1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông

144 671 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH Đinh Thị Thu Hiền MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH KHI DẠY BÀI LUYỆN TẬP, ÔN TẬP PHẦN HỮU C

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đinh Thị Thu Hiền

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH KHI

DẠY BÀI LUYỆN TẬP, ÔN TẬP PHẦN

HỮU CƠ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đinh Thị Thu Hiền

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH KHI

DẠY BÀI LUYỆN TẬP, ÔN TẬP PHẦN

HỮU CƠ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ TỬU

TP HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau nhiều khó khăn, luận văn này đã được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân tác giả, sự khích lệ và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh và những người thân trong gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn - PGS.TS Trần Thị Tửu và thầy – PGS TS Trịnh Văn Biều đã khuyến khích, động viên và tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Hóa trường ĐHSP TPHCM, trường ĐHSP Hà Nội đã truyền đạt cho chúng tôi n hiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập cũng như đã nhiệt tình giúp đỡ, giải đáp những khó khăn thắc mắc trong quá trình chúng tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo đồng nghiệp và các em học sinh ở các trường trung học phổ thông đã giúp tôi trong quá trình tiến hành điều tra thực tế

và thực nghiệm sư phạm

Xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học - trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12, năm 2011

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thu Hiền

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có liên quan mật thiết đến việc hình thành và phát triển con người, nhân tố quyết định đến sự phát triển của xã hội loài người Vì vậy, quốc gia nào, dân tộc nào cũng đều hết sức quan tâm đến giáo dục

Đảng ta đã chỉ rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” để khẳng định vị trí quan trọng của ngành giáo dục trong công cuộc xây dựng đất nước Hoà nhịp với công cuộc đổi mới,

thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá X; Chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông bao gồm: Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh; kiểm tra đánh giá môn học theo hướng đổi mới… ngành giáo dục nói chung và các thế hệ thầy, trò Việt Nam nói riêng

đã và đang nỗ lực không ngừng cải tiến việc dạy và học về mọi mặt, nhằm nâng cao hơn nữa mục tiêu giáo dục toàn diện, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Với mục tiêu đào tạo con người mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiêu chí hàng đầu của ngành Giáo dục là đào tạo thế hệ tương lai phát triển toàn diện, trong đó tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học là một trong những yếu tố được chú trọng hàng đầu

Vấn đề tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh luôn là trung tâm chú ý của lý luận và thực tiễn dạy học Các nhà giáo dục Cổ, Kim, Đông, Tây đã trao đổi bàn luận nhiều

về vấn đề này và đến nay vẫn còn là vấn đề quan trọng nhất của giáo dục hiện đại Như vậy, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đề cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người thầy trong quá trình dạy học

Hoá học là môn khoa học cơ bản, đồng thời còn là môn khoa học thực nghiệm Môn hoá học giúp giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp góp phần cùng các môn học khác trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường phổ thông

Trong các kiểu bài lên lớp của quá trình dạy học hoá học, bài luyện tập, ôn tập đóng vai trò không kém phần quan trọng, là khâu củng cố và hoàn thiện kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo cho học sinh Thời gian gần đây, theo chủ trương đổi mới phương pháp dạy

Trang 8

lớn giáo viên vẫn chưa đầu tư đúng mức cho kiểu bài lên lớp này Thay vì một giờ học sôi nổi, hiệu quả, học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập và nhận thức thì với một

số giáo viên giờ luyện tập, ôn tập chỉ được thực hiện “qua loa” không có hoạt động cụ thể, vẫn chủ yếu theo kiểu thuyết giảng truyền thống sau đó giáo viên cho bài tập, làm bài mẫu, học sinh làm bài tương tự Ngoài một số ít học sinh tích cực học tập, chịu khó tư duy và vận dụng kiến thức, còn lại đa số học sinh vẫn thụ động, thiếu sự tự giác, tích cực trong vận dụng kiến thức hình thành kỹ năng kỹ xảo cho bản thân Do vậy hiệu quả giờ học chưa đạt được tác dụng củng cố, hoàn thiện kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cũng như chưa đáp ứng được mục tiêu phát huy toàn diện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hoá hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong tiết luyện tập, ôn tập góp phần thực hiện xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

ở trường THPT

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, vai trò của các bài luyện tập, ôn tập trong quá trình dạy học

- Tìm hiểu thực trạng dạy học giờ luyện tập, ôn tập ở một số trường THPT

- Xây dựng, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như tăng cường tính tích cực học tập của học sinh trong các giờ luyện tập, ôn tập phần hoá hữu

cơ lớp 11

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của những đề xuất trên

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS khi

dạy các bài luyện tập, ôn tập phần hoá hữu cơ lớp 11 THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, các phương pháp dạy học tích cực và các bài luyện tập, ôn tập Phương pháp phân tích và tổng hợp Phương pháp phân loại, hệ thống hóa

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra (sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn, dự giờ), phương pháp chuyên gia, thực nghiệm sư phạm

- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng thống kê toán học

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện tốt bài luyện tập, ôn tập sẽ góp phần củng cố, hoàn thiện và hệ thống hoá kiến thức cho HS; hình thành các kỹ năng hoá học cơ bản, hình thành phương pháp nhận thức, phát triển tư duy khoa học cho các em và nâng cao hiệu quả học tập bộ môn

7 Điểm mới của luận văn

- Đề xuất các biện pháp nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh trong giờ luyện tập, ôn tập

- Nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học phức hợp để thiết kế giờ luyện tập, ôn tập phần hoá hữu cơ lớp 11 theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 10

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 L ịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS khi dạy học bài luyện tập, ôn tập chưa thực sự được xây dựng thành một đề tài Tuy nhiên, một số công trình của các nhà nghiên cứu đi trước đã quan tâm đến những vấn đề liên quan như:

- GS Nguyễn Ngọc Quang (1982) nghiên cứu lý luận về “Phương pháp dạy học khi

hoàn thiện kiến thức” trong sách Lý luận dạy học hóa học xuất bản năm 1982 Công trình

nghiên cứu có ý nghĩa to lớn là đặt nền tảng để các nhà giáo sau này tiếp tục nghiên cứu, phát triển

- GS Nguyễn Cương (2009) dành sự quan tâm đến vấn đề thông qua chương “Các

phương pháp dạy học khi hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo” trong sách phương

pháp dạy học “Một số vấn đề cơ bản về hóa học ở trường phổ thông và đại học”

- PGS.TS Nguyễn Thị Sửu – PGS.TS Đặng Thị Oanh đồng tác giả (2006) trong giáo trình Phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong sách giáo khoa hóa học phổ thông, đề cập đến vai trò quan trọng của việc giảng dạy các bài luyện tập, ôn tập

trong chương 6

- TS Lê Trọng Tín (2009) biên soạn tài liệu “Các phương pháp dạy học tích cực

trong dạy học hóa học” trong đó đề cập đến việc sử dụng bài tập nhằm tích cực hóa hoạt

động tư duy của HS

- Luận văn thạc sĩ “ Sử dụng phương pháp dạy học phức hợp hướng dẫn học sinh

giải bài tập phần hóa hữu cơ lớp 11- ban cơ bản” của học viên Phan Thị Mộng Tuyền

(2009) Trong luận văn tác giả đã phân loại bài tập hóa hữu cơ lớp 11 và tập trung vào phần bài tập lập CTPT của hợp chất hữu cơ Tác giả cũng giới thiệu một số dạng bài tập định tính Tuy nhiên số lượng bài tập chưa nhiều, cấu trúc bài tương đối phức tạp, chưa xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm với nội dung ngắn gọn có tác dụng củng cố tốt, khắc sâu kiến thức nhanh

- Khóa luận tốt nghiệp của SV Nguyễn Thị Khoa (2009) “ Sử dụng sơ đồ tư duy

trong dạy và học hóa học ở trung học phổ thông” Tác giả đề cập đến việc sử dụng sơ đồ

Trang 11

tư duy trong luyện tập, ôn tập Tuy nhiên tác giả mới chỉ tập trung thiết kế các bài dạy học kiến thức mới chứ chưa áp dụng trên bài luyện tập, ôn tập

* Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, được chia thành hai giai đoạn lớn:

- Nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác)

- Nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng)

1.2.2 Tính tích cực nhận thức

1.2.2.1 Khái niệm về tính tích cực nhận thức (TTCNT)

- Tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: Sinh lí, tâm lí và xã hội Vì vậy, tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, có quan hệ và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Nhu cầu, động cơ, hứng thú

dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của học sinh

+ Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực, được đặc trưng bằng

sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mỗi cá nhân, vượt ra khỏi khuôn mẫu, sự máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ có giá trị

Trang 12

1.2.3 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức

1.2.3.1 Những dấu hiệu bề ngoài

Nhu cầu, hứng thú nhận thức của HS được thể hiện qua những dấu hiệu cụ thể sau:

- Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng: Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV và yêu cầu giải thích cặn kẽ

- Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì GV làm

- Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn, thích tham gia vào các hoạt động

1.2.3.2 Những dấu hiệu bên trong

Đó là sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm… Những dấu hiệu này chỉ có thể được phát hiện qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải được tích lũy đến một mức độ đủ lớn và qua một quá trình xử lý thông tin mới thấy được

1.2.3.2 Kết quả học tập

Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của TTCNT Chỉ có tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt

1.2.4 Một vài đặc điểm của tính tích cực nhận thức

Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác

- Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò hiếu động, linh hoạt, sôi nổi trong hành vi của mỗi cá nhân ở những mức độ khác nhau Những yếu tố này cần được coi trọng, nuôi dưỡng và phát triển trong quá trình dạy học

- Mặt tự giác: thể hiện ở chỗ tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có những hoạt động thích hợp để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học…

Tính tích cực nhận thức không chỉ phát sinh từ nhu cầu nhận thức mà cả từ những nhu cầu bậc thấp như nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức, thẩm mỹ, giao lưu văn hóa…

1.2.5 Tích cực hóa hoạt động nhận thức

Bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học

là tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động tự giác tích cực, sáng tạo của mình;

Trang 13

trong đó rèn luyện phong cách học tập sáng tạo là cốt lõi của đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng

1.2.5.1 Thực chất của việc rèn luyện phong cách học tập sáng tạo

Để hiểu được thực chất của việc rèn luyện phong cách học tập sáng tạo ta cần phân biệt rõ sự giống và khác nhau giữa “học tập sáng tạo của HS” và “sáng tạo khoa học của nhà khoa học”

Sáng tạo khoa học của nhà khoa học Học tập sáng tạo của HS

- HS tự tìm lại cho mình cái mà loài người nói chung và người thầy nói riêng đã biết

Ta thấy rằng, sự sáng tạo trong học tập của HS không phải để làm phong phú thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại mà là cho chính bản thân HS Những kiến thức ấy có thể được tìm thấy dưới dạng hoàn chỉnh có sẵn trong sách vở HS học tập sáng tạo là tự bản thân HS bắt tay giải quyết một vấn đề sau khi được GV trang bị cho một hệ thống khái niệm học thuyết cơ bản định hướng Vấn đề đưa ra để giải quyết đã được GV chọn lọc, phải nằm trong quy luật phát triển rất gần của các khái niệm, học thuyết mà HS đang có

Như vậy, nếu tính tích cực là một phẩm chất, nhân cách liên quan đến sự nỗ lực hoạt

động của HS thì tích cực hóa lại là việc làm của người thầy Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhận thức của người thầy và các nhà giáo dục nói chung nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

- Tạo động cơ, hứng thú trong hoạt động nhận thức cho HS: Muốn HS đem hết sức

Trang 14

Động cơ, hứng thú học tập thường xuất hiện ngay trong quá trình học tập, tác động thường xuyên đến HS, đó là mâu thuẫn nhận thức thể hiện ở lòng ham muốn khám phá thế giới xung quanh, tính tò mò vốn có ở lứa tuổi mà cơ thể và trí óc đang phát triển Lòng ham muốn khẳng định mình trước thầy cô và bạn cùng lớp do tham gia giải quyết đúng các vấn

đề học tập Bên cạnh đó, được khen thưởng và tôn vinh trước cộng đồng là niềm tự hào không ngoại trừ ở bất kỳ lứa tuổi nào

- Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy: Muốn có phong cách học

tập sáng tạo thì người học phải thực hiện thành thạo các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…Để rèn luyện kỹ năng thực hiện các thao tác

tư duy cho HS có thể thực hiện như sau:

+ GV làm xuất hiện tình huống có vấn đề, buộc HS phải thực hiện các thao tác tư duy

và suy luận logic như: Hãy so sánh để tìm ra dấu hiệu chung , để phân biệt, để nhận biết, để tách…

+ GV đưa ra những câu hỏi định hướng để giúp HS giải quyết vấn đề…

Như vậy, để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, người thầy phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, những phương pháp có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, sử dụng các phương tiện hiện đại, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…

1.3 D ạy học các bài luyện tập, ôn tập

1.3.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của các bài luyện tập, ôn tập [8],[17]

Bài luyện tập, ôn tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và được thực hiện sau một

số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc một chương, một phần của chương trình Đây là dạng bài học không thể thiếu được trong chương trình của các môn học

Bài luyện tập, ôn tập có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành phương pháp nhận thức và phát triển tư duy cho học sinh vì các lí do sau:

Thứ nhất, bài luyện tập giúp học sinh tái hiện lại kiến thức đã học, hệ thống hóa các

kiến thức hóa học được nghiên cứu rời rạc, tản mạn qua một số bài, một chương hoặc một thành phần của hệ thống kiến thức có quan hệ chặt chẽ với nhau theo logic xác định Từ các

hệ thống kiến thức đó giúp học sinh tìm ra được những kiến thức cơ bản nhất và các mối liên hẹ bản chất nhất giữa các kiến thức đã thu nhận được để ghi nhớ và vận dụng chúng trong việc giải quyết các vấn đề học tập…

Trang 15

Thông qua bài luyện tập, học sinh tham gia các hoạt động học tập nhằm hệ thống hóa

và vận dụng kiến thức không chỉ ở trong một chương, một số bài học trước đó mà còn cả các kiến thức đã học ở những chương trước, lớp trước và các môn học khác

Thứ hai, thông qua các hoạt động học tập của học sinh trong bài luyện tập, ôn tập mà

giáo viên có điều kiện củng cố, làm chính xác và chỉnh lí, phát triển và mở rộng kiến thức cho học sinh

Trong giờ luyện tập, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học nhằm hệ thống hóa kiến thức cho học sinh đồng thời qua đó có thể phát hiện những phần kiến thức mà học sinh chưa nắm rõ hay chưa hiểu đúng, từ đó giáo viên có biện pháp điều chỉnh, bổ sung cho hợp

lí Bên cạnh đó, giờ luyện tập còn có tác dụng mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh, điều này còn tùy thuộc và các điều kiện như thời gian, trình độ học sinh, phương tiện dạy học…

Thứ ba, thông qua các hoạt động học tập trong giờ luyện tập, ôn tập để hình thành và

rèn luyện các kĩ năng hóa học cơ bản như: kĩ năng giải thích – vận dụng kiến thức, giải các bài tập hóa học, sử dụng ngôn ngữ hóa học

Cấu trúc các bài luyện tập trong sách giáo khoa hóa học đều có hai phần: kiến thức cần năm vững và bài tập Phần kiến thức cần nắm vững bao gồm các kiến thức cần hệ thống, củng cố và xác định mối liên hệ tương quan giữa chúng, phần bài tập bao gồm các dạng bài tập hóa học vận dụng các kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng hóa học Việc giải các dạng bài tập hóa học là phương pháp học tập tốt nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề học tập của bài toán đặt ra

Thứ tư, thông qua các hoạt động học tập trong giờ luyện tập, tổng kết, hệ thống kiến

thức mà phát triển tư duy và phương pháp nhận thức, phương pháp học tập cho học sinh Trong bài luyện tập tổng kết kiến thức học sinh cần sử dụng các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để hệ thống hóa, nắm vững kiến thức và vận dụng chúng giải quyết các vấn đề học tập mang tính khai quát hóa cao

Thứ năm, thông qua bài luyện tập, ôn tập mà thiết lập mối liên hệ của các kiến thức

liên môn học bao gồm các kiến thức hóa học có trong các môn khoa học khác (toán học, vật

lí, sinh vật, địa lí…) và sự vận dụng kiến thức của các môn học này để giải quyết các vấn đề học tập trong hóa học

Trang 16

1.3.2 B ài luyện tập, ôn tập trong chương trình hóa học phổ thông

Bảng 1.1 Phân phối chương trình giảng dạy môn hóa học của Bộ GDDT

Bảng 1.2 Hệ thống các bài luyện tập, ôn tập trong phần

hóa hữu cơ lớp 11 CB

HALOGEN – ANCOL – PHENOL

Bài 42: Dẫn xuất halogen, ancol và phenol

Chương 9: ANĐEHIT – XETON –

AXIT CACBOXYLIC

Bài 46: Luyện tập Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic

Bài: Ôn tập học kỳ 2

Trang 17

* Nhận xét:

Theo bảng 1.1, số tiết học dành cho luyện tập ở chương trình lớp 11 CB là 12 tiết

Trong đó, có 9 tiết luyện tập dành cho phần hóa học hữu cơ từ chương Đại cương về hóa học hữu cơ đến chương Anđehit – Xeton - Axit cacboxylic; có 5 tiết ôn tập gồm: đầu năm,

học kì I và cuối năm Tỉ lệ số tiết ôn tập, luyện tập trên tổng số tiết là 24,2%, nhiều hơn so với chương trình NC (24,2%) Điều đó có nghĩa là HS học chương trình CB được chú trọng hơn trong việc rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện kiến thức Tuy nhiên số tiết luyện tập, ôn tập

so với tổng thời lượng là không nhiều, chưa được ¼ trong khi khối lượng kiến thức cần hoàn thiện tương đối nhiều Vì vậy, để mỗi giờ luyện tập, ôn tập trên lớp đạt hiệu quả tốt nhất người GV khi chuẩn bị cho giờ lên lớp luyện tập, ôn tập cần phải cân nhắc kĩ nội dung kiến thức và kĩ năng cần ôn, luyện cho HS Đồng thời, GV có kế hoạch hướng dẫn HS phương pháp tự học tốt để nâng cao dần khả năng học tập, rèn luyện tư duy tích cực và sáng tạo

1.3 3 Các phương pháp dạy học trong giờ luyện tập, ôn tập

Thông thường, trong dạy học Hóa học, người GV hay dùng diễn giảng để ôn tập Phương pháp này có ưu điểm tốn ít thời gian và thường dùng khi ôn tập để hệ thống hóa, khái quát hóa các kiến thức cho học sinh vào cuối học kì, cuối năm học hoặc chuẩn bị thi tốt nghiệp

- Nêu bật được những điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất

- Hệ thống được các kiến thức cần nhớ, cần hiểu

- Chỉ ra được các kiến thức học sinh thường hiểu sai hoặc nhầm lẫn

Bên cạnh đó, nghệ thuật sư phạm của giáo viên khi dùng lời, trình bày mạch lạc, rõ ràng cũng có một ý nghĩa quan trọng giúp học sinh lĩnh hội tốt hơn

Diễn giảng khi ôn tập cũng phải tuân theo những yêu cầu chung, giống như diễn giảng khi nghiên cứu tài liệu mới Đó là việc đặt ra những câu hỏi cho học sinh hoặc sử dụng phối hợp với các phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học nhằm giúp học sinh học tập hứng thú hơn

* Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là quá trình tương tác giữa người dạy với người

Trang 18

học, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được người dạy và người học đặt ra Kết quả là dưới sự dẫn dắt của người dạy, người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập [29, tr 209]

Trong những tiết ôn tập GV có thể đặt ra hệ thống câu hỏi tương ứng với các hình thức đàm thoại tái hiện, giải thích minh họa và tìm tòi – phát hiện từ dễ đến khó để dẫn dắt

HS tự tìm ra câu trả lời

* Ưu điểm của phương pháp đàm thoại: So với diễn giảng, đàm thoại có ưu điểm

hơn vì qua đối thoại, hỏi và trả lời, GV có thể xác định được tình trạng kiến thức của học sinh để qua đó điều chỉnh nội dung cần ôn tập, đảm bảo được hiệu quả giờ ôn tập Qua đàm thoại, GV khơi gợi được sự suy nghĩ của HS, khuyến khích lôi cuốn HS tham gia vào quá trình học tập, tạo không khí sôi nổi, tạo môi trường thân thiện giữa thầy và trò Đàm thoại còn giúp GV nắm được thông tin phản hồi từ phía HS, kịp thời phát hiện và sửa chữa những sai lầm trong nhận thức của HS

* Lưu ý khi sử dụng phương pháp đàm thoại: Việc sử dụng phương pháp đàm thoại

không khéo rất dễ dẫn đến tình trạng lan man xa chủ đề, mất thời gian Ở lứa tuổi học sinh THPT, kỹ năng phân tích, tổng hợp học sinh đã được làm quen ở các cấp học trước, tuy nhiên những câu hỏi do giáo viên đưa ra cần ngắn gọn, rõ ràng, tránh vụn vặt, tản mạn, dễ

xa rời hệ thống kiến thức cơ bản muốn ôn tập cho học sinh Vì vậy, khi hướng dẫn HS ôn tập, GV cần phải chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi, dự đoán được tình huống có thể xảy ra trong lúc đàm thoại và phải có cách làm chủ tình hình tránh tình trạng đi chệch hướng của chủ đề

1.3.3.2 Làm việc với sách giáo khoa [8]

Trang 19

Trước đây, sách giáo khoa, sách bài tập Hóa học được dùng chủ yếu cho HS học và làm bài tập ở nhà Một số năm gần đây, sách giáo khoa đã được GV sử dụng ngay trong giờ lên lớp khi nghiên cứu tài liệu mới hoặc ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức Việc tổ chức, hướng dẫn cho học sinh làm việc tự lập với sách khi tiến hành ôn tập có thể đem lại những kết quả khả quan khi ôn tập các nội dung như: trình bày các sự kiện, định nghĩa các khái niệm cơ bản, phân loại các khái niêm…

* Phương pháp sử dụng sách giáo khoa khi ôn tập phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Nội dung phần cần ôn tập

- Kĩ năng dùng sách giáo khoa của học sinh

* Có thể được thực hiện theo trình tự sau:

- Giáo viên viết câu hỏi lên bảng hoặc dùng các phiếu học tập để đặt ra nhiệm vụ cụ thể mà học sinh cần chuẩn bị để trả lời miệng hoặc viết

- Học sinh đọc sách giáo khoa, chuẩn bị câu trả lời

- Kiểm tra có lựa chọn các bài làm hoặc trả lời của học sinh Thảo luận về kết quả công tác học sinh làm việc tự lập với sách giáo khoa

Phương pháp này có ưu điểm: cả lớp đều phải tham gia ôn tập, mỗi học sinh được làm việc một cách tự lập, có giáo viên giúp đỡ khi cần thiết; cả lớp có thể tham gia kiểm tra kết quả công việc và từng người qua đó tự kiểm tra, đánh giá

1.3.3.3 Trình bày thí nghiệm khi dạy học sinh vận dụng kiến thức [3],[22],[27]

Thông thường khi ôn tập, củng cố kiến thức giáo viên ít sử dụng các thí nghiệm Hóa học hoặc các phương tiện trực quan khác Điều này dẫn đến việc học sinh học tập kém hứng thú Có thể nâng cao khả năng tích cực hóa hoạt động của học sinh bằng cách sử dụng một

số thí nghiệm biểu diễn hoặc các phương tiện trực quan khác như mô hình, biểu bảng sơ đồ… kết hợp với lời nói của giáo viên

Thói quen vận dụng kiến thức của học sinh khi học môn Hóa học thực hiện rõ nét trong việc giải các bài tập thí nghiệm (có thể thực hiện bằng các thí nghiệm thực hành của học sinh hoặc thí nghiệm biểu diễn của giáo viên) Một số dạng chính thường dùng như:

- Nhận biết các chất;

- Giải thích hiện tượng phản ứng;

- Điều chế các chất

- Xác định một chất thuộc loại chất gì

Trang 20

Trước hết giáo viên yêu cầu học sinh giải các bài tập bằng lí thuyết, sau đó làm các thí nghiệm Hóa học (biện pháp chung để giải các bài tập thực nghiệm)

* Các điều kiện bắt buộc để đảm bảo cho học sinh giải thành công các bài tập thí nghiệm:

- Chính xác hóa những kiến thức lí thuyết về các phản ứng hóa học, về các điều kiện tiến hành phản ứng, về tính chất của các chất tham gia và tạo thành sau phản ứng

- Hiểu rõ nhiệm vụ cuối cùng của thí nghiệm

- Hiểu rõ sự phụ thuộc của cấu tạo và của vật liệu chế tạo ra dụng cụ vào điều kiện tiến hành phản ứng, vào tính chất của các chất tham gia và tạo thành sau phản ứng

- Chính xác hóa những hiểu biết về các dụng cụ được sử dụng trong phòng thí nghiệm Hóa học nói chung và để thực hiện những nhiệm vụ tương tự nói riêng

1.3.3.4 Phương pháp grap dạy học [6], [12], [27]

cụ thể, vừa có tính khái quát - trừu tượng

Sử dụng grap khi ôn tập có thể hệ thống được một lượng lớn kiến thức Grap có các tính năng: khái quát, trực quan, hệ thống, súc tích và thỏa mãn về mặt tâm lí của sự lĩnh hội

- Tính khái quát: Các kiến thức chọn lọc được đưa vào grap là những kiến thức cơ bản, quan trọng của bài học, của chương hay một phần của chương trình Khi nhìn vào grap

ta thấy được tổng thể các kiến thức, logic phát triển vấn đề và các mối liên hệ giữa chúng

- Tính trực quan: Thể hiện ở việc sắp xếp, trình bày cân đối hài hòa, thẩm mỹ, có thể

dùng đường nét đậm nhạt để nhấn mạnh những kiến thức quan trọng

Trang 21

- Tính hệ thống: Grap thể hiện được trình tự kiến thức của chương và logic phát triển

kiến thức thông qua các trục chính hay nhánh chi tiết

- Tính súc tích: Bằng những kí hiệu, qui ước trong grap có thể nêu lên được những dấu hiệu bản chất nhất của các kiến thức

- Về tâm lí của sự lĩnh hội: Nội dung của bài học, của chương được thể hiện lại dưới

dạng grap một cách gọn, nhẹ giúp HS hiểu được các kiến thức chủ yếu Hình ảnh trực quan giúp cho sự ghi nhớ và tái hiện kiến thức của HS dễ dàng

Với những grap ôn tập một chương hay một phần của chương trình, nó vừa tổng hợp được khối lượng lớn kiến thức vừa giúp HS hiểu sâu các vấn đề bản chất, chủ yếu, quan trọng nhất và cả logic phát triển của nội dung bài học Hình ảnh trực quan của grap là điểm tựa quan trọng cho sự ghi nhớ, tái hiện kiến thức của HS Nhớ lời văn chi tiết dài dòng khó nhớ hơn là nhớ những hình ảnh đã được tri giác và thông hiểu bản chất

Vì grap có nhiều ưu thế như đã trình bày nên việc dùng phương pháp grap dạy học để

hệ thống hóa kiến thức cho HS ôn tập là rất phù hợp Trong luyện tập, để diễn tả nội dung một bài toán, cơ chế một phản ứng hóa học hay chuỗi biến hóa từ chất này sang chất khác trong sản xuất hóa học v.v thay vì dùng ngôn ngữ thì sự mã hóa các kiến thức bằng grap

sẽ giúp GV tiết kiệm được thời gian, HS dễ nắm bắt được nội dung bài học

- Ở các đỉnh của grap có thể dùng các hình: hình tam giác, hình chữ nhật và màu sắc khác nhau để tạo vẻ đẹp sinh động cho grap

Bước 2: Thiết lập các cung

Trang 22

Xác định mối quan hệ giữa các kiến thức chốt, kiến thức cơ bản cần ôn tập, luyện tập Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa nội dung các đỉnh với nhau, làm sao phản ánh được logic phát triển của nội dung

Bước 3: Hoàn thiện grap

Làm cho grap phải vừa trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic, đồng thời vừa đảm bảo về mặt thẩm mỹ Nhờ đó, HS lĩnh hội dễ dàng hơn

a) Khái niệm

Theo Từ điển Tiếng Việt: “ Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”

Như vậy bài tập hóa học là những bài liên quan đến hóa học, trong đó đưa ra những vấn

đề đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức vốn có để giải quyết

b) Phân loại bài tập hóa học

Bài tập Hóa học được sử dụng chủ yếu gồm các loại sau đây:

* Bài tập định tính

a Bài tập lí thuyết

b Bài tập thực nghiệm

* Bài tập định lượng

a Bài toán hóa học

b Bài tập thực nghiệm định lượng

* Bài tập tổng hợp (có nội dung chứa các loại bài tập trên)

Bài tập hóa học có nhiều tác dụng trong dạy học hóa học

- Tác dụng trí dục, đức dục:

+ BTHH làm cho HS hiểu chính xác và biết vận dụng các khái niệm đã học, củng

cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động mà không làm nặng nề thêm khối lượng kiến thức cơ bản ở SGK

+ BTHH giúp ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực Bằng bài tập kích thích sự tập trung chú ý, tái hiện kiến thức tốt hơn nhiều so với việc nhắc lại kiến thức một cách đơn thuần

Trang 23

+ BTHH thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo cần thiết về hóa học như: lập phương trình hóa học, tính toán theo công thức và phương trình hóa học, thực hành thí nghiệm, nhận biết các hóa chất, sử dụng ngôn ngữ hóa học

+ BTHH có tác dụng giáo dục HS về đạo đức tư tưởng, rèn luyện cho HS những phẩm chất tốt đẹp như: tính kiên nhẫn, chịu khó, cẩn thận chính xác khoa học, tính trung thực, tính sáng tạo và lòng yêu thích bộ môn

- Tác dụng phát triển:

BTHH tạo điều kiện để phát triển ở HS các năng lực tư duy: logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo Vì khi giải bài tập hóa học, HS phải thường xuyên sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, diễn dịch

d) Những lưu ý khi chọn, chữa bài tập và xây dựng bài tập mới

* Chọn bài tập: Nguồn bài tập hóa học rất phong phú tuy nhiên không phải bài nào

cũng có thể sử dụng và có hiệu quả, người GV phải biết lựa chọn những BT đáp ứng được

các yêu cầu của xu hướng đổi mới:

- Loại bỏ các bài toán có nội dung nghèo nàn nhưng lại cần đến những thuật toán phức tạp để giải

- Loại bỏ các bài có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn

- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm

- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng bài tập có nội dung phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản, nhẹ

nhàng

- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

* Chữa bài tập: Khi chữa BT, cần chú ý các điểm sau:

- Phải chữa rất chi tiết, trình bày rõ ràng, diễn đạt chính xác Trong khi chữa, kết hợp chữa các lỗi điển hình của học sinh đã mắc phải

Trang 24

- Cần phải biết tiết kiệm thời gian (photo đề bài, sử dụng phiếu học tập)

- Cách gọi HS lên bảng: bài đơn giản có thể gọi bất cứ HS nào, bài phức tạp nên gọi những HS khá giỏi, nếu HS có hướng giải sai thì cần dừng lại ngay để khỏi mất thời gian

- Trong quá trình chữa bài tập, cần lựa chọn các bài điển hình, các dạng bài tập bắt buộc Từ việc kiểm tra, xác định được những học sinh còn yếu, chưa làm được Bằng hình thức kiểm tra thường xuyên, lặp đi lặp lại, phụ đạo thêm… sẽ nâng dần chất lượng của học sinh toàn lớp

- Khi chữa bài tập với lớp có nhiều trình độ khác nhau, cần phân chia bài tập ra thành các phần nhỏ (các câu a, b, c…) từ thấp đến cao những câu dễ cho HS yếu làm…những câu tiếp theo cho HS khá làm…

- Khi GV muốn chú trọng tới số lượng BT chỉ nên tập trung vào việc chấm, chữa các loại bài tập dạng cơ bản, lặp đi lặp lại để tạo nên kĩ năng, kĩ xảo cho toàn thể học sinh trong lớp

* Xây dựng đề bài tập mới

Thực tế giảng dạy Hoá học ở trường THPT hiện nay cho thấy phần lớn HS rất lúng túng và không biết giải các bài toán Hoá học Do vậy, ngoài việc triệt để sử dụng các bài tập

có sẵn trong sách giáo khoa, sách bài tập hoặc các tài liệu tham khảo khác, trong quá trình giảng dạy, người GV cần biết cách xây dựng một số đề bài tập mới đáp ứng được yêu cầu

về kiến thức trọng tâm và quan trọng là phải phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng

HS, kết hợp với khâu ôn luyện thường xuyên để rèn kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh trong việc giải bài tập

Có hai hình thức xây dựng các đề bài tập mới:

- Xây dựng các bài tập tương tự với các bài tập hay ở trong sách giáo khoa hay các sách khác

- Xây dựng các bài tập mới bằng cách phối hợp nhiều phần của các bài tập hay trong sách đã in, hoặc của các bài tập học được của những người khác

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ luyện tập, ôn tập

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ luyện tập, ôn tập Ở đây, chúng tôi xin được nêu ra một số yếu tố quan trọng

Trang 25

Sự sẵn sàng tâm lí là điều kiện quan trọng của việc học, vì sự hài lòng hay hụt hẫng

phụ thuộc vào trạng thái sẵn sàng của cá nhân

Tâm lí sẵn sàng học tập, hào hứng học tập ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giờ học Nếu HS học một cách chủ động, tích cực và độc lập, học bằng cả nhiệt tình, học một cách

vui thú thì chất lượng giờ học sẽ được nâng cao như Khổng Tử đã từng nói“ Biết mà học, không bằng thích mà học; thích mà học không bằng vui mà học” (Lạc học – Luận ngữ) Vì

thế, việc tạo động cơ hứng thú học tập cho HS để HS có được tâm thế chủ động tìm kiếm kiến thức, tạo môi trường cho HS chủ động tham gia hoạt động học tập là điều kiện tiên quyết nâng cao chất lượng giờ ôn, luyện tập

Động cơ là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy hoạt động học tập có hiệu quả và thách thức lớn nhất mà GV phải đối mặt là làm cho HS muốn học

- HS chỉ muốn học những gì thật sự có lợi cho bản thân

- Sự thành công trong việc giải bài tập, trả lời câu hỏi sẽ giúp HS tự tin hơn và có niềm vui trong học tập Điều này làm cho HS tiếp tục duy trì động cơ học tập lần kế tiếp

- Được thầy, cô khen ngợi, HS cũng tự tin vào bản thân hơn và ý thức học tập được nâng cao Từ đó, HS có tâm lý mong đợi đến giờ học và thích được làm bài nhiều hơn

- Cho dù trước đó HS không quan tâm đến chủ đề môn học, nhưng nếu được thầy, cô tạo ra những hoạt động học tập hấp dẫn sẽ lôi cuốn HS tham gia dần dần nhập cuộc, tập trung học tập

Thông thường HS khá, giỏi dễ nhàm chán đối với giờ ôn, luyện tập vì lí do chính là:

HS chỉ thích biết thêm cái mới, không thích luyện tập lại cái cũ HS chưa hiểu hết được cái biết của mình là cái biết còn sơ sài, chưa hình thành kĩ năng HS yếu, kém cũng có tâm lí chán giờ ôn, luyện tập vì bị thầy, cô gọi lên bảng làm bài và bị điểm kém Để thay đổi được nếp nghĩ này hình thành được động cơ cho HS, GV phải chuẩn bị những hoạt động trong giờ ôn, luyện tập sao cho tạo được sự mới mẻ, tránh sử dụng những hoạt động theo kiểu áp chế, lặp lại GV cần có những biện pháp tăng cường sự quan tâm của HS trong giờ ôn, luyện tập như: Nhiệt tình thể hiện sự quan tâm của chính mình; không nhắc lại nội dung kiến thức

cũ một cách đơn thuần mà đưa ra những câu hỏi gây tò mò hơn là chỉ yêu cầu nêu dữ liệu; gắn kiến thức giáo khoa với thực tiễn sinh động; tận dụng khả năng sáng tạo và biểu đạt của

HS, tạo cơ hội cho HS được trả lời câu hỏi; thường xuyên thay đổi các hoạt động của HS; tận dụng các điều ngạc nhiên gây cảm giác mới lạ; tổ chức thi đua và thách thức giữa các tổ

Trang 26

b) Tâm thế chủ động tìm kiếm tri thức

Năng lực và trách nhiệm học tập là do chính người học quyết định

Với ý thức trách nhiệm cao về bản thân: học tập là học cho chính mình HS sẽ có tâm thế chủ động học tập Nếu có tâm thế chủ động, HS sẽ tự tìm kiếm kiến thức chuẩn bị cho giờ học ôn thật tốt, tự mình rèn luyện kĩ năng giải bài tập, kiểm tra lại kiến thức cũ, chấn chỉnh lại những vấn đề còn khiếm khuyết HS có tâm thế chủ động sẽ phải cố gắng thay đổi chiến lược học tập, hoặc nhờ bạn bè giúp đỡ, ôn lại bài học cũ v.v .GV cần giúp HS có được tâm thế chủ động, bằng cách giao bài tập cho về nhà để các em chuẩn bị trước Giành thời gian cho HS trao đổi, giảng giải cho nhau, cho HS đặt ra những vấn đề còn vướng mắc, giúp HS giải quyết các vấn đề đó với sự vui vẻ, nhẹ nhàng

Ngoài môi trường chung của nhà trường như không khí trong lành thông thoáng, mát

mẽ, yên tĩnh, phong trào thi đua của Đoàn thanh niên Môi trường học tập mà chúng tôi

muốn đề cập ở đây chính là không khí lớp học “Không khí lớp học là trạng thái tâm lí –

một dạng của của bầu không khí tâm lí HS tại lớp học Trạng thái tâm lí này nếu chuẩn bị

tốt sẽ giúp HS có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách thuận lợi nhất” [19, tr 49]

GV giữ vai trò quyết định tạo nên bầu không khí lớp học Chính thái độ, cách cư xử của GV tạo nên môi trường học tập thân thiện Sự cởi mở, vui vẻ, thân thiện và công bằng của GV tạo điều kiện cho HS phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập Nó kích thích khả năng suy nghĩ độc lập, giải quyết các vấn đề học tập một cách nhẹ nhàng Giờ học

mà quá áp lực, căng thẳng sẽ làm cho HS sợ hải, chán nãn, làm tắt đi niềm vui thú học tập

Vì thế, khả năng tư duy sẽ không được phát huy đến mức cao nhất

Trong giờ ôn, luyện tập, GV cần tạo điều kiện cho HS được gần gũi với mình, gợi ý

để các em mạnh dạn đặt câu hỏi, tìm cách giúp HS tháo gỡ những gút mắc, tận tình hướng dẫn lại cho HS những vấn đề đã được luyện tập mà HS chưa nắm bắt được Những việc làm này giúp cho tâm lí lĩnh hội kiến thức của các em tăng trưởng theo chiều hướng tích cực

Sự chuẩn bị của hôm nay quyết định thắng lợi của ngày mai” – Thomas Edison Sự

chuẩn bị càng kĩ thì cơ hội thành công càng cao Như vậy, một trong những yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giờ ôn, luyện tập là sự chuẩn bị của GV và HS trước giờ học

Trang 27

a) Sự chuẩn bị của giáo viên

- Xác định mục tiêu cần ôn, luyện và giúp HS xác định mục tiêu bài ôn, luyện tập sẽ được học trong giờ tới

- Định hướng nội dung kiến thức và kĩ năng cần ôn, luyện: đặt ra những câu hỏi gợi ý

ôn tập, ra những bài tập yêu cầu HS giải trước khi đến giờ học

- Chọn nội dung kiến thức cần ôn, luyện thật cô đọng, rõ ràng, xoáy trọng tâm

- Chuẩn bị các hoạt động dành cho HS thực hiện trong giờ học

- Chuẩn bị các “Phiếu học tập”

- Thiết kế bài lên lớp sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp và trình

độ HS

Ngoài sự chuẩn bị đồ dùng cho tất cả các tiết học như: bảng phụ, phấn trắng, phấn màu, khăn lau bảng thật chu đáo HS cần chuẩn bị theo sự hướng dẫn của GV:

- Trả lời các câu hỏi định hướng, giải các bài tập cho trước để giải quyết nhanh những nhiệm vụ học tập mà GV yêu cầu trong giờ ôn tập, luyện tập

- Tập tóm tắt nội dung bài học, nội dung kiến thức của chương, tự ôn tập theo các phương pháp mà GV đã chỉ dẫn

- Tập dợt các thao tác: phân công công việc cho các thành viên trong nhóm học tập; ghi nhanh vào bảng phụ những nội dung thảo luận theo yêu cầu; nhận xét bài làm của bạn,

và nhóm bạn

Sự chuẩn bị của HS có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giờ ôn, luyện tập Nó thể hiện tâm thế sẵn sàng của HS Nhờ chuẩn bị kĩ, HS không bị động khi GV nêu vấn đề yêu cầu giải quyết HS sẽ tự tin hơn khi tham gia các hoạt động trong giờ học Các hoạt động của HS sẽ diễn ra nhanh chóng, kịp với tiến trình thời gian của tiết học Muốn HS chuẩn bị tốt cho giờ học, GV cần phải biết cách tác động đến HS bằng cách đặt ra những yêu cầu, kiểm tra chặt chẽ, có khen thưởng và hình phạt thích hợp

Dạy học là quá trình lãnh đạo, tổ chức quản lí Trong dạy học hiện đại, người GV có chức năng định hướng, ủy thác, kích thích, động viên, làm nảy sinh nhu cầu, tạo động cơ, phát triển hứng thú của người học Mặt khác, GV còn có vai trò tham vấn, trợ giúp và tổ

Trang 28

chức hoạt động học của HS; kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh hành vi của họ Việc tổ chức

các hoạt động dạy học trong giờ ôn, luyện tập của GV là yếu tố quyết định sự thành công hay không thành công của giờ học Các hoạt động dạy học phải được tổ chức sao cho:

- Phát huy được vai trò chỉ đạo của thầy và vai trò chủ động của trò

- HS phải được hoạt động nhiều trong giờ học

- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập

- Tạo điều kiện cho HS trao đổi, thảo luận tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề

- Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

Đối với giờ ôn, luyện tập việc sử dụng BTHH để tổ chức hoạt động học tập là điều tất yếu Nếu GV lựa chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập hợp lí, khéo léo trong việc

tổ chức giờ học sẽ làm cho HS hăng hái, tích cực tham gia vào hoạt động học tập

Việc ghi chép bài của HS cũng ảnh hưởng không ít đến chất lượng giờ ôn, luyện tập Nếu ở giờ học bài mới, HS đã quen kiểu ghi theo những gì thầy ghi lên bảng, chắc chắn các

em sẽ lúng túng khi ghi bài trong giờ ôn, luyện tập Vì nội dung ở bài ôn, luyện tập có khi là một bảng so sánh, đôi khi là một grap, SĐTD ôn tập và các bài tập được thiết kế theo các

hoạt động lại là những Phiếu học tập Nếu chăm chú ghi chép bài thì HS sẽ không theo dõi

được đầy đủ các nội dung mà GV ôn, luyện Do vậy, trong mỗi giờ ôn, luyện tập GV cần hướng dẫn cho HS khi nào tham gia hoạt động trao đổi, thảo luận, khi nào theo dõi ghi bài, nội dung nào cần ghi chép cẩn thận, nội dung nào có trong tài liệu không cần phải ghi chép nữa

Các nhà lí luận dạy học đã nghiên cứu và cho biết: Thông thường sau 20 – 30 phút sự tập trung chú ý của HS đã giảm, GV phải biết cách thay đổi kiểu hoạt động, kiểu hỏi, kiểu bài tập Nếu các hoạt động mang tính đơn điệu, tẻ nhạt lặp đi, lặp lại sẽ gây cho HS cảm giác nhàm chán, không tập trung chú ý

Muốn đạt được mục tiêu của giờ học trong điều kiện thời gian có hạn mà nội dung cần ôn, luyện tập lại quá nhiều thì GV phải biết quản lý, phân phối thời gian hợp lý Xác định mục tiêu rõ rệt cho bài học là điểm khởi đầu của việc quản lý thời gian hiệu quả Sau

đó, sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên rồi phân chia thời gian cho từng mục tiêu cụ thể

Điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là tận dụng hết thời gian bốn mươi lăm của giờ học Đồng thời, phân bố thời gian giữa hai phần ôn và luyện sao cho phù hợp Thời gian

Trang 29

dành cho mỗi hoạt động ôn hoặc luyện phải được tính toán chặt chẽ, không thừa, không thiếu Không nên dành nhiều thời gian vào những nội dung không cần thiết, hoặc cắt xén thời gian không đủ để rèn các kĩ năng quan trọng

Để đảm bảo được các hoạt động diễn ra đúng theo thời gian dự định, GV phải ấn định thời gian cho mỗi hoạt động, yêu cầu HS làm việc nhanh chóng kịp thời Mặt khác, GV luôn theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở, gợi ý khi HS chưa kịp nghĩ ra hướng trả lời câu hỏi Tránh để tình trạng HS thảo luận chệch hướng, không xoáy được trọng tâm vấn đề cần giải quyết làm mất đi một khoảng thời gian vô ích

Cuối mỗi giờ ôn, luyện tập cũng cần phải dành ít nhất hai phút cho việc nhận xét chung về tiết học, nhắc lại một số vấn đề cần lưu ý khắc sâu cho HS những điểm quan trọng trong bài học

Nếu trống báo hết giờ, GV vẫn còn tiếp tục điều khiển lớp học, chưa đúc kết được nội dung bài thì chắc chắn chất lượng giờ ôn tập, luyện tập sẽ giảm Vì khi đó HS không còn tập trung chú ý vào hoạt động học tập mà chỉ lo nghĩ đến giờ ra chơi hoặc giờ học kế tiếp mà thôi

Tóm lại, sử dụng thời gian hợp lí cho việc ôn tập, luyện tập là việc rất cần thiết

a) Khái niệm trí nhớ

Là quá trình tâm lí phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng,

bằng cách ghi nhớ, gìn giữ, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải qua

Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu để con người có đời sống tâm lí bình thường và

ổn định Nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm và đem những kinh nghiệm

đó vận dụng vào cuộc sống Trí nhớ còn là công cụ để lưu giữ lại kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác, nhờ đó nhận thức được cái mới tác động lần đầu và cái cũ đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích hợp với hoàn cảnh sống

Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng với con người Với nhận thức trí nhớ là công

cụ để lưu giữ lại các kết quả của cảm giác, tri giác Nó là điều kiện để diễn ra các quá trình nhận thức tư duy và tưởng tượng Trí nhớ đóng vai trò quan trọng trong việc ôn tập Nó giúp cho HS lưu trữ các kiến thức làm cơ sở giải quyết các vấn đề học tập Trí nhớ có thể học tập

và rèn luyện được Việc rèn luyện và phát triển trí nhớ cho HS là một nhiệm vụ dạy học quan trọng Cách truyền đạt của GV cũng giúp HS ghi nhớ tốt, góp phần nâng cao chất lượng giờ luyện tập, ôn tập

Trang 30

b) Các quá trình cơ bản của trí nhớ

- Quá trình ghi nhớ: Đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động trí nhớ Nó rất cần thiết

để tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiệm Có nhiều loại ghi nhớ: Ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định; ghi nhớ máy móc và ghi nhớ có ý nghĩa Trong đó ghi nhớ có chủ định

và ghi nhớ có ý nghĩa là các loại ghi nhớ hỗ trợ chính cho sự ôn, luyện tập Ghi nhớ có chủ định đòi hỏi phải có mục đích, có nổ lực, có thủ thuật và phương pháp xác định Muốn rèn luyện cho HS loại ghi nhớ này, GV phải hướng dẫn cho HS cách ghi chép bài, tóm tắt nội dung bài học, lập thời gian biểu học tập và tuân thủ nghiêm ngặt theo thời gian qui định đó Ghi nhớ có ý nghĩa là ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung cơ bản của tài liệu, mối liên

hệ logic giữa các bộ phận tài liệu đó Loại ghi nhớ này gắn với quá trình tư duy, đảm bảo sự lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững và nếu quên cũng dễ nhớ lại hơn Để rèn luyện loại ghi nhớ này cho HS, GV nên hướng dẫn HS các phương pháp lập sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các kiến thức, tóm tắt kiến thức bằng những hình ảnh, kí hiệu đặc biệt

- Quá trình gìn giữ: Có thể gìn giữ kiến thức đã ghi nhớ bằng sự đọc đi, đọc lại nhiều

lần tài liệu đã học Hoặc có thể gìn giữ bằng sự tái hiện, đó là nhớ lại trong óc tài liệu đã ghi nhớ mà không phải đọc lại tài liệu đó Quá trình gìn giữ này chính là sự tự ôn tập

Nếu trong giờ ôn, luyện tập HS đã quên hết những kiến thức đã học, nghĩa là tự bản

thân các em không giữ lại được kiến thức cũ để GV phải nhắc lại kiến thức đó như dạy bài mới thì hiển nhiên giờ học sẽ kém chất lượng

- Quá trình tái hiện: Là quá trình làm sống lại những nội dung đã ghi Quá trình này

có thể diễn ra dễ dàng nhưng cũng có khi cần phải nổ lực nhiều Quá trình lưu giữ càng tốt thì sự tái hiện sẽ diễn ra một cách dễ dàng Quá trình tái hiện không diễn ra tự nó mà thường tuân theo qui luật liên tưởng, mang tính chất logic chặt chẽ, có hệ thống

- Sự quên lãng: Trí nhớ bền vững là cơ sở cho sự lĩnh hội tri thức Nhưng không dễ

dàng để có thể nhớ lại tất cả những gì đã được ghi nhớ trước đó Sự quên lãng làm cho việc liên hệ giữa các phần kiến thức sẽ khó khăn, ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các vấn đề đặt ra Trong giờ luyện tập, HS cũng rất vất vả để hiểu và giải các bài tập do GV yêu cầu nếu như trước đó không có sự ôn tập giúp các em tái hiện lại kiến thức liên quan

Để hướng dẫn HS ghi nhớ tốt bài học, GV cần nắm vững các quy luật của trí nhớ

1 Quy luật hướng đích: Muốn ghi nhớ tốt cần tập trung sự chú ý vào một mục tiêu rõ

ràng, cụ thể Chú ý là tập trung tinh thần vào một đối tượng rõ ràng nhất định Nếu không

Trang 31

tập trung chú ý thì sự ghi nhớ sẽ không hiệu quả

2 Quy luật ưu tiên: Sự ghi nhớ có chọn lọc theo mức độ ưu tiên khác nhau tùy đặc

điểm của từng tài liệu

+ Hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn ngôn ngữ trừu tượng

+ Sự việc, hiện tượng càng hấp dẫn, sinh động, gây hứng thú để lại ấn tượng sâu sắc càng dễ nhớ

+ Tài liệu cũng sẽ dễ nhớ khi: có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, bổ ích; gây sự tranh cãi; có vấn đề giải quyết chưa trọn vẹn

3 Quy luật liên tưởng: Xét về bản chất, liên tưởng dựa trên khả năng quan sát tinh

vi, kết hợp các suy diễn để ghi nhận thông tin

Vận dụng quy luật này trong dạy học bài ôn, luyện tập hóa học:

- Muốn nhớ điều gì phải liên kết nó với cái khác Muốn nhớ nhanh, nhớ lâu phải thấu

hiểu vấn đề tìm ra các mối liên hệ: Liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới; Giữa các ý tưởng, các phần của kiến thức từng bài trong chương; Giữa kiến thức đã có và các vấn đề cần giải quyết trong thực tế cuộc sống và bài toán hóa học

- Muốn nhớ điều gì phải tìm ra mối liên hệ logic, theo trật tự giữa: Cấu tạo và tính chất của chất; Các chất có tính chất tương tự hay khác biệt nhau; Sự biến đổi từ chất này

sang chất khác mang tính quy luật

- Muốn nhớ điều gì trong một hệ thống phải phân loại chúng: Sự phân loại, sắp xếp

các vấn đề theo một trật tự nào đó hợp lí sẽ giúp cho sự ghi nhớ tốt hơn

4 Quy luật lặp lại: Ôn tập là cách để lưu giữ được kiến thức lâu bền trong trí nhớ

Muốn ghi nhớ được tốt nhất là lặp đi, lặp lại nhiều lần có chủ định nội dung cần nhớ

5 Quy luật kìm hãm: Sự ghi nhớ sau bao giờ cũng kìm hãm sự ghi nhớ trước Vì thế

muốn ghi nhớ tốt những nội dung quan trọng:

+ Cần quên đi những gì không cần thiết bằng cách không nhắc lại, gợi lại

+ Cần xác định rõ mức độ cần ghi nhớ đối với mỗi tài liệu

+ Lựa chọn kỹ nội dung kiến thức cần học thuộc lòng

1.4 T hực trạng dạy học bài luyện tập, ôn tập ơ trường trung học phổ thông

1.4 1 Mục đích khảo sát

- Nắm bắt được các PPDH mà các GV thường sử dụng khi dạy học kiểu bài ôn tập, luyện tập trong chương trình HHHC lớp 11 ban CB ở trường THPT

Trang 32

- Nắm được mức độ vận dụng các biện pháp của GV vào việc dạy các bài ôn tập, luyện tập trong chương trình HHHC lớp 11 NC ở trường THPT

1.4 2 Nội dung và phương pháp khảo sát

- Gởi “Phiếu tham khảo” việc dạy và học đến GV bộ môn hóa học ở 08 trường THPT tại TPHCM Số phiếu tham khảo được gởi đi là 70 Có 63 phiếu tham gia ý kiến GV được phản hồi

Bảng 1.3 Số GV tham gia ý kiến ở các trường

1 Trường THPT Nguyễn Trung Trực (Gò Vấp) 10

Với các nội dung:

+ Những nội dung về việc dạy học bài luyện tập

+ Mức độ sử dụng các PPDH khi dạy học kiểu bài ôn, luyện tập

- Trao đổi với BGH các trường trên để nắm bắt tình hình chung về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, phương tiện dùng cho hoạt động giảng dạy

- Tiếp xúc và trò chuyện với GV dạy hóa học ở từng trường để nắm bắt được phương pháp giảng dạy của GV và tình hình học tập của HS

1.2 Tăng cường thêm để đáp ứng với yêu cầu về mức độ 33 55

Trang 33

tiếp thu bài còn chậm của HS

1.3 Giảm bớt tiết luyện tập, tăng cường tiết dạy các bài lý

Kết quả trên cho thấy số GV thực hiện đúng theo phân phối chương trình chiếm tỉ lệ

không cao Đa số GV muốn tăng cường thêm tiết luyện tập để đáp ứng với yêu cầu về mức

độ tiếp thu bài còn chậm của HS hiện nay Việc giảm bớt tiết luyện tập không được GV hưởng ứng, chứng tỏ tiết luyện tập là cần thiết Nhờ tiết luyện tập GV giúp HS, nhất là HS yếu nắm vững bài học, biết cách vận dụng giải quyết các bài tập

Câu 2 Theo thầy (cô) dung lượng kiến thức cả hai phần ôn tập kiến thức cần nắm vững và bài tập trong tiết luyện tập phần hữu cơ SGK 11 CB là:

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát nội dung 2

kiến thức cần nắm vững và bài tập trong tiết luyện tập phần hữu cơ 11 CB trong SGK hiện nay cần được xem xét lại

Câu 3 Nội dung phần kiến thức ôn tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu

cơ 11 CB hiện nay có phù hợp với với mục tiêu dạy học không?

Bảng 1.6 Kết quả khảo sát nội dung 3

3 Còn dàn trải, cần thiết kế lại, xoáy vào trọng tâm hơn 18 30

Trang 34

5 Một số tiết đã đầy đủ trọng tâm, một số tiết cần thiết kế

Kết quả khảo sát cho thấy đa số (80%) GV đánh giá nội dung phần kiến thức ôn tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 CB như SGK hiện nay còn dàn trải, chưa xoáy

vào trọng tâm và cần thiết kế lại cho phù hợp

Câu 4 Các dạng bài tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 CB hiện nay đã được xây dựng:

Bảng 1.7 Kết quả khảo sát nội dung 4

3 Đầy đủ nhưng không theo trình tự các vấn đề, cần sắp

4 Một số dạng bài không cần thiết cần thay đổi để phù hợp

Bảng kết quả khảo sát cho thấy nội dung này có sự phân hóa trong cách đánh giá của

GV Về cơ bản các dạng bài tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 CB hiện nay là

chưa đầy đủ cần bổ sung và sắp xếp lại theo một trình tự hợp lý

Câu 5 Thời gian thực hiện một tiết luyện tập cho hai phần: kiến thức và bài tập tương ứng nên theo tỉ lệ:

Bảng 1.8 Kết quả khảo sát nội dung 5

Trang 35

Câu 6 Thầy (cô) thực hiện phần kiến thức cần nắm vững trong sách giáo khoa hiện nay như thế nào?

Bảng 1.9 Kết quả khảo sát nội dung 6

1 Do chỉ lặp lại những nội dung đã học kỹ trước đó

2

Rõ ràng, đầy đủ nên GV chỉ cần xây dựng hệ thống

câu hỏi rồi giao cho nhóm trưởng kiểm tra các thành

viên

3

Chưa rõ ràng, đầy đủ nên cần phải soạn lại, bổ sung

một số vấn đề còn thiếu trong SGK rồi phát cho học

sinh về nhà tự ôn

4 Dùng phiếu học tập, tổ chức thảo luận nhóm để ôn

Phần này, nhiều GV cho rằng chỉ cần xây dựng hệ thống câu hỏi rồi giao cho nhóm trưởng kiểm tra các thành viên Đồng thời nên dùng PHT, tổ chức cho HS phát huy hoạt động nhóm để ôn tập theo nội dung SGK và phần bổ sung

Câu 7 Cách thức thầy (cô) sử dụng bài tập trong tiết ôn - luyện là:

Bảng 1.10 Kết quả khảo sát nội dung 7

1 Chỉ cho học sinh làm bài tập trong sách giáo khoa 6 10

2 Cho HS làm một số bài tập trong SGK và tăng cường

3 Xây dựng bài tập mới tương tự bài tập SGK để HS rèn

4 Ra bài tập mới, khó để kích thích học sinh khá, giỏi và

Căn cứ bảng kết quả khảo sát, đa số GV đồng tình với phương án (2) Phương án (1)

và (3), (4) chỉ một thiểu số GV ủng hộ Điều này chứng tỏ việc kết hợp hài hòa giữa khai thác bài tập SGK với tăng cường một số bài tập khác ngoài SGK là hợp lý Bên cạnh đó,

Trang 36

Chưa khi nào thực hiện: 1 ; Đôi khi có thực hiện: 2 ; Thường xuyên thực hiện: 3

Câu 8 Việc chuẩn bị ở nhà của thầy (cô) đối với tiết ôn – luyện:

Bảng 1.11 Kết quả khảo sát nội dung 8

TT Các nội dung Tỉ lệ % theo từng mức độ

1 Xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng và bài tập phát

2 Sắp xếp hệ thống bài tập theo trình tự từ thấp đến cao

3 Chuẩn bị các loại bảng phụ để hướng dẫn HS ôn và

Kết quả trên cho thấy đối với tiết ôn, luyện tập việc chuẩn bị ở nhà của GV còn nhiều

bất cập, chưa đồng bộ Nhiều GV dựa vào sách hướng dẫn GV để soạn giảng Các phương

án (1), (3) và (4) mức độ GV thường xuyên thực hiện còn rất thấp

Câu 9 Thầy cô thường yêu cầu HS chuẩn bị gì cho tiết ôn - luyện?

Bảng 1.12 Kết quả khảo sát nội dung 9

TT Các nội dung

Tỉ lệ % theo từng mức độ

1 Ôn tập theo câu hỏi định hướng và bài tập do giáo viên phát

2 Tự thiết lập grap ôn tập theo mẫu của GV cung cấp 20.0 73.3 6.7

3 Sử dụng phần mềm MindManager tự ôn tập lý thuyết 80.0 13.3 6.7

4 Giải đầy đủ các bài tập ở SGK và sách bài tập CB lớp11 6.7 40.0 53.3

5 Chỉ giải một số bài tập do giáo viên yêu cầu 0.0 46.7 53.3 Căn cứ vào bảng kết quả khảo sát, nhận thấy:

Trang 37

- Việc chuẩn bị ở nhà của HS theo phương án (1) thấp GV hướng dẫn HS ôn tập theo phương pháp grap không nhiều HS chưa biết đến khái niệm sơ đồ tư duy, phần mềm Mindjet Mindmanager chiếm tỉ lệ cao

- Việc giải đầy đủ các bài tập ở SGK và sách bài tập lớp 11 CB thường xuyên, HS thực hiện chưa tốt Số HS chỉ giải một số bài tập do giáo viên yêu cầu ở mức độ 3 là không nhiều Như vậy, thực tế để đảm bảo yêu cầu “giải đầy đủ các bài tập” không phải HS nào cũng thực hiện được và không phải GV nào cũng đặt ra yêu cầu HS thực hiện GV còn chưa kích thích được HS tham gia tích cực vào việc chuẩn bị bài ở nhà

Câu 10 Cách thức thầy cô thực hiện tiết luyện tập, ôn tập trên lớp:

Bảng 1.13 Kết quả khảo sát nội dung 10

TT Các nội dung Tỉ lệ % theo từng mức độ

1 Sử dụng phần mềm PowerPoint để soạn giảng 26.7 60.0 13.3

2 Xây dựng Grap nội dung giúp HS ôn tập lý thuyết 33.3 60.0 6.7

3 Hướng dẫn HS dùng phần mềm Mindjet Mindmanager để ôn

4 Dùng PHT, tổ chức cho HS học tập theo nhóm 13.3 66.7 20.0

5 Sử dụng bài tập theo dạng hoặc theo chủ đề 6.7 53.3 40.0

6 Dùng phương pháp Algorit để hướng dẫn học sinh luyện giải

còn hạn chế Hầu như GV còn giảng dạy theo kiểu truyền thống, chưa vận dụng các PPDH

và khai thác phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại phù hợp với giờ ôn, luyện tập

Câu 11 Đối với tiết ôn tập cuối học kì II, quý thầy, cô tiến hành theo kiểu

Bảng 1.14.Kết quả khảo sát nội dung 11

TT Các nội dung Tỉ lệ % đối với

từng mức độ

Trang 38

3 Yêu cầu HS tự ôn tập theo các nội dung của tiết

4 Soạn đề cương ôn tập và hướng dẫn học sinh

5 Sắp xếp, phân dạng bài tập và hướng dẫn HS luyện

Tóm lại, kết quả khảo sát cho thấy đa số GV chưa hài lòng với cấu trúc chương trình của SGK hiện nay Về phương pháp giảng dạy, GV chưa thực sự đầu tư đúng mức

Kết luận chương 1

Về mặt cơ sở lý luận, chúng tôi đã nghiên cứu, đúc kết thành hệ thống các vấn đề liên quan để có cái nhìn bao quát giúp soi sáng thực tiễn và làm cơ sở cho những biện pháp sẽ đề xuất sau này

Phần tìm hiểu về tính tích cực nhận thức giúp chúng tôi nắm được mặt chủ quan của đối tượng, đó là tâm lí HS Hiểu được những đặc điểm cũng như các yếu tố của tính tích cực nhận thức là cơ sở để chúng tôi đề xuất và xây dựng các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của HS nói chung và trong giờ luyện tập, ôn tập nói riêng

Trang 39

Qua phần bài ôn, luyện tập trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 CB ta thấy được vị trí, mức độ, dung lượng, thời lượng của nó trong tương quan với các phần khác của chương trình Nhờ đó, chúng ta dễ dàng xây dựng cấu trúc bài giảng sao cho phù hợp và bảo đảm đúng các yêu cầu để hoàn thành tiết dạy

Tìm hiểu về các phương pháp dạy học cơ bản trong giờ luyện tập, ôn tập cho chúng tôi cái nhìn bao quát về các phương pháp nền tảng Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn lựa, kết hợp hài hòa các phương pháp này với các phương pháp dạy học tiên tiến nhằm thiết kế được những giờ luyện tập, ôn tập sinh động và hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, giúp HS thêm say mê, hứng thú môn học

Thông qua nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ luyện tập, ôn tập:

sự chuẩn bị của GV-HS; tâm lí lĩnh hội kiến thức và trí nhớ của HS…chúng tôi thấu hiểu và

nỗ lực bám sát cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các yếu tố này; đó là tiền đề xây dựng thành công tiết học luyện tập, ôn tập

Từ cơ sở lý luận có được, chúng tôi tìm hiểu thực trạng thông qua khảo sát, điều tra ở

11 nội dung và kết quả ghi nhận được cho thấy thực tế ở nhiều trường THPT trên địa bàn

TP HCM, việc thực hiện tiết ôn, luyện tập đối với phần hóa hữu cơ lớp 11 CB của đa số GV cần được quan tâm hơn Vì thế, chúng tôi cố gắng đề ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ luyện tập, ôn tập được trình bày ở chương tiếp theo

Trang 40

C HƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG CÁC BÀI LUYỆN TẬP, ÔN

TẬP

2.1 C ơ sở khoa học của các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài luyện tậP, ôn tập

2.1.1 Các nguyên tắc của việc dạy học [20]

Để đạt được hiệu quả dạy học, hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của

HS phải quán triệt hệ thống chỉ đạo nhất định phù hợp với tính qui luật của quá trình dạy học, đó là các nguyên tắc của việc dạy học Các nguyên tắc của việc dạy học chỉ đạo việc lựa chọn và phối hợp nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học Nó chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy học, đảm bảo cho việc vận động, phát triển hợp qui luật nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Theo các nhà lí luận dạy học, có các nguyên tắc dạy học:

- Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Nguyên tắc đảm bảo giữa cái cụ thể và cái trừu tượng

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

và tính mềm dẻo của tư duy

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người thầy và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học

Như vậy, việc đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập phải tuân theo các nguyên tắc trên đây mới đáp ứng được sự phát triển và hoàn thiện cả về tri thức lẫn nhân cách trong việc giáo dục và đào tạo con người

2.1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học [12]

PPDH hóa học một mặt tuân theo quy luật chung của PPDH Mặt khác, PPDH hóa học có những nét đặc trưng riêng mà PPDH bộ môn khác không có Có thể nêu lên hai đặc trưng cơ bản sau:

- Những đặc trưng của PPDH hóa học phải được phản ánh vào trong PPDH hóa học

Đó là phải kết hợp thống nhất phương pháp thực nghiệm – thực hành với tư duy khái niệm,

đó là phương pháp học tập có lập luận trên cơ sở thí nghiệm trực quan

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Văn Biều (2005), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2005
2. Trịnh Văn Biều (2005), Lí luận dạy học hoá học, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hoá học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2005
3. Trịnh Văn Biều (2006), Các phương pháp dạy học hiệu quả, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2006
4. Tony Buzan (2006), Bản đồ tư duy, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học lớp 11, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
7. N guyễn Cương (2009), Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học - Một số vấn đề cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học - Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: N guyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
8. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn Thị Sửu (1995), Phương pháp dạy học hoá học - tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hoá học - tập 1
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
9. Lê Thị Kim Dung (2008), Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung hóa học góp phần giáo dục toàn diện học sinh trung học phổ thông, Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung hóa học góp phần giáo dục toàn diện học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Lê Thị Kim Dung
Năm: 2008
10. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức (1995), Giáo Dục học đại cương , ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Dục học đại cương
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức
Năm: 1995
11. Nguyễn Thị Khoa (2009), Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học hoá học ở Trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học hoá học ở Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Khoa
Năm: 2009
12. Trang Thị Lân (2004), Phương pháp dạy học hóa học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học
Tác giả: Trang Thị Lân
Năm: 2004
13. Lê Nguyên Long (1999), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Lê Nguyên Long
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
14. Phan Thanh Long (10/2010), Một số kĩ thuật khi sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học, Tạp chí Giáo dục số 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kĩ thuật khi sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học
15. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
16. Trần Trung Ninh, Đinh Thị Nga (2008), “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ luyện tập hóa học hữu cơ 11 - ban nâng cao”, Tạp chí hóa học và ứng dụng, số 7(79), tr. 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ luyện tập hóa học hữu cơ 11 - ban nâng cao”, "Tạp chí hóa học và ứng dụng
Tác giả: Trần Trung Ninh, Đinh Thị Nga
Năm: 2008
17. Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu (2006), Phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình sách giáo khoa hoá học phổ thông, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình sách giáo khoa hoá học phổ thông
Tác giả: Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu
Năm: 2006
18. Karen. Osterman – Robert B. Kottkamp (2006), Phương pháp tư duy dành cho nhà giáo dục, người dịch: Phạm Thị Kim Yến – Nguyễn Đào Quý Châu, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tư duy dành cho nhà giáo dục
Tác giả: Karen. Osterman – Robert B. Kottkamp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2006
19. Geoffrey Petty (2008), Dạy học ngày nay , NXB Stanley Thomes Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngày nay
Tác giả: Geoffrey Petty
Nhà XB: NXB Stanley Thomes
Năm: 2008
41. 2TU http://giaoan.violet.vn U2T 42. 2TU http://chungta.com U2T Link
44. 2TU http://www.dayhocintel.net/diendan/showthread.php?t=3407 U2T 45. 2TU http://community.h2vn.com/index.php?topic=566.75U2T Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Số GV tham gia ý kiến ở các trường - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.3. Số GV tham gia ý kiến ở các trường (Trang 32)
Bảng 1.6. Kết quả khảo sát nội dung 3 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.6. Kết quả khảo sát nội dung 3 (Trang 33)
Bảng 1.7. Kết quả khảo sát nội dung 4 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.7. Kết quả khảo sát nội dung 4 (Trang 34)
Bảng 1.9. Kết quả khảo sát nội dung 6 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.9. Kết quả khảo sát nội dung 6 (Trang 35)
Bảng 1.13. Kết quả khảo sát nội dung 10 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.13. Kết quả khảo sát nội dung 10 (Trang 37)
Hình 2.2. SĐTD bài: - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.2. SĐTD bài: (Trang 48)
Hình 2.3 . SĐTD bài: Ankan - Xicloankan - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.3 SĐTD bài: Ankan - Xicloankan (Trang 49)
Hình 2.4.   SĐTD bài: Anken - Ankadien - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.4. SĐTD bài: Anken - Ankadien (Trang 50)
Hình 2.5. Grap bài  ôn tập hệ thống hóa về hidrocacbon - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.5. Grap bài ôn tập hệ thống hóa về hidrocacbon (Trang 53)
Hình 2.6 . Ô chữ hidrocacbon - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.6 Ô chữ hidrocacbon (Trang 63)
Hình 2.7 . Ô chữ hoá hữu cơ lớp 11  2.2.7.3.  Trò chơi tiếp sức xây dựng chuỗi biến hóa - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 2.7 Ô chữ hoá hữu cơ lớp 11 2.2.7.3. Trò chơi tiếp sức xây dựng chuỗi biến hóa (Trang 64)
Bảng 2.2. Phương pháp nhận biết lọ hóa chất mất nhãn trong HHC lớp 11 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 2.2. Phương pháp nhận biết lọ hóa chất mất nhãn trong HHC lớp 11 (Trang 117)
Hình 3.1 . Đồ thị đường luỹ tích bài KT 1          Hình 3.2. Biểu đồ phân loại HS bài KT 1 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài KT 1 Hình 3.2. Biểu đồ phân loại HS bài KT 1 (Trang 127)
Bảng 3.5.  Phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 (Trang 127)
Bảng 3.8. Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm - một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.8. Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm (Trang 128)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w