1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

về cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” (kiểu như mát tay, lên mặt, nóng ruột…)

112 516 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 693,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói rõ hơn, đề tài này nhằm tìm hiểu cách tư duy của người Việt được phản ánh trong những kết hợp kiểu “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” Như tên gọi, đề tài này cố gắng miêu tả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

_

Lê Thị Khánh Hòa

VỀ CẤU TRÚC “VỊ TỪ + TÊN GỌI

BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ NGƯỜI”

(KIỂU NHƯ MÁT TAY, LÊN MẶT, NÓNG RUỘT…)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

_

Lê Thị Khánh Hòa

VỀ CẤU TRÚC “VỊ TỪ + TÊN GỌI

BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ NGƯỜI”

(KIỂU NHƯ MÁT TAY, LÊN MẶT, NÓNG RUỘT…)

Chuyên ngành : Lí luận ngôn ngữ

Mã số : 602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Sâm

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận văn này là kết quả tự nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ bất cứ công trình nào có trước của người khác

Người viết luận văn

Lê Thị Khánh Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này người viết đã nhận được sự giúp đỡ quý báu từ nhà trường, các thầy cô, gia đình và bạn bè Cho phép người viết bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc của mình đến:

đại học, thư viện nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ người viết trong suốt quá

chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu, tận tình của thầy

học tập và thực hiện luận văn này

Một lần nữa người viết xin chân thành cảm ơn

Người viết luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 0

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 1

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Mục đích của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Lịch sử vấn đề 4

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục luận văn 8

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 9

1.1 Một số quan niệm về ẩn dụ trước quan niệm ẩn dụ tri nhận 9

1.1.1 Một số quan niệm phổ biến trên thế giới 9

1.1.2 Một số quan niệm ở Việt Nam 12

1.2 Ẩn dụ tri nhận 14

1.2.1 Phân loại ẩn dụ ý niệm 15

1.2.2 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 16

Chương 2: VỀ NHỮNG BỘ PHẬN XUẤT HIỆN TRONG CẤU TRÚC “VỊ TỪ + TÊN BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ NGƯỜI” 21

2.1 Đặt vấn đề 21

2.2 Nghĩa của từng bộ phận trong cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận cơ thể người” 22

2.3 Tiểu kết 66

Chương 3: NHỮNG ẨN DỤ Ý NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC “VỊ TỪ + TÊN GỌI BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ NGƯỜI” 67

3.1 Đặt vấn đề 67

3.2 Một số ẩn dụ tri nhận cụ thể 68

3.2.1 Ẩn dụ bản thể 68

3.2.2 Ẩn dụ cấu trúc 77

3.2.3 Ẩn dụ định hướng 82

3.3 Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 91

Trang 6

DẪN NHẬP

hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác của con người

về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người phạm trù hóa và ý niệm

trường phái ngôn ngữ học khác thì ngôn ngữ học tri nhận có tuổi đời khá trẻ, mới hơn

20 Tuy vậy trong khoảng 20 năm tồn tại của mình ngôn ngữ học tri nhận đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ với tư cách là một trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri nhận của con người (cùng với tri giác, tư duy, kí ức, hành động) Ẩn dụ tri nhận là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện

và hình thành những ý niệm mới mà không có nó thì con người khó có thể nhận được tri thức mới Ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người khái quát và nắm bắt sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau Một trong những nội dung quan trọng mà ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu là ẩn dụ tri nhận Ẩn dụ tri nhận là các ánh xạ có tính chất hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích Cơ thể con người

là một trong số các miền nguồn thường gặp Những trải nghiệm của con người với thế giới xung quanh tạo nên ý nghĩa và quyết định phương thức con người hiểu thế giới Thực tế tiếng Việt đã chứng minh điều này Trong tiếng Việt được sử dụng hàng ngày, dễ dàng tìm thấy những kết hợp dạng “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể

người” như sôi máu, cao tay, mát ruột… Những kết hợp trên không đơn giản là

những cách nói võ đoán, nó thể hiện một lối suy nghĩ, một cách nhìn của người Việt

về thế giới Người làm đề tài mong muốn vận dụng cơ sở lí thuyết về ẩn dụ tri nhận

và tính nghiệm thân của ngôn ngữ học tri nhận để miểu tả và giải thích những kết cấu

cố định trên Ngược lại đề tài này sẽ làm rõ phần nào những lý thuyết quen thuộc của ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu tiếng Việt và hơn nữa, nó mở ra cho chúng ta một cái nhìn vào đầu óc của người bản ngữ Nó sẽ phần nào trả lời cho câu hỏi người Việt

Trang 7

chúng ta đã tư duy như thế nào, đã quan niệm thế giới như thế nào để tiếng Việt lại có diện mạo như ngày nay

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến nhất và là công cụ của tư duy Ngôn ngữ và tư duy là hai mặt của một từ giấy Ngôn ngữ thể hiện tư duy một cách rõ nét

Có thể thấy đơn giản trong giao tiếp hằng ngày, ngôn ngữ của một cá nhân có thể hé

lộ phần nào về tư duy của người đó Tư duy rõ ràng thể hiện qua ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu, mạch lạc Ngược lại, ngôn ngữ không mạch lạc “tố cáo” rằng người đó chưa thật sự hiểu vấn đề Đi sâu hơn, ta có thể thấy cách phản ánh thế giới khách quan vào ngôn ngữ của các ngôn ngữ của các cộng đồng người khác nhau là khác nhau Dựa vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy có thể giải thích được điều này Nói như vậy không có nghĩa là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó là vì tư duy của con người ở những cộng đồng khác nhau thì khác nhau Tư duy của con người thực tế là

có nhiều điểm tương đồng Những khác biệt trong sự phản ánh thế giới khách quan vào ngôn ngữ là do sự tác động của môi trường sống Môi trường bao gồm hoạt động lao động, sản xuất, văn hóa, phong tục, tập quán sinh hoạt của cộng đồng Chính những yếu tố đó tác động đến cách mọi người nhìn nhận, nhận xét thế giới khách quan và từ đó ảnh hưởng đến cách họ phản ánh thế giới đó vào ngôn ngữ Như vậy có thể thấy tìm hiểu một ngôn ngữ phải bao gồm cả việc tìm hiểu về cách tư duy của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ đó về thế giới, tìm hiểu điều đó tức là phần nào

đi giải thích vì sao ngôn ngữ của cộng đồng đó lại như vậy Tiếng Việt thể hiện cách người Việt nhìn nhận thế giới và những kết hợp kiểu “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” là những kết hợp rất đặc sắc, thú vị của tiếng Việt, liên quan nhiều đến văn hóa cộng đồng Tìm hiểu nó có thể coi như là một cách để nhìn vào đầu óc của cộng đồng người Việt và tìm hiểu văn hóa của cộng đồng người Việt

2 Mục đích của đề tài

Vẫn biết giữa hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ có mối quan hệ võ đoán nhưng không phải tất cả đều là võ đoán, có những phần hoàn toàn có thể giải thích được Đề tài này nhằm miêu tả và giải thích những kết hợp hiểu

Trang 8

“vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” như sôi máu, cao tay, mát ruột… tức là

muốn giải thích phần nào những phần có thể giải thích ấy Nói rõ hơn, đề tài này nhằm tìm hiểu cách tư duy của người Việt được phản ánh trong những kết hợp kiểu

“vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người”

Như tên gọi, đề tài này cố gắng miêu tả và giải thích theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận những kết hợp kiểu “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” trong tiếng Việt Để làm được điều đó người viết chia thành những mục tiêu nhỏ hơn Thứ nhất, tìm hiểu bản chất của ẩn dụ tri nhận

Thứ hai, vận dụng những lí thuyết ẩn dụ tri nhận để miểu tả, giải thích những hiện tượng kết hợp “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” Người viết sẽ vận dụng một số kết luận mà những nhà ngôn ngữ học tri nhận đi trước đã đạt được Tuy nhiên những kết luận đã có có thể không đủ để giải thích tất cả cứ liệu tiếng Việt mà người viết có Vì vậy trong khả năng cho phép người viết sẽ đưa ra một vài kết luận của cá nhân Những kết luận này chắc chắn phải dựa vào ngữ liệu, bên cạnh đó người viết cũng sẽ liên hệ đến những quan niệm liên quan đến văn hóa của người bản ngữ vì như đã nói văn hóa để lại dấu ấn khá rõ nét trong ngôn ngữ Mục đích lớn nhất mà đề tài đặt ra là góp phần trả lời câu hỏi rằng quan niệm của người Việt về thế giới phản ánh qua ngôn ngữ như thế nào

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này sử dụng ngữ liệu lấy từ “Từ điển Tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên),

thuộc như xấu mặt, hả dạ, … nhưng không có trong từ điển người viết cũng không

khảo sát Đề tài sẽ miêu tả, giải thích trên cơ sở quan điểm tri nhận những kết hợp kiểu “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” dựa trên kiến thức ngôn ngữ học và

Về tên gọi những bộ phận của cơ thể người, ở đây người viết xin nói rõ rằng khi nói đến tên gọi các bộ phận cơ thể người, người viết không đề cập đến những tên gọi Hán

những kết hợp kiểu như “vị từ + tên gọi bộ phận cơ thể người” và rất nhiều người

Trang 9

hiểu rằng tâm là tim Song đó chỉ là một cách hiểu đơn giản và không đúng Thực ra,

tâm, thận, can, phế, tì… là những khái niệm vừa cụ thể, vừa trừu tượng Chúng

không phải là một bộ phận cụ thể của cơ thể

là những nhóm chức năng: thận chủ về nước, là nơi chứa tinh (thận tàng tinh), trông coi sự phát dục; quả cật chỉ là một đại diện tiêu biểu của nó Tâm chủ về huyết mạch,

là nơi chứa thần minh (tâm tàng thần) – tâm huyết kém thì thần chí suy, sinh mất ngủ,

mê sảng, lo âu, hay quên, quả tim chỉ là một đại diện tiêu biểu của nó…” [35, tr

80-81]

Luận văn này không đề cập đến những kết hợp chỉ triệu chứng của các bệnh liên

quan đến các bộ phận cơ thể như chết não, sổ mũi, đau bụng…và những kết hợp khác

mà trong đó tên bộ phận cơ thể được dùng với nghĩa gốc và không có ý nghĩa tượng

trưng nào đặc biệt như bỏ xác, quáng mắt… hoặc những kết hợp kiểu như rửa tay,

rụng tóc, đen da… vì những kết hợp đó không có tính cố định

4 Lịch sử vấn đề

Tính đến thời điểm này ngôn ngữ học tri nhận không còn là “người lạ” ở Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm tri nhận và đạt được những kết quả nhất định Ở Việt Nam, có thể nói Lý Toàn Thắng là một trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên giới thiệu những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận và nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm ẩn dụ ý niệm Tác phẩm nổi bật trong những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ tri nhận nói

cương đến thực tiễn tiếng Việt và công trình nghiên cứu sự tri nhận không gian: Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian trên tạp chí Ngôn ngữ số 4, 1 – 10

Tác giả Trần Văn Cơ cũng đã giới thiệu những ghi chép của ông, góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam

Bên cạnh đó cũng phải đề cập đến công trình của tác giả Nguyễn Đức Tồn,

phẩm này tìm hiểu về đặc trưng văn hóa – dân tộc của sự phạm trù hóa và định danh

Trang 10

thế giới khách quan, của ngữ nghĩa và tư duy ngôn ngữ ở người Việt có so sánh với những dân tộc khác trên cơ sở một số trường từ vựng ngữ nghĩa cơ bản Trong tác phẩm này tác giả Nguyễn Đức Tồn có xem xét độ sâu phân loại trong sự phạm trù hóa hiện thực trên cứ liệu trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi bộ phận cơ thể người, đặc điểm dân tộc của cách định danh bộ phận cơ thể con người, so sánh với tiếng

tưng tâm lí – tình cảm của tên gọi bộ phận cơ thể

Bên cạnh đó là rất nhiều luận án, luận văn, bài nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận trong thời gian qua Những công trình này chủ yếu áp dụng lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ tri nhận nói riêng để nghiên cứu một bộ phận nào đó của tiếng Việt:

nhận, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

vị định danh bậc hai, Ngôn ngữ, số 8, 22 – 26

góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa học), Luận án tiến sĩ, Thư viện Viện Ngôn ngữ và thư viện quốc gia

ngữ và đời sống số 9, 4 – 8

ẩn dụ không gian, Ngôn ngữ số 7, 1-8

ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ số 5, 26-42

thức của thành ngữ, Ngôn ngữ số 11, 57-63

ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ số 9, 51-57

Trang 11

- Nguyễn Ngọc Vũ ( 2008), Hoán dụ ý niệm “Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho sự chú ý” trong thành ngữ chứa yếu tố “mắt”, “mũi” và “tai” tiếng Anh và tiếng Việt, Ngôn ngữ số 9, 17-23

trong thành ngữ (kì I), Ngôn ngữ số 12, 20-27

trong thành ngữ (Tiếp theo và hết), Ngôn ngữ số 1, 12-24

tiếng Việt và tiếng Anh) Luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm TP HCM

1-16

nhận của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, Ngôn ngữ số 12, 25-37

nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ số 10, 1-11

hệ với tiếng Việt và tiếng Anh ), Ngôn ngữ và đời sống số 5, 22-28

tiếng Việt, Ngôn ngữ số 7, 22-35

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chính mà luận văn sử dụng để nghiên cứu là phương pháp miêu tả Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vận dụng để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển nào đó của

nó Đây là phương pháp phân tích đồng đại Những thủ pháp của phương pháp miêu

tích ngôn cảnh

Trang 12

Ngôn cảnh (context) là một loại môi trường phi ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ

bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết

về mã ngôn ngữ được dùng, sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp Ngôn cảnh tình huống bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe

về tất cả các quy ước, các niềm tin và các tiền đề được coi là đương nhiên của các thành viên trong cộng đồng của người nói và người nghe Ngôn cảnh văn hóa là ngôn cảnh của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống Ngôn cảnh văn hóa bao gồm hàng loạt nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị,

sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế Phân tích ngôn ngữ theo quan điểm tri nhận có mối liên hệ với thủ pháp phân tích ngôn cảnh vì

để hiểu tư duy của người Việt thể hiện trong ngôn ngữ cần có sự hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán của người Việt cũng như cần đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ với những hiểu biết của người Việt về tự nhiên, xã hội Ví dụ, những hiểu biết của người Việt về cơ thể người thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ và nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm tri nhận cần tính đến những hiểu biết đó

Thủ pháp thứ hai người viết sử dụng là phân tích văn cảnh Văn cảnh (co-text) là những hình thức ngôn ngữ cùng xuất hiện trên văn bản có hiệu tượng ngôn ngữ được khảo sát Nếu đối tượng khảo sát là một âm thì văn cảnh là những âm kết hợp với nó; nếu đối tượng khảo sát là một từ thì văn cảnh là những từ bao quanh hay đi kèm theo

từ đó tạo cho nó tính xác định về nghĩa Nếu đối tượng là câu thì văn cảnh là những câu đặt trước hay những câu đặt sau nó Tùy theo văn cảnh, từ có thể có những ý nghĩa khác nhau Ngoài ý nghĩa trí tuệ, văn cảnh còn bổ sung thêm những sắc thái hình tượng cảm xúc Luận văn này liên quan đến nghĩa ẩn dụ của từ do đó việc đặt từ

trong văn cảnh để hiểu đúng ý nghĩa được sử dụng là việc rất cần thiết Ví dụ: mát

ruột có thể được dùng với hai ý nghĩa: 1 có cảm giác dễ chịu, khoan khoái trong

người do vợt bớt được cái nóng, xót trong ruột: trời nóng, ăn bát canh bầu mát ruột

2 hả hê, vui thích trong lòng do được thỏa ý: con cái giỏi giang, cha mẹ mát ruột

Trang 13

Cần có văn cảnh để xác định trong trường hợp nào mát ruột được dùng với nghĩa ẩn

dụ

Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng thủ pháp thống kê toán học Luận văn này

có sử dụng một số lượng ngữ liệu thống kê từ trong Từ điển tiếng Việt chính vì vậy

không thể bỏ qua việc xử lí số liệu dù đó chỉ là những thao tác xử lí rất đơn giản

6 Bố cục luận văn

Luận văn này được tổ chức thành các phần như sau:

Dẫn nhập: Đây là phần có tính chất giới thiệu Người viết sẽ giải thích lí do chọn

đề tài, lịch sử nghiên cứu về vấn đề hoặc những vấn đề có liên quan cũng như trình bày các vấn đề về phương pháp, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết

Như tên gọi của nó, ở chương này người viết điểm lại một số quan niệm về ẩn

dụ từ trước đến nay trên thế giới và ở Việt Nam nhằm cung cấp một cái nhìn sơ bộ về vấn đề

Chương 2: Về những bộ phận xuất hiện trong cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người”

Chương này người viết sẽ trình bày kết quả thống kê, khảo sát về tên gọi những

bộ phận của cơ thể người xuất hiện trong cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người” theo hương chú trọng vào ý nghĩa tri nhận của từng bộ phận

Chương 3: Những mô hình tri nhận liên quan đến cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người”

Từ kết quả khảo sát, thống kê ở chương hai người viết sẽ đưa ra những mô hình tri nhận mà người viết xác định được dựa trên những hiểu biết về ẩn dụ tri nhận và ngữ liệu đã thu thập được

Kết luận: Phần này tổng kết lại vấn đề đã được nói đến trong luận văn đồng thời nêu ra một số nội dung có thể tiếp tục nghiên cứu

Trang 14

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT

Trong lý thuyết ngôn ngữ học cổ điển, ẩn dụ được coi là vấn đề thuộc ngôn ngữ chứ không phải là vấn đề của tư duy Lối nói ẩn dụ được coi là không có trong ngôn ngữ thông tục hàng ngày Thế nhưng gần đây quan niệm cho rằng ẩn dụ xuất hiện hàng ngày trong cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và ẩn dụ gắn bó chặt chẽ với tư duy ngày càng phổ biến

“Lần theo sự phát triển của quan niệm về ẩn dụ và hoán dụ từ truyền thống đến tri nhận, hiện nay chúng ta đã đạt đến những điểm quan trọng Trong hoàn cảnh trước khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời, Black đã nhận ra rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận Điều này có nghĩa là ẩn dụ không chỉ là một cách diễn đạt ý tưởng bằng phương tiện ngôn ngữ mà còn là một cách tư duy Hơn nữa, các nhà tâm lí học và ngôn ngữ học theo trường phái tri nhận đã chỉ ra rằng ẩn dụ và hoán dụ là những công cụ tri nhận rất hiệu quả để ý niệm hóa những phạm trù trừu tượng.” [51, tr

114]

Có thể thấy quan niệm về ẩn dụ có sự thay đổi khá nhiều từ khi nó bắt đầu xuất hiện Dưới đây người viết sẽ trình bày lại một cách sơ lược những quan niệm về ẩn

dụ trong lịch sử ngôn ngữ học

1.1 Một số quan niệm về ẩn dụ trước quan niệm ẩn dụ tri nhận

1.1.1 Một số quan niệm phổ biến trên thế giới

Trong tác phẩm “Thuật hùng biện” (Rhetoric) và “Thơ ca” (Poetics), Aristotle đã định nghĩa: “ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi.” Theo ông, có bốn cách chuyển: chuyển từ chủng sang loài, từ loài sang chủng, từ loài sang loài và chuyển theo nguyên tắc tương suy

Ví dụ với hành động đậu, đó là khái niệm chủng dùng cho động vật biết bay như chim, bướm, … chỉ sự dừng chân trên một vật nào đó và ngừng bay: Con chim đậu

Trang 15

Ví dụ của Aristotle: “Vâng, ông ấy đã thực hiện hàng vạn việc làm từ thiện.” Ở

đây, từ hàng vạn được dùng như một ẩn dụ (hàm chỉ một số lượng lớn, rất nhiều)

biểu hiện khái niệm chủng vốn do khái niệm loài (số đếm, trăm, ngàn, vạn …) chuyển sang

Ví dụ:

(1) Lá úa lìa cành

(2) Chim lìa tổ

(3) Đầu lìa cổ

khỏi, song trong (2), (3), (4), từ lìa được dùng như ẩn dụ, đó là kết quả của việc chuyển tên gọi từ lìa trong (1) sang

tương tự như từ thứ tư quan hệ với từ thứ ba Do đó thay cho từ thứ hai có thể điền vào từ thứ tư, và thay cho từ thứ tư có thể điền vào từ thứ hai

Ví dụ: (5) Tuổi già (a) của cuộc đời (b)

Theo phép tương suy của Aristotle, ta có thể thay từ một ngày trong (6) bằng

cuộc đời trong (5) để có: buổi xế chiều của cuộc đời

Từ Aristotle trở đi lịch sử nghiên cứu ẩn dụ chứng kiến hai quan điểm trái ngược nhau về khả năng sử dụng ẩn dụ:

việc biểu đạt tư tưởng và truyền đạt kiến thức, và để thực hiện chức năng này chỉ cần những từ được dùng với nghĩa đen

ẩn dụ là phương thức duy nhất không những biểu hiện tư tưởng mà còn biểu hiện bản thân tư duy

Trang 16

Vấn đề ẩn dụ đã được các nhà triết học phân tích đề cập đến, song điều họ quan tâm không phải là chính bản thân ẩn dụ mà là mệnh đề có chứa ẩn dụ Vấn đề ẩn dụ trong phạm vi Triết học phân tích trải qua ba giai đoạn:

Khởi đầu giai đoạn này là nhà triết học Mĩ D Davidson 1984 Ông đưa ra lí thuyết chỉnh thể luận ngôn ngữ (holisme), theo đó không tồn tại khả năng “trừu suất” một cách trừu tượng những từ ngữ, khái niệm hoặc mệnh đề từ văn cảnh ngôn ngữ Davidson đề nghị phân tích ẩn dụ theo những tiêu chí sau đây:

1 Ẩn dụ được xác định trong mối quan hệ với khái niệm nghĩa đen;

2 Nghĩa đen là một thuộc tính của từ, chứ không phải của ý niệm hoặc mô hình thế giới;

3 Ý nghĩa của ẩn dụ cần phải được xem xét cả trong mối quan hệ với cái mà nó biểu hiện trực tiếp và với cả cái ý nghĩa hàm ẩn nào đó mà nó đem đến cho người nghe

Tóm lại, theo Davidson, việc xác định tính ngụy của mệnh đề là cái chìa khóa để hiểu ẩn dụ nếu trong nó có một “nghĩa ẩn” nào đó Còn làm sao để có thể xác định được tính ngụy của một mệnh đề, nếu không sử dụng thước đo cổ điển về nghĩa đen? Davidson luôn bảo vệ tư tưởng: ẩn dụ là phương thức tư duy Ông không thừa nhận ẩn dụ hoàn toàn phụ thuộc vào nghĩa đen của từ, nó không phải là một nghĩa của từ đa nghĩa Ẩn dụ liên quan đến cách dùng từ, nghĩa là nó thuộc phạm vi lời nói Tiếp theo sau Davidson, một nhà triết học nổi tiếng khác là Max Black đưa ra

biểu thức nghĩa đen có cùng một nghĩa

Trang 17

Quan điểm chuyển hóa nghĩa đen là một biến thể của “lí thuyết ngôn ngữ hình ảnh” Theo lí thuyết này, bất kì một phát ngôn nào có chứa sự biến đổi ngữ nghĩa (chứ không đơn thuần là biến đổi cú pháp, chẳng hạn, đảo trật tự từ) đều xảy ra hiện tượng chuyển hóa nghĩa đen Nhiệm vụ của người đọc là khôi phục lại nghĩa đen cũ Lịch sử vấn đề ẩn dụ còn chứng kiến một quan điểm rất quan trọng – đó là “quan điểm so sánh đối với ẩn dụ” Lí thuyết nghĩa hình ảnh của ẩn dụ: nghĩa hình ảnh của

ẩn dụ là nghĩa đen của sự so sánh tương ứng (simile) Lí thuyết này không phân biệt ý nghĩa của ẩn dụ và ý nghĩa so sánh tương ứng với nó và không cho phép nói về ý nghĩa hình ảnh hoặc ý nghĩa đặc biết của ẩn dụ

1.1.2 Một số quan niệm ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ẩn dụ không phải là vấn đề xa lạ Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu ẩn dụ Ở đây người viết xin khái lược lại một số quan niệm và

ẩn dụ tiêu biểu

hiện tượng được so sánh với nhau Căn cứ vào tính chất của sự giống nhau có thể chia ẩn dụ thành những các kiểu sau:

+ Sự giống nhau về màu sắc (màu da trời, màu rêu)

+ Sự giống nhau về chức năng (đèn dầu hỏa, đèn điện)

+ Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó (Thị Nở, Hoạn Thư)

+ Chuyển tên các con vật thành tên người (con chó của mẹ, con mèo của anh) + Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hay hiện tượng khác (thời gian đi,

con tàu chạy)

đồng hay giống nhau giữa A và B [22]

Cù Đình Tú cũng cho rằng ẩn dụ dựa trên mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng

Trang 18

Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa (B) mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc (A)

Đinh Trọng Lạc phân loại ẩn dụ như sau:

+ Căn cứ vào từ loại hay chức năng, có thể chia ẩn dụ ra ba loại: ẩn dụ định danh

+ Căn cứ vào các đặc điểm ngữ nghĩa, ẩn dụ được chia ra hai loại:

phản ánh trong những dấu hiệu hàm chỉ thông báo hoặc kinh nghiệm thực tế của một cộng đồng ngôn ngữ hoặc về kiến thức văn hóa – lịch sử của cộng đồng đó Ví dụ:

thường không phản ánh cách nhìn của một cộng đồng ngôn ngữ, mà là cách nhìn của

cá nhân về thế giới, có tính cách chủ quan và ngẫu nhiên

Ví dụ: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Ẩn dụ tu từ Bừng nắng hạ và mặt trời chân lí chói qua tim mang dấu ấn của nhà

thơ và chỉ hiểu được ý nghĩa của các ẩn dụ tu từ này qua bài thơ này của Tố Hữu

chị ấy ấm hơn) thuộc nhóm ẩn dụ tu từ, là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ những

cảm giác phát sinh từ những trung khu cảm giác khác [21] Trong văn xuôi nghệ thuật hay thi ca, ẩn dụ bổ sung là phương tiện tu từ có tác dụng tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, gợi lên những cản giác lạ lùng, thú vị

nối lại chiêm bao đứt quãng (Nguyễn Tuân)

niệm về cảm giác (nỗi buồn dìu dịu, những ý nghĩ đắng cay) Ẩn dụ tượng trưng là

đặc điểm của ngôn ngữ thơ:

Trang 19

- Tai nương nước giọt mái nhà

Và là một phương tiện tu từ trong văn xuôi nghệ thuật:

Mặt trời đen xạm những xao xuyến, lo âu (Tô Hoài)

1.2 Ẩn dụ tri nhận

Ở trên là một vài quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ Mở đầu cho việc nghiên cứu

ẩn dụ tri nhận là hai nhà nghiên cứu G.Lakoff và M.Johnson với tác phẩm lí luận:

cực kì quan trọng để nhận thức thế giới bằng tư duy con người Cơ chế này bảo đảm việc chuyển những tri thức về những lĩnh vực, khái niệm đã được biết tốt hơn sang những lĩnh vực ít được biết hơn, rất chú trọng đến những dữ liệu nhận được qua kinh nghiệm cảm tính trực tiếp, do đó có thuật ngữ “kinh nghiệm luận” Đối với nhiều người ẩn dụ là một công cụ trong thi ca và là một biện pháp tu từ, vấn đề thuộc về ngôn ngữ bậc cao chứ không phải thuộc về ngôn ngữ hằng ngày Hơn nữa, ẩn dụ thường chỉ được xem là vấn đề ngôn ngữ thuần túy, vấn đề của từ ngữ hơn là vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng và hành động Vì vậy, nhiều người cho rằng họ không cần đến ẩn dụ Trái lại, Lakoff và Jonhson cho rằng không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư tưởng, hành động, hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta về bản chất mang tính ẩn dụ Theo Lakoff và Johnson, ẩn dụ là một cơ chế tri nhận bao gồm một miền mà một phần được ánh xạ, tức là được phóng chiếu vào miền khác Miền ánh xạ được gọi là miền nguồn, và miền mà sơ đồ ánh xạ tác động lên là miền đích Ví dụ với ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH sơ đồ ánh xạ như sau:

Trang 20

Miền nguồn: cuộc hành trình Miền đích: tình yêu

1.2.1 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Loại ẩn dụ này ý niệm hóa từng miền riêng lẻ (miền đích) bằng cách chuyển sang chúng sự cấu trúc hóa một miền khác (miền nguồn) Nói cách khác ẩn dụ loại này làm cho người tiếp nhận hiểu về miền đích thông qua những kiến thức đã có về miền nguồn Một ví dụ tiêu biểu cho loại ẩn dụ này là ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ

SỰ CHUYỂN ĐỘNG Trong ẩn dụ trên ý niệm đích là thời gian được hiểu thông qua

ý niệm nguồn là sự chuyển động

1.2.1.2 Ẩn dụ bản thể

Loại ẩn dụ này phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng cách vạch ranh giới của chúng trong không gian Nói cách khác, nó giúp người nói diễn đạt những trải nghiệm dưới dạng sự vật, chất liệu hay vật chứa Ẩn dụ bản thể khiến chúng ta hiểu

những khái niệm trừu tượng một cách dễ dàng hơn Những cách nói như: “Nỗi sợ hãi

lớn dần lên trong lòng nó.” Hay “Cuộc đời xô đẩy ông ấy vào đường cùng.” là những

cách nói sử dụng ẩn dụ bản thể vì nó đã giúp cho người đọc hiểu “nỗi sợ hãi” hay

của chuyến đi 

tình yêu

 mục tiêu trong tình yêu

trong mối quan hệ

Trang 21

“cuộc đời”, vốn là những khái niệm trừu tượng, một cách dễ dàng hơn khi biến chúng

1.2.1.3 Ẩn dụ định hướng

Loại ẩn dụ này cấu trúc hóa một số miền và tạo nên một hệ thống ý niệm hóa chung cho chúng; chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những

Johnson đã đưa ra một số ẩn dụ định hướng sau:

CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

CÓ QUYỀN LỰC HOẶC SỨC MẠNH ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

SỨC KHỎE VÀ SỰ SỐNG ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

CÁI THỤ ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

BẤT HẠNH ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

BỆNH TẬT VÀ CHẾT CHÓC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

VÔ THỨC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

là ngữ pháp tạo sinh rằng ngữ pháp và ngữ nghĩa hoàn toàn độc lập với nhau, và ngữ nghĩa phụ thuộc vào điều kiện xác tín, không phụ thuộc vào chủ thể của lời nói Khái niệm về tính nghiệm thân của ngôn ngữ bắt nguồn từ quan điểm cho rằng nhận thức của chúng ta mang tính nghiệm thân; các quá trình xử lý của trí não của chúng ta làm

Trang 22

cho chúng ta tương tác với những môi trường, ngoại cảnh quanh ta; và kết quả là những quá trình xử lý thông tin đó được hình thành và chịu sự ảnh hưởng bởi ngoại cảnh mà chúng ta tương tác Do đó, mỗi một chúng ta có một cách nhìn riêng về thế giới, bắt nguồn từ sự khác nhau về mặt sinh học của cơ thể mỗi chúng ta Từ khi mới sinh ra, con người bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh thông qua những tương tác của cơ thể với thế giới, và cảm nhận nó qua các giác quan của mình; và từ

đó phát triển thành các khái niệm trừu tượng về sau này Tất cả những thông tin chúng ta có được đều phải đi qua bộ lọc tri giác của chúng ta Những cơ quan giúp chúng ta tích lũy thông tin có thể là mắt, mũi, tai, chân tay, v.v Và dĩ nhiên là khi chúng ta tường thuật lại những thông tin chúng ta có được, những thông tin đó đã trải qua một quá trình lọc của nhận thức của chúng ta và điều đó mang tính chủ quan của từng chủ thể Điều này có thể thấy rất rõ ở việc khi cho chúng ta xem một bức tranh hay đọc, nghe một bài thơ, mỗi người đều có cảm nhận riêng về bức tranh hay bài thơ vừa được thưởng thức Sự khác nhau trong cách cảm nhận đó là do trải nghiệm của mỗi người trong cuộc sống Ngôn ngữ giúp ta miêu tả nhận thức của chúng ta đối với thế giới bên ngoài chứ không miêu tả trực tiếp cái thế giới đó

1.2.2.2 Thuyết điển dạng

Thế giới xung quanh ta bao gồm vô số sự vật và hiện tượng mà con người phải

Sự phân loại đó là được gọi là “sự phạm trù hóa” và kết quả của nó là “các phạm trù tri nhận” hay “ý niệm”

Giữa các phạm trù tri nhận không có ranh giới rõ ràng, tuyệt đối mà đó là một ranh giới mờ Làm sao chúng ta chuyển sự đa dạng này thành ý nghĩa của những từ

mà chúng ta có thể dễ dàng nắm bắt được và tại sao chúng ta thành công được ngay

cả với những trường hợp hầu như không có sự phân biệt rõ ràng nào, như giữa màu

đỏ và cam hay xanh lá cây và xanh dương? Tâm lí học thực nghiệm chỉ ra rằng chúng ta sử dụng những màu tâm điểm hay màu điển hình như những điểm định hướng, chúng ta cũng quan sát để so sánh những phạm trù thể hiện hình dạng, loài vật, cây cối và những vật thể nhân tạo [51, tr 1]

Trang 23

Sự phân biệt các thành viên trong một phạm trù không phải là sự phân biệt có – không mà là sự đánh giá theo thang độ về tính điển hình và được xếp theo thứ tự từ ví

dụ đạt nhất đến ví dụ tệ nhất Điển dạng được hiểu như là ví dụ đạt nhất của phạm

bà có được kết quả như sau:

Đối với người Mỹ các điển dạng của các phạm trù là:

Phạm trù chim: chim cổ đỏ (robin)

Phạm trù quả: cam (orange)

1.2.2.3 Lược đồ hình ảnh

Hình ảnh là biểu trưng của trải nghiệm cụ thể, mang tính nghiệm thân, là cái nhìn của con người về thế giới bên ngoài qua mối quan hệ không gian, thời gian và cả

cơ chế cảm nhận của con người

Lược đồ hình ảnh không phải là những hình ảnh cụ thể mà có tính trừu tượng hay lược đồ trong tâm trí của con người

Một vài lược đồ phổ biến:

Trang 24

- Lược đồ bình chứa: Một vật hoặc ở trong hoặc ở ngoài bình chứa Nếu bình chứa A nằm trong bình chứa B và X nằm trong A thì X nằm trong B

Ví dụ: TẦM NHÌN CỦA CON NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA, vậy nên có những

của A được; A không thể là bộ phận của A Không thể có toàn thể tồn tại mà bộ phận không tồn tại; các bộ phận có thể tồn tại mà không nhất thiết phải hợp thành toàn thể

Ví dụ: GIA ĐÌNH LÀ BỘ PHẬN, XÃ HỘI LÀ TOÀN THỂ

và không có điều ngược lại

Ví dụ: Các lý thuyết đều có nguyên tắc chính và nguyên tắc phụ ĐIỀU QUAN TRỌNG LÀ ĐIỀU CHÍNH YẾU

trình nào đó, chúng ta phải đi qua những điểm trung gian trên lộ trình, tuy nhiên đường đi càng xa thì thời gian đến đích càng lâu

Ví dụ: MỤC ĐÍCH TRONG CUỘC ĐỜI LÀ ĐÍCH ĐẾN và để đạt mục đích con người phải làm nhiều việc, những việc đó như những điểm trung gian trên lộ trình

1.2.2.4 Mối quan hệ ẩn dụ - hoán dụ

Nếu như ẩn dụ là phương thức nhận thức sự vật này trong thuật ngữ của sự vật

một bản thể này thay thế cho bản thể khác trong hoán dụ miền đích cũng được hiểu theo miền nguồn nhưng khác với ẩn dụ, ở hoán dụ hai miền này phải thuộc vùng một miền lớn bao hàm Như vậy hoán dụ cũng phục vụ cho quy trình tri nhận của con người Ví dụ hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ tiền giả định sự tồn tại của nhiều bộ phận có khả năng thay thế cho cái toàn thể Việc lựa chọn một bộ phận nào đó quyết định sự chú ý tập trung ở bên nào của cái toàn thể Khi nói “Dự án cần

có những cái đầu sáng” thì “đầu sáng” ở đây là những người thông minh Ở đây vấn

đề không phải chỉ là dùng bộ phận (cái đầu) để thay thế cho cái toàn thể (con người)

mà là chúng ta chọn một đặc điểm riêng lẻ của con người, cụ thể là sự thông minh gợi

Trang 25

lên mối liên hệ với cái đầu Như vậy, hoán dụ ở một mức độ nào đó cũng phục vụ cho những mục đích như ẩn dụ và được sử dụng theo kiểu giống nhau, nhưng hoán dụ cho phép tập trung chú ý chính xác hơn trên những mặt xác định của cái được biểu hiện Cũng như ẩn dụ, hoán dụ không đơn thuần thuộc về ngôn ngữ mà là một bộ phận cấu thành của tư duy Chính vì lẽ trên, người viết cho rằng dưới góc độ trri nhận

có thể coi hoán dụ là một kiểu ẩn dụ và trong nhiều trường hợp ẩn dụ và hoán dụ có

sự tương tác với nhau Luận văn này sẽ có một số ví dụ minh họa sự tương tác đó

Trang 26

Chương 2: VỀ NHỮNG BỘ PHẬN XUẤT HIỆN TRONG CẤU TRÚC “VỊ TỪ + TÊN BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ NGƯỜI”

2.1 Đặt vấn đề

Sự xuất hiện của các bộ phận cơ thể người trong ngôn ngữ không phải là hiện tượng lạ Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự xuất hiện của tên gọi các bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam cũng như nhiều ngôn ngữ

nhiều, gần như tất cả các bộ phận đều xuất hiện Đây là điều không khó hiểu bởi cái gần gũi nhất với con người chính là bản thân mình vì vậy con người là trung tâm của

sự nhận thức Ngôn ngữ vốn được dùng để phản ánh mọi mặt của cuộc sống con người Khác với những quan điểm truyền thống, ngôn ngữ học tri nhận cho rằng con người, đặc biệt là sự trải nghiệm của con người ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ Ngôn ngữ chúng ta sử dụng không thể mô tả chính xác những gì đang xảy ra ở thế giới bên ngoài; mà ngôn ngữ của chúng ta mô tả nhận thức của chúng ta đối với thế giới bên ngoài Cảm nhận của con người về thế giới ảnh hưởng đến cách con người

sử dụng ngôn ngữ Nói một cách khác, điều này có nghĩa rằng những cảm nhận của chúng ta đối với thế giới bên ngoài là nền tảng và được thể hiện trong ngôn ngữ chúng ta sử dụng Vì vậy, ngữ nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với những trải nghiệm

về mặt sinh học của con người chúng ta Tất cả những thông tin chúng ta có được đều phải đi qua bộ lọc tri giác Những cơ quan giúp chúng ta tích lũy thông tin có thể là mắt, mũi, tai, chân tay, v.v Đây là những bộ phận đầu tiên tiếp nhận thông tin và là những bộ phận trực tiếp biểu hiện hành động, cảm xúc của con người và đó là những biểu hiện dễ thấy nhất Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ mượn rất nhiều tên gọi của các bộ phận cơ thể để tạo nên những cách diễn đạt mà mọi người đều có thể hiểu được

Trong số những bộ phận cơ thể xuất hiện trong kết hợp hợp “vị từ + tên gọi một

bộ phận cơ thể (đã chuyển nghĩa)” thì lòng là bộ phận xuất hiện nhiều lần nhất: 40

lần Điều này cho thấy với người Việt lòng là một bộ phận rất quan trọng Ở người

Trang 27

Việt, thế giới tâm lí - tình cảm của con người nói chung được biểu thị một cách tượng trưng, ước lệ bằng toàn bộ những cái có trong bụng con người, tức là lòng người

Bộ phận được sử dụng với nhiều nghĩa tri nhận nhất là tay và mặt: 6 ý nghĩa tri

nhận, được trình bày cụ thể ở phần sau

Vị từ xuất hiện trong kết hợp “vị từ + tên bộ phận cơ thể người” có thể chia làm hai nhóm: vị từ chỉ hành động và vị từ chỉ cảm giác Đây là những vị từ chỉ những cảm giác rất cơ bản của con người, được các giác quan trực tiếp mang lại

Trong luận văn của mình người viết không khảo sát tất cả những bộ phận cơ thể xuất hiện trong kết hợp “vị từ + tên bộ phận cơ thể người” mà người viết chỉ khảo sát

bộ phận trong những kết hợp thống kê được người viết cũng sẽ so sánh với ý nghĩa của tên gọi những bộ phận ấy trong thành ngữ, tục ngữ để thấy được rõ hơn cách người Việt nhìn nhận những bộ phận ấy trong cơ thể Việc làm này không thực hiện với tất cả các bộ phận chỉ thực hiện ở một số tên gọi có nhiều kết hợp

2.2 N ghĩa của từng bộ phận trong cấu trúc “vị từ + tên gọi bộ phận cơ thể

người”

Phần dưới đây người viết sẽ trình bày cụ thể từng tên gọi các bộ phận của cơ thể người theo trình tự nghĩa trong từ điển của chúng và sau đó là kết quả thống kê nghĩa của các kết hợp “vị từ + tên gọi bộ phận của cơ thể người”

Đầu

1 Phần trên cùng của thân thể con người hay phần trước nhất của thân thể động vật nơi có bộ óc và nhiều giác quan khác

2 (Dùng hạn chế trong một số tổ hợp) đầu của con người, coi là biểu tượng của

suy nghĩ nhận thức: vấn đề đau đầu, cứng đầu

3 Phần có tóc mọc ở trên đầu con người; tóc (nói tổng quát): gãi đầu giãi tai,

chải đầu

4 Phần trước nhất hoặc phần trên cùng của một số vật: đầu máy bay, đầu tủ

5 Phần có điểm xuất phát của một khoảng không gian hoặc thời gian, đối lập với

cuối: nhà ở đầu làng

Trang 28

6 Phần ở tận cùng, giống nhau ở hai phía đối lập trên chiều dài của một vật: hai

bên đầu cầu

7 Vị trí hoặc thời điểm thứ nhất, trên hoặc trước tất cả những vị trí, thời điểm

8 Từ dùng để chỉ từng đơn vị để tính đổ đồng về người, gia súc, đơn vị diện

9 (Kết hợp hạn chế) từ dùng để chỉ từng đơn vị máy móc, nói chung: đầu máy

khâu, đầu đọc

Đau đầu: ngoài ý nghĩa là một triệu chứng bệnh đau đầu còn được dùng khi nói đến

vấn đề khó khăn, cần suy nghĩ nhiều để giải quyết

Vùi đầu: để tâm trí vào việc gì đó, không còn biết gì đến những việc khác

Ngập đầu: thường dùng để nói trong trường hợp công việc quá nhiều

Vò đầu bứt tai: gợi tả vẻ bối rối, lúng túng vì chưa tìm được cách giải quyết hoặc vì

thấy ân hận, tự trách mình có điều không phải

Ngoài nghĩa đen gợi tả hình dáng thì những kết hợp sau đây còn có nghĩa bóng Nghĩa bóng của 4 kết hợp trên đều liên quan đến nét nghĩa suy nghĩ và người viết cho

rằng sở dĩ chúng có nét nghĩa này là vì có sự xuất hiện đầu vì vậy người viết xếp vào cùng một nhóm với vùi đầu, cắm đầu, ngập đầu: đầu là hoán dụ thay cho suy nghĩ,

nhận thức, làm việc

Với nghĩa tượng trưng cho suy nghĩ, nhận thức, làm việc còn có thể kể đến kết hợp

ấm đầu: trạng thái thần kinh không bình thường ở mức độ nhẹ

Trang 29

Vì đầu được coi là bộ phận điều khiển những bộ phận khác của cơ thể nên khi kiểm soát được đầu là kiểm soát được cả con người Có lẽ vì ý nghĩa này nên đầu đã xuất hiện trong những kết hợp thể hiện ý nghĩa đè nén, áp bức

Đè đầu: dùng quyền thế áp bức

Cưỡi đầu: ức hiếp, đè nén

kịp chuẩn bị

Cứng đầu: không dễ dàng nghe theo người mà mình phải phục tùng; bướng bỉnh

Cầm đầu: nắm quyền điều khiển, chỉ huy một đám người, một tổ chức

To đầu: (người) đã lớn tuổi (hàm ý coi thường) hoặc (người) thuộc loại cầm đầu, cỡ

lớn (hàm ý coi khinh hoặc hài hước)

Đương đầu: chống lại một cách trực diện (thường là với lực lượng mạnh hơn hẳn

hoặc việc khó khăn, nặng nề quá sức)

Đầu trong trường hợp này được coi là phần trước nhất hoặc phần trên cùng, cách nói

này có nghĩa tương tự như giáp mặt, chạm trán Khi đó mặt và trán cũng được coi

như phần trước nhất hoặc phần trên cùng nên sẽ là phần tiếp xúc đầu tiên khi hai đối tượng gặp nhau

Đối chiếu những ý nghĩa trên của đầu trong những kết hợp “vị từ + đầu” với ý nghĩa của đầu trong thành ngữ, tục ngữ dễ nhận thấy trong thành ngữ, tục ngữ đầu

tắt mặt tối Ngoài ra trong đầu đội trời, chân đạp đất, đầu còn là hoán dụ thay cho vị

trí ở trên, hoán dụ này góp phần tạo nên tư thế của người anh hùng Đây là ý nghĩa

mà những kết hợp “vị từ + đầu” không có

Cổ

2 (kng., hoặc thgt.; dùng phụ sau t., hoặc đg., trong một số tổ hợp) cổ của con

người, coi là biểu thượng của sự cứng cỏi, không chịu khuất phục: cứng cổ, cưỡi cổ

Trang 30

3 Bộ phận của áo, yếm hoặc giày, bao quanh cổ hoặc cổ chân: cổ áo sơmi, giày

cao cổ

4 Chỗ eo lại ở phần đầu của một số đồ vật, giống hình cái cổ, thường là bộ phận

nối liền thân với miệng ở một số đồ đựng: cổ chai, hũ rượu đầy đến cổ

Đối với xe cộ, tiếng Việt có cách nói cổ xe tức là phần nối đầu xe với thân xe,

muốn điều khiển xe thì điều khiển cổ xe Ở người, cổ là bộ phận nối đầu và thân, là

bộ phận giúp cho đầu quay xung quanh, nói cách khác chuyển động của cổ chi phối chuyển động của đầu Như vậy có thể coi một trong những chức năng của cổ là chứa năng điều khiển, điều khiển được cổ là điểu khiển được sự vận động của đối tượng

Vì vậy trong tiếng Việt có cách nói cứng cổ, trong đó cổ là trung tâm điều khiển các hoạt động của cơ thể người, cứng là ẩn dụ chỉ sự khó khăn Kết hợp cứng cổ mang

nghĩa không dễ tuân theo người mà mình phải phục tùng, thường hay làm trái lại

Bóp cổ: hà hiếp tàn nhẫn, bóc lột thậm tệ

Cưỡi cổ: ức hiếp, đè nén

Cắt cổ, cứa cổ cũng là một cách tri nhận mang tính hình ảnh, cắt cổ, cứa cổ hay bóp

cổ đều mang đến cùng một kết quả, nhưng cắt cổ lại có một ý nghĩa khác, theo từ

điển tiếng Việt (Hoàng Phê) nếu dùng phụ sau danh từ, động từ, trong một số tổ hợp

là cao đến mức đáng sợ (thường nói về giá cả hoặc mức lãi): Bán với giá cắt cổ, cho

vay lãi cắt cổ

Cổ là một bộ phận rất quan trọng đối với sự sống, cổ là bộ phận có nhiều mạch máu

đi qua nuôi cơ thể, trong đó có máu từ tim lên não, cổ cũng là vị trí yếu, dễ tổn thương nên khi muốn tấn công ai người ta thường tấn công vào cổ Tất cả những hành

động bóp, cắt, cưỡi đều có thể gây hại đến cơ thể người Các kết hợp trên đều xuất

phát từ hình ảnh thực tế, đó là những hành động gây nguy hại cho sự sống từ đó chung mang thêm nghĩa chuyển là những việc gây hại cho cuộc sống con người nói

Trang 31

chung Có lẽ đó chính là một lí do mà cổ xuất hiện trong những kết hợp trên chứ không phải là một bộ phận nào khác, bên cạnh lí do liên quan đến hình dáng của cổ

Thấp cổ bé họng (kng.) là không có địa vị quyền thế thì có kêu ca khi bị oan ức

cũng vô ích: Họ là những người thấp cổ bé họng, mà quan lại chỉ dám ức hiếp những

người thấp cổ bé họng

Ắng cổ: chịu im, không còn nói được gì nữa

Tống cổ: đuổi ra khỏi bằng hành động mạnh mẽ, dứt khoát

tượng trưng cho sự tập trung cao độ vào công việc như cắm đầu cắm cổ, bù đầu bù cổ Trong thành ngữ, tục ngữ cổ còn được tri nhận như là một giới hạn mà nếu vượt qua giới hạn đó những thứ chứa trong cơ thể sẽ ra ngoài ớn tới tận cổ

Tay

1 Bộ phận phía trên của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm nắm,

thường được coi là biểu tượng của lao động cụ thể của con người: cánh tay, túi xách

tay

2 Chi trước hay xúc tu của một số động vật, thường có khả năng cầm nắm đơn

giản: tay vượn, tay gấu

3 (Dùng hạn chế trong một số tổ hợp) tay của con người, coi là biểu tượng của

hoạt động tham gia vào một việc gì: giúp một tay, nhúng tay

4 (Dùng hạn chế trong một số tổ hợp) tay của con người, coi là biểu tượng của

khả năng, trình độ nghề nghiệp, hay khả năng hành động nói chung: tay nghề, non tay

5 Tay của con người, coi là biểu tượng của quyền sử dụng, định đoạt: sa vào tay

bọn cướp, có đủ phương tiện trong tay

6 (kng.) Từ dùng để chỉ con người, về mặt có khả năng hoạt động nào đó

(thường hàm ý chê): tay anh chị, một tay không vừa

Trang 32

7 (kng.; dùng trước một số d chỉ công cụ) người giỏi về một môn, một nghề

nào đó: tay búa thạo, tiểu đội có ba tay súng giỏi

8 (dùng trước một số d số lượng) bên tham gia vào một việc nào đó, trong quan

hệ giữa các bên với nhau: hội nghị tay tư, tay đôi

9 Bộ phận của vật, tương ứng với tay hay có hình dáng, chức năng như cái tay:

vịn vào tay ghế, tay đòn

cơ thể người”: 38 kết hợp, và cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau:

Biết tay: thấy rõ thủ đoạn hoặc sức mạnh của đối phương mà sợ

Bắt tay: đặt quan hệ hợp tác để cùng làm việc gì

việc xảy ra

cụ thể (như chữa bệnh, chăn nuôi…)

Ngứa tay: cảm thấy khó chịu muốn làm ngay một động tác nào đó mà không suy

nghĩ, thường không tính đến hậu quả

Trang 33

2 ngay tức khắc

hơn

vốn có liên quan với mình)

Đang tay: tự tay làm điều ác, trái với lương tâm, đạo lí

Khi gặp nhau để bộc lộ tình cảm yêu mến người ta thường nắm tay, cầm tay, bắt tay

v.v

Tận tay: trực tiếp đến tay, không qua trung gian

Ngoài ra còn có một số kết hợp “vị từ + tay” khác như:

Trang 34

N gửa tay: ví hành động tự hạ mình để cầu xin

điển tiếng Việt, lót là đặt thành một lớp thêm vào ở phía dưới hay ở phía trong vật gì

đó, thường để cho được êm, ấm, sạch hoặc lâu hỏng, thường nói lót rế, lót tã, lót

hội để cho mọi việc êm thấm thì phải lót một khoản tiền

Ý nghĩa trên của ngửa tay và lót tay xuất phát từ hình ảnh thực tế

Trong thành ngữ, tục ngữ tay cũng mang ý nghĩa tương tự Với nghĩa là biểu tượng của việc thực hiện một hành động nào đó hoặc tham gia vào một việc gì, tiếng

Việt có những câu tay đã nhúng chàm, ném đá giấu tay, đông tay thì vỗ nên kêu… Với nghĩa là biểu tượng của quyền sử dụng hay định đoạt, người Việt nói tay trắng

nhai tay quai miệng trễ…

Chân

1 Bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi đứng, thường

được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người: què chân, trú chân khi trời

mưa

2 Chân con người, coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư

cách là thành viên một tổ chức: có chân trong hội đồng, thiếu một chân tổ tôm

3 (kng.) một phần tư con vật có bốn chân, khi chung nhau sử dụng hoặc chia

nhau thịt: đánh đụng một chân lợn

4 Bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho bộ phận khác:

chân đèn, chân giường

5 Phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt vào mặt nền: chân núi,

chân tường

6 (chm.) Âm tiết trong câu thơ ở ngôn ngữ nhiều nước phương Tây: câu thơ

tiếng Pháp mười hai chân

Có 12 kết hợp “vị từ + chân”, trong đó chân mang những ý nghĩa sau:

Trang 35

Giữ chân: giữ lại không để cho đi

Đặt chân: đến, có mặt một nơi nào đó

Đưa chân: cùng đi một đoạn trước khi chia tay

Tiễn chân: đưa chân ra cổng

Từ ý nghĩa là hoạt động đi lại của con người, chân có một nghĩa chuyển khác là sự phát triển, thể hiện trong kết hợp:

Cầm chân là một quán ngữ mang ý nghĩa giữ lại ở một chỗ, một vị trí, không cho tự

do hoạt động, phát triển

Kế chân (đg): thay người khác ở một cương vị, một chức vụ nào đó

Ở đây có một trường hợp khá khác biệt sa chân Sa chân là lâm vào một tình

huống xấu, từ một địa vị cao xuống một địa vị thấp hơn, giống như sa cơ lỡ vận Tuy

ý nghĩa của chân trong trường hợp này không hoàn toàn là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên một tổ chức nhưng nó nghĩa là lâm vào một tình huống nào đó và hiểu theo một cách nào đó một tình huống cũng có nét nghĩa giống với cương vị, vì vậy người viết xếp vào cùng một nhóm chứ không tách riêng nó ra thành một nhóm khác

người khi đứng trước một việc đáng lo lắng

Mặc cho con tạo xoay vần đến đâu (Truyện Kiều - Nguyễn Du)

So sánh với chân trong thành ngữ, tục ngữ, người viết nhận thấy chân trong thành ngữ, tục ngữ cũng mang những ý nghĩa tương tự Với chân trong chân ngoài,

Trang 36

chen chân không lọt, chân là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư

cách là thành viên một tổ chức Trong chân ướt chân ráo, chân trước chân sau, chân liên quan đến việc đi lại Ngoài ra trong câu nước đến chân mới nhảy, chân đi cùng với động từ nhảy nó lại mang nghĩa là khả năng ứng biến của con người trong một

hoàn cảnh nào đó

Mắt

1 Cơ quan để nhìn của người hay động vật, thường được coi là biểu tượng của

cái nhìn của con người: nhìn tận mắt, nháy mắt

2 Chỗ lồi lõm giống hình con mắt, mang chồi, ở thân một số cây: mắt tre, mắt

khoai tây

3 Bộ phận giống hình những con mắt ở ngoài vỏ một số quả phức, ứng với một

quả đơn: mắt dứa, mắt na

4 Lỗ hở đều đặn ở các lỗ đan: mắt võng, mắt lưới

5 Mắt xích (nói tắt)

Bắt mắt: thu hút, gây được ấn tượng ngay từ đầu nhờ hình thức bên ngoài

Để mắt: 1 để ý trông coi, theo dõi

Đưa mắt: liếc mắt ra hiệu hoặc chuyển cái nhìn về phía khác

Ghé mắt: nghiêng đầu và đưa mắt nhìn

Đẹp mắt: nhìn thấy đẹp và gây cảm giác thích thú

Giương mắt: mở to mắt nhìn việc xảy ra với vẻ ngờ nghệch hoặc bất lực

Lác mắt: cảm thấy quá đỗi nhạc nhiên và thán phục

sắc êm dịu

Trang 37

N gon mắt: gây được cảm giác thích thú, làm cho nhìn không biết chán

Qua mắt: cố tình vượt khỏi cái nhìn của người khác

Tận mắt: bằng mắt nhìn trực tiếp

người ta biết mình

Trơ mắt: ngẩn người ra trước điều không hay xảy đến bất ngờ và chỉ còn biết nhìn

không biết làm gì hơn

nghĩa là “hiện nay và trong một thời gian ngắn sắp tới” cũng có thể nói phần nào có liên quan đến ý nghĩa cái nhìn của con người, vì ở đây có sự chuyển đổi cảm giác

thời gian và không gian Ngoài ra còn kết hợp tắt mắt: ăn cắp vặt, người viết cho rằng trong trường hơp này mắt cũng mang nghĩa tượng trưng cho cái nhìn vì ăn cắp vặt

thường là ăn cắp những thứ nhỏ nhặt trong tầm mắt

tỉnh táo

Kết hợp này được hiểu theo nghĩa bóng có nghĩa là không sáng suốt để đánh giá sự

việc: thấy tiền là tối mắt lại, còn nghĩ đến ai nữa

Kết hợp này cũng được hiểu theo nghĩa bóng có nghĩa là không còn đủ tỉnh táo, sáng

suốt để đánh giá sự việc: đồng tiền làm cho nó mờ mắt

khinh thường)

Trang 38

Trong tất cả những kết hợp trên đều có nét nghĩa sáng suốt, nhật ra lẽ phải

Trong kết hợp nứt mắt tuy không trực tiếp nói đến sự sáng suốt hay khả năng nhìn

nhận, đánh giá nhưng với ý nghĩa “vừa mở mắt, mới sinh ra, thường dùng để nói người còn quá trẻ (hàm ý khinh thường)” người sử dụng cũng có thể phần nào nhận

ra hàm ý khinh thường đó xuất phát từ việc mặc định những người trẻ thường không

có đủ kinh nghiệm để đánh giá và không đủ sáng suốt để giải quyết sự việc Một kết

hợp khác cũng có thể kể đến trong trường hợp này là trắng mắt Trắng mắt là sững

sờ, nhận thấy ra một sự thật đau xót nào đó nhưng ở kết hợp trắng mắt ngoài ý nghĩa

sự đánh giá, sự nhìn nhận, sự sáng suốt của con người, mắt còn còn thể hiện nét nghĩa

là cơ quan biểu hiện tinh thần, thần thái của con người Có thể thấy số lượng kết hợp

“vị từ + mắt” chiếm tương đối nhiều Đối với người Việt mắt là một bộ phận quan trọng “giàu đôi con mắt, khó đôi bàn tay” và mắt là cơ quan có sự tương tác cao với môi trường, chính vì vậy đối với người Việt mắt không chỉ để nhìn mà còn là để đánh giá

Đỏ mắt: tìm kiếm lâu mà không thấy kết quả

Tráo mắt: nghĩa tương tự như đỏ mắt

v Tượng trưng cho giấc ngủ

Bảnh mắt: mở mắt thức dậy (vào lúc sáng sớm)

Trong thành ngữ, tực ngữ ta cũng bắt gặp những câu trong đó mắt mang nghĩa là biểu trưng cho các nhìn của con người: khuất mắt trông coi, mắt thấy tai nghe… Mắt

tai hiền, nhắm mắt đưa chân, nhắm mắt nói liều, nhắm mắt bước qua Với câu bưng tai bịt mắt ngoài nghĩa đen nó còn có nghĩa là không quan tâm, không đánh giá về

những vấn đề xung quanh mình vì vậy người viết xếp nó vào nhóm nghĩa sự nhìn nhận, đánh giá Đặc biệt qua thành ngữ, tục ngữ có thể thấy người Việt coi đôi mắt là

Trang 39

biểu hiện của trí tuệ: người không con mắt đen sì, người dại con mắt nửa chì nửa

thau

Miệng

1 Bộ phận trên mắt người hay ở phần trước của đầu động vật, dùng để ăn, và (ở người) để nói thường được coi là biểu tượng của việc ăn uống hay nói năng của con

người: ngậm miệng, (ăn) tráng miệng

2 (kng.; id.) miệng ăn (nói tắt)

3 (thường dùng phụ sau đg (giao tiếp bằng) lời nói trực tiếp, không phải viết:

dịch miệng, trao đổi miệng

4 Phần trên cùng, chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật có chiều sâu: miệng

bát, miệng giếng

Dở miệng: còn thòm thèm, chưa đã thèm

Nhạt miệng: ăn không thấy ngon, cảm thấy thức ăn nhạt nhẽo

Buồn miệng: thèm ăn vặt

Ngon miệng: (miệng ăn) thấy ngon, biết ngon

(Bạo mồm) bạo miệng: thường dám nói những điều người khác e ngại

cần phải né tránh, dễ mang tai vạ vào thân

Trang 40

( Độc mồm) độc miệng: hay nói những lời gở, không lành

vừa lòng người khác

(Lắm mồm) lắm miệng: hay nói nhiều và nói một cách ồn ào

không dám nói

Ngọng miệng: Không nói được nữa vì đuối lí

Ngứa miệng: có điều thấy muốn nói và cảm thấy muốn nói ngay, không kìm lại được

làm thực tế

Quen miệng: nói một điều gì lặp đi lặp lại d0o thói quen

Có kết hợp mà trong đó từ miệng vừa là biểu tượng của việc nói năng vừa là biểu tượng của việc ăn uống: bớt miệng, vui miệng

Một kết hợp “vị từ + miệng” nữa cần đề cập đến là chép miệng: 1 chập môi và mở

miệng cho kêu thành tiếng trước hoặc sau khi ăn uống; 2 ngậm miệng lại rồi mở miệng ra, tạo thành tiếng kêu khẽ tỏ ý tiếc hoặc than phiền điều gì Người viết cho rằng nghĩa của kết hợp này xuất phát từ hình ảnh thực tế và miệng vẫn giữ nguyên nghĩa đen

Trong thành ngữ, tục ngữ rất phổ biến những kết hợp trong đó miệng mang

nghĩa là lời nói bên ngoài đối lập với bản chất bên trong, ý nghĩ thực sự và việc làm

thực tế này Khi đó miệng thường đi kèm với tên gọi của một bộ phận khác: miệng

nam mô bụng bồ dao găm, miệng chào rơi bụng khấn trời đừng ăn, miệng hùm gan

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2008), Cognition: nhận tri và nhận thức concept: ý niệm hay khái niệm?, Ngôn ngữ (2), 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2008
2. Lê Đang Bảng (dịch) (1999), Nghệ thuật thơ ca (Aristote) , Nxb Văn học 3. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ (10), 1-18 4. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận ẩn dụ tri nhận, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca (Aristote)", Nxb Văn học 3. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, "Ngôn ngữ" (10), 1-18 4. Trần Văn Cơ (2009), "Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Lê Đang Bảng (dịch) (1999), Nghệ thuật thơ ca (Aristote) , Nxb Văn học 3. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ (10), 1-18 4. Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Văn học 3. Đỗ Hữu Châu (2000)
Năm: 2009
5. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (suy nghĩ và ghi chép) , Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (suy nghĩ và ghi chép)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Trần Văn Cơ (2008), Nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ (5), 26-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2008
7. Nguyễn Đức Dân (2009), Tri nhận thời gian trong tiếng Việt, Ngôn ngữ (12), 1- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2009
8. Võ Thị Dung (2003). Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận.Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Võ Thị Dung
Năm: 2003
11. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2003), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
13. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
14. Võ Kim Hà (2011), Phân tích cơ chế tri nhận các ngữ biểu trưng tiếng Việt có yếu tố tay (đối chiếu với tiếng Anh), Ngôn ngữ (8), 34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Võ Kim Hà
Năm: 2011
15. Trần Thị Hồng Hạnh (2007), Sự trùng hợp và khác biệt trong việc lựa chọn các ẩn dụ trong các nền văn hóa (trên cứ liệu thành ngữ tiếng Việt), Ngôn ngữ (11), 61-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Thị Hồng Hạnh
Năm: 2007
16. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập 1 , NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập 1
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1991
17. Nguyễn Hòa (2007), Tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt qua các ẩn dụ không gian, Ngôn ngữ (7), 1-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2007
18. Bùi Mạnh Hùng (2009), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb Giáo dục 19. Phan Thế Hưng (2007), Ẩn dụ ý niệm, Ngôn ngữ (7), 9-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu", Nxb Giáo dục 19. Phan Thế Hưng (2007), Ẩn dụ ý niệm, "Ngôn ngữ
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng (2009), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb Giáo dục 19. Phan Thế Hưng
Nhà XB: Nxb Giáo dục 19. Phan Thế Hưng (2007)
Năm: 2007
22. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
23. Nguyễn Lai (2009), Suy nghĩ về ẩn dụ khái niệm trong thế giới thơ ca từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ (10), 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Lai
Năm: 2009
24. Ly Lan (2009), Ý niệm biểu đạt trong biểu thức có từ “mặt”, từ “anger” của tiếng Việt và tiếng Anh: một khảo sát ẩn dụ tri nhận, Ngôn ngữ và đời sống (5), 18- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: mặt”, từ “anger” của tiếng Việt và tiếng Anh: một khảo sát ẩn dụ tri nhận, "Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Ly Lan
Năm: 2009
25. Ly Lan (2009), Biểu trưng tình cảm bằng các bộ phận cơ thể từ góc nhìn tri nhận của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, Ng ôn ngữ (12), 25-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Ly Lan
Năm: 2009
26. Ly Lan ( 2009), Về các ý niệm và phạm trù tình cảm cơ bản của con người (Trên dẫn liệu tiếng Anh), Ngôn ngữ và đời sống (9), 21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và đời sống
27. Lê Hồng Linh (2009), Đặc trưng văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ (Một số liên hệ với tiếng Việt và tiếng Anh ), Ngôn ngữ và đời sống (5), 22-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Lê Hồng Linh
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w