1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

về trào lưu ánh sáng trong văn học việt nam nửa sau thế kỷ xix – đầu thế kỷ xx

101 723 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 872,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù không thành công, không được sự quan tâm của chính quyền phong kiến triều Nguyễn, các tác phẩm thơ, văn của các nhà cải cách này đã cất lên tiếng nói góp phần không nhỏ trong công cuộ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

H Ồ HỮU ĐỨC

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

KHÓA 1997 - 2000

Ố HỒ CHÍ MINH – 2000

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả học tập tại lớp Cao học ngành Ngữ văn chuyên ngành Văn

học Việt Nam khoa 6A (1997-2000) trường Đại học Sư phạm thành phổ Hồ Chí Minh và quá trình nghiên cứu của bản thân

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kiên Giang và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi trống suốt quá trình học tập

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo thuộc Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học và quý thầy cô giáo thuộc Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ cũng như

tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập cho đến lúc hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên đã tận tình hướng dẫn suốt quá trình hình thành và hoàn chỉnh luận văn này

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng, nhưng do khả năng và kinh nghiệm có hạn, vấn

đề trình bày trong luận văn tượng đối mới và khá rộng nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả xin nhận được sự góp ý trao đổi của quý thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc quan tâm đến vấn đề này Xin chân thành cảm ơn

Trang 4

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

M Ở ĐẦU 6

l.LÝDO CH ỌN ĐỀ TÀI 6

2.L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

4.TÌNH TR ẠNG TƯ LIỆU 10

5.B Ố CỤC LUẬN ÁN 11

Chương 1: TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHƯƠNG TÂY VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM N ỬA SAU THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX 12

1.1.TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHƯƠNG TÂY 12

1.1.1.V Ề THUẬT NGỮ ÁNH SÁNG 12

1.1.2.GI ỚI THỆU TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHÁP 14

1.1.2.1.B ỐI CẢNH LỊCH SỬ 14

1.1.2.2.TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG ÁNH SÁNG Ở PHÁP 15

1.1.3.PHONG TRÀO TI ỀN TÂN THƯ Ở TRUNG HOA VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ V ỚI TRÀO LƯU ÁNH SÁNG 17

1.2.VI ỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX 21

1.2.1.B ỐI CẢNH LỊCH SỬXÃ HỘI VIỆT NAM VÀ SỰ PHÂN HÓA CÁC TẦNG L ỚP TRONG XÃ HỘI 21

1.3.TI ỂU KẾT 32

Trang 5

Chương 2: VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX- ĐẦU THẾ KỶ

XX VÀ S Ự HÌNH THÀNH TRÀO LƯU ÁNH SÁNG 33

2.1.CÁC KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC 33

2.1.1.KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC 34

2.1.2.KHUYNH HƯỚNG TỐ CÁO HIỆN THỰC 34

2.1.3.KHUYNH HƯỚNG HƯỞNG LẠC, THOÁT LY 35

2.1.4.KHUYNH HƯỚNG NÔ DỊCH 35

2.2.S Ự HÌNH THÀNH TRÀO LƯU ÁNH SÁNG 37

2.3.M ẠCH YÊU NƯỚC THEO TINH THẦN CANH TÂN TRONG SỰ NGHỆP VÀ SÁNG TÁC 48

2.3.1.ĐẶNG HUY TRỨ(1825 - 1874) 49

2.3.2.PH ẠM PHÚ THỨ (1821 - 1882) 55

2.3.3.NGUY ỄN TRƯỜNG TỘ (1830 - 1871) 59

2.3.4.NGUY ỄN LỘ TRẠCH (1853 - 1898) 67

2.4.TI ỂU KẾT 70

Chương 3: TRÀO LƯU ÁNH SÁNG TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM 72

3.1.V Ề PHƯƠNG PHÁP SÁNG TÁC 73

3.2.Ý NGHĨA CỦA TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở VIỆT NAM 87

3.3.T ẾU KẾT 92

K ết luận 94

Thư mục tham khảo 98

Trang 6

M Ở ĐẦU

Trong Di ễn văn Khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản

Đảng khóa V trình bày ngày 15 tháng 12 năm 1986, có đoạn viết:

Để làm chuyển biến tình hình, Đại hội lần thứ VI này phải đánh dấu sự đổi mới của Đảng ta về tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ Đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước

Đố cũng là đặc tính của cách mạng, nhất là cách mạng xã hội chủ nghĩa, là bản chất sâu

vĩ đại

năng động sáng tạo và khả năng vô tận của nhân dân lao động làm chủ tập thể để đồng

ứng yêu cầu của nhân dân ta, hòa nhịp với những đổi thay của thời đại Muốn thế phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ

người chúng ta

Hơn 10 năm sau ngày thống nhất đất nước, trải qua một thời gian dài trì trệ do

những tư tưởng bảo thủ, vấn đề đổi mới đã được Đảng đặt ra và ngay lập tức đã nhận được sự ủng hộ của toàn dân

Trang 7

Thực ra, ở đất nước ta không phải phải đợi đến những năm của cuối thập niên 80

của thế kỷ XX, vấn đề đổi mới mới được đặt ra Nhìn lại quá khứ, ngay từ những năm

giữa thế kỷ XIX, vấn đề đổi mới hay nói cách khác, vấn đề canh tân (còn gọi là Duy tân,

cải cách) đã được nhiều trí thức, Nho học có, Tây học có đặt ra, hoặc trong các sáng tác

phẩm hoặc qua hành động thực tế Rất tiếc là những vấn đề cách tân của các vị tiền bối

đó lại không được quan tâm thích đáng từ phía nhà nước Với những ý tưởng canh tân như vậy họ còn bị ngăn trở, dè bỉu, thậm chí bị nghi ngờ hoặc bị thất sủng

Theo Giáo sư Đinh Xuân Lâm, căn cứ vào những điều kiện của Việt Nam từ những năm giữa thế kỷ XIX, có thể khẳng định rằng vào lúc đó đã có một yêu cầu đổi mới ồ nước ta1 Vấn đề đổi mới để phát triển quốc gia, như vậy, đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan lịch sử, một xu hướng tất yếu của sự phát triển mặc dầu không được triều đình phong kiến nhà Nguyễn ủng hộ Cùng với xu hướng nhận thức ấy, chúng ta có thể nghĩ tới một trào lưu văn học mới đã xuất hiện trong thời kỳ ấy Trào lưu mà các tác gia

của nó là những nhà cải cách Có thể gọi đó là trào lưu văn học yêu nước mang xu hướng canh tân, hay có thể gọi là trào lưu văn học Khai sáng

Dù không thành công, không được sự quan tâm của chính quyền phong kiến triều Nguyễn, các tác phẩm thơ, văn của các nhà cải cách này đã cất lên tiếng nói góp phần không nhỏ trong công cuộc vận động đổi mói thời kỳ này cũng như đã đánh dấu một sự chuyển biến lớn về nhận thức của tầng lớp trí thức yêu nước mang tư tưởng canh tân Việt Nam cuối thế kỷ

Từ Đại hội VI đến nay, trong quá trình đất nước đang đi vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hoa, vãn học đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp chung, việc tìm hiểu cội nguồn sâu xa của vấn đề đổi mới trong lịch sử cũng như việc tìm hiểu sự

xuất hiện của một trào lưu văn học mang tính đổi mới trong lịch sử văn học để rút ra

những bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dụậg chủ nghĩa xã hội cũng như để khẳng định vai trò to lớn của văn học trong sự nghiệp đổi mới góp phần xây dựng một nền văn hóa tiền tiến đậm đà bản sắc dân tộc hôm nay là vấn đề cần thiết

Trang 8

2.L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Trong thời gian gần đây, ở nước ta, những vấn đề có liên quan tới việc có hay không

một trào lim đổi mới trong quá khứ, nhất là trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, có hay không một trào lưu văn học tương ứng với nó, đã lần lượt xuất hiện trên nhiều ấn phẩm

và nhiều hội thảo khoa học Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu dày dặn về một số nhà cải cách lớn của quá khứ như về Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn Nhưng

vấn đề có sức thuyết phục và tập trung hơn là nhằm vào các nhân vật cận đại hơn như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện,

Tuy nhiên, các công trình này, nhìn chung, mới đang dừng lại ở mức khảo cứu riêng

lẻ, ở từng nhân vật lịch sử hoặc mới lướt qua từng nhóm nhân vật lịch sử qua những tài

liệu rất hạn chế về họ

Nhà nghiên cứu Hải Ngọc Thái Nhân Hoa nhận định: bên cạnh dòng yêu nước có

xu hướng vũ trang ngày càng rộng mạnh và đang trở thành lực lượng chủ yếu, xu hướng

Trong giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Giáo sư Nguyễn Lộc quan

niệm rằng ở thời kỳ này tồn tại bốn khuynh hướng văn học chính Đó là: khuynh hướng

lyêu nước chống Pháp, khuynh hướng tố cáo hiện thực, khuynh hướng thoát ly, hưởng lạc

và khuynh hướng nô dịch Còn những tác giả có khuynh hướng cách tân, ông chỉ nhắc

qua và dựa trên loạt các tiêu chí phân loại yếu (tiêu chí phân loại dựa trên sự phủ định các tiêu chí đặc trưng cho từng khuynh hướng trong bốn khuynh hướng đã được khẳng định

ở trên) Theo ông, đó là những tác giả không thuộc những khuynh hướng này, tác phẩm

Trang 9

c ủa họ thỉnh thoảng cũng có những bài có giá trị, nhưng nói chung khuynh hướng không

rõ r ệt 3

Có nhà nghiên cứu khi bàn về hiện tượng văn học này lại chỉ tập trung, điểm vào

một vài tác giả nổi bật kiểu như Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, coi đó là những nhà cách tân thế kỷ XIX, những người có nhãn quan vượt trước thời đại trên nhiều phương diện và cho rằng những sáng tác của các ông chỉ như là một mảng văn

học, một bộ phận nhỏ bên cạnh khuynh hưởng văn học yêu nước chống Pháp mà tuyệt nhiên chưa có ý định dứt khoát định hình họ vào một dòng, một trào lưu hoặc một khuynh hướng riêng, ngang bằng với bốn khuynh hướng đã được công luận thừa nhận ở

thời kỳ này 4

Có thể nói, cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa có đủ điều kiện và thời gian để

tiếp cận và tổng hợp trong nhận định về một hiện tượng văn học kiểu này Do đó, những đánh giá và nhận định của họ về hiện tượng văn học này thật sự chưa thoa đáng về tính khái quát khoa học Các nhận đinh của họ chưa trả lời được các câu hỏi, kiểu như: Bên

cạnh nhu cầu bức bách về đổi mới đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan, một xu

hướng tất yếu của sự phát triển của xã hội Việt Nam thời cận đại, đã (hay chưa) xuất hiện

và tồn tại của một trào lưu văn học canh tân, cải cách (Khai sáng, Ánh sáng) và trào lưu

này đã ảnh hưởng đến mức nào đối với tiến trình văn học Việt Nam nói chung trong quá

khứ lẫn trong tương lai

Trong luận văn này, do hạn chế về khuôn khổ luận án cũng như sự hạn hẹp của kiến văn, người viết không có tham vọng trả lời trọn vẹn và rành rẽ về các vấn đề học thuật

lớn lao đó Nhưng, với cách đặt vấn đề như đã nêu ồ trên, chúng tôi muốn tiến hành một công việc vừa sức hơn: thử tiến hành tập hợp các tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn, đặc biệt là văn chính luận của các nhà cải cách tiêu biểu giai đoạn nửa sau thế kỷ XEK-đầu thế kỷ XX như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyên Trường Tộ, Nguyễn Lộ

Trạch đặng thuận lợi cho việc đưa ra một giả thuyết về hình thành và phát triển của một

Trang 10

trào lưu Khai sáng trong giai đoạn văn học này Để thực hiện được ý đinh này, chúng tôi

tiến hành phân tích sự nghiệp thơ văn của họ trong bối cảnh xã hội và chính trị của thời điểm lịch sử đó và sau đó thử đối chiếu các nét chính của trào lưu này với các đặc trưng

của trào lưu văn học Ánh sáng

Qua công trình này, chúng tôi muốn khẳng định yêu cầu đổi mới là một truyền

thống của dân tóc Việt Nam, cả từ phương diện vãn học học

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội, nhất là văn kiện Đại hội

VI, VII và VIII

- Đọc và tìm hiểu các tác phẩm nghiên cứu về các nhân vật lịch sử, văn học mang tư tưởng canh tân — cải cách

- Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong việc phân tích, tổng

hợp, hệ thống, đối chiếu, so sánh tìm ra những cái chung nhất về phương pháp sáng tác qua các tác phẩm (tập trung vào thể loại văn chính luận) của các tác giả

Đây là một vấn đề tương đối mới cho nên tư liệu rất hiếm, nhất là dạng tư liệu đã được công bố Trong tình hình đổi mới hiện nay, gần đây, vấn đề này đã bước đầu được quan tâm và đánh giá đúng mức Tư liệu về một số nhân vật lịch sử, nhân vật văn học mang tư tưởng canh tân-cải cách đã được đánh giá tương đối đúng mức và được công bố trong các cuộc hội thảo khoa học hoặc trên các tạp chí chuyên ngành khá nhiều Tuy nhiên, tư liệu về một số tác giả cũng như về vấn đề canh tân đổi mới chỉ nằm rải rác trên

một số tạp chí chuyên ngành mà chưa được tập hợp thành những công trình nghiên cứu, đặc biệt là các tài liệu về Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Ngoài

ra, do trình độ ngoại ngữ có hạn, người viết chỉ có thể tìm đọc các bản dịch (đã được công bố) Do tính chất của luận văn, người viết chỉ được phép khai thác các tư liệu đã được công bố hoặc đã được in thành những công trình nghiên cứu và xuất bản rộng rãi

Trang 11

Những quy định ngặt nghèo này đã làm cho khâu tư liệu có những hạn chế hiển nhiên mà người viết không thể vượt qua được

Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm 3 chương:

Chương một: Trào lưu Ánh sáng ở phương Tây và xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ

Trang 12

Chương 1: TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHƯƠNG TÂY VÀ XÃ

H ỘI VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX

Từ giữa thế kỷ XVII và nhất là nhiều năm của thế kỷ XVHI, các nhà triết học, sử

học, văn học, những người có tư tưởng tiên tiến đã liên tiếp tấn công vào thành trì quân

chủ chuyên chế bằng những học thuyết mới, tiến bộ và cách mạng Lịch sử cũng như các nhà nghiên cứu gọi đó là thế kỷ Ánh sáng, thế kỷ chuẩn bị về tư tưởng cho cuộc Cách

mạng Tư sản sắp bùng nổ Như vậy, có thể nói, thế kỷ XVIII, thế kỷ Ánh sáng, đánh dấu

một bước chuyển mình quan trọng trong quá trình phát triển của các nước Tây Âu

Do sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế, chính trị-xã hội giữa các nước, tính

chất cách mạng của thế kỷ này ở mỗi nước được thể hiện không giống nhau cả về qui mô cũng như cả về thời điểm Tuy vậy, trong những năm tháng đó, giữa các nước đó vẫn có

một nét nổi bật rất chung: đó là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt chống phong

kiến Cuộc Cách mạng Tư sản Pháp 1789 không phải là chỉ riêng của Pháp mà có giá trị

và ý nghĩa như hồi chuông báo tử cho chế độ phong kiến trên phạm vi toàn châu Au Không phải ngẫu nhiên người ta thường gọi thế kỷ XVIII ở Phương Tây là thế kỷ

của Cách mạng Pháp - 1789

1.1.1.V Ề THUẬT NGỮ ÁNH SÁNG

Các nhà triết học, các nhà hoạt động xã hội, các nhà văn tiến bộ của thế kỷ XVIII ở

hầu khắp các nước đã dấy lẽn một phong trào mạnh mẽ đề cao lý trí, dùng ánh sáng của

lý trí để xua tan bóng tối, soi tỏ chân lý, giải phóng tư tưởng, mở mang trí tuệ, tạo điều

kiện cho mọi người tiếp xúc với văn hoa, khoa học, nghệ thuật Ánh sáng của lý trí rọi vào khắp các lĩnh vực và trở thành thứ vũ khí chống phong kiến sắc bén Chính trên ý nghĩa này đã xuất hiện thuật ngữ Ánh sáng

Trang 13

Thuật ngữ Ánh sáng chỉ rõ vai trò tiến bộ lịch sử của giai cấp tư sản so với giai cấp phong kiến già cỗi trong thời đại Cách mạng Tư sản qua hình tượng tương phản giữa ánh

văn học Ánh sáng thế kỷ XVIII Thuật ngữ Ánh sáng không thể chỉ hiểu thuần túy theo nghĩa ẩn dụ của tò này, mà hiện nay đã trở thành một khái niệm mang tính lịch sử-cụ thể, hàm nghĩa chống phong kiến và gắn với giai cấp tư sản trong thời điểm đang lên

Ănghen viết:

Ngày nay chúng ta đêu biết rằng sự thống trị của lý tính ấy chẳng qua là sự thống

tư pháp tư sản; rằng bình đẳng rút cục lại là bình đẳng tư sản trước pháp luật; rằng một

Nhà nước hợp với lý tính, khế ước xã hội của Rútxô chỉ ra đời và chỉ có thể ra đời dưới

cũng không hơn gì những tiền bối của họ, nghĩa là không thể vượt qua những giới hạn

mà th ời đại riêng của họ quy định 5

Thuật ngữ Ánh sáng được sử dụng trong luận văn này mang ý nghĩa như vừa trình bày Tuy nhiên, ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng, những trí thức mang tư tưởng Ánh sáng, tức những nhà hoạt động trong phong trào Ánh sáng (hay còn được gọi

là những nhà Ánh sáng hoặc Khai sáng) như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, không chỉ hoàn toàn hạn chế ở ham muốn lấy ánh sáng

của tư tường ánh sáng phương Tây để xua tan bóng tối của tư tưởng phong kiến bảo thủ,

lạc hậu Điều đó có nghía là không chỉ ở sự ham muốn nắm được các thành tựu khoa

học-kỹ thuật của nền văn minh phương Tây để canh tân đất nước mà còn ồ tinh thần chống phong kiến và nhất là xu hướng chống đế quốc của mình

5 F Ănghen, chống Đuyrinh, Nxb Sự Thật, Hà Nội, xuất bản lần thứ 2, tr.29

Trang 14

1.1.2.GI ỚI THỆU TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHÁP

Nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến Nhà vua nắm mọi quyền hành, hầu như không chịu một sự kiểm soát nào, coi ý muốn của mình là luật pháp và quyền lực của nhà vua là do Thượng Đế ban cho để trị nước Bên cạnh đó, Nhà thờ thống

trị về mặt tinh thần, lợi dụng ảnh hưởng lớn trong nông dân để thần thánh hóa nhà vua, khuyên nhủ họ tuyệt đối trung thành với chính thể chuyên chế

Đến cuối thế kỷ XVIII, trong khi nước Anh đang tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa tư bản chủ nghía, thì nền nông nghiệp Pháp vẫn còn đang trì trệ trong phương

thức sản xuất phong kiến cũ kĩ và lạc hậu Bọn lãnh chúa vẫn sử dụng phương thức bóc

lột nông dân dựa trên các đặc quyền, đặc lợi mà Nhà nước phong kiến ban cho chúng

Kết quả là nền kinh tế nông nghiệp Pháp ngày càng suy sụp; nông dân phá sản; nạn đói kém triền miên trên phạm vi cả nước Bên cạnh đó, nền kinh tế công thương nghiệp đang trên đà phát triển mạnh mẽ, yếu tố tư bản chủ nghĩa ngày càng rõ rệt Nhung chế độ phong kiến đã cản trở sự phát triển bằng nhiều quy định quá ngạt nghèo

Do đó, giải phóng khỏi ách phong kiến cũng như xóa bỏ mọi ràng buộc phong kiến

là một yêu cầu khách quan, cấp thiết và tất yếu của lịch sử, của chính nhân dân Pháp lúc

đó Chế độ quân chủ chuyên chế tìm mọi cách bảo vệ sự phân chia đẳng cấp trong xã hội

Xã hội Pháp thế kỷ XVIII chia ra ba đẳng cấp gồm tăng lữ, quý tộc và các tầng lớp khác còn lại với công thức nổi tiếng: tăng lữ phục vụ nhà vua bằng những lời cầu nguyện, quý

trên hoàn toàn không phải đóng góp hoặc chịu một nghĩa vụ nào đối với quốc gia Còn đẳng cấp thứ ba gồm tư sản, nông dân và bình dân thành thị thì phải đóng góp của cải,

phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ Đó là đẳng cấp không có đặc quyền, một đẳng cấp

thấp bị bóc lột và áp bức Do địa vị kinh tế và chính trị khác nhau giữa các đẳng cấp, xã

hội Pháp cuối thế kỷ XVIII đã chia thành hai trận tuyến rõ rệt: phong kiến gồm nhà vua, tăng lữ và quý tộc, và, chống phong kiến gồm các tầng lớp thuộc đẳng cấp thứ ba, do giai

cấp tư sản lãnh đạo

Trang 15

Ãnghen viết:

mà là đại biểu của toàn thể nhân loại đau khổ 6

Tóm lại, chính tình hình kinh tế-xã hội, sự phân hóa các giai tầng xã hội và sự lung lay về lí tưởng cũng như khát vọng hình thành một xã hội công bằng và dân chủ hơn ở Pháp vào thế kỷ XVIII đã là tiền đề cho sự xuất hiện của trào lưu tư tưởng Ánh sáng ở Pháp nói riêng và ở phương Tây nói chung

1.1.2.2.TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG ÁNH SÁNG Ở PHÁP

Vào thế kỷ XVIII, các nhà Khai sáng Pháp đã chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tư sản

về mạt tư tường Họ là những người báo trước một cuộc cách mạng ứong đó giai cấp tư

sản có sứ mệnh giữ vai trò người lãnh đạo phong trào quần chúng, Trào lưu tư tưởng Ánh sáng ở Pháp bao gồm nhiều khuynh hướng với những đại biểu ưu tú Chẳng hạn:

* Giăng Mêliê (1664-1729): là một mục sư nông thôn, gần gũi, hiểu và thông cảm

với cuộc sống khổ cực cũng như những nguyện vọng của họ Trong tác phẩm Di chúc

ông chủ trương chống nhà nước phong kiến, tôn giáo và cả chế độ tư hữu, nguồn gốc của

mọi bất bình đẳng trong xã hội Ông vẽ lên hình ánh một xã hội lý tương được xây dựng trên cơ sở của chế độ sở hữu công cộng, mọi người đều có nghĩa vụ lao động Tinh thần dũng cảm, ý chí chiến đấu của ông phản ánh tư tưởng, tình cảm của nhân dân Pháp, đặc

biệt là của các tầng lớp dưới trong xã hội, của dân nghèo nông thôn và thành thị muốn đứng dậy đấu tranh chống áp bức Do đó, ông có ảnh hưởng lớn lao trong tư tưởng của các nhà tư tưởng trào lưu Ánh sáng cũng như trong trào lưu tư tưởng cách mạng, dân chủ

Trang 16

*Môngteski ơ (Montesquieu) (1689-1755): tên thật là Charles-Louis de Secondat,

xuất thân từ một gia đình quý tộc tư pháp nên hiểu rõ hệ thống cai trị và thực chất chế độ chuyên chế ở Pháp Trong tác phẩm Tinh thần luật pháp (1748), ông kịch liệt chống lại

chế độ phong kiến và nhà nước quân chủ cực đoan nhưng không phải tiến hành cách

mạng lật đổ chế độ cũ mà chỉ là cải cách, tổ chức chính quyền cho phù hợp với quyền lợi

và nguyện vọng của giai cấp tư sản Mặc dù vậy, tư tưởng của ông về đấu tranh chống

chế độ độc tài, vạch trần bộ mặt tôn giáo, bảo vệ tư tưởng tự do, lên án những cuộc chiến tranh xâm lược, có ý nghĩa tiến bộ rất lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng sau này

* Vônte ( Voltaire) (1694-1778): tên thật là Francois-Marie Arouet Ông là một đại

diện xuất sắc của trào lim tư tưởng ánh sáng Pháp thế kỷ XVIII với hiểu biết toàn diện

Trong Nh ững lá thư triết học ông kịch liệt lên án tính chất dã man, tàn bạo, phản động và

lạc hậu của chế độ chuyên chế ở Pháp và của nhà thờ Thiên chúa giáo nhưng chỉ chủ trương cải cách xã hội từ trên xuống, trông chờ vào một vị minh quân Tuy vậy, Vônte

vẫn có một vai trò cực kỳ quan trọng trong trào lưu triết học ánh sáng Tin tưởng mãnh

liệt vào sự thắng lợi của con người đối với những trở lực phong kiến, ông đã có ảnh hưởng lớn lao đối với tư tưởng của các nhà cách mạng, các công trình sáng tác của ông

đã đóng góp một cách xuất sắc vào kho tàng kiến thức nhân loại Chính vì thế mà tên tuổi

của ông gắn liền với thời đại, thế kỷ XVIII ở châu Âu còn được gọi là thế kỷ Vônte

* Đ Điđơrô (Denis Diderot) (1713-17840: là nhà triết học duy vật lãnh đạo nhóm

Bách khoa toàn thư Trong tác phẩm Bách khoa toàn thư hay Từ điển khảo luận về khoa

các tác giả đã đả kích mạnh mẽ vào nhà nước phong kiến và nhà thờ Như vậy, nhóm

Bách khoa toàn thư đã góp phần truyền bá tư tưởng duy vật Những tư tưởng của họ đã

có một ảnh hưởng to lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong trào hai tư tưởng Ánh sáng

thế kỷ XVIII

* Giăng Giắc Rútxô (Jean-Jacques Rousseau) (1712-1778): tên tuổi Rútxô gắn liền

với những tác phẩm nổi tiếng như Luận về khoa học nghệ thuật, Luận về nguồn gốc và cơ

Trang 17

s ở của sự bất bình đẳng, Khế ước xã hội, Emilơ, Giá trị và ảnh hưởng của những tác

phẩm đó không phải chỉ thu hẹp trong phạm vi một áng văn hay, một nghệ thuật điêu luyện mà là ở quan điểm xã hội và chính trị của ông Rútxô đã nói lên quyền lợi và nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân và tiểu tư sản Ông lên án chế độ phong kiến chuyên chế cũng như phê phán chế độ tư hữu và những quan hệ

do chế độ đó sinh ra đồng thời đòi hỏi quyền bình đẳng cho mọi người Điểm nổi bật trong quan điểm chính trị của ông là chủ trương thiết lập một nhà nước cộng hoà, trong

đó bảo đảm hoàn toàn chủ quyền của nhân dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng và tư

hữu tài sản

Các nhà tư tưởng Pháp, dù có nhiều quan điểm khác nhau, phản ánh những quyền

lợi của giai cấp khác nhau, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến, họ đều chĩa mũi nhọn vào chính quyền quân chủ chuyên chế, nhà thờ và đòi hỏi thay thế

bằng một chế độ xã hội mới Cuộc đấu tranh đó lan tràn trên mọi lĩnh vực nhằm mở ra

một chân trời mới trong lịch sử loài người Chính vì thế mà trào lưu tư tưởng tiến bộ và cách mạng đó đã vượt ra khỏi nước Pháp, có ảnh hưởng khắp châu Âu và làm cho thế kỷ XVIII thành ra chủ yếu là thế kỷ của nước Pháp7

1.1.3.PHONG TRÀO TI ỀN TÂN THƯ Ở TRUNG HOA VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA

NÓ V ỚI TRÀO LƯU ÁNH SÁNG

Trào lưu Ánh sáng ở Pháp không chỉ lan truyền khắp châu Âu khiến thế kỷ xvni ở phương Tây được gọi là thế kỷ Ánh sáng, thế kỷ Pháp, thế kỷ Cách mạng mà còn có nhiều ảnh hường đến các nước phương Đông, chủ yếu là đối với Trung Hoa, Nhật Bản, Vào thế kỷ XVIII-XIX, khi châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành các cuộc Cách mạng Tư sản

thắng lợi, khoa học kỹ thuật của châu Âu đã đạt trình độ tiên tiến lúc bấy giờ, khi tư bản Âu-Mỹ đang gây các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa để tìm kiếm thị trường, thì phương Đông nói chung, vẫn đang nằm dưới vòng kiềm toa của quan hệ sản xuất phong

kiến và, đĩ nhiên, vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, trì trệ

7

S ự thật, 1992, tr 151

Trang 18

Đầu thế kỷ XIX, Trung Hoa thi hành chính sách bế quan tỏa cảng nghiệt ngã Sau

thất bại của cuộc chiến với thực dân Anh, triều đình Mãn Thanh buộc phải ký Hiệp ước Nam Kinh 1842 nhượng cho Anh nhiều đặc quyền như bồi thường chiến phí, mở thương

cảng, cắt đất, Từ đây, các nước đế quốc thi nhau tìm cách xâu xé Trung Hqa Trung Hoa lâm vào xã hội nửa thuộc địa Nhưng cũng từ khi có sự thâm nhập của chủ nghía thực dân, nền kinh tế Trung Hoa xuất hiện những động thái mới, trước hết là đối với nền kinh

tế tư bản dân tộc Nền kinh tế này trước nay vốn non yểu giờ lại phải đương đầu với

những thủ đoạn cạnh tranh khốc liệt của tư bản nước ngoài vốn có mi thế về vốn và kỹ thuật cùng với những điều khoản bất bình đẳng - khoản lợi thu được từ các thoa hiệp đầu hàng của triều đình về bản chất, do sự non yếu về quản lý và sự lỗi thời của hệ tư tưởng,

những chính sách của nhà nước phong kiến Trung Hoa đã kìm hãm sức sản xuất có trong

xã hội thực tế Trung Hoa với mong muốn nền kinh tế đó dẫm chân trong vũng lầy tự cấp,

diện phong kiến Trung Hoa Dầu muốn hay không, giai cấp thống trị vẫn khát khao quyền

kiểm soát nền kinh tế với các công cụ quản lý thấp kém và vụn vặt Chính vì vậy, nền kinh tế đã thấp kém lại càng trở nên thấp kém hơn Mức sống trong nhân dân rất thấp, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển công thương nghiệp Uy tín của triều đình Mãn Thanh ngày càng sút kém, ngược lại, tinh thần cách mạng của nhân dân ngày càng cao Mặc dù

vậy, trên cơ sở những biến đổi quan trọng trong đời sống kinh tế và xã hội của Trung Hoa, từ nửa sau thế kỷ XIX, những tư tưởng duy tân đã xuất hiện Đặc biệt là, trong tình hình đó, xu hưởng cải lương lại càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ, nhất là trong giới trí thức xuất thân từ tầng lớp sĩ phu phong kiến hay từ giai cấp tít sản mới hình thành

Những trí thức mới này đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây Trong những trào lưu ấy, đáng kể nhất vẫn là những tư tưởng của trào lưu Ánh sáng được

nhập vào Trung Hoa qua sách báo Những tài liệu này giới thiệu tư tưởng, văn minh, khoa học-kỹ thuật mới và chúng có chung tên gọi là Tân thư, Tân văn, Tân báo8 Các trí

thức tiến bộ hướng về phương Tây, như là một đích của nhận thức trong sự vận động cứu

8

h ội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 49

Trang 19

nguy dân tộc Chính họ đã là những nhà tư tưởng và cách mạng đầy nhiệt huyết cho trào lưu dân chủ và duy tân của Trung Hoa thời kỳ này Trước nhất phải kể đến Lâm Tắc Từ (1785-1856), người muốn nhanh chóng đưa vào Trung Hoa những kiên thức mới ve khoa

học kỹ thuật Ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tiền của cho việc mua các tài liệu nước ngoài Ông là người chủ trương chiến tranh chống Anh, bài ngoại một cách nghiêm túc

Nhân chuyến được triều đình phái đi Quảng Châu chống nạn thuốc phiện, đã tập hợp

người phiên dịch các loại sách Tây Năm 1841 đã sưu tập dịch sách địa lí, và biên tập

một lãnh tụ nông dân khác, Hồng Tú Toàn (1814-1860), nhà lãnh đạo cuộc cách mạng Thái bình thiên quốc, mong muốn tìm một công thức khả đĩ kết hợp quan niệm tự do thuần phác nông dân Trung Hoa với tư tưởng bình đẳng trong giáo lý Cơ đốc Bằng các

hoạt động cụ thể của mình, ông và các đồng chí của ông đã tấn công một cách có kết quả

vào các tư tưởng Nho giáo lạc hậu và những chỗ dựa tinh thần khác của chế độ quân chủ chuyên chế Đến cuối thế kỷ XIX, phong trào duy tân ở Trung-Hoa mới thật sự có những chuyển biến về chất Tân thư xuất hiện nhiều, giới thiệu khá đầy đủ và khá tường tận về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội các nước phương Tây Những nhân vật nổi tiếng có đọc Tân thư hoặc trực tiếp viết và dịch Tân thư từ đây xuất hiện khá nhiều Như Phùng Quế Phân (1809-1874) viết sách Hiệu bân lư kháng nghị (1861), chủ trương học khoa học tự

nhiên, kỹ thuật sản xuất và nhiều tri thức khác, mong muốn thông qua biện pháp cải lương chính trị để đưa Trung Hoa tiến lên con đường tư bản Hoặc Trịnh Quang ứng (1841-1914) viết tác phẩm Thịnh thế nguy ngôn, với khẩu hiệu lấy Trung học làm chủ,

lây Tây h ọc giúp sức, đề ra những chủ trương cụ thể như khai thác quặng, xây dựng

đường sắt, ra báo chí, lập trường học, cải cách chế độ chính trị phong kiến, yêu cầu thành

lập nghị viện, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến

9 Nguy ễn Văn Hồng, Bđd, tr 42

Trang 20

Ngay trong nội bộ triều đình, một số quan lại có tư tưởng tiến bộ, như Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương cũng chủ trương bắt chước các nước tư bản, bỏ tiền nhà nước để xây dựng công nghiệp quân nhu kiểu mới, chế tạo súng ống, tàu bè; đòi hỏi cho người ngoại quốc huấn luyện quân đội, tổ chức và vũ trang quân đội theo kiểu tư sản

Từ những động thái này, ở Trung Hoa bắt đầu xuất hiện các dạng khác nhau của

những phong trào quần chúng học theo Tây phương, làm theo Tây phương Trong các

vận động này phải kể đến những đóng góp thực tế của một số giáo sĩ đạo Cơ đốc và thương nhân Âu-Mỹ Với mục đích kéo gần lại khoảng cách về xã hội và tín ngưỡng giữa phương Tây và phương Đông nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho truyền giáo và buôn bán, những nhân vật này đã là những thành viên tích cực cho phong trào

Họ đứng ra mở các tờ báo, tự tay hoặc cổ vũ cho việc trước tác để truyền bá tư tưởng mới Những tác phẩm đó đã cung cấp cho các trí thức Trung Hoa nhiều tài liệu tốt

và giúp họ có những cơ sở về lí thuyết cho các khởi thảo các biện pháp Duy tân đối với

xã hội Trang Hoa Đến cuối thế kỷ XIX, sau cuộc chiến tranh Trung-Nhật, bị thua trận, Trung Hoa phải ký Điều ước Mã Quan (1894) cho phép Nhật mở công xưởng tại Trung

Họa Khi người Nhật xuất hiện, ở Trung Hoa lại nổi lên phong trào noi gương Nhật Bản,

học tập Tây Âu

Trước áp lực của phong trào Duy tân, phái thủ cựu trong triều đình buộc phải nhượng bộ Năm 1898, được Khang Hữu Vi làm cố vấn, hoàng đế Quang Tự ra sắc lệnh

các môn khoa học, văn học và kỹ thuật Tây Âu; xây dựng đường xe lửa, tổ chức quân đội theo kiểu Tây Âu Biến pháp chỉ kéo dài trong 100 ngày (Bách nhật duy tân 11-06-1898

đến 21-09-1898), nhưng văn hóa, tư tưởng phương Tây, đặc biệt là tư tưởng của trào kĩu Anh sáng phương Tây vẫn tiếp tục du nhập vào Trung Hoa Nhiều trí thức đã chống lại văn minh truyền thống, tiếp thu tư tưởng-khoa học phương Tây và xuất ngoại, du học ở

Trang 21

Mỹ, Anh, Nga, Nhật, góp phần tạo nên luồng gió mới canh tân đất nước vào đầu thế kỷ

1.2.1.B ỐI CẢNH LỊCH SỬXÃ HỘI VIỆT NAM VÀ SỰ PHÂN HÓA CÁC TẦNG

L ỚP TRONG XÃ HỘI

1.2.1.1.Trong hoàn cảnh xã hội nước ta nửa sau thế kỷ XIX, nhiều sự kiện quan

trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong, suy thịnh của đất nước Việt Nam Sự kiện trung tâm và nổi bật hơn cả là sự xâm lược của thực dãn Pháp và cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân ta Sự kiện này xuyên suốt toàn giai đoạn, chi phối mọi sự kiện khác, và thu hút mối quan tâm của tất cả mọi thành viên trong xã hội

Khởi đầu là sự kiện xâm lược Đà Nang vào tháng 09/1858 của thực dân Pháp để

cuối cùng dẫn đến việc đặt ách thực dân lên toàn đất nước, sau sự kiện 1884 Triều đình nhà Nguyễn nhu nhược đã đi từ hòa hoãn đến đầu hàng nhục nhã và cuối cùng là đi đến

cấu kết chặt chẽ với ngoại bang để áp bức bóc lột dân lành Xã hội Việt Nam lâm vào

cảnh nghèo nàn lạc hậu, nhân dân cơ cực lầm tham trăm bề dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến, nhà Nguyễn trở thành tay sai đắc lực cho thực dân Pháp

Thực ra không phải đến giữa thế kỷ XIX với tiếng súng bắn vào cửa biển Đà Nang,

thực dân Pháp mới bộc lộ dã tâm xâm lăng nước ta Trước đó, từ cuối thế kỷ XVIII, lợi

dụng lúc Nguyễn Ánh đang lúng túng trong chống trả nhà Tây Sơn, thực dân Pháp đã

10

h ọc quốc gia Hà Nội, SĐd, tr 51-65

Trang 22

viện trợ cho chúa Nguyễn, và cái giá phải trả cho sự viện trợ này các điều khoản nhượng cho Nhà Vua và Triều đình Pháp quyền tuyệt đối sở hữu và chủ quyền cửa bể Đà Nẵng,

và, người Pháp là người nước ngoài duy nhất được buôn bán hoàn toàn tự do trên các xứ thuộc quyền cai quản của Vương quốc Nam Kỳ 11 Nhưng trớ trêu là âm mưu xâm chiếm

của Pháp nửa chừng lại bị dừng lại do biến động của cuộc Cách mạng Tư sản 1789-1794 cùng một số biến cố chính trị khác Mãi đến giữa thế kỷ XIX, con bạch tuộc thực dân mới

có sức để thò vòi sang các nước phương Đông

Năm 1858 lấy cớ triều đình nhà Nguyễn ngăn cản việc thông thương và giết giáo sĩ, ngày 01-09 liên quân Pháp-Ý nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược chính thức nước ta Gặp phải sức chống cự quyết liệt của nhân dân và quân đội ta, sau 5 tháng chiến tranh dẫm chân tại chỗ, thực dân Pháp thay đổi kế hoạch, chúng chỉ để lại Đà Nang một phần nhỏ lực lượng giam chân quân đội triều đình, còn kéo vào Nam mở cuộc

tiến công Gia Định Tháng 024859, chúng chiếm thành Gia Định rồi lần lượt chiếm 3 tỉnh

miền Đông và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ Sau khi toàn bộ Nam Kỳ rơi vào tay giặc, chúng

bắt đầu đánh ra Bắc Kỳ, rồi đánh Trung Kỳ Thắng lợi của thực dân Pháp đánh dấu bằng

những hàng ước của triều đình Huế ký kết với chúng: Hàng ước năm 1862 nhường 3 tỉnh Biên Hoa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lòn cho thực dân Pháp; Điều ước và

Thương ước năm 1874 nhường toàn bộ Nam Kỳ cho thực dân Pháp; hai Hàng ước năm

1883 và 1884 thì công nhận nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam

Trước cảnh nước mất nhà tan, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc chiến đấu quyết liệt

chống kẻ thù và chế độ thống trị thối nát nhằm bảo vệ quyền sống, quyền tự do dân chủ

và độc lập của dân tộc Nhiều tấm gương kiên trung bất khuất, chiến đấu chống kẻ thù

của dân ta ngời sáng trên trang sử vàng dân tộc

Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối yếu ớt, nhưng càng về sau, dần từng bước, đã thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp Ngay trong triều và cả ngoài các địa phương, bộ phận đầu não của Nhà nước phong kiến ngay từ đầu đã chia làm hai phái sát

phạt nhau: chủ hòa (chủ trương giữ thế thủ, kéo dài tình trạng giằng co) và chủ chiến

11 Điều 2 và 6 của hiệp ước Versailles, ngày 18-11-1787

Trang 23

(gồm những người giàu lòng yêu nước nhưng mang năng tư tưởng bài ngoại) Ngoài ra, còn một bộ phận lưng chừng, do dự mà tiêu biểu là Tự Đức; trong lời phê một bản tấu bàn về việc nên đánh hay nên hòa với Pháp, ông ta viết: Nếu chống lại với người Pháp là

m ột việc khó, thì ký hòa ước với họ lại là việc khó gấp trăm nữa!

Dù sao, nhìn chung, phải nói là trong giai đoạn đầu, tâm sức của triều đình cũng còn

tập trung cho việc chống Pháp Mũi dùi đả kích trong xã hội cũng như trong văn học ở giai đoạn đầu là tập trung vào thực dân Pháp mà chưa đả động đến triều đình nhà Nguyễn Trong khi Nam Kỳ dồn sức chống ngoại xâm, thì ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, bọn phong kiến lại tăng cường bóc lột nhân dân Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng

nổ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Cai Vàng Nhà nước phong kiến thống trị đứng trước hai mâu thuẫn, bên ngoài là với bọn thực dân xâm lược, còn bên trong là với phong trào

khởi nghĩa của nông dân Triều đình phản động đã thỏa hiệp với bọn thực dân để quay lại

đàn áp phong trào nông dân Hàng ước năm 1862 ra đời trong bối cảnh như vậy

Sau năm 1862, triều đình không còn vai trò gì trong cuộc kháng chiến chống Pháp

nữa, trái lại, có hành động tiêu cực, phản động Chẳng hạn như Triều đình điều các tướng lĩnh cầm đầu nghĩa quân chống Pháp đi nơi khác để cho phong trào kháng chiến nhanh chóng tan rã; tăng cường bóc lột nhân dân nặng hơn để bồi thường chiến phí Cuộc chiến đấu chống Pháp sau năm 1862 không những tập trung mũi nhọn vào thực dân Pháp mà

bắt đầu có đối tượng là cả triều đình phong kiến đầu hàng Các cuộc khởi nghĩa của Đoàn

Hữu Trung, Trần Tấn, Đặng Như Mai nhằm chống triều đình phong kiến đầu hàng đồng

thời chống thực dân Pháp xâm lược

Nhưng phải đến hàng ước năm 1884, sự đầu hàng của triều đình mới hoàn toàn bộc

lộ; từ đây triều đình thực sự trở thành một mục tiêu đả kích bên cạnh việc đả kích thực dân Pháp Cuộc kháng chiến chống Pháp trong phong trào Cần Vương tiếp theo đó vẫn

chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến nhưng không phải do những người đại diện cho nhà nước phong kiến cầm đầu, mà do các văn thân và sĩ phu yêu nước chống Pháp lãnh đạo Phong trào rầm rộ từ Bình Định, Quảng Bình, ra đến Hưng Yên, Thái Bình, Tây

Bắc và kéo dài gần hết thế kỷ XIX

Trang 24

Trên thế giới, lúc này, thực dân đã chia xong các vùng đất thuộc địa Hệ thống thuộc địa thế giới bắt đầu được hình thành Các nước phương Đông, nói chung, Việt Nam, Lào, Campuchia, nói riêng, là những vùng đất mới, rộng lớn, màu mỡ, giàu tiềm năng, nằm trong tầm ngắm của thực dân thế giới, trước hết là là thực dân Pháp Trước tình hình đó

việc triều đình Tự Đức cử các phái bộ sang Pháp để xin chuộc lại các tỉnh bị mất là điều không tưởng, phản ánh một thực trạng đau buồn: nguy cơ mất nước ngày càng trực tiếp

đe doa Cũng vào thời điểm đó, các phái bộ nước ngoài liên tiếp đến nước ta đề nghị mở

rộng giao thương, buôn bán Từ năm 1822, đã có 9 lần quan hệ giao thương quốc tế được đặt ra, nhưng đều bị triều đình Huế khước từ

Trên thế giới lúc này liên tiếp diễn ra các biến động lớn, tác động ít nhiều đến nhận

thức của những nhà Nho học lẫn Tân học Việt Nam Trước hết là ở Trung Hoa, ngay từ

đầu thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến Mãn Thanh thi hành chính sách bế quan tỏa

Hoa chấp nhận mở cửa, tự do mậu dịch giao thương với nước ngoài Cùng thời gian đó,

tại Nhật Bản, ban đầu chính quyền vẫn thực hiện chính sách đóng cửa nhưng dân chúng

vẫn tìm cách giao thương với các tàu buôn nước ngoài Năm 1854, Hoa ước hữu nghị và thương mãi Nhật-Mỹ được ký kết tuy vẫn bị phe bảo thủ chống đối Mãi đến năm 1868, Minh Tri Thiên hoàng lên ngôi và thi hành chính sách mở cửa tiếp thu khoa học kỹ thuật phương Tây đưa Nhật Bản đi lên, mở ra một thời kỳ mới phát triển mạnh mẽ về kinh tế-

xã hội

Như vậy, có thể nói, tư bản Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam vào đúng lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang lún sâu vào con đường khủng hoảng, suy vong trầm trọng, về tình hình xã hội lúc bấy giờ, chính sách khắc nghiệt và sai lầm của triều đình nhà Nguyễn

về kinh tế-tài chính đã làm cho nông nghiệp trong nước tiêu điều và xơ xác Nông nghiệp

sa sút kéo theo sự suy thoái rõ rệt của các ngành nghề thủ công truyền thống trong nhân dân Còn công nghiệp thì với các quy định ngặt nghèo cũng ngày càng lụi tàn Thương nghiệp trong nước và nước ngoài sút kém rõ rệt Một số cửa cảng trước kia buôn bán

Trang 25

phồn thịnh, nay trở nên vắng vẻ Dựa trên một nền kinh tế sa sút về mọi mặt như vậy, đương nhiên nền tài chính quốc gia ngày càng thêm kiệt quệ

Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thống trị với nhân dân cả nước - chủ yếu là nông dân - đã trở nên gay gắt và được bộc lộ ra ngoài một cách kịch liệt

bằng hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân xuyên suốt các đời vua Để bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã dồn mọi lực lượng quân sự trong tay vào việc bóp chết các cuộc khởi nghĩa nông dân Chính trong quá trình tiểu phỉ đó, chúng vừa làm

cho những lực lượng quân sự của triều đình suy yếu dần đi đồng thời hủy hoại khả năng kháng chiến to lớn của nhân dân, và như vậy là đã tạo điểu kiện cho tư bản Pháp dễ thôn tính nước ta Đó là chưa nói tới chính sách sai lầm về đối ngoại của triều Nguyễn

Tất cả những nguyên nhân đó chỉ còn tìm một nguyên cớ để bộc lộ sự thật lịch sử

một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất Đó chính là sự kết cục của tình hình xã hội Việt Nam

cuối thế kỉ XIX bằng các Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 đến Hiệp ước Patenotre 1884 Một

giai đoạn bi thương nhưng đầy hào hùng của dân tộc đã chính thức bắt đầu

1.2.1.2.Những biến cố lớn lao của xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX đã để lại

một dấu ấn rõ nét trong tình hình phân bố giai cấp và trong các đặc điểm tâm lý-xã hội

của các giai cấp, giai tầng xã hội ấy

Trong quá khứ, dưới chế độ thuần phong kiến, mâu thuẫn cơ bản của xã hội là giữa nông dân và địa chủ Còn lúc này, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, mâu thuẫn ấy vẫn sâu sắc, nhưng nổi lên hàng đầu lại là mâu thuẫn giữa nhân dân ta, bao gồm mọi tầng lớp nhân dân yêu nước với bọn thực dân cướp nước và bè lũ phong kiến tay sai bán nước Sự thay đổi mâu thuẫn trong xã hội đưa đến việc sắp xếp lại các lực lượng xã hội

Vào những năm nửa cuối thế kỷ XIX xã hội nước ta đã trải qua một sự phân hóa sâu

sắc chưa từng có diễn ra trong lịch sử Đối với quảng đại quần chúng nhân dân, trước kia dưới chế độ phong kiến họ đã từng bị áp bức bóc lột nặng nề, đến giai đoạn này, trước nguy cơ có thêm một tầng áp bức bóc lót mới: bọn thống trị nước ngoài, sức phản kháng

của họ càng mạnh, ý chí chiến đấu của họ càng được tăng cường Họ là đội quân chủ lực

Trang 26

của mọi cuộc khởi nghĩa chống Pháp và chống phong kiến tay sai đầu hàng Phong trào

chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX là một phong trào có tính chất dân tộc nhưng do sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân Sự đầu hàng, cấu kết

với thực dân Pháp của giai cấp phong kiến bản xứ mà càng về sau càng rõ rệt, mặc dầu đã gây ra phiền toái lúc đầu về người lãnh đạo, nhưng cũng đã giúp cho lực lượng chủ lực

của cuộc đấu tranh thoát bỏ hình thức và xuất phát điểm lúc đầu Nó trở thành một cuộc đấu tranh tự giác, với hai mục tiêu: chống phong kiến và chống đế quốc xâm lược Đó là

cuộc chiến đấu cứu nước chống Pháp và bọn phong kiến đầu hàng Trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta trước kia chưa bao giờ người nông dân có vai trò quan trọng như lúc này

Sự phân hóa sâu sắc nhất lại diễn ra chính trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, tầng

lớp thống trị truyền thống của xã hội Trước tình hình đất nước bị ngoại xâm, do quyền

lợi khác nhau, và mức độ tiếp thu truyền thống yêu nước khác nhau, mà thái độ của họ đối với cuộc chiến đấu chống Pháp của dân tộc cũng có những mức độ rất khác nhau Tâm lý phổ biến của giai cấp phong kiến là thỏa hiệp, đầu hàng giặc Ngay từ đầu, tâm lý

ấy biểu hiện ở chỗ, trước sức tấn công của thực dân Pháp, nội bộ Triều đình đã chia thành hai phe chủ hoa, chủ chiến, trong đó phe chủ hòa chiếm đa số Thật ra, có thể để chi tiết hơn, cũng nên có sự phân biệt thêm trong hàng ngũ những người chủ hòa: giữa kẻ muốn hòa vì quá khiếp sợ trước sức mạnh của thực dân Pháp với kẻ muốn hòa chỉ để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của cá nhân, hay muốn hòa hoãn đặng có nhiều cơ hội làm ăn, kiếm chác

Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt và lan rộng, thế thắng của thực dân Pháp rõ hơn trước, trước tình hình đó, bọn hùa theo với Pháp càng ngày càng đông đảo Trong bọn chúng có bọn xảo quyệt, có kẻ trắng trợn Có kẻ vừa chỉ điểm cho thực dân Pháp giết hại những người yêu nước, lại vừa sáng tác thơ văn để thanh minh sự vô tội và

trào, dùng bừa cỏ bừa lên đầu những người kháng chiến Bên cạnh bọn Việt gian, một số khác cũng ra làm quan cho Pháp nhưng mang tâm lý tùy thời Số này không có hành

Trang 27

động đàn áp khủng bố cách mạng, họ làm quan là để có điều kiện ăn chơi, hưởng lạc

Một phần số khác có nhân cách hơn, nhưng thiếu bản lĩnh, bi quan với thời cuộc, họ không tham gia chiến đấu chống giặc, cũng không cộng tác với giặc Họ từ quan về nhà

Sống thanh bạch để giữ khí tiết, làm thơ văn nói lên tâm trạng hoặc đả kích những cái xấu

xa, lố lăng của một xã hội nửa thuộc địa

Nhưng, ngược lại, trong hàng ngũ phong kiến, xuất hiện hàng loạt các sĩ phu do

nhận thức được quyền lợi của phong kiến cũng chỉ lạ quyền lợi làm tay sai đế quốc 12 họ

đã trở về với cái nôi yêu nước truyền thống của dân tộc - nhân dân Do tiếp thu được truyền thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi nhân dân, nên họ đã hiểu ra vai trò của người trí thức phong kiến trong một thời cuộc mới Họ hăng hái cùng nhân dân chống

giặc, cứu nước Họ chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, không tiếc xương máu Nhưng

vốn xuất thân từ một ý thức hệ của một giai cấp đã suy tàn, đã lạc hậu so với tiến trình phát triển của lịch sử, lại cộng thêm phải chiến đấu trong hoàn cảnh quá nghiệt ngã không tương sức, cho nên ngay trong cuopọc đấu tranh của dân tộc họ vẫn không thoát bỏ được tâm lý bi quan, tâm lý thất bại chủ nghĩa

Năm 1897, sau khi kết thúc giai đoạn dùng vũ lực để chiếm đoạt, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa Nền kinh tế thuộc địa đẻ ra một phương thức sản xuất

mới có khuynh hướng tư bản chủ nghĩa Xã hội Việt Nam trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến Bắt đầu xuất hiện trong các công sở và tư sở của bọn chủ mới những thông ngôn, ký lục, thầu khoán, bếp bồi, Ở thành thị bắt đầu xuất hiện các từng lớp tư sản,

tiểu tư sản và vô sản, quyển lợi đối lập nhau, tư sản và tiểu tư sản ra đời ở một nước thuộc địa bị giai cấp tư sản chính quốc chèn ép, nên yếu ớt, phát triển què quặt, chống đối

ít mà run sợ nhiều Giai cấp vô sản hầu hết xuất thân từ nông dân, vốn là một giai cấp bị

áp bức nhất đồng thời lại là một giai cấp đại diện cho tương lai nên cách mạng nhất Chính La-mốt, thống đốc Nam Kỳ, trong một báo cáo gửi cho toàn quyền Doumer năm

1902, cũng thú nhận: Sự phát triển của những đô thị lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn làm cho

12 Lê Du ẩn, về cách mạng xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.6

Trang 28

làm cho s ố người châu Au và tâng lớp giàu có người bản xứ đều lo sợ một cách nghiêm

tr ọng và hữu lý 13

Giai cấp vô sản lớn mạnh nhanh chóng sau Đại chiến thứ Nhất sẽ có vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sẽ tự soi mình trong dòng văn học của bản thân mình và của những người ưu tú, thuộc các giai cấp khác nhưng đi theo giai cấp vô

sản, đại biểu cho quyền lợi của giai cấp vô sản và của dân tộc Còn trong thời kỳ này

tiếng nói văn học vẫn đang thuộc về hệ tư tưởng của giai cấp cũ, mang trong lòng nó

những hạn chế lớn của lịch sử và tất nhiên cũng phản ảnh lịch sử với những hạn chế lớn

Ì 2 2 NHŨNG CHÚNG NGHIỆM MỚI CỦA CÁC NHÀ NHO

1 2 2 1 Trong bối cảnh lịch sử-xã hội như thế, nguy cơ mất nước vào tay thực dân Pháp ngày càng rõ, những người yêu nước và thức thời không thể bàng quan, lạnh nhạt được Ngay cả một số quan lại triều đình — nhất là một số người có dịp đi ra nước ngoài công cán đã trực tiếp hoặc gián tiếp thấy rõ được sức mạnh của văn minh khoa học-kỹ thuật - cũng phải lên tiếng, đề đạt với triều đình một số công việc cấp bách để làm cho dân giàu, nước mạnh Họ nhận thức được rằng chỉ trên cơ sở dân giàu, nước mạnh thì Nhà nước mới có khả năng giành lấy và bảo vệ độc lập của dân tộc

Có thể nói, trước đây, trong quan hệ với nước ngoài, mà chủ yếu là với Trung Hoa, các sứ quan chỉ quan tâm đến việc hoàn thành nghĩa vụ của quần thần đối với quốc gia

mà nhà vua là người đại diện Họ thay mặt nhà vua để tỏ tình hòa hiếu hoặc sự quy thuận

của nước nhỏ đối với nước lớn và qua khí tiết của họ mà chủ quyền quốc gia được bộc lộ Bên cạnh việc thực hiện bổn phận quan trọng đó, các sứ quan đều coi những lần đi sứ như là cơ hội hiếm hoi để được đi thăm thú các nơi, các danh lam thắng cảnh và làm thơ

13

N ội, 1957, tr.68

Trang 29

ngâm vịnh Thảng hoặc, một số sứ quan cũng làm thơ về tình hình cuộc sống của dân chúng sở tại với mối cảm hoài sâu sắc, nhưng rất hiếm hoi Chúng ta có thể thấy, hầu hết các sứ quan đi về đều có một, hai tập thơ kể về hành trình đi sứ của mình và trong đó đa

phần là thơ ngâm vịnh

Nay, cái bổn phận chính ấy dường như bị hạ xuống tới mức thấp nhất, còn cái thú đi thăm thú đất nước sở tại lại nổi lên phần lớn trong họ đều coi đó chính là cơ hội hiếm hoi

để cá nhân có thể mở rộng tầm mắt Họ có dịp tiếp xúc với thế giới mới, kiến văn được

mở rộng, có điều kiện quan sát tình hình dân cư sinh sống tại những vùng đất mới, hoàn toàn xa lạ với họ

Thực ra, việc học hỏi nước ngoài (chủ yếu là các ngành nghề) đã được đặt ra trong quá khứ nhưng đó không phải là chủ ý của các sứ quan mà đôi khi chỉ là do các sự cố tình

cờ Nay đó là mục đích chính của các sứ quan có tư tưởng tiến bộ muốn canh tân đất nước, muốn làm cho dân giàu nước mạnh để từ đó dăng cứu vãn được tình hình, giữ vững được chủ quyền quốc gia

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX, Tham tri Bộ Lại Phạm Phú Thứ đi sang châu Au với tư cách là một đại thần trong phái bộ ngoại giao của triều đình Huế, đã ghi chép những điều mắt thấy tai nghe trên cả chuyến hành trình và ngay tại xứ người (Tây

nền văn minh thế giới phương Tây do người Trung Hoa đã dịch sẵn từ tiếng Anh sang

(Bác v ật tân biên, Khai môi yếu pháp, Hàng hải kim châm, Tùng chánh di quy và Vạn

1865, khi về đã đề đạt ra hàng loạt những thay đổi về hoạt động kinh tế Hoặc như Bùi

Viện, nhân vật xuất ngoại đầu tiên của nước ta, năm 1873 sang tận Hoa Thịnh Đốn để vận động quan hệ bang giao với Mỹ nhằm giảm bớt áp lực của Pháp đối với nước ta Tuy việc không thành nhưng khi về nước đã đề xướng ra công cuộc chấn hưng đất nước, thực thi

kế hoạch chỉnh đốn hải quân, lập hệ thống thương điếm cùng những hoạt động ngoại thương mang tính nhà nước

Trang 30

1.2.2.2.Một đặc điểm của tiến trình đổi mới đang đề cập là ở Việt Nam, các tư tưởng

và kiến thức mới của phương Tây được du nhập vào không đi trực tiếp từ Pháp, quê hương của trào lưu tư tưởng Ánh sáng, của Cách mạng Tư sản dân quyền 1789, mà lại thông qua con đường Tân thư, đi từ Trung Hoa sang Lý do thật hiển nhiên Trong công

cuộc chinh phục thuộc địa, kẻ xâm lược hạn chế đến mức tối đa việc cho phép du nhập

những tư tưởng tự do dân chủ tiến bộ của cách mạng Pháp vào Việt Nam Chúng mong

muốn một môi trường chinh phục êm ả, không bị cản trở như chúng đang gặp ồ ngay chính quốc! Trong khi đó, Trung Hoa, một quốc gia phương Đông vốn có hoàn cảnh bi thương y hệt Việt nam, lại là quốc gia phong kiến có mối quan hệ lâu đời và vốn có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền chuyên chế phong kiến ờ Việt Nam Những điều kiện tương tự

về đặc điểm tâm lí dân tộc và xã hội đã góp phần không nhỏ trong việc Việt Nam chọn

con đường cách tân về hệ tư tưởng thông qua đất nưóc Trung Hoa

Tân thư là một danh từ khá bao quát Đó là những ấn phẩm chứa những kiến thức

mới (tân học), hầu như mâu thuẫn hoàn toàn với kiến thức cũ (cựu học) vốn đầy rẫy trong các sách Thánh hiền, trong kinh điển Nho giáo Những kiến thức mới này là những kiến

thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có nguồn gốc từ phương Tây- chúng được

dịch từ sách viết bằng các ngôn ngữ Ấn Âu Việc dịch ra tiếng Hán có thể là dịch trực

tiếp hoặc thông qua tiếng Nhật Việc dịch có thể là dịch nguyên bản hoặc chỉ là bản tóm

lược các ý cơ bản của tác phẩm Nhưng Tân thư có mục đích rõ ràng là giói thiệu văn

đổi mới nhận thức cũ và qua đó có tác dụng cải biến xã hội theo hướng tiến bộ Trong

một chừng mực nào đó, Tân thư có liên quan với những tư tưởng cải lương, tư tưởng duy tân vốn đã tồn tại từ trước trong xã hội Trung Hoa Nhưng phải đợi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thời Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, chúng mới hội đủ điều kiện để hợp lưu thành một dòng chảy mạnh mẽ mang tính cách mạng

Từ những năm 60 của thế kỷ XIX, Tân thư đã nảy nở rầm rộ ở trung Hoa, nhưng không phải tất cả những gì đã xảy ra ở Trung Hoa thì lập tức đã có tiếng vọng ở đất nước

ta Những tác phẩm Tân thư có thể đã xuất hiện rất sớm ở Trung Hoa, nhưng đến Việt

Trang 31

Nam còn những quanh co và khúc khuỷu; càng về sau này càng gặp nhiều khó khăn vì sự

kiểm soát gắt gao của mật thám và hệ thống kiểm duyệt của nhà cầm quyền cả hai nước

Từ những năm cuối thế kỷ XIX, thông qua các cửa cảng lớn của cả nước như Hải Phòng, Đà Nang, Sài Gòn, nơi có đông đảo bà con người Hoa cư trú làm ăn lâu đời, Tân thư Trung Hoa đã được đưa vào nước ta Tân thư được các trí thức yêu nước và tiến bộ nhiệt tình đón nhận Họ sung sướng tìm thấy trong đó khẩu vị tinh thần mới, thích hợp

với thời đại mới Đó là các tư tưởng dân chủ cùng với các kiến thức tân kỳ sản phẩm khoa học và công nghệ của phương Tây Họ đã nhận thấy đây chính là những phương thuốc hiệu nghiệm nhất cho căn bệnh trầm kha của đất nước - Việt Nam muốn thoát khỏi ách nô lệ và phụ thuộc, không còn con đường nào khác ngoài việc phải canh tân đổi mới triệt để Canh tân là biện pháp thiết thực để cứu lấy nước nhà Như vậy, Tân thư đã trở thành sợi dây văn hoa nối liền đất nước Việt Nam nhỏ bé và đầy bi kịch với thế giói, đưa

Việt Nam hoa nhập với trào lưu chung của thế giới Trong số các Tân thư, Tân báo đó

đáng ghi nhận là các tờ Nhân dân tùng báo, Thanh Nghị báo, , các ấn phẩm Ẩm băng

hoàn chí lược, tác phẩm cung cấp những tri thức tối cần thiết về thế giới

1.2.2.3.Ngoài nguồn tài liệu từ Trung Hoa, các tư tưởng của trào lưu Ánh sáng còn vào việt Nam qua nhiều nguồn khác

Có lẽ người Việt Nam đầu tiên sử dụng Tân thư là Nguyễn Trường Tộ Ông xuất thân từ Nho học nhưng là người theo đạo Thiên chúa Ông được giám mục Gauthier (Gauthier) (tên Việt là Ngô Gia Hậu) dạy cho tiếng Pháp và nhiều môn học mới của phương Tây Năm 1860, ông sang Pháp học ở La Mã và Pari Như vậy những kiến thức

mà ông sử dụng khi viết các bản điều trần gửi vua Tự Đức của ông từ 1863-1871, xin cải

cách mọi mặt chính trị, giáo dục, kinh tế, xã hội, ngoại giao, là những kiến thức nhập trực

tiếp từ các kết quả học tập trong mấy năm ở nước ngoài, mà không phải là bắt nguồn từ các nguồn tài liệu Tân thư tò Trung Hoa Tuy nhiên, người ta kể lại rằng, sau khi ông gửi

mấy bản điều trần đầu tiên cho triều đình Huế qua tay Trần Tiễn Thành, ông có đưa Trần

Tiễn Thành xem một số Tân thư của Trung Hoa, trong đó có Doanh hoàn chí lược, Thiên

Trang 32

h ạ quân quốc lợi bệnh, Bác vật tân biên, Hàng hải kim châm, Những cuốn sách đó về

sau được Nguyễn Lộ Trạch, con rể Trần Tiễn Thành, sử dụng triệt để trong các điều trần mang các đặc tính canh tân dâng lên vua Tự Đức Vậy sau Nguyễn Trường Tộ là ông,

những người có những tít tưởng cải cách triệt để và đa diện đối với toàn cục của đất nước

1.3.TI ỂU KẾT

Tóm lại, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, để cứu nước, không còn con đường nào khác là con đường canh tân Chính sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX là cơ sở khách quan vô cùng thuận lợi cho những tư tưởng của trào lưu Ánh sáng và những tư tưởng cách tân khác từ phương Tây Những tư tưởng này thông

qua màng l ọc Trung Hoa và Nhật Bản đã thực sự có điều kiện để phát triển ở Việt Nam

Tuy nhiên, trong những điều kiện mới, sự phân hoa xã hội diễn ra không đồng đều; mặc

dù cùng chung một gốc yêu nước, chống xâm lược, nhưng do những đặc điểm riêng của truyền thống gia đình cũng như các đặc điểm địa phương khác mà mức độ tiếp thu ảnh hưởng mới từ ngoài vào có mức độ nông sâu, đậm nhạt khác nhau đối với từng nhà Nho Chính vì vậy, mà trong cùng một thời kỳ, vẫn tồn tại hai xu hướng khác nhau về hình

thức, mặc dù là đều mang tính cách mạng: bạo động và cải lương Hai xu hướng này, lúc

đầu còn gần nhau vì chỉ mới là những ý tưởng manh nha ở một số yếu nhân, nhưng càng

về sau càng có những cách biệt lớn, đến mức bất đồng

Những ý tưởng cách mạng trong nhận thức ấy đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến

tiến trình cách mạng ở Việt Nam ngay trong đương thời và sau này Tuy nhiên, ngay vào lúc này đây thì chúng đều chịu chung một số phận: bị Nhà nước phong kiến bỏ rơi và tìm

mọi cách đưa vào quên lãng, và dẫu chúng có thể được phát triển leo lắt ờ một đâu đó, trong một nhóm nhỏ quần chúng nhân dân thì cũng bởi tính không tưởng trong chủ trương hay tả khuynh trong hành động mà nhanh chóng dẫn tới kết cục bế tắc hay hoàn

toàn thất bại

Trang 33

C hương 2: VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX- ĐẦU

TH Ế KỶ XX VÀ SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU ÁNH SÁNG

2.1.CÁC KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC

Những diễn biến lịch sử có ảnh hưởng rõ rệt trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sự phát triển của văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Mục tiêu đấu tranh của văn học, các hình

thức thể hiện của tính chiến đấu, sự phân hóa khắc nghiệt trong lực lượng sáng tác, rõ ràng là chịu sự chi phối của tình hình chính trị lúc bấy giờ Nhưng như đã thành một qui

luật, chiều hướng lịch sử làm nên cái nền cho tiến trình phát triển của văn học ấy không

phải là những áp lực chính trị bên ngoài, dội từ trên xuống của các tầng lớp trên trong xã

hội, mà trước hết và duy nhất phải đi từ chính bản thân cuộc đấu tranh cách mạng, từ

những tâm tư, nguyện vọng tầm thường của những con người nhỏ bé - giai cấp bị trị Văn

học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, mặc dù ở từng chặng đường có thăng trầm,

có những sắc thái khác nhau, nhưng ở đâu và bao giờ thì dòng văn học yêu nước chống Pháp cũng là chủ lưu của cả tiến trình Đó là vì dòng văn học này có cơ sở thực tế từ chính ngay trong cuộc đấu tranh chống xâm lược của quảng đại quần chúng nhân dân Trong dòng chủ lưu đó có một mạch nhỏ, nước ngầm là văn học yêu nước có xu hướng canh tân Mạch nước ngầm này được tồn tại và phát triển như là sự đối lập biện chứng

với tinh thần an phận, cách nhìn lạc hậu, bảo thủ, chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình Tự Đức lúc bấy giờ

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đi vào hồi quyết liệt và phức tạp Thêm vào đó, cách nhìn và thái độ của các tầng lóp xã hội trước những vấn đề thời sự đạt ra, nhìn chung là, không giống nhau Văn học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Điều đó đã dẫn đến sự phân hóa triệt để và gay gắt ngay trong nội bộ nền văn học khi một quốc gia có những thay đổi quan trọng về chất Thời điểm lịch sử đang bàn có những tiền đề cho sự phân hoa gay gắt ấy Theo Nguyễn Lộc, văn học trong thòi kỳ này có thể được chia thành bốn khuynh hưởng điển hình sau đây

Trang 34

2.1.1 KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC

Đây là trào lưu có tính chủ đạo, phát triển một cách liên tục và phong phú ngay từ đầu Nó mang tiếng nói lương tri của thời đại Trào lưu này bao gồm những sáng tác của

những người ưu tú nhất của thời đại, của dân tộc: thi sĩ đồng thời cũng là người chiến sĩ; sáng tác cũng là hành động giết giặc Nội dung của các sáng tác yêu nước là những lời

kết án thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước, là những lời ca ngợi cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc và là lời kêu gọi hùng hồn tinh thần đoàn kết của cả dãn tộc Văn thơ yêu nước còn là tiếng ca tha thiết phản ánh tâm tư tình cảm của các chiến sĩ đã anh dũng, bất khuất đứng lên cầm vũ khí chống lại quân thù Nó phát triển theo sát phong trào

chống Pháp, giàu tính chiến đấu, tính quần chúng và có ảnh hưởng rõ rệt đối với các trào lưu văn học khác

Các tác giả tiêu biểu cho khuynh hưởng văn học yêu nước chống Pháp thời kì này là Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân ôn, Nguyễn Quang Bích Đóng góp chủ yếu của khuynh hướng này là đem đến cho văn học một nội dung

mới, một khí thế mới, một sức sống mới

2.1.2 KHUYNH HƯỚNG TỐ CÁO HIỆN THỰC

Khuynh hướng này có quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng yêu nước chống Pháp Ở

thời gian đầu, khuynh hướng tố cáo hiện thực chưa xuất hiện rõ nét mà chỉ như là một bộ

phận của khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp Về sau khi phong trào chống Pháp thất bại, thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, một xã

hội thực dân nửa phong kiến thực sự ra đời với tất cả tính chất xấu xa và lố lăng của nó, thì khuynh hướng này trở thành một khuynh hướng độc lập và phát triển mạnh mẽ

Những tác giả tiêu biểu là Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Văn Lạc (Học Lạc) Khuynh hưởng này sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm, có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, trong việc hoàn thiện các hình

thức nghệ thuật, các thủ pháp biểu hiện

Trang 35

2.1.3 KHUYNH HƯỚNG HƯỞNG LẠC, THOÁT LY

Khuynh hưởng này ra đời song song với khuynh hướng tố cáo hiện thực Trên bối

cảnh chung là sự thất bại của phong trào đấu tranh chống Pháp và việc đặt ách thống trị

của thực dân Pháp lên đất nước ta, nhưng các tác giả thuộc khuynh hướng này lại nuôi

cảm hứng của mình vào thái độ dửng dưng với thời cuộc Vốn xuất thân từ tầng lớp quan

lại trong giai đoạn suy tàn, họ mang sẵn tâm lý tùy thời hưởng lạc, sống không lý tưởng Trong hoàn cảnh xã hội mới, họ không cảm thấy cái nhục mất nước mà lại tìm cách trụ

lại ở các vị thế quan chức hoặc hãnh tiến, luồn lọt để nhận được một chút bổng lộc từ

những kẻ cướp nước Lấy mục đích ra làm quan để hưởng thụ, nhưng họ chưa đến nỗi

mất hết liêm sỉ tới mức vào hùa với bọn cướp nước để đàn áp phong trào kháng chiến của

bạn bè và nhân dân mình Những sáng tác của họ cũng không ngoài mục đích để chiêm nghiệm cái thú hưởng thụ ích kỷ của mình- Trong thơ văn của họ, thi thoảng cũng có bài nói đến thời thế, ngụ một chút tâm sự xa xôi, đả kích châm chọc một thói hư tật xấu của

ai đó, hoặc đeo đuổi hình bóng một mĩ nhân trong mộng tưởng của cái thời hoàng kim nào đó trong quá khứ xa lắc Nhưng nội dung chủ yếu vẫn là đề cập đèn cuộc sống ăn chơi sa đọa trác táng Tính chất hưởng lạc là đặc điểm chủ yếu của nhóm nhà thơ nẩy,

mặc dù đối với từng người mức độ có khác nhau

2.1.4 KHUYNH HƯỚNG NÔ DỊCH

Đây là một khuynh hướng phản động do những phần tử tay sai của thực dân Pháp

hợp thành Mục đích của nó là phục vụ cho quyền lợi giai cấp thống trị: thực dân Pháp và

bè lũ tay sai Nó trắng trợn ca ngợi công đức của các ngài thực dân, đe dọa và đả kích phong trào kháng chiến của nhân dân và tìm mọi cách biện hộ cho bè lũ tay sai bán nước Trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, lúc đầu khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta còn

mạnh, khuynh hướng này thể hiện có phần úp mở, dè dặt, tiêu biểu là những sáng tác của Tôn Thọ Tường Nhưng đến cuối giai đoạn này, khi thế và lực của hai bên đã rõ thì khuynh hưởng nô dịch bộc lộ ra một cách trắng trợn và bỉ ổi, tiêu biểu là những sáng tác

của Hoàng Cao Khải

Trang 36

Những sáng tác và những công trình khảo cứu, biên soạn của Trương Vĩnh Ký và

Huỳnh Tịnh Của, thực chất cũng nằm trong khuynh hướng này Những hoạt động của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, khách quan có làm cho chữ Quốc ngữ được phổ

biến rộng rãi hơn trong xã hội, và về nội dung, những hoạt động này có vẻ thuần tuy văn hoa, nhưng thực ra, toàn bộ hoạt động văn hoa, văn học của Trương Vĩnh Ký cũng như

Huỳnh Tịnh Của đều nằm trong chủ trương nô dịch của thực dân Pháp và được chúng theo dõi chỉ đạo chặt chẽ- Ngay trong ý thức của Trương Vĩnh Ký cũng như Huỳnh Tịnh

Của, những hoạt động này trước hết cũng là nhằm phục vụ cho lợi ích của bọn xâm lược Trong bức thư gửi những quan chức xét duyệt bản thảo của mình, Trương Vĩnh Ký đã nói

rất rõ: Những công trình này cố thể ích lợi cho người Phấp muốn tìm hiểu tiếng nối và

Người An Nam học trò, phải biết tiếng Pháp để học những kiến thức cao còn thiếu trong

vi ệc học vấn của mình 14

Trên đây là những khuynh hướng văn học phản ánh trực tiếp cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội lúc bấy giờ Ngoài ra còn một số tác giả khác không thuộc khuynh hướng này, thỉnh thoảng họ cũng có những bài có giá trị, nhưng nói chung khuynh hướng không

14

Gòn, 1974, tr 237-238

Trang 37

thật sự chín muồi, thiếu đi những cơ sở vật chất căn bản để thực thi, nhưng ồ Việt Nam, trong nền văn học đã tổn tại một trào lưu Ánh sáng bao gồm những sáng tác eủa các trí

thức yêu nước tiến bộ, Nho học có, Tây học có Tiêu biểu cho các tác gia của dòng văn

học này là Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi

Viện,

Theo nhà nghiên cứu N.LNiculin, phần lớn các nhà nghiên cứu Xô viết đều cho

rằng ở các nền văn học vùng Viễn Đông cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX có thể được coi về các mặt cơ bản là đã tồn tại một dòng văn học Khai sáng 15 Như vậy, các đặc tính Khai sáng, hay nói cách khác, các đặc tính của trào lưu tư tưởng Ánh sáng cũng có cả ồ văn học Việt Nam thời kỳ này

Như đã đề cập ở Chương Một, giai đoạn quan trọng trong sự phát triển trào lưu tư tưởng Khai sáng ở Việt Nam được mở ra vào những năm 60 của thế kỷ XIX, khi đất nước

buộc phải chống lại sự bành trưởng thuộc địa của Pháp Vì vậy, có thể nói, phong trào Khai sáng (hay còn gọi là phong

trào Anh sáng) ở Việt Nam đã gán bó chặt chẽ với nhiệm vụ đấu tranh của toàn dân

chống ách nô dịch của thực dân Pháp Nhiều nhà hoạt động của phong trào này ở Việt Nam đã chủ trương tiến hành các cuộc canh tân ở trong nước, nắm lấy khoa học-kỹ thuật phương Tây, hiện đại hóa hệ thống đào tạo, Những cuộc cải cách ấy có thể làm đổi mới

Việt Nam và quan trọng nhất là giúp đất nước tự cường tự trị, thoát khỏi nguy cơ nô dịch

của thực dân Pháp Tuy nhiên, việc kêu gọi cải cách và trách nhiệm của nó đối với số

phận của dân tộc trong thời điểm nguy hiểm nhất của lịch sử dân tộc vẫn không quán triệt

hết quan điểm của các nhà hoạt động cải cách

Theo nhà nghiên cứu N.LNiculin, phong trào Khai sáng ở phương Đông hoàn toàn không chỉ hạn chế ở ham muốn nắm được các thành tựu khoa học kỹ thuật của nền văn minh phương Tây Vì vậy mà ý kiến của nhà nghiên cứu văn học người Pháp gốc Việt

15

d ịch tiếng Việt, tr 197

Trang 38

Nguyễn Trần Huân có phần phiến diện Ông viết rằng các nhà trí thức Việt Nam nửa sau

thế kỷ XIX đã nhận thức được rằng để giành độc lập thì cần đi học trường của Tây và

nắm vững các thứ của Tây để tiếp xúc với khoa học phương Tây Do đánh giá như vậy

mà người ta đã tuyệt đối hóa một số đặc điểm của phong trào Khai sáng phương Đông

nửa sau thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX, và trước hết là việc nó đã xuất hiện muộn hơn nhiều so với trào lưu Khai sáng Âu châu Theo quan điểm như vậy, việc tìm hiểu nền văn minh phương Tây đã không phải với tư cách là chất xúc tác mà chính là nguyên nhân căn

bản của quá trình Những người tán thành quan điểm này có khuynh hướng coi nhẹ hoặc

thậm chí coi là không cần thiết ngay cả cái điều cốt yếu của phong trào Khai sáng

phương Đông: tính chất chống phong kiến và xu hướng chống đế quốc của nó (mối quan

Ngoài ra cần phải phân biệt rõ các động cơ thúc đẩy chủ quan với ý nghĩa khách quan của các ý tưởng và hoạt động của những người tham gia phong trào Khai sáng Thế

giới quan của các nhà cải cách, Khai sáng Việt Nam giữa thế kỷ XIX có đặc tính là mang

xu hướng chống phong kiến Khác với các nhà tư tưởng Việt Nam đã từng bày tỏ các ý tưởng Khai sáng vào nửa thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, trong các tác phẩm chính luận, các nhà Khai sáng không muốn sống an phận trong

hệ tư tưởng Nho giáo Chẳng hạn, Nguyễn Trường Tộ, một tín đồ Thiên chúa giáo, người

đã từng học ở Paris và đã từng thăm viếng La Mã, sau khi đã trở thành nhà tư tưởng của các nhà cải cách, đã kiên quyết bác bỏ triết học kinh viện thời Trung đại và lên tiếng một cách kiên quyết, trực diện chống lại cơ sở tư tưởng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam là Tống Nho Nhưng ở chính Nguyên Trường Tộ lại có một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái truyền thống và cái cách tân Điều đó thể hiện ở việc ngay từ đầu (năm

1863), ông đã dùng chữ Hán (nếu không thì hồi đó ông đã không hy vọng là triều đình

Huế sẽ đọc và hiểu được ông!) để thể hiện những tư tưởng cách tân của mình như Thiên

h ạ phân hợp đại thế luận, Giáo môn luận, Bài trần tình, nhất là Tế cấp bát điều Có thể

16 N.LNiculin, s đd, Phần IV, chương II, tr 197

Trang 39

nói, tư tưởng của ông thể hiện trong các bản điều trần là hoàn toàn mới đối với Việt Nam

Chất văn chương trong các bản điều trần này, ngoài vài thông lệ có tính qui phạm, bắt

buộc của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với các công văn giấy tờ, phần lớn là theo

lối văn phong khoa học, thường gặp trong thể loại chính luận ở các tác phẩm khoa học - chính trị phương Tây hoặc trong một số tài liệu Cơ đốc giáo Tuy nhiên, với lối văn phong cứng như vậy, các tư tưởng của ông vẫn được chuyển tải một cách uyển chuyển,

bởi hệ thống thuật ngữ của ông vẫn có gốc gác từ hộ tư tưởng truyền-thống-đã-quen dùng

và đặc biệt là cách sử dụng các điển tích, điển cố, thì thật là thuần Đông phương

Nhưng cái điều quan trọng hơn là ở thái độ dứt khoát của ông đối với các tư tưởng phương Đông đã quá cũ kỹ và lạc hậu Ông cho là các sách cổ và việc lý tưởng hóa

những thời đại xa xưa đã qua theo mỹ học Nhọ giáo chính là một mối nguy hại và là cách nhìn thật thiển cận Trong tư tưởng của ồng, cách lý tưởng hoa đó là đi ngược với các tiến

bộ của lịch sử: Người thời nay phần nhiều không hiểu được sự thế xưa nay dời đổi ra

cũng muốn đi ngược lại theo xưa Bọn Tống Nho sở dĩ làm hại đất nước, làm đất nước

Một mặt, Nguyễn Trường Tộ phê phán và tìm cách bài bác các nguyên tắc quan trọng nhất của triết học kinh viện Nho giáo, mặt khác, ông ca tụng trí tuệ, đề cao vai trò của tư tưởng trong đời

sống và sự phát triển của xã hội: đem hết cái trí khôn trời cho để khai thông mọi cái bí

Khai sáng Trong chương trình hành động của mình, Nguyễn Trường Tộ rất coi trọng việc

nắm vững và tận dụng các thành tựu của khoa học phương Tây cho lợi ích của đất nước,

để tăng tinh thần tự cường tự trị và làm cho dân giàu nước mạnh: người phương Tây là

k ẻ bán cái trí cái dũng, nếu ai biết khéo mua thì chẳng bao lâu cấc thứ họ cố sẽ trở thành

18 Trương Bá Cần, Sđd, tr 144

Trang 40

r ằng ta đã học hết cái thuật của họ, rồi sau lấy cái trí tuệ vốn có sẵn của chúng ta thêm

càng già nua, còn cái trí x ảo của ta thì mới mẻ trẻ trung, đem hai trí mà địch lại một trí,

l ẽ nào không thắng được ? 19

Dưới sự soi rọi của lý tưởng Ánh sáng, những người chủ trương cải cách phê phán gay gắt việc học hành theo lối cựu học, lối học đầy kinh viện, giáo điều tách rời cuộc

sống thực tế, chỉ chạy theo những tín điều đã lạc hậu của các nhà tư tưởng cổ đại đồng

thời đề cao việc học theo lối thực dụng Nguyễn Trường Tộ đã viết: " Nếu đem cái công

Đường, Tống, Nguyên mà học những việc hiện tại như binh, hình, luật lệ, tài chánh, thương mại, xây dựng, canh nông, dệt và những cái mới khác thì dần dần cũng có thể làm cho nước mạnh dân giàu, Phàm những gì ngày mai đem ra ứng dụng, chính là những

không đem ứng dụng được ở ngày mai là do học và hành trái ngược nhau, Nếu như lấy

t ạo vật thì sẽ được biết bao nhiêu điều đấng quý 20

Vì vậy, ông chủ trương sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng Như vậy có nghĩa là thay đổi hẳn một quan niệm về học thuật Song song với việc phải tìm học cái học thực dụng là những đề án thiết thực trong nền

giáo dục nước nhà - ông xin với triều đình nên thành lập các khoa học mới như nông chính, thiên văn và địa lý, công kỹ nghệ, luật học và nhất là cần phải trở về với tiếng

quốc âm trong phạm vi trường học

Thực ra, việc phê phán nền học thuật, văn chương cử tử, tức cái học kinh viện giáo điều đã được các trí thức Nho học tiến bộ đề cập từ trước đó, nhất là những trí thức có cơ

hội tiếp xúc và mở rộng tầm nhìn trước nền văn minh cơ xảo của những vùng đất mới, xa

lạ nhưng hơn hẳn văn minh Việt Nam, Trung Hoa Trong bài Đề sát viện Bùi công Yên

đài anh ngữ khúc hậu, Cao Bá Quát đã viết:

19 Trương Bá Cần, Sđd, tr 137

20 Trương Bá Cần, Sđd, tr.196, 241,250

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:29

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w