Tác giả trình bày quan điểm của một số nghị sĩ cũng như quan chức chính phủ Mĩ trong buổi điều trần của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung USCC, qua đó giúp chúng ta nhận thấy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Ph ạm Văn Trường
MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH
HOA KỲ- TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Ph ạm Văn Trường
MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH
HOA KỲ- TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2010)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguốn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
Phạm Văn Trường
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
CỦA HOA KÌ VÀ TRUNG QUỐC 8
1.1 Vị trí địa - chiến lược của khu vực Đông Nam Á 8
1.2 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc 12
1.2.1 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ 12
1.2.2 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc 14
1.3 Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc ở Đông Nam Á từ năm 1949-1991 17
Chương 2: MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH HOA KỲ-TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á 10 NĂM ĐẦU SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2001) 24
2.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 10 năm đầu sau chiến tranh lạnh 24
2.2 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á 27
2.2.1 Trong lĩnh vực chính trị 30
2.2.2 Trong lĩnh vực quân sự - an ninh 32
2.2.3 Trong lĩnh vực kinh tế 35
2.3 Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á 37
2.3.1 Mở đường xuống Biển Đông 37
2.3.2 Tăng cường hợp tác với ASEAN 43
2.3.2.1 Hợp tác Đông Á (ASEAN+3) 43
2.3.2.2 Hợp tác ASEAN-Trung Quốc (ASEAN+1) 46
2.3.3 Vai trò Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á 48
Chương 3: MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH HOA KỲ-TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI (2001-2010) 55
3.1 Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á 55
3.1.1 Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm ở Đông Nam Á 55
Trang 53.1.2 Trung Quốc tìm cách độc chiếm Biển Đông 64
3.2 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á 71
3.2.1 Tăng cường quan hệ thương mại với ASEAN 74
3.2.2 Mĩ - Đông Nam Á hợp tác Trong lĩnh vực quân sự - an ninh 79
3.3 Triển vọng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ- Trung Quốc ở Đông Nam Á (2010 đến nay) 91
3.3.1 Chiến lược quay lại Đông Nam Á của tổng thống Obama 91
3.3.2 Phản ứng của Trung Quốc trước sự trở lại Đông Nam Á của Hoa Kỳ 100 3.4 Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Đông Nam Á và Việt Nam 105
3.4.1 Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Đông Nam Á 105
3.4.2 Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Việt Nam 113
K ẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 142
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với nỗ lực xây dựng đất nước, các
quốc gia Đông Nam Á tích cực củng cố, mở rộng phát triển tổ chức ASEAN Với vị thế địa-chính trị của mình và những thành tựu to lớn đạt được trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, ngoại giao, Đông Nam Á dần trở thành một trong những khu vực nhận được nhiều sự quan tâm của các nước lớn Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là liên minh chính trị-kinh tế-xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam châu Á ASEAN được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với năm thành viên đầu tiên là Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Philipine và Singapo Cho đến nay, số lượng thành viên của ASEAN đã tăng lên 10 thành viên
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 vị thế Đông Nam Á ngày càng tăng trên trường quốc tế vì khả năng của khối duy trì được thế cân bằng giữa các nước lớn Đông Nam Á luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược của các cường quốc Không chỉ là khu vực có dân số đông và có một nền kinh tế đang phát triển với tốc độ cao, Đông Nam Á còn là khu vực có trữ lượng lớn than, dầu mỏ, kim loại quý
Vì vậy Đông Nam Á nhận được nhiều sự quan tâm của các cường quốc Hoa
Kỳ và Trung Quốc, hay bất cứ quốc gia nào có ảnh hưởng vượt trội tại khu vực giàu tiềm năng này đều có nhiều lợi thế trong mối quan hệ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc Bên cạnh đó, quan hệ Mỹ - Trung trong những năm gần đây là mối quan hệ được quan tâm bởi rất nhiều nhà nghiên cứu
Mỹ - với địa vị cường quốc số một thế giới của mình – luôn mong muốn duy trì, vươn dài tầm ảnh hưởng và sức mạnh của mình tới mọi khu vực trên thế giới Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, với sự đối đầu ngày càng căng thẳng giữa hai cực
Mĩ-Xô Cùng với nhiều khu vực khác, Đông Nam Á trở thành điểm nóng, chiến trường khốc liệt trong cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai siêu cường lớn nhất lúc bấy giờ Minh chứng cho điều này chính là việc Hoa Kỳ đã thiết lập ở đây nhiều liên minh quân sự, khối quân sự để ngăn ngừa ảnh hưởng của Liên Xô ở khu vực này Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực IANTA sụp đổ, Hoa Kỳ trở
Trang 7thành siêu cường duy nhất trên thế giới Mặc dù có nhiều sự thay đổi, điều chỉnh về mặt chiến lược của các đời tổng thống khác nhau Nhưng Đông Nam Á dù ít, dù nhiều vẫn luôn dành được sự quan tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi Mỹ là siêu cường mạnh nhất thế giới hiện nay
đã luôn quan tâm tới Đông Nam Á
Trong khi đó, do có sự gần gũi về địa lý và văn hóa nên Trung Quốc từ lâu
đã là một đối tác quan trọng của ASEAN cả về kinh tế, chính trị và văn hóa Trong nhiều năm gần đây, Trung Quốc với tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt và những biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đang vươn lên trở thành một trong những cường quốc trên thế giới Theo tính toán của Tổng cục thống kê Trung Quốc, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới về quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP), chỉ đứng sau Mỹ Trung Quốc hiện đã là
"công xưởng" của thế giới; theo dự đoán của các chuyên gia, đến năm 2040 sẽ vượt qua Mỹ để trở thành nước có quy mô GDP lớn nhất thế giới Trung Quốc đang giữ
kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục trong nhiều năm và về tốc độ tăng trưởng cao, cứ khoảng 8 năm là GDP tăng gấp đôi
Khi vai trò của Đông Nam Á ngày càng gia tăng thì quan hệ cạnh tranh chiến lược của hai cường quốc Hoa Kỳ - Trung Quốc tại khu vực này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Cả hai cường quốc dù bằng nhiều cách khác nhau đều muốn gia tăng ảnh hưởng đối với các quốc gia Đông Nam Á Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung không chỉ ảnh hưởng tới hai quốc gia, tới khu vực Đông Nam Á mà còn có tác động tới toàn bộ đời sống chính trị quốc tế Bất cứ sự tranh chấp nào giữa hai cường quốc đều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh hòa bình vốn có của Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, do nhận được sự quan tâm của hai cường quốc, vị trí và tầm quan trọng của Đông Nam Á ngày được tăng lên Các quốc gia Đông Nam Á nói chung có thể đạt được mối quan hệ cân bằng sức mạnh giữa hai thế lực khổng lồ nói trên, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức để tranh thủ được nhiều hơn nữa những lợi thế từ mối quan hệ cạnh tranh này
Trang 8Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc ở Đông nam Á sau chiến tranh lạnh đến nay là cần thiết Bởi vì đây là một vấn đề mang tính thời sự nóng hổi, đặc biệt trong thời gian gần đây gây nhiều chú ý và quan ngại cho các nước trong khu vực cũng như nhiều cường quốc khác Hầu hết các phương tiện truyền thông đại chúng không ngừng đưa tin về những diễn biến mới nhất, những xung đột lợi ích của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong việc khẳng định vị thế và vai trò của mình ở Đông Nam Á
Hơn nữa, nghiên cứu đầy đủ mối quan hệ cạnh tranh giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới ở Đông Nam Á giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc, toàn diện
về thực chất cạnh tranh giữa hai nước trong khu vực là cạnh tranh những gì? Tác động của cuộc cạnh tranh này đối với các nước Đông Nam Á ra sao? Từ đó có thể giúp Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng đưa ra những đối sách phù hợp với hai cường quốc trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt
Ngoài ra, nghiên cứu mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc ở Đông Nam Á cũng giúp tôi hiểu rõ hơn các mối quan hệ quốc tế phức tạp, có khi là chồng chéo trong khu vực góp phần bổ sung nguồn kiến thức về quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ quốc tế hiện đại nói riêng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy sau này
Trang 9Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu có qui mô lớn về quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ – Trung Quốc tại Đông Nam Á chưa xuất hiện song các nhà nghiên cứu Quan hệ quốc tế đã có nhiều bài nghiên cứu ngắn, bài viết phân tích về quan hệ Mỹ
-Trung nói chung và tại khu vực Đông Nam Á nói riêng Các ấn phẩm, tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc đã đăng nhiều bài viết phân tích mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc, đặc biệt sau sự trỗi dậy của Trung Quốc Một số tài liệu, bài viết có thể kể tên như:
“Mỹ, Trung Quốc và Biển Đông đầy sóng gió” của tác giả Lê Phước trên
Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số tháng 8, năm 2010 Trong bài viết tác giả đề cập đến những tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông Khi Trung Quốc tuyên bố 80% chủ quyền trên vùng biển này Các nước tranh chấp lo ngại sự hung hăng của Trung Quốc nên luôn tìm cách quốc tế hóa vấn đề Còn Hoa Kỳ thì tìm thấy cơ hội tái lập ảnh hưởng trong khu vực Bài viết giúp chúng ta thấy được những căng thẳng, nguy
cơ tiềm ẩn xung đột giữa các bên ở Biển Đông Khi những mỹ từ không còn có giá trị nữa và khi vũ khí lên tiếng, thì rõ ràng Biển Đông sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm trong những ngày tháng tới
“Đông Nam Á, nơi giao thoa lợi ích của Mỹ và Trung Quốc” của tác giả
Tuấn Anh trên Báo Đất Việt, ngày 12 tháng 10 năm 2010: tác giả phân tích vai trò,
vị trí Đông Nam Á ngày càng có vai trò quan trọng với thế giới, trở thành khu vực cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn trong thời gian hiện nay, đặc biệt giữa Hoa
Kỳ và Trung Quốc Đặc điểm nổi bật là sự trỗi dậy không ngừng của Trung Quốc
và sự tái can dự của Mỹ ở Đông Nam Á Các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á đang phải ứng phó trước môi trường quan hệ các nước lớn biến động đầy phức tạp Qua bài viết giúp cho chúng ta hiểu thêm những nguyên nhân hay động cơ khiến cả Hoa
Kỳ và Trung Quốc không ngừng tìm mọi cách cho sự hiện diện và khẳng định vị thế của mình ở Đông Nam Á
Ngoài ra có thể kể thêm những bài viết như: “Mỹ trở lại Đông Nam Á liệu
có tăng cường an ninh và hạn chế được ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực”
Trang 10của tác giả Đại tá, Thạc sĩ Đỗ Trung, “Những động thái mới của quan hệ Trung –
Mỹ và Những biến đổi trong quan hệ giữa các nước lớn sau sự kiện 11- 9” tác giả
Nguyễn Duy Quý, “Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc sau sự kiện 11-9” tác
giả Lê Khương Thùy,.v.v
Trên thế giới, cũng có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ cạnh tranh Mỹ - Trung trong những năm cuối thế kỉ XX-đầu thế kỉ XXI Không chỉ các cơ quan nghiên cứu chính sách của Mỹ và Trung Quốc mà nhiều tạp chí và nhà xuất bản khác trên thế giới cũng đã đăng tải những tác phẩm nghiên cứu về đề tài này Nhiều bài viết về quan hệ cạnh tranh Mỹ
- Trung trên các lĩnh vực khác nhau như kinh tế - thương mại, chính trị - an ninh, hoặc đề cập đến các khía cạnh khác trong mối quan hệ này Nhìn chung, những bài viết này chủ yếu tập trung phân tích cụ thể thực tiễn cạnh tranh giữa hai cường
quốc Ví dụ, Trong bài biết “Suy tính của Mỹ trước sự gia tăng ảnh hưởng của
Trung Quốc tại Đông Nam Á” của tác giả, Nhà báo Peter J Brown trên đăng trên
Asia Times ngày 29/ 3/2010 Tác giả trình bày quan điểm của một số nghị sĩ cũng như quan chức chính phủ Mĩ trong buổi điều trần của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế
và An ninh Mỹ-Trung (USCC), qua đó giúp chúng ta nhận thấy những suy tính của Hoa Kỳ trước các hoạt động của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và tác động đối với lợi ích của Mỹ trong khu vực chiến lược này, đồng thời cho thấy Mỹ sẽ tập trung vào quan hệ ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á
Trong bài “ ASEAN trong mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc” của tác giả
Kavi Chongkittavorn trên The Nationnasia News Network được Báo Bưu điện Jakarta đăng lại ngày 29/9/2010 đã phân tích một cách sâu sắc, góp phần giúp chúng ta hiểu hơn thái độ ứng xử của các bên về vấn đề Biển Đông; cách tiếp cận và tác động của việc Mỹ tăng cường can dự vào khu vực đối với mối quan hệ ba bên ASEAN – Mỹ – Trung Quốc; trở ngại trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc và phương cách để hai bên có thể hợp tác tốt hơn trong việc đối phó với những thách thức chung Ngoài ra, Ở trên nhiều phương tiện truyền thông, báo chí nước ngoài cũng thường xuyên cập nhật diễn biến mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung
Trang 11Quốc ở Đông Nam Á như Tân Hoa Xã ( Trung Quốc), BBC ( Anh), RFI ( Pháp), CNN (Mĩ)…v.v
3 Gi ới hạn đề tài
Trong đề tài này, chúng tôi không có tham vọng trình bày tất cả những mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kì – Trung Quốc ở tất cả các khu vực trên thế giới Chúng tôi chỉ giới hạn mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kì – Trung Quốc ở Đông Nam Á Cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc ở đây được hiểu là Trung Quốc đang cố gắng thực hiện mục tiêu loại bỏ ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng, trước hết là ở Biển Đông Còn Hoa Kỳ tìm mọi cách kiềm chế ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Đông Nam Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung
Về thời gian, đề tài chỉ giới hạn trong những sự kiện xảy ra từ khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay Những sự kiện trước thập niên 90 của thế kỉ XX được xem là dẫn nhập
Về không gian, đề tài giới hạn trong vùng lãnh thổ thuộc các quốc gia Đông Nam Á Đông Nam Á hiện nay bao gồm 11 nước, trong đó có 10 nước là thành viên của tổ chức ASEAN Nước còn lại chưa tham gia tổ chức khu vực này là Đông Timo
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích, nhìn nhận và đánh giá vấn đề
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình thực hiện luận văn Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện lại bức tranh sinh động của quá trình tìm cách xác lập ảnh hưởng của Trung Quốc, những nỗ lực duy trì vị trí độc tôn của Mĩ trong khu vực Đông Nam Á Mối quan hệ hai nước ở Đông Nam Á chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao
Trang 12Trên cơ sở bức tranh sinh động ấy, chúng tôi sử dụng phương pháp logic để rút ra bản chất vấn đề Thực chất của mối quan hệ Hoa Kỳ- Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á là một bên luôn mong muốn trở thành cường quốc lãnh đạo ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương tiến tới lãnh đạo thế giới, một bên luôn lo ngại địa vị siêu cường của mình bị thách thức Bởi vậy hai nước không ngừng cạnh tranh, bao vây kiềm chế lẫn nhau trên mọi phương diện, đặc biệt là Hoa Kỳ
Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm làm
rõ những nhân tố quốc tế chi phối đến mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần dựng lại mối quan hệ cạnh tranh giữa Hoa Kỳ- Trung Quốc ở Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh Trên cơ sở đó, chúng tôi rút ra một số nhận xét về mối quan hệ này và những vấn đề có tính chất lý luận
Bên cạnh đó, qua phân tích mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ- Trung Quốc ở trong khu vực, chúng tôi cũng dự báo triển vọng của vấn đề, những kịch bản có thể xảy ra của mối quan hệ này ở trong khu vực Đông Nam Á
Ngoài những đóng góp trên, tư liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho phần lịch sử quan hệ quốc tế trong giảng dạy và nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các nước Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì và
Trung Quốc Chương 2: Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc ở Đông Nam Á
mười năm đầu sau chiến tranh lạnh (1991-2001) Chương 3: Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc những năm đầu thế
kỉ XXI (2001 – 2010)
Trang 13Chương 1: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TRONG CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KÌ VÀ TRUNG QUỐC
1.1 Vị trí địa - chiến lược của khu vực Đông Nam Á
Khái niệm Đông Nam Á xuất hiện từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II;
là khu vực nằm ở phía nam Trung Quốc, đông Ấn Độ, bắc Australia trên vùng nhiệt đới giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Đông Nam Á hiện nay bao gồm 11 nước, có 5 nước trên lục địa và 6 nước ở quần đảo với hơn 2 vạn đảo lớn nhỏ; diện tích 4,52 triệu km2 đất liền và 4 triệu km2 biển Dân số gần 500 triệu người gồm nhiều dân tộc, trong đó có 3 dân tộc lớn là Thái, Việt và Inđônêdiêng Riêng số người Hoa di cư đến khu vực này rất đông (có thể nói là đông nhất thế giới), với hơn 20 triệu Hoa kiều và 20 triệu người gốc Hoa Trong khu vực có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Hồi (dân lục địa chủ yếu theo đạo Phật, dân quần đảo chủ yếu theo đạo Hồi); ngoài ra còn có đạo Thiên Chúa, Tin Lành ở rải rác khắp các nước trong khu vực Tuy vậy, không có đạo nào có địa vị lớn chi phối đời sống chính trị, mà chỉ có tác động về chính trị và tinh thần ở mức độ nhất định Từ thế kỷ
18, Đông Nam Á là thuộc địa của các đế quốc Trải qua quá trình đấu tranh chống ách đô hộ của đế quốc với mức độ quyết liệt khác nhau, ngày nay tất cả các nước đều đã giành được độc lập và có ý thức liên kết với nhau trong khuôn khổ ASEAN, trở thành một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới và đang có ảnh hưởng ngày càng tăng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Đông Nam Á là khu vực gồm những nước có nền kinh tế đang phát triển, có nhiều tài nguyên chiến lược quan trọng, trữ lượng lớn, có nhân lực đông, giá nhân công rẻ, là thị trường tiêu thụ lớn Nằm giữa vùng nhiệt đới, các nước Đông Nam Á
có đường biển dài, nhiều vùng có diện tích trồng trọt lớn bao gồm phần nhiều là các vùng đất thấp nằm trong phạm vi từ 100-150 dặm giáp biển; do đó nông nghiệp phát triển rất tốt, sản xuất hơn 30% gạo, 85% cao su thiên nhiên, 80% sợi gai, 84% đầu cọ, 64% đầu dừa, 57% hồ tiêu, 50% đậu, 90% gỗ quý của sản lượng chung cả thế giới Năm nước trên đất liền đều có đường biển dài, năm nước đảo chia thành
Trang 14nhiều mảnh đất, eo đất, quần đảo mà phần lớn là mặt biển có độ sâu nhỏ (có khi rất nhỏ), thuận tiện cho việc khai thác tài nguyên và mỏ ngầm đáy biển Đông Nam Á
là vùng nằm giữa vành đai Bắc và Nam của trái đất, có hầu hết 80 nguyên liệu quý dùng trong công nghiệp và quốc phòng, có nhiều mỏ với trữ lượng lớn như thiếc 72%, vàng 20%, vonfram 20% trữ lượng thế giới Đây cũng là khu vực có nhiều dầu lửa (được đánh giá là một trong những trung tâm dầu lửa lớn của thế giới) Tiềm năng kinh tế trên, dưới mặt đất; trong biển và dưới đáy biển của khu vực rất lớn, mới bắt đầu được khai thác
Vị trí địa - kinh tế đặc thù, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào đã tạo điều kiện rất thuận lợi để khu vực này phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, cung cấp những nguyên liệu quan trọng cho thế giới
Đông Nam Á còn là một khu vực chiến lược quân sự hết sức quan trọng do
vị trí địa hình nối tiếp, án ngữ, làm bàn đạp tiến ra nhiều khu vực khác, là nơi giao điểm của các trục đường hành lang giao thông vận chuyển quân sự, hàng hóa, nguyên liệu, nhiên liệu từ Đông sang Tây, từ Bắc châu Á xuống châu Đại Dương tấp nập vào bậc nhất thế giới Khu vực này tập trung nhiều tuyến đường biển quan trọng, 4 trong số 16 eo biển chiến lược trên thế giới đều nằm ở vùng này; đó là Malắcca, Lombok, Sunda và Ombai - Wetar, trong đó eo biển Malắcca (nằm giữa Malaysia và đảo Sumatra của Indonesia) là một trong 5 eo biển lớn nhất thế giới, có
vị trí vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á phải đi qua và hàng năm có 4 vạn tàu biển qua lại, hàng ngày có khoảng 7 triệu thùng dầu lửa được chuyển qua Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu trong giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42% (còn tính cả nhập khẩu thì chiếm 75%), các nước Đông Nam Á chiếm 55%, các nước công nghiệp mới là 26%, Australia là 40% và Trung Quốc là 22% giá trị xuất khẩu của các nước đó Riêng Nhật Bản, hàng năm hàng hóa xuất khẩu và dầu lửa mua từ Trung Đông (chiếm 70% dầu nhập khẩu) đi qua con đường này có giá trị 225 tỷ USD Tuy ít hơn, song
Trang 15các nước châu Âu cũng sử dụng tuyến đường biển trên cho khoảng 7% hàng xuất nhập khẩu, Mỹ khoảng 3,3% Tính chung, lượng hàng hóa hàng năm của thế giới phải đi qua tuyến đường biển chiến lược châu Á có trị giá khoảng 568 tỷ USD, chiếm 15% tổng trị giá thương mại thế giới Hiện nay, 1/4 giá trị thương mại bằng đường biển toàn cầu đi qua khu vực này Nếu khu vực này mất an ninh, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua nam Australia thì cước phí vận tải sẽ tăng gấp 5 lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Biển Đông là một khu vực chứa đựng trong lòng nó nguồn tài nguyên to lớn
Về trữ lượng dầu mỏ theo tính toán là 4 tỷ m3 và khoảng 300 tỷ m3 khí đốt (đứng thứ hai so với khu vực Trung Đông) Thêm vào đó, nguồn dự trữ tiềm tàng là những khu vực sản xuất bao quanh (khu vực nam Côn Sơn, Thanh Long, Đại Hùng ở ngoài khơi Việt Nam, Natuna ở phía bắc Indonesia ) Về hải sản, đây là một vùng
có ngư trường phong phú và nhiều tiềm năng Về khoáng sản, có rất nhiều khoáng sản quý hiếm đã được phát hiện nằm dưới đáy biển Theo con số điều tra của ủy ban kinh tế của Liên Hợp Quốc về châu Á và Viễn Đông (ECAFE); dưới đáy biển Đông
có nguồn dự trữ lớn về dầu hỏa và khí hydro - carbons Chỉ tính riêng thềm lục địa xung quanh Trường Sa đã có trữ lượng khoảng 25 tỷ mét khối gas, 105 tỷ thùng dầu
và 300 nghìn tấn phốt pho Biển Đông là biển nhiệt đới nên có trữ lượng cá và hải sản rất lớn, chỉ tính riêng quanh quần đảo Trường Sa có thể cung ứng mỗi năm 7,5 triệu tấn cá, đem lại nguồn lợi hàng tỷ đô la
Quần đảo Trường Sa nằm ở vị trí gần trung tâm biển Đông và có vị trí địa - chiến lược hết sức quan trọng Ai kiểm soát được Biển Đông nói chung và Trường
Sa nói riêng sẽ kiểm soát được tất cả những tuyến đường biển quốc tế Với ý nghĩa quan trọng đó, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa tuy ở mức độ khu vực nhưng rất thu hút được sự chú ý của quốc tế Mặt khác, tầm quan trọng về địa chiến lược của biển Đông được tăng lên bởi ý nghĩa phòng thủ về mặt quân sự đối với các quốc gia trong vùng Nằm ở trung tâm biển Đông, quần đảo Trường Sa có thể được dùng như là một căn cứ nổi từ xa để tấn công hoặc bảo vệ biên giới biển của các nước trong vùng, nhất là các nước ASEAN
Trang 16Sự tăng trưởng nhanh chóng của các nước Đông Nam Á trong Cộng đồng ASEAN cũng là nhân tố quan trọng làm tăng giá trị địa-chính trị của khu vực Trong khoảng hơn hai thập niên gần đây, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng gia tăng thì khu vực Đông Nam Á trở nên sống động hơn không chỉ bởi gia tăng hợp tác và liên kết nội khối trong ASEAN mà còn là nơi hội tụ quan hệ hợp tác của ASEAN cùng các nước thành viên với các quốc gia khác trên thế giới, nhất là các nước lớn Hiệp hội ASEAN ra đời và không ngừng tăng lên số thành viên cùng nhiều cơ chế hợp tác mới như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn
an ninh khu vực (ARF), Hội nhập ASEAN (IAI), đặc biệt là xây dựng Cộng đồng ASEAN (AC) (với 3 trụ cột chính là Cộng đồng an ninh, Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng văn hóa-xã hội)…Đồng thời còn tăng cường hợp tác chuyên ngành về giáo dục, đào tạo, y tế và môi trường… Điều đó đã biến ASEAN thành một thực thể chính trị-kinh tế có tiếng nói quan trọng trong cá vấn đề quốc tế Từ ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN có hiệu lực, đánh dấu việc ASEAN đã hiện thực hóa các kế hoạch đã cam kết và quan trọng nhất là khẳng định với thế giới việc ASEAN thực sự trở thành một tổ chức có tư cách pháp nhân, đại diện quyền lợi hợp pháp cho 10 quốc gia trong quan hệ với các nước, các tổ chức khu vực và thế giới
ASEAN còn tạo dựng được nhiều mối quan hệ sâu rộng với các đối tác quan trọng và cũng đã đạt được sự thỏa thuận với các bên đối thoại trong khuôn khổ hợp tác chiến lược hoặc toàn diện Chẳng hạn ASEAN đang giữ vai trò chủ đạo trong nhiều cơ chế hợp tác khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS)… Từ những mối quan hệ này, ASEAN đã tranh thủ được sự hợp tác, hỗ trợ
từ bên ngoài, đem lại nhiều lợi ích phục vụ mục tiêu ổn định chính trị và phát triển kinh tế cho toàn khu vực cùng các nước thành viên Cho dù toàn khu vực có khi gặp phải những thử thách lớn lao như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997-1998, song với sự hợp sức, ASEAN đã khắc phục được tương đối có hiệu quả Tất cả những thành công trên làm tăng sức hấp dẫn và vị thế của khu vực trên thế giới cũng như trong “cuộc chơi” của các cường quốc
Trang 171.2 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc
Sau chiến tranh lạnh , Đông Nam Á càng nổi lên là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết các nước lớn, nhất là
Mỹ và Trung Quốc Bởi Đông Nam Á nằm trên tuyến đường biển nối liền các khu vực có tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự như Đông Bắc Á, Ấn Độ, Trung Đông, Australia và nhiều nước thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương
Bên cạnh đó, tiềm lực kinh tế của đại đa số các quốc gia trong khu vực liên tục tăng trưởng ở mức cao, các hình thức liên kết và hợp tác giữa các thành viên trong khối ASEAN không ngừng được đẩy mạnh, tạo cho khu vực Đông Nam Á trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Trước những yếu tố đầy tiềm năng trên đã đưa Đông Nam Á trở thành một mảnh đất có vị trí chiến lược quan trọng, tạo “bước đệm” vô cùng quan trọng trong chiến lược vươn rộng ra khu vực châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu của cả Hoa Kì và Trung Quốc
Giới phân tích chính trị thế giới, trong đó bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc đã nhận định, Đông Nam Á là một khu vực quan trọng tác động trực tiếp tới chiến lược vươn rộng ra toàn khu vực châu Á và là điểm chiến lược quan trọng trong chiến lược kiềm chế lẫn nhau hay đối sách giữa Mỹ và Trung
1.2.1 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ
Theo quan điểm của Hoa Kỳ, Châu Á – Thái Bình dương trong đó có Đông Nam Á là một khu vực có ý nghĩa chiến lược ngày càng tăng đối với nền an ninh và phồn thịnh của Hoa Kỳ Trên cơ sở đánh giá về tầm quan trọng chiến lược của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong thời kì mới, vận dụng các quan điểm của chiến lược toàn cầu với những cơ hội và thách thức mới trong thời kì sau chiến tranh lạnh chính quyền Washington đã xác định mục tiêu cơ bản của chiến lược Đong Nam Á trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương là đảm bảo vai trò lãnh đạo của Mĩ ở khu vực này
Trang 18Mĩ đánh giá cao vị trí của châu Á – Thái Bình Dương, trong đó ASEAN là một trong điểm trong chiến lược phục hưng nước Mĩ Tổng thống B.Clinton nêu rõ: Châu Á ngày nay càng trở nên quan trọng hơn vì chúng ta không thể trở nên giàu có trong nước nếu không có thị trường và tài nguyên châu Á Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương trong hai thập kỉ qua có tốc độ tăng trưởng cao gấp 3 lân châu Âu Năm trong số mười hai nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới nằm ở châu Á, trong
đó ở Đông Nam Á có Indonesia
Đông Nam Á cùng với Đông Bắc Á nối liền vành đai chiến lược của Mĩ ở Thái Bình Dương với vành đai chiến lược Ấn Độ Dương Các Báo cáo quốc phòng của Mỹ đều đánh giá, sự có mặt của quân Mỹ ở Tây Âu và Đông Bắc Á không còn đáp ứng hết được các đòi hỏi của tình hình mới Do đó, một mặt Mỹ phải điều chỉnh và bố trí lại hệ thống quân sự ở những khu vực trọng yếu trên thế giới để quân Mỹ có thể phản ứng nhanh và linh hoạt hơn trong mọi tình huống, mặt khác Mỹ cần tìm cách tăng cường thâm nhập vào các căn cứ quân sự ở Đông Nam Á để chuẩn bị cho các chiến dịch quân sự có thể tiến hành trong tương lai [2, tr 13]
Trong kế hoạch thiết lập một cơ cấu an ninh mới có lợi cho việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ, Đông Nam Á có một vị trí đáng kể Tại khu vực châu
Á – Thái Bình Dương, các liên minh quân sự song phương giữa Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines, Thái Lan chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu an ninh mới của Mỹ trong thế kỷ XXI Mục tiêu lâu dài của Mỹ là phải xây dựng được một khung hợp tác an ninh kiểu NATO ở khu vực Hiện tại Mỹ đã xây dựng được một cơ chế an ninh 4 cấp gồm: liên minh Mỹ - Nhật làm nền tảng; liên minh Mỹ - Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines và Australia là các mắt xích quan trọng; hợp tác quân sự với các nước thân thiện như Singapore và Indonesia; tăng cường quan hệ quân sự với các nước khác ở khu vực Tuy nhiên, cơ chế này chưa đủ sức để tạo sức mạnh răn đe và kiềm chế trong khu vực và do đó, Đông Nam Á là địa điểm mà thông qua đó Mỹ tìm cách để thiết lập một cơ chế quân sự đa phương hay nói đúng hơn là một liên minh quân sự mới [75, tr 6-9]
Trang 19Hơn nữa, Đông Nam Á là một bàn đạp lợi hại để cô lập Trung Quốc, kiềm chế sự trỗi dậy cả về kinh tế và quân sự của Trung Quốc, ngăn chặn ảnh hưởng, bảo
vệ an ninh và quyền lợi của Mỹ trong khu vực đặc biệt là những đông minh quan trọng như Hàn Quốc, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan
Phần lớn dầu mỏ mà Trung Quốc cần cho phát triển kinh tế đều thông qua Biển Đông để vận chuyển từ vùng Vịnh và châu Phi về nước Việc tăng cường sự
có mặt của quân đội Mỹ ở khu vực này là nhằm gây áp lực đối với tuyến đường vận chuyển dầu mỏ thông qua vùng Biển phía nam Trung Hoa Để bảo đảm khống chế đường giao thông quan trọng trên biển, Mỹ luôn muốn duy trì quyền đi lại tự do đối với các vùng biển đang tranh chấp chủ quyền, không thừa nhận đòi hỏi chủ quyền của bất cứ quốc gia nào đối với vùng biển này Vì vậy, hàng năm đều phải thông qua việc qua lại của các chiến hạm hoặc diễn tập quân sự ở Biển Đông, để bảo đảm
“quyền đi lại tự do trên vùng biển này của hải quân Mỹ”
1.2.2 Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc
Với diện tích lớn, dân số đông, vị trí trung tâm, tiềm lực kinh tế mạnh, Trung Quốc đang trỗi dậy và trở thành quốc gia có vai trò bản lề trong các công việc ở Châu Á Trong đó, Trung Quốc là quốc gia láng giềng gần gũi, thân cận và lâu đời nhất đối với khu vực Đông Nam Á Trung Quốc luôn tìm cách phát huy ảnh hưởng của mình xuống khu vực này vì đây là lối đi dễ nhất để vươn ra Thái Bình Dương
Có thể nói, với vị thế một láng giềng sát kề Trung Quốc, giàu có về tài nguyên cũng như nắm vị trí địa-chiến lược trên tuyến đường hàng hải trọng yếu của quốc tế, Đông Nam Á trở thành “cửa ngõ” phương Nam của Trung Quốc Tiến về phía Tây
và phía Nam dường như đã trở thành mục tiêu lịch sử của “thiên triều” Từ ngàn năm trước, quốc gia này đã luôn mở đường đi như vậy cho sự phát triển của các
triều đại và tới ngày nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục công việc lịch sử giao phó “Đối
với Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á/ASEAN cả trong lịch sử cũng như hiện tại là khu vực có ý nghĩa chiến lược cao đối với an ninh và phát triển của mình, là nhịp cầu lý tưởng để nước này tham dự vào hoạt động chính trị quốc tế ở Đông Á, trong
đó có việc tạo dựng vị thế nổi trội ở khu vực này” [42, tr.15] Để thực hiện mục tiêu
Trang 20to lớn đó, điều Trung Quốc phải làm được đó là kiểm soát, khống chế Biển Đông, xâm nhập càng sâu vào Đông Nam Á và xa hơn là trở thành cường quốc cả về chính trị lẫn kinh tế, thách thức vai trò của Mĩ và Nhật ở Châu Á
Như vậy, trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc luôn nhắm tới việc
“chiếm đoạt” cho được vùng Biển Đông Mọi động thái của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông như một cơn sóng mạnh không chỉ ảnh hưởng đến bản thân Trung Quốc, các nước có chủ quyền ở Biển Đông mà còn khiến các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản thậm chí cả Nga, Ấn Độ đều đổ dồn con mắt về khu vực này để tìm cách đối phó
Đối với Trung Quốc, Biển Đông có tầm quan trọng sống còn bởi 80% dầu lửa nhập khẩu cùng phần lớn hàng hóa thông thương giữa Trung Quốc với Châu Âu và Trung Đông đi qua đây Người ta cũng dự tính trong tương lai, tuyến đường này sẽ đón nhận ngày càng tăng về số luợng những chuyến chuyên chở dầu lửa, trong đó, Trung Quốc sẽ chiếm hơn một nửa tổng số Có thể nói, đây là con đường “huyết mạch chủ” của kinh tế khu vực nói chung và của Trung Quốc nói riêng
Biển Đông cũng là một mỏ dầu nhiều tiềm năng và vẫn còn đang khai thác,
ngoài ra đây cũng là vùng có nguồn tài nguyên biển phong phú “Theo ước tính,
Biển Đông được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 7,7 tỷ thùng dầu, trữ lượng khí đốt khoảng 266 nghìn tỷ feet khối Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc mới đây khẳng định Biển Đông có trữ lượng 50 tỷ tấn dầu thô, hơn 20.000 tỷ mét khối khí đốt, gấp 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí đốt hiện có của nước này”
[155]
Trung Quốc hiện đang là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ chiếm 1/3 nhu
cầu toàn thế giới “Năm 2010, số lượng dầu thô quốc gia tỷ dân này tiêu thụ thực tế
là 439 triệu tấn, tăng 13,1% 55% trong số đó, tương đương 260 triệu tấn là Trung Quốc phải nhập khẩu” [154] Nhu cầu luôn tăng lên không ngừng song nguồn dự
trữ xăng dầu chiến lược của nước này lại ở mức rất thấp lại còn bị phụ thuộc vào nguồn cung Hiện nay, Trung Đông cung ứng khoảng 2,9 triệu thùng mỗi ngày, chiếm hơn một nửa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc, trong đó, nguồn dầu Ả
Trang 21Rập chiếm xấp xỉ 1,1 triệu thùng mỗi ngày Và Trung Quốc, năm 2009, đã vượt Mỹ
để trở thành quốc gia nhập khẩu dầu mỏ Ả Rập lớn nhất thế giới Đến năm 2007, Trung Quốc cũng bắt đầu nhập khẩu khí đốt sau hai thập kỉ tự túc Vì thế, nếu Bắc Phi và Trung Đông có bất ổn sẽ khiến việc cung ứng dầu mỏ cho Trung Quốc gặp nhiều khó khăn
Trước nhu cầu trong nước tăng cao cùng những xung đột ở các nước xuất khẩu dầu mỏ là động lực mạnh mẽ khiến Trung Quốc sốt sắng đi tìm những nguồn cung ứng dầu mỏ khác Cơn khát dầu khí phục vụ cho phát triển kinh tế đang trỗi dậy đã thúc đẩy quốc gia tỷ dân gây ảnh hưởng ra bên ngoài, nhắm đến những nơi
có nguồn tài nguyên này Đương nhiên, Biển Đông đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó của Trung Quốc, lại có lợi thế “láng giềng” Và dù là quốc gia tiêu thụ dầu nhiều nhất khu vực song chính Trung Quốc lại chưa khai thác được nguồn dầu mỏ ngay trong Biển Đông Theo tạp chí “thế giới hải dương” của Trung Quốc số tháng 1/2008
cũng thừa nhận “Trung Quốc đến nay vẫn thực sự chưa tiến hành khai thác gì về tài
nguyên dầu khí ở Nam Hải Phạm vi hoạt động ở Nam Hải của Tổng công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc-chủ lực về khai thác tài nguyên dầu khí hải dương của Trung Quốc-mới chỉ hạn chế ở khu vực biển gần, còn cách rất xa khu vực biển đang
có tranh chấp ở Nam Hải” [81, tr.6]
Cuối năm 2010, quốc gia này cũng bắt đầu đưa ra kết quả thăm dò dầu khí ở
Biển Đông và rất lạc quan về kết quả ban đầu ấy “Zhou Dadi, nguyên Viện trưởng
Viện nghiên cứu năng lượng thuộc Ủy ban Cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc, cho biết biển Hoa Đông và Biển Đông là hai khu vực có tiềm năng về khai thác dầu khí biển sâu và sẽ đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp và đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước” [155] Điều đó thúc đẩy Trung Quốc “chiếm đoạt”
Biển Đông càng nhanh càng tốt Với những giá trị trên chứng tỏ Biển Đông có một giá trị chiến lược to lớn không chỉ đối với Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á mà
cả với các cường quốc-vốn đang cạnh tranh về quyền lực với nhau
Ngoài ra, chỉ cần kiểm soát các đường giao thông biển là Trung Quốc đã giáng một đòn chí tử đối với Nhật, Đài Loan và Nam Triều Tiên mà không cần có
Trang 22một hành động quân sự trực tiếp nào Trên Biển Đông Trung Hoa, dọc theo quần đảo Senkaku, thuộc chủ quyền Nhật nhưng Trung Quốc cũng tranh chủ quyền là một thềm lục địa có trữ lượng dầu lớn Nếu Trung Quốc chiếm đóng vùng này, họ
có thể tạo ảnh hưởng lớn đối với các nước chung quanh, và có thể tiến công xa hơn vào các biển thuộc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương trong tương lai
Đối với Trung Quốc, Đông Nam Á càng trở nên quan trọng và không thể thiếu cho thực hiện hàng loạt các chiến lược cả trước mắt là lâu dài Đặc biệt, Bắc Kinh coi đây là một mắt xích quan trọng cho chiến lược tiến xuống châu Đại Dương, nhằm đẩy lùi an ninh và vai trò của Mỹ sang phía bên kia bờ Thái Bình Dương, đồng thời là khu vực có ý nghĩa sống còn đối với chiến lược tăng cường vai trò quốc tế, gia tăng ảnh hưởng, phá vỡ thế bao vây, cô lập của Mỹ
1.3 Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc ở Đông Nam Á từ năm 1949-1991
Sau chiến tranh thế giới thứ hai làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc bùng
nổ mạnh mẽ trên thế giới Ở khu vực châu Á, các nước Đông Nam Á đã không chần chừ chớp lấy thời cơ và giành lại nền độc lập cho mình Indonesia, sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân bản địa đã tiến hành cuộc cách mạng tháng 8.1945 thành công và lập nước cộng hòa Indonesia Cũng trong thời gian này, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đổ đế quốc Pháp –Nhật, thành lập nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á Cùng phối hợp với lực lượng cách mạng Việt Nam, nhân dân Lào cũng nổi dậy giành chính quyền
và ngày 12.10.1945, Lào tuyên bố độc lập Phong trào đấu tranh còn diễn ra mạnh
mẽ ở Miến Điện, Mã Lai, Philippines và nhiều nước khác Điều này làm dấy lên lo ngại cho Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đặc biệt trước nguy cơ lan rộng của chủ nghĩa cộng sản từ Đông Dương ra toàn khu vực
Ngoài việc phải đương đầu với các nổi dậy có thể xảy ra bất kỳ lúc nào của nhân dân bản địa, các cường quốc phương Tây, đứng đầu là Mỹ còn phải đối diện với sự trỗi dậy lớn mạnh của lực lượng Cộng sản Hoàn toàn không dễ dàng tìm
cách giải quyết vấn đề như đã từng xử lý “chủ nghĩa dân tộc” trước kia, cuộc chiến
Trang 23hiện nay mà họ đang theo đuổi khó khăn hơn nhiều Đó thực sự là bộ phận của cuộc chiến toàn cầu khi có sự tham gia cả hai siêu cường trong bối cảnh chiến tranh lạnh Khi đó, Đông Nam Á sẽ trở thành đấu trường quan trọng thi thố sức mạnh và vị thế hai bên Nước Mỹ chắc chắc sẽ chuẩn bị rất nhiều cho đợt đối đầu này Điều đó buộc các nhà hoạch định chiến lược Mỹ phải xem xét và phân tích tình hình để có đối sách kịp thời
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, với ý đồ vươn lên làm bá chủ thế giới, Mỹ
đã đề ra chiến lược toàn cầu mà một trong những trọng tâm là khu vực châu Á-Thái Bình Dương Trên bình diện tổng quát, Mỹ cho rằng Đông Nam Á là một trong những khu vực địa lí chính trị trọng yếu dứt khoát phải nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ
Tuy nhiên, sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) đã làm đảo lộn toàn bộ tính toán chiến lược của Mĩ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng Lúc đầu, Mĩ dự tính sẽ hình thành thế liên minh chống cộng với Trung Quốc ở vùng Viễn Đông nên sẵn sàng chấp nhận tiêu tốn tiền bạc, ủng hộ thế lực Tưởng Giới Thạch Nhưng trong cuộc chiến đó, Tưởng Giới Thạch đã không giành chiến thắng trước quân cách mạng
Đã vậy, sau khi giành được độc lập, nước cộng hòa mới này còn công khai đường lối đối ngoại là “ngả hẳn theo Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa” càng khiến Mĩ thêm lo ngại Trên bình diện quốc tế, họ đã khá vất vả khi cố gắng ngăn chặn sức mạnh của Liên Xô Trong khi đó, ở khu vực lại xuất hiện thêm một thế lực Cộng sản mới của Trung Quốc đang đe dọa trực tiếp vị thế quốc gia họ Bản thân
Mỹ cũng không lường trước được mức độ ảnh hưởng của quyền lực mới trong vùng
ra sao nên càng lo lắng hơn
Nếu không thể giải quyết được tình trạng này thì rất có thể, Mỹ sẽ thất bại hoàn toàn Quyền lực lãnh đạo thế giới tự do của Mỹ cũng không còn và chủ nghĩa Cộng sản sẽ ngập tràn trên thế giới Do đó, làm suy yếu quyền lực và vị thế Trung Quốc trở thành vấn đề trọng tâm của mục tiêu cân bằng quyền lực khu vực
Trang 24Dõi theo từng sự kiện ở khu vực, Mỹ bắt đầu hình dung hơn về “cường quốc Trung Quốc” và tất cả những mục tiêu thống trị mà họ đang theo đuổi Khát vọng nước lớn với mong muốn mở rộng quyền lực thực sự là những nguyện vọng chính đáng của mọi cường quốc nhưng với con đường chủ nghĩa xã hội đã chọn thì Trung Quốc không thể trở thành Đồng minh của Mỹ
Để thực hiện chiến lược trên, Mỹ đã thay Pháp dựng lên ở miền nam Việt Nam một chế độ thân Mỹ làm công cụ đàn áp các lực lượng chống đối, tiến hành cuộc chiến tranh tàn khốc trên chiến trường Việt Nam và giăng một phòng tuyến chống Việt Nam trên hầu khắp các nước láng giềng của Việt Nam gây nên tình trạng đối đầu giữa hai nhóm nước trong khu vực Để giữ được các chế độ thân Mỹ ở Đông Nam Á, đồng thời tạo sức hấp dẫn các nước khác, Mỹ đã đổ vào đây một lượng viện trợ khổng lồ cả về quân sự và kinh tế Viện trợ của Mỹ cho Đông Nam
Á đã làm cho tình hình kinh tế –xã hội khu vực này biến đổi mau lẹ Nếu như vào đầu những năm 60, hầu hết các nước Đông Nam Á đều còn trong tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nặng hầu như chưa có gì, thì chỉ sau 30 năm, Đông Nam Á vụt trở thành một trong những khu vực phát triển nhanh nhất thế giới,
bộ mặt xã hội cực kỳ phồn vinh Đồng thời với sự phát triển về kinh tế, tổ chức khu vực ASEAN cũng ra đời và lớn mạnh, gây sự chú ý của quốc tế Thời kì này Mĩ cũng tăng cường xây dựng mối quan hệ quân sự với khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong đó bao gồm cả Đông Nam Á nhằm mục đích kiềm chế sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản lan tỏa ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á Tổ chức phòng thủ Đông Nam Á hay liên minh phòng thủ Đông Nam Á được thành lập tháng 9 năm
1954, là một phòng tuyến quan trọng của Mĩ và phương Tây ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản đồng thời bao vây kiềm tỏa Trung Quốc từ hướng Nam
Từ cuối thập niên 50 đến thập niên 60 của thế kỷ XX, tình hình địa-chính trị của Trung Quốc và quốc tế thay đổi Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa môi trường quốc
tế của Trung Quốc và xu hướng “cực tả” bắt đầu nghiêm trọng trong nội bộ đất nước đã khiến cho quốc gia này chuyển chiến lược ngoại giao từ “nhất biên đảo” sang “hai nhiệm vụ” chống Liên Xô và chống Mỹ
Trang 25Do đó, để tránh sự tấn công từ hai phía và thoát khỏi cục diện bị động trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc đã chuyển trọng tâm ngoại giao sang các nước ở
“giữa hai vòng kìm kẹp”, tức các nước thuộc “thế giới thứ ba” Mao Trạch Đông đã
đưa ra học thuyết về “ba thế giới” như sau “thế giới thứ nhất là Mỹ và Liên Xô, là
thế giới siêu cường, là kẻ bóc lột quốc tế lớn nhất trong thời đại ngày nay; thế giới thứ hai là các quốc gia tư bản chủ nghĩa có tính “hai mặt”, vừa mâu thuẫn, vừa liên kết với thế giới thứ nhất; thế giới thứ ba gồm hơn 100 quốc gia ở Á, Phi, Mỹ Latinh và Nam Âu, chiếm 2/5 diện tích và 3/4 dân số thế giới, là các nước bị siêu cường áp bức, bóc lột, khống chế Trung Quốc thuộc thế giới thứ ba, cùng các nước này chống lại siêu cường Xô-Mỹ” [61, tr.350] Vì thế, quan hệ ngoại giao Trung
Quốc với các nước Á-Phi-Mỹ Latinh luôn được duy trì ở trạng thái hữu nghị, quốc gia này lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước như Campuchia, Lào, Cuba…Đặc biệt Trung Quốc tìm mọi cách gia tăng ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á – một vùng đệm nằm sát sườn Trung Quốc!
Là cường quốc từng theo đuổi giấc mộng bá quyền khu vực, tư tưởng Đại Hán từ lâu đã ngự trị trong tâm khảm các nhà cầm quyền nước này Vào thời phong kiến, theo khuynh hướng “Nam Tiến”, họ đã từng mở rộng quyền lực xuống Hoa Nam và Đông Nam Á mà Việt Nam là bằng chứng quá khứ xác thật nhất về điều
đó Sau thời điểm 1949, kế hoạch đó vẫn tiếp tục được thực hiện bằng mong muốn tạo dựng vị trí quyền lực nước lớn và là đối trọng với Mỹ Biết rằng “tiềm lực chưa
đủ mạnh” nên Trung Quốc cần một “lá chắn” bảo vệ và hướng Đông Nam - nơi tồn tại của các quốc gia nhỏ Đông Nam Á (với số lượng lớn Hoa Kiều sinh sống) là vùng đất thích hợp nhất
Dựa vào uy thế Đảng Cộng sản, Trung Quốc hy vọng có thể mở rộng ảnh hưởng thông qua việc giúp đỡ phong trào đấu tranh khu vực Thực tế, nhiều nhà lãnh đạo Đông Nam Á đã không hăng hái tiếp nhận thái độ đó và tỏ ra cảnh giác vì dẫu sao Trung Quốc vẫn là “mối nguy hiểm cần đề phòng” nên quan hệ giữa Trung Quốc với khu vực chỉ giới hạn với ba nước Đông Dương mà thôi
Trang 26Vì vậy trong những năm 50-60 của thế kỉ XX cuộc cạnh tranh ảnh hưởng Hoa Kỳ-Trung Quốc chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Dương Nếu như Hoa Kỳ tìm mọi cách ủng hộ Pháp và các chính quyền thân Pháp, Mĩ trong cuộc chiến tranh Đông Dương, thì ở chiều ngược lại Trung Quốc cũng cố gắng ủng hộ về mọi mặt cho ba nước Đông Dương trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa thực dân cũ và mới
ở đây
Bước sang thập niên 70, tình hình quan hệ quốc tế đã có nhiều biến đổi quan trọng, nhất là xu hướng “đa cực hóa” với sự hình thành các trung tâm quyền lực khu vực mới Các cường quốc mới này đã chi phối ưu thế và vị thế kinh tế, quân sự của
Mỹ Trong khi bản thân nước Mỹ còn phải lo đối mặt với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đòi độc lập và tự trị ở Á, Phi, Mỹ La Tinh thì điều này càng khiến chính phủ này thêm khó khăn và lúng túng Chính quyền Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu theo xu thế mới - đối thoại hòa bình, tiếp tục lập lại trật tự quan hệ quốc tế trong khuôn khổ “ngăn đe thực tế”
Vấn đề quan trọng hàng đầu, có tác động lớn nhất đối với Mĩ ở Đông Nam Á
là Nam Việt Nam - nơi quân đội Mỹ đang sa lầy trầm trọng Bất cứ sự kiện nào diễn
ra ở đây cũng đều thu hút sự quan tâm và chú ý của chính khách và dư luận Mỹ
Quan hệ Mỹ- Trung bắt đầu từ những năm 70 bằng “ngoại giao bóng bàn” và sau đó là chuyến thăm Bắc Kinh giật gân của H Kissinger, cố vấn hội đồng an ninh
Mỹ mở đường cho cuộc đi thăm của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc và thông cáo Thượng Hải (2/1972) Cuộc khai thông trong quan hệ Trung -Mỹ thật sự gây ra những chấn động lớn trên thế giới không những mở đầu cho việc hình thành một nền ngoại giao mới, nền ngoại giao tam giác Mỹ-Xô- Trung mà còn làm cho đồng minh của Mỹ, Trung Quốc bị choáng váng vì cái gọi là “cú sốc Nixon”
Ở Đông Dương, Trung Quốc cam kết không can thiệp quân sự vào Đông Dương; đổi lại, Hoa Kỳ cam kết cùng Trung Quốc phối hợp chống "bá quyền" Liên
Xô
Trung Quốc chấp nhận kiềm chế Việt Nam; đổi lại, Hoa Kỳ giảm dần đi đến triệt thoái các căn cứ quân sự và quân đội Hoa Kỳ ở Đài Loan
Trang 27Trung Quốc chấp nhận để Hoa Kỳ giữ nguyên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, không ủng hộ việc thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam sau khi có hiệp định hòa bình; đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế Thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thay thế Đài Loan
“Bằng kinh nghiệm lịch sử của bản thân, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiểu rằng đồng minh Trung Quốc đã bán đứng mình, Việt Nam đã trở thành món hàng mặc cả để giữ thế cân bằng lực lượng giữa các cường quốc đối với các vấn đề Đông Nam Á và thế giới” [ 48]
Sau khi đạt được những thỏa thuận với Trung Quốc qua thông cáo Thượng Hải, Hoa kỳ bắt đầu mở rộng quy mô chiến tranh Đông Dương sang Lào và Campuchia, hình thành cục diện “Đông Dương hóa” chiến tranh ở đây Mỹ muốn chuyển giao trách nhiệm chiến đấu cho quân đội Việt Nam Cộng hòa để rút dần quân Mỹ nhưng vẫn giữ nguyên những lợi ích chiến lược của Mỹ ở Việt Nam và Đông Duơng Tuy vậy Mĩ vẫn không thể khuất phục được Việt Nam, bắt buộc phải ngồi vào bàn đàm phán bốn bên để kết thúc chiến tranh
Từ năm 1972 - 1973, Hội nghị Paris được thông qua với những mật đàm giữa Mỹ và chính phủ Hà Nội, bất chấp phản đối của chính phủ Sài Gòn Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã chính thức được ký kết Tuy nhiên, trên thực tế, cục diện “Việt Nam hóa” chiến tranh vẫn tiếp diễn Năm 1974 - 1975, quân giải phóng Việt Nam đã tiến hành các chiến dịch giải phóng Đông Nam Bộ - Tây Nguyên - Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn, hoàn thành giải phóng miền Nam
Thất bại quân sự ở chiến trường Nam Việt Nam đã thực sự đưa đến những tổn hại ghê gớm đến vị thế và quyền lực nước Mĩ trên thế giới, buộc Mĩ phải rút lui khỏi Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung trong giai đoạn 1975-1979 Chính phủ Mỹ đã tiến hành hoạch định lại toàn bộ chính sách đối ngoại đối với Đông Nam Á Theo đó, các mục tiêu chiến lược ở đây phải được điều chỉnh sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới
Trang 28Còn về phía Trung Quốc, sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam và giảm dần ảnh hưởng trong khu vực, Trung Quốc tìm mọi cách gây ảnh hưởng và tìm cách tiến xuống Đông Nam Á để kiểm soát vùng đệm này Sự kiện khởi đầu vào năm
1974, Trung Quốc đưa quân ra chiếm quần đảo Hoàng Sa lúc này đang do chính phủ Việt Nam cộng hòa kiểm soát, tạo một chỗ đứng chân trên Biển Đông Năm
1979 Trung Quốc gây chiến tranh biên giới với Việt Nam, để khẳng định thanh thế, khả năng gây sức ép và hù dọa các nước trong khu vực Đến năm 1988 Trung Quốc lại tiếp tục đánh chiếm một số hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam kiểm soát, gây ra tình trạng căng thẳng giữa hai nước và trong khu vực Những sự kiện này làm cho các quốc gia trong khu vực hoài nghi ý đồ thực sự của Trung Quốc đối với Đông Nam Á
Như vậy sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhất là sau khi nước công hòa dân nhân dân Trung Hoa ra đời, mối quan hệ cạnh tranh Hoa kỳ - Trung Quốc ở Đông Nam Á có nhiều diễn biến phức tạp Trong giai đoạn 50-60 của thế kỉ XX hai cường quốc với hai ý thức hệ khác nhau xem nhau như là kẻ thù không đội trời chung Trong khi Hoa Kỳ tìm mọi cách để lấp chỗ trống của các nước Pháp, Anh để lại ở Đông Nam Á nhằm ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa công sản, bao vây kiềm chế Trung Quốc Ngược lại Trung Quốc ra sức giúp đỡ các nước trong khu vực, đặc biệt
là các nước Đông Dương chống lại ách xâm lược của Mĩ Đồng thời nhân cơ hội giúp đỡ, Trung Quốc tìm mọi cách để gây ảnh hưởng với các quốc gia này
Từ những năm 70 của thế kỉ XX quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc có nhiều bước phát triển Từ chỗ đối đầu, hai bên từng bước đi đến đối thoại và đến năm
1979 hai nước bình thường hóa quan hệ với nhau! Ở khu vực Đông Nam Á khi Mĩ
bị sa lầy và buộc phải rút quân khỏi Việt Nam Lợi dụng sự thoái lui của Mĩ sau
1975, Trung Quốc từng bước tìm mọi cách gia tăng ảnh hưởng của mình trong vực,
kế cả bằng biện pháp quân sự Cuộc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, xâm lược biên giới Việt Nam năm 1979, chiếm một số hòn đảo thuộc quần đảo Trường
Sa của Việt Nam năm 1988 là những minh chứng rõ ràng
Trang 29Chương 2: MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH HOA KỲ-TRUNG QUỐC
Ở ĐÔNG NAM Á 10 NĂM ĐẦU SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2001)
2.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 10 năm đầu sau chiến tranh lạnh
Bill Cliton lên làm Tổng thống Mỹ trong bối cảnh thế giới bước vào thời kỳ hậu chiến tranh lạnh sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu - Liên
Xô và sự tan rã của trật tự thế giới đối đầu hai cực Những thay đổi này lại được thúc đẩy nhanh thêm bởi sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Nguy cơ chiến tranh giữa các nước lớn giảm đi nhưng các xung đột lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo lại tăng lên cùng với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống Những vấn đề kinh tế nổi lên chiếm ưu thế trong các chương trình nghị sự của tất cả các quốc gia Do vậy, duy trì hòa bình, ổn định trong môi trường quốc tế mới và tìm kiếm lợi thế tương đối trong trật tự quốc tế mới đang hình thành
là mục tiêu chiến lược của mỗi nước
Sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen nhau Môi trường quốc tế về cơ bản thuận lợi cho việc thực hiện mưu đồ bá chủ của Mỹ Nước Nga đang trong thời kỳ chuyển đổi đầy khó khăn Các trung tâm kinh tế Nhật Bản, Tây Âu tuy mạnh nhưng chưa đủ tiềm lực tổng hợp thách thức vị
trí của Mỹ Bên cạnh đó, sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa là cơ hội to lớn để Mỹ truyền bá mô hình kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền kiểu phương Tây ra toàn thế giới Tuy nhiên, Mỹ lại phải đối phó với những khó khăn xuất phát từ ngay trong lòng nước Mỹ Về kinh tế, cuộc chạy đua vũ trang tốn kém trong thập kỷ 80 làm cho kinh tế Mỹ suy giảm nghiêm trọng Tốc độ tăng trưởng GDP giảm liên tục, sức cạnh tranh giảm sút, nợ liên bang trầm trọng, thâm hụt cán cân buôn bán và ngân sách lên đến mức báo động, mức sống của người dân ít được cải thiện Về chính trị, trong giới lãnh đạo Mỹ cũng như công chúng Mỹ, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái "biệt lập" và "quốc tế" chưa chấm dứt phản ánh sự chưa thống nhất trong nhận thức về vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ, đây là một khó khăn đối với việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ mới
Trang 30Ngoài ra, Mỹ còn phải đối phó với những thách thức mới trong môi trường quốc tế, đó
là sự vươn lên của các trung tâm quyền lực, xu hướng ly tâm trong các nước đồng minh của Mỹ, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
Trước những khó khăn, thách thức như vậy, chính quyền Clinton vẫn phải tiếp tục theo đuổi mục tiêu chiến lược bao trùm là duy trì sự lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới Những quyền lợi to lớn và quan tâm chiến lược sâu sắc ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới do các chính quyền Mỹ gây dựng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai không cho phép bất kỳ một tổng thống nào có thể từ bỏ để tập trung củng cố nội bộ theo "chủ nghĩa biệt lập" Chính vì thế, trong tuyên bố nhậm chức ngày 20/1/1993, Tổng thống B Clinton tuyên bố: "Mỹ vẫn có trách nhiệm trên thế giới Dân tộc chúng ta (Mỹ) sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi"
Để đạt mục tiêu "lãnh đạo thế giới", các nhà hoạch định chiến lược Mỹ đưa ra chiến lược toàn cầu mới "Can dự và mở rộng" dựa trên việc mở rộng cộng đồng các nền dân chủ theo kinh tế thị trường đồng thời răn đe, ngăn chặn các hiểm họa đối với
Mỹ và đồng minh của Mỹ với 3 trụ cột chính là: Bảo vệ vững chắc an ninh của Mỹ bằng một lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu cao; Hỗ trợ cho sự hồi sinh kinh tế của Mỹ; Thúc đẩy dân chủ nhân quyền ở nước ngoài [9, tr.11] Trên cơ sở đó, khi tập trung vào các mối đe dọa mới và các cơ hội mới, mục tiêu chính của Mỹ là:"Tăng cường an ninh của Mỹ qua việc duy trì tiềm lực phòng thủ mạnh và thúc đẩy các biện pháp hợp tác an ninh, khuyến khích sự thịnh vượng kinh tế của Mỹ qua việc mở rộng của thị trường nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu; thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài" [9, tr.12] Để thực hiện các mục tiêu này, chính quyền Clinton chủ trương xây dựng một chính sách đối ngoại gồm ba nội dung chính:
Thứ nhất, khôi phục sức mạnh kinh tế Mỹ thông qua đẩy mạnh kinh tế đối
ngoại, tự do hóa thương mại toàn cầu nhằm đảm bảo an ninh kinh tế, trên cơ sở đó
hỗ trợ cho chiến lược quân sự quốc phòng, bảo vệ vững chắc vị trí bá quyền của
Mỹ Giành lại vị thế lãnh đạo kinh tế trong nền kinh tế thế giới được chính quyền Clinton coi là ưu tiên và lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ trong giai đoạn mới
Trang 31Quyết tâm đó được Tổng thống B Clinton khẳng định trong tuyên bố nhậm chức ngày 20/1/1993:"Tôi sẽ tập trung vào kinh tế như một chùm lase" Theo đó, kinh tế trở thành
ưu tiên hàng đầu trong trong tất cả các lĩnh vực trong đó có quan hệ đối ngoại: "Lợi ích kinh tế phải là trọng tâm chủ yếu của chính sách đối ngoại Mỹ" [10, tr 16] và: "Trên mặt trận kinh tế, chắc chắn với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, hoạt động kinh tế
do sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn và sự thu hẹp lại của khoảng cách về thông tin liên lạc ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách đối ngoại của chúng ta" [108,
tr 25] Xuất phát điểm của chính sách phục hồi kinh tế của chính quyền Clinton là kinh tế đối ngoại gắn liền với kinh tế trong nước và do đó, cùng với các chính sách kinh tế trong nước, thì chính quyền B Clinton kiên trì theo đuổi tự do hóa thương mại, coi đây là biện pháp chiến lược quan trọng nhất và là động lực chính của chính sách kinh tế đối ngoại Mỹ.Với các nước đang phát triển, Mỹ khuyến khích xu hướng kinh tế thị trường, thúc đẩy tự do thương mại và đầu tư, tự do cạnh tranh, mở cửa cho hàng hóa Mỹ thâm nhập …
Thứ hai, xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh làm công cụ khống chế
các nước đồng minh cũng đồng thời là đối thủ, khống chế các khu vực và đủ khả năng đối phó với các mối đe dọa khác về an ninh trên thế giới Tổng thống B Clinton khẳng định: "Sức mạnh kinh tế và quân sự của chúng ta, cũng như sức mạnh tư tưởng của chúng ta làm cho các nhà ngoại giao giữ vị trí hàng đầu giữa những người ngang sức nhưng dù sao thì lực lượng quân sự vẫn là yếu tố không thể thay thế được của sức mạnh cường quốc chúng ta Kể cả khi chiến tranh lạnh đã hết, đất nước ta vẫn buộc phải duy trì các lực lượng quân sự có hiệu quả để ngăn chặn nguy cơ từ nhiều phía
và khi cần thiết, chiến đấu và chiến thắng địch" [10] Để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, Mỹ chú trọng phát triển kỹ thuật quân sự cao của cả vũ khí thông thường và hạt nhân Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo cho lực lượng quân sự có thể đối phó nhanh nhạy với những đe dọa tiềm tàng, phù hợp với khả năng thực tế của Mỹ, chính quyền Clinton chủ trương cơ cấu lại quân đội, thúc ép đồng minh gánh vác thêm chi phí đóng quân của Mỹ ở nước ngoài trong kế hoạch "chia sẻ trách nhiệm"; giải quyết các cuộc xung đột thông qua cơ chế đa phương có sự chỉ đạo của Mỹ
Trang 32Thứ ba, thúc đẩy dân chủ nhân quyền Đây là một trong ba trụ cột trong
chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton và là một bộ phận cấu thành trong trật
tự thế giới mới với sự lãnh đạo của Mỹ, do Mỹ dàn dựng Khi chiêu bài chống chủ nghĩa cộng sản cũng như các biện pháp quân sự trực tiếp đã giảm hẳn tác dụng thì dân chủ nhân quyền là công cụ thích hợp hơn cả để Mỹ tập hợp lực lượng Đồng thời, thông qua quá trình này, Mỹ muốn áp đặt các giá trị Mỹ đối với các dân tộc khác Trong thời gian cầm quyền, Clinton đã tìm nhiều cách để thúc đẩy dân chủ nhân quyền ở các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đồng thời tác động vào các nước xã hôi chủ nghĩa còn lại Những biện pháp chính quyền Clinton đã áp dụng là Bộ Ngoại giao Mỹ nghiên cứu và viết báo cáo về tình trạng nhân quyền trên thế giới để gửi Quốc hội, thông qua các Hội nghị nhân quyền quốc
tế, các cơ chế đa phương để tác động vào những nước mà Mỹ cho là "vi phạm nhân quyền" Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng các biện pháp kinh tế như gắn vấn đề dân chủ nhân quyền với ưu đãi thương mại, Quy chế Tối huệ quốc, thậm chí cấm vận, cô lập chính trị Tuy nhiên, chính quyền Clinton cũng chủ trương không đặt ra yêu cầu đạt được mục tiêu dân chủ nhân quyền bằng bất cứ giá nào trong quan hệ với các nước, không để vấn đề này ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ
Tóm lại, nhằm xây dựng sức mạnh một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, quân sự, chính trị tư tưởng, chiến lược đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh lạnh tập trung vào ba nội dung chính: an ninh kinh tế, an ninh quân sự và thúc đẩy dân chủ nhân quyền Đảm bảo lợi ích kinh tế được coi là ưu tiên cao nhất của chính quyền Clinton nhưng sức mạnh quân sự vẫn được chú trọng và lần đầu tiên, dân chủ nhân quyền được nâng lên thành một trụ cột bên cạnh hai nội dung truyền thống là kinh tế và quân sự Có thể nói, cơ sở tư tưởng của chính sách đối ngoại của Clinton là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực, hay nói cách
khác, đó là "chủ nghĩa hiện thực dân chủ" theo cách gọi của chính Clinton
2.2 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á
Dưới chính quyền B Clinton, châu Á – Thái Bình Dương ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Trong Chiến lược "Cam kết và
Trang 33mở rộng", Đông Á được coi là khu vực có tầm quan trọng ngày càng lớn đối với các mục tiêu của Mỹ Báo cáo Chiến lược an ninh quốc gia năm 1995 cũng khẳng định,
"khu vực này có ý nghĩa ngày càng tăng đối với nền an ninh và sự tồn tại của Mỹ Không ở đâu ba yếu tố trong chiến lược của chúng ta (Mỹ) lại liên hệ chặt chẽ với nhau như vậy và cũng không ở đâu sự cần thiết phải tiếp tục có sự dính líu của Mỹ lại hiển nhiên như vậy" và "khi nghĩ về khu vực châu Á – Thái Bình Dương thì vấn
đề an ninh nổi lên trước và sự hiện diện về quân sự được cam kết của Mỹ sẽ tiếp tục
có tác dụng như một nền tảng cho vai trò an ninh của Mỹ ở khu vực năng động này của thế giới" [23, tr 28] Với tư cách là một cường quốc châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ coi sự có mặt thường xuyên của mình ở châu Á – Thái Bình Dương là
"đặc biệt quan trọng" Đối với khu vực này, Mỹ phải giữ được "vai trò lãnh đạo chủ chốt" để không cho bất cứ một cường quốc nào nổi lên chống lại Mỹ, đồng thời phải thúc đẩy kinh tế thị trường và tự do dân chủ có lợi cho Mỹ Mục tiêu cụ thể của
Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương là:
1 Duy trì sự cân bằng tương đối ổn định giữa các cường quốc trong khu vực, ngăn ngừa xung đột quân sự và bất cứ cường quốc hay liên minh nào nổi lên thống trị khu vực, thách thức lợi ích của Mỹ; đảm bảo lợi ích an ninh kinh tế, đề cao giá trị Mỹ
2 Không cho một quốc gia nào giành được thế mạnh quân sự và tạo ra mối
đe dọa trực tiếp đối với các nước láng giềng
3 Bảo đảm sự lưu thông hàng hóa và tài nguyên trong khu vực và giữa khu vực này với Mỹ
4 Khuyến khích các nhà nước và các chế độ cam kết sự cởi mở về chính trị
và tăng khả năng kinh tế cho các công dân của họ
5 Tăng cường sáng kiến của các quốc gia khu vực nhằm hợp tác một cách chặt chẽ với Mỹ trong các mục tiêu về an ninh, kinh tế và chính trị [1, tr 10]
Căn cứ vào những đặc điểm mới nói trên, Mĩ cho rằng cần phải tiến hành điều chỉnh lớn về chiến lược an ninh khu vực châu-Á Thái Bình Dương
Trang 34Một là xây dựng hệ thống an ninh và hợp tác khu vực châu Á-Thái Bình Dương do Mĩ lãnh đạo và làm hạt nhân, dựa trên cơ sở các mối quan hệ song phương và lấy khả năng phòng bị đầy đủ làm hậu thuẫn Hoa Kì cho rằng, đặc điểm dân tộc và văn hóa khu vực châu Á-Thái Bình Dương rất đa dạng, về mặt địa lý cũng quá phân tán, do đó, việc lập một liên minh an toàn dựa trên cơ sở rộng rãi và tương tự như khối NATO là điều không thể thực hiện đuọc, Cho nên, trong khi tiếp tục phát triển mối quan hệ an ninh với các nước đồng minh trong khu vực này, Mĩ cần phải khuyến khích hợp tác an ninh giữa các nước trên cơ sở lợi ích chung, xây dựng hệ thong an ninh mới ở khu vực Thái Bình Dương dựa trên cơ sở các mối quan hệ song phương( nhất là mối qun hệ liên minh song phương) Trong một hệ thống an ninh như vậy, Hoa Kì sẽ phát huy được hai tác dụng: vai trò lãnh đạo và làm hạt nhân; tác dụng của người điều hành thành thực, tức là Hoa Kì đứng ra phối hợp quan hệ các mặt Đồng thời, Mĩ sẽ kiên trì yêu cầu những nước đồng minh có khả năng gánh vác nghĩa vụ tài chính ngày càng nhiều đứng ra đảm đương trách nhiệm ngày càng lớn hơn trong hệ thống phòng thủ chung, Một hệ thống an ninh như vậy được coi là khâu then chốt để thực hiện chiến lược mang tính chất phòng bị tích cực
Hai là giảm theo từng giai đoạn lực lượng quân sự Mĩ ở khu vực châu Thái Bình Dương, đồng thời tiếp tục duy trì sự có mặt của Mĩ trên khu vực tiền duyên Nhiệm vụ chủ yếu của quân đội Hoa Kì sẽ từ việc kiềm chế Liên Xô chuyển sang vai trò giữ cân bằng khu vực
Á-Hoa Kì cho rằng, với sự sụp đổ của Liên Xô, mối đe dọa đối thủ này ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ không còn và chi phí quân sự Mĩ trong 10 năm tới sẽ khó có thể tăng lên nhiều, cho nên Mĩ vừa có khả năng cũng vừa cần phải giảm bớt lực lượng quân sự tại khu vực này Vì vậy, Bộ Quốc phòng Hoa Kì đã vạch một kế hoạch gồm 3 giai đoạn thực hiện trong 10 năm cho việc cắt giảm lực lượng quân sự của họ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Đối với Đông Nam Á, Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới của Mỹ năm 1998 khẳng định: "Lợi ích chiến lược của chúng ta ở Đông Nam Á là tập trung
Trang 35vào việc phát triển các quan hệ kinh tế, an ninh song phương và khu vực, hỗ trợ ngăn chặn và giải quyết xung đột, tăng cường sự tham gia vào tiến trình phát triển kinh tế của khu vực" Các mục tiêu an ninh của Mỹ trong khu vực là: Duy trì liên minh an ninh của Mỹ với Thái Lan và Philippines; Duy trì những dàn xếp an ninh với Singapore và các nước ASEAN khác; Khuyến khích sự nổi lên của một ASEAN liên kết hùng mạnh có khả năng tăng cường an ninh và thịnh vượng khu vực Trên
cơ sở đó, chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á được kết hợp theo hai hướng chính: Thứ nhất, duy trì quan hệ ngày càng có hiệu quả với ASEAN và tăng cường
đối thoại an ninh trong khuôn khổ Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) Thứ hai, theo
đuổi các sáng kiến tay đôi với từng nước Đông Nam Á nhằm thúc đẩy dân chủ nhân quyền và ổn định chính trị; hỗ trợ cải cách kinh tế theo hướng thị trường; giảm tác động của tội phạm có tổ chức, đặc biệt là luồng di chuyển heroin từ Myanmar vào các nước trong khu vực [74, tr 63] Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới
cũng nêu rõ mục tiêu của Mỹ trong việc thúc đẩy dân chủ, nhân quyền ở khu vực
bao gồm các nỗ lực: tạo ra đối thoại chính trị có ý nghĩa giữa nhà cầm quyền Myanmar và phe đối lập dân chủ; Hợp tác với chính phủ mới của Indonesia để thúc đẩy cải thiện sự tôn trọng nhân quyền, tăng cường các tiến trình dân chủ và giải pháp chấp nhận được về mặt quốc tế cho vấn đề Đông Timor; Hợp tác với ASEAN khôi phục nền dân chủ Campuchia và khuyến khích sự tôn trọng hơn đối với nhân quyền; Đạt kết quả tìm kiếm đầy đủ nhất có thể các quân nhân mất tích, thúc đẩy tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam và hối thúc Việt Nam thực thi đầy đủ chương trình tái định cư cho người Việt Nam hồi hương
Có thể khẳng định rằng, chính sách của chính quyền B Clinton đối với Đông Nam Á là nhằm duy trì sự ổn định trong khu vực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đây là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình triển khai chính sách của Mỹ với khu vực và được thể hiện trong các lĩnh vực chủ yếu sau:
2 2.1 Trong lĩnh vực chính trị
Để duy trì sự lãnh đạo của mình ở Đông Nam Á, Mỹ chủ trương tăng cường quan hệ với các nước ASEAN thông qua các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN
Trang 36(AMM), Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (PMC), Đối thoại Mỹ - ASEAN
và Diễn đàn khu vực ARF Các nhà lãnh đạo Mỹ đã nhiều lần khẳng định sự cam kết đối với các nước đồng minh và bạn bè của Mỹ thông qua các bản báo cáo chiến lược, các bài phát biểu và các cuộc viếng thăm cấp cao của Tổng thống B.Clinton
và nhiều quan chức Mỹ đến các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Indonesia
Tuy đã rút khỏi Đông Nam Á, nhưng Mỹ cũng không muốn các nước lớn khác mở rộng ảnh hưởng nhằm lấp khoảng trống chiến lược mà Liên Xô và Mỹ để lại Do đó, trong ý đồ của Mỹ, ASEAN có vai trò đối trọng ngăn cản sự lớn mạnh gia tăng của các nước lớn khác trong khu vực Về vấn đề này, Báo cáo chiến lược
an ninh của Mỹ đối với châu Á – Thái Bình Dương chỉ rõ: "Sự xuất hiện của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như một đấu thủ khu vực ngày càng có
ảnh hưởng là một diễn biến quan trọng".[14, tr.9] Nhưng mục tiêu này của Mỹ
không hẳn trùng hợp với lợi ích an ninh của các nước Đông Nam Á bởi hơn ai hết, các nước Đông Nam Á đã quá hiểu những tổn thất thiệt thòi do sự chi phối, can thiệp của các cường quốc bên ngoài trong thời kỳ chiến tranh lạnh Giờ đây, cái họ cần là một môi trường hòa bình ổn định để phát triển Khi chiến tranh lạnh kết thúc, trong vấn đề xây dựng trật tự thế giới mới ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, các nước lớn đều muốn khẳng định vai trò ảnh hưởng của mình đối với khu vực Tình hình đó giúp cho Đông Nam Á có khả năng trở thành một nhân tố quan trọng cân bằng giữa các nước lớn Đứng trước cơ hội mới này, một số nước Đông Nam Á
đã điều chỉnh chiến lược chỉ dựa vào Mỹ và phương Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh sang thực hiện chiến lược ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas đã nói: "Chúng tôi không thể ngăn không cho bốn cường quốc (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga) vào khu vực này, nhưng phải cân bằng giữa họ với nhau và giữa họ với ASEAN" [70, tr 206] Đây cũng là lý do khiến cho ASEAN, một mặt vừa tiếp tục duy trì quan hệ song phương tốt đẹp với Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, mặt khác cũng tỏ thái độ của mình trong việc quyết định các công việc của Hiệp hội và khu vực chứ không hoàn toàn tuân theo "ý kiến chỉ đạo"
Trang 37của các nước lớn Điều này chứng tỏ ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực ngày càng có uy tín và tự chủ hơn, họ có thể quyết định các vấn đề của mình không cần sự can thiệp của các nước lớn
2 2.2 Trong lĩnh vực quân sự - an ninh
Mặc dù coi kinh tế và dân chủ nhân quyền là những mục tiêu hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình ở châu Á, nhưng Mỹ vẫn chú trọng đến chính sách an ninh như một trụ cột quan trọng nhất của "Cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương " (quan điểm do Tổng thống Cliton đưa ra năm 1993) nhằm duy trì lợi ích của Mỹ trong khu vực Chính phủ Mỹ cho rằng, sự đe dọa của Liên Xô mất đi nhưng vẫn còn tồn tại nhiều nhân tố "không ổn định" hoặc "không xác định" Những nhân tố này tuy không tạo ra sự đe dọa an ninh trực tiếp đối với Mỹ nhưng lại đe dọa an ninh và ổn định của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, uy hiếp những lợi ích của Mỹ ở nước ngoài Do vậy, chính phủ Clinton đã có sự điều chỉnh chính sách an ninh của Mỹ ở khu vực này, cụ thể là: duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, lấy các điều ước đồng minh song phương làm
cơ sở, lấy đối thoại an ninh song phương để bổ sung, dùng lực lượng quân sự to lớn mạnh mẽ làm hậu thuẫn, bảo đảm chắc chắn ổn định của khu vực châu Á – Thái
Bình Dương, giữ gìn bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khu vực này [49 tr 13-20] Ở châu Á
– Thái Bình Dương, Mỹ thường xuyên duy trì khoảng 100.000 quân nhằm tăng cường khả năng can thiệp vào công việc của khu vực trong trường hợp khẩn cấp
Mỹ tiếp tục củng cố các liên minh quân sự song phương và đa phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Australia, coi đó là chìa khóa đảm bảo các lợi ích của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương Đối với Mỹ, sáu cam kết an ninh chủ chốt của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương là các Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật (8/9/1951), Mỹ - Nam Triều Tiên (1/10/1953), Mỹ - Australia (1/9/1951), Mỹ - Philippines (30/8/1951), Mỹ - Thái Lan (8/9/1954) và Hiệp định Hiệp hội tự do với nước Cộng hòa quần đảo Marshall, Nhà nước Liên bang Micronesia và nước Cộng hòa Palau (4/11/1986) vẫn là bất khả xâm phạm trong những năm 90
Trang 38Ở Đông Nam Á, Mỹ chia sẻ lợi ích với các nước ASEAN trong việc ngăn ngừa Đông Nam Á trở thành khu vực cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc khu vực Mục tiêu của Mỹ là, mở rộng hệ thống tiếp cận và bố trí tiền tiêu của Mỹ ở Đông Nam Á để tạo điều kiện thuận lợi cho việc huấn luyện tập trận song phương
và khả năng phối hợp hành động với nhau nhằm tăng cường khả năng phối hợp hành động của Mỹ với các đồng minh và bạn bè trong các cuộc khủng hoảng [70, tr 216] Để thực hiện các mục tiêu đó, Mỹ tái khẳng định cam kết của mình với hai nước thành viên ASEAN là Philippines và Thái Lan Đồng thời, lợi dụng mối lo ngại của các nước Đông Nam Á, Mỹ thúc ép họ mở rộng thêm khả năng tiếp cận của Mỹ đối với khu vực Bởi vì, tuy Mỹ đã tái khẳng định cam kết của mình với các nước đồng minh và bạn bè và tiếp tục có mặt trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, song sự điều chỉnh chính sách của Mỹ và việc Mỹ rút quân khỏi Philippines vẫn gây cho các nước này mối lo ngại về những nguy cơ tiềm tàng như việc Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa quân đội, sự thiếu tin cậy giữa các nước trong khu vực, vấn đề Campuchia và nhất là vấn đề tranh chấp ở biển Đông Ngoài ra, cùng với việc giảm bớt sự có mặt ở châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đòi Nhật Bản phải gánh vác một phần nghĩa vụ an ninh khu vực Điều đó khiến cho các nước Đông Nam Á hết sức lo ngại Mặc dù Nhật Bản luôn tuyên bố không có ý định trở thành cường quốc quân sự nhưng phần lớn các nước Đông Nam Á dù có cách nhìn khác nhau về vai trò an ninh của Nhật đều không chấp nhận sự có mặt của quân đội Nhật
ở Đông Nam Á Chẳng hạn, năm 1997, khi Mỹ và Nhật sửa đổi Hiệp ước an ninh chung và coi vùng biển Đông Nam Á thuộc phạm vi phòng thủ chung của mình thì các nước ASEAN đã phản đối quyết liệt Cuối cùng, Mỹ, Nhật đã phải đặt vùng biển Đông Nam Á ngoài phạm vi phòng thủ [68, tr 5] Sự phản ứng này cho thấy tính chủ động tăng lên của ASEAN trong cả các vấn đề an ninh khu vực Song chính vì những nguyên nhân nói trên, các nước ASEAN vẫn muốn tiếp tục duy trì
sự hợp tác an ninh với Mỹ Quan hệ quân sự giữa Mỹ và một số nước thành viên ASEAN như Philippines, Thái Lan vẫn được tiến hành thông qua các cuộc tập trận song phương hay đa phương hàng năm, thậm chí các nước ASEAN khác như
Trang 39Singapore, Indonesia cũng đã tiến hành các cuộc tập trận với các lực lượng vũ trang của Mỹ Năm 1995, Mỹ và Thái Lan đã tiến hành 35 cuộc tập trận và năm 1996 có cuộc tập trận lớn mang tên "Hổ mang vàng" Để chia sẻ trách nhiệm, Mỹ khuyến khích Australia tiến hành các cuộc tập trận chung với các nước ASEAN Ngoài ra, các nước ASEAN còn tăng cường khả năng phòng thủ thông qua các quan hệ hợp tác quân sự giữa các nước thành viên
Mỹ vẫn tìm cách duy trì sự có mặt quân sự ở khu vực bằng cách thay thế các căn cứ quân sự ở Philippines bằng các hình thức mới với các nước Đông Nam
Á khác Cuối năm 1992, sau 18 tháng thương lượng tay đôi, chính phủ Philippines
đã từ chối gia hạn Hiệp định về các căn cứ quân sự đã ký với Mỹ trước đây, buộc
Mỹ phải rút toàn bộ quân và phương tiện ra khỏi hai căn cứ Clark và Subic, kết thúc
sự có mặt gần một thế kỷ của Mỹ ở Philippines Tuy vậy, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì hiệp định hỗ trợ phòng thủ với Philippines Để đảm bảo các lực lượng triển khai phía trước của Mỹ có khả năng tiếp cận đến khu vực được thuận tiện và dễ dàng, Chính quyền Mỹ đã thương lượng với các nhà lãnh đạo ASEAN cho phép Mỹ đặt các cơ sở hậu cần và sửa chữa ở các nước này Ngày 4-1-1992, trong chuyến thăm Singapore của Tổng thống G.Bush (cha), Mỹ đã đạt được thỏa thuận chuyển căn cứ hậu cần của Mỹ từ Subic (Philippines) sang Singapore Hàng năm, có 80-90 lượt tàu hải quân Mỹ đến thăm Singapore và nước này theo định kỳ còn tiếp nhận các đơn vị không quân - một bộ phận chủ chốt của lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, hoạt động giữa Đông Bắc Á và Trung Đông Tương tự, từ năm 1992, tại Indonesia, những tàu hải quân lớn của Mỹ cũng ghé vào để được sửa chữa định kỳ Malaysia cũng cho phép Mỹ sử dụng các phương tiện sửa chữa tàu và máy bay của mình Brunei và Mỹ thực hiện phối hợp luyện tập định kỳ theo bản ghi nhớ hợp tác đã ký kết trước đây [107, tr 3] Cuối năm 1994, Mỹ đề nghị Thái Lan cho phép Mỹ lập kho vũ khí nổi dưới dạng hàng không mẫu hạm trên vùng vịnh Thái Lan để "đảm bảo an ninh cho khu vực" Tuy nhiên, Thái Lan thấy rằng mối đe dọa an ninh đối với Thái Lan không lớn để phải có kho vũ khí thường xuyên trên đất Thái; ngoài ra,
là thành viên của ASEAN, Thái Lan phải tuân thủ tuyên bố của ASEAN về khu vực
Trang 40hòa bình, tự do và trung lập (ZOPFAN); hơn nữa, Thái Lan cần thúc đẩy quan hệ mọi mặt với các nước láng giềng để thực hiện chính sách ngoại giao đa phương của mình, do đó chính phủ Thái Lan đã quyết định từ chối lời đề nghị của Mỹ về kho vũ khí nổi Như vậy, mặc dù rút hết lực lượng quân sự ở Philippines nhưng thực chất
Mỹ vẫn mong muốn duy trì sự có mặt ở Đông Nam Á dưới hình thức khác, không thường trực Tuy nhiên, với lực lượng phản ứng linh hoạt và trang thiết bị hiện đại,
Mỹ có khả năng khi cần điều quân từ vùng biển nọ đến vùng biển kia dễ dàng và như vậy sẽ đỡ tốn kém hơn nhiều so với việc chi phí để lập một căn cứ quân sự mới trong khi các nước trong khu vực không muốn điều đó [60, tr 23-27]
2 2.3 Trong lĩnh vực kinh tế
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, một mục tiêu quan trọng của Mỹ là phát triển quan hệ với các nước ASEAN Theo phân tích của các nhà chiến lược Mỹ, cùng với Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, ASEAN có triển vọng trở thành thị trường xuất khẩu lớn của Mỹ Một
số dự báo cho thấy, năm 2010, ASEAN bao gồm 10 nước Đông Nam Á với dân số khoảng 700 triệu người sẽ có GDP hơn 1000 tỷ USD, trở thành thị trường lớn nhất, năng động nhất trong khu vực Do đó, trong chiến lược kinh tế của Mỹ đối với châu
Á – Thái Bình Dương, quan hệ thương mại Mỹ - ASEAN có vị trí rất quan trọng Chính vì vậy, Mỹ đã mở rộng danh sách "các thị trường đang nổi lên" sang cả các nước thành viên khối ASEAN Danh sách này thể hiện sự đánh giá lại của Mỹ đối với thị trường bên ngoài, đây là điều kiện hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ Từ năm 1993, Mỹ luôn coi các thị trường đang nổi lên là những
vị trí chủ chốt trong việc thúc đẩy hợp tác thương mại bên ngoài Bộ trưởng Thương mại Mỹ R.Brown nói rằng, mục tiêu của chính quyền Mỹ là muốn thấy xuất khẩu của Mỹ sang các nước ASEAN sẽ bằng hoặc vượt quá xuất khẩu sang Trung Quốc hoặc Nhật Bản trong 10 năm tới Vì vậy, Mỹ đã nâng quan hệ với ASEAN lên thành quan hệ nòng cốt trong khu vực, đặc biệt về quan hệ kinh tế
Trên thực tế, kim ngạch buôn bán hai chiều Mỹ - ASEAN tăng nhanh qua các năm: năm 1994 đạt 84 tỷ USD, tăng 15% so với năm 1993, năm 1995 đạt 101 tỷ