1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp

119 571 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

D ANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTBR – VT : Bà Rịa – Vũng Tàu CĐ&ĐH : Cao đẳng và Đại học CSGD : Chỉ số giáo dục GDI : Chỉ số phát triển giới Gently Development Index GDP : Tổng sản phẩm trong nước

Trang 1

Vũ Thị Hương Thu

VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC Ở BÀ RỊA-VŨNG TÀU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

Vũ Thị Hương Thu

VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC Ở BÀ RỊA-VŨNG TÀU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trang 3

Bản luận văn này là một phần kết quả quan trọng của quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:

- Quý Thầy, Cô phụ trách các môn học; Quý Thầy, Cô Khoa Địa lý Trường Đại học

Sư phạm TP.HCM đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu

- Cô TS Nguyễn Thị Bích Hà đã hết lòng giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tận tình

để tôi có thể hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình

- Thầy PGS.TS Nguyễn Kim Hồng đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

- Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Cục Thống kê, Sở Giáo dục tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban Quản lý Thư viện trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, trường THPT Hắc Dịch – nơi tôi công tác đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Nhân dịp này, tôi xin gửi những lời tri ân tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn ủng hộ, tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành đề tài của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hương Thu

Trang 7

D ANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BR – VT : Bà Rịa – Vũng Tàu

CĐ&ĐH : Cao đẳng và Đại học

CSGD : Chỉ số giáo dục

GDI : Chỉ số phát triển giới

(Gently Development Index)

GDP : Tổng sản phẩm trong nước

GEI : Chỉ số bình đẳng giới

GER : Tỷ lệ nhập học thô

GPI : Chỉ số cân bằng giới

HDI : Chỉ số phát triển con người

(Human Development Index)

HĐND : Hội đồng nhân dân

KH&ĐT : Kế hoạch và Đầu tư

NXB : Nhà xuất bản

ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức SCN : Sơ cấp nghề

TCN : Trung cấp nghề

TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp

THCN : Trung học chuyên nghiệp

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

UBND : Ủy ban nhân dân

UNDP : Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, chất lượng sống của con người được nâng cao, cũng là lúc người ta quan tâm hơn đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là những vấn đề đảm bảo quyền tự do phát triển của con người Trong các quyền ấy, có quyền được bình đẳng với những người khác Tuy nhiên, trong một xã hội còn đậm chất phong kiến như nước ta, vấn đề bình đẳng giới là đáng quan tâm và lưu ý hơn cả

Bất bình đẳng về giới là một hiện tượng có quá trình lâu dài, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các định kiến xã hội và khó lòng xóa bỏ trong thời gian ngắn Vì vậy, để

có hướng giải quyết phù hợp, cần có những nghiên cứu cụ thể về nguyên nhân, biểu hiện, phương pháp tính chỉ số bình đẳng giới cho từng lĩnh vực…nhằm mang lại cái nhìn cụ thể về bình đẳng giới cũng như sự phân bố mức độ bình đẳng giới

Giáo dục là một lĩnh vực có ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề kinh tế-xã hội khác Bình đẳng trong việc thụ hưởng các giá trị giáo dục sẽ góp phần cân bằng cán cân giữa nam và nữ trong các quyền tự do phát triển năng lực bản thân, bình đẳng trong thụ hưởng các điều kiện sống khác

Sống và làm việc tại Bà Rịa-Vũng Tàu, cũng như những công dân khác, tôi mong muốn trong khả năng của mình có thể góp phần làm cho tỉnh nhà ngày càng phát triển về kinh tế và công bằng, văn minh về xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục

Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC Ở BÀ RỊA-VŨNG TÀU, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu và tính toán các chỉ số về bình đẳng giới đã được đề cập đến trong rất nhiều đề tài trong và ngoài nước Đặc biệt là các tài liệu, báo cáo về giới như “ Đưa vấn đề giới vào phát triển” của Ngân hàng Thế giới, các “Báo cáo phát triển con người” của Liên Hợp Quốc xuất bản hàng năm, và các báo cáo của các tổ chức phi chính phủ khác Ở Việt Nam, chúng ta đã có Luật bình đẳng giới, được 0TQuốc hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2006;0T trong đó có các điều khoản quy định rõ về phạm vi, đối tượng, mục tiêu…về bình đẳng giới trong lĩnh vực của đời sống xã hội Điều 14 của luật, nêu rõ những quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của các cơ quan thống kê cũng có đề cập tới phương pháp tính chỉ số bình đẳng giới, chẳng hạn như tài liệu “Chỉ số phát triển con người thành phố Hồ Chí Minh 1999-2004” của cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, trong đó nêu cách tính chỉ số phát triển giới GDI Tuy nhiên, chưa có đề tài nào tính toán cụ thể các chỉ số về giới theo từng cấp học, rồi từ các dữ liệu định tính thu được, đưa ra các nhận định, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp cho vấn đề này

Xét đến phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong phạm vi đề tài luận văn thạc sĩ địa lý kinh tế-xã hội, lần đầu tiên chúng tôi thực hiện việc đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một cách có hệ thống trên quan điểm phát triển con người nhất là trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể tạo điều kiện cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thành công trong thời gian sớm nhất Việc phân tích và đánh giá thực trạng một cách khách quan

sẽ tạo điều kiện để vạch ra những phương hướng trong việc nâng cao bình đẳng giới

Trang 10

trong lĩnh vực giáo dục nói riêng và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung của tỉnh và có những giải pháp khả dĩ khắc phục tình trạng bất bình đẳng về giới ở hiện tại cũng như tương lai

3 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Vận dụng các cơ sở lý luận về bình đẳng giới, đề tài tập trung phân tích hiện trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam

2 Phân tích thực trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3 Đề xuất định hướng và các biện pháp phù hợp nhằm năng cao bình đẳng

về giới trong lĩnh vực giáo dục ở Bà Rịa – Vũng Tàu

4 Phạm vi và giới hạn của đề tài

− Về mặt không gian: Đề tài được giới hạn trong lãnh thổ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

− Về mặt thời gian : Số liệu được lấy chủ yếu từ tổng điều tra dân số năm 1999 –

2009

Trang 11

− Về mặt nội dung: Được giới hạn trong nghiên cứu về bình đẳng giới ở lĩnh vực giáo dục

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Các quan điểm

− Quan điểm tổng hợp: Vấn đề bình đẳng giới có liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế-xã hội khác như: trình độ phát triển kinh tế, các chính sách xã hội, luật pháp… Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục có liên quan đến các lĩnh vực khác như: bình đẳng giới trong kinh tế, khoa học công nghệ, y tế… Vì vậy, khi xem xét vấn đề này, cần phải

có cái nhìn tổng hợp mới có thể mang lại hiệu quả nghiên cứu cao

− Quan điểm lịch sử -viễn cảnh: Quan điểm này được thể hiện ở khía cạnh thứ nhất là chú ý tới vấn đề địa lý-lịch sử của sự thay đổi bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục của cả nước nói chung và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và thứ hai là phân

tích quá trình phát triển giáo dục cũng như phát triển kinh tế-xã hội nói chung trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể

− Quan điểm hệ thống: Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là một bộ phận trong toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đồng thời cũng bao gồm nhiều bộ phận nhỏ như các thành phố, thị xã, huyện… Vì thế vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong hệ thống lớn hơn là bình đẳng giới Việt Nam và cũng là một hệ thống nhỏ bao gồm vấn đề bình đẳng giới ở các đơn vị hành chính nhỏ hơn Cho nên, khi tìm hiểu vấn

đề này, cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan giữa các bộ phận trong cùng hệ thống và giữa các hệ thống với nhau nhằm có được những nhận định vừa khái quát lại vừa chi tiết

− Quan điểm phát triển: các quá trình kinh tế - xã hội bao giờ cũng có sự thay đổi, phát triển theo thời gian Vì vậy, khi nghiên cứu các vấn đề địa lí nói chung và kinh tế -

Trang 12

xã hội nói riêng, cần phải có quan điểm phát triển nhằm thấy được sự thay đổi và phát triển đi lên của các hiện tượng kinh tế - xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

− Phương pháp thu thập, thống kê số liệu: Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cố gắng khai thác có hiệu quả các nguồn số liệu thống kê đã được công bố Trong đó, phần lớn sẽ là các số liệu thống kê từ cuộc tổng điều tra dân số trong hai năm 1999,

2009 của tổng cục thống kê và một số từ cục thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

− Phương pháp toán học: sử dụng phương pháp này trong việc tính toán các chỉ số

về giáo dục như: tỉ lệ học sinh nhập học các cấp theo giới từ nguồn dữ liệu thu thập được, so sánh các các chỉ số giữa hai giới để đánh giá mức độ bình đẳng, xây dựng hàm tương quan giữa các chỉ tiêu khác (thu nhập trung bình) với bình đẳng giới, dự báo xu hướng trong tương lai…

− Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá: Từ các nguồn dữ liệu đã được xử lí

thông qua các phương pháp phân tích, chúng tôi tiến hành tổng hợp các thông tin địa lí theo các chủ đề: phạm vi lãnh thổ (huyện), theo các cấp học… Sau đó, tiến hành so sánh, đánh giá các thông tin này nhằm đưa ra các nhận định cụ thể về vấn đề nghiên cứu

− Phương pháp xây dựng biểu đồ: để trực quan hóa các số liệu thống kê và các kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp biểu đồ Các biểu đồ được sử dụng sẽ giúp ích trong việc biểu hiện, so sánh, phân tích dữ liệu

− Phương pháp bản đồ và Hệ thông tin địa lí (GIS): sử dụng phương pháp này trong việc vẽ bản đồ nhằm biểu hiện mức độ bình đẳng giới trong các cấp học, giữa các huyện ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Trang 13

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lí luận về bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam

Chương 2: Phân tích bình đẳng giới trong giáo dục ở Bà Rịa-Vũng Tàu nhìn từ góc

độ địa lý

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất bình

đẳng về giới trong lĩnh vực giáo dục ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN

THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm về bình đẳng giới

là việc của nam giới

Giống như màu da, chủng tộc và đẳng cấp, giới là một phạm trù xã hội có vai trò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong

xã hội và trong nền kinh tế Trong khi một vài xã hội không có sự phân biệt về màu da hay chủng tộc thì tất cả các xã hội lại đều có sự không tương xứng về giới- khác biệt và thiên lệch - ở các mức độ khác nhau

Khái niệm về giới rất quan trọng bởi nó giúp chúng ta tiến hành phân tích giới, hé

mở cho ta thấy sự lệ thuộc của phụ nữ được xã hội hình thành nên như thế nào Và như

Trang 15

vậy thì sự lệ thuộc là có thể thay đổi được hay là chấm dứt Vì điều này không phải được định trước mang tính sinh học hay được ấn định như vậy suốt đời

Những đặc trưng cơ bản của giới tính:

Bẩm sinh về phương diện sinh học, giới tính được quy định bởi hệ nhiễm sắc thể

Sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà ở bộ phận sinh dục được hình thành ngay khi còn trong bào thai Đó là những đặc điểm được hình thành tự nhiên, không phụ thuộc vào ý niệm của con người

Đồng nhất Mọi đàn ông cũng như mọi đàn bà trên khắp thế giới và ở mọi thế hệ

đều có cấu tạo giống nhau về mặt sinh học Đàn bà có chức năng sinh sản như nhau, đó

là khả năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Đàn ông cũng có chung chức năng sinh sản, đó là việc cung cấp tinh trùng phục vụ cho việc thụ thai

Không biến đổi Đàn bà và đàn ông mang những chức năng sinh sản bẩm sinh

không thể đổi chỗ cho nhau Những đặc điểm này không thay đổi theo thời gian và không gian

Những đặc trưng cơ bản của giới:

Do dạy và do học mà có Những đặc trưng về giới là những đặc trưng xã hội được

hình thành trong quá trình dạy và học Đứa trẻ phải học hỏi để trở thành con trai, con gái Từ khi sinh ra nó đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo nó là trai hay gái Đó là sự khác biệt về trang phục, hành vi và cách thức ứng xử mà cha mạ, gia đình và nhà trường trông chờ ở con trai và con gái, cũng như hướng dẫn cho trẻ em mỗi giới theo những quan niệm cụ thể

Đa dạng Giới thể hiện các đặc trưng xã hội của phụ nữ và nam giới nên rất đa

dạng nó phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước Ngay trong một nước cũng có sự khác biệt đáng kể về vị trí và tiếng nói của phụ nữ và

Trang 16

nam giới ở mỗi khu vực, như thành thị, nông thôn hay thậm chí giữa các giai tầng xã hội như trí thức, nông dân (Trần Thị Quế, Gendcen, 1999)

Luôn biến đổi Vì phụ thuộc vào các đặc điểm xã hội nên tương quan giới luôn biến

đổi cùng với các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán…

Ví dụ, những dân tộc theo phụ hệ thường trọng nam khinh nữ, thích con trai hơn con gái và ưu tiên cho con trai hơn con gái Nhưng ngày nay tình hình đã biến đổi, sự thay đổi này biểu hiện rõ nét ở vị thế và tiếng nói ngày càng được nâng cao của phụ nữ trong gia đình, nhất là ở khu vực đô thị

Có thể thay đổi được Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội hoàn toàn có thể

thay đổi được Quan niệm phụ nữ phải làm các công việc nội trợ, bếp núc như một

‘thiên chức’ đang được nhìn nhận lại và ngày càng có nhiều nam giới tham gia làm công việc nội trợ, chăm sóc con cái (Trần Thị Quế, Gendcen, 1999)

1.1.2 Bình đẳng giới

Bình đẳng giới: là việc nam và nữ có vị trí và vai trò ngang nhau, được tạo điều

kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

Bình đẳng giới là sự coi trọng ngang bằng của xã hội đối với những điểm tương đồng và điểm khác biệt giữa nam và nữ cũng như những vai trò mà mỗi giới nắm giữ trong xã hội Điều này dựa trên nền tảng nam và nữ là các đối tác đầy đủ trong mỗi gia đình, cộng đồng và trong xã hội

Công bằng giới: là quá trình mang lại sự công bằng cho nam và nữ Để đảm bảo

tính công bằng, cần phải tiến hành các biện pháp để bù đắp lại những thiết thòi mang tính lịch sử và xã hội làm cản trở nam và nữ hoạt động trên cùng sân chơi Công bằng

Trang 17

chỉ là phương tiện thực hiện Bình đẳng và các tác động mang tính công bằng mới là kết quả cuối cùng

Người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới Các quan niệm rập khuôn và thói quen tư duy làm cho những điều được xã hội chấp nhận đồng thời được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất mỗi giới ví

dụ, phụ nữ sinh con nên phải là người chăm sóc gia đình, nam giới có sức vóc nên phải

là người kiếm sống nuôi gia đình Làm ngược lại điều này, cả phụ nữ và nam giới có thể bị coi là không bình thường và thường chịu sự chê trách của dư luận Trong khi đó, cuộc sống đã thay đổi và trở nên đa dạng hơn nhiều so với bối cảnh nảy sinh những quan niệm rập khuôn về về vai trò giới Chính điều này đã duy trì và thậm chí làm tăng thêm khoảng cách giữa nhận thức và thực tiễn, góp phần khoét sâu các mâu thuẫn giữa các chuẩn mực dựa trên đặc điểm giới tính và yêu cầu thực tế về vị trí xã hội của phụ

nữ và nam giới

Các vai trò giới

Vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực tế đang làm Thông thường đây cũng là những công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hay đàn bà

Phân loại vai trò giới:

Trên thực tế, phụ nữ thường làm ba nhóm công việc sau:

Lao động kiếm sống: làm việc tại công sở, nhà máy, lao động sản xuất trên đồng ruộng…

Lao động nuôi dưỡng: nội trợ gia đình và chăm sóc người già, trẻ em…

Công việc cộng đồng: dọn vệ sinh ngõ xóm, đường phố (Caroline.O.N.Moser, 1996)

Nam giới chủ yếu làm hai nhóm công việc sau:

Trang 18

Lao động kiếm sống

Công việc cộng đồng: họp xóm, thôn; dự các đám hiếu hỉ…

Một số đặc trưng của vai trò giới

Từ các công việc mà nam và nữ thực hiện, có thể đề cập đến ba vai trò là vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và và vai trò cộng đồng Việc thực hiện các vai trò này là khác nhau giữa phụ nữ và nam giới

Phụ nữ thường thực hiện cùng lúc nhiều vai trò trong khi nam giới thường tập trung chủ yếu vào vai trò sản xuất

Phụ nữ thường là người làm phần lớn các công việc tái sản xuất, họ cũng làm nhiều loại công việc cộng đồng

Phụ nữ và nam giới ngay cả khi cùng làm một loại công việc thì vẫn có thể thực hiện theo các cách khác nhau Nam giới thường là người lãnh đạo và ra quyết định, phụ

nữ là người thừa hành công việc

Các vai trò do phụ nữ thực hiện thường gắn bó với nhau

Khoảng cách giới: là khái niệm dùng để chỉ sự chênh lệch, sự khác biệt về mặt xã

hội có thể lượng hóa được giữa nữ và nam Khoảng cách giới có thể trở thành bất bình đẳng giới trong những điều kiện nhất định Do đó, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Khoảng cách giới nào gây phương hại tới quyền và lợi ích của nữ hay nam thì gọi là bất bình đẳng giới Trên thực tế, phần lớn các bất bình đẳng giới đều là những khoảng cách giới gây phương hại đến quyền và lợi ích của phụ nữ

1.1.3.Định kiến giới

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị

trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

Trang 19

Định kiến giới có tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân và quan niệm của những người xung quanh Những đặc điểm liên quan đến nam giới và nữ giới thường được dập khuôn và mang tính cố định, được lặp đi lặp lại qua các thế hệ, do đó nam giới và phụ nữ không có sự lựa chọn nào khác Như vậy, định kiến giới là yếu tố làm hạn chế sự nhận thức đầy đủ và khách quan về năng lực của nữ giới Khi quan niệm định kiến giới được phổ cập trong xã hội thì người ta thường coi đó là khuôn mẫu

và phẩm chất chung của nữ giới và lấy đó làm cơ sở để đánh giá và phân biệt giữa nam

và nữ trong cuộc sống

Định kiến giới còn rất phổ biến trong xã hội chúng ta vì chúng đã ăn sâu, bắt rễ trong nhận thức của nhiều người trong xã hội và trở thành lực cản trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch trên mọi lĩnh vực Định kiến giới

có tác động về vị trí, thái độ và những hoạt động của nam và nữ, đặc biệt là hạn chế những mong muốn, dự định phát triển cá nhân và cả việc đón nhận những cơ hội và điều kiện phát triển, đặc biệt là đối với nữ giới

Vì vậy, để thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến về giới phải có sự tham gia của toàn xã hội, hướng vào việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và

nữ Trong chính sách và kế hoạch phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực cần phải có sự bình đẳng giữa nam, nữ và xóa bỏ tác động của định kiến giới

1.2 Phương pháp tính toán các chỉ số bình đẳng giới

Trang 20

- Kiến thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn từ 15 – 55 tuổi biết chữ (với quyền số 2/3) và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3)

- Một mức sống tử tế, được đo bằng GDP thực tế đầu người theo phương pháp sức mua tương đương (PPP USD)

Để tính chỉ tiêu HDI, trước hết phải tính chỉ số của từng phần nêu trên là chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục và chỉ số GDP Các giá trị biên (giá trị tối đa và giá trị tối thiểu) được tổ chức UNDP thống nhất chọn cho từng chỉ số:

Giá trị thực - giá trị tối thiểu

Chỉ số thước đo =

Giá trị tối đa – giá trị tối thiểu

Bảng 1.1 Các giá trị biên để tính chỉ số HDI

Trang 21

Chỉ số tuổi thọ + Chỉ số giáo dục + Chỉ số GDP Chỉ số HDI =

3

1.2.1.1 Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP

Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product – GDP) là giá trị hàng hóa và

dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong khoảng thời gian một năm Thuật

ngữ “hàng hóa và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hóa

và dịch vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm

Khi so sánh các số liệu thống kê kinh tế giữa các nước, các số liệu trước hết phải

được chuyển về cùng một đơn vị tiền tệ Để so sánh mức độ GDP thực tế tính trên đầu

người giữa các nước trước hết GDP thực tế của các nước phải được tính theo tỷ giá

trao đổi theo sức mua tương đương (Purchasing Pwer Parity - PPP) Phương pháp

chuyển đổi GDP thực tế của các nước theo tỷ giá PPP loại trừ được sự khác biệt về

mức giá giữa các nước Qua đó cho phép so sánh các giá trị thực tế về thu nhập giữa

các nước

Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP được tính bằng chỉ tiêu GDP thực tế bình quân đầu

người theo sức mua tương đương Trong chỉ số HDI, thu nhập đóng vai trò là đại diện

cho mọi thước đo khác về sự phát triển con người chưa được phản ánh các thước đo về

tuổi thọ hay kiến thức Thu nhập được điều chỉnh vì để đạt được một mức độ đáng kể

về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoảng thu nhập vô hạn Do đó

sẽ dùng hàm logarit để điều chỉnh khi tính chỉ số thu nhập

Trang 22

log (GDP thực tế bình quân/ người - log (100)

Chỉ số GDP thực tế =

đầu người log (40.000) - log (100)

1.2.1.2 Chỉ số tuổi thọ

Tuổi thọ trung bình của dân số là số năm trung bình mà một đứa trẻ khi sinh ra có

thể sống được nếu như trong cuộc đời của mình, đứa trẻ đó có mức độ chết (nguy cơ

chết) theo độ tuổi giống như mức độ chết theo độ tuổi (tỷ suất đặc trưng theo tuổi) của

thời kỳ lập bảng sống

Bảng sống là một biểu thống kê bao gồm những chỉ tiêu mô tả một cách hoàn thiện

nhất mức độ chết của dân số Nhờ bảng sống ta có thể mô tả “trật tự chết” của một tập

hợp dân số trong suốt cuộc đời kể từ khi sinh ra

Tuổi thọ trung bình của dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản của bảng sống,

được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được (tổng số năm người

sống TR 0 R) chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó ( IR 0 R)

Chỉ số tuổi thọ trung bình đo thành tựu tương đối về tuổi thọ bình quân tính từ lúc

sinh của một quốc gia hay địa phương Công thức tính chỉ số tuổi thọ bình quân như

Trang 23

1.2. 1.3 Chỉ số giáo dục

Chỉ số giáo dục (CSGD) là một loại thước đo thành tựu của một nước, một địa

phương trên 2 yếu tố: một là tỷ lệ người lớn biết chữ (a); hai là tỷ lệ nhập học các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học (b)

(a) Tỷ lệ người lớn biết chữ được hiểu là tỷ lệ % người từ 15 đến 55 tuổi được công nhận thoát nạn mù chữ Nhằm có dữ liệu để phân tích tình trạng biết chữ của người lớn, người ta cố gắng không những chỉ xác định tỷ lệ trên theo từng địa phương (tỉnh thành, quận, huyện, vùng thành thị, vùng nông thôn) mà còn theo giới tính, theo dân tộc, theo từng độ tuổi(15-19, 20-24, 25-29,.v.v…), theo tôn giáo, theo nhóm nghề…Cơ sở dữ liệu tốt nhất để đưa vào phân tích là số liệu Tổng Điều tra dân số được tiến hành 10 năm 1 lần vào ngày 1 tháng 4 năm cuối cùng mỗi thập kỷ Trong các năm còn lại, số liệu của điều tra mẫu suy rộng để đảm bảo độ chính xác cao hơn số liệu báo cáo về người mù chữ của các phường, xã

Vậy để tính tỉ lệ người lớn biết chữ ta cần phải làm như sau:

- Tính g iá trị thực người lớn biết chữ

Giá trị thực người lớn biết chữ = Số người trong độ tuổi 15-55 tuổi biết chữ / Tổng

số người trong độ 15-55 tuổi

- Tính tỉ lệ người lớn biết chữ

Tỉ lệ người lớn biết chữ (a) = (Giá trị thực người lớn biết chữ – Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ)/ (Giá trị tối đa người lớn biết chữ – Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ)

Trong đó: Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ = 0 %

Giá trị tối đa người lớn biết chữ = 100%

Trang 24

Tỉ lệ người lớn biết chữ (a)= (Giá trị thực người lớn biết chữ - 0)/ (100 – 0)

(b) Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, do những khó khăn trong vấn đề điều tra trong phạm vi từng địa phương nên tỷ lệ nhập học của các cấp chỉ tính tỷ lệ % đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong dân cư từ 6 đến 17 tuổi, không tính tỷ lệ học đại học Do cách tính này nên tỷ lệ nhập học các cấp của Việt Nam tính được khá cao

Tỷ lệ nhập học hay tỷ lệ huy động đi học cũng có 2 khái niệm:

-Tỷ lệ đi học thô hay tỷ lệ đi học chung cấp học X, là tỷ lệ phần trăm giữa số trẻ

em đang học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tổi cấp học X Như vậy cứ đi

học thì tính là đã được huy động vào trường học, dù học trễ tuổi Ví dụ người 13 tuổi

còn học ở tiểu học, 17 tuổi còn họ trung học cơ sở, 20 tuổi còn học trung học phổ thông vẫn cứ được tính

-Tỷ lệ đi học ròng (tỷ lệ huy động tinh) hay tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp học X, là

tỷ lệ phần trăm giữa số trẻ em trong độ tuổi cấp học X đang học cấp học X so với tổng

số trẻ em trong độ tuổi cấp học X Nghĩa là nếu điều tra thống kê diễn ra trong quý 4 của năm thì 6 tuổi đã phải vào lớp 1 và 10 tuổi phải đang học lớp 5, 11 tuổi phải đang học lớp 6 còn 14 tuổi phải đang học lớp 9, 15 tuổi phải đang học lớp 10 và 17 tuổi phải đang học lớp 12 Còn nếu điều tra vào quý 1, 2 và 3 trong năm thì trẻ 7 tuổi đang học lớp 1, trẻ 8 tuổi đang học lớp 2,…,trẻ 12 tuổi đang học lớp 6, trẻ 16 tuổi đang học lớp

9, trẻ 18 tuổi đang học lớp 12 là học đúng tuổi Trường hợp đi học trễ tuổi phải được loại ra

Tính theo tỷ lệ đi học ròng khiến tỷ lệ huy động vào từng cấp xuống thấp do nhiều học sinh đã bị ở lại lớp hoặc đi học trễ so với độ tuổi quy định cho mỗi cấp

Trang 25

Cần lưu ý là học sinh và nhất là sinh viên chuyển vùng để học là tất yếu nên khi thống kê số lượng huy động để tính tỷ lệ, sẽ có những địa phương bị “thiệt” và những địa phương được “lợi” Địa phương nào có học sinh chuyển đi qua địa phương khác học sẽ có tỷ lệ huy động xuống thấp, trong khi địa phương nhận về thì có tỷ lệ huy động cao giả tạo Tình trạng này có thể dược khắc phục nếu ngành giáo dục quản lí được các dữ liệu về học sinh và sinh viên trên mạng máy tính Khi đó, hoàn toàn có thể thống kê chính xác số trẻ em được huy động đi học theo hộ khẩu thường trú nên không

có tình trạng thiệt và lợi của từng địa phương nữa Trong khi chưa nối mạng được thì điều tra mẫu rồi suy rộng ra cho hình ảnh chính xác hơn là dựa vào báo cáo của từng Phòng Giáo Dục – Đào Tạo, vì cách tính này thống kê tất cả học sinh đang học trong trường của quận, huyện mà không loại ra các học sinh nơi khác chuyển đến

Điều đáng lưu ý nữa là cách xác định dân số từng độ tuổi Trên phạm vi toàn quốc,

10 năm 1 lần mới có dịp Tổng điều tra dân số, còn lại thì trong những năm khác, việc xác định dân số là một việc không dễ dàng và sai số có thể lớn khiến cho tỷ lệ huy động được tính bị sai lệch (thường là tỷ lệ được nâng cao lên) Điều này khiến cho việc xác định chỉ số (b) kém tin cậy

Vậy để tính tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, THCS, THPT ta cần làm như sau:

Trang 26

Tỉ lệ nhập học cấp tiểu học = (Giá trị thực nhập học cấp tiểu học – Giá trị tối thiểu

tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục) / (Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục - Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục)

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Tỉ lệ nhập học cấp tiểu học = (Giá trị thực nhập học cấp tiểu học – 0) / (100 - 0) Bước 2: Tính tỉ lệ nhập học cấp THCS (y)

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Tỉ lệ nhập học cấp THCS = (Giá trị thực nhập học cấp tiểu học – 0) / (100 - 0) Bước 3: Tính tỉ lệ nhập học cấp THPT (z)

+ Tính giá trị thực nhập học cấp THPT

Giá trị thực nhập học cấp THPT = Số người trong độ tuổi 15-17 tuổi đang học THPT / Tổng số người trong độ tuổi 15-17 tuổi

Trang 27

+ Tính tỉ lệ nhập học cấp THPT

Tỉ lệ nhập học cấp THPT = (Giá trị thực nhập học cấp THPT – Giá trị tối thiểu tỉ lệ

nhập học các cấp giáo dục) / (Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục - Giá trị tối

thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục)

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Có thể thấy tỷ lệ người lớn biết chữ được gán cho hệ số gấp đôi tỷ lệ nhập học các

cấp nên giữ vai trò quyết định giá trị của CSGD CSGD lớn nhất là bằng 1 và nhỏ nhất

là bằng 0 CSGD càng gần giá trị 1 chứng tỏ địa phương phát triển giáo dục càng tốt

Trang 28

1.2.2 Các chỉ số về bình đẳng giới

1.2.2.1 Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index - GDI):

Chỉ số GDI phản ánh tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ theo các thước đo sau:

 Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc sinh

 Kiến thức, được đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học

 Mức sống khá, được đo bằng thu nhập kì vọng ước tính (PPP USD)

Muốn tính GDI cần 3 bước:

Bước 1: các chỉ tiêu nữ và nam trong mỗi thước đo được tính theo công thức chung: Chỉ số thước đo A a

a A m

Bước 2: các chỉ tiêu nữ và namtrong mỗi thước đo được tổng hợp theo cách làm chỉ

có những khác biệt trong thành tựu đạt được của nam và nữ chỉ số hệ quả, được gọi là chỉ số phân bổ công bằng, được tính theo công thức chung sau:

Trang 29

[ ] [ ]

{ −∈ −∈} − ∈

× +

1 1

(2) cho kết quả là giá trị trung bình hài hòa của các chỉ tiêu giữa nam và nữ

Bước 3: Chỉ số GDI được tính bằng cách tổng hợp các chỉ số phân bổ công bằng thành một giá trị bình quân phi gia quyền

Trang 30

Bảng 1.2 Các giá trị tới hạn để tính GDI:

đa

Giá trị tối thiểu Tuổi thọ bình quân của nữ

Ước tính (PPP USD) 40.000 100 Chỉ số này hiện nay chưa thể tính toán được do chưa có thống kê cụ thể về mức thu nhập giữa hai giới nên không thể tính toán được chỉ số phân bổ công bằng trong thu nhập Vì vậy, ở mức độ đề tài này, tôi tập trung tính toán về chỉ số phân bổ công bằng trong giáo dục

1.2.2.2 Các chỉ số về bình đẳng giới trong giáo dục

a Tính toán tỉ lệ nhập học các cấp theo giới

Đo lường tỷ lệ đi học trở nên phức tạp vì trẻ em trải qua các lớp học với tốc độ khác nhau Một số em kết thúc mười hai năm học phổ thông trong vòng mười hai năm, trong khi đó có những em cần thêm một hay hai năm nữa vì bị lưu ban hay vì bỏ học Bên cạnh đó, trẻ em bắt đầu đi học ở những độ tuổi khác nhau vì những nguyên nhân khác nhau

Trang 31

Để giải quyết những phức tạp đó, có rất nhiều số đo tiêu chuẩn khác để xác định tỷ

lệ đi học theo mức độ dân cư Đánh giá sự kết hợp giữa các tỷ lệ đó cho phép có được một hình ảnh đầy đủ hơn các bước tiến mà hệ thống giáo dục tạo ra trong việc đi học của học sinh Những định nghĩa này sử dụng theo các định nghĩa đã được tổng cục thống kê dùng trong điều tra mức sống

Tỉ lệ đi học chung (GER): xác định tổng số học sinh, sinh viên ở một cấp lớp

học sinh được xác định sẽ được theo học ở cấp lớp đó theo đúng độ tuổi Công thức tính như sau:

Tổng số học sinh đi học ở cấp lớp X

GER =

Tổng số học sinh được xem là sẽ đi học ở cấp lớp X

(theo đúng tuổi) Tổng tỉ lệ nhập học vượt quá 100% chỉ ra rằng có những học sinh hay sinh viên nằm ngoài nhóm tuổi lí thuyết theo học ở cấp học đó

Tỷ lệ đi học đúng tuổi (NER): tập trung vào số học sinh được xác định là sẽ đi

học ở cấp lớp xác định Tỷ lệ này được xác định bằng công thức:

Tổng số người trong nhóm tuổi học cấp lớp X

(hiện đang học tại cấp lớp X) NER = _ Tổng số người được xác định là phải đinh học ở cấp lớp X

(theo đúng tuổi cho cấp lớp X)

Trang 32

Tỷ lệ này luôn bằng hay thấp hơn 100 Đây được xác định là một thước đo hiệu quả của hệ thống giáo dục và khả năng để duy trì học sinh tiếp tục học trong hệ thống giáo dục và học đúng cấp lớp theo độ tuổi mong muốn

Tỉ lệ nhập học các trường tiểu học, trung học và đại học: số học sinh, sinh

viên ở các cấp tiểu học, trung học và đại học, không kể tuổi tác được tính theo phần trăm của dân số thuộc nhóm tuổi (về mặt lí thuyết) tương ứng với ba cấp học đó

Tỉ lệ nhập học tổng hợp: trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, do những khó

khăn trong vấn đề điều tra của từng địa phương nên tỉ lệ nhập học các cấp chỉ tính tỉ lệ

% đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong dân cư từ

6-17 tuổi, không tính tỉ lệ học đại học Do cách tính này nên tỉ lệ nhập học các cấp của Việt Nam khá cao

Tỉ lệ đi học thô: hay tỉ lệ đi học chung cấp học X, là tỉ lệ phần trăm giữa số trẻ

em đang đi học cấp học X so với tổng số trẻ trong độ tuổi cấp học X Như vậy cứ đi học thì tính là đã được huy động vào trường học, dù học trễ tuổi

Tỉ lệ đi học ròng: hay tỉ lệ đi học đúng tuổi cấp học X, là tỉ lệ phầm trăm giữa

số trẻ em trong độ tuổi cấp học X đang theo học cấp học X so với tổng số trẻ em trong

độ tuổi cấp học X

Tỉ lệ nhập học các cấp theo giới: tính tỉ lệ nhập học các cấp theo từng giới,

nhằm so sánh cơ hội được tiếp cận với các cấp giáo dục của từng giới

b Tính toán chỉ số phân bổ công bằng giáo dục theo giới

Bước 1: các chỉ số về người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục: tiểu học, trung học, đại học được tính riêng cho nữ và nam Việc tính các chỉ số này rất dễ dàng vì các chỉ tiêu đã được chuẩn hóa giữa 0 và 100

Trường hợp Ixraen:

Trang 33

Chỉ số giáo dục của nam bằng: 3 0.821 0.926

1 978 0 3

2

=

× +

Trang 34

tuổi đó, ở một quốc gia, một lãnh thổ hay một khu vực địa lí tại một thời điểm cụ thể, thường là giữa năm

Tỉ lệ nhập học: là tổng số học sinh, sinh viên ở một cấp học nhất định, không kể tuổi tác, được tính theo phần trăm của dân số thuộc nhóm tuổi (về mặt lí thuyết) tương ứng với cấp học đó Đối với bậc đại học, đó là nhóm dân số trên 5 tuổi so với tuổi tốt nghiệp phổ thông Tổng tỉ lệ nhập học vượt quá 100% chỉ ra rằng có những học sinh hay sinh viên nằm ngoài nhóm tuổi lí thuyết theo học ở cấp học đó

Tỉ lệ nhập học các trường tiểu học, trung học và đại học: số học sinh, sinh viên ở các cấp tiểu học, trung học và đại học, không kể tuổi tác được tính theo phần trăm của dân số thuộc nhóm tuổi (về mặt lí thuyết) tương ứng với ba cấp học đó

Tỉ lệ nhập học tổng hợp: trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, do những khó khăn trong vấn đề điều tra của từng địa phương nên tỉ lệ nhập học các cấp chỉ tính tỉ lệ % đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong dân cư từ 6-17 tuổi, không tính tỉ lệ học đại học Do cách tính này nên tỉ lệ nhập học các cấp của Việt Nam khá cao

Tỉ lệ đi học thô: hay tỉ lệ đi học chung cấp học X, là tỉ lệ phần trăm giữa số trẻ

em đang đi học cấp học X so với tổng số trẻ trong độ tuổi cấp học X Như vậy cứ đi học thì tính là đã được huy động vào trường học, dù học trễ tuổi

Tỉ lệ đi học ròng: hay tỉ lệ đi học đúng tuổi cấp học X, là tỉ lệ phầm trăm giữa số trẻ em trong độ tuổi cấp học X đang theo học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tuổi cấp học X

c Một số chỉ số khác về bình đẳng giới

Khoảng cách giới: là khái niệm dùng để chỉ sự chênh lệch, sự khác biệt về mặt xã

hội có thể lượng hóa được giữa nữ và nam Khoảng cách giới có thể trở thành bất bình đẳng giới trong những điều kiện nhất định

Trang 35

Chỉ số cân bằng giới: Phản ánh mức độ tiếp cận giáo dục của nữ so với mức độ

tiếp cận giáo dục của nam, GPI nhỏ hơn 1 có nghĩa là nữ được tiếp cận giáo dục ít hơn

so với nam giới

Để tính toán về mức độ bình đẳng giới trong giáo dục, ngoài những chỉ số đã nêu ở trên, có thể tính toán thêm khoảng cách giới (hoặc là chỉ số cân bằng giới) về các chỉ tiêu sau:

Tỉ lệ phầm trăm dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ

Dân số từ 15 tuổi trở lên đã, đang và đã từng qua đào tạo nghề nghiệp nhằm đo đạc mức độ bình đẳng về vấn đề tiếp cận với các chương trình đào tạo nghề nghiệp của hai giới trong độ tuổi lao động

Tỉ lệ về giáo viên làm việc theo các cấp học theo giới để tìm hiểu mức độ chênh lệch giữa giáo viên nam và giáo viên nữ theo các cấp học khác nhau

1.3 Một số vấn đề về bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới Theo một báo cáo của UNICEF, vào tháng 12 năm 2006, nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập của tổ chức này, việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới

và nâng cao vị thế của phụ nữ sẽ tạo ra một sự tác động sâu sắc và tích cực đến sự sống còn và phát triển của trẻ em Bà Ann M Veneman – Giám đốc điều hành UNICEF phát biểu: “Khi vị thế của người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sống đầy đủ và hữu ích, trẻ em và giáo dục họ sẽ trở nên thịnh vượng”

Theo báo cáo này, mặc dù trong những thập kỉ gần đây đã có một số tiến bộ về vị thế của phụ nữ nhưng cuộc sống của hàng triệu trẻ em gái và phụ nữ vẫn bị đe dọa bởi

sự phân biệt đối xử, việc bị tước quyền và nghèo khổ Hậu quả của sự phân biệt đối xử

là trẻ em gái ít có cơ hội được học hơn Ở các nước đang phát triển, gần như 1/100 trẻ

em gái đi học ở trường tiểu học sẽ không theo học được hết cấp Trình độ học vấn, theo

Trang 36

báo cáo, tương quan đến sự cải thiện về các nguồn lực đầu tư cho sự sống còn và phát triển của trẻ em

Sự phân biệt giới trong lĩnh vực giáo dục thường diễn ra gay gắt nhất trong nhóm nước nghèo Một nghiên cứu gần đây về tỉ lệ đến trường của các bé gái và bé trai ở 41 quốc gia đã cho thấy, trong những nước này, sự phân biệt về giới trong tỉ lệ đến trường giữa nhóm nghèo thường lớn hơn giữa những nhóm không nghèo Tuy sự bình đẳng trong giáo dục đã có sự cải thiện rõ rệt trong vòng 30 năm qua ở các nước ngày nay còn phụ thuộc diện thu nhập thấp, nhưng sự chênh lệch về số nam và nữ đến trường ở những nước này vẫn lớn hơn ở các nước có thu nhập trung bình và cao Mặc dù giữa phát triển kinh tế và bình đẳng giới có mối quan hệ nhất định, sự hiện diện của phụ nữ trong thu nhập quốc nội vẫn còn khiêm tốn

Trong thông điệp nhân kỷ niệm 100 năm ngày quốc tế phụ nữ (8-3), Tổ chức phụ

nữ LHQ (UN Women) khẳng định bất bình đẳng giới đang là bức tường vô hình nhưng rất cứng rắn ngăn cản khát vọng vươn lên của phụ nữ ở nhiều nước.Vì vậy, đã đến lúc thế giới cần hành động ngay để biến những cam kết về bình đẳng giới thành hiện thực

UN Women nêu rõ, nếu cách đây 100 năm chỉ có hai nước cho phép phụ nữ tham gia bầu cử, thì ngày nay, phụ nữ trên thế giới đã đạt được những thành quả lịch sử về các quyền pháp lý trên con đường dài tiến tới bình đẳng giới Những thành quả này thực sự là một trong những cuộc cách mạng xã hội sâu sắc nhất trên thế giới Quyền bầu cử và quyền được đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong chính phủ và nhà nước của nữ giới đã được đảm bảo trên mọi châu lục Hiện 2/3 số nước trên thế giới đã ban hành luật nghiêm trị những kẻ bạo hành phụ nữ, và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã coi bạo lực tình dục là một chiến thuật chiến tranh có chủ đích

Tuy nhiên, bà Michelle Bachelet, Phó tổng Thư ký Liên hợp quốc, Giám đốc chấp hành UN Women, nhấn mạnh để đạt được sự bình đẳng giới trên toàn cầu, các nước

Trang 37

phải tiếp tục vượt qua một chặng đường dài Hiện phụ nữ chiếm tới 70% số người mù chữ trên thế giới, trong khi cơ hội đến trường của trẻ em gái ít hơn so với trẻ em trai Trung bình cứ 90 giây lại một thai phụ tử vong Ở nhiều nước, phụ nữ không được tiếp cận bình đẳng so với nam giới về đất đai và các quyền sở hữu cơ bản khác

Tỷ lệ nữ giới tại các cơ quan lập pháp là 19%, tỷ lệ này trong giới các nhà thương lượng hòa bình thậm chí còn thấp hơn rất nhiều (8%), và hiện nữ giới mới chỉ chiếm 28% trong tổng số người đứng đầu Nhà nước và chính phủ trên toàn cầu

Ngoài ra, việc làm cho phụ nữ hiện nay chủ yếu vẫn giới hạn ở các khu vực lương thấp, dễ bị tổn thương, thời gian lao động kéo dài và làm việc theo hợp đồng lao động không chính thức Trong khi đáng lẽ ra những phụ nữ được đào tạo tốt phải ở các vị trí xứng đáng để phát huy tài năng trong nghiên cứu khoa học công nghệ, trong phát triển kinh tế công bằng và bền vững cũng như trong kinh doanh quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt hiện nay

Thông điệp nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ của UN Women khẳng định Tiềm năng, kỹ năng, sự thông minh cũng như các phẩm chất cao quý khác của phụ nữ hiện vẫn là nguồn tài nguyên lớn nhất chưa được phát huy hết Nhân loại đang phải trả giá cho sự bất bình đẳng đối với nữ giới, vì không phát huy được tài năng và tiềm lực của một nửa thế giới Bất bình đẳng giới phá hoại chất lượng của các nền dân chủ, gây tổn hại tới sức mạnh của các nền kinh tế, sự lành mạnh của xã hội cũng như sự bền vững của hòa bình Ngày 13-1-2011, Quốc hội Pháp đã thông qua dự luật về tăng cường bình đẳng giới trong các doanh nghiệp ở Pháp Theo dự luật trên, trong vòng 6 năm tới các công

ty lớn ở Pháp đẩy mạnh cải thiện bình đẳng giới trong việc cơ cấu bộ máy lãnh đạo, theo đó 40% vị trí lãnh đạo của công ty phải được dành cho phụ nữ Năm 2010, tỷ lệ phụ nữ trong ban lãnh đạo các doanh nghiệp ở nước này mới chỉ đạt 15%

Trang 38

1.3.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu to lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết , chỉ thị của Đảng , trong hiến pháp qua các thời kỳ và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý , tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Đặc biệt, ngày 29/11/2006 Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 10/2007/CT- TTg ngày 3/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới ; Nghị định số :70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới; Nghị định số : 48/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới Trong đó quy định cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới là Bộ Lao động thương binh xã hội

Quốc hội đã phân công Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội là cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định về lồng ghép giới trong các văn bản quy phạm pháp luật

Trong những năm qua công tác bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã có sự tham gia của cả nam và nữ vào cơ quan quản lý, lãnh đạo các cấp trong bộ máy nhà nước

Tỉ lệ thất nghiệp của lao động nữ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm xuống còn 5,29% Tỷ lệ nhập học và tốt nghiệp của học sinh nam và nữ trong tất cả các cấp bậc học gần như tương đương, tỉ lệ mù chữ ở nam và nữ đã giảm đáng kể Tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, huy động mạnh mẽ các nguồn lực khác trong xã hội đã góp phần đưa tỉ lệ phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tế lên hơn 90% Trên 50% số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo , 45% phụ nữ được vay vốn

Trang 39

từ ngân hàng chính sách xã hội đã góp phần mạnh mẽ trong thành quả giảm nghèo ở Việt Nam

Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là quốc gia đạt được sự thay đổi đổi nhanh tróng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á( mục tiêu thứ 3 trong 8 mục tiêu thiên niên kỷ)

Tuy nhiên với nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế bất cập: nguyên tắc bình đẳng giới chưa được cụ thể hóa toàn diện và triệt để trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, một số quy định được ban hành nhưng thiếu chế tài, biện pháp , nguồn lực và cơ chế đủ mạnh để bảo đảm thực hiện Chênh lệch về tỉ lệ nam nữ tham gia quản lý , lãnh đạo ở các cấp khá cao( phụ nữ chưa bằng 1/3 nam giới) Tỉ lệ nữ là lao động phổ thông và công nhân chưa qua đào tạo cao hơn nam giới 1,5 lần Lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ bằng 42% so với lao động nam Thu nhập bình quân của lao động nữ bằng khoảng 79% lao động nam

Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm đầy đủ Công việc gia đình vẫn được coi là công việc không được trả công và phần lớn đều do phụ nữ đảm nhận

Tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề.Tình trạng ngược đãi, bạo lực, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái vẫn tồn tại

Thực hiện nghị quyết số 11 /NQ-TW của TW Đảng về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Tổng Liên đoàn LĐVN đã xây dựng chương trình hành động số 190 /CTr-TLĐ ngày 30/1/2008 Riêng năm 2007 và 2008, Ban Nữ công TLĐ, với chức năng tham mưu giúp BCH, ĐCT TLĐ những vấn đề về giới, bình đẳng giới, công tác vì sự tiến bộ phụ nữ, thông qua các dự án do quốc tế tài trợ và chương trình hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ đã tổ chức một số lớp tập huấn, hội thảo về giới, lồng

Trang 40

ghép giới trong hoạt động công đoàn, trong tuyên truyền về chính sách, trong công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình… thu hút hơn 1000 lượt cán bộ tham gia

Đã có sự chuyển biến quan trọng ở các lớp tập huấn, hội thảo về bình đẳng giới Nếu trước đây còn có quan niệm vấn đề giới, bình đẳng giới là của chị em nên hầu hết chỉ có cán bộ nữ tham dự thì nay đối tượng tham dự đã có cả nam giới, cán bộ lãnh đạo công đoàn Một số lớp đã có cán bộ quan lý, đại diện người sử dụng lao động tham dự Việc cử đại biểu nam giới tham dự đã giúp cho các hội thảo về giới, bình đẳng giới thu được những thành công bước đầu Thông qua các hội thảo, tầm quan trọng của vấn đề thực hiện bình đẳng giới đã được thừa nhận

Vấn đề giới có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động với những cấp độ khác nhau, vì vậy cần nâng cao trách nhiệm cá nhân, tổ chức trong việc nghiên cứu các kỹ năng lồng ghép vấn đề giới vào trong các chương trình, kế hoạch và hoạt động của CĐ

Mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu , nhưng vẫn còn nhiều khó khăn bất cập cho hoạt động này, thể hiện trên các vấn đề sau: Nhận thức, thái độ và hành vi mang tính định kiến giới còn tồn tại ngay trong cả cán bộ công chức Khoảng cách giữa những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về bình đẳng giới nói riêng với việc thực thi trên thực tế còn tồn tại khá lớn Thiếu thông tin, dữ liệu tách biệt giới tính

và trách nhiệm thực hiện lồng ghép giới chưa được quán xuyến đầy đủ; thiếu các hướng dẫn mang tính kỹ thuật để hình thành kỹ năng cho việc lồng ghép giới Nhiều cán bộ vẫn lúng túng trong việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đang quản lý hoặc đang thực hiện

Bình đẳng giới trong giáo dục ở Việt Nam

Bình đẳng giới là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của mỗi xã hội Đây vừa là mục tiêu, vừa là yếu tố góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã

hội ổn định và bền vững của mỗi quốc gia

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các giá trị biên để tính chỉ số HDI - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 1.1. Các giá trị biên để tính chỉ số HDI (Trang 20)
Bảng 1.2. Các giá trị tới hạn để tính GDI: - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 1.2. Các giá trị tới hạn để tính GDI: (Trang 30)
Bảng 1.3. Tỉ lệ % dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ theo giới và vùng - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 1.3. Tỉ lệ % dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ theo giới và vùng (Trang 42)
Bảng 2.2. Tổng hợp về hệ thống giáo dục trung học cơ sở - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2. Tổng hợp về hệ thống giáo dục trung học cơ sở (Trang 58)
Bảng 2.3. Tổng hợp về hệ thống giáo dục trung học phổ thông - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3. Tổng hợp về hệ thống giáo dục trung học phổ thông (Trang 59)
Bảng 2.5. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã, đang, và đã - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã, đang, và đã (Trang 71)
Bảng 2. Tỉ lệ trẻ em từ 5-9 tuổi chưa bao giờ đi học - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Tỉ lệ trẻ em từ 5-9 tuổi chưa bao giờ đi học (Trang 105)
Bảng 9. Tỉ lệ người lớn biết chữ (dân số trên 15 tuổi) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 9. Tỉ lệ người lớn biết chữ (dân số trên 15 tuổi) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, (Trang 109)
Bảng 12. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 12. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Trang 110)
Bảng 13. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên khu vực nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 13. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên khu vực nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Trang 111)
Bảng 18. Tỉ lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 18. Tỉ lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng (Trang 114)
Bảng 17. Tỉ lệ nhập học tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2009. (%) - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 17. Tỉ lệ nhập học tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2009. (%) (Trang 114)
Bảng 19. Chỉ số phân bổ công bằng trong giáo dục tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2009. - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 19. Chỉ số phân bổ công bằng trong giáo dục tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2009 (Trang 115)
Bảng 22. Tổng hợp các chỉ số về giáo viên, cán bộ công nhân viên bậc trung học cơ - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 22. Tổng hợp các chỉ số về giáo viên, cán bộ công nhân viên bậc trung học cơ (Trang 117)
Bảng 24. Chỉ số cân bằng giới về tỉ lệ giáo viên và quản lí giáo dục tỉnh Bà Rịa – - vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục ở bà rịa vũng tàu thực trạng và giải pháp
Bảng 24. Chỉ số cân bằng giới về tỉ lệ giáo viên và quản lí giáo dục tỉnh Bà Rịa – (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w