1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản

152 468 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

VẬT LÍ LỚP 11 BAN CƠ BẢN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM THẾ DÂN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu của

đề tài là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả Phạm Thị Huyền Thanh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía các thầy

cô, gia đình, bạn bè và các em học sinh

Trước hết tôi xin chân thành cám ơn TS Phạm Thế Dân – giảng viên Khoa Vật lí trường Đại học sư phạm TPHCM là người thầy đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô trong Khoa vật lí và các Thầy, Cô ở phòng KHCN và SĐH trường Đại học sư phạm TPHCM đã tạo điều kiện tốt cho tôi học tập và nghiên cứu

để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin gởi lời cảm ơn đến BGH, các Thầy, Cô, các em học sinh ở trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nơi tôi giảng dạy đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cũng như góp ý cho tôi rất nhiều trong quá trình tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm

Tác giả Phạm Thị Huyền Thanh

Trang 5

MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cám ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 6

CH ƯƠNG 1 : C Ơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ 12

1.1 Những định hướng chung của việc đổi mới PPDH Vật lí ở trường THPT 12

1.1.1.Hiện trạng mô hình dạy học Vật lí ở trường phổ thông nước ta 12

1.1.2.Mục tiêu của một số mô hình dạy học tích cực trên thế giới 12

1.1.3.Những khó khăn gặp phải trong quá trình đổi mới PPDH Vật lí ở trường THPT 16

1.2.Tổng quan về dạy học theo chủ đề 18

1.2.1 Khái niệm về dạy học theo chủ đề 18

1.2.2.So sánh đặc điểm của dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề 19

1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề 22

1.2.4 Áp dụng dạy học theo chủ đề vào thực tiễn dạy học ở trường THPT hiện nay 30

1.3.Kết luận của chương 1 42

CH ƯƠNG 2 : VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀO DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ LỚP 11 BAN CƠ BẢN 44

2.1 Phân tích nội dung kiến thức phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản 44

Trang 6

2.1.1 Cấu trúc nội dung 44

2.1.2 Tìm hiểu thực tế dạy học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản 48

2.2 Thiết kế chủ đề “Quang hình học” phục vụ cho dạy học theo chủ đề 51

2.2.1 Các bước cần thực hiện khi thiết kế chủ đề học tập 51

2.2.2 Thiết kế tiến trình dạy học cụ thể trên lớp 91

2.3.Kết luận của chương 2 122

CH ƯƠNG 3 :THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 123

3.1.Mục đích của thực nghiệm sư phạm 123

3.2 Đối tượng, nội dung của thực nghiệm sư phạm 123

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 124

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 124

3.3.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 124

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 125

3.4.1.Nhận xét quá trình học tập của lớp thực nghiệm 125

3.4.2.Xử lí các bài kiểm tra trong quá trình thực nghiệm 127

3.4.5.Kiểm định giả thiết thống kê 134

3.4.6.Nhận xét kết quả thực nghiệm sư phạm 135

3.5.Kết luận của chương 3 136

KẾT LUẬN 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC 142

Trang 7

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn

Thứ tự Viết tắt Viết đầy đủ

1 CHBH câu hỏi bài học

2 CHND câu hỏi nội dung

3 CHKQ câu hỏi khái quát

Trang 8

Danh mục các bảng trang

Bảng 1.1 So sánh đặc điểm của dh truyền thống và dạy học theo chủ đề 19

Bảng 2.1 Cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” 43

Bảng 2.2 Bộ câu hỏi định hướng 53

Bảng 2.3 Nội dung cơ bản của chủ đề học tập 56

Bảng 2.4 Hệ thống bài tập của chủ đề học tập 63

Bảng 2.5 Phiếu HT 1 chuẩn bị các CHND cho CHBH 1 71

Bảng 2.6 Phiếu HT 2 chuẩn bị các CHND cho CHBH 2 75

Bảng 2.7 Phiếu HT 3 chuẩn bị các CHND cho CHBH 3 78

Bảng 2.8 Phiếu HT 4 chuẩn bị các CHND cho CHBH 4 81

Bảng 2.9 Mẫu theo dõi sự chuẩn bị nội dung cho các CHBH 84

Bảng 2.10 Mẫu theo dõi quá trình học tập trên lớp của các nhóm 85

Bảng 2.11 Nội dung, kế hoạch kiểm tra đánh giá 86

Bảng 2.12 Kế hoạch, thời gian thực hiện chủ đề 87

Bảng 2.13 Bài kiểm tra cuối chủ đề 111

Bảng 3.1 Bảng phân phối tần suất kết quả điểm qt học tập lớp TN 119

Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất tích lũy kết quả điểm qt học tập lớp TN 120 Bảng 3.3 Bảng các tham số thống kê kết quả điểm qt học tập lớp TN 121

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số điểm số lớp TN và lớp ĐC 122

Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC 123

Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất tích lũy điểm số lớp TN và lớp ĐC 124

Trang 9

Bảng 3.7 Bảng các tham số thống kê kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC 125

Bảng 3.8 Tổng hợp các chỉ số thống kê 126

Danh mục các hình vẽ trang Hình 2.1 Nội dung giới thiệu tổng quan về chủ đề học tập 91

Hình 2.2 Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 1 96

Hình 2.3 Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 2 100

Hình 2.4 Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 3 105

Hình 2.5 Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 4 110

Hình 3.1 Biểu đồ phân phối tần suất kết quả điểm qt học tập lớp TN 119

Hình 3.2 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy kết quả điểm qt ht lớp TN 120

Hình 3.3 Biểu đồ phân phối tần số điểm số lớp TN và lớp ĐC 122

Hình 3.4 Biểu đồ phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC 123

Hình 3.5 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy điểm số lớp TN và lớp ĐC 124

Trang 10

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với

sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại mà những thành tựu của nó gần như được áp dụng ngay vào nhiều lĩnh vực và tạo ra những chuyển biến cơ bản trong nền sản xuất hiện đại Để đáp ứng được những chuyển biến mạnh mẽ đó, người lao động không những phải có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ nhất định mà còn phải có tính độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, có khả năng học và tự học để không ngừng phát triển và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và sản xuất Thực tiễn đó đặt ra cho nền giáo dục của mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới cả về nội dung cũng như phương pháp giáo dục và đào tạo con người

Việc giải quyết những nhiệm vụ nói trên cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới.”

Một trong những trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh (HS) với sự tổ chức và hướng dẫn đúng mực của giáo viên (GV) nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui; hứng thú học tập cho HS

Trang 11

Định hướng đổi mới nội dung, chương trình và PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương khóa VII (01 - 1993), Nghị quyết Trung ương khóa VIII (12- 1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (12 -1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị 15 (04

- 1999) và được vạch rõ trong chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 (1999) Và gần nhất là văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (1 - 2011)

đã khẳng định: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.”

Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, việc vận dụng một cách sáng tạo các chiến lược dạy học tiên tiến trên thế giới vào thực tiễn giáo dục Việt Nam có thể là con đường thích hợp Tuy nhiên việc đổi mới theo phương pháp cụ thể nào thì phải lựa chọn cho phù hợp với từng đối tượng con người và nội dung dạy học Trên thế giới, theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới nội dung chương trình và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu hướng tích hợp theo chủ đề học tập và cách tiếp cận dạy học theo chủ đề cùng với sự rèn luyện kỹ năng liên hệ thực tế của HS đang được quan tâm, chú trọng một cách đặc biệt

Môi trường tôi đang giảng dạy với đa số là các HS có sức học trung bình

và yếu, các em còn quen với cách dạy học truyền thống Chính vì vậy tôi quyết định chọn lựa một PPDH theo quan điểm hiện đại nhưng không quá xa so với PPDH truyền thống để HS từng bước làm quen, thích ứng được với các PPDH tích cực Qua quá trình tìm hiểu thực tế dạy và học bộ môn Vật lí ở trường phổ thông tôi nhận thấy rằng, dạy học theo chủ đề giúp HS tập trung sự chú ý vào đối tượng, dễ dàng hiểu được các vấn đề GV trình bày, định hướng tốt nội dung bài học, dễ tiếp thu thông tin, do đó có thể rút ngắn được thời gian trình bày

Trang 12

của GV Hơn thế nữa, nội dung kiến thức phần “Quang hình học” lớp 11 ban

Cơ bản vừa dài lại vừa liên hệ nhiều với thực tiễn cuộc sống, do vậy nếu GV cứ mãi tìm cách làm sao để truyền thụ hết kiến thức đó cho HS thì thuyết trình hay diễn giảng sẽ là những phương pháp được lựa chọn nhiều nhất và kết quả là HS chỉ kịp ghi bài, về nhà học thuộc, rồi cho tái hiện lại khi kiểm tra Quá trình dạy học như thế quả là thiếu chiều sâu, thiếu tính ứng dụng, không phát huy được tính tính cực, tự lực trong học tập và không rèn luyện được kỹ năng liên

hệ thực tế của HS

Với xu thế xã hội và thực tiễn đặt ra như trên, cùng với sự mong muốn

nâng cao chất lượng dạy học phần kiến thức này, tôi chọn đề tài: “VẬN DỤNG

MÔ HÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀO DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ LỚP 11 BAN CƠ BẢN” nhằm đưa ra một tiến trình

dạy học mới có thể khắc phục được kiểu dạy học truyền thống lấy người dạy làm trung tâm và góp phần làm thay đổi không khí học tập, lôi cuốn HS tích cực tham gia vào quá trình xây dựng kiến thức mới, làm cho lớp học sôi động, không buồn tẻ, HS dễ dàng ghi nhận kiến thức một cách có hệ thống, không nhồi nhét, quá tải Từ đó, giúp HS có cơ hội rèn luyện những kỹ năng học tập của mình, làm quen với cách làm việc theo tổ nhóm để rồi cùng nhau liên hệ bài học với thực tế cuộc sống

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu những quan điểm lí luận của mô hình dạy học theo chủ đề, sau đó vận dụng vào dạy học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản nhằm góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông (THPT)

III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Khách thể: Quá trình dạy và học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

Trang 13

- Đối tượng: Nội dung và PPDH phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban

Cơ bản theo mô hình của dạy học theo chủ đề

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu vận dụng thành công mô hình dạy học theo chủ đề thì sẽ góp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS, nâng cao kỹ năng liên hệ thực tế của HS và chất lượng dạy học phần “Quang hình học” Vật

lí lớp 11 ban Cơ bản

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới PPDH

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề

- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

- Nghiên cứu khả năng ứng dụng một số phần mềm máy tính và Internet trong việc thiết kế chủ đề học tập và dạy học theo chủ đề

- Tìm hiểu thực tế của việc giảng dạy phần “Quang hình học” ở trường THPT

- Nghiên cứu, thiết kế chủ đề học tập phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm dạy học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản theo mô hình dạy học theo chủ đề nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học “Quang hình học” đồng thời nghiên cứu hiệu quả sư phạm của việc vận dụng phương pháp mới trên đối tượng HS tại trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lí luận:

Trang 14

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của mô hình dạy học theo chủ đề

+ Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học, khai thác Internet

+ Nghiên cứu chương trình Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

+ Nghiên cứu, khai thác các tài liệu liên quan đến việc thiết kế các chủ đề học tập

+ Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

+ Nghiên cứu, thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ các chủ đề dạy học

- Phương pháp điều tra:

+ Điều tra về thực tế dạy học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản ở trường THPT về phương pháp, hình thức tổ chức tiết học, cách đánh giá kết quả của HS, những kết quả đạt được,…

+ Điều tra những sai lầm, khó khăn của HS khi học phần “Quang hình học” rồi từ đó xây dựng tiến trình dạy học cụ thể trên cơ sở vận dụng phù hợp

lí luận dạy học theo chủ đề

- Thực nghiệm sư phạm:

+ Chọn mẫu và vận dụng các tiến trình dạy học được thiết kế vào quá trình dạy học cho HS lớp 11 trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

Trang 15

+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

Nghiên cứu vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào dạy học phần

“Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản tại trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

Luận văn gồm phần mở đầu, ba chương nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo

và phụ lục

- Ở phần mở đầu có nêu rõ lí do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, khách thể và đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Các chương nội dung có tên cụ thể là:

Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn của mô hình dạy học theo chủ đề

Chương 2: Vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào dạy học phần “Quang hình học” Vật lí lớp 11 ban Cơ bản

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

- Trong phần phụ lục gồm hai phụ lục sau:

Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên

Phụ lục 2: Bảng điểm kết quả học tập lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

Trang 16

Trong thực tiễn giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục đích thực của các môn học đã bị chi phối triệt để bởi nội dung, cách thức thi cử nhiều chục năm qua Chính nội dung, cách thức thi cử này đã đưa đến một kiểu dạy học còn nhiều hạn chế đang rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Trong kiểu dạy học này, người GV thấy rằng không cần thiết phải sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học, không cần phải quan tâm, chú ý đến diễn biến tâm lý, sự phát triển của HS mà chỉ cần truyền thụ kiến thức và yêu cầu HS ghi nhớ kiến thức

và luyện tập cho họ giải các bài tập Vật lí thường có trong các kỳ thi Không chỉ riêng việc dạy học mà mọi tác động giáo dục trong nhà trường phổ thông đều bị chi phối bởi mục tiêu thi cử, đánh giá Trong kiểu dạy học này, các PPDH truyền thống không đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ người lao động mới vì ở đó người GV là trung tâm, là độc tôn trong quá trình dạy học, diễn biến trên lớp học phổ biến trong thực tế chỉ còn là thầy thuyết trình hay đọc, trò nghe và ghi chép, nhớ và lặp lại, phương tiện dạy học chỉ là phấn bảng, thí nghiệm Vật lí trở thành xa xỉ và chỉ được sử dụng trong các kỳ thi GV dạy giỏi các cấp…

Trang 17

đổi mới theo xu thế chung ở nhiều nước hiện nay rất chú trọng việc phát huy, khuyến khích các phong cách học tập khác nhau của HS, chú trọng rèn luyện các kỹ năng được cho là quan trọng để con người sống, làm việc và thành công trong thời đại mới với nhiều biến động khôn lường Nhìn chung mục tiêu của các mô hình dạy học tích cực hiện nay đều cố gắng hướng tới các mục tiêu giáo dục thiên niên kỷ mà UNESCO đưa ra Sự khác biệt khá cơ bản giữa mục tiêu giáo dục truyền thống và hiện đại đưa đến sự khác biệt không chỉ ở một vài thành tố trong quá trình dạy học mà đưa đến sự khác biệt của cả mô hình dạy học

Dạy học theo chủ đề (Themes based learning), dạy học dựa trên vấn đề (Problem based learning) và dạy học theo dự án (Project based learning) là ba trong các mô hình dạy học tích cực có thể hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực, trong đó mỗi mô hình chú trọng hơn đến một nhóm kỹ năng được cho

là quan trọng và cần thiết đối với người học trong cuộc sống đương đại

Nhìn chung, trong thời đại của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, các mô hình dạy học này bằng nhiều con đường đã đến với nhiều giáo viên, nhiều nhà nghiên cứu, nhưng hình như chúng ta loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra con đường để đưa chúng vào thực tiễn giáo dục Việt Nam Mọi lý do thuyết phục và cơ bản là mục tiêu giáo dục quá khác nhau dẫn đến sự khác biệt không chỉ đơn thuần là PPDH mà là cả mô hình dạy học

Đổi mới mô hình dạy học, dù chỉ là chuyển sang các mô hình dạy học đã phổ biến từ lâu ở nhiều nước tiên tiến, đòi hỏi sự đổi mới trước tiên là đổi mới

tu duy của những người làm giáo dục, đòi hỏi sự từ bỏ nhiều quan niệm quen thuộc, lâu đời về giáo dục

Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ biến đổi cực kỳ nhanh chóng đi cùng sự phát triển mang tính xu thế tất yếu của kinh tế thị trường và sự bùng nổ

Trang 18

và hội nhập ngày càng triệt để thì bất cứ ai hay dân tộc nào không muốn hay không kịp đổi mới tư duy, không muốn tham gia vào xu thế chung sẽ nhanh chóng tụt hậu

Thích nghi và sáng tạo là hai phẩm chất quan trọng của con người trong thời đại ngày nay và giáo dục phải giúp cho con người hình thành và phát huy các phẩm chất ấy Các chiến lược dạy học hiện đại đặt mối quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của HS có các phong cách học tập khác nhau, quan tâm đến sự chuẩn bị cho HS đương đầu một cách thành công với sự phát triển không ngừng của thực tiễn Để đáp ứng được các yêu cầu về đổi mới giáo dục như hiện nay, UNESCO đưa ra mục tiêu giáo dục mới như sau:

a) Mục tiêu nhận thức:

- Học để biết: (Leanrning to know)

Thu thập thông tin chuyển hóa thành tri thức, nhấn mạnh biết tạo lập tri thức như công cụ nhận thức và tư duy Học tập vừa là phương tiện vừa là mục đích, tri thức vừa là mục đích vừa là phương tiện

b) Mục tiêu kỹ năng:

- Học để làm: (Learning to do)

+ Coi trọng kỹ năng làm việc (theo nhóm, sáng kiến, kỹ năng giải quyết vấn đề, óc độc lập, phê phán…)

+ Kỹ năng sống: giao tiếp, hợp tác, điều hành, quản lí…

+ Các kỹ năng thuần túy trí tuệ

Trang 19

c) Mục tiêu thái độ:

- Học để chung sống: (Learning to together)

Học để phát hiện người khác, học để biết cùng làm việc vì mục đích chung Giáo dục cần giúp con người tránh được hoặc giải quyết hòa bình các mâu thuẫn, giáo dục con người biết tôn trọng con người và dân tộc khác…Đây

là vấn đề rất gay cấn của giáo dục trong một thế giới đa văn hóa và đang còn đầy bạo lực, nhiều mâu thuẫn như hiện nay

- Học để tự khẳng định mình: (Learning to be)

Giáo dục giúp phát triển tính độc lập, tự quyết định suy nghĩ và hành động, tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm với suy nghĩ và hành động của mình trong các hoàn cảnh khác nhau Giáo dục mang lại tự do trong suy nghĩ và phê phán, trong tình cảm và tư tưởng để phát triển tài năng và tự kiểm soát cuộc sống của mình

So sánh những mục tiêu cơ bản của các chiến lược dạy học tích cực, mục tiêu giáo dục của UNESCO với mục tiêu giáo dục môn học Vật lí, chúng ta nhận thấy có những điểm khác biệt:

- Các chiến lược dạy học hiện đại coi trọng sự phát triển hiểu biết vượt ra khỏi khuôn khổ chương trình học, làm cho nội dung học gần gũi và có ý nghĩa với cuộc sống thực chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu trang bị một hệ thống khái niệm khoa học cơ bản, quan trọng

- Coi trọng việc rèn luyện những kỹ năng chung, cần thiết có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề khác nhau không chỉ riêng trong lĩnh vực Vật lí

- Coi trọng việc rèn luyện các kỹ năng sống cần thiết cho sự thành công của con người trong thời đại ngày nay

- Coi trọng sự phát triển đa dạng của nhân cách người học

Trang 20

Những mục tiêu trên là rất tích cực, rất cần thiết cho sự phát triển lâu dài của con người Làm thế nào để việc dạy học Vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung đạt được nhiều mục tiêu giáo dục tích cực, giúp ích cho sự phát triển của HS là câu hỏi mà việc đổi mới PPDH phải cố gắng trả lời

Tổ chức lại nội dung dạy học, thay đổi cách thức tổ chức của quá trình dạy học, áp dụng một cách sáng tạo và linh hoạt các chiến lược dạy học tích cực vào thực tiễn có thể là cách làm phù hợp trong thực tiễn hiện nay Việc vận dụng sáng tạo những tư tưởng cơ bản của dạy học theo chủ đề vào quá trình học ở nước ta hiện nay là cách làm theo hướng đó

trường THPT

Để thực hiện được mục tiêu đổi mới giáo dục, phải giải quyết đồng bộ rất nhiều mặt Riêng về phương pháp giáo dục, những định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đã được đề cập trong các nghị quyết TW4 khóa VII (01/1993), TW2 khóa VIII (12/1996), trong Luật giáo dục (6/2005), trong nghị quyết của quốc hội khóa X (12/2000), văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (04/2001), X (04/2006), XI (1/2011) trong các chỉ thị và quyết định

của Bộ Giáo dục và Đào tạo…Tinh thần cơ bản của việc đổi mới này là: Phát

huy tính tính cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập

Tuy nhiên có thể nói việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông nói chung

và THPT nói riêng còn đang trì trệ; PPDH hầu như chưa có bước đổi mới nào đáng kể; thậm chí người ta chưa xây dựng được những tiêu chí của một bài học dạy theo tinh thần đổi mới Nguyên nhân của tình trạng này có thể có nhiều:

- Người ta chưa thấy được sự cấp thiết phải đổi mới PPDH Nhiều người cho rằng cứ dạy tốt theo phương pháp cũ cũng có thể truyền tải hết nội dung kiến thức sách giáo khoa cho HS và đảm bảo được tỉ lệ HS tốt nghiệp phổ thông và đỗ đại học cao, như thế là việc dạy học đã có kết quả tốt

Trang 21

- Cũng có nhiều người quan niệm việc đổi mới PPDH chẳng qua cũng như việc cải tiến PPDH mà ta vẫn tiến hành lâu nay, là việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu overhead, máy vi tính, thí nghiệm ảo…trong giờ dạy Họ chưa thực sự thấy được sự khác biệt căn bản giữa mục tiêu của việc dạy học chúng ta kì vọng hiện nay và mục tiêu của việc dạy học trước đây

- Một khó khăn rất lớn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH Vật lí THPT là khối lượng kiến thức của chương trình quá lớn trong khi thời lượng dành cho mỗi môn học lại quá hạn chế Điều này hoàn toàn không thuận lợi cho việc dạy học theo phương pháp mới

- Một khó khăn của nhà trường THPT hiện nay mà ta không thể không kể đến là sĩ số HS của một lớp quá đông Ở nhiều trường THPT lớn của các tỉnh, thành phố, số HS của mỗi lớp có thể lên đến 45 HS một lớp Số lượng HS này lớn gấp đôi hoặc gấp ba lần số HS của một lớp học cùng cấp của các nước trên thế giới Với những lớp đông như vậy, việc quản lí trật tự của lớp trong một tiết học đã là khó khăn, nói gì đến việc tổ chức cho HS hoạt động để chiếm lĩnh tri thức

- Một khó khăn không nhỏ cản trở việc đổi mới PPDH nữa là thiết bị thí nghiệm của các trường phổ thông rất nghèo nàn, bàn ghế, trường lớp được thiết

kế, xây dựng theo các quy cách cổ hủ, không thuận lợi cho việc tổ chức cho HS hoạt động trong tiết học

- Một khó khăn gián tiếp nhưng ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đổi mới PPDH ở THPT là cách đánh giá kết quả học tập, thi cử Hiện nay, mục đích của các kỳ thi chỉ nhằm xem HS có nắm vững các kiến thức sách vở, có giải được các bài toán khó hay không? Xã hội chưa có cách nào kiểm tra xem khi tốt nghiệp THPT, HS đã trang bị đủ các kỹ năng cần thiết, tối thiểu cho cuộc sống hay chưa?

Trang 22

- Cuối cùng là cách thức các cơ quan chỉ đạo và tập thể GV đánh giá việc giảng dạy của đồng nghiệp cũng không thật thuận lợi cho việc đổi mới PPDH Chẳng hạn, khi dự giờ thao giảng, nhiều người chỉ chăm chú xem GV dạy chính xác hay không, có đặt nhiều câu hỏi hay không, có bị cháy giáo án hay không? Ít người chú ý phân tích xem cách thức mà GV tổ chức cho HS hoạt động học tập trong tiết học có phù hợp hay không? Hiệu quả của dạy học cao hay thấp?

Trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến trình đổi mới PPDH

ở trường phổ thông nói chung và THPT nói riêng Có thể còn nhiều nguyên nhân khác nữa mà ta chưa nêu lên được Tuy việc đổi mới còn nhiều khó khăn

và việc khắc phục các khó khăn không thể thực hiện một cách dễ dàng trong một sớm một chiều, nhưng tình thế vẫn buộc chúng ta phải tìm cách đổi mới PPDH

1.2.1 Khái niệm về dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là kiểu dạy trung gian giữa dạy học truyền thống và hiện đại, nó là một trong nhiều chiến lược dạy học cụ thể hóa mô hình dạy - tự học và quan điểm “lấy người học làm trung tâm” có khả năng đáp ứng được mục tiêu giáo dục của thời kì đổi mới Chiến lược dạy học này thay thế cho kiểu dạy học truyền thống bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính chất tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực với trung tâm tập trung vào HS và nội dung được tích hợp thành những chủ đề mang tính thực tiễn cao GV không chỉ dạy học bằng cách truyền thụ tri thức mà chủ yếu là hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

Ở chiến lược dạy học này HS đóng vai trò chủ thể, trung tâm, tự tìm ra tri thức bằng hoạt động của chính mình với sự hỗ trợ của các bạn trong nhóm

Trang 23

học tập và của GV Nội dung học được thiết kế thành một kết cấu chặt chẽ chứ không thành những bài học rời rạc, có tích hợp kiến thức nhiều môn học HS thu thập thông tin từ nhiều nguồn sau đó xử lý, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và trình bày, bảo vệ hiểu biết của mình Việc học của HS thực sự có giá trị vì nó được kết nối với thực tế và thông qua đó HS sẽ rèn luyện được các

kĩ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, cũng như kĩ năng sống Vai trò của

GV ở đây là người tổ chức, hướng dẫn cũng như làm trọng tài khoa học trong quá trình dạy học

Dạy học theo chủ đề ở trường THPT là sự cố gắng tăng cường sự tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều, là sự tích hợp vào nội dung học những ứng dụng kỹ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn Và thông qua hình thức dạy học

đó chúng ta đã góp phần đổi mới PPDH Cụ thể là chúng ta đã phấn đấu để:

- Chuyển từ GV hoạt động là chính sang HS hoạt động là chính

- Chuyển từ GV thuyết trình, HS thụ động nghe, ghi sang GV hướng dẫn HS hoạt động còn HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để tự lực tìm ra tri thức

Bảng 1.1 So sánh đặc điểm của dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề

Dạy học theo cách tiếp cận

Trang 24

1- Tiến trình giải quyết vấn đề

tuân theo chiến lược giải quyết

vấn đề trong khoa học Vật lí:

Logic, chặt chẽ, khoa học do GV

áp đặt (GV là trung tâm)

2- Phù hợp với phong cách tư duy

não trái: Logic, tuần tự, chặt chẽ

3- Nếu thành công có thể góp phần

đạt tới nhiều mục tiêu của môn

học hiện nay: Chiếm lĩnh kiến

thức mới thông qua hoạt động, bồi

dưỡng các phương thức tư duy

khoa học và các phương pháp

nhận thức khoa học: Phương pháp

thực nghiệm, Phương pháp tương

tự, Phương pháp mô hình, suy

luận khoa học

4- Dạy theo từng bài riêng rẽ trong

một thời lượng cố định dành cho

từng bài

5- Kiến thức thu được rời rạc hoặc

chỉ có mối liên hệ tuyến tính (một

chiều theo sự thiết kế chương trình

học)

6- Trình độ nhận thức sau quá

1- Các nhiệm vụ học tập được giao, HS quyết định chiến lược học tập với sự chủ động hỗ trợ, hợp tác của GV (HS là trung tâm)

2- Phù hợp nhiều phong cách học khác nhau do HS được quyết định một phần chiến lược học tập

3- Hướng tới các mục tiêu: Chiếm lĩnh một dung lượng kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các

kỹ năng tiến trình khoa học: Quan sát, thu thập dữ liệu (thông tin), xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ… thông tin), suy luận và áp dụng thực tiễn

4- Dạy theo một chủ đề thống nhất được

tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần chương trình học

5- Kiến thức thu đuợc là các khái niệm trong mối liên hệ mạng lưới với nhau

6- Trình độ nhận thức có thể đạt được ở

Trang 25

có kiến thức từng phần riêng biệt,

hoặc có hệ thống kiến thức liên hệ

tuyến tính theo trật tự các bài học

8- Kiến thức khá xa rời thực tiễn

mà người học đang sống do sự

kém cập nhật của nội dung trong

sách giáo khoa

9- Kiến thức thu được sau khi học

chỉ giới hạn trong chương trình

nội dung học

10- Không thể hướng tới nhiều

mục tiêu nhân văn quan trọng như:

Rèn luyện các kỹ năng sống và

làm việc: giao tiếp, hợp tác, quản

lý, điều hành, ra quyết định

mức độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh giá

7- Kết thúc một chủ đề HS có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong sách giáo khoa

8- Kiến thức gần gũi với thực tiễn mà HS đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề

9- Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ

đề luôn vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm và

xử lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS

10- Đặt quan tâm và có thể hướng tới bồi dưỡng các kỹ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác

Điểm tương đối tương đồng giữa dạy học theo chủ đề

Trang 26

một số bài học thành một chủ đề được cho là sự tích hợp tốt hơn, có ý nghĩa thực tiễn hơn cách trình bày của sách giáo khoa

Điểm khác biệt quan trọng dẫn tới nhiều khác biệt ở trên là:

- Dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác là không được coi HS chưa biết gì trước nội dung bài học mới mà trái lại luôn phải nghĩ rằng

họ tự tin và có thể biết nhiều hơn những gì mà GV mong đợi, vì thế dạy học cần cố gắng tận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng có sẵn của HS và khuyến khích khả năng biết nhiều hơn thế của HS về một vấn đề mới để giảm tối đa thời gian và sự thụ động của HS trong tiếp nhận kiến thức mới, để tăng hiểu biết nhiều lần so với nội dung cần dạy

- Dạy học theo chủ đề đặt quan tâm chủ yếu đến việc sử dụng kiến thức hiểu biết vào thực hiện các nhiệm vụ học tập nhắm tới tự lĩnh hội hệ thống kiến thức

có sự tích hợp cao, tinh giản và có tính công cụ cao, đồng thời hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác Trong khi dạy học truyền thống coi trọng việc xây dựng kiến thức nên chỉ nhắm tới các mục tiêu được cho rằng quá trình này

có thể mang lại

- Trong dạy học theo chủ đề kiến thức mới được HS lĩnh hội cùng lúc với việc giải quyết nhiệm vụ học tập, đó là kiến thức theo một tổng thể mới khác với kiến thức trình bày trong tất cả các nguồn tham khảo

- Vai trò của GV và HS thay đổi cơ bản từ GV là trung tâm trong mô hình truyền thống sang HS là trung tâm

1.2.3.1 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề cũng như các chiến lược dạy học tích cực khác nhau đều nhằm đáp ứng những yêu cầu về đổi mới PPDH Ngoài ra, dạy học theo chủ đề còn quan tâm đến sự phát triển của HS có các phong cách học tập khác

Trang 27

nhau, quan tâm đến sự chuẩn bị cho HS đương đầu thành công với sự phát triển không ngừng của thực tiễn Do đó, dạy học theo chủ đề còn hướng đến các mục tiêu tích cực khác:

- Phát triển hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện kĩ năng của một tiến trình khoa học

- Phát triển tư duy bậc cao, nhằm phát triển khả năng suy luận, tổ chức kiến thức, tiếp nhận kiến thức có chọn lọc, có phê phán

- Rèn luyện các kĩ năng sống, kĩ năng làm việc của một người trong thời đại ngày nay: giao tiếp, hợp tác, quản lý, tự quyết định, tự đánh giá, tự điều chỉnh

- Chú trọng mục tiêu phát triển nhân cách đa dạng của cá nhân HS hơn là đạt tới mục tiêu chung, cứng nhắc, bắt buộc, khuôn mẫu, áp đặt

Dạy: dạy cho mọi người biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo

Trong thời đại bùng nổ thông tin và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông như thời đại chúng ta đang sống thì nhà trường, người thầy không còn là nơi độc quyền cung cấp hiểu biết cho người học nữa GV không còn ở vị trí trung tâm, thể hiện ở chỗ GV không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung học trên lớp mà cố gắng tận dụng tối đa kiến thức, kính nghiệm, kỹ năng sẵn có của HS, để giúp họ tự mình lĩnh hội kiến thức Ngoài ra, GV trong chiến lược dạy học này không phải là người quyết định toàn bộ chiến lược học tập của HS, vì nhiều nhiệm vụ học tập được giao HS sẽ tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ đó

Mặc dù HS trong kiểu dạy học theo chủ đề giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế mà vai trò của GV bị giảm sút, nó chỉ thay đổi ý nghĩa: GV trở thành người cộng tác hay người hướng dẫn cho HS Vì HS chủ động hơn trong chiến lược dạy học này nhưng họ vẫn cần GV giúp họ định hướng tư duy và

Trang 28

hướng dẫn họ xử lí những kiến thức có được từ kinh nghiệm, từ các nguồn thông tin khác nhau mà họ tìm được GV trở thành người hỗ trợ quá trình học

và giúp HS hợp thức hóa và tổ chức kiến thức

1.2.3.3 Vai trò của học sinh trong dạy học theo chủ đề

Học: tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo

Trong các chiến lược dạy học tích cực quan niệm HS là trung tâm không chỉ thể hiện ở chỗ họ được quan tâm, săn sóc, giúp đỡ, được tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, phát triển, mà còn thể hiện ở chỗ: HS được quyết định một phần (hay toàn bộ) chiến lược học tập, đồng thời HS cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết quả học tập của mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết, phát triển của chính mình)

Gần đây chúng ta cũng nghe nói tới những cố gắng đổi mới để HS trở thành trung tâm trong mô hình dạy học truyền thống, tuy nhiên, điều dễ nhận ra

là trong mô hình dạy học này, chiến lược học tập của HS trong quá trình dạy học vẫn hoàn toàn do GV quyết định, HS chỉ được yêu cầu tham gia vào các giai đoạn khác nhau của hoạt động đã được GV hoạch định sẵn, họ không có quyền quyết định chiến lược học tập, chiến lược giải quyết vấn đề…Điều đó cũng có nghĩa là trong mô hình truyền thống, dù đã rất cố gắng đổi mới, quan tâm đến người học nhiều hơn, thì HS vẫn chưa thực sự đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học Đó cũng là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt các chiến lược dạy học tích cực trong mô hình dạy học hiện đại với mô hình truyền thống, dù nó đã được cải tiến

Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo mọi điều kiện để người học phát triển năng lực một cách tốt nhất thì đồng thời cũng phải đề phòng xu thế chạy từ thái cực này sang thái cực kia, tất cả chỉ thấy có người học Giáo dục hiện đại cho rằng quan hệ hợp tác thầy - trò giữ vị trí trung tâm trong nhà trường, thầy và trò cũng là chủ thể của hoạt động dạy và học

Trang 29

1.2.3.4 Nội dung của dạy học theo chủ đề

Với những mục tiêu trên, đã từ lâu trong các chiến lược dạy học tích cực nói chung và trong dạy học theo chủ đề nói riêng, ở trường THPT nội dung học được tích hợp trong từng môn học riêng biệt thành các chủ đề vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, tạo cho HS hứng thú, say mê nghiên cứu chúng Việc lựa chọn chủ đề, xây dựng nội dung các chủ đề có sự khác nhau ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, nó phản ánh những quan điểm triết học giáo dục riêng

Hầu hết các chương trình học hiện nay chú ý tới mối liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau và với thực tiễn xã hội nhằm giúp HS phát triển những ý tưởng trọng yếu và toàn diện Các chủ đề khác nhau có thể khác nhau về bản chất và phạm vi, tuy nhiên, điều quan trọng là nó phải liên hệ tới cuộc sống đang diễn ra và nó kích thích được sự quan tâm của HS

Việc đổi mới theo hướng này tạo điều kiện cho việc tích hợp nội dung học với các ứng dụng thực tiễn hay ứng dung nghề nghiệp Các cách tích hợp

có thể là: truyền tải những yêu cầu của thực tiễn hay của ngành nghề đến HS, xem xét các ứng dụng thực tiễn và nghề nghiệp trong các môn học, phân tích một hiện tượng theo nhiều góc độ của các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Mục đích của cách dạy học này là thay thế chương trình phổ thông hiện tại với nhiều môn học độc lập, không liên quan đến nhau bằng một chương trình chặt chẽ hơn, cho phép HS hiểu ra mối liên hệ mật thiết giữa các môn học thuộc các lĩnh vực khác nhau Mức độ tích hợp giữa các môn học tùy thuộc nhiều yếu tố: đặc điểm từng trường, kế hoạch và khả năng của từng GV và cả mối liên hệ giữa các GV dạy các môn học khác nhau

Khi nghiên cứu các chủ đề có nội dung liên môn, tích hợp, HS không những chiếm lĩnh được tri thức khoa học mang tính tổng thể (chứ không phải từng khái niệm riêng lẻ) mà còn được làm quen với tiến trình khoa học và được

Trang 30

rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học Các chủ đề này thường được xây dựng bằng sự liên quan, tính thiết thực của chủ đề học đối với họ, kích thích sự hứng thú thực sự của HS khi tìm hiểu, xử lí các thông tin khoa học và đời sống

từ các nguồn khác nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra Khi đó phần kiến thức cốt lõi được khéo léo đưa vào trở thành kiến thức chìa khóa mà HS tất yếu phải nắm được để tham gia nghiên cứu chủ đề Kết quả là bên cạnh kiến thức cốt lõi

họ còn thu được rất nhiều kiến thức khác có được do tự lực tìm và xử lí thông tin

Tổ chức lại nội dung học vấn phổ thông theo hướng tích hợp là yêu cầu khách quan và hiện nay đã trở thành xu thế vì:

- Mọi vấn đề từ thực tế đều liên quan đến nhiều lĩnh vực, khó có vấn đề nào, dù đơn giản có thể giải quyết trọn vẹn bằng kiến thức của một lĩnh vực khoa học

- Sự xâm nhập và ngày càng xích lại gần nhau của chính các ngành khoa học

từ đầu thế kỉ XX trở lại đây, nhất là từ khi có sự phát triển của công nghệ và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông dẫn tới nhiều nội dung cũ, lạc hậu phải luôn cập nhật, bổ sung

- Xã hội phát triển đặt yêu cầu mới cho giáo dục là phải đào tạo ra những

người không chỉ biết mà phải có năng lực hành động Yêu cầu này tác động tới

việc xem xét làm thế nào để kiến thức thực sự có thể giúp người ta hành động trong thực tiễn tốt hơn

Trong phạm vi một môn khoa học như môn Vật lí chẳng hạn, tích hợp giúp tinh giản kiến thức, giúp cho kiến thức có tính thực tiễn và tính công cụ mạnh hơn vì thế hữu dụng và vững chắc hơn Đổi mới nội dung khoa học theo hướng trên không chỉ phổ biến ở các nước Tây Âu và Mĩ mà cả ở các nước trong khu vực Đông Nam Á trong vài thập niên qua đã thực sự góp phần đem lại những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực ở các nước

Trang 31

Tuy nhiên, một khó khăn còn đó của các mô hình dạy học tiên tiến hiện nay là việc xây dựng hệ thống các chủ đề và hướng dẫn việc dạy và học theo chủ đề Rất khó lòng biên soạn sách cho HS, tài liệu dạy và học nhất quán theo hướng này vì nó phụ thuộc rất nhiều vào thực tiễn xã hội của từng quốc gia, từng vùng, miền, phụ thuộc vào triết lí giáo dục…Nhưng nhìn chung các mô hình dạy học tiên tiến ngày nay đều đề cao vai trò chủ động của GV, đều khuyến khích sự sáng tạo của GV, với những chỉ dẫn có tính dẫn đường, người

GV có thể tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh mà tổ chức dạy học sao cho mục tiêu đạt được có chất lượng và hiệu quả nhất

1.2.3.5 Dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên tin học Ngày nay, công nghệ thông tin đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống Trong lĩnh vực giáo dục, người ta cũng đã và đang nghiên cứu và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Nhiều chương trình đã được thiết kế nhằm hỗ trợ cho việc giảng dạy của

GV, việc tự học, tự ôn tập của HS trong đó các yếu tố kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự lực cũng như phát triển trí tuệ của HS rất được chú trọng Việc kiểm tra, đánh giá với sự hỗ trợ của máy tính cũng đã và đang được thử

Trang 32

nghiệm trong lĩnh vực day học nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác cao Tùy điều kiện cơ sở vật chất, hình thức tổ chức học tập mà việc ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập được triển khai một cách khác nhau Dạy học theo chủ đề cũng như các chiến lược dạy học khác hoàn toàn có thể sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Cụ thể:

- Internet là nguồn tài nguyên thông tin vô tận, khai thác mạng Internet cũng

là mục tiêu kỹ năng mà chúng ta hướng tới Internet giúp HS tìm kiếm, thu thập thông tin dễ dàng hơn đáp ứng yêu cầu tự tìm hiểu của HS (nhiệm vụ đầu tiên

và quan trọng dẫn đến thành công của nhiệm vụ học tập)

- HS có thể sử dụng phần mềm để xử lý, trao đổi thông tin và giúp HS thể hiện các ý tưởng sáng tạo của mình và phát huy tối đa khả năng tư duy thông qua

các sản phẩm làm ra Vì thế, dạy học theo chủ đề cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin sẽ giúp hình thành ở HS những kỹ năng cần thiết cho người chủ tương lai của đất nước: kỹ năng thu thập, tìm kiếm, xử lý, trao đổi thông tin…

- Các phần mềm hiện nay cũng hỗ trợ cho GV rất nhiều trong việc thiết kế bài giảng, các thí nghiệm mô phỏng,… Giúp GV sử dụng công nghệ máy tính để phát triển trí tưởng tượng của HS, tạo ra môi trường học tập cho phép HS tiếp thu bài một cách ý nghĩa nhất và dẫn dắt các em tới một phương pháp học tập hiệu quả hơn

- Thiết kế quá trình dạy học một chủ đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

sẽ giúp GV tổ chức quá trình dạy học khoa học hơn, hiệu quả hơn

- Công nghệ thông tin còn yêu cầu GV phải luôn nỗ lực phấn đấu học tập để tự hoàn thiện mình

Trang 33

1.2.3.6 Phương pháp dạy học trong dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác đều đặt trọng tâm phát triển tư duy cho HS Chính vì thế dạy học phải chú trọng đến các phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt là quan điểm kiến tạo trong dạy học, còn quá trình học là quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học

Trong mô hình dạy học này và nhiều mô hình dạy học tích cực khác, người ta không dành nhiều thời gian cho việc cung cấp kiến thức mà thời gian học chủ yếu dành cho việc giải quyết vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ học tập của các nhóm HS Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng lúc trong quá trình HS giải quyết vấn đề thực tiễn được giao, hoặc được giới thiệu trong một khoảng thời ngắn thích hợp theo cách dạy truyền thống trước khi giải quyết vấn đề, hoặc thông qua tài liệu hỗ trợ do GV cung cấp, chỉ dẫn Nói cách khác, các mô hình dạy học tích cực phổ biến hiện nay thường ưu tiên việc sử dụng kiến thức (thông tin) vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, HS học được tiến trình khoa học và kỹ năng tiến trình khoa học từ việc giải quyết vấn đề chứ không phải từ việc tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạy học truyền thống quen thuộc

1.2.3.7 Hình thức tổ chức dạy học trong dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề vẫn là sự kết hợp cách tổ chức học theo lớp truyền thống với học theo nhóm hợp tác, nhưng chủ yếu là theo nhóm Dạy học theo nhóm với đặc trưng là HS hợp tác, cùng nhau “khám phá” lại tri thức của nhân loại, HS có cơ hội chia sẻ những suy nghĩ của mình với bạn học; với phương thức học thầy, học bạn sẽ phát huy tính năng động, tư duy sáng tạo củ HS, đồng thời khắc phục được hoạt động độc diễn của thầy trong lớp đông HS Không gian học không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn Thời gian học

Trang 34

chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà có thể kéo dài trong một, vài tuần tùy ý nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăn của chủ đề

1.2.3.8 Phương tiện dạy học trong dạy học theo chủ đề

Sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học như: phấn, bảng, thiết bị, dụng

cụ thí nghiệm, máy vi tính, máy chiếu, băng hình, các phần mềm hỗ trợ dạy học,…những vật dụng trong cuộc sống hằng ngày Việc sử dụng các phương tiện dạy học một cách hợp lí sẽ làm tăng hiệu quả truyền tải thông tin đến người học Tích hợp công nghệ vào dạy học, các nguồn thông tin và phương tiện hỗ trợ khai thác, xử lí, lưu giữ, chuyển tải thông tin được coi là phương tiện dạy và học đặc biệt và quan trọng của các mô hình dạy học hiện đại (đây cũng là kỹ năng cơ bản, cần thiết cho sự thành công của tất cả mọi người sống

và làm việc trong thế kỷ XXI mà HS cần được rèn luyện ngay trong nhà trường phổ thông)

được trình bày và giảng dạy theo cách đi xây dựng khái niệm (kiến thức) theo

tiến trình logic, chặt chẽ, khoa học với sự hỗ trợ mạnh mẽ của logic toán học, mang đặc trưng của kiểu tư duy trong khoa học Vật lí Cấu trúc kiểu chương trình học này dẫn đến quan niệm dạy học quen thuộc là chia chương trình học thành những đơn vị kiến thức có tính độc lập tương đối để giải quyết trong mỗi giờ học Cách dạy học này trong thực tế thường dẫn đến sự rời rạc của kiến

Trang 35

Vận dụng sáng tạo một chiến lược dạy học tích cực đã được khẳng định, nhưng chưa thật sự phù hợp với chương trình học của Việt Nam vào thực tiễn giáo dục vốn rất đa dạng, phong phú và còn nhiều khác biệt có thể giúp chúng

ta đạt được mục đích trên Không thể áp dụng một cách máy móc các chiến lược dạy học hiện đại vào thực tiễn bởi sự khác biệt cơ bản về mục tiêu, về chương trình, nội dung học, điều kiện dạy học, nhưng lựa chọn những ý tưởng hay, phù hợp với thực tiễn kết hợp với việc tổ chức lại nội dung học tập, đổi mới cách thức tổ chức, cách thức đánh giá kết quả học tập là khả năng hoàn toàn có thể

Cơ sở để đánh giá kết quả của sự vận dụng sáng tạo các chiến lược dạy học khác nhau vào thực tiễn giáo dục cụ thể đó là xem xét mục tiêu cần đạt được và hiệu quả của việc thực hiện các mục tiêu giáo dục đó trong sự so sánh với mục tiêu và hiệu quả thực hiện mục tiêu của mô hình dạy học chúng ta hiện

Trang 36

có Nghĩa là, nếu cùng nhiệm vụ phải thực hiện khi dạy học một chương trình học, cùng một thời lượng cho phép mà việc tổ chức lại nội dung học theo hướng chủ đề và tổ chức quá trình dạy học phù hợp với nó chỉ ra được rằng chúng ta vừa có thể đạt được các mục tiêu của chương trình học hiện nay, đồng thời vừa có thể đạt được một số mục tiêu tích cực khác, có ích lợi cho sự phát triển hiểu biết, phát triển trí tuệ của HS hơn, như rèn luyện được khả năng tư duy bậc cao, các kỹ năng sống…thì cũng có nghĩa là việc vận dụng này đưa đến chất lượng và hiệu quả hơn kiểu dạy học truyền thống

Yếu tố đảm bảo cho thành công của một cách tiếp cận dạy học mới trong

mô hình dạy học truyền thống đang phổ biến hiện nay, đó là sự chuyển đổi từng bước các mục tiêu dạy học và các thành tố còn lại của quá trình dạy học (như thay đổi cách thức tổ chức, quá trình dạy học, thay đổi PPDH và cách thức đánh giá)

1.2.4.3 Đặc điểm của các chủ đề ở cấp phổ thông

Ở cấp THPT, các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học được biên soạn và giảng dạy riêng biệt, gần như không có liên hệ với nhau, thể hiện sự tích hợp liên môn là rất yếu Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho kiến thức các môn học riêng biệt xa rời thực tiễn

Tuy nhiên, nội dung trong từng môn học của chương trình THPT cũng được xây dựng thành các chủ đề tích hợp có ý nghĩa thực tiễn cao, môn Vật lí được chia thành các chủ đề lớn như: Cơ học, Nhiệt học, Điện – Từ học, Quang học,…Trong đó nội dung được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính đảm bảo những nguyên tắc chung: tính hệ thống, tính khoa học, tính sư phạm,…bỏ qua trật tự thời gian và tính cá nhân của kiến thức làm cho hiệu quả học tập cao hơn Tuy nhiên, xu hướng tích hợp càng cao thì lại làm cho chương trình, nội dung học và cách học mang càng nặng tính lí thuyết, hàn lâm và xa rời thực tiễn mà người học đang sống, xa rời nhu cầu của đa số người học và tạo nên áp

Trang 37

lực ngày càng nặng nề, đồng thời nó còn tạo tiền đề vững chắc cho sự duy trì kiểu dạy học truyền thống đang ngày càng tiến triển theo hướng tiêu cực như hiện nay Tổ chức lại nội dung theo tính tích hợp liên môn là cố gắng làm cho các khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau hơn, thể hiện mối liên hệ nhiều chiều, giúp cho HS không những hiểu sâu sắc từng khái niệm mà còn thiết lập được các mối liên hệ đa dạng giữa chúng, giúp cho HS tạo dựng một tổng thể kiến thức mới và có giá trị sử dụng

1.2.4.4 Những nét mới trong dạy học theo chủ đề

xa rời thực tiễn

Theo cách tiếp cận dạy học theo chủ đề, từ một chủ đề mang tính chất tổng quát, hàm chứa các nội dung kiến thức mà chúng ta cần trang bị cho HS, những kiến thức này có thể liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực khác nhau và

có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Căn cứ vào mục tiêu dạy học, vào nội dung kiến thức trong chủ đề học tập cũng như trình độ của HS, một hệ thống câu hỏi định hướng (CHĐH) sẽ được xây dựng với sự thỏa thuận giữa GV và

Trang 38

HS Căn cứ vào hệ thống câu hỏi định hướng này, GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS nhằm giải quyết những vấn đề, trả lời những câu hỏi đã đặt ra Như vậy việc học tập của HS được định hình với những yêu cầu cụ thể, hoạt động học tập của HS trở nên có tính mục đích cao Thông qua các hoạt động học tập đó, GV tạo cơ hội cho HS chủ động xây dựng cho mình một hệ thống kiến thức mang tính chặt chẽ, sâu sắc, bản chất, thiết thực và hệ thống Như vậy, theo cách tiếp cận dạy học này, việc thiết lập hệ thống CHĐH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng học tập của HS Hệ thống câu hỏi này bao gồm câu hỏi khái quát (CHKQ), câu hỏi bài học (CHBH) và câu hỏi nội dung (CHND)

Theo mô hình này, với nội dung học tập được định vị trước (thông qua

hệ thống CHĐH và các phiếu học tập mà GV đã chuyển tới HS), HS mang những hiểu biết, những kinh nghiệm, những nội dung đã tìm hiểu được của mình đến lớp, nên có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm, thảo luận để giải quyết những vấn đề cụ thể, có hệ thống, liên quan đến nhiều kiến thức và có ý nghĩa

thực tiễn sâu sắc Như vậy, với cách tiếp cận dạy học này, các hình thức thảo luận sẽ được đưa vào sử dụng trong quá trình dạy học một cách thường xuyên hơn, từ đó có thể giúp HS hình thành ý thức cộng đồng, sự hợp tác làm việc, kỹ

năng giao tiếp, phát huy tính tích cực, chủ động, có cơ hội để HS bộc lộ thiên hướng, phong cách học tập, năng khiếu cá nhân của mình,…

Trong mỗi chủ đề học tập, với những nhiệm vụ đã được đặt ra trước, HS phải tìm kiếm, thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; phải đưa ra các thông tin để trao đổi với người khác,…Do đó công nghệ (thông tin và truyền thông) sẽ được đưa vào sử dụng như một nhu cầu tự nhiên trong quá trình dạy học

Với cách tiếp cận dạy học theo chủ đề, HS được tạo điều kiện minh họa kiến thức họ vừa nhận được và đánh giá họ học được bao nhiêu và giao tiếp tốt

Trang 39

như thế nào Như vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS cần phải được tiến hành trong suốt quá dạy học và phải kết hợp giữa đánh giá của GV

và đánh giá của HS

b/ Vận dụng ý tưởng thiết kế bộ CHĐH vào dạy học theo chủ đề

Yêu cầu của dạy học theo chủ đề là HS trong quá trình học phải tự mình thực hiện các nhiệm vụ học tập, tự mình tìm kiếm kiến thức …và GV đóng vai trò là người dẫn dắt, tổ chức, hướng dẫn HS Do đó việc xây dựng bộ CHĐH là rất quan trọng, là một nhiệm vụ trọng tâm Bộ CHĐH sẽ giúp HS hướng đến những yêu cầu cụ thể, cụ thể hóa mục tiêu cần đạt được Không những thế, bộ CHĐH của một chủ đề học tập không chỉ hướng tới việc lĩnh hội các nội dung học tập mà để trả lời các câu hỏi với mức độ khái quát tăng dần HS phải tổ chức lại nội dung học tập, phải suy luận, nhờ đó tư duy phát triển, kĩ năng hình thành

Bộ CHĐH bao gồm: các CHKQ ,CHBH, CHND

Là những câu hỏi mang tính mở, có phạm vi rất rộng, mang tầm khái quát cao, nhằm khơi dậy sự thích thú, quan tâm và chỉ ra được sự phong phú, phức tạp của một chủ đề, đề cập đến những câu hỏi mấu chốt và những ý tưởng cốt lõi của một chủ đề Nội dung CHKQ là câu hỏi mở nên khi chưa học hết chủ đề người học chưa thể trả lời hoặc trả lời theo nhiều cách khác nhau và còn thiếu tính thuyết phục Khi học xong phần kiến thức tương ứng, người học vẫn

có thể trả lời bằng nhiều phương án (câu hỏi đa trị), nhiều mức độ khác nhau

Để trả lời được CHKQ, đòi hỏi nhận thức của người học phải đạt đến trình độ cao: tổng hợp, đánh giá, sáng tạo Việc trả lời CHKQ là hướng tới mục tiêu phát triển hiểu biết, phát triển tư duy bậc cao Các CHKQ mang những đặc điểm sau:

Trang 40

- Đi vào trọng tâm của vấn đề: CHKQ có thể nằm trong những vấn đề gây tranh cãi và có tầm quan trọng lịch sử hoặc trong những chủ đề của một số lĩnh vực nghiên cứu

- Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử của môn học: các CHKQ được hỏi đi hỏi lại như sự phát triển của vấn đề Các câu trả lời có thể trở nên phức tạp hơn và phản ánh nhiều sắc thái mới, nhưng chúng ta vẫn còn

và sẽ còn trăn trở về những câu hỏi đó

- Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác: những câu hỏi đó luôn luôn khai phá vấn đề, các mặt phức tạp và bí ẩn của vấn đề Chúng đề xuất phương án nghiên cứu có kết quả chứ không dẫn đến những kết luận sớm hay những câu trả lời mơ hồ

Các CHBH cũng là những câu hỏi mở, nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc một bài học cụ thể, nó định hướng cho một bài học cụ thể, gần gũi với thực tế Các CHBH thuộc loại tự chứng minh, chúng thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, thảo luận, suy luận; chúng khai thác các phương tiện, tính phức tạp phong phú của vấn đề Chúng được dùng khởi đầu cho một tranh luận chứ không phải dẫn đến một câu trả lời rõ ràng, duy nhất mà GV cần Chúng được thiết kế để hỗ trợ và phát triển CHKQ, có tác dụng kích thích, gây tranh luận, thu hút sự chú ý và duy trì hứng thú tìm hiểu của HS Trả lời CHBH

là hướng tới phát triển tư duy bậc cao và khả năng tổ chức kiến thức của HS

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng giữa CHKQ và CHBH khó phân biệt một cách rạch ròi Bản thân câu hỏi không định liệu nó là CHKQ hay CHBH bởi chúng đều có tính mở và có tính khái quát chung Câu hỏi khác nhau ở mức độ

và phụ thuộc vào việc chúng ta sử dụng nó như thế nào Cả hai loại câu hỏi này đều có mục đích là: định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn, và hướng dẫn khám

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Bảng 2.1. Cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” (Trang 48)
Bảng 2.9. Theo dõi sự chuẩn bị nội dung cho các CHBH - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Bảng 2.9. Theo dõi sự chuẩn bị nội dung cho các CHBH (Trang 90)
Bảng 2.10. Theo dõi quá trình học tập trên lớp của các nhóm - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Bảng 2.10. Theo dõi quá trình học tập trên lớp của các nhóm (Trang 91)
Hình 2.1. Nội dung giới thiệu tổng quan về chủ đề học tập - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 2.1. Nội dung giới thiệu tổng quan về chủ đề học tập (Trang 97)
Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của góc r vào góc i - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
th ị biểu diễn sự phụ thuộc của góc r vào góc i (Trang 99)
Hình 2.2.  Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 1 - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 2.2. Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 1 (Trang 103)
Hình 2.4. Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 3 - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 2.4. Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 3 (Trang 116)
Hình 2.5.  Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 4 - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 2.5. Nội dung trình chiếu để tìm câu trả lời cho CHBH 4 (Trang 123)
Hình 3.1.  Biểu đồ phân phối tần suất kết quả điểm quá trình học tập lớp TN. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 3.1. Biểu đồ phân phối tần suất kết quả điểm quá trình học tập lớp TN (Trang 132)
Bảng 3.3. Bảng các tham số thống kê kết quả điểm quá trình học tập lớp TN. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Bảng 3.3. Bảng các tham số thống kê kết quả điểm quá trình học tập lớp TN (Trang 133)
Hình 3.3.  Biểu đồ phân phối tần số điểm số lớp TN và lớp ĐC. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 3.3. Biểu đồ phân phối tần số điểm số lớp TN và lớp ĐC (Trang 135)
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC (Trang 135)
Hình 3.4.  Biểu đồ phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 3.4. Biểu đồ phân phối tần suất điểm số lớp TN và lớp ĐC (Trang 136)
Hình 3.5.  Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy điểm số lớp TN và lớp ĐC. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hình 3.5. Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy điểm số lớp TN và lớp ĐC (Trang 137)
Phụ lục 2: Bảng điểm kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC. - vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vàodạyhọc phần “quang hình học” vật lí lớp 11 ban cơ bản
h ụ lục 2: Bảng điểm kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC (Trang 150)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w