Từ những bức xúc về thực tiễn dạy và học ở nhà trường và do yêu cầu cần đào tạo ra những con người lao động, năng động và sáng tạo, chúng tôi đã chọn đề tài "Một số biện pháp quản lý hoạ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
… 0O0…
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Tuấn Lộ
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành c ảm ơn phòng Khoa học công nghệ -Sau đại học, trường đại học
Sư phạm thành phô" Hồ Chí Minh và cắc thầy cô đã hết lòng giảng dạy, truyền thụ những
ki ến thức rất cần thiết; bổ ích cho công việc và cho cuộc sống của những người học viên lớp Cao h ọc Quản lý Văn hóa - Giáo dục, khóa li chúng tôi
Đặc biệt là những lời biết ơn sâu sắc về công lao dìu dắt, sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình c ủa thầy giáo, người hiũỹng dẫn khoa học - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Lộ đã giúp tôi hoàn thành b ản luận văn tốt nghiệp này
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
B ẢNG NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 6
PH ẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do ch ọn đề tài 7
2 M ục đích nghiên cứu 9
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9
6 Gi ới hạn của đề tài 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - H ỌC 12
1.1 T ổng quan về vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1 Khái ni ệm về quá trình dạy học 13
1.2.2 Khái ni ệm về hoạt động dạy 15
1.2.3 Khái ni ệm về hoạt động học 16
1.2.4 B ản chất của quá trình dạy học 17
1.3 Lý lu ận về phương châm "phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học " hay tư tưởng "lấy người học làm trung tâm " 18
1.3.1 Cơ sở khoa học của hoạt động nhận thức 18
1.3.2 H ọc là hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo của người học 20
1.4 M ột số vấn đề về quản lý hoạt động dạy - học 23
1.4.1 Khái ni ệm, chức năng và vai trò của quản lý 23
1.4.2 V ề quản lý hoạt động dạy - học 25
Trang 41.4.3 H ệ thống các biện pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động
và sáng t ạo của sình viên 26
1.5 K ết luận chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III 30
2.1 Vài nét v ề trường CĐ GTVT III 30
2.1.1 Sơ lược vê lịch sử hình thành và phát triền 30
2.1.2 M ục tiêu đào tạo và nội dung, chương trình dạy học 31
2.1.3 V ề cơ cấu tổ chức công tác đào tạo 31
2.1.4 Đối tượng và lưu lượng đào tạo 33
2.2 Th ực trạng quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên ồ trường CĐ GTVT III 33
2.2.1 V ề quản lý hoạt động dạy - học 33
2.2.2 V ề hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên 34
2.2.3 V ề hoạt động học tập của sinh viên 42
2.3 Một số nguyên nhân 49
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 49
2.3.2 Nguyên nhân ch ủ quan 49
2.4 Kết luận chương 2 50
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH C ỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CĐ GTVT III 51
3.1 Tăng cường và đối mới quản lý quá trình dạy - học 51
3.1.1 Đổi mời nhận thức của người quản lý 51
3.1.2 Đổi môi phương pháp quản lý 52
3.1.3 Tăng cường vai trò quản lý trong quá trình dạy học 52
3.1.4 Xây d ựng cơ chế, chính sách và các hoạt động để phát triển phương pháp dạy h ọc nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học 54
3.2 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy 55
Trang 53.2.1 Đổi mới quan niệm và phương pháp dạy học cho đội ngũ giáo viên 55
3.2.2 T ể chức bồi dương kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên 57
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá phân loại giáo viên theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy 60
3.3 Tăng cường quản lý hoạt động học 61
3.3.1 Xác định mục đích và xây dựng động cơ, thái độ học tập 61
3.3.2 B ồi dưỡng và rèn luyện cho sinh viên một số kỹ năng tự học cơ bản tạo điều ki ện để các em học tập tích cực, chủ động và sáng tạo 61
3.3.3 Tăng cường tể chức và quản lý hoạt động tự học của sinh viên 63
3.4 Tăng cường quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 64
3.4.1 Chu ẩn hóa các điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo hoạt động dạy - học theo hưởng nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo 64
3.4.2 Tăng cường khai thác, cải tiến trang thiết bị dạy học theo hướng nâng cao tính tích c ực, chủ động và sáng tạo cho sinh viên 65
3.5 Kết luận chương ra 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 72
Trang 6B ẢNG NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
CĐ GTVT HI: Cao đẳng Giao thông Vận tải IU
THGTVT: Trung học Giao thông Vận tải
TCN: trước Công nguyên
CNH - HĐH: công nghiệp hóa - hiện đại hóa
GTVT: Giao thông Vận tải
PTTH: phổ thông trung học
SV: sinh viên
GV: giáo viên
ĐT: đào tạo
Trang 7PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nhân loại đang bước từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin với những biến đổi cực
kỳ nhanh chóng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ Kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với hàm lượng tri thức cao và có vai trò quyết định trong các sản phẩm Toàn cầu hóa là xu thế chung của thời đại trong đó các dân tộc cùng bắt tay để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại như: nghèo đói, ô nhiễm môi trường, bệnh
đặc trưng của xã hội học tập tương lai và có tính định hướng cho giáo dục của thế kỷ sắp tới;
với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người đã được
đề cập như phương châm cho giáo dục của thế kỷ XXI [29] Xuyên suốt trong bản Báo cáo là vai trò của người học trong quá trình giáo dục Điều đó đã khẳng định giáo dục phải quan tâm đến hoạt động học tập của người học, để chính họ là chủ thể quyết định quá trình phát triển
của chính mình
Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm và coi trọng đến sự nghiệp phát triển giáo
dục và đào tạo (GD&ĐT) của đất nước, với quan điểm chỉ đạo "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu", "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển" Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương, khóa VIII đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
Trang 8lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" - Điều 4, Luật Giáo dục [6] Người dạy là người làm
chức năng khuyến học, dạy các cách học cho trò tự học chữ, học nghề, tự học nên người trí
thức phát triển toàn diện
Những vấn đề trên đòi hỏi phải thay đổi tư duy kịp thời, từ cách nhìn, tầm nhìn đến
những yêu cầu rất cao về sự thích nghi Trong khi đó, chất lượng giáo dục và đào tạo của chúng ta hiện nay còn rất nhiều hạn chế Trong Báo cáo của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày trước Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XI (10/2003) có đoạn viết:
"Điều làm xã hội lo lắng là chất lượng giáo dục từ phổ thông tới đại học nhìn chung còn thấp, cách dạy và học còn nặng về thuộc lòng, rất kém tính sáng tạo và năng lực thực hành; bệnh
chạy theo thành tích rất nặng Cơ cấu và chất lượng đào tạo chưa có chuyển biến rõ rệt, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [30] Đó là những vấn đề cấp bách và rất cần
sự quan tâm của ngành Giáo dục, của mọi người và của toàn xã hội
Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải III (CĐ GTVT III) có nhiệm vụ đào tạo cán
bộ có trình độ cử nhân cao đẳng và các trình độ thấp hơn; nghiên cứu ứng dụng khoa
học - công nghệ với quy mô khoảng 1.000 -1.200 sinh viên / năm Nhà trường đã góp
phần làm thay đổi và đem lại hiệu quả đáng kể cho các đơn vị xây dựng, sản xuất kinh doanh trong ngành Giao thông vận tải các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, trong công tác đào tạo của nhà trường, quan điểm "lấy người học làm trung tâm" vẫn chưa được chú
trọng đúng mức; trong giảng dạy, hiện tượng "thầy giảng, trò ghi" vẫn còn phổ biến
Sự quan tâm đầu tư của đội ngũ giáo viên nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên còn nhiều hạn chế
Từ những bức xúc về thực tiễn dạy và học ở nhà trường và do yêu cầu cần đào tạo
ra những con người lao động, năng động và sáng tạo, chúng tôi đã chọn đề tài "Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hưởng nâng cao tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của sinh viên của Trường Cao đẳng Giao thông vận tải III" làm đề tài của luận văn tốt nghiệp với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé cho việc cải
tiến và nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường mà chúng tôi đang làm việc, công tác
Trang 92 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về dạy học, quản lý hoạt động dạy học, các cơ chế tâm lý trong quá trình học tập và trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động
dạy học của trường CĐ GTVT III; chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu của mình
là đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trường CĐ GTVT III trong học tập
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên đang giảng dạy và
học tập tại trường CĐ GTVT III
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý việc dạy của giáo viên và việc học của sinh viên nội khóa và ngoại khóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho sinh viên
4 Giả thuyết khoa học
Nếu có các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với mục tiêu và nội dung đào tạo cũng như đặc điểm của sinh viên và giáo viên trường CĐ GTVT III, thì
sẽ nâng cao được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trong học tập
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về quá trình dạy - học "lấy người học làm trung tâm", về
hoạt động học tập mang tính tích cực, chủ động và sáng tạo phù hợp với đặc điểm dạy - học của trường CĐ GTVT III
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giảng dạy, học tập ở trường CĐ GTVT III
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập
6 Gi ới hạn của đề tài
Nghiên cứu hoạt động giảng dạy và học tập của tập thể giáo viên và sinh viên (chủ
yếu là sinh viên hệ cao đẳng) trường CĐ GTVT III trong những năm gần đây
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 10Nghiên cứu tài liệu, sách báo, báo cáo tổng kết, sản phẩm của quá trình học tập liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực tế quản lý quá trình giảng dạy, học tập ở trường CĐ GTVT III
- Điều tra bằng phiếu câu hỏi đối với tập thể giáo viên, sinh viên trường CĐ GTVT III về hoạt động dạy - học (chủ yếu là điều tra về phương pháp dạy học) nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên
- Quan sát: tinh thần học tập, ý thức xây dựng bài trên lớp và các biểu hiện về động
cơ, thái độ học tập đặc biệt là phương pháp học của sinh viên
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY VÀ HỌC
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2 Bản chất của quá trình dạy - học
1.3 Lý luận về xu hưởng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động dạy - học
1.5 Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG CĐ
GTVT III
2.1 Vài nét về trường CĐ GTVT III
2.2 Thực trạng quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng
tạo ở trường CĐ GTVT III
2.3 Một số nguyên nhân
2.4 Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO TÍNH
TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CĐ
GTVT III
3.1 Tăng cường và đổi mới quản lý hoạt động dạy - học
3.2 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy
3.3 Tăng cường quản lý hoạt động học
3.4 Tăng cường quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Trang 113.5 Kết luận chương 3
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY -
HỌC
1.1 T ổng quan về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp dạy học "lấy người học làm trung tâm" được hình thành từ rất sớm Nhà triết học cổ đại Socrate (469-399 TCN) đã đề xuất "phương pháp đỡ đẻ", đó là phương pháp dạy học: người thầy đưa ra các câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề và nhờ sự giúp đỡ của thầy, người học chiếm lĩnh được tri thức
mới Nhà giáo dục học vĩ đại người Trung Hoa - Khổng Tử (551-479 TCN) rất coi
trọng mặt suy nghĩ tích cực của người học, Ông nói: "Không giận vì muốn biết thì
không g ợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho bi ết ba góc mà không suy nghĩ ra góc kia thì không dạy nữa" Trong hệ thống các
nguyên tắc dạy học của Nhà giáo dục Tiệp Khắc LA Kômenxki (1592-1670) đã có
những biện pháp dạy học nhằm làm cho học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm được
bản chất của sự vật hiện tượng Nguyên tắc giáo dục của John Locke (1632-1704) là: "Không được nhồi nhét điều gì vào trí nhớ của trẻ mà vốn chúng không thích thú
Th ầy giáo cần khơi dậy ở trẻ lòng ham mê say sưa của trẻ, qua đó hướng trẻ đến với tri th ức Phải phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và chủ động trong học tập ở
tr ẻ" J.J Ruxô (1712-1778) cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành kiến
thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo Đó chính là những phương pháp dạy
học tích cực nhằm biến hoạt động của thầy thành hoạt động của trò và sau khi tích cực
hoạt động thì trò nhận thức được các quy luật của tự nhiên [1]
Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh dần được phát triển và hoàn thiện ở các nước phương Tây (Mỹ, Pháp ) nhất là từ nửa sau
của thế kỷ XX, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [40]
Ở nước ta, bàn vê phương pháp dạy - học, Bác Hồ đã dạy "Về cách học phải lấy
t ự học làm cốt” Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu: "Ngành giáo dục và đào tạo phải
v ũ trang cho mình phương pháp giảng dạy, phát huy vai trò chủ động của người học,
gi ải đáp tốt bốn câu hỏi: dạy ai, dạy cái gì, dạy như thế nào, dạy để làm gì ?" [11] Vào
những năm 1995 - 1996, trong ngành Giáo dục đã xuất hiện mệnh đề "Phương pháp
giáo d ục lấy người học làm trung tâm" và đã có nhiều công trình nghiên cứu về
Trang 13phương pháp dạy học tích cực này như các tác phẩm: "Phương pháp giáo dục tích cực
l ấy người học làm trung tâm", "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học" của TS
Nguyễn Kỳ, "Học và dạy cách học" của các tác giả GS Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên),
TS Nguyễn Kỳ, TS Lê Khánh Bằng, TS Vũ Văn Tảo; "Những vấn đề cơ bản Giáo dục
h ọc hiện đại" của TS Thái Duy Tuyên, "Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm" của GS Trần Bá Hoành (Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng hoạt động hóa người học, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chương trình KHCN cấp Bộ "Phương pháp dạy học", Hà Nội, 1995) Và rất nhiều ý kiến đóng góp
của các nhà khoa học, nhà giáo, người dân có tâm huyết về phương pháp giảng dạy mới
trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, như: "Đổi mới phương pháp dạy
và h ọc là một chìa khóa quan trọng của cải cách giáo dục" (GS Nguyễn Như Ý,
báo Nhân dân, 10.7.98); "D ạy học là phải dạy cách tư duy, phát triển được tư duy độc lập sáng t ạo ở học sinh, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo" (Nguyễn Xuân Huỳnh,
báo Nhân dân, 24.6.98); "Cái đích của việc dạy là việc học, dạy cho trò vì trò chứ không phải
d ạy cho thầy, vì thầy Nên nói: phương pháp dạy học lấy việc học làm trọng" (Nguyễn Trọng
Di, báo Sài gòn giải phóng, 31.8.98); (Vũ Đình Cự (1999), Giáo dục hướng tới thế kỷ 21, Nxb
Chính trị quốc gia); "Nguồn gốc và những khía cạnh xã hội triết học cửa trào lưu giáo dục
hướng vào người học" (TS Đặng Thành Hưng, báo Văn nghệ ngày 18.5.2003)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của phương pháp
dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, như: các luận điểm
về học và về dạy làm cơ sở cho phương pháp dạy học mới; mục đích của phương pháp dạy học
mới là: dạy cho trò, vì trò; đề cập tới tư tưởng dạy học lấy "người học làm trung tâm"; thay đổi
tư duy biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, dạy học sinh cách học; tập trung các nguồn lực trong giáo dục nhằm phát huy nội lực của người học Dựa trên cơ sở những lý luận
đã nêu trên, luận văn sẽ đi sâu đề cập đến những biện pháp quản lý cụ thể nhằm phát huy tính tích cực; chủ động và sáng tạo trong học tập của sinh viên hệ Cao đẳng trường CĐ GTVT III 1.2 Bản chất của quá trình dạy - học.
1.2.1 Khái ni ệm về quá trình dạy học
Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm mà
xã hội tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất năng lực của
cá nhân [13]
Trang 14Phần kinh nghiệm xã hội (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ ) mà người học
muốn lĩnh hội được phải thông qua hoạt động dạy và học Hành động dạy học bao giờ cũng có
khởi đầu và kết thúc Chính vì vậy mà mỗi hoạt động dạy - học là một quá trình, đồng thời lại
là một thành phần của quá trình dạy học lâu dài hơn
- Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức: mục đích của dạy học là giúp cho người
học lĩnh hội được tri thức của nhân loại
- Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý: dạy học phải đi trước, thúc đẩy sự phát triển
của các chức năng tâm lý: ý chí, động cơ, thái độ học tập; cơ chế của hoạt động nhận
thức; phát triển và hoàn thiện nhân cách
- Quá trình dạy học là một quá trình xã hội: sự tương tác giữa người với người; nội dung
dạy học là tri thức của loài người; mục đích học tập do xã hội đề ra
Như vậy, ta có thể hiểu hoạt động dạy - học là sự luân phiên theo những quy luật của
hoạt động nhận thức Nó mang tính hai chiều và luôn phải có sự tác động qua lại giữa người
dạy và người học; sự tác động qua lại này được diễn ra trong những điều kiện xác định, bao
gồm: chương trình, nội dung, tài liệu, giảng dạy, tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ
Hoạt động dạy - học bao gồm hai hoạt động có quan hệ mật thiết với nhau; đó là hoạt động dạy của thầy nhằm chỉ đạo, tổ chức việc lĩnh hội nội dung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ và hoạt động học của trò nhằm tổ chức các điều kiện đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức,
kỹ năng và thái độ và chuyển chúng thành kinh nghiệm của bản thân
Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài người; theo quan điểm của lý thuyết
hoạt động nói chung thì dạy và học phải được xem như một hoạt động, trong đó mục đích, động cơ, nội dung, các phương thức hành động diễn ra trong sự căng thẳng nhất định của ý chí
cũng như những sức mạnh thể lực và trí tuệ nó bao gồm các yếu tố cấu thành như sau:
Y ếu tố mục đích của quá trình dạy học là sự nhận thức của thầy giáo và sự tiếp nhận của
học sinh về các mục đích và nhiệm vụ của việc học một bài, một chương hay một bộ môn nào
đó nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục do xã hội đề ra
Y ếu tố kích thích động cơ hóa đòi hỏi nhà sư phạm phải thực hiện những biện pháp
nhằm kích thích ở học sinh sự hứng thú, nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ học tập đã được đề
ra Hơn nữa sự kích thích đó còn phải làm nẩy sinh ở bên trong mỗi học sinh những động cơ
học tập tích cực Do đó, ý nghĩa của yếu tố này chính là ở sự thống nhất của việc kích thích và động cơ hóa hoạt động học tập của học sinh
Trang 15Y ếu tố nội dung dạy học được quy định bởi kế hoạch, chương trình và sách giáo khoa
do Bộ GD&ĐT quy định Nội dung của từng giờ học được giáo viên cụ thể hóa theo những nhiệm vụ đã được đề ra Theo những đặc trưng của môi trường kinh tế - xã hội và theo hứng thú học tập của học sinh
Y ếu tố thao tác - hành động phản ánh trực tiếp nhất tích chất quá trình của dạy học
Chính trong hoạt động của thầy và trò, trong sự tác động qua lại giữa họ, diễn ra theo thời gian
mà nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của học sinh được thực hiện Đó chính là các phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học
Y ếu tố kiểm soát - điều chỉnh đã đòi hỏi: phải thực hiện đồng thời việc kiểm tra quá
trình giải quyết các nhiệm vụ dạy học đối với người thầy và việc tự kiểm tra của người học đối
với mức độ lĩnh hội tài liệu học tập, tính chính xác của việc thực hiện các bài tập và bằng sự đánh giá của thực tế cuộc sống đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
Y ếu tố đánh giá hiệu quả của dạy và học đòi hỏi sự đánh giá của giáo viên và sự tự
đánh giá của học sinh về các kết quả đạt được trong quá trình dạy học, xác định sự phù hợp
của chúng với những nhiệm vụ đã đề ra, vạch ra nguyên nhân của các sự lệch lạc đã phát hiện được, đề ra những nhiệm vụ mới, sự cần thiết phải lấp các lỗ hổng trong kiến thức và kỹ năng
Tất cả các yếu tố trên đây của quá trình dạy - học đều có mối quan hệ qua lại theo những quy luật xác định Mục đích dạy - học quy định nội dung dạy học Mục đích và nội dung dạy
- học lại đòi hỏi những phương pháp, phương tiện và hình thức nhất định để kích thích và tổ
chức việc dạy - học Tiến trình dạy - học đòi hỏi phải được tiến hành kiểm tra thường xuyên
và được điều chỉnh để tìm ra phương án tối ưu nhằm đảm bảo đạt tới một kết quả nhất định
1.2.2 Khái ni ệm về hoạt động dạy
Ho ạt động dạy là hoạt động truyền thụ với nghĩa là tổ chức hoạt động học mà kết quả là
h ọc sinh lĩnh hội nội dung giáo dưỡng và giáo dục [13]
D ạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình sinh viên chiếm lĩnh trì thức (khái
niệm khoa học), trong và bằng cách đó hình thành và phát triển nhân cách [26]
Như vậy, bản chất của hoạt động dạy: là sự tổ chức nhận thức cho người học và giúp họ học tập tốt
Mục đích của dạy học là thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường Chức năng
của dạy học là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học
Trang 16Hoạt động dạy là hoạt động truyền thụ với nghĩa là tổ chức hoạt động học Thông qua hoạt động này, người học lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ; hoạt động này bao gồm cả khâu kiểm tra tiến trình và kết quả học tập của người học
Dạy học còn là hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên đối với hoạt động
nhận thức của người học nhằm hình thành cho người học thái độ, năng lực, phương pháp học tập để họ tự khai phá kiến thức
Hoạt động dạy bao gồm:
- Công việc chuẩn bị của giáo viên
- Công việc truyền đạt, tổ chức lĩnh hội tri thức
- Công việc nhằm đảm bảo mối liên hệ ngược (kiểm tra tiến trình và kết quả
hoạt động học)
Như vậy, nội dung của hoạt động dạy học bao gồm các mặt: nội dung, tâm lý, xã
hội và nhân cách; việc thực hiện quá trình này đòi hỏi phải có sự thể hiện tích cực của các chức năng tri giác, biểu cảm, giao tiếp, tổ chức và thiết kế của người dạy Thực
chất của quá trình dạy học là giúp đỡ người học tự học, kỹ thuật nghiên cứu, tự điều chỉnh
và suy cho cùng, chính người thầy đã giúp trò tự hiểu bản thân mình và phấn đấu để trò ngày càng tiến bộ
Chất lượng dạy học sẽ đạt hiệu quả cao khi có sự kết hợp biện chứng giữa hoạt động dạy
của thầy và hoạt động học của trò; trong đó sự nỗ lực của giáo viên được cộng hưởng cùng
một nhịp với sự tích cực của học sinh
1.2.3 Khái ni ệm về hoạt động học
Là ho ạt động của trò nhằm tổ chức các điều kiện đảm bảo cho sự lĩnh hội nội dung giáo dưỡng và giáo dục: tiếp nhận các tri thức, thái độ, kỹ năng và chuyển chúng thành vốn liếng kinh nghi ệm của bản thân [13]
Là quá trình t ự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển
sư phạm của thầy [26]
Bản chất của hoạt động học: là sự tiếp thu, xử lý thông tin bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ năng và thái độ mới
Mục đích của học là giúp người học chiếm lĩnh khái niệm khoa học nhằm phát triển trí
dục (nắm vững khái niệm), phát triển (tư duy khái niệm) và giáo dục (thái độ đạo đức)
Chức năng của hoạt động học là sự lĩnh hội và tự giác điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của người học
Trang 17Quá trình dạy học là một quá trình xã hội vì luôn có sự tương tác giữa con người với con người; nội dung dạy học là tri thức của loài người; mục đích học tập do xã hội đề ra Hoạt động học là hoạt động của người học nhằm lĩnh hội nội dung kinh nghiệm xã hội - đó là: tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ
Vấn đề tâm lý chủ yếu của học tập là xu hướng với các biểu hiện là: sự hứng thú,
niềm say mê, tính ổn định, tập trung tư tưởng, sự nỗ lực của ý chí, tính kiên trì, sự khắc
phục khó khăn, tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ học tập [38]
Suy cho cùng, lý do tồn tại của giáo dục là người học, là việc học Mục đích lớn
nhất, cơ bản nhất của quá trình giáo dục và đào tạo đó là: làm cho người học phải biết
tự thân vận động, phải phát huy hết nội lực, tích cực, chủ động tự học và sáng tạo trong
suốt quá trình học tập
Đặc trưng cơ bản của việc học là học tập suốt đời, dựa trên bốn trụ cột, đó là:
- Học để biết (learning to know)
- Học để làm (learning to do)
- Học để chung sống (learning to live together)
- Học để làm người (learning to be)
1.2.4 B ản chất của quá trình dạy học
Về mặt sư phạm, bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định tới
hành vi h ọc tập và quá trình học tập của người khác, tạo ta môi trường và những điều
ki ện để những người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và k ết quả học tập của mình [19] Dạy học chính là cơ cấu và quy trình
tác động đến người học và quá trình học Chủ thể dạy học là thầy giáo và bất kỳ người nào tiến hành bảo ban người khác học tập Vì thế, dạy học tức là dạy, bảo, chỉ dẫn
người học học Nếu dạy trẻ học, điều đó có nghĩa là: dạy trẻ muốn học (có nhu cầu học
t ập); dạy trẻ biết học (có kỹ năng và biện pháp học tập); dạy trẻ học lành mạnh (có động cơ học tập đúng đắn); dạy trẻ học bền bỉ (có ý chí học tập); dạy trẻ học thành
công (có k ết quả và chất lượng); dạy trẻ học chủ động và độc lập (có khát vọng và ý
th ức tự giấc học tập) Nếu làm được như vậy thì thầy giáo mới thật sự là thầy và học
sinh mới thật sự là người học
Trang 181.3 Lý lu ận về phương châm "phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học " hay tư tưởng "lấy người học làm trung tâm "
1.3.1 Cơ sở khoa học của hoạt động nhận thức
1.3.1.1 Cơ sở triết học
Theo Vi Lênin thì quy luật của hoạt động nhận thức luôn đi theo con đường: từ
trực quan sinh động tới tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng tới thực tiễn cuộc
sống và tuân theo quy luật chung nhất: quy luật phát triển của sự vật Chúng ta biết
rằng: ngoại lực dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy và tạo điều
kiện cho sự vật phát triển; còn nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân sự vật, sự phát triển này đạt đến trình độ phát triển cao nhất khi và chỉ khi ngoại
lực và nội lực cộng hưởng được với nhau
Trong quá trình dạy học, các phẩm chất năng lực tự học, tự suy nghĩ, tìm tòi kiến
thức chính là nội lực phát triển của người học; còn tác động dạy học của người thầy chỉ
là ngoại lực đối với sự phát triển của bản thân người học Ngoài ra, yếu tố môi trường
xã hội cũng là ngoài lực có tác dụng tới sự phát triển của người học Như vậy, trong quá trình dạy học, mối quan hệ giữa dạy và học về bản chất chính là mối quan hệ giữa nội
lực và ngoại lực; chất lượng dạy học chỉ được nâng lên khi người thầy bồi dưỡng và phát huy cao độ được khả năng tự học của trò nói cách khác, hiệu quả của hoạt động dạy - học đạt cao
nhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau Khi đó người học sẽ tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và có được những chuẩn
mực về thái độ đối với tự nhiên, xã hội, đối với người khác và đối với bản thân
1.3.1.2 Cơ sã tâm lý học
Như đã trình bày, quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt hoạt động,
đó là hoạt động của thầy và hoạt động học của trò Mà hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý con người, là phương thức tồn tại của cuộc sống chủ thể Trong quá trình dạy học, người học là chủ thể của chính hoạt động học tập của mình, còn bài học là đối tượng hoạt động
của họ; nhưng không phải tất cả các bài học đều là đối tượng hoạt động của người học ngay khi nó xuất hiện Chính vì vậy, dạy học phải tìm mọi cách để bài học thực sự trở thành đối tượng của người học; nghĩa là người dạy phải tạo ra cho người học có nhu cầu học tập (lúc đó
sẽ nẩy sinh ở người học động cơ học tập đúng đắn và khát vọng, ý thức tự giác trong học tập), người học phải biết cách học (có những kỹ năng tự học và những biện pháp tự học có hiệu
quả); lúc đó người học sẽ hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo trên đối tượng, và họ sẽ tìm
Trang 19hiểu, chiếm lĩnh đối tượng và cải biến đối tượng, biến nó thành kinh nghiệm của chính bản thân mình
Quá trình dạy học chính còn là quá trình điều khiển, tối ưu hóa sự nắm vững các tri thức khoa học, văn hóa của nhân loại; qua đó hình thành và phát triển nhân cách người học Nhân cách của mỗi con người (với quan điểm như vậy) chính là chất lượng tích hợp được của mỗi
cá nhân về các thuộc tính: nội cá nhân, liên cá nhân và siêu cá nhân; trong đó động lực để hình thành nhân cách chính là nhu cầu trở thành nhân cách
1.3.1.3 Cơ sở giáo dục học
Người thầy là người điều khiển quá trình dạy học, nhưng người học là chủ thể nhận thức
và cũng tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình Quá trình điều khiển của thầy có đem lại
hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào sự tiếp nhận của người học và quá trình này phải hướng đến tự phủ định mình, nghĩa là dạy học phải làm sao cho người học dần dần tự học tập, nghiên
cứu mà không cần thầy hướng dẫn nữa Như vậy, bản chất của dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học là làm sao xây dựng được mối quan hệ tối ưu
giữa hoạt động dạy của người thầy và lao động học tập của trò
Do đó, phải giải quyết vấn đề dạy học như thế nào để người học nắm được những tri
thức, kỹ năng một cách hoàn toàn tự giác, hứng thú và sáng tạo Chúng ta biết rằng, những kích thích bên ngoài luôn tác động đến người học thông qua những điều kiện bên trong, nghĩa
là thông qua những quan điểm, những tập quán của tư duy, những quan điểm thẩm mỹ Cho nên, khi điều khiển quá trình dạy học, người thầy không thể chỉ chú ý tới việc truyền thụ nội dung kiến thức, mà đặc biệt cần chỉ đạo tư tưởng, ý chí, tình cảm của người học đối với quá trình nhận thức; khêu gợi sự hoài nghi, suy nghĩ và sự nỗ lực của họ khi học tập Có như vậy
mới điều khiển được hoạt động nội tâm của họ và mới có tác dụng thực sự tới sự phát triển nhân cách của người học
Mặt khác, tư tưởng dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người
học cho rằng: con người vốn có sẵn tiềm năng, giáo dục cần và có thể giúp khai thác tối đa
tiềm năng đó, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo bằng cách tạo cho người học một môi trường học
tập thích hợp như hình thức tổ chức dạy học đa dạng; nội dung học tập phù hợp; quan hệ thầy
- trò theo tinh thần bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau và đều có cơ hội như nhau trong
học tập để học có thể tự do, tự giác, tự khám phá lấy tri thức cho mình
Trang 201.3.2 H ọc là hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo của người học
1.3.2.1 Tính tích c ực, chủ động nhận thức
"Tích c ực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến tích cực vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri
th ức để nâng cao hiệu quả học tập" [38] Tính tích cực học tập có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả học tập của người học Trong dạy học, tích cực hóa hoạt động học tập của người học là một hướng đổi mới đã được đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà lý luận và các
thầy cô giáo rất quan tâm và bàn tới ở nhiều khía cạnh khác nhau
Tính tích cực là trạng thái hoạt động của người hành động Tính tích cực nhận thức là
trạng thái hoạt động của người học được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng với nghị
lực cao trong quá trình nắm vững tri thức cho chính mình
Theo G.I.Sukina, trong học tập, tính tích cực được phân thành ba loại:
+ Tính tích cực bắt chước, tái hiện: xuất hiện do tác động bên ngoài (yêu cầu bắt buộc
của giáo viên), người học làm theo mẫu, nhằm chuyển đối tượng từ bên ngoài vào trong theo
cơ chế nhập nội Loại này phát triển mạnh ở học sinh tiểu học
+ Tính tích cực tìm tòi: đi liền với quá trình lĩnh hội khái niệm, giải quyết tình huống, tìm tòi các phương thức hành động với sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí
Loại này khả năng phát triển mạnh ở học sinh từ lớp 4, 5 trở lên, đặc biệt là học sinh khá
+ Tính tích cực sáng tạo: thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm
ra phương thức hành động của riêng và nó trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân Loại
này thường thấy ở học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu ở mọi cấp học, bậc học [22]
Tuy nhiên, cách phân loại trên còn hết sức khái quát Muốn đánh giá mức độ tích cực
của người học, giáo viên còn phải căn cứ vào các chỉ số như: kết quả học tập, sự chú ý và
hứng thú học tập, thời gian duy trì tính tích cực trong giờ học những chỉ số này cũng cần có
sự nghiên cứu tỷ mỷ để có thể vận dụng khi đánh giá
• Một vài đặc điểm về tính tích cực của học sinh:
Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và tự giác
Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ồ tính tò mò,
hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của mỗi người Chúng ta cần nuôi dưỡng, coi trọng và phát triển chúng trong quá trình dạy học
Trang 21Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý tích cực, có mục đích và đối tượng rõ
rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
Tính tích cực nhận thức phát sinh không phải chỉ từ nhu cầu nhận thức mà cả từ những nhu cầu bậc thấp như nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức, thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu vãn hóa Như vậy, hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng
Tính tích cực nhận thức và tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không
phải đồng nhất Có một số trường hợp, có thể tích cực học tập thể hiện ở sự tích cực bên ngoài,
mà không phải là tích cực trong tư duy Đó là điều cần lưu ý khi đánh giá tính tích cực nhận
thức của học sinh
• Về nguyên nhân của tính tích cực nhận thức:
Tính tích cực nhận thức của học sinh tuy nẩy sinh trong quá trình học tập, nhưng nó lại là
hậu quả của nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân xuất phát ương quá trình học tập, có
những nguyên nhân được hình thành trong quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách Nói chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau:
Để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì hứng thú là vấn đề đáng quan tâm nhất vì:
- Nó được hình thành ở học sinh một cách nhanh chóng và ở bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học
- Điều quan trọng hơn cả là người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua các yếu tố của quá trình dạy học: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình
thức tổ chức dạy học; qua các bước lên lớp, giảng bài mới, củng cố, vận dụng,
kiểm tra kiến thức; qua mối quan hệ thầy trò
• Kích thích hứng thú học tập của học sinh
Hứng thú là sự phản ánh thái độ của chủ thể đối với thực tiễn khách quan Đây là
sự phản ánh có chọn lọc, học sinh chỉ hứng thú những gì cần thiết, quan trọng, gắn liền
với kinh nghiệm và sự phát triển tương lai của họ Nói cách khác, muốn kích thích
Trang 22hứng thú thì điều quan trọng nhất là phải nắm được khả năng, nhu cầu, nguyện vọng và định hướng giá trị của học sinh [38]
1.3.2.2 B ản chất của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học
Qua phần lý luận ở trên, ta có thể hiểu bản chất của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực (active), chủ động (initiative) và sáng tạo (creativity) của người học được
thể hiện ở các điểm sau:
Việc dạy học phải xuất phát từ những nhu cầu, động cơ và điều kiện của bản thân người học Chúng ta cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của người học,
nhất là cần chú ý đến trình độ tư duy của họ Trong dạy học, không được bắt ép, gò bó một
lối suy nghĩ chung cho tất cả mọi người
Trong hoạt động nhận thức, người thầy không để người học bị động trong cách tiếp thu tri thức mà phải tạo các điều kiện thuận lợi để người học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo
Người thầy cần thường xuyên hướng dẫn người học tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động học tập của mình
Trong nhà trường, chúng ta cần thực hiện chế độ khuyến khích, khích lệ và khen thưởng động viên người học kịp thời khi họ thể hiện những cố gắng hoặc đạt được thành tích cao trong học tập
1.3.2.3 Nh ững phương hướng cơ bản phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo
gần gũi với sinh hoạt, ý nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của người học
3 Người thầy phải dùng các phương pháp dạy học đa dạng như: nêu vấn đề, thí nghiệm,
thực hành, so sánh, làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau Kiến thức phải
được trình bày ở dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau Những vấn đề quan
trọng, các hiện tượng then chốt cần có lúc diễn ra một cách đột ngột và gây được sự
bất ngờ cho người học
Trang 234 Trong dạy học, người thầy cần sử dụng các phương tiện dạy học: mô hình, học cụ, sơ
đồ, thí nghiệm minh họa, multimedia nhằm kích thích hứng thú học tập của người
học
5 Người thầy cần sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân hóa, dạy
học theo nhóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm thí nghiệm, thực hành tránh sự nhàm chán cho người học
6 Nhà trường cần xây dựng những chính sách nhằm động viên, khen thưởng khi người
học có thành tích học tập tốt
7 Người thầy cần tổ chức luyện tập cho học trò dưới các hình thức khác nhau nhằm vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, vào các tình huống mới
8 Kích thích tính tích cực của người học qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy và trò
9 Phát triển kinh nghiệm sống của người học trong học tập [38]
Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo một số nguyên tắc sau đây của Carl Rogers (nhà giáo
dục người Mỹ) để giúp sinh viên, học sinh học giỏi:
- "Người hướng dẫn cần quan tâm nhiều đến việc tạo ra một tinh thần hoặc một bầu không khí sơ khởi cho lớp học
- Người hướng dẫn phải làm hiện lộ và soi sáng các mục tiêu riêng của mỗi học viên trong lớp cũng như các mục tiêu chung của cả lớp
- Phải dựa vào ý muốn của mỗi học viên nhằm thực hiện những mục tiêu riêng kể trên như là một động lực cho việc học tập có ý nghĩa
- Phải có gắng tổ chức và giúp đỡ học viên sử dụng dễ dàng các tài liệu." [5]
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động dạy - học
1.4.1 Khái ni ệm, chức năng và vai trò của quản lý
1.4.1.1 Khái ni ệm và định nghĩa
Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần phối hợp những
nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Quá ưình tạo ra của cải vật chất và tinh
thần ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn với tính chất và độ phức tạp ngày càng cao, càng đòi hỏi sự phân công, hợp tác để liên kết mọi người trong tổ chức Chính từ sự phân công, chuyên môn hóa lao động đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt -lao động quản lý
Hoạt động quản lý cần thiết với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, trong mỗi quốc gia và trên toàn cầu
Trang 24Có nhiều định nghĩa về các khía cạnh khác nhau của quản lý, nhưng trong luận văn chỉ nêu một số định nghĩa tiêu biểu, đó là:
- Qu ản trị (quản lý) là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết
h ợp với nhau trong cấc tổ chức nhằm nhằm đạt những mục tiêu chung [35]
- Đỗ Hoàng Toàn cho rằng: "Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích
c ủa chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
th ống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường'' [34]
- Theo F.W Taylor: "Qu ản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [9]
Qua nghiên cứu các định nghĩa về quản lý, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa khái quát
về quản lý như sau:
Qu ản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con người [24]
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của quản lý, đó là:
- Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động
quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển (đạt được mục tiêu quản lý)
- Trong nội dung của khái niệm quản lý, yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay nhóm xã hội
- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, người cán bộ quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt và mềm dẻo để chỉ đạo
hoạt động của tổ chức nhằm đi tới đích đã đề ra
1.4.1.2 Các nhân t ố trong hoạt động quản lý
Trong quá trình quản lý có các nhân tố sau:
Kế hoạch hóa là việc xác định những mục tiêu và những quy định, thể thức, thời gian để đạt được những mục tiêu đó Kế hoạch hóa còn là bản hướng dẫn, để đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu; là cơ sở để giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu Như vậy, việc lập kế hoạch sẽ đi trước việc thực hiện các chức năng quản lý khác
Trang 25Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên trong tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Nhà quản lý cần lựa chọn cấu trúc hệ thống của tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có
Lãnh đạo là quá trình điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ làm việc dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Đó là quá trình làm việc với con người như một nghệ thuật sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức
Chức năng quản lý của công tác kiểm tra và đánh giá là đo lường và chấn chỉnh những công
việc đã và đang thực hiện nhằm bảo đảm rằng: các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch
ra để đạt tới các mục tiêu này đã, đang và sẽ được hoàn thành Nếu phát hiện có sự sai lệch thì
cần điều chỉnh hoạt động, trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu
1.4.1.3 M ục tiêu quản lý
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý hay
một số yếu tố cấu thành của nó
Mục tiêu quản lý không phải là năng suất hay chất lượng công tác của riêng một cá nhân hay một nhóm mà là năng suất hay chất lượng của cả hệ thống nhờ đó mà đạt được kết quả như mục tiêu chung đã đề ra
1.4.2 V ề quản lý hoạt động dạy - học
1.4.2.1 Qu ản lý giáo dục
"Qu ản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ
th ể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình d ạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái
m ới về chất" [23]
Hiểu cách khác thì: quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn
bộ hệ thống nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận
thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo
dục về sự phát triển thế lực, trí lực và tâm lý
Trang 261.4.2.2 Qu ản lý hoạt động dạy học
Chúng ta biết rằng: "Chất lượng trong lĩnh vực đào tạo được duy trì nếu như trường đại
học và cao đẳng xây dựng được các chương trình đào tạo với các chuẩn mực chất lượng nhất định, có các cấu trúc ra quyết định phù hợp và cung cấp các chương trình đào tạo theo các quy định đó" [27] Như vậy, chất lượng giáo dục nói chung chủ yếu là do các nhà trường tạo nên,
bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục chính là nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống giáo dục
Quản lý nhà trường được hiểu là:
- Tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh
và cán bộ nhân viên khác trong trường
- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là quá trình đào tạo các thế hệ học sinh thông qua quá trình dạy học -giáo dục
- Thực hiện có chất lượng mục tiêu về kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên
trạng thái mới
Quản lý nhà trường mang tính đặc thù riêng biệt, được thể hiện trước hết bởi bản chất
của quá trình dạy học và giáo dục, bởi sản phẩm của quá trình đào tạo (đó là nhân cách của người lao động có văn hóa) Hơn nữa trong nhà trường, bản chất của quá trình dạy học sẽ quyết định tính đặc thù của sự quản lý nhà trường Vì vậy, nắm chắc đặc thù này, người cán bộ
quản lý mới có thể đưa nhà trường tiến tới đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra [3]
Quản lý quá trình dạy học được phân thành hai quá trình cơ bản là:
- Quản lý quá trình dạy học trên lớp
- Quản lý quá trình dạy học ngoài giờ lên lớp
1.4.3 H ệ thống các biện pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động
và sáng t ạo của sình viên
1.4.3.1 Tăng cường và đổi mới quản lý quá trình dạy - học
Việc đổi mới nhận thức của người quản lý về dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học có tầm quan trọng đặc biệt Vì khi đã nhận thức được ý nghĩa
và tầm quan trọng của dạy học tích cực đối với kết quả học tập; người cán bộ quản lý sẽ tổ
chức các hoạt động sư phạm, xây dựng cơ chế chính sách và đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở
vật chất, tạo các điều kiện thuận lợi để người giáo viên tổ chức dạy học nhằm khơi dạy ở người học nội lực cần thiết để học tập một cách chủ động và sáng tạo; đưa phong trào đổi mới,
cải tiến phương pháp dạy học đi vào trọng tâm và có chiều sâu
Trang 27Ngoài ra, việc phối hợp hoạt động giữa nhà trường với các khoa, bộ môn, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành sẽ được tổ chức khoa học và hoàn thiện hơn Việc bố trí, sắp xếp
thời gian biểu, nội dung, chương trình, trang thiết bị dạy học sẽ tạo các điều kiện thuận lợi hơn
để phục vụ dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của người học
Một vấn đề không kém phần quan trọng là cần đổi mới phương pháp quản lý, đánh giá quá trình dạy học Người quản lý cần lấy mục tiêu: học -hiểu - hành làm tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả quá trình dạy học
1.4.3.2 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
Vấn đề quan trọng và có tính cấp bách hiện nay, là những người làm công tác quản lý
cần thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá chất lượng đào tạo, đánh giá giáo viên, chống bệnh thành tích trong giáo dục để những người thầy cô không phải dạy học theo kiểu đối phó; để người giáo viên có thể thay đổi cách nhìn, tầm nhìn về các phương thức truyền thụ kiến thức cho người học, thay đổi cách dạy học truyền thống bằng cách phương pháp dạy học tiến tiến
và có hiệu quả
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng
tạo của người học trong học tập thì đội ngũ giáo viên là yếu tố đóng vai trò quyết định
Từ nhận thức trên, nhà trường cần quán triệt tư tưởng dạy học "lấy người học làm trung tâm" cho đội ngũ giáo viên; làm cho họ thấy rằng: chất lượng đào tạo thể hiện chính lương tâm của người thầy đối với nghề nghiệp và đối với học trò, là mục đích sống còn của cơ sở đào
tạo Nhà trường và các phòng ban nghiệp cần tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên kiến
thức và các kỹ năng về nghiệp vụ sư phạm giúp họ những cơ sở để đổi mới phương pháp dạy
học
1.4.3.3 Tăng cường quản lý quá trình học
Nhà trường và các thầy cô bằng các hoạt động thiết thực của mình: tổ chức nói chuyện,
hội thảo, xây dựng truyền thống học tập, các điển hình học tốt để xây dựng cho sinh viên động cơ và thái độ học tập đúng đắn làm cơ sở cho việc học tập tích cực, chủ động và sáng tạo
Bằng cơ chế, chính sách khuyến khích khen thưởng: học bổng, vượt giai đoạn, ưu tiên công tác góp phần củng cố và phát huy tinh thần học tập sáng tạo của sinh viên trong trường
Để giúp người học có được những công cụ cần thiết cho hoạt động tự học chủ động và sáng tạo, đội ngũ giáo viên cần kết hợp với bài giảng, rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng tự
học cơ bản như: đọc, ghi chép, ôn tập, tự kiến tra và đánh giá, làm việc nhóm, ghi nhớ
Trang 28Song song với các biện pháp quản lý trên, các nhà quản lý cần tổ chức quản lý quá trình
học tập, tự học của sinh viên thông qua đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên và cán bộ
lớp bằng các quy định, kế hoạch, kỷ luật học tập nghiêm túc và có tính khoa học
1.4.3.4 Tăng cường quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị
Với đặc trưng là nhà trường Cao đẳng kỹ thuật chuyên ngành giao thông vận tải ở khu
vực phía Nam, để phục vụ tốt việc học tập tích cực, sáng tạo; nhà trường cần đầu tư xây dựng
và hoàn thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học như: phòng thí nghiệm, xưởng thực hành,
mạng máy tính, thư viện, các phương tiện nghe nhìn tiến tiến hiện đại: overhead, projector, multimedia tiến tới chuẩn hóa các điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm phục vụ ngày một tốt hơn công tác đào tạo và nghiên cứu của nhà trường
Cùng với nội dung trên, cần khuyến khích đội ngũ giáo viên khai thác, sử dụng và cải
tiến đồ dùng dạy học và các trang thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng đào tạo
1.5 K ết luận chương 1
Với quan điểm: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội
chủ nghĩa", nhân dân Việt Nam coi nền giáo dục như một điểm nút quyết định sự chuyển động
đi lên của toàn xã hội Do đó, giáo dục và đào tạo đã trở thành quốc sách: "Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho phát triển"
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy và để khắc phục những yếu kém trong giáo dục
hiện nay thì những người làm công tác giáo dục, các nhà quản lý, đội ngũ giáo viên cần nỗ lực
hết sức mình để cống hiến cho sự nghiệp "trồng người", cho sự thành công của công cuộc CNH - HĐH hóa đất nước Việc đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu tất yếu trong thời đại mới Đó là việc chuyển từ dạy học truyền thụ một chiều, dựa trên trí nhớ và bắt chước sang
việc dạy học chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn quá trình tự khám phá, tự phát hiện, tự tìm đến
kiến thức của người học nhằm phát triển ở người học những tố chất cần có ở người lao động
mới
Quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo tư tưởng "lấy người học làm trung tâm" là
một công cuộc cách mạng lâu dài và gian khổ, đòi nhiều công sức, trí tuệ và tiền của; có tác động đến mọi mặt, đến các lĩnh vực trong công tác giáo dục - đào tạo và đời sống xã hội Do
đó, yêu cầu trước tiên là các nhà quản lý giáo dục cần phải thay đổi tư duy và cung cách quản
lý, thay đổi cách đánh giá chất lượng giáo dục và đánh giá đội ngũ giáo viên; lấy hiệu quả và
chất lượng thực sự làm thước đo sự cống hiến của ngành giáo dục đối với xã hội
Trang 29Đội ngũ giáo viên - những người có vai trò quyết định đối với cuộc cách mạng trong lĩnh
vực dạy học cần phải nâng tầm của mình lên cho xứng với trọng trách nặng nề đó Xã hội thực
sự cần những thầy cô có tâm, có đức và có tài và tôn vinh những thầy cô có cống hiến trong sự nghiệp "trồng người"
Chúng ta cần xây dựng những nhu cầu lành mạnh trong xã hội nhằm giảm bớt những áp
lực về học hành, khoa cử cho các thầy các cô; tạo những điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh
thần để các thầy cô có thể toàn tâm toàn ý công hiến cho sự nghiệp giáo dục và cho xã hội
Trang 30Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III
2.1 Vài nét v ề trường CĐ GTVT III
2.1.1 Sơ lược vê lịch sử hình thành và phát triền
Để thực hiện nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Kỹ thuật viên trung học và công nhân phục vụ trong ngành Giao thông vận tải, khu vực phía Nam; trường Trung học Giao thông vận tải 6 được thành lập ngày 28 tháng 12 năm 1976 Đến ngày 13 tháng 12 năm
1990 trường được đổi tên thành trường Trung học Giao thông vận tải Khu vực III Do yêu cầu
về nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ giao thông phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội ở các tỉnh phía Nam và để đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ có trình độ cử nhân cao đẳng
và các trình độ tháp hơn Trường Cao đẳng Giao thông vận tải III (CĐ GTVT III) đã được Bộ trương Bộ Giáo dục và đào tạo ký quyết định thành lập ngày 08 tháng 7 năm 2002 trên cơ sở
trường Trung học Giao thông vận tải Khu vực 3 Trường CĐ GTVT III được tổ chức và hoạt
động theo điều lệ Trường Cao đẳng [44]
Trường CĐ GTVT III là một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng và bổ túc cán bộ và công
nhân kỹ thuật phục vụ cho ngành Giao thông vận tải; là nơi triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ về Giao thông vận tải ở khu vực phía Nam Với đội ngũ cán bộ quản lý có nhiều
kinh nghiệm và đội ngũ giáo viên có năng lực (trình độ sau đại học: tiến sỹ và thạc sỹ chiếm 36%)
Nhà trường có một thư viện có 2.400 đầu sách với 120.000 bản và thường xuyên liên hệ
chặt chẽ với hệ thống thư viện trong thành phố Hồ Chí Minh và trong cả nước và đã đáp ứng được một phần yêu cầu học tập và nghiên cứu của giáo viên và sinh viên
Với hệ thống phòng thí nghiệm (về câu tạo ô tô và máy xây dựng, cabin điện tử, cầu đường ) mới được nâng cấp hơn 3,8 tỷ VN đồng; 04 phòng máy tính với 200 máy phục vụ
học tập và nghiên cứu; ba Trung tâm: Đào tạo và thực nghiệm cơ giới, ứng dụng tiến bộ khoa
học - công nghệ và Đào tạo ngoại ngữ - tin học - luyện văn hóa; xưởng thực hành 4.000m2; đội
xe máy và hệ thống tời kéo, thiết bị kiểm định cầu đường ; hệ thống giảng đường với các trang thiết bị tương đối hiện đại; nhà trường luôn tạo các điều kiện tốt nhất để phục vụ các
hoạt động học tập, thực hành và nghiên cứu
Qua 27 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Bộ GTVT,
Bộ GD&ĐT và bằng sự nỗ lực cố gắng của các thế hệ thầy trò, nhà trường đã vượt qua mọi
Trang 31khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao: đã đào tạo hơn 5.000 kỹ thuật viên trung học và 12.000 công nhân kỹ thuật Nhà trường còn giúp nước bạn Cămpuchia đào tạo 38 kỹ thuật viên trung học ngành Cơ khí ôtô - máy xây dựng và 50 kỹ thuật viên trung học ngành Xây
dựng công trình giao thông
2.1.2 M ục tiêu đào tạo và nội dung, chương trình dạy học
Mục tiêu đào tạo của trường CĐ GTVT III là: " đào tạo người lao động có kiến thức,
k ỹ năng nghề nghiệp ở trình độ cử nhân cao đẳng và trình độ thấp hơn, có đạo đức lương tâm ngh ề nghiệp, ý thức kỷ luật, tấc phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng và
an ninh; ph ấn đấu đến sau năm 2007 trở đi nhà trường có đủ điều kiện phát triển lên bậc cao hơn"[44]
Dựa trên các quyết định của Bộ GD&ĐT và Bộ GTVT về việc thành lập trường CĐ GTVT III và quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của nhà trường, trường CĐ GTVT III đã ban hành kế hoạch và chương trình đào tạo sáu ngành thuộc hệ cao đẳng, đó là: xây dựng cầu đường bộ, kế toán, tin học, cơ khí ô tô, xây dựng dân dụng và công nghiệp, kinh
tế xây dựng
Sinh viên hệ cao đẳng được học tập tập trung trong thời gian 03 năm, theo hai giai đoạn là: giáo dục đại cương (khoảng 50 đơn vị học trình) và giáo dục chuyên nghiệp (khoảng 130 đơn vị học trình) [45]
2.1.3 V ề cơ cấu tổ chức công tác đào tạo
Bộ máy quản lý của nhà trường gồm Ban giám hiệu và năm phòng chức năng là: Hành chính - Tổ chức, Đào tạo, Công tác học sinh sinh viên, Thiết bị - Quản trị và Kế toán Tài vụ Đội ngũ giáo viên của trường gồm 72 người (trong đó thạc sỹ: 19 người, tiến sỹ: OI người) được biên chế thành năm khoa, đó là: khoa Cơ bản - Cơ sở, khoa Công trình, khoa Kinh tế, khoa Cơ khí, khoa Công nghệ Thông tin
Ngoài ra nhà trường còn có ba trung tâm: Đào tạo và thực nghiệm cơ giới, ứng dụng tiến
bộ khoa học - công nghệ và Đào tạo ngoại ngữ - tin học - luyện văn hóa
Về cơ cấu tổ chức của công tác đào tạo, ngoài Hiệu trưởng nhà trường phụ trách chung, còn có một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác đào tạo Phòng Đào tạo là cơ quan chuyên trách, giúp Hiệu trưởng nhà trường quản lý và giám sát nội dung, chương trình và kế hoạch
Trang 32đào tạo; quản lý công tác giảng dạy của đội ngũ giáo viên, quản lý quá trình và kết quả học
tập, rèn luyện của sinh viên
Nhiệm vụ đào tạo cụ thể của các khoa trong trường CĐ GTVT III là:
1 Khoa Cơ bản - Cơ sở: đảm nhận việc giảng dạy các môn khoa học cơ bản: toán, vật
lý, hóa học, ngoại ngữ, triết học, lịch sử Đảng, giáo dục thể chất cho sinh viên các
hệ trung học chuyên nghiệp và hệ cao đẳng
2 Khoa Công trình: đảm nhận công tác giảng dạy các bộ môn thuộc chuyên ngành: xây
dựng (cầu, đường bộ, công trình thủy, dân dụng và công nghiệp) cho sinh viên các hệ trung học chuyên nghiệp và một số ngành của hệ cao đẳng
3 Khoa Cơ khí: đảm nhận công tác giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành: sửa
chữa (ô tô, tài thủy và máy xây dựng), hàn và gia công kim loại, vận tải bộ, vận tải
thủy, vận tải sắt, vận tải thủy - bộ cho sinh viên các hệ trung học chuyên nghiệp và
một số ngành của hệ cao đẳng
4 Khoa Công nghệ thông tin: đảm nhận công tác giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành tin học cho sinh viên các hệ trung học chuyên nghiệp và một số ngành của hệ cao đẳng
5 Khoa Kinh tế: đảm nhận công tác giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành: kinh
tế xây dựng và kế toán cho sinh viên các hệ trung học chuyên nghiệp và một số ngành
của hệ cao đẳng
Các chuyên ngành đào tạo bao gồm: 06 chuyên ngành thuộc hệ Cao đẳng là: xây dựng
cầu đường bộ, kế toán, tin học, cơ khí ôtô, xây dựng dân dụng và công nghiệp, kinh tế xây
dựng; và 18 chuyên ngành thuộc hệ Trung học chuyên nghiệp là: xây dựng công trình cầu đường, xây dựng dân dựng và công nghiệp, xây dựng công trình thủy, bảo hộ lao động và môi trường, cơ khí sửa chữa ô tô - máy xây dựng, sửa chữa và vận hành máy tàu thủy, kỹ nghệ tàu
thủy, hàn và gia công kim loại, điều khiển tàu biển, kinh tế xây dựng, kế toán doanh nghiệp giao thông, kế toán - tin học, vận tải bộ, vận tải sắt, vận tải thủy - bộ, vận tải và du lịch, tin học Các văn bằng cử nhân cao đẳng và trung cáp kỹ thuật do nhà trường cấp là các văn bằng
do Nhà nước Việt Nam quản lý với trình độ học vấn chuẩn quốc gia
Để làm tốt công tác quản lý sinh viên, nhà trường đã thành lập phòng Công tác học sinh, sinh viên với nhiệm vụ: quản lý, giáo dục sinh viên; tổ chức các hoạt động về đoàn thể và các
hoạt động cổng ích xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho
Trang 33sinh viên; cùng với phòng Đào tạo tổ chức tốt việc tự học, rèn luyện và sinh hoạt của sinh viên trong trường
2.1.4 Đối tượng và lưu lượng đào tạo
Hàng năm, trường CĐ GTVT III nhận đào tạo khoảng 1.200 sinh viên theo các loại hình: cao đẳng (03 năm), trung cấp chuyên nghiệp (02 năm), bồi dưỡng tay nghề (03 - 06 tháng)
Đối tượng của hệ đào tạo Cao đẳng: được tuyển sinh theo quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng của Bộ GD&ĐT Đó là những công dân Việt Nam đã tốt nghiệp Trung học phổ thông (hoặc tương đương), có đủ sức khỏe và có phẩm chất chính trị tốt; có nguyện vọng theo
học các ngành đo nhà trường đào tạo
Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức bồi dưỡng và sát hạch tay nghề cho công nhân kỹ thuật, đào tạo chuyên tu cao đẳng cho cán bộ trung cấp kỹ thuật
Đặc điểm của đối tượng sinh viên hệ cao đẳng: đó là những thí sinh tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hàng năm; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương nhưng có học
lực loại trung bình, có sức khỏe và yêu thích các ngành kỹ thuật Do đặc điểm của công tác đào tạo hiện nay là hầu hết các em khi ra trường đều phải tự xin việc làm, do đó ngoài kiến
thức về chuyên môn sinh viên phải có kiến thức tốt về ngoại ngữ và tin học Mặt khác, do nhà trường ở địa bàn quận 6 và ngay sát mặt đường Hùng Vương nên việc học tập, tu dưỡng và rèn luyện không được thuận lợi như những nơi khác
Những đặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trong trường
2.2 Th ực trạng quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên ồ trường CĐ GTVT III
2.2.1 V ề quản lý hoạt động dạy - học
Trong trường CĐ GTVT III, Hiệu trưởng là người phụ trách chung; giúp việc cho Hiệu trưởng về công tác đào tạo có một Phó Hiệu trưởng, phòng Đào tạo và các khoa chuyên ngành Ngoài ra, nhà trường còn có Hội đồng cấp trường với chức năng: tư vấn cho Hiệu trưởng về các lĩnh vực: tăng cường cơ sở vật chất, nguồn lực, kế hoạch đào tạo
Phòng Đào tạo là cơ quan chuyên trách công tác quản lý đào tạo trong nhà trường, thực
hiện việc quản lý, giám sát quá trình đào tạo: nội dung, chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, kiểm tra chế độ công tác giáo viên, thực tập, tuyển sinh, kiểm tra từng học phần, thi tốt
Trang 34nghiệp, theo quy định của Bộ GD&ĐT và quy chế đào tạo của nhà trường Quản lý tốt quá trình dạy học là một vấn đề vô cùng quan trọng để nâng cao chất , lượng đào tạo, là quán triệt
mục tiêu nguyên lý giáo dục trong thực tiễn dạy học Trong nhiều năm qua, trường CĐ GTVT III đã xác định: trong vấn đề quản lý dạy học, vai trò chủ đạo thuộc về lực lượng giáo viên, cán
bộ quản lý và tính tích cực, sáng tạo của sinh viên Trong đó, nhà trường và các phòng ban
chức năng tập trung làm tốt công tác kế hoạch và quản lý kế hoạch Đó là kế hoạch khóa học,
kế hoạch năm học, kế hoạch môn học, sơ đồ lưới lôgíc môn học và thời khóa biểu Các kế
hoạch này được cụ thể hóa trong các kế hoạch riêng như: kế hoạch hoạt động phương pháp, kế
hoạch kiểm tra giảng dạy, kế hoạch nghiên cứu khoa học, kế hoạch thực tập, thi, kiểm tra Trong đó, nhà trường tập trung xây dựng thời khóa biểu theo các phần mềm mới nhất với phương châm tỷ mỉ, chính xác, đảm bảo tính khoa học và lôgíc của từng môn học
Các khoa, bộ môn trực thuộc của trường CĐ GTVT III chịu trách nhiệm thực hiện và
quản lý toàn bộ quá trình học thuật thuộc chuyên ngành của mình; tổ chức xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình các môn học; nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy và học
tập, tổ chức bồi dưỡng và nâng cao trình độ giáo viên; xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị
dạy học ; kết hợp với phòng Đào tạo tổ chức dự giờ, kiểm tra và đánh giá giáo viên hàng năm
Việc quản lý các hoạt động của giáo viên chủ yếu dựa vào công việc như: kế hoạch công
tác cá nhân, khoa và nhà trường và thời khóa biểu phân công giảng dạy; nhà trường không
thực hiện quản lý giáo viên theo giờ hành chính Trong giai đoạn gần đây (từ năm 2002) nhà trường luôn ưu tiên và tạo các điều kiện thuận lợi để anh chị em giáo viên học tập và nâng cao trình độ chuyên môn như: cử 100% giáo viên có tuổi dưới 45 đi học cao học, nghiên cứu sinh
Để làm tốt công tác quản lý sinh viên, nhà trường có phòng Công tác sinh viên cùng với Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và Ban quản lý ký túc xá có nhiệm vụ: giúp sinh viên tự học,
hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động khác nhằm tập hợp, quản lý và giáo dục sinh viên
2.2.2 V ề hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên
Để tìm hiểu thực trạng giảng dạy tại CĐ GTVT III, chúng tôi đã tiến hành điều tra (theo
Phụ lục 3) đối với 25 giáo viên ở các khoa trong trường và thu được kết quả như sau:
Trang 35Về vai trò của việc học tập tích cực, chủ động và sáng tạo đối với kết quả học tập của sinh viên 100% (25/25) ý kiến được hỏi đều cho rằng: chúng có vai trò rất quan trọng (và quan
trọng) Điều đó đã chứng tỏ: đôi ngữ giáo viên của trường CĐ GTVT III đã nhân thức được ý
ngh ĩa và tầm quan trọng của việc học tập tích cực là: chúng có vai trò quyết đinh đối với kết
qu ả học tập của sinh viên nói riêng hay chất lương đào tao của nhà trường nói chung Từ đó,
những người làm công tác giảng dạy trong nhà trường phải luôn có ý thức trong công tác: dạy
học - truyền thụ kiến thức kết hợp với dạy học - dạy cách học cho sinh viên
B ảng 2.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên
Trang 36Với kết quả ở bảng 1, về mặt nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, chúng ta
thấy: 56,00% số giáo viên cho rằng nội dung chương trình do mình đang đảm nhiệm là vừa
phải; 36,00% cho rằng nội dung của môn học còn ít tính thực hành Và đa số (84,00%) các
thầy cô sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là: giảng giải minh họa; 56,00% thầy cô
áp dụng phương pháp dạy học tìm kiếm từng phần
S ự suy nghĩ, trăn trở về cống tác đổi mới phương pháp day học còn chưa được các thầy
cô th ật quan tâm và chú ý đúng mức: chỉ có 16,00% giáo viên nhận thức được việc đổi mới
phương pháp giảng dạy là công việc cấp bách, nhất thiết phải làm, 48,00% giáo viên cho rằng
đó là công việc cần làm và 8,00% ý kiến được hỏi cho rằng: làm được thì tốt, nhưng nếu không làm được thì ??? Qua kết quả trên, chúng ta có nhận xét là: về chương trình dạy học, các thầy cô đều cho rằng chúng ở mức độ vừa phải và hơi ít thực hành; như vậy thì sự đòi hỏi
về thời gian cho các bài giảng ở trên lớp là không quá căng, người giáo viên không lo cháy giáo án Thế nhưng sự đầu tư công sức vào việc cải tiến và phương pháp day học của đôi ngũ
giáo viên còn chưa thật đúng mức, chưa tương xứng với nhận thức của các thầy cô về tầm quan tr ọng của phương pháp dạy – học đối với kết quả học tập của sinh viên, với chất lượng đào tao của nhà trường
Tình hình cũng tương tự đối với việc sử dụng các phương tiện, trang thiết bị và đồ dùng
dạy học: chỉ có 20,00% giáo viên thường xuyên sử dụng trang thiết bị và đồ dùng dạy học; 64,00% giáo viên trả lời: việc sử dụng trang thiết bị và đồ dùng dạy học là tùy nội dung bài
giảng; còn số giáo viên thỉnh thoảng và rất hiếm sử dụng đồ dùng dạy học là 16,00% Đối với nhà trường đào tạo ra các kỹ sư thực hành, trung cáp kỹ thuật - là những đối tượng làm việc
những công việc rất trực tiếp, cụ thể; rất cần thực hành, thực tế thì tình hình sử dụng trang
thi ết bị đồ dùng dạy học trong nhà trường như vậy chưa được quan tâm đúng mức
92,00% số giáo viên được hỏi đều cho rằng việc chuẩn bị bài giảng là cần thiết (hay nhất thiết phải làm); 8,00% ý kiến của giáo viên được hỏi cho rằng: việc chuẩn bị bài giảng có cũng
được, không có cũng được Điều đó chứng tỏ: đa số anh chị em giáo viên đều ý thức được
trách nh ịêm, đều quan tâm đến công vịêc giảng dạy của mình
Về thực trạng giảng dạy kết hợp với việc nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo
của sinh viên trong học tập, qua điều tra khảo sát chúng tôi thu được kết quả như sau:
B ảng 2.2 Tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh
viên trường CĐ GTVT III
Trang 37Trong khi giảng bài có 24,00% giáo viên thường xuyên yêu cầu sinh viên tự đọc sách giáo khoa và 80,00% số giáo viên thỉnh thoảng mới yêu cầu sinh viên tự đọc sách giáo khoa đã
chứng tỏ: đôi ngũ giáo viên trong trường chưa thật chứ ý đến phương pháp dạy – học tích cực,
chưa quan tâm đến việc tự "động não", tự chiếm lĩnh kiến thức của sinh viên
Với kết quả 60,00% giáo viên thường xuyên yêu cầu sinh viên đọc thêm các tài liệu tham khảo, chúng ta nhận thấy rằng: yêu cầu mở rộng và đào sâu kiến thức đối với sinh viên
trường CĐ GTVT III chưa ở mức cao; vẫn còn một số giáo viên có quan niệm: sinh viên chỉ
c ần nắm vững kiến thức trong sách giáo khoa là đủ hoặc cấc thầy cô chưa thật chú ý đầu tư để nâng cao ch ất lượng bài giảng, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Về việc tổ chức thảo luận một vấn đề, một nội dung nào đó cho sinh viên, có 64,00% giáo viên thỉnh thoảng có tổ chức, 12,00% giáo viên rất hiếm tổ chức và có 4,00% giáo viên chưa bao giờ tổ chức thảo luận cho sinh viên Kết quả khảo sát trên tương đối phù hợp với yêu
cầu sinh viên tự đọc sách giáo khoa và đọc thêm tài liệu tham khảo Vì không đặt ra những yêu
c ầu cao về mở rộng và đào sâu kiến thức thì việc tổ chức thảo luận cho sinh viên sẽ không có
Trang 38k ết quả và chỉ mang tính hình thức Sinh viên sẽ không được bồi dưỡng, rèn luyện những kỹ
năng đọc, tìm tài liệu, phân tích, tổng hợp và trình bày ý kiến của mình
Có 72,00% giáo viên thường cho sinh viên câu hỏi ôn tập và nhấn mạnh vào các phần lý thuyết và bài tập cơ bản; về khía cạnh nào đó việc làm trên đã mang ý nghĩa tích cực, giúp
sinh viên h ệ thống và nắm bắt được những kiến thức cơ bản; mặt khác chính đội ngũ giáo viên
đã hạn chế bớt những nội dung kiến thức trong bài giảng, không khuyến khích việc học tập tích c ực của sinh viên trong trường
Trong khi giảng bài, gần 70,00% giáo viên chú ý đến việc trình bày bảng, giúp sinh viên
dễ ghi chép bài giảng và nắm được lôgíc hình thức của vấn đề Có 16,00% giáo viên khi giảng bài chỉ chú ý giảng giải các vấn đề, các khía cạnh của vấn đề cho sinh viên; đó là một điều rất quí vì chỉ khi sinh viên hiểu sâu, nắm chắc kiến thức thì việc học tập của họ mới mang tính
chủ động, họ sẽ không phải học "vẹt", học thuộc lòng khi mà chính bản thân họ còn chưa hiểu được vân đề
Để giúp cho sinh viên có phương pháp học tập tốt, chúng tôi đã tiến hành điều tra, thu
thập ý kiến của 25 thầy cô giáo trong trường Sau đây là những hướng lớn nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trong học tập
ĐỒ thị 2.1 Các phương hướng nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong
học tập của sinh viên
Trang 39Theo ý kiến của các thầy cô thì biện pháp: rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng học tập
(80, 00%) là hướng chỉ đạo Đây là một phương hướng đúng đắn vì chỉ khi rèn luyện được các
kỹ năng: đọc, ghi chép, thảo luận, ôn tập, ghi nhớ, quan sát, nhận xét, đánh giá thì sinh viên
mới có trong tay một hệ công cụ tốt để phục vụ cho việc học tập tích cực, sáng tạo của mình Sinh viên mới có thể tự đọc và tổng hợp, phân tích, khái quát mở rộng và đào sâu vấn đề; có
thể tự tìm tài liệu cần thiết cho việc học tập của mình; có thể tự trình bày vấn đề theo quan
niệm của cá nhân mình
Ý kiến thứ hai là: cần tăng cường tính thực hành (chiếm 32,00%), đây là một biện pháp
rất quan trọng và thiết thực, vì "thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý" chỉ có thực tập và thực hành trực tiếp thì sinh viên mới làm quen với công việc, với phương tiện và máy móc; khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành sẽ dần được sáng tỏ, tường minh hơn; các kỹ năng: quan sát,
nhận xét, phát hiện và giải quyết vân đề mới được bồi dưỡng, rèn luyện Do đó, việc học tập
của sinh viên sẽ đạt hiệu quả cao hơn
Một hướng đáng chú ý khác là: mỗi cá nhân cần có phương pháp học tập phù hợp
(chi ếm 20,00%) chúng ta có thể hiểu là trên cơ sở được rèn luyện các kỹ năng học tập, được
thực tập, thực hành thì từng người phải dựa vào đặc điểm tâm lý, sức khỏe và điều kiện học
tập để xây dựng cho mình một phương pháp học tập riêng, phù hợp với mình Chúng ta thấy
rất rõ là: chỉ có phương pháp học tập phù hợp thì việc học tập của mỗi người mới có hiệu quả,
mới tích cực, mới sáng tạo
Với 16,00% ý kiến được hỏi, nội dung cần tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bi
d ạy học trong nhà trường cũng là nội dung rất cần thiết Vì "có bột mới gột nên hồ" khi có
điều kiện học tập tốt: có đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, có trang thiết bị để tiến hành thí nghiệm, để thực hành thì việc học tích tích cực và sáng tạo mới có điểu kiện thuận lợi đế phát triển Còn khi mà sách giáo khoa, giáo trình còn chưa đủ; không có giảng đường riêng cho việc tự học; ít làm quen với các phương tiện nghe nhìn hiện đại như: projector, overhead,
mạng Internet, trang thiết bị thí nghiệm, mô hình, học cụ thì khó có thể yêu cầu sinh viên
học tập một cách chủ động, sáng tạo
Cùng với các biện pháp trên, chúng ta cần xây dựng tinh thần, thái độ và động cơ học
t ập đúng đắn cho sinh viên, tuy nhiên chúng tôi chỉ thu được 4,00% ý kiến trên tổng số giáo
viên được hỏi Có lẽ các thầy cô suy nghĩ trách nhiệm của các thầy cô dạy ở bậc cao đẳng, đại
học chỉ thuần túy là truyền thụ kiến thức mà không cần quan tâm đến việc xây đựng cho các
em có tinh thần, thái độ học tập đúng đắn, tích cực, một nhân sinh quan đúng đắn ? Thực ra,
Trang 40đây là một vấn đề lớn, rất quan trọng vì chỉ khi xác định được thái độ và động cơ học tập đúng đắn: học cho ai ? học để làm gì ? nghề nghiệp này gắn bó với cuộc sống của mình như thế nào
? thì người sinh viên mới học tập tích cực, mới chủ động và tìm tòi sáng tạo Vì vậy, nhà trường cần kết hợp với Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và đội ngũ giáo viên, bằng các hoạt động tập thể, thông qua bài giảng, bằng tình thầy trò để xây dựng và bồi dưỡng động cơ học
tập đúng đắn cho sinh viên
Song song với các nội dung trên, yêu cầu cao về người giáo viên (chiếm 4,00% ý kiến)
đã ít được quan tâm Như mọi người đều biết, phương châm dạy học "lấy người học làm trung tâm" hay chính xác hơn là lấy việc học của người học làm trung tâm là một hướng mới trong giáo dục và rất được hoan nghênh; nhưng để thực hiện thành công phương châm dạy học đó
lại cần phải có những người thầy có tâm huyết với nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn vững vàng, trăn trở tìm tòi đào sâu kiến thức thì mới có thể tổ chức và hướng dẫn cho sinh viên để
họ có thể học tập tích cực, chủ động và sáng tạo
Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành khảo sát về các yếu tố có tính quyết định đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy và thu được kết quả như sau:
Đồ thị 2.2 Các yếu tố quyết định việc đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy
Qua số liệu khảo sát ở trên, chúng ta thấy có bốn yếu tố có tác động rất lớn đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, trong đó vai trò của người giáo viên được đánh giá cao (chiếm 80,00%) Điều đó hoàn toàn phù hợp với những nhận định của những nhà
lý luận nghiên cứu giáo dục, tuy nhiên chúng ta cần phải khẳng định lại là: đó phải là những người giáo viên có tâm huyết với nghề và có trình độ chuyên môn vững vàng Sau vai trò của người thầy, thì trang thiết bị và đồ dùng dạy học là một yếu tố rất quan trọng trong việc đổi