp sử dụng các phương tiện trực quan nhất như phương tiện kĩ thuật nghe nhìn, máy vi tính, phần mềm dạy học…
- Sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá đa dạng, khách quan, tạo điều kiện để học sinh được tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Trang 191.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12-1998)
Trong Luật giáo dục, điều 28 khoản 2 đã xác định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Như vậy có thể nói điểm cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập tích cực chủ động, dần xóa bỏ thói quen học tập thụ động, một chiều ở
cả GV và HS
Trong phương pháp dạy học truyền thống, người ta chú ý nhiều hơn đến người giáo viên và ít quan tâm tới học sinh Tính thụ động của học sinh được bộc lộ rất rõ ràng Học sinh chỉ phải nhớ những gì người ta đã cung cấp cho nó ở trạng thái hoàn thành Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học và nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các em thanh thiếu niên tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực, mà tính ham hiểu biết đúng đắn và sinh động chỉ có được trong đầu
óc sảng khoái, để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổi mới phương pháp giảng dạy
Đổi mới phương pháp dạy học không phải là tạo ra một phương pháp khác với cái cũ, để loại trừ cái cũ Sự phát triển hay một cuộc cách mạng trong khoa học giáo dục thực chất là tạo được một tiền đề để cho những nhân tố tích cực của cái cũ vẫn có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn Đồng thời tạo ra cái mới tiến bộ hơn, tốt hơn cái đã có
Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh, làm cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng mà hiệu quả hơn; trước hết đòi hỏi sự nỗ lực của giáo viên nhưng cần phải có môi trường thuận lợi, đó là sự động viên khích lệ, tạo điều kiện hỗ trợ
Trang 20về cơ sở vật chất, thiết bị, thời gian, sự phát hiện kịp thời, khuyến khích và rút kinh nghiệm, phổ biến những nhân tố mới của cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và đồng nghiệp
1.2.4 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây từ đầu thế
kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu giáo dục đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học hoá học nói riêng ở nước ta theo các xu hướng sau [30]:
- Hướng 1: Tăng cường tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ nói riêng và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn đổi mới
- Hướng 2: Tăng cường vận dụng trí thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn biến đổi
- Hướng 3: Chuyển dần trọng tâm của phương pháp dạy học từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hoá- cá thể hoá cao
độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân
- Hướng 4: Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng lẻ thành tổ hợp các phương pháp dạy học phức hợp
- Hướng 5: Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật hiện đại (phương tiện nghe nhìn, máy vi tính, ) tạo ra các tổ hợp phương pháp dạy học
Trang 21chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới thông qua tự học, tranh luận, học theo nhóm, hội thảo, Người thầy có vai trò là người tổ chức, trọng tài, cố vấn điều khiển quá trình dạy học
Các phương pháp dạy học hiện đại rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học học sinh chuẩn
bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình huống
để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò Người giáo viên khéo léo khơi gợi sự tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh thì con người đang chịu tác động của giáo dục sẽ trở thành chủ thể của giáo dục, họ sẽ chịu trách nhiệm về sự phát triển của bản thân, xã hội và lịch sử
1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực [26], [45]
Đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực được dựa trên cơ sở quan niệm về tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và dạy học hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm Phương pháp dạy học tích cực đặt
ra do yêu cầu đổi mới đồng bộ từ mục tiêu giáo dục, nội dung môn học, hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh Cùng với đó là đổi mới hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
* Đổi mới mục tiêu dạy học
Do yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cần phải thay đổi để đào tạo những con người thích ứng với xã hội, với bản thân người học
Mục tiêu môn hoá học ở trường phổ thông là ngoài việc truyền thụ kiến thức,
kĩ năng hoá học cơ bản cần chú ý nhiều đến việc hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu khoa học hoá học như: quan sát, mô tả, dự đoán, đề ra giả thiết khoa học, giải quyết vấn đề, tiến hành thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp giúp người học tự phát hiện được vấn đề và giải quyết một cách chủ động sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hoá học
* Đổi mới nội dung dạy học hoá học
Trang 22Chương trình sách giáo khoa mới đã được dạy chính thức ở các bậc học từ tiểu học đến THPT Chương trình môn hoá học ở THPT có những nhiệm vụ cụ thể như phát triển và hoàn chỉnh kiến thức hoá học phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực có nâng cao về hoá đại cương, vô cơ, hữu cơ Nội dung chương trình môn học
có những điểm mới như:
- Phân tích hoá học: bao gồm những phương pháp phân biệt và nhận biết các chất vô cơ, hữu cơ cơ bản và thông dụng
- Hoá học và vấn đề kinh tế, xã hội – môi trường
- Nội dung chương trình đã đảm bảo tính phân hoá và phù hợp mục tiêu đào tạo của ban nâng cao và ban cơ bản, nhu cầu của học sinh
- Thời gian học được tăng cường: lớp 8 - 2 tiết/tuần; lớp 9 - 2 tiết/tuần; lớp
10, lớp 11, lớp 12 - 2,5 tiết/tuần (đối với ban nâng cao)
- Coi trọng thực hành và thí nghiệm hoá học:
Số tiết thực hành được tăng từ lớp 10 đến lớp 12: 6 tiết ở lớp 10, 7 tiết ở lớp
11 và 8 tiết ở lớp 12
* Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy học hoá học không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức, thông báo thông tin mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập của học sinh để đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài học
Như vậy hoạt động cụ thể của giáo viên sẽ là:
- Thiết kế giáo án (kế hoạch giờ dạy)
- Tổ chức các hoạt động của học sinh trên lớp như các hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm
- Làm chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện tượng, bản chất của quá trình hoá học mà học sinh đã tự tìm tòi trong hoạt động học tập của mình và thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến bài học mà học sinh không thể tự tìm tòi được qua hoạt động trên lớp
- Thiết kế và tổ chức thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí nghiệm hoá học
Trang 23- Thiết kế và tổ chức việc kiểm tra, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trong quá trình tổ chức, điều khiển luôn tạo điều kiện để học sinh được bộc
lộ và vận dụng nhiều hơn những kiến thức đã có của mình để giải quyết các vấn đề học tập và các vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống sản xuất
* Đổi mới hoạt động học tập của học sinh
Quá trình học tập hoá học là quá trình tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề hay là quá trình tập nghiên cứu khoa học dưới sự điều khiển của giáo viên Học sinh được tiến hành các hoạt động như:
- Tự phát hiện vấn đề hoặc hiểu được vấn đề, nhiệm vụ do giáo viên nêu ra
- Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ đặt ra mà học sinh tham gia các hoạt động như: dự đoán lý thuyết, làm thí nghiệm, quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích rút ra kết luận hoặc phán đoán, suy luận, đề ra giả thuyết, trả lời câu hỏi, tìm dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết đề ra
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải thích hiện tượng hoá học xảy ra trong đời sống, sản xuất và giải các dạng bài tập hoá học
- Học sinh tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức của bản thân, của bạn, của nhóm
Như vậy sự đổi mới phương pháp dạy học hoá học là cần phải làm cho học sinh được hoạt động nhiều hơn, tư duy một cách tích cực chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng Học sinh phải luôn có ý thức và biết cách vận dụng kiến thức hoá học vào thực tế đời sống
* Đổi mới hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học cần phải thay đổi cho phù hợp với các phương pháp dạy học được sử dụng trong bài học Hình thức tổ chức lớp học phải đa dạng phong phú cho phù hợp với việc tìm tòi của cá nhân, hoạt động nhóm và cả lớp
Người giáo viên cần lựa chọn các hình thức tổ chức lớp học phù hợp tạo ra môi trường học tập đảm bảo được mối liên hệ tương tác giữa hoạt động của giáo
Trang 24viên, hoạt động của học sinh và nhằm đảm bảo cho học sinh tiến hành các hoạt động học tập có hiệu quả
Với yêu cầu đổi mới quá trình dạy học hoá học, việc sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng dạy và học hoá học Trong dạy học hoá học có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng dạy học tích cực như: sử dụng thí nghiệm, sử dụng phương tiện dạy học, sử dụng bài tập hoá học …
1.2.6 Mô hình c ủa phương pháp dạy học tích cực [8], [13], [30]
Theo các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục hiện nay có hai quan điểm chính làm cơ sở cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực là:
1.2.6.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Quan điểm này đã chú trọng các vấn đề:
- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống, xã hội Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của học sinh
- Về nội dung: Coi trọng rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề học tập và trong thực tiễn cuộc sống
- Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của học sinh thông qua các hoạt động học tập Giáo viên là người tổ chức, điều khiển, động viên, khuyến khích, học sinh tích cực chủ động tham gia các hoạt động học tập
- Về hình thức tổ chức: Lớp học được bố trí linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập, đặc điểm của từng tiết học
- Về kiểm tra đánh giá: Học sinh được tham gia vào quá trình nhận xét đánh
giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo Hình thức kiểm tra đánh giá là sự kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Trang 25- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống
Như vậy bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học Người học được phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của mình trong quá trình lĩnh hội kiến thức Người giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức các tiềm năng của mỗi học sinh giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống
1.2.6.2 Dạy học theo hướng hoạt động hoá người học
Theo định hướng hoạt động hoá người dạy học các nhà nghiên cứu đã đề xuất:
- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động đặc biệt là hoạt động tư duy
- Các phương pháp dạy học hoá học phải thể hiện phương pháp nhận thức khoa học hoá học như: thực nghiệm hoá học, phân tích lí thuyết, dự đoán lí thuyết,
mô hình hoá… và tận dụng khai thác nét đặc thù của môn hoá học để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú của học sinh trong giờ học
- Chú trọng dạy học sinh phương pháp tự học, phương pháp tự nghiên cứu trong quá trình học tập Để học sinh học tập tích cực, tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân mình
Như vậy phải đặt học sinh vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá, chiếm lĩnh tri thức mới và coi việc xây dựng phong cách “ học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học
Các biện pháp cần cần sử dụng để hoạt động hoá người học trong dạy học hoá học như:
- Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú của học sinh trong giờ học như:
Trang 26+ Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học
+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của học sinh như: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm… giúp học sinh được hoạt động tích cực chủ động
- Tăng thời gian hoạt động của học sinh trong giờ học Hoạt động của giáo viên chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và tư duy hay hoạt động nhóm Giáo viên cần động viên học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động
- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của học sinh thông qua việc lựa chọn nội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận, vận dụng kiến thức một cách sáng tạo
Như vậy tư tưởng chủ đạo của định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học là học sinh được phát huy tính tích cực nhận thức học tập đến mức tối đa thông qua các hoạt động chủ động, độc lập, sáng tạo trong giờ học
1.3 Bài t ập hoá học
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Khái niệm bài tập hoá học [27], [37]
Theo Từ điển tiếng Việt: Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: Bài toán hóa học để chỉ những bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý thuyết và thực nghiệm)
Các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ) cho rằng: Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
Trang 27Như vậy bài tập hoá học là khái niệm chung bao gồm cả câu hỏi lí thuyết (bài tập định tính) và bài tập tính toán (bài tập định lượng) Bài tập hoá học cung cấp cho học sinh kiến thức, kĩ năng, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện Bài tập hoá học là phương tiện dạy học hiệu quả đồng thời bài tập hoá học cũng được xem như là một phương pháp dạy học cơ bản
1.3.1.2 Bài tập hóa học cơ bản
Bài tập hóa học cơ bản là bài tập hóa học mà khi giải học sinh chỉ cần sử dụng một vài đơn vị kiến thức hoặc một kĩ năng vừa mới hình thành
Như vậy khi nói đến bài tập cơ bản người ta chỉ chú ý đến yếu tố mới, đơn giản (kiến thức mới, kĩ năng mới cần vận dụng mà trước khi biết kiến thức và kĩ năng đó, học sinh không thể nghĩ ra được)
Một khía cạnh khác là: Bài tập hóa học cơ bản cung cấp kiến thức, kĩ năng
cơ bản để giải các bài tập hóa học khác, phức tạp hơn Thiếu các kiến thức và kĩ năng này học sinh không thể tiếp thu kiến thức và hình thành kĩ năng mới
1.3.1.3 Bài tập hóa học nâng cao
Bài tập hoá học nâng cao là bài tập có yêu cầu kiến thức và kĩ năng ở mức độ nâng cao Để giải bài tập nâng cao đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến
thức hoá học, các kĩ năng hoá học, kĩ năng toán học, và phải có khả năng tư duy hóa học, suy luận logic
1.3.1.4 Bài tập tổng hợp
Bài tập tổng hợp là loại bài tập trong đó bao gồm nhiều dạng bài tập cơ bản khác nhau Để giải bài tập tổng hợp người ta phải sử dụng kiến thức của nhiều dạng bài tập cơ bản để tìm ra kết quả
Việc xác định bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp là có ý nghĩa quan trọng vì
nó giúp cho học sinh xác định được phương pháp và hình thành kĩ năng giải bài tập hóa học
1.3.2 Phân loại bài tập hoá học [5], [37]
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học trên những cơ sở khác nhau:
* Phân loại dựa vào nội dung toán học của bài tập
Trang 28- Bài tập định tính
- Bài tập định lượng
* Phân loại dựa vào hoạt động của học sinh khi giải bài tập
- Bài tập lý thuyết (không tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
* Phân loại dựa vào nội dung hóa học của bài tập
- Bài tập hóa đại cương:
+ Bài tập về chất khí
+ Bài tập về dung dịch
+ Bài tập điện phân
- Bài tập hóa vô cơ:
+ Bài tập về các kim loại
+ Bài tập về các phi kim
+ Bài tập về các hợp chất oxit, axit, bazơ, muối
- Bài tập hóa hữu cơ:
+ Bài tập về hiđrocacbon
+ Bài tập về ancol - phenol – amin
+ Bài tập về anđehit - axit cacboxylic - este
* Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập
- Bài tập cân bằng phương trình phản ứng
- Bài tập viết chuỗi phản ứng
- Bài tập điều chế
- Bài tập nhận biết
- Bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp
- Bài tập xác định thành phần hỗn hợp
- Bài tập lập công thức phân tử
- Bài tập tìm nguyên tố chưa biết…
* Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập
- Bài tập cơ bản
Trang 29- Bài tập nâng cao
- Bài tập tổng hợp
*Dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra
- Bài tập trắc nghiệm
- Bài tập tự luận
* Dựa vào phương pháp giải bài tập
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình…
* Dựa vào mục đích sử dụng
- Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng củng cố kiến thức
- Bài tập dùng ôn luyện, tổng kết
- Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu
* Dựa vào phương pháp hình thành kĩ năng giải bài tập
- Bài tập mẫu
- Bài tập tương tự xuôi, ngược
- Bài tập có biến đổi
- Bài tập tổng hợp
1.3.3 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học [37], [42]
Bài tập hoá học đã được coi là phương pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng hoá học, giữ vai trò quan trọng trong các tiến trình bài học, ở các loại bài dạy hoá học khác nhau
Bài tập hoá học có tác dụng:
- Đối với học sinh, nó là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và không có
gì thay thế được giúp học sinh nắm vững kiến thức hoá học, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn, từ đó làm giảm nhẹ sự
Trang 30nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và gây hứng thú say mê học tập cho học sinh
- Đối với giáo viên, bài tập hoá học là phương tiện, là nguồn kiến thức để hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học Cụ thể là:
+ Bài tập hoá học được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi, phát triển kiến thức, kĩ năng
+ Bài tập hoá học dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống
để học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra + Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn
Như vậy bài tập hoá học được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp học sinh tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học một cách sáng tạo từ đó giúp học sinh có năng lực phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề học tập hoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học
1.4 S ử dụng bài tập hoá học trong dạy học [40]
Trong dạy học, Bài tập hoá học được sử dụng theo một số phương hướng sau:
● Bài tập hoá học như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi, hình thành khái niệm hoá học
Sự hình thành các khái niệm hoá học phải dựa trên các kiến thức thực tiễn đơn giản và vốn kiến thức hoá học mà học sinh có được từ trước hoặc từ các môn học khác thông qua con đường quy nạp từ các hình mẫu - kiến thức, hay từ sự phân tích tính chất, hoặc so sánh đối chiếu rồi tổng hợp Vì vậy khi hình thành khái niệm hoá học ta có thể xây dựng hệ thống các bài tập, câu hỏi về nội dung của khái niệm
có liên quan chặt chẽ với nhau để học sinh tìm hiểu một cách đầy đủ khái niệm đó
● Sử dụng bài tập hoá học để hình thành, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh
Trang 31Người giáo viên cần tăng cường vận dụng phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh vận dụng kiến thức hoá học giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học Thông qua việc giải bài tập thực tiễn sẽ tạo cho học sinh hứng thú, say mê trong học tập hoá học Các bài tập có liên quan đến kiến thức thực tế còn có thể dùng để tạo tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học
● Sử dụng bài tập hoá học trong giờ thực hành để tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh
Trong mục tiêu môn học có nhấn mạnh đến việc tăng cường rèn luyện kĩ năng hoá học cho học sinh, trong đó chú trọng đến kĩ năng thí nghiệm hoá học Bài tập thực nghiệm là một phương tiện có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học, độc lập cho học sinh Giáo viên có thể
sử dụng bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu, hình thành kiến thức mới, khi luyện tập, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, trong giờ thực hành…
Như vậy việc sử dụng bài tập hoá học sẽ đạt được hiệu quả cao tuỳ thuộc vào
sự lựa chọn, xây dựng các dạng bài tập phù hợp với mục tiêu, nội dung, cách thức
tổ chức học tập Để tích cực hoá hoạt động của học sinh thông qua các bài tập hoá học thì giáo viên cần đưa ra các bài tập như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, hướng dẫn học sinh tìm tòi theo những quy trình nhất định để giải quyết nhiệm vụ đặt ra và tạo điều kiện để học sinh được thể hiện cách giải quyết của mình, đồng thời có sự nhận xét, đánh giá, thảo luận của các bạn trong lớp học Khi kĩ năng của học sinh đạt ở mức độ cao hơn, học sinh sẽ đề xuất được các cách giải linh hoạt, sáng tạo hơn
Giáo viên cần động viên, hướng dẫn học sinh giải bài tập bằng các cách giải khác nhau, thảo luận, nhận xét, đánh giá từng cách giải Bằng cách xây dựng hệ thống bài tập phong phú, sử dụng linh hoạt các dạng bài tập cho phù hợp với nội dung bài dạy, đối tượng học sinh sẽ góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực
1.5 Th ực trạng sử dụng bài tập hoá học hiện nay
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra
Trang 32Để nắm rõ thực trạng việc sử dụng bài tập hoá học ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như ý kiến của giáo viên về việc sử dụng bài tập trong dạy học, tác giả đã tiến hành điều tra và trưng cầu ý kiến của một số giáo viên bằng các phương pháp sau:
- Điều tra trên 54 giáo viên dạy hoá học ở các trường THPT tỉnh Bình Dương
để nắm rõ hơn về mục đích, nội dung, biện pháp, hình thức và hiệu quả sử dụng bài tập hoá học
Bảng 1.1 Số giáo viên tham gia điều tra Trường THPT Số GV điều tra
- Trò chuyện, đàm thoại với một số giáo viên và học sinh về việc xây dựng
và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng dạy học tích cực
1.5.2 Kết quả điều tra
Sau khi tiến hành điều tra chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
1.5.2.1 Về mục đích sử dụng bài tập hoá học trong dạy học hoá học
Trang 33Bảng 1.2 Mục đích sử dụng hệ thống BTHH trong quá trình dạy học
tạo, năng lực tư duy 43 79,6 11 20,4 0 0 Kiểm tra, đánh giá 46 85,2 8 14,8 0 0
Nhận xét: Đa số GV sử dụng bài tập để củng cố, ôn tập hệ thống hoá kiến
thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cũng như trong kiểm tra đánh giá Trong khi có rất ít
GV sử dụng bài tập hoá học để nghiên cứu tài liệu mới và trong các giờ thực hành
1.5.2.2 Về nguồn bài tập đã sử dụng và thời điểm sử dụng bài tập cơ bản và nâng cao trong dạy học hoá học
Bảng 1.3 Nguồn BTHH sử dụng trong dạy học (mức độ tăng dần từ 1 đến 5)
Nguồn sử dụng
Mức độ sử dụng
SL % SL % SL % SL % SL % Sách giáo khoa 5 9,3 3 5,5 6 11,1 8 14,8 32 59,3 Sách bài tập 0 0 2 3,7 25 46,3 4 7,4 24 44,4 Sách tham khảo 1 1,8 6 11,1 10 18,5 12 22,2 15 27,8 Sách tham khảo (có
chỉnh sửa) 3 5,5 5 9,3 11 20,4 12 22,1 9 16,7 Bài tập tự xây dựng 4 14,8 3 5,5 15 28,7 13 24 1 1,8
Trang 34Bảng 1.4 Thời điểm sử dụng BTHH trong dạy học
Khi hệ thống hoá kiến thức 31 57,4 33 61,1
Sử dụng trong giờ luyện tập 17 31,5 47 87
Sử dụng trong giờ thực hành 30 55,5 7 13
Sử dụng trong giờ ôn tập học kỳ 31 57,4 38 70,4
Nhận xét: Qua bảng thống kê cho thấy nguồn bài tập GV sử dụng trong dạy học
chủ yếu từ sách giáo khoa, sách bài tập với mức độ cao còn bài tập trong sách tham khảo cũng khá nhiều nhưng bài tập sách tham khảo đã qua chỉnh sửa thì ở ít hơn Số lượng GV sử dụng bài tập tự xây dựng còn ít, qua tìm hiểu chúng tôi được biết là việc xây dựng hệ thông bài tập riêng mất rất nhiều thời gian, không đúng trọng tâm bài và thời gian trên lớp không cho phép họ sử dụng nhiều
Về thời điểm sử dụng bài tập trong tiến trình dạy học thì đa số GV chỉ sử dụng bài tập cơ bản vào đầu giờ học (kiểm tra bài cũ, nêu vấn đề, ), còn trong các thời điểm khác có thể sử dụng cả bài tập cơ bản và nâng cao
1.5.2.3 Về tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS của các dạng bài tập hoá học
Bài tập vận dụng tính chất, 9 16,7 28 51,9 11 20,4 0 0
Trang 35phương trình phản ứng
Chuỗi phản ứng, sơ đồ phản ứng 13 20,1 29 53,7 9 16,7 0 0 Điều chế các chất 3 5,6 21 38,9 24 44,4 0 0 Lập công thức phân tử, xác định
Nhận biết, phân biệt 13 24,1 21 38,9 18 33,3 2 3,7 Bài tập tính thành phần hỗn hợp 5 9,3 37 68,5 7 13 0 0 Bài tập tính nồng độ dung dịch 3 6,7 21 46,7 12 26,7 3 6,7 Bài tập tách chất 2 3,7 14 25,9 17 31,5 18 33,3 Giải thích hiện tượng 16 29,6 25 46,3 7 13 3 5,6 Vận dụng các phương pháp bảo
Dạng bài tập khác 0 0 11 20,4 7 13 8 14,8
Nhận xét: GV sử dụng nhiều các dạng bài tập vận dụng tính chất, phương
trình chuỗi phản ứng, bài tập xác định công thức phân tử, nguyên tố, nhận biết, tính thành phần hỗn hợp, nồng độ dung dịch, giải thích hiện tượng, vận dụng các phương pháp bảo toàn Trong khi các dạng bài tập về cấu tạo, tính chất vật lý, điều
giải để phát huy tính sáng tạo, khả
Trang 36Cho các dạng bài tập tương tự để HS
Sử dụng phối hợp các dạng bài cơ
bản và tổng hợp 11 20,4 25 46,3 8 31,5 2 3,7 Hướng dẫn phương pháp giải bài tập
và giải bài mẫu cho từng dạng bài tập 10 18,5 21 39,3 7 13 4 7,4
2 7,4 7 13
Nhận xét: GV sử dụng bài tập từ cơ bản đến nâng cao thì hiệu quả rất tốt nó
phù hợp với nhiều đối tượng HS Các bài tập đã được GV hướng dẫn mẫu trên lớp thì đa số HS có thể tự làm được các bài tương tự Sử dụng các bài tập có nhiều cách giải hay bài tập tổng hợp kiến thức cũng làm tăng cường tính tích cực, chủ động của
HS nhưng cũng còn hạn chế với một số HS yếu
Qua trao đổi với một số GV bộ môn Hoá học và lấy ý kiến của học sinh, Chúng tôi thấy đa số ý kiến cho rằng thời gian học tập trên lớp không đủ để truyền tải hết nội dung kiến thức bài học Giáo viên chủ yếu sử dụng các bài tập cơ bản trong truyền thụ kiến thức mới cũng như trong giờ luyện tập, việc sử dụng bài tập nâng cao còn rất hạn chế tuỳ theo trình độ tiếp thu của từng đối tượng học sinh Các
ý kiến trao đổi cũng cho rằng người giáo viên nên sử dụng các bài tập hoá học từ cơ bản đến nâng cao và phân thành từng dạng theo từng phần nội dung kiến thức (98,2%) Hệ thống bài tập này phải đảm bảo bao quát được nội dung chương trình môn học và có hướng dẫn phương pháp giải cụ thể để học sinh có thể chủ động, tích cực tham gia quá trình học tập
Như vậy nếu xây dựng được hệ thống bài tập đa dạng theo các mức độ từ cơ bản đến nâng cao và được phân ra các dạng bài theo từng phần nội dung kiến thức thì có tác dụng rất tốt trong dạy học hoá học Hệ thống bài tập này là công cụ đắc lực phục vụ cho quá trình đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay
Trang 37sử dụng bài tập hoá học theo hướng dạy học tích cực
- Điều tra về thực trạng việc sử dụng bài tập hoá học ở trường phổ thông tỉnh Bình Dương: Chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 54 GV hóa học, kết quả cho thấy
đa số GV sử dụng bài tập hóa học trong ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cũng như trong kiểm tra đánh giá Việc sử dụng bài tập hóa học theo các dạng bài và theo các mức cơ bản và nâng cao có hiệu quả tốt trong dạy học
Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập cơ bản và nâng cao phần kim loại lớp 12 THPT
Trang 38CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
2.1 Hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản phần kim loại hóa học 12 THPT [49]
2.1.1 Đại cương về kim loại
2.1.1.1 Kiến thức cơ bản và trọng tâm
- Vị trí của kim loại trong bảng tuần hoàn Cấu tạo của nguyên tử kim loại, cấu tạo của đơn chất kim loại và liên kết kim loại
- Tính chất vật lý chung của kim loại: tính dẻo, tính dẫn nhiệt, dẫn điện, ánh kim Tính chất vật lý khác của kim loại như tỉ khối, nhiệt độ nóng chảy, tính cứng
- Tính chất hóa học chung của kim loại là tính khử: tác dụng với phi kim, với dung dịch axit HCl, H2SO4 loãng; với dung dịch axit HNO3, H2SO4 đặc; tác dụng với dung dịch muối
- Cặp oxi hóa - khử của kim loại, so sánh tính chất những cặp oxi hóa - khử Dãy điện hóa của kim loại và ý nghĩa dãy điện hóa của kim loại
- Thế điện cực chuẩn của cặp ion kim loại/kim loại, pin điện hoá, suất điện động chuẩn của pin điện hoá
- Bản chất các phản ứng xảy ra trên các điện cực và ứng dụng của sự điện phân
- Hợp kim: định nghĩa, cấu tạo của hợp kim, liên kết hóa học trong hợp kim, tính chất và ứng dụng của hợp kim
- Sự ăn mòn kim loại và các phương pháp chống ăn mòn kim loại
- Nguyên tắc điều chế kim loại và 3 phương pháp điều chế kim loại (thủy luyện, nhiệt luyện và điện phân)
Trang 39- Viết sơ đồ điện phân, phản ứng xảy ra ở mỗi điện cực và phương trình hoá học của sự điện phân trong một số trường hợp đơn giản
- Xác định được các phương trình phản ứng chứng minh tính chất của kim loại
- Phân biệt được ăn mòn hóa học và ăn mòn điện hóa ở một số hiện tượng thực tiễn cuộc sống
- Sử dụng và bảo quản hợp lý một số đồ dùng bằng kim loại và hợp kim dựa vào đặc tính của chúng
- Lựa chọn được phương pháp điều chế kim loại cụ thể cho phù hợp
2.1.2 Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
2.1.2.1 Kiến thức cơ bản và trọng tâm
* Kim loại kiềm
- Vị trí của kim loại kiềm trong bảng tuần hoàn Tính chất vật lý đặc trưng của kim loại kiềm (màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, khối lượng riêng, độ cứng )
- Cấu tạo nguyên tử và tính chất hóa học đặc trưng của các kim loại kiềm là tính khử mạnh nhất: tác dụng với phi kim, với axit và với nước
- Ứng dụng của kim loại kiềm Điều chế kim loại kiềm
- Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm (NaOH, NaHCO3, Na2CO3, KNO3): tính chất, ứng dụng, điều chế Cách nhận biết các hợp chất của Na
* Kim loại kiềm thổ
- Vị trí của kim loại kiềm thổ trong bảng tuần hoàn Tính chất vật lý và tính chất hóa học đặc trưng của kim loại kiềm thổ (tính khử mạnh)
- Ứng dụng và điều chế kim loại kiềm thổ
- Một số hợp chất quan trọng của Ca (CaO, Ca(OH)2, CaCO3, CaSO4): tính chất, ứng dụng, điều chế
- Nước cứng, các loại nước cứng và tác hại của nước cứng, nguyên tắc và các phương pháp làm mềm nước
* Nhôm
Trang 40- Vị trí của Al trong bảng tuần hoàn Cấu tạo nguyên tử Al Tính chất vật lý Tính chất hóa học của Al là tính khử mạnh Ứng dụng của Al Sản xuất Al
- Hợp chất của Al (Al2O3, Al(OH)3, AlCl3, Al2(SO4)3): tính chất, ứng dụng
- Một số hợp kim quan trọng của Al: thành phần, tính chất và ứng dụng
2.1.2.2 K ĩ năng
- Dự đoán tính chất hóa học, kiểm tra và kết luận về tính chất của đơn chất
và một số hợp chất kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và Al
- Viết các phương trình hóa học minh họa tính chất hóa học và mô tả, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống
- Giải các bài tập liên quan
2.1.3 Crom - Sắt – Đồng
2.1.3.1 Kiến thức cơ bản và trọng tâm
* Crom và hợp chất của crom
- Vị trí của crom trong bảng tuần hoàn Tính chất vật lý
- Cấu tạo và tính chất hóa học của crom Ứng dụng và sản xuất crom bằng phương pháp nhiệt nhôm
- Tính chất một số hợp chất: CrO, Cr2O3, CrO3, Cr(OH)2, Cr(OH)3, Cr2+,
Cr3+, 2 2
CrO , Cr O− −
* Sắt và hợp chất của sắt
- Vị trí của sắt trong bảng tuần hoàn Tính chất vật lý
- Cấu tạo và tính chất hóa học của sắt
- Tính chất, điều chế và ứng dụng của một số hợp chất: FeO, Fe2O3, Fe(OH)2, Fe(OH)3, Fe2+, Fe3+
- Phân loại, tính chất, ứng dụng và sản xuất gang, thép
* Đồng và hợp chất của đồng
- Vị trí của đồng trong bảng tuần hoàn Tính chất vật lý
- Cấu tạo và tính chất hóa học của đồng Ứng dụng của đồng và hợp kim
- Tính chất của một số hợp chất của đồng: CuO, Cu(OH)2, Cu2+
2.1.3.2 K ĩ năng