Trong L ịch sử điện ảnh thế giới, tác giả Iêc-Gi Te-Plix viết: “Điện ảnh với hình thức phổ biến nhất của nó là phim truyện,…là giai đoạn hiện đại của sự phát triển nghệ thuật kể chuyện,…
Trang 1Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện
điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh-2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN BÍCH THỦY
TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện
điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62 22 34 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh-2012
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan nội dung của luận án này được hình thành và phát triển từ những quan điểm của cá nhân tôi, được xuất phát từ yêu cầu trong công tác giảng dạy tại trường Đại học Sân khấu Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, để hình thành hướng nghiên cứu Các kết quả trình bày trong luận án
là trung thực và chưa từng được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Phan Bích Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 3
MỤC LỤC 4
CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN 7
MỞ ĐẦU 8
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 8
2.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 19
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 19
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂN THỂ 20 TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 20 1.1 VĂN HỌC - ĐIỆN ẢNH VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ 20
THUẬT 20
1.1.1 NGHỆ THUẬT VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT 20
1.1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 22
1.2 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NHẤT CÙNG 23
MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI 23
1.3 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ TƯƠNG ĐỒNG 26
1.3.1 SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA HAI LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VĂN 26
HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 26
1.3.2 SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ GIỮA THỂ LOẠI TRUYỆN (VĂN HỌC) VÀ PHIM TRUYỆN (ĐIỆN ẢNH) 46
1.4 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ KHÁC BIỆT 61
1.4.1 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG HÌNH THÁI HỌC NGÔN NGỮ 61
1.4.2 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG CHỦ THỂ SÁNG TẠO 66
1.4.3 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG TÂM LÝ SÁNG TÁC VÀ CẢM THỤ 68 1.4.4 KHÁC BI ỆT VỀ PHƯƠNG THỨC PHƯƠNG TIỆN TẠO RA TÁC 71
PHẨM 71
Trang 5CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM
TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 76
2.1 CƠ CHẾ SÁNG TẠO PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 76
2.1.1 NHÀ VĂN VÀ TÁC PHẨM VĂN HỌC CHUYỂN THỂ 76
2.1.2 BA NGÀNH CHỨC NĂNG TRONG SÁNG TẠO PHIM TRUYỆN 79
2.2 NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN ĐIỆN ẢNH 97
2.2.1 XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 97
2.2.2 XÂY DỰNG HOÀN CẢNH ( BỐI CẢNH ) 108
2.2.3 XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN 115
2.2.4 KỊCH BẢN TRONG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 122
2.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 129
2.3.1 NHỮNG CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ CHO QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHIM TRUYỆN 129
2.3.2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH 136
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ THÀNH TỰU CỦA PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC 143
3.1 NHỮNG BỘ PHIM CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC IN DẤU ẤN 143
TRONG LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH THẾ GIỚI 143
3.1.1 THỜI KỲ PHIM CÂM 144
3.1.2 THỜI KỲ PHIM CÓ ÂM THANH ĐẾN NAY 146
3.2 PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC TRONG LỊCH SỬ 153
ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM 153
3.2.1 NHỮNG BỘ PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ QUA CÁC THỜI KỲ 153
CỦA ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM 153
3.2.2 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ CỦA MỘT SỐ PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ VIỆT NAM 164
3.3 MỘT SỐ PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TIÊU BIỂU CỦA ĐIỆN 181
ẢNH VIỆT NAM 181
3.3.1 CON CHIM VÀNH KHUYÊN 181
3.3.2 CHỊ TƯ HẬU 183
3.3.3 TƯỚNG VỀ HƯU 186
3.3.4 BẾN KHÔNG CHỒNG 188
3.3.5 ĐỜI CÁT 193
Trang 63.3.6 THỜI XA VẮNG 198
3.3.7 ĐỪNG ĐỐT 202
KẾT LUẬN 208
TÀI LIỆU THAM KHẢO 214
Trang 7CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
ĐANN: Điện ảnh ngày nay (Tạp chí)
ĐAKT VN: Điện ảnh kịch trường Việt Nam (Tạp chí)
ĐATP HCM: Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh (Tạp chí)
ĐHSP.TP.HCM: Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
HN: Thủ đô Hà Nội
LHP: Liên hoan phim
LHP QG: Liên hoan phim Quốc gia
LHP QT: Liên hoan phim Quốc tế
LHP VN: Liên hoan phim Việt Nam
Trang 8cả
Các tác phẩm văn học luôn là sự tìm tòi, khám phá những bí ẩn, những trăn trở về cuộc đời, về thân phận con người để con người nghiền ngẫm, chiêm nghiệm Con người và đời người luôn là vấn đề văn học quan tâm
hàng đầu, “Lịch sử văn học chính là lịch sử tâm hồn nhân loại… nhiệm vụ
chủ yếu và lâu dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả số phận con người, khắc họa tính cách con người” (Lê Thanh Nghị) [99, tr.45]
Đó cũng là mục tiêu chung của các loại hình nghệ thuật, trong đó có điện ảnh
Vì vậy, kể từ khi nghệ thuật điện ảnh ra đời đến nay, việc chuyển thể những tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới ngày càng trở nên phổ biến và nhiều bộ phim chuyển thể văn học đã là những tác phẩm điện ảnh kinh điển
Tương tự, trong điện ảnh Việt Nam lúc hoàng kim cũng như lúc khủng khoảng, năm nào cũng có hơn một nửa số phim truyện được chuyển thể từ văn học Những kinh nghiệm của các thế hệ nhà văn, đạo diễn khi đưa tác phẩm văn học lên màn ảnh rất phong phú và có giá trị thực tiễn cao, đóng góp một phần lớn cho sự phát triển của điện ảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Số lượng phim chuyển thể từ văn học nở rộ ở hầu hết các thể loại phim truyện và luôn được người xem chào đón nhiệt tình Có nhiều nguyên nhân
Trang 9đem lại thành công cho phim truyện chuyển thể từ văn học, một nguyên nhân nổi bật không thể phủ nhận là các tác phẩm văn học đã mang đến cho phim truyện một sức mạnh nội tại mạnh mẽ, sức mạnh tư tưởng của bộ phim Tuy nhiên, so với điện ảnh thế giới những bộ phim truyện chuyển thể thành công
từ tác phẩm văn học của điện ảnh Việt Nam còn khá khiêm tốn
Chọn đề tài Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh, người viết
không ngoài mong muốn được hiểu rõ và yêu hơn vẻ đẹp lung linh từ những trang viết đến hình ảnh được tái hiện trên màn ảnh Từ đó, đi sâu tìm hiểu quá trình chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh và sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học đối với điện ảnh Cùng với các công trình khoa học khác, luận án góp thêm tiếng nói khẳng định sự ảnh hưởng của văn học đối với điện ảnh, đặc biệt những đóng góp của lí luận văn học và tác phẩm văn học trong quá trình sản xuất phim truyện điện ảnh Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao giá trị của phim chuyển thể văn học, để điện ảnh nước nhà có thêm nhiều bộ phim truyện xứng tầm trong xu thế hội nhập quốc
là “Trong nghệ thuật những chuẩn mực Chân – Thiện – Mỹ đã và đang còn lâu dài là định hướng và nội dung của sáng tạo nghệ thuật ”(Hồ Sĩ Vịnh)
[172, tr.83] Nội dung đó in dấu ấn đậm nét qua những tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể điện ảnh Đề tài nghiên cứu của luận án góp phần giúp tất cả những ai quan tâm đến vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh có thêm sự hiểu biết về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, đặc biệt các tác giả - chủ thể sáng tạo phim chuyển thể điện ảnh từ văn học
Trang 10Là một giảng viên văn học trong trường nghệ thuật, tôi luôn khát khao được chiếm lĩnh một cách đầy đủ, trọn vẹn những kiến thức văn học và điện ảnh trong quá trình sáng tạo phim truyện chuyển thể từ văn học Qua đó trau dồi thêm kiến thức văn học và điện ảnh trong quá trình giảng dạy, để truyền thụ cho sinh viên, những giá trị đích thực của tác phẩm nghệ thuật, giúp họ có định hướng đúng về tư tưởng và thẩm mỹ trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật 2.2.NHIỆM VỤ
Thông qua phim truyện điện ảnh chuyển thể, mối quan hệ giữa nghệ thuật văn học và điện ảnh ngày càng trở nên gắn bó và giá trị của tác phẩm văn học một lần nữa được khẳng định và thăng hoa Đúng như nhà văn Chu Lai nhận xét: “Văn học và điện ảnh - Cuộc nhân duyên này đã nằm ngay từ
trong bản chất ” [75, tr.23] Cho nên, việc nghiên cứu những cặp tác phẩm
văn học và điện ảnh nhằm đúc kết lí luận và thực thực tiễn, đưa ra một số nhiệm vụ sau:
- Đánh giá những ảnh hưởng tác động to lớn và tích cực của lý luận văn học và tác phẩm văn học trong việc xây dựng kịch bản văn học điện ảnh
và phim truyện chuyển thể điện ảnh
- Phân tích sự tương đồng gần gũi và khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh, để từ đó thấy được quá trình sáng tạo nghệ thuật trong văn chương và điện ảnh đều vô cùng vất vả, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có ý thức, tinh thần trách nhiệm cao
- Qua đó, giúp sinh viên, khán giả yêu nghệ thuật có thêm sự hiểu biết sâu sắc về công việc của các tác giả sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Điện ảnh xuất hiện khi những loại hình nghệ thuật khác như Điêu khắc,
Hội họa - đồ họa, Văn chương, Âm nhạc, Múa, Sân khấu đã phát triển đến độ
chín Vì vậy, điện ảnh có cơ hội vận dụng những phương tiện nghệ thuật sẵn
có, đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới hiện đại phong phú Thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công
Trang 11của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật, cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ
Trong các công trình mỹ học và lí luận nghệ thuật đã nêu rõ vấn đề
mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật Trong Mỹ học cơ bản và nâng
cao, Ôpxiannhicốp (chủ biên) đã phân tích: “Sự tác động qua lại của các
nghệ thuật dẫn tới trao đổi lẫn nhau, các thành tựu và đặc điểm đặc thù, dẫn đến ảnh hưởng của một số nghệ thuật này đến các nghệ thuật khác”, và “Đặc trưng của mỗi nghệ thuật hình thành do ảnh hưởng của toàn bộ hệ thống nghệ thuật nói chung” [112, tr.482, 484] Trong Nguyên lý lý luận văn học
của Timôphêep và Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pôxpêlốp cũng nêu vấn
đề mối quan hệ giữa văn học và các loại hình nghệ thuật Cùng nội dung trên,
có tài liệu bài giảng Văn học và các loại hình nghệ thuật của Lâm Vinh [168]
và công trình nghiên cứu của Lê Lưu Oanh [113]
Trong các loại hình nghệ thuật, văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành Điều này, thể hiện
rõ qua lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới và Việt Nam 3.1 TRÊN THẾ GIỚI
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi khoa học kỹ thuật phát triển, nghệ thuật điện ảnh ra đời Ban đầu là những trích đoạn văn học, rồi dần dần toàn bộ tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh Hàng loạt các tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh ngay từ thời kỳ phim câm Các nhà nghiên cứu điện ảnh đều khẳng định: phim truyện là sự kế thừa những phương cách xây dựng câu chuyện phim từ văn học, muốn có một bộ phim truyện, đầu tiên phải có kịch bản văn học, trước khi được quay và dựng thành
phim Trong L ịch sử điện ảnh thế giới, tác giả Iêc-Gi Te-Plix viết: “Điện ảnh với hình thức phổ biến nhất của nó là phim truyện,…là giai đoạn hiện đại của sự phát triển nghệ thuật kể chuyện,… là người kế thừa chủ yếu của tiểu thuyết” [33, tr.9]
Ngay từ năm 1915, M.Gorki nhà văn Nga nổi tiếng (người có gần 20 tác phẩm văn học được dựng thành phim) đã nhận định về sức lôi cuốn của
Trang 12nghệ thuật điện ảnh và khẳng định: “Không nghi ngờ gì nữa, tương lai nó sẽ
chiếm một địa vị xuất sắc trong đời sống” [80, tr.32] Năm 1919, V.Lênin đã
ký sắc lệnh quốc hữu hóa ngành điện nhiếp ảnh, là bước ngoặt lịch sử của điện ảnh Nga Đây là nền điện ảnh có ảnh hưởng rất lớn đến điện ảnh Việt Nam sau này, vì hầu hết các nghệ sĩ Việt Nam được đào tạo tại Liên xô cũ
Kịch bản văn học điện ảnh là biểu hiện cụ thể của tính văn học trong điện ảnh Những yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học cũng là những yếu tố cơ bản trong kịch bản văn học điện ảnh như xây dựng bối cảnh, cốt truyện và đặc biệt là tạo dựng hình tượng nhân vật… Các yếu tố trên được định hình trên giấy trước khi được chuyển hóa thành câu chuyện trên màn ảnh
Năm 1930, tuyển tập kịch bản điện ảnh đầu tiên được điện ảnh Liên
xô cho ra đời, đã khẳng định vai trò vững chắc về tư tưởng và nghệ thuật của kịch bản văn học trong sản xuất tác phẩm phim truyện điện ảnh
Năm 1935, trong bài viết Văn học với điện ảnh, nhà văn M.Gorki kêu
gọi các nhà văn nên tham gia vào công tác điện ảnh và nhà văn, đạo diễn là
“hai lực lượng không thể riêng biệt mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau” [80, tr.33]
Những chuyên luận của nhà nghiên cứu Nga M.Bakhtin như Lý luận
và thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki… Những phương
thức cơ bản trong xây dựng tác phẩm của văn học đã là tiền đề cho các tác giả điện ảnh trong việc tái hiện những câu chuyện, nhân vật từ trang sách lên
màn ảnh Trong cuốn Bàn về văn học, M.Gorki đã nhận xét: “Bằng ngôn ngữ
tiểu thuyết nhà văn có thể tác động trực tiếp đến tri giác, thính giác, xúc giác của người đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất ” [34,
tập1, tr.156] Những hình tượng nhân vật được vật chất hóa qua trí tưởng
tượng đã làm độc giả say mê, và là cơ sở khởi nguồn để các tác giả điện ảnh tạo dựng nên những nhân vật sống động trên màn ảnh Những tác phẩm văn học nổi tiếng bao giờ cũng có những nhân vật ấn tượng, khiến người xem yêu mến và mong mỏi được “gặp gỡ” nhân vật “bằng xương bằng thịt” trên màn ảnh
Trang 13Bên cạnh những công trình lý luận của văn học, những tài liệu điện ảnh
phong phú đã cung cấp khá đầy đủ những kiến thức điện ảnh cơ bản như Lịch
sử điện ảnh thế giới của Iêc-Gi Te-Plix (Vũ Quang Chính dịch) 20 bài học điện ảnh của Laurent Tirard (Hải Linh -Việt Linh dịch) Để viết một kịch bản điện ảnh của Michel Chion (Phương Thư dịch) Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình của Bruno Toussant (bản dịch), do Hội điện ảnh Việt Nam xuất bản Giáo trình chuyên ngành điện ảnh Nghệ thuật điện ảnh của David Bordwel và
Kristin Thompson (nhiều tác giả dịch), cung cấp khá toàn diện những lí luận
cơ bản và lịch sử của nghệ thuật điện ảnh gồm sáu phần: Sản xuất phát hành
và chiếu phim, Hình thức phim, Các loại hình phim, Phong cách phim, Phân tích phê bình phim, Lịch sử phim ảnh…và nhiều công trình nghiên cứu khác
Trong quá trình hình thành và phát triển, điện ảnh luôn gắn bó với văn học qua từng thời kỳ: phim câm, phim có tiếng nói, phim có màu và ngày nay
là phim hiện đại 2D, 3D, 4D… Thời kỳ nào cũng có những bộ phim chuyển thể văn học xuất sắc, để lại những dấu ấn ngoạn mục trong lịch sử điện ảnh
thế giới Đó là những tác phẩm điện ảnh mẫu mực như Cuốn theo chiều gió,
Ben Hur, Bố già, Titaníc (Mỹ), Bác sĩ Zhivago (Ý), Những người khốn khổ, Không gia đình (Pháp), Triệu phú khu ổ chuột (Anh), Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm (Nga), Thủy hử, Cao lương đỏ (Trung Quốc)…
3.2 Ở VIỆT NAM
Điện ảnh Việt Nam ra đời năm 1953, khi điện ảnh thế giới đã phát triển
ở trình độ khá hoàn chỉnh cả về màu sắc và âm thanh Gần 60 năm qua, những bộ phim truyện chuyển thể thành công của điện ảnh Việt Nam đã được
đánh giá cao trong nước và quốc tế như Chị Tư Hậu, Con chim vành khuyên,
Thời xa vắng, Tướng về hưu, Đời cát, Đừng đốt…Điện ảnh kế thừa các
phương pháp xây dựng kịch bản phim truyện từ văn học, trong đó quan trọng nhất là phương pháp tự sự, khi kể lại câu chuyện văn học lên màn ảnh Cho nên, “Trong lúc tuân theo các yêu cầu thể hiện có tính đặc thù của ngôn ngữ điện ảnh Kịch bản văn học điện ảnh vẫn không để mất những tiêu chuẩn của một tác phẩm văn học hoàn chỉnh”(Trần Luân Kim)[102, tr.3] Và“…những
Trang 14tiêu chuẩn của một tác phẩm văn học hoàn chỉnh” trong kịch bản văn học
điện ảnh đã làm nên mối quan hệ gần gũi giữa văn học và điện ảnh trong sáng tác phim truyện
Những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu văn học trong nước
như Lý luận văn học của Hà Minh Đức cung cấp cho đề tài những kiến thức lí luận về: “Nghệ thuật – Một hình thái ý thức xã hội đặc thù”, “Nghệ thuật và
đời sống xã hội ”…Công trình Văn học…xa và gần của Hoàng Ngọc Hiến
phân tích những: “Quan điểm tiếp cận văn học và quan điểm tiếp cận thực tế
của Hồ Chủ tịch”,“Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo”…Công
trình Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương của Đặng
Thai Mai cung cấp những kiến thức lý luận văn học như “Nội dung và hình
thức”,, “Ý nghĩa của hai thời kỳ lớn trong lịch sử văn học Việt Nam”… Công
trình Phê bình nghiên cứu văn học của Lê Đình Kỵ với những kiến thức lý
luận như “Chân lý nghệ thuật”, “Vấn đề là chất lượng,”…Công trình Tự sự
học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử, Tự sự học – Từ kinh điển đến hậu kinh điển, Tự sự học – Một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng của
Trần Đình Sử cung cấp những lý luận về tự sự Công trình Lý luận và văn
học của Lê Ngọc Trà, đã phân tích những vấn đề mang tính triết lý sâu sắc
như “Nghệ thuật – Tiếng nói của con người ,“Về vấn đề văn học phản ánh
hiện thực”, “Vấn đề con người trong văn học” và đặc biệt vai trò của người
“ngh ệ sĩ ” trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Công trình Lý luận văn học
xuất bản năm 2010, của Huỳnh Như Phương cung cấp những kiến thức như
“Văn học và ngôn ngữ ”, “Nhà văn và sáng tạo văn học ”, “Người đọc và tiếp nhận văn học ”… Các tài liệu, công trình khoa học trên đã đặt ra một loạt vấn
đề thiết thực, có ý nghĩa lý luận và thời sự của đời sống xã hội và đặc trưng hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam
Qua mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, văn học đã cung cấp cho điện ảnh những mẫu hình tượng nhân vật đa dạng, phong phú từ diện mạo đến tính cách Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đi sâu tìm hiểu con người Việt Nam qua nhân vật trong văn học và điện ảnh ở nhiều phương diện, gắn
Trang 15với lịch sử thăng trầm của dân tộc Mai Quốc Liên đã đề cập đến vấn đề này qua bài: Góp một cái nhìn về bản sắc dân tộc trong điện ảnh [76] Lại
Nguyên Ân với bài: Nhân xem phim Đêm hội long trì nghĩ về một lối tiếp cận
lịch sử [6, tr.395] Hồ Sĩ Vịnh với bài: Nghĩ về phim truyện Việt Nam [173]…
Các công trình lý luận về điện ảnh không nhiều như văn học, nhưng đã
cung cấp những kiến thức cơ bản về điện ảnh như Đường vào điện ảnh của
Lê Dân cung cấp một số vấn đề lý luận như“Bản sắc văn hóa dân tộc trong
tác phẩm điện ảnh”,“Thể hiện truyền thống nhân nghĩa trong phim
truyện”… Công trình Nghệ thuật làm phim, diễn viên & kịch bản của Lê Dân
đã cung cấp những kiến thức về quy trình làm phim, kịch bản và diễn viên Trong Hồi ký điện ảnh, Đặng Nhật Minh phân tích công việc của biên kịch và
đạo diễn điện ảnh và những kinh nghiệm trong quá trình làm phim Các công
trình khác như Đặc trưng ngôn ngữ điện ảnh của Bùi Phú, Lịch sử điện ảnh
cách mạng Việt Nam (sơ khảo) do Cục điện ảnh xuất bản, Tính hiện đại và
tính dân tộc trong điện ảnh của Ngô Phương Lan, Nghệ thuật quay phim điện ảnh của Dương Quang Viễn, Dạo chơi vườn điện ảnh và Ý tưởng nghề nghiệp của Việt Linh, Làm sao viết kịch bản phim của Phạm Thùy Nhân…
Năm 2011, trong Nhận thức điện ảnh, Trần Luân Kim đúc kết nhiều lý
luận sâu sắc về điện ảnh và mối quan hệ đặc biệt của điện ảnh với văn học
Nhà nghiên cứu khẳng định: “Tính văn học trong điện ảnh chiếm vị trí mấu
chốt vì nó quyết định nội dung tác phẩm, đồng thời cũng quyết định hình thức thể hiện thông qua việc xác lập thể loại và xây dựng hình tượng nhân vật.”
[55, tr.23]
Tác phẩm văn học đã trở thành nguồn nguyên liệu quý giá, phong phú,
là cơ sở vững chắc cần thiết trong xây dựng những kịch bản văn học cho phim truyện Chu Lai, một nhà văn có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đã được
đưa lên màn ảnh, nhận xét: “Một tác phẩm điện ảnh hay bao giờ cũng có một
giá trị văn học…Văn học là cái nền, điện ảnh bay lên từ cái nền vững chắc đó”[75, tr.8]
Trang 16Vấn đề này đã được nhiều nhà văn, đạo diễn và giới chuyên môn đã trao đổi qua các cuộc hội thảo, bài viết tâm huyết như Nguyễn Mai Loan với bài: Phim chuyển thể - Những khái niệm [79].Lê Cẩm Lượng với bài: Cải biên tác phẩm văn học sang kịch bản điện ảnh [78] Huyền Thanh với bài: Tác phẩm chuyển thể: những mặt mạnh và yếu [151]…
Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, nên muốn phát triển, bên cạnh kịch bản, điện ảnh còn có những vấn đề về kỹ thuật và kinh tế luôn được giới chuyên môn đặc biệt quan tâm Hải Ninh, một đạo diễn kỳ cựu nổi
tiếng đã bày tỏ quan điểm qua bài: Thử bàn về một số phong cách nghệ thuật
trong điện ảnh Việt Nam [104] Trịnh Đình Khôi với bài: Tính chuyên nghiệp của Điện ảnh hiện nay [59] Hoàng Lan với bài: Điện ảnh không thể phát triển tách rời các nghệ thuật khác [77].Trần Mai Khanh đề cập đến vấn đề về
khoa học công nghệ hiện đại qua bài: Phim 3D tương lai của nghệ thuật điện
ảnh [61] …
Các nhà văn cũng dành sự quan tâm chú ý đến điện ảnh qua nhiều bài phê bình và trao đổi các quan điểm về lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần ngày càng có nhiều phim truyện xứng tầm, đáp ứng được mong mỏi của
những người yêu nghệ thuật Nguyên Ngọc với bài: Khi nhà văn viết kịch bản
[110] Minh Trang với bài: Các nhà văn nói gì về điện ảnh [159] Thăng Long với bài: Nhà văn Ma văn Kháng: Điện ảnh và văn học cần có sự kết
hợp [82]…
Trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Những lằn ranh văn học năm 2011 do
ĐHSP TP.HCM tổ chức, có những bài viết phân tích mối quan hệ giữa văn
học và điện ảnh qua bộ phim truyện chuyển thể như Cánh đồng bất tận và
cuộc đối thoại giữa văn học - điện ảnh của Lê Thị Dương [57, tr.465], Nhìn lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, Giới của Phan Thu Vân [57,
Trang 17phim Cánh đồng bất tận của Anh Thư [164] Khoảng cách văn học – điện ảnh ở phim ‘Ngọc viễn đông’ của Thoại Hà [43], phân tích bảy câu chuyện
phim ngắn chuyển thể từ bảy truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc…
Nhận xét về sự cần thiết của tính văn học trong kịch bản văn học và
phim truyện, nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã viết: “Nói đến kịch bản là dính
đến văn xuôi Nền điện ảnh không thể hùng mạnh được khi văn xuôi kém Chính nền văn xuôi sẽ cung cấp cho điện ảnh từ hình ảnh, ngôn ngữ, tạo dựng tâm lí, tính cách nhân vật, thúc đẩy hành động, tình huống trong phim ảnh Kịch bản hay thì phim làm sẽ hay, sẽ có giá trị” [159, tr.27]
Những công trình bài viết, nhận định trên, đã gợi ý giúp người viết thực hiện hành trình đi từ nhận xét khái quát đến khảo sát chi tiết cụ thể, đầy
đủ và có hệ thống Từ đó thấy rõ vai trò và sự gắn kết của hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh trong quá trình sản xuất bộ phim truyện chuyển thể thành công
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận án nghiên cứu khảo sát từ văn bản văn học (thể truyện) đến kịch bản văn học điện ảnh và phim truyện điện ảnh chuyển thể Đối tượng chính là
- Các tác phẩm văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa
- Kịch bản và phim truyện điện ảnh chuyển thể từ tác phẩm văn học 4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Ngoài các tài liệu về lí luận, luận án chủ yếu nghiên cứu những tác phẩm văn học và phim truyện Việt Nam qua các thời kỳ hình thành và phát triển của văn học và điện ảnh Việt Nam Sau đây là một số cặp tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể tiểu biểu:
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Truyện dài Một chuyện chép ở bệnh viện và phim Chị Tư Hậu
Truyện ngắn Câu chuyện một bài ca và phim Con chim vành khuyên
Trang 18Th ời kỳ trong và sau kháng chiến chống Mỹ
Tiểu thuyết Thời xa vắng và phim cùng tên Tiểu thuyết Bến không
chồng và phim cùng tên Truyện ngắn Tướng về hưu và phim cùng tên
Truyện ngắn Ba người trên sân ga và phim Đời cát Cuốn Nhật ký Đặng
Thùy Trâm và phim Đừng đốt Truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng và phim
cùng tên…
Ngoài những tác phẩm kể trên, chúng tôi có sử dụng thêm một số tác phẩm văn học, phim truyện Việt Nam và nước ngoài, để dẫn chứng, bổ sung
và làm rõ các luận điểm nêu ra trong luận án
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận án đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu sau:
P hương pháp triết học – mỹ học nhằm nghiên cứu đặc trưng bản chất
của nghệ thuật và mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật
P hương pháp kết hợp liên ngành các khoa học lý thuyết và lịch sử (lý
luận lịch sử văn học, lý luận lịch sử điện ảnh, xã hội học, tâm lý học… )
nhằm tìm hiểu lịch sử mối quan hệ giữa hai ngành nghệ thuật văn học và điện ảnh trong quá trình sản xuất phim truyện chuyển thể từ văn học
Phương pháp loại hình và so sánh nhằm tìm hiểu những đặc trưng
tương đồng và khác biệt giữa hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh, thông qua việc tập hợp, tìm hiểu theo thể loại một số tác phẩm chuyển thể tiêu biểu
Phương pháp chọn mẫu và phân tích tác phẩm nhằm giới thiệu, phân
tích giá trị của những tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh tiêu biểu
rõ một cách hệ thống những tương đồng và khác biệt của những tác phẩm văn học gốc và phim chuyển thể trong quá trình thực hiện việc chuyển thể
Trong nghiên cứu, phương pháp triết học – mỹ học, kết hợp liên ngành
các khoa học lý thuyết và lịch sử được sử dụng đầu tiên Sau đó phương
pháp loại hình và so sánh, chọn mẫu và phân tích tác phẩm được sử dụng
Trang 19nhiều nhất Cuối cùng phương pháp hệ thống và tổng hợp được dùng để kết luận vấn đề
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Phần nghiên cứu quá trình sáng tạo phim truyện từ tác phẩm văn học chủ yếu kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây Tuy nhiên, luận
án đã cố gắng tìm hiểu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu đề cập hoặc có đề cập, nhưng chưa đi sâu Có thể tổng hợp một số đóng góp mới sau:
- Góp phần thấy rõ bản chất mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh
- Đặc trưng của việc xây dựng hình tượng nhân vật, cốt truyện, hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội và thiên nhiên từ văn học đến điện ảnh
- Bước đầu hệ thống những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần thứ nhất : MỞ ĐẦU (12 trang)
Gồm: Mục đích ý nghĩa, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Lịch sử vấn đề, Phương pháp nghiên cứu, Đóng góp mới của luận án, Cấu trúc của luận án
Phần thứ hai : NỘI DUNG (189 trang) gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh (55 trang)
Chương 2 Cơ chế và quy trình thực hiện việc chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh.(68 trang)
Chương 3 Một số thành tựu của phim truyện chuyển thể từ tác phẩm văn học (66 trang)
Phần thứ ba : KẾT LUẬN (5 trang)
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 20CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH
Hơn một thế kỷ qua, kể từ ngày nghệ thuật điện ảnh ra đời, các tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới đã lần lượt được chuyển thể thành những tác phẩm điện ảnh kinh điển Trong nền điện ảnh Việt Nam hiện đại đã từng
có những bộ phim nổi tiếng chuyển thể từ văn học như Chị Tư Hậu, Vợ
chồng A Phủ, Con chim vành khuyên, Mùa gió chướng, Ván bài lật ngửa, Người đàn bà mộng du Mê Thảo - Thời vang bóng…Vì vậy, nghiên cứu quá
trình chuyển thể từ tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh không thể không tìm hiểu một số cơ sở lí luận về mối quan hệ giữa hai loại hình nghệ
thuật văn học và điện ảnh
1.1 VĂN HỌC - ĐIỆN ẢNH VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
Qua hàng nghìn năm lịch sử, nghệ thuật đã đóng góp một vai trò to lớn trong nền văn minh vật chất và tinh thần của nhân loại Trên con đường sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, nghệ thuật với tính cách là cái đẹp vượt trội không ngừng được bổ sung, cải tiến nâng cao ngày một phong phú, đa dạng nhằm phản ánh cuộc sống và đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người Sự phong phú đa dạng đó thể hiện trong việc hình thành hệ thống các loại hình loại thể nghệ thuật từ cổ đại đến ngày nay
Trong quá trình phát triển nghệ thuật đã trải qua một chặng đường dài
từ tư duy nguyên hợp cổ đại về các nữ thần nghệ thuật đến tư duy hình thái học xác lập bảng danh mục những loại hình nghệ thuật khác nhau
Trong Mỹ học, nhà triết học Hegel đã nói đến năm ngành nghệ thuật là
kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc và thơ ca [36, tập1, tr.169-181]
Trang 21Nhà mỹ học Nga M.Cagan trong công trình Hình thái học nghệ thuật
đã đúc kết lịch sử phân loại nghệ thuật và đề xuất 3 bộ tiêu chí để phân loại
nghệ thuật: “Nghệ thuật không gian/ thời gian; nghệ thuật miêu tả/ không
miêu tả ; nghệ thuật một chức năng/ hai chức năng” [14, tr.367]
Trong Giáo t rình mỹ học, nhà mỹ học hiện đại M.F Ôpxiannhicôp đã
đưa ra một bảng danh mục gồm 13 loại hình nghệ thuật: “Văn học nghệ thuật,
kiến trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, hội họa, đồ họa, âm nhạc, nghệ thuật nhảy múa, sân khấu, nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc.” [112, tr.383]
Tiếp thu những ý kiến phân loại nghệ thuật của các nhà nghiên cứu
trong quá khứ, trong cuốn Nguyên lý mỹ học Mác Lênin tác giả người Nga
Lukin đã nhận định: “Loại hình nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động nghệ
thuật đặc biệt của con người, được phân biệt dựa theo đối tượng của sự phản ánh, dựa theo tính chất và kiểu loại hình tượng, theo phương thức thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người, theo chất liệu và theo các quy luật xây dựng hình tượng nghệ thuật đặc trưng của mình.” [113, tr.96]
Kế thừa tư tưởng phân loại của các nhà mỹ học đi trước, trong chuyên
đề Văn học và các loại hình nghệ thuật, nhà nghiên cứu Lâm Vinh đã xây
dựng 5 bộ tiêu chí và bảng danh mục hai hệ thống nghệ thuật thuần túy ( 7 loại hình) và nghệ thuật ứng dụng (14 loại hình) [168, tr.1,2] Trong đó có văn học thuần túy và điện ảnh thuần túy để phân biệt với văn học ứng dụng
và điện ảnh ứng dụng Văn học là nghệ thuật đơn vì sử dụng một hình thức ngôn ngữ là ngôn từ, điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp vì sử dụng một số hình thức ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật như văn học, nhiếp ảnh, hội họa,
âm nhạc và diễn xuất của diễn viên để sản xuất phim truyện
Tác phẩm điện ảnh được bắt đầu từ kịch bản văn học điện ảnh, là yếu
tố đầu tiên đảm bảo chất lượng của bộ phim tương lai Trong quá trình sản xuất phim truyện, giai đoạn sáng tác kịch bản văn học điện ảnh là giai đoạn thể hiện tập trung nhất mối quan hệ mật thiết giữa hai nghệ thuật văn học và điện ảnh
Trang 221.1.2 M ỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH
Mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật là một đối tượng nghiên cứu của mỹ học và nghệ thuật học Đây là mối quan hệ của những loại hình cùng gắn bó trong một hệ thống và quan hệ giữa loại hình này với loại hình khác,
thường diễn ra ở hai dạng động và tĩnh “Ở dạng tĩnh, đó là quan hệ so sánh
để tìm những điểm giống nhau (sự tương đồng) hoặc khác nhau (sự tương dị) Ở dạng động, đó là quan hệ có sự hợp tác liên kết trong quá trình sáng tạo (quan hệ tương tác).” (Lâm Vinh) [168, tr.10]
Mối quan hệ động và tĩnh giữa các nghệ thuật đã làm cho hệ thống các loại hình nghệ thuật ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Tác giả
Kôginốp đã viết: “Có thể gọi các loại hình nghệ thuật theo một trong các loại
hình nghệ thuật khác: Kiến trúc là âm nhạc ngưng tụ, âm nhạc bằng đá Hoa văn là âm nhạc được khắc họa, âm nhạc của thị giác Nhảy múa là âm nhạc của cơ thể Thơ trữ tình là âm nhạc của ngôn ngữ Âm nhạc là kiến trúc có
âm thanh, là hoa văn của thính giác, là thơ trữ tình không lời.” [113, tr.96]
Điều này đã thể hiện rõ trong quan hệ tương đồng giữa tác phẩm văn
học và phim truyện điện ảnh Khi khán giả xem phim Cuốn theo chiều gió
được thấy một câu chuyện tương tự với câu chuyện nhà văn Magơrit Mitchel miêu tả trong tiểu thuyết Hai nhân vật chính Rhett và Scarlett trở thành đôi
“nam thanh nữ tú” được người xem say mê từ trong trang sách đến màn ảnh, qua diễn xuất tuyệt vời của hai diễn viên tài năng Clark Gable và Vivien Leigh [144, tr.80] Hay hình ảnh ấn tượng khó quên của chàng Anđrây và
nàng Natasa trong tiểu thuyết và phim Chiến tranh và hòa bình…và cũng
tương tự như vậy ở những bộ phim chuyển thể trong văn học Việt Nam Đó
là những mâu thuẫn xã hội sau ngày miền Nam giải phóng qua hai thế hệ
nhân vật trong gia đình ông Sĩ trong tiểu thuyết Những khoảng cách còn lại của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và phim Xa và gần của đạo diễn Huy
Thành Hay câu chuyện về thân phận của những người phụ nữ công giáo
Trang 23trong tiểu thuyết Bão biển của nhà văn Chu Văn và phim Ngày lễ thánh của
nữ đạo diễn Bạch Diệp…
Trong công trình Cơ sở lý luận văn học Lê Bá Hán nhận xét: “Nhắc
đến tên một bộ tiểu thuyết, một truyện vừa, một truyện ngắn hoặc một kịch
bản văn học quen biết, chúng ta liền nghĩ đến câu chuyện và những con
người được thể hiện trong đó…” [40, tập 1, tr.74] Từ tác phẩm văn học đến
phim truyện chuyển thể đều mang lại cho người thưởng thức một nội dung
trong cùng hoàn cảnh, cùng hình tượng nhân vật Quan hệ của văn học và
điện ảnh được thể hiện ở cả dạng động và tĩnh Những yếu tố cơ bản trong
xây dựng tác phẩm ở văn học và kịch bản văn học là quan hệ tĩnh với những
điểm giống và khác nhau được thể hiện qua chữ viết (trong kịch bản, tác giả
chỉ sử dụng những câu chữ có thể hình dung được) Quá trình chuyển từ kịch
bản thành phim truyện là quan hệ động (có sự hợp tác liên kết trong quá trình
sáng tạo như bối cảnh, máy quay, ánh sáng, phục trang, âm thanh…và đặc
biệt sự hiện diện của diễn viên theo chỉ đạo của đạo diễn, để đưa nội dung
văn học từ chữ viết lên màn ảnh)
Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh được thể hiện qua ba
cấp độ: tính đồng nhất (về đặc trưng phản ánh - hình tượng), tính tương đồng
(về nội dung tư tưởng, đối tượng phản ánh) và tính khác biệt (về chất liệu,
ngôn ngữ - phương tiện phản ánh)
1.2 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NHẤT CÙNG MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm triết học và xã hội, chỉ
ra mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, hạ tầng cơ sở và thượng
tầng kiến trúc Tồn tại xã hội là đời sống vật chất, đóng vai trò quyết định đối
với đời sống tinh thần Hạ tầng cơ sở là quan hệ sản xuất, thượng tầng kiến
trúc là toàn bộ quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật…Tất cả cùng phụ thuộc vào hạ tầng cơ sở do hạ tầng cơ sở quyết
Trang 24định, và có tác dụng trở lại đối với hạ tầng cơ sở Đó là quan điểm triết học
về vai trò, vị trí của ý thức xã hội, trong đó có ý thức thẩm mỹ - nghệ thuật
Văn học và điện ảnh cùng đứng trong một hình thái ý thức, ý thức thẩm mỹ - nghệ thuật, cùng có đặc tính chung, chức năng chung và chịu sự quyết định của đời sống xã hội, như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhận định:
“Xã hội thế nào văn nghệ thế ấy” Lịch sử văn học nghệ thuật nói chung, lịch
sử văn học và điện ảnh nói riêng đã chứng minh quy luật này qua những tác phẩm nghệ thuật Tuy rằng nghệ thuật không phản ánh trực tiếp thực tiễn xã hội, phải trải qua nhiều con đường trung gian, khúc khuỷu nhưng xét đến cùng ít nhiều sáng tác nghệ thuật vẫn là “tấm gương phản chiếu” thực tiễn xã hội
Nghệ thuật là hình thức đặc biệt để con người cảm nhận và tư duy về
cuộc sống, với những chức năng chủ yếu: thẩm mỹ, nhận thức - phản ánh và
giáo dục, giúp con người vươn đến khát vọng về Chân, Thiện, Mỹ Thông
qua cái đẹp, nghệ thuật giúp con người nhận thức được chính mình một cách sâu sắc, làm cho mỗi con người phải tự nghiền ngẫm, xem xét bản thân và các mối quan hệ với người khác, với toàn xã hội và môi trường sống của mình Vì vậy, nghệ thuật không đơn giản là sự giải phẫu cơ thể mà còn là sự giải phẫu đời sống tinh thần con người Với ý nghĩa đó, nghệ thuật hướng con người vươn tới các giá trị tích cực của xã hội, đến với chân lý một cách lãng mạn, tự giác và lâu dài
Lấy con người làm đối tượng chủ yếu, nghệ thuật bao giờ cũng nhìn nhận hiện thực qua cái nhìn của con người Qua cái nhìn đó, nghệ thuật phát hiện ra bản chất của hiện thực và trở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người
Vì vậy, thông qua tác phẩm nghệ thuật, con người tìm được bạn tri âm tri kỷ, đồng điệu về tâm hồn cảm xúc, được bộc lộ tự do cá tính, trí tưởng
tượng và những khát vọng thầm kín Bởi “Nghệ thuật là kính hiển vi mà nghệ
sĩ đem soi vào những bí ẩn của tâm hồn mình rồi trình bày những bí ẩn chung cho t ất cả mọi người”(Lê Ngọc Trà)[137, tr.17] Mặt khác, qua tác
phẩm văn học nghệ thuật con người không chỉ có cơ hội đến với những tư
Trang 25tưởng lớn lao, mới mẻ của nhân loại, mà còn mở rộng tầm hiểu biết, giao lưu tới những vùng văn hóa và những dân tộc khác trên thế giới Đó là mục đích nhân văn cao cả mà nghệ thuật cần hướng tới, như nhà văn Nam Cao từng
trăn trở: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và
giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn.” [187,
tập1, tr.614]
“Văn học là nhân học”(M.Gorki), là câu chuyện về cuộc đời, về cõi
nhân sinh Cùng hình thái ý thức nghệ thuật với văn học, ngay từ khi mới ra đời, điện ảnh đã sử dụng nguồn tư liệu quý giá từ những tác phẩm văn học trong kho tàng văn học của nhân loại, để làm nên những bộ phim truyện kinh điển và bằng cách đó góp phần phát triển nghệ thuật điện ảnh Khi nhận xét
về sự đồng nhất của các loại hình nghệ thuật, các nhà mỹ học dân chủ Nga đã
khẳng định: “Mọi loại hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu
hiện các tư tưởng tình cảm của con người, nên đều có nội dung chung nhưng khác nhau về hình thức thể hiện.” [113, tr.94] Vì vậy, những bộ phim chuyển
thể khác với văn học ở hình thức thể hiện, nhưng nội dung vẫn mang tinh thần của văn học
Ở phương Tây, nước Pháp - nơi khai sinh ra nghệ thuật điện ảnh, rất nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng được dàn dựng thành những bộ phim truyện
điện ảnh lừng danh Tiêu biểu là hai cuốn tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari,
Những người khốn khổ của nhà văn vĩ đại Victo Huygô Ông được các nhà
nghiên cứu đánh giá là “Nhà tiên tri của hòa bình trên toàn thế giới.” [170,
tr.497]
Điện ảnh Nga đặc biệt gần gũi với điện ảnh Việt Nam với những tác
phẩm văn học và điện ảnh Nga có giá trị nhân văn sâu sắc như Tội ác và hình
phạt, Sông đông êm đềm, Số phận con người, Thép đã tôi thế đấy, Người mẹ…
Trang 26Điện ảnh Việt Nam đã được khẳng định vị thế trên thế giới và trong
nước qua các bộ phim chuyển thể từ văn học như Con chim vành khuyên, Chị
Tư Hậu, Mùa gió chướng, Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê, Đời cát, Đừng đốt…
Cùng hình thái ý thức xã hội với văn học, điện ảnh đã dễ dàng ảnh hưởng và thẩm thấu những sự kiện của xã hội, thời đại và dân tộc được phản ánh trong văn học, tạo nên sự đồng nhất trong phản ánh hiện thực ở tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể Những tác phẩm văn học thành công đã trở thành nguồn chất liệu phong phú bất tận cho điện ảnh
Như vậy, tính đồng nhất của văn học và điện ảnh là cùng một hình thái
ý thức, cùng phản ánh thế giới khách quan và hiện thực đời sống bằng một phương thức tư duy – tư duy hình tượng
Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội Văn học và điện ảnh là những loại hình nghệ thuật nên đồng nhất về ý thức thẩm mỹ, ý thức nghệ thuật trong phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội Từ đó dẫn đến những tương đồng về nội dung tư tưởng, nội dung cụ thể, khuynh hướng - trường
phái và thể loại trong tác phẩm văn học và điện ảnh
Nội dung tư tưởng
Nhà văn, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, quay phim, nhạc sĩ…là những người nghệ sĩ có cùng sự đa cảm, trí tưởng tượng và sự tinh nhạy điêu luyện của các giác quan, khí quan thẩm mỹ (thính giác, thị giác…) Cho nên tư duy của người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, khác hẳn với tư duy của nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật Hình thức của tư duy nghệ thuật, là sự phản ánh hiện thực theo quy luật của cái đẹp, là một loại mô hình đặc biệt nhằm tái hiện và tái tạo một cách sinh động hiện thực cuộc sống, với những nhu cầu và khát vọng của con người
Trang 27Tư duy của nhà biên kịch, đạo diễn gần gũi với tư duy của nhà văn
nên khi tiếp cận tác phẩm văn học, các tác giả điện ảnh dễ dàng thẩm thấu tư tưởng tình cảm của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Sự “đồng thanh tương ứng” đã làm nên tiếng nói chung trong xây dựng hình tượng nghệ thuật Sáng
tạo nghệ thuật là lĩnh vực của cảm xúc, là sự mách bảo của con tim, nên tâm hồn nghệ sĩ thường gặp nhau qua tác phẩm Nhà văn khi viết tiểu thuyết hay truyện ngắn không hề nghĩ “đứa con tinh thần” của mình sẽ có đời sống thứ
hai trên màn ảnh Nhưng “Thơ ca chân chính bao giờ cũng là thơ ca của trái
tim, cũng là tiếng hát của tâm hồn” (M.Gorki) [34, tập1, tr.52] Các tác giả
điện ảnh đã tìm thấy sự đồng điệu “của trái tim…” qua các tác phẩm văn học
và mong muốn biến lời ca “ tiếng hát của tâm hồn” hiện hữu lên màn ảnh
Trương Nghệ Mưu, một đạo diễn tài ba của điện ảnh Trung Quốc đã
chuyển thể thành công nhiều bộ phim từ tác phẩm văn học như Cúc Đậu, Đèn
lồng đỏ treo cao, Phải sống Trong số đó nổi tiếng nhất là phim Cao lương
đỏ, dựa theo tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mạc Ngôn Đạo diễn đã biến
hóa tài tình những con chữ trừu tượng của Mạc Ngôn thành những hình ảnh
sinh động trong phim Cao lương đỏ Nói về cảm xúc từ tác phẩm văn học, đạo diễn cho biết “Những miêu tả của Mạc Ngôn về màu sắc, đó là lọai cảm
giác tả ý sâu sắc Tôi thích sự hào sảng, khoáng đạt của câu chuyện Hành động của các nhân vật đều rất mạnh mẽ, cốt chuyện cũng rất có sức mạnh, chúng đặc biệt hấp dẫn tôi.” [133, tr.21-23] Trước khi trở thành đạo diễn,
Trương Nghệ Mưu là nhà quay phim Cao lương đỏ là bộ phim đầu tiên ông
làm đạo diễn, cũng từ bộ phim này, tên tuổi của ông đã vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc
Như vậy, từ cảm hứng chân thành với những tác phẩm văn học, các tác giả điện ảnh đã có cơ sở vững chắc về tư tưởng tình cảm để sáng tạo nên những kịch bản văn học điện ảnh chất lượng và một bộ phim giá trị trong tương lai Trong nghệ thuật, tình cảm bao giờ cũng chứa đựng tư tưởng, và tư tưởng bao giờ cũng thấm đượm tình cảm, đó là mối quan hệ biện chứng,
không thể tách rời Với ý nghĩa đó, tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật đã trở
Trang 28thành sự nung nấu dằn vặt, là ngọn lửa tình yêu mà người nghệ sĩ gửi gắm trong tác phẩm làm nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn cho tác phẩm và do đó thuyết phục người xem
Từ tư tưởng nhân văn cao cả, cách viết sinh động, giàu hình tượng cảm xúc, nhà văn Mỹ Lew Wallace đã tái hiện chân thực đến kỳ lạ một thời kỳ
lịch sử trong tiểu thuyết Ben Hur Đó là thế giới La Mã cổ với tất cả sự huy
hoàng lộng lẫy và giàu sang của nó, sự ham mê khoái lạc tà giáo và sự suy thoái Đặc biệt sự tàn ác dã man của tầng lớp thống trị La Mã muốn hủy diệt niềm tin vào giáo lý cao đẹp của đông đảo quần chúng Với những trang viết sinh động của nhà văn, các tác giả điện ảnh đã chuyển thành bộ phim kinh
điển, nhận được 11 giải Oscar, trong đó có giải kịch bản chuyển thể hay nhất
năm 1959 Diễn viên Charlton Heston nhận giải Oscar cho vai diễn người
hùng Ben Hur và trở thành “người hùng” trong lòng khán giả yêu nghệ thuật
Tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật luôn được người nghệ sĩ xác định hết sức rõ ràng ngay từ khi thai nghén đứa con tinh thần của mình Đạo diễn tài ba Nga Stanislapski cho rằng : nghệ thuật chính là “thánh đường của sự
thật” Đạo diễn Dantrencô, nổi tiếng với phim Đất, Sư trưởng Sooc-xơ khẳng
định nghệ thuật là “trường học của cuộc sống” Đạo diễn Eisenstein với bộ
phim kinh điển Chiến hạm Potemkin lại tin rằng người nghệ sĩ thông qua màn
ảnh để “thanh lọc cuộc đời” Từ những quan điểm rõ ràng về tư tưởng, người nghệ sĩ xác đinh hướng đi đúng cho tư tưởng tình cảm và sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị và trở thành những tác giả nổi tiếng
Qua những trang viết của mình, nhà văn lớn M.Gorki đã thổi vào văn học một luồng gió mới, buộc những người cầm quyền đương thời phải thay đổi những suy nghĩ đã thành nếp về con người về cuộc đời Bằng trái tim nhân đạo cách mạng, M.Gorki mô tả cuộc sống bị đàn áp, đói khổ của các tầng lớp dưới đáy xã hội, đồng thời thấu hiểu ánh sáng lương tâm trong tâm
hồn họ Nhà văn cho rằng: “Nghệ thuật căn bản là một cuộc đấu tranh hoặc
là để tán thành hoặc là để phản đối, chứ không có và không thể có một nền nghệ thuật bàng quan, bởi vì con người không phải là một chiếc máy ảnh,
Trang 29con người không ghi chép hiện thực mà hoặc là xác nhận, hoặc là thay đổi ”
[34, tr.17] Nội dung tư tưởng ấy, hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của ông Trong tài sản gần 20 tác phẩm văn học bao gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch của M.Gorki đã được chuyển thể sang điện ảnh, tiêu biểu nhất là
bộ phim câm Người mẹ [80, tr.32]
Nội dung tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật rõ ràng có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ cơ cấu của tác phẩm, được quyết định bởi tư tưởng của tác giả Tư tưởng tác phẩm có thể sâu sắc hay nông cạn, đúng đắn hay sai lầm, khẳng định hay phủ định Tất cả đều phụ thuộc vào sự lĩnh hội nhận thức thế giới của người nghệ sĩ, liên quan mật thiết với lập trường tư tưởng, thế giới quan, lý tưởng xã hội thẩm mỹ Nhà nghiên cứu Biêlinxki
nhận định: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải
là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha
lê ” [19, tr.123]
Trong tác phẩm nghệ thuật, từ ngôn ngữ đến các phương tiện nghệ
thuật đều mang dấu ấn của tư tưởng, được người nghệ sĩ thể hiện “chan
hòa”qua các hiện tượng, sự kiện, nhân vật, chi tiết…theo một khuynh hướng
tư tưởng – thẩm mỹ nhất định Tất cả hợp thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt các chủ đề, làm nền tảng cho tác phẩm Nếu tư tưởng như định hướng cho chủ đề, thì chủ đề là cách thể hiện tập trung tư tưởng và làm nên giá trị tác phẩm
Đúng như các nhà nghiên cứu từng khẳng định: “Trong một tác phẩm tính tư
tưởng không thể tách rời với tính nghệ thuật ” [19, tr.242] Điều này đã làm
nên thành công của những áng văn chương và điện ảnh nổi tiếng trên thế giới
và Việt Nam
Cùng tương đồng về nội dung tư tưởng, nên nhiều tác phẩm văn học đã trở thành “nỗi ám ảnh” thôi thúc các tác giả điện ảnh muốn tái hiện câu chuyện văn học lên màn ảnh Đạo diễn nổi tiếng Trung Quốc Lý An khi
chuyển thể tác phẩm Sắc, Giới của nhà văn Trương Ái Linh đã chia sẻ: “Lúc
đầu không nghĩ đến việc dựng thành phim, nhưng vì không thể quên được,
Trang 30nên cuối cùng phải bắt tay vào làm phim để khám phá xem nguyên nhân khiến mình không thể quên được điều ấy là gì…”[57, tr.596] Từ sự trăn trở,
đòi hỏi khám phá ấy, các tác giả điện ảnh đã đưa tư tưởng trong văn học vào phim truyện một cách thuyết phục và mang lại nhiều cảm xúc cho người xem
Nói về ý nghĩa của nội dung tư tưởng trong tác phẩm điện ảnh, đạo
diễn Iran Abbas Kiarostami viết: “…Bằng phương tiện điện ảnh chúng ta
sáng tạo ra một thế giới khác, thật hơn, công bằng hơn Đó không phải là thế giới giả tạo mà ngược lại, làm bật ra sự đối chọi giữa thực tế và lí tưởng, giúp ta hiểu biết mình hơn, tiến gần cuộc sống ước mơ hơn.” [25, tr.35]
Như vậy, một khi đã xác định được nội dung tư tưởng, người nghệ sĩ
sẽ thổi những tư tưởng tình cảm ấy vào từng chi tiết, từng nội dung cụ thể của tác phẩm và làm nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm
Nội dung cụ thể
Đề tài
Đề tài là “Khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả
phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.” [121, tr.78] Khái niệm đề tài
được dùng khá linh hoạt ở tầm vĩ mô, đề tài khái quát những lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội như chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế, văn hóa…Ở những đề tài hẹp hơn như khoa học, kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp…Trong vô vàn những nhu cầu đa dạng của con người trong xã hội, có những đề tài về tình yêu, lòng nhân ái, sự tha thứ, lòng tham, sự ích kỷ… Văn học đã trở thành kho tàng bách khoa toàn thư về muôn mặt của cuộc sống xã hội Trong cuộc “Đối thoại giữa Kenzaburo với Mạc ngôn và Trương Nghệ Mưu”, đạo diễn Trương Nghệ Mưu chia sẻ với các nhà văn:
“Các phim của tôi đều chuyển thể từ tiểu thuyết Tôi thường xem tiểu thuyết
để tìm đề tài điều khó nhất đối với tôi là ngồi trước trang giấy trắng hoặc ngồi trước máy vi tính, bắt tôi làm việc từ con số không Cho nên tôi rất khâm phục các nhà văn, sao họ có thể viết ra nhiều câu chuyện đến thế ? ” [133,
tr.21]
Trang 31Từ vô vàn những hiện tượng của cuộc sống, người nghệ sĩ đã lĩnh hội
và chọn lựa theo cảm nhận riêng của mình Đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống khách quan nhưng nó cũng là sự ghi nhận chủ quan của người sáng tác
Mỗi nghệ sĩ với thế mạnh và khả năng riêng biệt về một vài đề tài tiêu biểu,
đã tạo nên phong cách độc đáo trong phản ánh hiện thực Nhà biên kịch Nga
nổi tiếng Gabrilôvich nhận xét: “Không một bộ phim nào, dù quy mô đến
đâu, lại có thể tồn tại bên ngoài số phận con người, ngoài những quan hệ phức tạp của con người, thậm chí hết sức phức tạp” [71, tr.123] Cùng chọn
con người và xã hội con người làm đề tài phản ánh hiện thực, văn học và điện ảnh có sự gần gũi, tương đồng về đề tài
Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng với khả năng sáng tạo biến hóa tuyệt
vời ngôn từ qua những tác phẩm như Vang bóng một thời, Tùy bút Sông Đà Giáo sư Hoàng Như Mai nhận xét: “Đã nửa thế kỷ, trong kho tàng văn
chương ta có thêm một viên trân châu: ‘Vang bóng một thời’, từ ấy đến nay, người ta không ngừng nâng niu ngắm nghía nó Và đúng như đối với một viên ngọc quý, càng nhìn, càng đẹp, xem đến bao nhiêu lần vẫn chưa thỏa mãn, vẫn muốn xem nữa” [88, tr.90] Cùng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp đất nước
và con người qua tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân, nữ đạo diễn Việt Linh chọn Chùa đàn trong Vang bóng một thời để phỏng theo và cho ra đời bộ phim truyện nghệ thuật Mê Thảo - Thời vang bóng
Văn học Việt Nam trước năm 1945, đề tài phản ánh hiện thực xã hội đen tối, bất công đối với những con người cùng khổ được chú ý nhất, nhưng mỗi tác giả có cách phát hiện và ghi nhận hiện thực theo chủ quan của riêng mình Phạm vi hiện thực cuộc sống trong đề tài có thể hẹp hay rộng phụ thuộc nhiều vào cảm hứng sáng tạo, sở trường và khả năng sáng tạo và trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống
Trong Tắt đèn, nhà văn Ngô Tất Tố miêu tả nỗi thống khổ, sự kiệt quệ
của người nông dân vì nạn sưu cao thuế nặng Nhà văn bộc lộ tấm lòng thương cảm của mình với những cảnh đời bị chà đạp tàn nhẫn và lên án mạnh
mẽ thói tham lam vô độ của bọn cường hào, địa chủ trong xã hội cũ
Trang 32Ở các tác phẩm của nhà văn Nam Cao, cũng là cái đói, cái nghèo đeo
đẳng, hành hạ con người đến cùng cực như Lão Hạc, kiếp người vật vờ, bị
chà đạp, hủy hoại cả nhân tính như Chí Phèo, hay cuộc sống quẩn quanh không lối thoát của giới giáo chức trong Sống mòn Từ yêu mến đề tài trong
tác phẩm văn học của Ngô Tất Tố, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã dựng thành phim Chị Dậu năm 1980 Cùng đề tài về kiếp sống tủi nhục của con người
trong xã hội cũ, qua ba tác phẩm Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của Nam
Cao, đạo diễn Phạm văn Khoa chuyển thể thành phim Làng Vũ Đại ngày ấy
năm 1983
Đề tài không chỉ mang đậm sắc thái cá nhân gắn liền với kinh nghiệm sống và sự từng trải của người nghệ sĩ mà còn chứa đựng ý nghĩa xã hội và nhân sinh sâu sắc Việc lựa chọn đề tài đã thể hiện khá rõ khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của người nghệ sĩ Vì vậy, đề tài trong tác phẩm có quan hệ mật thiết với chủ đề và tư tưởng
Chủ đề
Chủ đề được hình thành và thể hiện trên cơ sở của đề tài, là yếu tố quan trọng cấu thành nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Chủ đề của tác phẩm luôn là những vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội, thông qua khả
năng khái quát của nhà văn Đó là những “Vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm
được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.”
[121, tr.43]
Xưa nay, những chủ đề có tính vĩnh cửu như hạnh phúc, tình yêu, ước
mơ, hy vọng, sống chết luôn là những chủ đề được con người quan tâm hàng đầu, dù có rất nhiều dị biệt về cách cảm nhận ở từng thời đại và con người khác nhau Nhưng những tác phẩm nghệ thuật mang những chủ đề này vẫn luôn buộc con người phải thổn thức buồn vui căm giận
Bàn về cách lựa chọn chủ đề của người nghệ sĩ trong nghệ thuật điện
ảnh, đạo diễn Nga Poudovkin viết: “Chủ đề là một khái niệm chung cho các
môn nghệ thuật Mỗi ý nghĩ của con người đều có thể trở thành chủ đề của tác phẩm Điện ảnh cũng như các môn nghệ thuật khác, không bị hạn chế
Trang 33trong việc lựa chọn chủ đề Vấn đề duy nhất là xem nó có giá trị đối với khán giả hay không…” [26, tr.122] Chủ đề có vai trò trong phát hiện, đặt vấn đề
và giải quyết vấn đề trong tác phẩm Nhưng quan trọng hơn cả là sự tác động của tác phẩm vào nhận thức tư tưởng của người thưởng thức Cho nên, người nghệ sĩ sáng tác trong quá trình xây dựng tác phẩm thường tập trung “trí và lực” để nêu bật vấn đề mình muốn đề cập qua các hệ thống hình tượng cảm xúc, hình tượng nhân vật, hoặc qua những yếu tố biến cố, sự kiện khác thường…Cũng có khi thể hiện qua các chi tiết: tên tác phẩm, lời thọai của nhân vật hay lời bình của tác giả
Trong văn học và điện ảnh thế giới, rất nhiều tác phẩm nổi tiếng có chủ
đề thể hiện ngay ở tựa đề như Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, Tội ác
và trừng phạt của Đôstôievski, Số phận con người của Sôlôkhôp, Những người khốn khổ của V.Huygô, Không gia đình của H Malôt …
Điều này cũng thể hiện trong văn học và điện ảnh Việt Nam qua những
tiểu thuyết và phim truyện như Xa và gần, Thời xa vắng…Hay truyện ngắn
và phim như Con chim vành khuyên, Tướng về hưu, Trăng nơi đáy giếng…Ý
nghĩa tựa đề của mỗi tác phẩm đã mang đến cho người xem những cảm nhận đầu tiên, bao quát về những vấn đề mà tác phẩm đặt ra
Chủ đề có thể nảy sinh trong kinh nghiệm của nhà văn do cuộc sống gợi ra, nhưng được ẩn náu trong kho tàng ấn tượng của nhà văn dưới nhiều dạng thức như chi tiết, sự kiện, tình huống…nhưng phổ biến là những lời bình của tác giả hoặc lời thoại nhân vật trong tác phẩm
Trong Sống mòn, nhà văn Nam Cao thể hiện sâu sắc chủ đề, khi ông
viết: “Đời y sẽ mốc lên, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê Người ta sẽ
khinh y, chính y sẽ khinh y Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa
sống” [187, tập2, tr.318] Trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy, đạo diễn
Phạm văn Khoa cũng sử dụng ý tưởng trên, làm chủ đề trung tâm cho phim Trên phim, thầy giáo Thứ như một nhân chứng sống, chứng kiến cuộc sống khốn khổ của người dân làng Vũ Đại, mà tiêu biểu là cái chết bi thương của Lão Hạc, Chí Phèo Mắt thấy tai nghe những điều bất công đã buộc thầy giáo
Trang 34Thứ quyết định đi khỏi làng, để tìm ra con đường sống cho bản thân, gia đình
Như vậy, khi chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh, các tác giả điện ảnh thường chọn chủ đề gần gũi với tác phẩm văn học gốc Đó cũng là một lý do mà ngày càng nhiều tác phẩm văn học có đời sống thứ hai trên màn ảnh
Sự kiện, nhân vật
Thông qua các sự kiện, số phận và tính cách của hình tượng nhân vật được bộc lộ và phát triển Hiện thực khách quan với những quy mô xã hội khác nhau trong đó con người tham gia hoạt động xoay quanh các sự kiện xã hội Đó có thể là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập của cuộc sống : cái tốt và cái xấu, cái mới và cái cũ, sự sống và cái chết, tích cực và tiêu cực …Hoặc là cuộc đấu tranh diễn ra trong từng con người, từng sự vật hiện tượng, có khi giữa các nhóm, các giai cấp, các dân tộc Những xung đột xã hội, là môi trường để tính cách nhân vật được bộc lộ và tỏa sáng chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố, mô tả sự kiện sưu thuế
nặng nề, vô lý đè nặng lên đôi vai héo mòn của những người nông dân nghèo đói những năm trước Cách mạng tháng Tám Không có tiền nộp sưu cho chồng, và người em chồng đã chết, chị Dậu phải buộc lòng mang con Tý và
đàn chó bán cho địa chủ Nghị Quế “Mấy con chó thôi ăn, kéo nhau trở lại
chỗ con chó cái bỏ dở cả mấy đống cơm Nghị Quế sai thằng nhỏ hốt hết vào
Trang 35rá, đưa cho con Tý Ra giọng nhân từ, ông đại biểu của dân bảo đứa con nít khốn nạn:
- Con bé kia! Cầm lấy rá com ăn đi kẻo phí của trời Ăn bốc cũng được, không phải đũa bát
Nước mắt chảy ra như mưa, cái Tý ngần ngại nhìn rá cơm nguội, không muốn chìa tay ra đón Ông đại biểu cho dân hầm hầm nét mặt:
- Mày không ăn thừa cơm chó phải không?
Bà Nghị nổi cơn tam bành:
giữ cái thói khoảnh ấy, thì bà dần từng cái xương Này bà bảo cho mà biết: mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu Con chó nhà bà còn được mấy chục, con người như mày, bà chỉ mua có một đồng đấy thôi Đừng khoảnh với bà.”
[208, tr 93]
Hình ảnh con Tý bốc từng hạt cơm thừa của đàn chó trên sân nhà địa chủ Nghị Quế, trong âm thanh giọng nói chì chiết của vợ chồng Nghị Quế trên phim khiến người xem uất nghẹn vì cảm thương Đạo diễn Phạm Văn Khoa cùng đồng nghiệp đã chọn lọc các chi tiết điển hình, những đoạn văn giàu ý nghĩa nhất để tái hiện chân thực sự kiện lịch sử đau thương của dân tộc lên màn ảnh Qua đó lột tả rõ nét tính cách độc ác, vô lương tâm của tầng lớp thống trị, mà vợ chồng địa chủ Nghị Quế là đại diện và tình cảnh đáng thương khốn cùng của những người dân vô tội như gia đình chị Dậu
Mỗi sự kiện được xác định bởi tính lịch sử xã hội nhất định nên nó tương ứng với mẫu tính cách nhân vật phù hợp, bởi một tính cách là đại diện
trong mức độ nhất định cho một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tính cách của Chị
Dậu đại diện cho những người phụ nữ nông dân bần cùng khốn khổ trước
năm 1945
Sự kiện và tính cách nhân vật luôn có quan hệ biện chứng để đảm bảo chân thực tính lịch sử cho tác phẩm nghệ thuật
Trang 36Mối liên hệ giữa sự kiện và nhân vật đặc biệt rõ nét qua tiểu thuyết
Những khoảng cách còn lại của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn Tác phẩm miêu
tả sự kiện mang tính thời sự nóng hổi: sự đối lập giữa hai hệ tư tưởng, hai cách sống trong một gia đình sau ngày giải phóng Đó là cuộc sum họp sau mấy chục năm xa cách của hai tuyến nhân vật: ông Sĩ cùng những người con trưởng thành ở miền Bắc, bà Thuận Thành cùng những người con sinh sống trong xã hội Sài gòn cũ Ngày đất nước thống nhất, họ gặp lại nhau trong niềm vui mừng khôn xiết của những người ruột thịt lâu ngày mới gặp, nhưng thật ngỡ ngàng vì khoảng cách về quan điểm xã hội Tính thời sự của tiểu
thuyết Những khoảng cách còn lại đã hấp dẫn đông đảo độc giả, nhanh chóng
được dựng thành vở kịch nói, tạo được tiếng vang lớn trên sân khấu thành phố HCM thời bấy giờ
Dựa vào chất liệu văn học, đạo diễn Huy Thành đã dựng thành phim
truyện với tựa đề Xa và gần Những người trong gia đình ông Phú Sĩ từ cha
mẹ, vợ chồng đến con cái anh em, là những người thật Gần trong quan hệ huyết thống gia đình, nhưng họ cũng thật Xa trong nhận thức, lối sống Điều
kiện, hoàn cảnh chiến tranh kéo dài hơn ba mươi năm, đã sinh ra những tính cách khác biệt, những uẩn khúc éo le được nhà văn mô tả chân thực trong
tiểu thuyết Bộ phim Xa và gần bám sát nội dung tiểu thuyết, làm sống dậy
những sự kiện xã hội một cách thuyết phục và được khán giả đón nhận nhiệt tình
Tương tự như tiểu thuyết Xa và gần, nội dung truyện Cánh đồng bất
tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã tạo được dư luận xã hội, trước khi được
chuyển thành phim truyện Do cùng đề tài, chủ đề, nên khi xem phim, người đọc dễ dàng nhận diện được “hài hình” của truyện trong phim
Qua những ví dụ trên cho thấy đề tài, chủ đề, sự kiện và nhân vật là những nội dung tương đồng giữa tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể
Trang 37Khuynh hướng – Trường phái nghệ thuật
Trong lịch sử phát triển ý thức xã hội và ý thức cá nhân qua từng thời đại, văn học và các loại hình nghệ thuật có sự giao thoa gần gũi về đề tài, chủ
đề tư tưởng, quan niệm và các trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật Tính khuynh hướng trong tác phẩm nghệ thuật được toát ra một cách tự nhiên từ
sự miêu tả sinh động hiện thực, thể hiện xu thế tư tưởng bắt nguồn từ cuộc sống xã hội, được người nghệ sĩ phản ánh qua nội dung và hình thức của tác phẩm
Trong những năm 20-30 của thế kỷ XX, điện ảnh- ngành nghệ thuật thứ bảy ra đời, có sức hấp dẫn khán giả rất lớn Sự trông đợi của công chúng
đã buộc các tác giả điện ảnh hướng đến những ý tưởng, chủ đề gần gũi với các khuynh hướng hiện đại trong các loại hình nghệ thuật như văn học, hội họa, sân khấu, âm nhạc…Điều đó là tiền đề của sự xuất hiện các trào lưu điện
ảnh lớn ở châu Âu Những khuynh hướng sáng tác nổi bật như Chủ nghĩa
biểu hiện Đức (1919-1926), Chủ nghĩa ấn tượng và siêu thực Pháp (1918-
1930), Chủ nghĩa hiện thực mới Italy (1942-1951), Làn sóng mới ở Pháp(1959 -1964) [24, tr.584] Những khuynh hướng sáng tác này đã góp phần làm cho nghệ thuật điện ảnh non trẻ phát triển ngày càng phong phú và
đa dạng
Theo các nhà nghiên cứu: “khái niệm khuynh hướng ghi nhận tính
cộng đồng về cơ sở tư tưởng thẩm mỹ của nội dung nghệ thuật, tính cộng đồng này được quy định bởi sự thống nhất về truyền thống nghệ thuật và văn hóa”[5, tr.174] Cho nên, mỗi thời đại xã hội khác nhau, có những khuynh hướng tư tưởng khác nhau Khuynh hướng có liên quan trực tiếp đến phương diện sáng tác của người nghệ sĩ qua cảm hứng sáng tạo, lí tưởng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, trong cách tạo dựng nhân vật… Trong văn học thế giới và Việt Nam đã từng có nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau như lãng mạn, hiện thực, trừu tượng…Do cùng chung hình thái ý thức xã hội, văn học đã có chung khuynh hướng tư tưởng với các loại hình nghệ thuật khác cùng thời đại, đặc biệt là điện ảnh, qua những bộ phim truyện điện ảnh chuyển thể từ
Trang 38văn học Một số khuynh hướng tiêu biểu trên thế giới được thể hiện qua các cặp tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể điện ảnh nổi tiếng như sau:
Khuynh hướng lãng mạn: trong văn học có nhà văn Victo Huygô với
tiểu thuyết Những người khốn khổ thì trong điện ảnh có phim chuyển thể
cùng tên của đạo diễn Bille August Nhà văn Mỹ Margaret nổi tiếng với tiểu
thuyết Cuốn theo chiều gió, thì trong điện ảnh có bộ phim chuyển thể cùng
tên của đạo diễn Victor Fleming
Khuynh hướng hiện thực: trong văn học có nhà văn Xtăngđan với tiểu
thuyết Đỏ và đen và bộ phim chuyển thể của đạo diễn Gerard Philipe
Khuynh hướng trừu tượng: trong văn học có nhà văn Hêmingway với
tác phẩm Giã từ vũ khí và bộ phim chuyển thể của đạo diễn Frank Borage
Là nghệ thuật của ngôn ngữ trực giác nhìn và nghe, nên tính khuynh hướng ở điện ảnh thể hiện qua từng góc quay, từng câu thoại, từng mỗi đạo
cụ, từng mỗi động tác của diễn viên…tất cả đều được tận dụng để làm đậm đặc tính khuynh hướng của mỗi nội dung cụ thể Vì vậy, những tác phẩm điện ảnh xuất sắc thường có tác động mạnh mẽ và có sức lan tỏa trong đời sống xã hội
Đầu thế kỷ XX, cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong lịch sử thế giới, làm thay đổi những khuynh hướng sáng
tác trong nghệ thuật Những bộ phim kinh điển của điện ảnh Nga như Chiến
hạm Potemkin, Người mẹ… phản ánh chân thực sâu sắc vấn đề nóng bỏng
của thời đại cách mạng vô sản Tiếp theo là những bộ phim như Đội cận vệ
thanh niên, Số phận con người, Con đường đau khổ…Tất cả được sáng tác
theo khuynh hướng mới: hiện thực cách mạng Đó là những bộ phim chuyển thể từ những tác phẩm văn học nổi tiếng của văn học hiện đại Nga Những tác phẩm nghệ thuật này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến khuynh hướng sáng tác nghệ thuật ở Việt Nam và được đông đảo quần chúng yêu thích đón nhận
Điện ảnh cách mạngViệt Nam ra đời năm 1953 cũng có chung khuynh hướng hiện thực cách mạng với văn học Những tác phẩm văn học theo khuynh hướng này đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của người Việt Nam trong
Trang 39đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước như Kim Đồng, Vợ chồng A Phủ của
nhà văn Tô Hoài, Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc…và nhiều
bộ phim truyện chuyển thể từ những tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng khác
như Chị Tư Hậu, Mẹ vắng nhà, Mùa gió chướng, Thương nhớ đồng quê …
Thể loại
Văn học có ba loại lớn là tự sự, trữ tình và kịch.“Trong phạm vi mỗi
loại văn học là các thể (“thể loại” hoặc “thể tài”), chúng được phân chia căn cứ vào tố chất thẩm mỹ chủ đạo, vào giọng điệu, vào dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm”[5, tr.188] Thể loại phim trong điện ảnh cũng
tương tự như thể loại văn học, có nhiều thể loại phim được người xem đặc biệt thích thú vì nó bộc lộ thế mạnh của điện ảnh khi vận dụng công nghệ và
kỹ xảo để lột tả sinh động những nội dung văn học Sau đây là một số thể loại tiêu biểu trong phim truyện điện ảnh được chuyển thể từ văn học
Thể loại lịch sử
Thể loại lịch sử là những câu chuyện có thật đã xảy ra qua các thời
đại ở một vùng đất hay một quốc gia Những sự kiện, nhân vật lịch sử khi vào văn học và điện ảnh, không còn đơn thuần là tư liệu lịch sử, vì đã có sự hư cấu nghệ thuật nhất định, tuy nhiên vẫn trung thành với những yếu tố chính của lịch sử
Những bộ phim lịch sử nổi tiếng chuyển thể từ văn học Nga như Con
đường đau khổ, Người thợ cạo Sibir, Giải phóng, Taras Bulba… Đặc biệt,
tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình, bộ sử thi vĩ đại nhất của L.Tônxtôi về xã hội Nga đầu thế kỷ XIX với hai biến cố lớn: chiến tranh và hòa bình, qua các
giai đoạn lịch sử: 1805- 1812, 1812- 1820 Phim truyện Chiến tranh và hòa
bình đã cuốn hút người xem bằng bối cảnh hoành tráng của những sự kiện, những trận chiến khốc liệt giữa quân đội Napônêông và Nga hoàng Từng thước phim tái hiện thật sinh động lịch sử qua từng thân phận sóng gió của mỗi nhân vật Nhà phê bình văn học Pháp William Lyon Phelps đã gọi trường
thiên tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình là cuốn từ điển về đời
ng ười.” [204, tr.5]
Trang 40Năm 2010, phim truyện Việt Nam Long thành cầm giả ca đã đem lại
cho người xem một món ăn tinh thần quý giá về văn hóa dân tộc Bộ phim được phỏng theo bài thơ cùng tên của Nguyễn Du, một câu chuyện hư cấu được xây dựng dựa theo lịch sử triều đại cuối Lê đầu Nguyễn Đạo diễn Đào
Bá Sơn không miêu tả các cảnh chiến tranh, khói lửa mà tập trung khai thác yếu tố tâm lý, cảm xúc thể hiện qua mối tình lãng mạn của nhà thơ Nguyễn
Du với nàng Cầm, người con gái gảy đàn ở Thăng Long, khiến người xem
trân trọng, cảm phục trước tình người cao cả Phim Long thành cầm giả ca đã
làm sống dậy không khí cổ kính, uy nghiêm của kinh đô Thăng Long xưa thật gần gũi và quen thuộc, được giới chuyên môn và người xem đánh giá cao [148, tr.6-8]
Dã sử: Cũng nằm trong thể loại lịch sử, nhưng là kí ức lịch sử được
lưu truyền trong dân gian, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, dưới dạng truyền thuyết, cổ tích Dã sử do các tác giả thu thập trong nhân dân và biên soạn thành sách nên có thể không có tên tác giả Trong dã sử, cốt lõi lịch
sử đôi khi bị che lấp bởi trí tưởng tượng, hoặc được tô vẽ thêm nhiều tình tiết hấp dẫn, li kỳ qua nhiều dị bản và cách kể khác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của dã sử vẫn phản ánh trung thành sự kiện lịch sử và thái độ của quần chúng nhân dân đối với sự kiện và nhân vật lịch sử
Tiểu thuyết Đêm hội long trì của Nguyễn Huy Tưởng được viết theo
dạng dã sử Nhà văn đã chọn giai đoạn lịch sử điển hình cho sự suy thoái của
xã hội phong kiến Việt Nam để khai thác các mâu thuẫn và xung đột, qua đó triển khai các mạch truyện và chủ đề Từ cảm quan của văn học dân gian, nhà văn diễn giải những ý tưởng rút ra từ lịch sử để soi sáng các vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Từ câu chuyện văn học Đêm hội long trì, điện ảnh Việt Nam đã có một
bộ phim dã sử - cổ trang, gồm 2 tập: Cầu hôn và Quả báo do đạo diễn Hải Ninh dàn dựng năm 1989 Bộ phim quy tụ một dàn diễn viên xuất sắc của điện ảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX Bối cảnh phim được xây dựng công phu trên nền câu chuyện đã được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng mô