Chúng tôi cho rằng việc tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên khi học môn vật lý đại cương nói riêng và các môn học ở đại học nói chung có ý nghĩa lớn về mặt lý
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG ĐÌNH TÒA
SINH VIÊN KHOA LÝ TRONG QUÁ TRÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LÝ
Trang 3L ỜI CẢM ƠN:
Là học viên cao học khóa 11, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- Ban giám hiệu trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Phòng Khoa học công nghệ - Sau đại học
- Ban chủ nhiệm Khoa Vật lý
Đã tạo điều kiện giúp đỡ cho chúng tôi trong quá trình làm luận văn Cảm ơn các thầy cô
đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập Cảm ơn các đồng nghiệp, các em sinh viên
đã góp ý kiến cho luận văn
Đặc biệt,chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tiến sĩ Phạm Thế Dân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho chúng tôi hoàn thành luận văn
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong được góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Sau cùng, chúng tôi cảm ơn hội đồng chấm luận văn cao học Một lần nữa xin kính chúc
sức khỏe đến các thầy cô
Trang 5
M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN: 3
B ẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT 4
M ỤC LỤC 5
M Ở ĐẦU 9
2.M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 9
3 KHÁCH TH Ể VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10
4 GI Ả THUYẾT KHOA HỌC 10
5 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU 10
6.CÁC QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN 10
7.CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 11
7.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận: 11
7.2.Phương pháp quan sát phóng vấn : 11
7.3.Phương pháp điều tra 11
7.4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 12
7.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN VÀ TH ỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PH ẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 13
1.1.L ịch sử nghiên cứu vấn đề tự học 13
1.2.Nh ững cơ sở lý luận về hoạt động tự học và tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 18 1.2.1.Khái niệm và đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên 18
1.2.2.Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 19
Trang 61.2.3.Vị trí, vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học sư phạm.
19
1.2.4.Vai trò của động cơ tự học 21
1.2.5 Kỹ năng tự học là yếu tố cần thiết cho việc tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 22
1.2.6 Hoạt động tự học của sinh viên trong trường đại học 24
1.2.6.1.Mối quan hệ giữa người dạy và người học trong quá trình tự học của sinh viên 24
1.3.Th ực trạng về hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố H ồ Chí Minh 31
1.3.1.Nhận thức về vị trí và vai trò của hoạt động tự học: 32
1.3.2.Nhận thức về các yểu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học cửa sinh viên 33
1.3.3.Thực trạng về động cơ tự học 35
1.3.4.Thực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên 36
K ết luận của chương 1: 40
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHI GI ẢNG DẠY BỘ MÔN ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG 41
2.1.M ột số đặc điểm của bộ môn điện đại cương 41
2.1.1.Môn điện đại cương có lịch sử phát triển khá sớm và đạt được những thành tựu đáng kể 41
2.2.M ột số biện pháp tể chức hoạt động tự học của sinh viên khi giảng dạy môn điện đại cương 44
2.2.1.Biện pháp thứ nhất: sử dụng phối hợp các biện pháp giáo dục động cơ tự học và rèn luyện để trở thành nhà giáo tương lai 45
Trang 72.2.1.1.Tạo điều kiện để sinh viên hình thành và phát triển động cơ tự học trong
quá trình dạy học 45
2.2.1.2.Xây dựng ý thức nghề nghiệp cao quý cho sinh viên 47
2.2.2.Biện pháp thứ hai: hình thành và bồi dương cho sinh viên những kỹ năng tự học 47
2.2.2.1.Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học 48
2.2.2.2.Kỹ năng nghe giảng 50
2.2.2.3.Kỹ năng đọc sách và đọc tài liệu trong hoạt động tự học 51
2.2.2.4.Kỹ năng giải bài tập vật lý trong hoạt động tự học 52
2.2.2.5.Kỹ năng khái quát hóa 53
2.2.2.6.Kỹ năng hệ thống hóa 54
2.2.2.7.Kỹ năng ghi chép tài liệu đã nghiên cứu 54
2.2.2.8.Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong hoạt động tự học của sinh viên 56
2.2.3.Biện pháp thứ ba: Thiết kế và giao cho sinh viên tự nghiên cứu một số nội dung của môn điện đại cương 57
2.2.4.Biện pháp thứ tư: Thiết kế hệ thống bài tập vật lý nhằm tố chức hoạt động tự học cho sinh viên 58
2.2.5.Biện pháp thứ năm: Tổ chức cho sinh viên giải quyết nhiệm vụ học tập theo đề tài xêmina 59
2.2.6.Biện pháp thứ 6: Thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của sinh viên 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1.Khái quát v ề thực nghiệm sư phạm 65
3.1.1.Mục đích và phạm vi thực nghiệm 65
3.1.2.Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 65
Trang 83.1.3.1.Tìm hiểu đối tượng: 66
3.1.3.2.Biên soạn tài liệu gồm: 66
3.1.3.3.Xác định chuẩn và thang đánh giá: 67
3.1.3.4.Tiến hành tác động sư phạm: 67
3.1.3.5.Đánh giá kết quả tác động sư phạm 67
3.2.K ết quả thực nghiệm sư phạm 69
3.2.1.Phân tích kết quả các bài kiểm tra 69
3.2.2.Phân tích kết quả bài thi cuối học kì 75
K ẾT LUẬN: 80
TÀI LI ỆU THAM KHẢO: 82
PH ẦN PHỤ LỤC 85
Trang 9
M Ở ĐẦU
Trên thực tế, vấn đề tự học của sinh viên ở các trường đại học chưa được quan tâm đúng
mức Theo kết quả điều tra và đánh giá của chúng tôi thì sinh viên trường đại học sư phạm hiện nay rất lười đọc sách, lười tìm kiếm những kiến thức mới Nhiều sinh viên có thói quen đến lớp
“với cái đầu rỗng” và chỉ trông chờ vào bài giảng của thầy ở trên lớp Cách học như vậy chưa
phản ánh đúng bản chất của hoạt động học tập ở một trường đại học Có rất nhiều nguyên nhân
lý giải cho tình trạng này, trong đó lý do cơ bản là sinh viên chưa nhận thức đúng về ý nghĩa và
tầm quan trọng của tự học, chưa được trang bị những kỹ năng tự học cần thiết Qua nhiều năm
giảng dạy môn vật lý đại cương nói chung và môn điện đại cương nói riêng, chúng tôi đã trình bày một số kỹ năng tự học cho sinh viên dưới dạng những lời khuyên, những kinh nghiệm rút
ra từ bản thân.Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế.Vì vậy để nâng cao hiệu quả và chất lượng tự
học của sinh viên thì một mặt phải cải thiện các điều kiện học tập, mặt khác là nâng cao năng
lực tự học, đặc biệt là rèn luyện các kỹ năng tự học cho sinh viên Chúng tôi cho rằng việc tìm
ra những biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên khi học môn vật lý đại cương nói riêng và các môn học ở đại học nói chung có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn, không
những mang hiệu quả dạy học và đào tạo ở trường đại học sư phạm mà còn chuẩn bị cho sinh viên - người giáo viên tương lai, có đủ năng lực để học để học tập lâu dài, học suốt đời “trong
xã hội học tập” Nhằm đáp ứng nhu cầu công việc, chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên khoa vật lý trong quá trình giảng dạy môn điện đại cương”
Trang 103 KHÁCH TH Ể VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: quá trình tự học của sinh viên năm thứ hai khoa vật lý trường đại
học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên khoa vật lý trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
4 GI Ả THUYẾT KHOA HỌC
Chất lượng tự học của sinh viên khoa vật lý trường đại học sư phạm có thể được nâng cao
nếu phối hợp một cách khoa học, hợp lý việc giáo dục động cơ học tập, bồi dưỡng kỹ năng tự
học và tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
5 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của hoạt động tự học nói chung và hoạt động tự học của sinh viên
vật lý trường đại học sư phạm nói riêng
- Khảo sát hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Tìm kiếm và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên Khoa Vật
lý Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong qúa trình giảng dạy bộ môn điện đại cương nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên
6 CÁC QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Hoạt động tự học của sinh viên là một bộ phận hữu cơ của quá trình dạy học ở đại học và
có vai trò quan trong đối với việc phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên và chất
lượng đào tạo của các trường đại học
Hoạt động tự học của sinh viên, kể cả sinh viên của các trường đại học sư phạm là quá trình nhận thức tích cực độc lập ở mức độ cao nhưng không tách khỏi hoạt động dạy và vai trò
tổ chức điều khiển và chỉ đạo của giáo viên
Trong quá trình tự học, sinh viên phải nắm vững và vận dụng linh hoạt hệ thống kỹ năng
tự học nhằm giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ học tập
Trang 117 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7 1.Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nhằm tìm hiểu và phân tích cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá Các tài liệu liên quan sau :
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác -Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh có liến quan đến đề tài
- Các văn kiện các nghị quyết của Trung ương Đảng về lĩnh vực giáo dục
- Các công trình nghiên cứu tâm lý học của các tác giả trong nước và ngoài
nước
- Các công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7 2.Phương pháp quan sát phóng vấn :
Tiến hành quan sát giờ tự học trên thư viện và giờ tự học ở nhà của sinh viên nhằm thu
thập về thực trạng hoạt động tự học của người học
Trao đổi tọa đàm với giáo viên và sinh viên về kinh nghiệm tự học
7 3.Phương pháp điều tra
năm thứ 2 của Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và một số giáo viên đang
giảng dạy tại trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
với sinh viên và giáo viên bằng cách lập bảng hỏi ý kiến về thực trạng nhận thức động cơ và phương pháp tự học nhằm tìm hiểu:
- Nhận thức của sinh viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của tự học
- Động cơ tự học của sinh viên
Trang 12- Những kỹ năng tự học của sinh viên
- Chất lượng tự học của sinh viên
7 4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phân tích, khái quát hóa các tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan Trao đổi mạn đàm
với cán bộ, giáo viên, tham dự các buổi sinh hoạt của lớp học về trao đổi kinh nghiệm tự học Qua đó rút ra tài liệu phục vụ cho đề tài
7 5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Mục đích thực nghiệm: Kiểm tra giả thuyết đã nêu Nội dung thực nghiệm: Tổ chức các
hoạt động tự học cho sinh viên theo hướng dạy - tự học
- Tiến hành các tác động sư phạm đối với lớp thực nghiệm
- Kiểm tra đánh giá các kết quả tác động sư phạm
- Phân tích kết quả
Trang 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN VÀ TH ỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1.L ịch sử nghiên cứu vấn đề tự học
1.1.1.Tư tưởng về vấn đề tự học của người học đã có từ lâu trong lịch sử giáo dục học Ngay từ thời kỳ cổ đại nhiều nhà giáo dục học cũng đã nhận thấy vai trò quan trọng của tự học
Khổng Tử ( 551 - 479 trước công nguyên ), nhà giáo dục học kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại đã
từng nói với học trò của mình là: “Không tức giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa” Ông đòi hỏi học trò phải biết kết hợp nghe
giảng của thầy và tự nghiên cứu tìm tòi để hiểu biết, phải biết phát huy tính năng động chủ quan mà học tập
Nhà sư phạm Tiệp Khắc J.A Comenxki ( 1592 - 1670 ), ông tổ của nền sư phạm cận đại
đã có nhiều tư tưởng về hoạt động tự học của người học Khi nói về động cơ ý thức của tự học ông đã từng khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng” [10 -
tr 101]
Trong thế kỉ thứ XVIII - XIX Các nhà giáo dục học như Rousseau J.J (1712 - 1778 ) Pestalozzi J.H ( 1746 - 1827 ) Distervers ( 1790 - 1866 ) và Usinxki ( 1824 - 1890 ) đã quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính độc lập, tính sáng tạo của học sinh Các tác giả cho rằng người học cần phải giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi [11- tr 25 - 35] 1.1.2.Các nước phương Tây cũng rất quan tâm tới hoạt động tự học của học sinh, sinh viên Ở Pháp, trong đầu thế kỉ XX các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở tổ chức thức đẩy hoạt động tự học của học sinh, ví dụ như
“phương pháp lạc quan”.[13 - tr 99]; phương pháp Montessori [ 27 -tr 39 - 64 ]; phương pháp Ademars và Lafendel [13 - tr 118-130] Các phương pháp này đã nhấn mạnh vai trò cá nhân
của người học đến mức độ để cho họ phát triển một cách tự do Tình trạng đề cao quá mức vai trò của người học đã gặp sự phản đối của một số nhà giáo dục học Nhằm khắc phục tình trạng
Trang 14lĩnh hội tri thức đã được lựa chọn và tổ chức thành môi trường hoạt động gần giống với môi trường thực có chứa tri thức cần truyền thụ Song phương pháp này không khả thi vì quá phức
tạp và tốn kém khi phải tổ chức, xây dựng môi trường sống sao cho đạt được mục đích dạy học
Những phương pháp trên chủ yếu dựa vào hoạt động tự học của người học Nhưng do nhấn
mạnh quá mức vai trò cá thể, vai trò của người học, hạ thấp vai trò của người giáo viên nên đã làm phức tạp hóa quá tành dạy học
Ở Mỹ, ngay từ năm 1920 tại trường Dalton đã đưa ra và áp dụng kế hoạch dạy học mới
gọi là kế hoạch Dalton [13] Theo kế hoạch này giáo viên chỉ có nhiệm vụ vạch ra những công
việc phải làm và ký hợp đồng thực hiện với người học Người học sẽ quyết định kế hoạch, thời gian biểu thực hiện Hoạt động học tập là sự tự học của người học trong các phòng thí nghiệm theo từng bộ môn và được kiểm soát bằng các lá phiếu Kế hoạch này sau đó cũng bị phê phán
là đã thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh và tách rời giữa dạy học với giáo dục Vào đầu những năm 50, của thế kỷ XX, ở các nước Âu, Mỹ, các nhà giáo dục đã quan tâm tìm kiếm phương pháp giáo dục mới dựa vào tư tưởng “Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm” (Learner centred approach) do J Dewey đề xướng [ 8 ] và đã đưa vào thực nghiêm như
“phương pháp tích cực” (Methodes actives), “phương pháp hợp tác” (Methodes coopeưatives) Theo phương pháp tích cực hóa, người học không lĩnh hội tri thức bằng nghe
thầy giảng giải mà tự học, tìm tòi qua đó lĩnh hội tri thức và giáo viên gợi sự chú ý ,kích thích, thúc đẩy cho học sinh tự hoạt động [21] Như vậy, “Thầy trở thành người trọng tài,đạo diễn, thiết kế tổ chức việc làm, giúp đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học”[ 22 - tr 37] Còn theo phương pháp hợp tác , hoạt động của mỗi cá nhân có mục đích và nhiệm vụ riêng, nhưng do họ được phối hợp thống nhất với nhau để đạt được mục tiêu chung Người học hợp tác với nhau để lĩnh hội tri thức, việc tự học của cá nhân trong tập thể là hoạt động chủ yếu [18 ] Các phương pháp theo tư tưởng này đòi hỏi rất cao và chủ yếu dựa vào hoạt động tự học của người học Tuy nhiên các phương pháp trên cũng có hạn chế là không thể áp dụng cho mọi loại tri thức, đồng
thời các phương pháp trên đòi hỏi nhiều thời gian, trình độ tổ chức, thiết kế chương trình của giáo viên, năng lực và tính tự giác của người học
1.1.3.Ở châu Á cũng có nhiều nhà giáo dục đã quan tâm, chú ý đến hoạt động tự học của
học sinh
Trang 15Ngay từ những năm 30 của thế kỷ này, nhà sư phạm người Nhật bản là Makiguchi đã có tác phẩm “giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”.Với quan niệm cho rằng: “giáo dục xét như quá trình hướng dẫn tự học” [ 26 - tr 19] mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trí để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ là S.D Sharma và Shakti R Ahmed đã có tác phẩm
“Phương pháp dạy học ở đại học” Trong đó hoạt động tự học được trình bày như là một hình
thức dạy học có hiệu quả cao Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được xác định Đó là quá trình điều khiển hoạt động
tự học của sinh viên một cách gián tiếp [ 35 - tr 79-123]
Gần đây, tiến sĩ R.R Singh (Ẩn Độ ) đưa ra quan niệm về “Quá trình nhận biết học
-dạy” Tác giả cho rằng người người học phải là những người tham gia tích cực vào quá trình
nhận biết -học -dạy Ông nhấn mạnh : việc công nhận người học là lực lượng tích cực, đúng là
lực lượng chủ đạo trong quá trình học kiến thức và việc họ tự nhận ra các tiềm năng của bản thân trong quá trình đó là điểm tựa chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục.Tuy nhiên tác giả
vẫn khẳng định giáo viên vẫn giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận biết -học -dạy
Như vậy, vấn đề tự học của người học đã được các nhà giáo dục nước ngoài đã đề cập đến
ở nhiều khía cạnh khác nhau Đó là nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong
hoạt động học tập của người học Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của tự học ,hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của sinh viên, các tác giả đã đề cập đến các biện pháp sư phạm khác nhau như: sinh viên phải có động cơ học tập và tự học mạnh mẽ, có kỹ năng tự học hợp lý coi như là điều kiện cơ bản đảm bảo cho hoạt động tự học có hiệu quả Đặc biệt, các tác giả quan tâm đến
việc thiết kế và tổ chức thực hiện hệ thống bài tập nhận thức, bài tập tự nghiên cứu , thông qua
đó để hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên Tự học là hình thức dạy học ở đại học, là
hoạt động nhận thức của người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên, là quá trinh tự đào lạo ngoài quá trình dạy học ở nhà trường Đó là những cơ sở quý báu để chúng ta tiếp thu, chọn lọc và
vận dụng vào thực tiễn dạy học ngày nay
1.1.4.Ở Việt nam, hoạt động tự học của học sinh và sinh viên cũng được đề cập đến trong
lịch sử giáo dục và nhà trường qua các khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch
Trang 16- Dưới chế độ phong kiến, nền giáo dục của nước ta ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của phong kiến Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng nho giáo Trong một thời gian dài, một số tư tưởng tiến bộ về phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh của các nhà giáo dục học đã bị mai một dần Quá trình học tập thường được chú ý tới việc học chữ, học kiến thức của thầy
Hoạt động của người học ít được chú ý tới Học sinh luôn gắn chặt với thầy giáo và làm theo
thầy, học theo thầy như một cái máy Cách học như vậy đã được Roger Gal khái quát “Người ta tìm thấy sự bắt chước đúng mà không cần độc đáo, người ta học thuộc lòng, người ta lặp lại đồng thanh với nhau” [12 - tr.44]
- Dưới thời Pháp thuộc, cùng với chính sách xâm lược, khai thác bóc lột nước ta, thực dân Pháp đã dùng chính sách “ngu dân” để cai trị Vì vậy chúng ta chỉ được hưởng một nền giáo
dục hạn chế Mọi động lực kích thích con người độc lập sáng tạo đều bị bóp nghẹt Hoạt đông
tự học của người học không được chú ý tới Như Georger Dumontier - tên cáo già thực dân đã
thừa nhận: “Viêc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột [8 - tr.10] Đại đa số người dân mất nước Việt Nam lúc đó đều mù chữ
- Dưới thời Mỹ - ngụy ở miền Nam, một số nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã quan tâm đến vấn đề tự học như: Thiêm Giang Trần Kim Bảng [4], Nguyễn Duy Cần [8], Nguyễn Hiến
Lê [24], Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
hoạt động tự học, nhất là tự học của sinh viên đại học Họ chỉ mới nêu lên một số phương pháp
tự học mang tính kinh nghiệm cá nhân nhằm giúp người học tự trau dồi học vấn ngoài sự đào
tạo ở nhà trường
Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có những bước tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng
kể trên nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học giáo dục, trong đó hoạt động tự học của người
học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý tới
- Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những tác phẩm và những bài nói chuyện của người, nhất
là trong lĩnh vực giáo dục đã đề cập rất sâu sắc về vấn đề học tập và tự học của học sinh, của người cán bộ cách mạng Chính cuộc đời và sự nghiệp của người là tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện để đạt tới đỉnh cao của tài năng và đạo đức Người nói: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố
Trang 17gắng hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” tr.187]
[33 Trong tài liệu hướng dẫn cán bộ giảng dạy trẻ, tác giả Đặng Bá Lãm [18] đã đề xuất các
biện pháp sư phạm của giáo viên để nâng cao chất lượng tự học của sinh viên là: Hướng dẫn phương pháp tự học, hình thành thói quen đọc sách, có kế hoạch kiểm tra việc tự học của sinh viên
Những năm 80 của thế kỷ XX, giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cùng với một nhóm nhà nghiên cứu khoa học đã thực hiện đề tài nghiên cứu về hệ đại học vừa học vừa làm để đào tạo giáo viên và đã đào tạo được nhiều khóa giáo viên phổ thông bằng phương pháp tự học có hướng dẫn thực tập làm giáo viên Đề tài đã rút ra nhiều kết luận về vai trò tổ chức hoạt động
tự học đối với việc phát huy lỗ lực chủ quan của người học
Gần đây, các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [28], Nguyễn Ngọc Bảo [5] đã chỉ rõ các biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động tự học là: Hình thành ý thức tự học, bảo đảm thời gian tự học, bồi dưỡng phương pháp tự học, bảo đảm các điều kiện vật chất cho tự
học, kiểm tra thường xuyên
Tóm lại, qua việc nghiên cứu những tư tưởng về hoạt động tự học trong lịch sử giáo dục
học, chúng tôi thấy: Đã từ lâu vấn đề tự học được nhiều nhà giáo dục học quan tâm tới.Trong các công tành kể trên, các tác giả đã có cách nhìn toàn diện sâu sắc về tự học từ vai trò, đặc điểm, bản chất của các kỹ năng tự học trong quá trình dạy học đến các biện pháp tổ chức để đảm bảo cho hoạt động tự học đạt kết quả cao.Các tác giả cũng cho rằng việc giáo dục động cơ
và việc hình thành cho học sinh hệ thống các kỹ năng tự học là một trong những biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng tự học của sinh viên.Tuy nhiên, việc giáo dục động cơ
và hình thành những kỹ năng tự học được các tác giả xem xét còn rải rác ở các công trình nghiên cứu, chưa tập trung và sắp xếp thành hệ thống Vì vậy, để nâng cao chất lượng hiệu quả
hoạt động tự học của sinh viên sư phạm hiện nay, cần phải tiếp thu những kinh nghiệm quí báu
về giáo dục động cơ hứng thú học tập và bồi dưỡng kỹ năng tự học cho sinh viên Đồng thời,
phải xem xét việc hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học đại học theo hướng dạy - tự học
Trang 181.2.Nh ững cơ sở lý luận về hoạt động tự học và tổ chức hoạt động tự học của sinh viên
1.2.1.Khái ni ệm và đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên
Tự học ( Self-leaning ) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định
Tự học là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học Trong quá trình dạy học, sinh viên có
thể tiến hành hoạt động tự học dưới nhiều hình thức khác nhau Khi sinh viên tự mình huy động mọi phẩm chất năng lực, tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức là họ tiến hành hoạt động tự học Hoạt động tự học của sinh viên có thể
diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, khi đó sinh viên là chủ thể nhận thức tích
cực, phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân tiến hành các hành động học tập để lĩnh hội tri thức theo sự hướng dẫn của giáo viên
Khi không có giáo viên điều khiển trực tiếp, sinh viên tự mình sắp xếp kế hoạch, sử dụng các điều kiện vật chất và nhất là huy động năng lực bản thân để ôn tập, củng cố, đào sâu, mở
rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do giáo viên giao cho Đồng thời lĩnh
hội tri thức mới Như vậy là sinh viên tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ dạy học và chương trình đào tạo của nhà trường
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động học tập được tiến hành dưới sự tổ chức
và điều khiển của giáo viên, sinh viên còn tiến hành hoạt động tự học nhằm đáp ứng nhu cầu
hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào.tạo đã quy định của nhà trường
Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xem xét hoạt động tự học
của sinh viên ngoài thời gian lên lớp trong quá tành dạy học và luôn đặt dưới sự tổ chức, điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động tự học như vậy là
một hình thức tổ chức dạy học trong mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức tổ chức dạy học khác của quá trình dạy học Vì vậy, hoạt động tự học được nói tới ở đây là quá trình độc lập, nỗ
lực tìm tòi khám phá tri thức của sinh viên dưới sự tổ chức và điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm cũng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được Sự chức, điều khiển của giáo viên trong trường hợp này được tiến hành thông qua việc giao các nhiệm vụ tự học, các
Trang 19bài tập nhận thức được thiết kế nhằm mục đích giảng dạy và hướng dẫn sinh viên hoàn thành các nhiệm vụ đó Sinh viên độc lập thực hiện các hành động tự học do chính nhiệm vụ học tập đặt ra, nhưng không tách khỏi sự tổ chức điều khiển và kiểm tra của giáo viên Điều đó thể hiện
rõ môi quan hệ bản chất giữa giáo viên và sinh viên, giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học
1.2.2.T ổ chức hoạt động tự học của sinh viên
Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên bao gồm cả sự tổ chức, điều khiển của giáo viên
và sự tự tổ chức, tự điều khiển của sinh viên trong sự thống nhất với nhau nhằm mục đích cuối cùng là giúp sinh viên tiến hành hoạt động tự học đạt kết quả tốt
Hoạt động tự học của sinh viên có nhiều khâu, nhiều bước và được tiến hành thông qua các hành động học tập của chính bản thân sinh viên Vì vậy, khi tổ chức hoạt động tự học của sinh viên, giáo viên phải làm cho sinh viên biết tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, sinh viên biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học của mình
Tự tổ chức hoạt động tự học của sinh viên là quá trình sinh viên tự sắp xếp, bố trí các công việc tự học theo một trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng công việc, lựa chọn địa điểm và phương tiện, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành từng công việc, tự điều tra
và tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đặt ra
Như vậy việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên của các trường sư phạm thể hiện ở vai teo tự tổ chức của sinh viên trong bố trí, sắp xếp các công việc , phân phối thời gian tự học ,
biết huy động mọi năng lực và phương tiện để thực hiện được kế hoạch tự học dưới sự tổ chức
và điều khiển của giáo viên Kết quả tổ chức hoạt động tự học của sinh viên có liên quan chặt
chẽ với động cơ học tập , các kỹ năng tự học của sinh viên, vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên cũng như các hoạt động khác cổ liên quan đến hoạt động tự học
1.2.3.V ị trí, vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học sư
ph ạm
Quá trình đào tạo ở trường sư phạm thực chất là quá trình cung cấp kiến thức khoa học bộ môn, đồng thời bồi dưỡng và rèn luyện nghề sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động cơ
Trang 20bản là hoạt động dạy học Hoạt động dạy học ở trường sư phạm nói riêng và trường đại học nói chung về bản chất là tổ chức, điều khiển người học tự chiến lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ
xảo và những cơ sở của nghề nghiệp.Vì vậy, hoạt động tự học của sinh viên sư phạm chiếm
một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học cũng như đào tạo của nhà trường sư phạm
Tự học, tự đào tạo là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả học tập của người học Quá trình dạy học bao gồm hai mặt quan hệ hữu cơ, đó là hoạt động dạy của người
dạy và hoạt động học của người học Người dạy đóng vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều khiển và định hướng hoạt động cho người học Người học vừa là đối tượng tác động của dạy học, vừa là
chủ thể của quá trình đó Trong khi các dạng hoạt động khác của con người hướng vào việc làm thay đổi đối tượng, khách thể của hoạt động thì hoạt động học tập, rèn luyện làm cho chính chủ
thể hoạt động thay đổi Bằng hoạt động tự học, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình, không ai có thể làm thay mặc dù trong dạy học và giáo dục luôn có sự định hướng của giáo viên Tác động của người dạy - giáo viên (ngoại lực) chỉ có thể được phát huy thông qua hoạt động tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo của người học - tự học (nội lực) Như
vậy trong quá trình dạy học và đào tạo, tự học có vai trò quan trọng và được biểu hiện ở chỗ:
- Tự học là hoạt động giúp sinh viên lĩnh hội vững chắc hệ thông những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo Các nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới vẫn thường nhấn mạnh đến vai trò của
chủ thể trong nhận thức hiện thực khách quan, họ đề cao nguyên lý học và công việc của từng
cá thể Thực chất của quá trình thu nhận tri thức phải là quá trình tư duy bên trong của bản thân
chủ thể như Anhstanh đã từng nói: “Kiến thức chỉ có được do tư duy của con người” [10] Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động nhồi nhét, áp đặt theo phương thức thông tin - tiếp thụ Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức, đó là hoạt động đòi hỏi cá nhân phải phát huy cao độ những phẩm chất và năng lực của mình để phản ánh thế
giới khách quan, đặc biệt là năng lực tư duy trừu tượng Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng, ứng dụng Chính vì vậy mà kiến thức tự học bao
giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và sáng tạo
Tự học là hoạt động giúp sinh viên rèn luyện để phát triển năng lực nhận thức, hình thành
và phát triển các phẩm chất trí tuệ Tự học không chỉ giúp cho sinh viên tích lũy được vốn tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo mà trong quá trình độc lập giải quyết các thao tác trí tuệ của sinh viên
Trang 21làm cho các thao tác trí tuệ của sinh viên cũng trỏ nến thành thạo và vững chắc, giúp sinh viên không ngừng phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức Từ đó hình thành các phẩm
chất hoạt động trí tuệ cần thiết như: tính định hướng, tính bề rộng, tính chiều sâu, tính linh
hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính phê phán, tính khái quát… Không những vậy, tự học còn giúp cho sinh viên hình thành niềm tin khoa học, bồi dưỡng hứng thú khoa học, rèn luyện ý chí
phấn đấu, tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú khoa học, lòng say mê nghiên cứu khoa học và những phẩm chất nhân cách khác
Tự học, tự rèn luyện là con đường quan trọng nhất để sinh viên sư phạm ngày nay -người giáo viên sau này, không ngừng nâng cao trình độ của mình
Tóm lại, trong quá trình dạy học ở đại học, tự học chiếm một vị trí quan trọng và có vai trò to lớn Nếu nhà trường và các thầy cô giáo bồi dưỡng cho sinh viên ý chí và năng lực tự học
cần thiết thì sẽ khơi dậy tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên năng lực nội sinh vốn có của quá trinh học tập, vươn lên trên những kích thích bên ngoài như biện pháp thi đua, khen thưởng trách phạt Khả năng tự học chính là “nội lực” là nhân tố giữ vai trò quyết định chất lượng đào
tạo Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa hoàn toàn hạ thấp vai trò của người thầy giáo và
tập thể sinh viên trong trường Thầy cô và bạn bè trong lớp có vai trò quan trọng trong việc định hướng, động viên, cổ vũ cho sinh viên tự học đúng hướng
1.2.4.Vai trò c ủa động cơ tự học
Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ
của hoạt động đó Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, tạo nên khát vọng, hứng thú, giúp chủ thể vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để đạt tới mục đích đã định Vì vậy, động cơ hoạt động sẽ quyết định kết quả của hoạt động đó
Hoạt động tự học cũng giống như các hoạt động khác, được thúc đẩy bởi hệ thống động
cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp tương lai, cho tới cấp độ cao hơn là thỏa mãn nhu cầu hiểu
biết, lòng khao khát tri thức
Trang 22Tuy nhiên, “động cơ tâm lý không phải là cái thuần túy tinh thần ở bên trong cá thể Nó
phải được vật thể hóa” (hiện thân, bám vào ) ở đối tượng của hoạt động Điều đó có nghĩa là động cơ phải có một hình thức tồn tại vật chất, hiện thực ở bên ngoài Với ý nghĩa đó, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy [14]
Mọi động cơ đều có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ những tác động bên ngoài và được cá nhân hóa thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mỗi cá nhân Hình thành động
cơ hoạt động cho cá nhân phải bắt đầu từ xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với
nhận thức tình cảm của cá nhân Đó chính là quá trình chuyển vào trong của các điều kiện,
những yêu cầu có nguồn gốc từ bên ngoài thành động cơ hoạt động của cá nhân
Sự nảy sinh động cơ tự học lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm bắt buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy động cơ tự học của sinh viên Chính trong quá trình tự
học, chính nội dung tri thức khoa học làm nảy sinh trong sinh viên lòng khát khao hiểu biết sâu
sắc, ham muốn và say mê tự nghiên cứu thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình Động cơ tự học không thể áp đặt từ bên ngoài mà phải được hình thành bên trong mỗi cá nhân và trong chính quá trình sinh viên lĩnh hội tri thức trong học tập Những động cơ có thứ bậc ngày càng cao sẽ thúc đẩy mạnh mẽ tính tích cực nhận thức của sinh viên trong tự học
Như vậy, động cơ tự học của sinh viên quyết định kết quả tự học của họ trong quá trình đào tạo Động cơ học tập để có nghề nghiệp bền vững sẽ là cơ sở phát triển động cơ tự học của sinh viên Hứng thú nhận thức và nhu cầu phát triển nghề thầy giáo tương lai tạo nên ở sinh viên sự mong muốn khát khao chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và rèn luyện nghề nghiệp trong suốt quá trình đào tạo
1.2.5 K ỹ năng tự học là yếu tố cần thiết cho việc tổ chức hoạt động tự học của sinh viên
Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng tự học là hệ thông những thủ thuật, những thao tác, đảm
bảo cho con người sãn sàng và có năng lực hoàn thành công việc một cách có ý thức, độc lập
với chất lượng cần thiết trong thời gian tương ứng với những điều kiện mới Nói cách khác kỹ năng là những phương thức thể hiện hành động thích hợp tương ứng với mục đích và những điều kiện hoạt động hình thành những thói quen tốt, hạn chế những thói quen xấu trong hoạt động nói chung và hoạt động tự học của sinh viên nói riêng Các nhà giáo dục học đã coi kỹ
Trang 23năng học tập của sinh viên là một loại kỹ năng chuyên biệt của hệ thốhg các kỹ năng sư phạm,
sử dụng để lĩnh hội tri thức nói riêng, phát triển trí tuệ nói chung trong quá trình học tập [34]
Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả của một hay một nhóm hành động tự học
bằng cách vận dụng các tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Như Krupskaia đã nói: “Tự học, còn có nghĩa là dựa vào những khái niệm mình đã có, coi đó là hạt nhân, rồi tổ chức quanh nó những khái niệm mới gắn liền với hạt nhân
cơ bản [32] Kỹ năng tự học có những đặc trưng sau:
- Kỹ năng tự học là tổ hợp các cách thức hành động tự học được người học nắm vững, nó
biểu ở mặt kỹ thuật của hành động tự học và mặt năng lực tự học của mỗi cá nhân Có kỹ năng
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau Chỉ trên cơ sở tri thức và
những thói quen đã được luyện tập một cách nhuần nhuyễn và chỉ thông qua luyện tập có mục đích, đặc biệt trong hành động có tính chất tự lực thì mới hình thành hệ thống kỹ năng tự học cho sinh viên Nói một cách khác, kỹ năng chỉ được hình thành trên cơ sở hệ thống các tri thức tương ứng với nó, trong điều kiện được rèn luyện thường xuyên Thực chất của việc hình thành các kỹ năng học tập là làm cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ học tập cụ
thể Hoạt động tự học của sinh viên không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo mới mà còn hướng vào cả việc tiếp thu những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu được cả phương pháp giành tri thức đó Hoạt động tự học của sinh viên được tiến hành bởi các hành động tự học nhằm giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể, trong những điều kiện cụ thể Hành động tự học của sinh viên được thực hiện bằng hệ thống các thao tác trí
tuệ (so sánh, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa ) tùy thuộc vào những mục đích, điều
Trang 24kiện, tri thức kỹ năng mà sinh viên đã có Những thao tác trí tuệ tham gia thực hiện những hành động này chính là những hành động được tổ chức lại và trở thành phương thức chiếm lĩnh, hoàn thành các nhiệm vụ tự học khác Nhờ kỹ năng này mà sinh viên không thụ động tư duy theo sự dẫn dắt trực tiếp của thầy, không sao chép máy móc những kết luận, những khái niệm,
những định luật, định lý mà họ chiếm lĩnh chúng bằng các hoạt động tự khám phá theo phương
thức riêng của mình Như vậy, trong quá trình tự học sinh viên luôn tìm được những cách học phù hợp với điều kiện riêng của mình, vận dụng chúng một cách linh hoạt, sáng tạo trong
những trường hợp cụ thể, những điều kiện cụ thể Do đó trong hoạt động tự học luôn đòi hỏi ở sinh viên tính chủ động, tính sáng tạo trong cách học hơn là những tri thức thu lượm được về
vấn đề này, các nhà tâm lý học đã khẳng định: Mục đích của tự chủ trí tuệ không phải là biết
nhắc lại hay bảo tồn các chân lý đã có, mà phải là học cách chiếm lĩnh các chân lý bằng chính
bản thân mình Trong giáo dục trí tuệ phải dẫn dắt học sinh tự xây dựng cho mình những công
cụ để làm biến đổi cái chất bên trong, nghĩa là biến đổi thực sự chứ không phải là hình thức bên ngoài [34]
Vì vậy, để sinh viên thực hiện có kết quả hoạt động tự học, điều quan trọng là sinh viên
phải có đựơc hệ thống các kỹ năng tự học Chính những kỹ năng tự học giúp cho sinh viên hoàn thành những nhiệm vụ học tập của mình và làm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức của chính bản thân mình Và đến lượt nó, chính những nhiệm vụ học tập được sinh viên ý thức đầy
đủ, cùng với sự khao khát tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới lại đặt sinh viên vào tình huống phải tìm ra những phương thức chiếm lĩnh mới Như vậy, kỹ năng tự học luôn được hoàn thiện để giúp sinh viên biến động cơ học tập thành kết quả cụ thể làm cho sinh viên vững vàng hơn, tự tin hơn trong học tập Kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong tạo ra kết quả học tập
1.2.6 Ho ạt động tự học của sinh viên trong trường đại học
Quá trình dạy học ở đại học bao gồm hai hoạt động thông nhất biện chứng với nhau: hoạt động dạy và hoạt động học Hoạt động dạy của người thầy giáo nhằm lãnh đạo, tổ chức, điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu khoa học của người học trong các lĩnh vực khoa học Hoạt động của người học là sự tự giác , tích cực huy động mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy đến tình cảm, ý chí hành động nhằm
Trang 25chiếm lĩnh tri thức Hoạt động học tập của sinh viên đại học có nhiều nét khác với học sinh phổ thông Sinh viên tự giác nắm vững những tri thức khoa học liên quan đến nghề nghiệp tương lai
của mình, đồng thời, họ phải dần dần tham gia vào quá trình tự tìm ra chân lý mới trong lĩnh
vực nghề nghiệp bằng cách tiến hành nghiên cứu khoa học thông qua các bài tập nghiên cứu như: các niên luận, các khóa luận, đề án tốt nghiệp Trong quá trình nhận thức, sinh viên phải
phản ánh được bản chất và những quy luật của thế giới khách quan vào ý thức của mình Sự
phản ánh đó mang tính khách quan về nội dung, đồng thời, sinh viên phải có cách thức phản ánh riêng của mình, có cách sắp xếp trình bày tri thức thu lượm được theo cách riêng của mình Đây là một điểm thể hiện tính độc lập sáng tạo riêng của mỗi cá nhân trong học tập Như vậy,
hoạt động học của sinh viên đại học là hoạt động thể hiện trình độ tư duy lý luận cao, thể hiện tính độc lập cao, thể hiện bản lĩnh cao trong việc đề ra và bảo vệ ý kiến của mình Tuy nhiên
hoạt động đó không tách rời khỏi vai trò tổ chức, điều khiển và định hướng của người thầy Chúng ta có thể nói rằng: Bản chất của quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự chỉ đạo của thầy giáo nhằm đạt được các nhiệm vụ
dạy nghề, dạy phương pháp và dạy lý tưởng nghề nghiệp [35] Quá trình dạy học ở đại học thực
chất là quá trình dạy - tự học, trong đó bao gồm hoạt động dạy của người thầy (ngoại lực) và
- Bản thân người học tự tìm hiểu vấn đề, tìm thập thông tin, xác định vấn đề, đưa ra các
giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề thích hợp nhất Sau đó, người học thử nghiệm các
giải pháp đề ra, tự tìm ra kiến thức mới, cách giải quyết vấn đề mới và tạo ra những sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân của mỗi người học
- Người học tự thể hiện các sản phẩm của mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày
và bảo vệ ý kiến cá nhân của mình trước tập thể lớp và thầy cô Qua đó tạo ra sản phẩm có tính
chất xã hội
Trang 26- Sau khi được thầy kết luận, người học căn cứ vào đó mà tự kiểm tra, tự đánh giá sản
phẩm ban đầu của mình rồi tự điều chỉnh, sửa sai để tạo ra sản phẩm khoa học
Hoạt động dạy của thầy là hoạt động tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, cố vấn, trọng tài, kết
luận Hoạt động tự học của trò nhằm biến những kho tàng tri thức của nhân loại thành học vấn riêng của người học
- Người thầy đưa ra và hướng dẫn cho người học về các tình huống học tập, các vấn đề
cần giải quyết, các nhiệm vụ cần phải thực hiện
- Người thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình trong sự hợp tác với các học sinh khác trong quá trình tìm ra chân lý
- Trong các quá trình trên người thầy là người trọng tài, cố vấn để khẳng định về mặt khoa
học những kiến thức do người học tự chiếm lĩnh được
Như vậy, trong quá trình dạy học ở đại học, hoạt động dạy của thầy có mối quan hệ biện
chứng với hoạt động tự học của trò Tác động dạy của thầy dù quan trọng đến mức “không thầy
đố mày làm nên” nhưng vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy và tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển, hình thành năng lực tự học của trò và dù còn đang phát triển thì hoạt động tự học
vẫn là nội lực quyết định cho sự phát triển của bản thân người học Người học là chủ thể, đóng vai trò trung tâm tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của chính mình
Nhấn mạnh vai trò của người học không có nghĩa là hạ thấp vai trò cửa người thầy mà ở đây, người thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức và điều khiển quá trình tự học của trò Theo S Rasska [18] với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình học tập tự lực thì quyền lực
của giáo viên không còn dựa trên sự thụ động của học sinh mà là dựa trên năng lực của giảo viên góp phần vào sự phát triển của học sinh thông qua sự tham gia tích cực của các học sinh
Một giáo viên sáng tạo là một giáo viên biết giúp đỡ học sinh tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học
Rõ ràng, chất lượng giáo dục đạt trình độ cao nhất khi tác động dạy của thầy (ngoại lực)
cộng hưởng với năng lực của trò
Sinh viên t ự học dưới sự tổ chức điều khiển gián tiếp của giáo viên:
Trang 27Như đã trình bày ở trên, trong quá trình dạy học, sinh viên và giáo viên luôn tác động qua
lại, gắn bó chặt chẽ với nhau Sinh viên không chỉ là đối tượng tác động của giáo viên mà còn
là chủ thể tích cực, sáng tạo trong quá trình dạy học Mọi tác động của giáo viên và của các nhân tố khác chỉ là ngoại lực, thúc đẩy sự vận động, phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng và trình độ học vấn của sinh viên Sự vận động của sinh viên phải là sự tự vận động trong hoạt động tự học, sinh viên thật sự tích cực, tự giác hướng tới tự giáo dục, tự đào tạo bản thân Họ
tiến hành hoạt động tự học bằng hành động của chính mình Mục tiêu cụ thể trong hoạt động tự
học của sinh viên không phải là những khái niệm có sẵn có thể truyền đạt cho họ qua lời giảng
của người thầy Mục tiêu chính ở đây là khách thể chứa tri thức, chứa khái niệm mà bằng hoạt động của chính mình họ tác động vào khách thể đó qua việc thực hiện những nhiệm vụ học tập
để làm bộc lộ những tri thức cần lĩnh hội, mặc dù chỉ là khám phá lại những tri thức khoa học
đã được khám phá, Trong quá trình khám phá, lĩnh hội tri thức đó, sinh viên cũng hình thành và phát triển năng lực tự khám phá, tự chiếm lĩnh, tức là phát triển các kỹ năng tự học Lý luận
dạy học ở đại học coi hoạt động tự học của sinh viên là một hình thức tổ chức dạy học được sử
dụng phối hợp, xen kẽ với các hình thức dạy học tích cực khác nhằm giúp sinh viên đạt tới trình độ tri thức nhất định, hoàn thành nhiệm vụ học tập.Vai trò của giáo viên trong hoạt động
tự học của sinh viên không giống các hình thức tổ chức dạy học khác ở chỗ là không có mặt
trực tiếp của giáo viên Hoạt động học tập của sinh viên trong quá trình dạy học có thể được mô
tả bằng sơ đồ hình 1
Theo cách mô tả trên, từ một nội dung dạy học của bộ môn (nội dung), giáo viên có thể
phối hợp tổ chức cho sinh viên đi theo hai con đường để đạt tới kết quả lĩnh hội tri thức (kết
quả)
Bằng con đường 1, giáo viên sử dụng các hình thức dạy học dưới sự điều khiển trực tiếp
của giáo viên như diễn giảng, đàm thoại, xêmina để hoặc chính giáo viên giải quyết vấn đề đã đưa ra, qua đó sinh viên lĩnh hội tri thức
Trang 28Tuy nhiên, tri thức mà sinh viên lĩnh hội được bằng con đường nêu trên chưa thật sự vững
chắc ,chưa sâu sắc và chưa hoàn chỉnh mà sinh viên còn phải tự nghiên cứu, tự học để cũng cố
và mở rộng Vì vậy, giáo viên phải xây dựng những nhiệm vụ học tập, thiết kế các bài tập nhận
thức giao cho sinh viên thực hiện trong thời gian tự học Đó chính là giáo viên tổ chức cho sinh viên đi theo con đường 2 (hình 1)
Đứng trước các nhiệm vụ tự học được giao, sinh viên phải tự phát hiện những vấn đề cần
giải quyết, tự vạch kế hoạch, huy động mọi năng lực và phương tiện để giải quyết vấn đề nhằm
Trang 29hoàn thành nhiệm vụ tự học được giao Qua đó sinh viên củng cố, mở rộng và hoàn chỉnh kết
quả lĩnh hội tri thức của mình
Như vậy, vai trò của giáo viên trong hoạt động tự học của sinh viên là điều khiển gián tiếp thông qua các nhiệm vụ tự học nhằm mục đích dạy học, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho sinh viên hoàn thành được nhiệm vụ của mình Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ tự học của sinh viên là khâu điều khiển tiếp theo đã khép kín chu trình điều khiển
Vai trò của giáo viên tro ng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên có thể phân thành ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Giáo viên giao nhiệm vụ tự học cho sinh viên, trang bị cho họ những thông tin, những tri thức cần thiết để họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ đó
Giai đoạn II: Sinh viên độc lập thực hiện nhiệm vụ
Giai đoạn III: Sinh viên tự kiểm, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ tự học của mình
kết hợp với sự kiểm tra, đánh giá của giáo viên Nếu kết quả giải quyết nhiệm vụ không đáp ứng được yêu cầu đặt ra, sinh viên phải quay trở lại giai đoạn II, thực hiện lại những nhiệm vụ được giao
Có thể nói ở giai đoạn I và giai đoạn III có sự tác động trực tiếp của giáo viên đối với sinh viên Còn ở giai đoạn II, sinh viên độc lập thực hiện các nhiệm vụ học tập Trong giai đoạn II,
hoạt động tự học đã thực sự đặt sinh viên vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức tích cực, sáng tạo mà vẫn không hạ thấp vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên Khi điều khiển hoạt động tự học của sinh viên, giáo viên không hoàn toàn áp đặt về nội dung, phương pháp, về nhịp điệu tiến hành mà còn căn cứ vào mục đích dạy học để thiết kế các nhiệm vụ
nhận thức được phân bố theo mức độ khó, theo nội dung dạy học trong toàn bộ nội dung tổng
thể của môn học
Giáo viên không hoàn toàn phó mặc cho sinh viên thực hiện các nhiệm vụ tự học, cũng không làm thay cho sinh viên trong hoạt động tự học của họ, mà là người tổ chức điều khiển gián tiếp quá trình đó
Trang 30Để đạt được như vậy, giáo viên phải biết lựa chọn và đặt ra cho sinh viên những mục tiêu
vừa sức, bảo đảm cho họ sự trưởng thành và sự tự nhận biết về mức độ tiến bộ trong học tập, làm như vậy là giáo viên đã kích thích cho sinh viên sự hứng thú trong học tập, phát triển mọi năng lực và làm chủ hoạt động nhận thức của mình Khi đó giáo viên không còn là người truyền tải toàn bộ thông tin khoa học mà trở thành chất xúc tác của quá trình truyền tải thông tin, còn sinh viên là người chủ động tìm kiếm và lĩnh hội các thông tin khoa học Ngoài ra, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp sinh viên có được những kỹ năng tự học cần thiết để thực hiện thành công các hành động tự học của mình Đây cũng là công việc không đơn giản của giáo viên trong tổ chức hoạt động của sinh viên Nhà giáo dục học Makiguchi đã gợi ý: “muốn mắm được cách dạy người khác, bản thân người thầy giáo phải tìm ra cách học của chính mình Một khi giáo viên đã tìm được cách học hữu hiệu nhất, họ sẽ hiểu rằng đó chính là phương pháp
phải dùng để hướng dẫn người học” [ 26 - tr.243]
Để thấy rõ hơn vai trò của giáo viên và sinh viên trong quá trình hoạt động tự học của sinh viên, chúng ta xem xét sự biến đổi vai trò đó trong các hình thức tổ chức dạy học ở đại học là: diễn giảng, xêmina, thực hành, tự học
Khi tiến hành diễn giảng, giáo viên hoàn toàn chủ động về nội dung, phương pháp, tiến
độ chủ yếu bằng độc thoại, sinh viên ít có cơ hội tham gia vào quá trình tìm kiếm và khám phá tri thức do điều kiện thời gian và nội dung bài giảng đã được xác định từ trước Các tri thức được giáo viên truyền tới sinh viên một cách tuần tự, sinh viên chỉ cần ghi nhớ, hiểu đúng tư tưởng của giáo viên.Trong hình thức dạy học này, giáo viên là chủ thể của buổi học
Khi tiến hành buổi học xêmina, vấn đề học tập đã được sinh viên chuẩn bị trước và đưa ra trao đổi tranh luận trước tập thể lớp, dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên Sinh viên có điều kiện để phát huy sáng kiến cá nhân, tự trình bày quan điểm của mình, có nghĩa là họ đã
chủ động trong nhận thức Tuy nhiên hoạt động này được đặt dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên, sinh viên chỉ xem xét nghiên cứu trong giới hạn các vấn đề đã được xác định theo kế
hoạch và tiến độ của giáo viên Sinh viên có thể tranh luận các vấn đề nhưng phải tuân theo các
kết luận của giáo viên mà không tính hội tri thức theo cách hiểu của riêng mình Tri thức khoa
học trong buổi xêmina được sinh viên cùng nhau khám phá nhưng vẫn phải hướng vào nội dung bài giảng của giáo viên, như vậy trong hình thức dạy học này sinh viên đã chủ động và
Trang 31tích cực hơn trong hoạt động lĩnh hội tri thức, giáo viên không còn độc thoại áp đặt như trong hình thức diễn giảng
Trong hình thức thực hành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên, sinh viên vận dụng tri
thức để tự điều khiển hoạt động học tập của mình Nhưng ở đây vẫn do giáo viên xác định và điều khiển trực tiếp, giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh đi theo trình tự nội dung đã được chuẩn bị trước
Còn trong hoạt động tự học, sinh viên hoàn toàn chủ động cả về nội dung, phương pháp,
kế hoạch và tiến độ thực hiện các hoạt động tự học, giáo viện không còn trực tiếp điều khiển sinh viên mà thông qua các nhiệm vụ nhận thức giao cho sinh viên thực hiện Tri thức khoa học sinh viên cần lĩnh hội trong hoạt động tự học không chỉ nằm ở các nhiệm vụ tự học được giao
mà còn có nhiều dạng phong phủ khác, gắn liền với hoạt động tương lai của sinh viên
Qua sự phân tích trên đây, vai trò tích cực, chủ động của sinh viên tăng dần theo từng hình thức dạy học: diễn giảng, xêmina, thực hành, tự học, còn vai trò điều khiển trực tiếp của người giáo viên giảm dần đến gián tiếp ở hoạt động tự học Có thể nói trong quá trình dạy học, khi vai trò chủ động, trực tiếp của giáo viên giảm dần, thì vai trò tích cực, chủ động của sinh viên tăng dần, tính thực tiễn của tri thức khoa học trong đối tượng nhận thức cũng tăng lên Qua những nội dung trình bày trên đây cho thấy, hoạt động tự học của sinh viên là hình
thức tổ chức dạy học phát huy được cao nhất vai trò chủ thể tích cực, độc lập nhận thức của sinh viên, nhưng không tách rời khỏi vai trò điều khiển của giáo viên Tổ chức hoạt động tự
học của sinh viên phải bắt đầu từ sự cụ thể hóa động cơ tự học bằng hệ thống các nhiệm vụ học
tập được thiết kế theo mục đích dạy học, sau đó là thực hiện điều khiển chính thông qua những nhiệm vụ nhận thức Cách tổ chức hoạt động tự học theo phương hướng trên là phù hợp với đặc điểm của sinh viên ở các trường đại học
1.3.Th ực trạng về hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Để tìm hiểu được thực trạng về hoạt động tự học của sinh viên, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra kết hợp trao đổi trực tiếp với sinh viên, giáo viên và trực tiếp quan sát
việc tự học của sinh viên ở thư viện Mục đích khảo sát là điều tra về thực chất nhận thức,
Trang 32phương pháp và tổ chức hoạt động tự học của sinh viên Trước khi tiến hành khảo sát, chúng tôi đã trao đổi với sinh viên và giáo viên để có nhận xét sơ bộ, từ đó thiết kế hai mẫu hỏi ý
kiến: mẫu 01 dành cho sinh viên, mẫu 02 dành cho giáo viên và cán bộ quản lý Sau khi xử lý trên 300 phiếu số 01 và 45 phiếu số 02, kết hợp với quan sát, trao đổi trực tiếp, chúng tôi thu được những kết quả sau đây:
1.3.1.Nh ận thức về vị trí và vai trò của hoạt động tự học:
100 % giáo viên và 97,8% số sinh viên được hỏi ý kiến đã khẳng định rằng: Trong quá trình đào tạo ở trường đại học sư phạm, hoạt động tự học của sinh viên rất cần thiết vì đây là nhân tố quyết định trực tiếp kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên nói riêng và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung Chính vì vậy việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên có
ý nghĩa rất lớn đối với kết quả học tập cũng như kết qủa tu dưỡng, rèn luyện các phẩm chất nhân cách cần thiết của người sinh viên Ý kiến của giáo viên và sinh viên về ý nghĩa của hoạt động tự học được thể hiện ở bảng 1
B ảng 1: Vị trí vai trò và ý nghĩa của hoạt động tự học
Trang 33Số liệu trên đây cho thấy:
Đối với sinh viên: phần lớn sinh viên (trên 90%) nhận thức khá đầy đủ về ý nghĩa của tự
học đối kết quả học tập của họ như: hiểu sâu bài mở rộng và cũng cố tri thức, đạt được kết quả cao trong các kì thi Nhưng vẫn còn không ít sinh viên chưa thấy được ý nghĩa của tự học đối
với quá trình học tập và rèn luyện của họ
-Chỉ có 79,4% sinh viên cho rằng tự học giúp họ hình thành nề nếp làm việc có khoa học -Có 81,2% sinh viên cho rằng tự học giúp họ có khả năng đánh giá bản thân và tự tin vào
bản thân mình
-Có 61,4% sinh viên nhận thấy tự học giúp cho họ hình thành kỹ năng tự học
- Về phía giáo viên: Họ đánh giá rất cao về ý nghĩa tự học của sinh viên
-100 % giáo viên cho rằng tự học không những giúp cho sinh viên làm chủ tri thức, đạt được kết quả cao trong các kỳ thi mà còn giúp cho sinh viên rèn luyện kỹ năng vận dụng tri
thức vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới
Từ 92-96% giáo viên khẳng định rằng hoạt động tự học giúp cho sinh viên hình thành tích
cực, tự giác, độc lập, hình thành các kỹ năng học tập và giúp họ tự tin vào bản thân
1.3.2.Nh ận thức về các yểu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học cửa sinh viên
Trang 34B ảng 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên
Số liệu của bảng 2 cho thấy: các yếu tố nêu trên đều ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên, trong đó sinh viên cho rằng các yếu tố như phương pháp và kỹ năng tự học (chiếm 96,8%), tài liệu và phương tiện học tập (95,6%), hứng thú đối vối môn học ảnh hưởng nhiều
nhất đến hoạt động tự học Trong khi đó 100% giáo viên lại cho rằng ý thức động cơ học tập
của sinh viên ảnh hưởng đến hoạt động tự học và các yếu tố như giáo viên giao nhiều nhiệm vụ
học tập (98,0%) sinh viên phải có phương pháp và kỹ năng tự học (95,7% ), cũng là những yếu
tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động tự học Tóm lại, trong điều kiện thực tế hiện nay ở trường đại
học sư phạm có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan gây ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên, trong đó các yếu tố chủ quan của sinh viên có ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động tự
học như ý thức, động cơ học tập, hứng thú đối với môn học
Trang 351.3.3.Th ực trạng về động cơ tự học
Động cơ tự học của sinh viên được hình thành dần dần ttong quá trình chiếm lĩnh đối tượng học tập và nó được biểu hiện khá đa dạng như: mong muốn hoàn thành nhiệm vụ học
tập, thành thạo nghề nghiệp, ham muốn được chiếm lĩnh tri thức khoa học Để tìm hiểu thực
trạng này, ngoài việc trao đổi trực tiếp với giáo viên và sinh viên, chúng tôi còn sử dụng phiếu điều tra số 1 Kết quả về thực trạng động cơ tự học của sinh viên được thể hiện ở bảng 3
B ảng 3: Thực trạng về động cơ tự học của sinh viên
Qua kết quả ở bảng 3, chúng tôi thấy rằng phần lớn sinh viên chưa xác định rõ cho mình động cơ hứng thú học tập Hoạt động tự học của sinh viên thường được thúc đẩy bởi động cơ
“gần”, gắn liền với kết quả của các kỳ thi và kiểm tra
- Có tới 96,4% số sinh viên được hỏi cho rằng việc tự học của mình xuất phát từ động cơ đạt điểm cao trong các kỳ thi và kiểm tra
- Chỉ có 39,7% sinh viên cho rằng hoạt động tự học của họ xuất phát sự ham mê học tập, khát vọng chiếm lĩnh tri thức và chỉ có 35% số sinh viên cho rằng hoạt động tự học của họ xuất phát từ lòng yêu thích nghề nghiệp
Trang 361.3.4.Th ực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên
Kỹ năng tự học của sinh viên được hình thành và hoàn thiện trong quá trình sinh viên
thực hiện các công việc tự học để lĩnh hội tri thức, chúng tôi cũng đã tiến hành tìm hiểu thực
trạng này thông qua viếc trao đổi trực tiếp với các giáo viên và sinh viên, chúng tôi cũng sử
dụng câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến phiếu số 1 và phiếu số 2 Kết quả điều tra được thể
hiện ở bảng 4
B ảng 4: Việc thực hiện các hành động tự học của sinh viên
Trang 37Kết quả ở bảng 4 cho thấy:
Sinh viên bước đầu thực hiện các công việc tự học, trong đó công việc được đông đảo sinh viên thực hiện là học nguyên văn lời giảng của giáo viên (94,4%) và làm đầy đủ bài tập do giáo viên yêu cầu ( 92,6% ) Đây là cách học truyền thống, khá phổ biến ở nhiều trường và nhiều môn học khác nhau của cả học sinh và sinh viên Mặt tích cực của cách học này là sinh viên thu được những kiến thức cơ bản trọng tâm đã được các thầy, cô giáo lựa chọn và định hướng ( gia công sư phạm ) Tuy nhiên, theo chúng tôi cách học này - học nguyên văn lời giảng
của giáo viên sẽ làm mất đi tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá tành học
tập Và vì vậy, chất lượng hoạt động học tập của sinh viên chưa cao Qua trao đổi với giáo viên
ở một số bộ môn, chúng tôi được biết rằng: đại đa số sinh viên đã cố gắng hoàn thành các bài
tập mà các thầy cô giáo giao cho, song trong số đó thường là những cách giải máy móc, dập khuôn hoặc qua loa chiếu lệ
Bên cạnh việc thực hiện các công việc tự học trên, sinh viên cũng có thực hiện các hành động tự học khác như, học vở ghi kết hợp với đọc sách, đọc giáo trình ( 46,6% ), lập dàn bài đề cương ngay sau khi nghe giảng (32,4% ) đề suất thắc mắc, suy nghĩ của mình với thầy cô, bạn
bè (33,4% )
Những cách học này đòi hỏi sinh viên phải có ý chí, sự động não và sự căng thẳng trí tuệ
ở mức độ cao Nó giúp cho sinh viên nắm được bản chất của vấn đề, hiểu sâu được kiến thức
và vì thế sẽ mang lại kết quả và chất lượng cao trong học tập Tuy nhiên, số sinh viên sử dụng các hành động tự học này còn ít và còn chưa thường xuyên Từ kết quả điều ưa cho thấy:
+ Sinh viên hầu như không lập sơ đồ hệ thông hóa, tóm tắt, phân loại bài học, bài tập + Sinh viên rất ít đề xuất những thắc mắc, suy nghĩ của mình với thầy cô và bạn bè
Với kết quả như trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết sinh viên mới chỉ sử dụng cách học quen thuộc từ khi còn là học sinh phổ thông Việc tự học thường diễn ra theo kiểu thụ động, cách tự học mang tính sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động chưa được sinh viên sử dụng nhiều và thường xuyên
Trang 38Để điều tra về mức độ các kỹ năng tự học của sinh viên, chúng tôi sử dụng phiếu số 1, đồng thời tiến hành quan sát, trao đổi trực tiếp với giáo viên và sinh viên Kết quả thu dược ở
bảng 5
B ảng 5 : Tự đánh giá của sinh viên về mức độ cần thiết các kỹ năng tự học
Qua kết quả ở bảng 5, chúng tôi nhận thấy phần lớn sinh viên chưa nhận thức được rằng,
cần phải có kỹ năng kỹ xảo để đạt được kết quả trong hoạt động tự học Có khá nhiều sinh viên cho rằng các kỹ năng tự học là không cần thiết hoặc khống nhất thiết Cụ thể:
- Có tới 56,8 % số sinh viên cho rằng không cần thiết phải lập kế hoạch tự học, chỉ có 15,2 % cho rằng cần thiết phải lập kế hoạch tự học
Trang 39- Có tới 52,3 % số sinh viên được hỏi cho rằng không nhất thiết phải đọc sách, đọc tài liệu tham khảo
- Đặc biệt, có tới 58,3 % số sinh viên được hỏi cho rằng không nhất thiết phải giải quyết các nhiệm vụ nhận thức trong quá trình tự học
Tóm lại, sinh viên đã bước đầu thực hiện các công việc tự học như học lại các bài giảng
của giáo viên, cố gắng hoàn thành các bài mà thầy cô giao cho Các công việc tự học mà sinh viên thực hiện còn mang tính thụ động, dập khuôn lại theo bài giảng của giáo viên hoặc làm qua loa chiếu lệ Sinh viên còn chưa ý tức được sự cần thiết phải hoàn thiện các kỹ năng tự học như là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng tự học
Nhận xét chung về thực trạng hoạt động tự học của sinh viên
Qua kết quả điều tra thực trạng tự học của sinh viên trường đại học sư phạm Thành Phố
Hồ Chí Minh được trình ở trên đây, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Hầu hết sinh viên nhận thức được ý nghĩa của tự học, nhưng còn rất hạn chế Sinh viên
mới chỉ thấy ý nghĩa của việc tự học đối với kết quả học tập mà chưa thấy ảnh hưởng của tự
học đối với sự hình thành phẩm chất và nhân cách của một người giáo viên tương lai
Phần lớn sinh viên chưa xác định rõ cho mình mục đích, động cơ học tập Hoạt động tự
học thường được thúc đẩy bởi các động cơ “gần” là chi để đạt được kết quả trong các kỳ thi
- Sinh viên bước đã đầu thực hiện các công việc tự học, mà trong đó những công việc được đa số sinh viên tự học là: học nguyên bài giảng của giáo viên và làm đầy đủ các bài tập do giáo viên yêu cầu Đây là cách học khá phổ biến ở các trường đại học Việc tự học thường xảy
ra theo kiểu thụ động, không phát huy được tính tích cực của sinh viên
- Sinh viên còn thiếu hệ thống các kỹ năng tự học nên họ thực hiện kém hiệu quả nhiệm
vụ tự học, vì vậy chất lượng tự học chưa cao
- Các giảng viên còn ít quan tâm đến hoạt động tự học của sinh viên Thực tế trên đây cho
thấy hoạt động tự học của sinh viên còn chưa được quan tâm đúng mức và chưa góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 40K ết luận của chương 1:
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tự học của sinh viên như đã trình bày ở trên, chúng tôi đi đến kết luận rằng:
Tự học là hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học và có quan hệ chặt chẽ với các hình
thức tổ chức dạy học khác Chính vì thế mà việc nghiên cứu vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được các nhà giáo dục học quan tâm, nghiên cứu từ lâu và đã xác định được vai trò, đặc điểm, bản chất của hoạt động tự học trong nhà trường
Tự học là quá trình nỗ lực, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức của người học bằng hành động của chính mình Hoạt động tự học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương
tiện vật chất, quỹ thời gian tự học Song theo chúng tôi, những yếu tố đóng vai trò quan trọng
là động cơ tự học đúng đắn của sinh viên, những kỹ năng thực hiện các hành động tự học và
việc tổ chức, điều khiển của giáo viên đối với hoạt động học của sinh viên
Hoạt động tự học của sinh viên ở trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh còn bị
hạn chế về nhiều mặt như: sinh viên còn chưa ý thức được đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập, chưa được trang bị những kỹ năng tự học cần thiết, các giảng viên còn ít quan tâm đến hoạt động tự học của sinh viên
Qua kết luận trên đây chúng tôi thấy việc nghiên các biện pháp nhằm tổ chức có hiệu quả
hoạt động tự học của sinh viên ở Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề
cần thiết và cấp bách