1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức hoạt động vui để học nhằm rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên

102 430 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc rèn luyện này phải thông qua nhiều hoạt động để cho sinh viên có thể thực hành được nhiều lần như: hoạt động đố vui để học, hoạt động học tập theo nhóm, seminar, thuyết trình, đánh

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NH ẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC

CHO SINH VIÊN

Trang 3

L ỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành được cuốn luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, em luôn nh ận được sự hướng dẫn nhiệt tình, những lời động viên khuyến khích của gia đình, của các thầy cô trong khoa và bạn bè mỗi khi em gặp khó khăn Em xin chân thành cảm ơn tất cả

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Trịnh Văn Biều, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em đi hết chặng đường, khơi dậy trong em niềm yêu thích và say

mê nghiên c ứu khoa học Em cũng xin cảm ơn cô chủ nhiệm lớp 10-11 và các em học sinh lớp 10/11 đã tạo điều kiện tốt nhất cho em tiến hành thực nghiệm đề tài nghiên cứu Xin

c ảm ơn tập thể lớp Hoá 4 đã luôn sát cánh cùng em trong thời gian qua

Bước đầu thực hiện nghiên cứu với thời gian và khả năng hạn chế, luận văn không tránh nh ững thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp chân thành của thầy cô và các b ạn

Thành ph ố Hồ Chí Minh Tháng 05 năm 2006

Trang 7

M Ở ĐẦU

1.LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, có rất nhiều sinh viên sư phạm đi thực tập không đạt yêu cầu về mặt

kỹ năng dạy học do đó việc rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm là một công việc hết sức quan trọng vì đây chính là hành trang chuẩn bị cho sinh viên sau này

ra trường không phải bỡ ngỡ Việc rèn luyện này phải thông qua nhiều hoạt động để cho sinh viên có thể thực hành được nhiều lần như: hoạt động đố vui để học, hoạt động học tập theo nhóm, seminar, thuyết trình, đánh giá và tự đánh giá, sinh hoạt và vui chơi tập thể Đây là những hoạt động cực kỳ quan trọng và rất cần thiết cho việc rèn luyện kỹ năng của sinh viên sư phạm Tuy nhiên, việc ứng dụng những hoạt động này chưa được rộng rãi và còn đang ở giai đoạn thể nghiệm ở khoa Hóa ĐHSP TP.HCM

Trước thực tế này, em quyết định chọn một trong các hoạt động rèn luyện kỹ năng cho sinh viên để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, đó là việc tổ chức hoạt động

"Vui để học"

2.M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thiết kế hoạt động "Vui để học" nhằm rèn luyện các kỹ năng sư phạm cho sinh viên khoa Hóa trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM

3.NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU

• Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

• Thiết kế hĩnh thức tổ chức và nội dung họ át động "Vui để học "

• Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính khả thi và hiệu quả của hoạt động

"Vui để học", rút ra những bài học kinh nghiệm

4.KHÁCH TH Ể VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: việc tổ chức hoạt động "Vui để học" cho sinh viên khoa

- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học và rèn luyện kỹ năng cho sinh viên

Trang 8

5.PH ẠM VI NGHIÊN CỨU

• Sinh viên năm IV khoa Hóa trường ĐHSP niên khóa 2002 - 2006

6.GI Ả THUYẾT KHOA HỌC

Nếu hoạt động này được nghiên cứu sâu sắc và kiểm chứng bằng thực nghiệm

tốt thì nó sẽ góp phần rất lớn vào việc rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư

phạm, những thầy cô giáo tương lai

7.PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

• Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài

• Điều tra, tham khảo ý kiến thầy cô và các bạn

• Tổ chức làm thực nghiệm cho sinh viên năm IV khoa Hóa hoặc học sinh trong đợt TTSP II năm học 2005 - 2006

• Phân tích, tổng hợp

• Xử lý số liệu bằng xác suất thống kê

Trang 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

NGHIÊN C ỨU

1.1 K Ỹ NĂNG DẠY HỌC

1.1.1.K ỹ năng dạy học là gì?

Có nhiều cách hiểu về kỹ năng:

1.Hiểu kỹ năng như là sự thể hiện của năng lực con người [1, tr 48]

• Đại Từ điển Tiếng Việt - NXB Văn hóa thông tin 1998 định nghĩa kỹ năng là

"khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế" Năng lực là "khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc"

• "Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết một nhiệm vụ mới" Lê Văn Hồng

Tóm lại, ta có thể hiểu kỹ năng như là một bộ phận chính (như CPU của một máy vi tính) của một công cụ (chiếc máy vi tính) giúp con người thực hiện tốt những

việc làm của mình Bộ phận chính đó chính là những kỹ năng có được trong quá trình rèn luyện và hoạt động của mình và từ những kỹ năng đó qúa lâu ngày vận dụng nhuần nhuyễn thì nó sẽ trở thành một trong các bộ phận cấu thành nên năng lực của con người Do đó, TS Trịnh Văn Biểu mới viết: "Hiểu kỹ năng như là sự thể hiện của năng lực"

2.Hiểu kỹ năng như là hệ thống các thao tác, cách thức hành động [1, tr.49]

• Gurianốp: "kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động thích hợp với

mục đích và những điều kiện hành động"

• "Kỹ năng là tổng hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp hài hoa, hợp lý nhằm đảm bảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ít

nhất trong những điều kiện thay đổi" Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn

Như đã nói ở trên kỹ năng là do sự rèn luyện và tham gia nhiều hoạt động của con người Khi tham gia nhiều hoạt động và rèn luyện nhiều nên con người cần phải

có sự phối hợp nhiều thao tác, nhiều cử chỉ, nhiều kỹ xảo với nhau để biến chúng

Trang 10

thành một kỹ năng Do đó, để có được một kỹ năng hoàn chỉnh con người cần có bỏ công ra rất nhiều và bỏ thời gian ra luyện tập rất nhiều, có như vậy nó mới trở thành

một kỹ năng nhuần nhuyễn của con người được Chính vì thế, TS Trịnh Văn Biều

mới cho rằng "kỹ năng như là một hệ thống các thao tác, cách thức hành động"

3 Không chỉ coi kỹ năng là kỹ thuật, cách thức hành động mà còn coi kỹ năng là

sự thể hiện của năng lực con người, đòi hỏi con người phải luyện tập theo một quy trình nhất định [1, tr.49]

• Theo Nguyễn Như An, "Kỹ năng sư phạm là khả năng thực hiện có kết quả một

số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách

lựa chọn và vân dụng những tri thức, những cách thức, những quy trình hợp lý"

• Theo tác giả Nguyễn Thị Côi thì: "kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù

hợp với các điều kiện cho phép" Kỹ năng đòi hỏi con người phải:

- Có tri thức và những kinh nghiệm cần thiết về hành động

- Vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm thu nhận được vào hành động một cách phù hợp với điều kiện cụ thể cho phép (phải linh hoạt, sáng tạo)

Như vậy, theo những cách hiểu về kỹ năng ở trên có 2 cách tiếp cận kỹ năng theo 2 phương diện khác nhau:

1 Xét kỹ năng dưới dạng năng lực hoạt động

2 Xét kỹ năng dưới dạng hệ thống các thao tác Ta có thể hiểu một cách tổng quát: "Kỹ năng là hệ thống phức tạp các thao tác hợp lý có hiệu quả được hình thành qua quá trình rèn luyện" Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng là quá trình rèn luyện để nắm vững hệ thống các thao tác Muốn rèn luyện kỹ năng có hiệu quả sinh viên cần phải:

- Nắm vững các kỹ thuật của hành động

- Thực hiện các thao tác theo những quy trình hợp lý

- Tìm ra những vấn đề bản chất, cốt lõi nhất để có thể điều khiển được quá trình rèn luyện các kỹ năng dạy học

Trang 11

Lâu nay, vẫn có quan niệm cho rằng rèn luyện kỹ năng là việc riêng của mỗi cá nhân Kỹ năng là một cái gì ít nhiều có tính năng khiếu, bẩm sinh, rất khó nắm bắt, khó nói ra, khó điều khiển, khó truyền từ người này qua người khác Các chương trình đào tạo giáo viên vẫn chưa nhìn nhận rõ giá trị của việc hướng dẫn sinh viên rèn luyện các kỹ năng sư phạm, cũng như chưa có những hướng dẫn cụ thể cho sinh viên rèn luyện các kỹ năng đó

1.1.2 M ột số đặc điểm của kỹ năng

1 K ỹ năng luôn luôn gắn với hành động Kỹ năng là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện [1, tr.50]

Từ những cách hiểu về kỹ năng ở trên, có thể thấy kỹ năng của con người được

thể hiện trong các hoạt động của chính bản thân họ Đó là một quá trình đào tạo, rèn luyện lâu dài của các trường học đối với người học, quá trình này diễn ra tốt giúp cho người học có thể có những kỹ năng tốt sau này sẽ ứng dụng vào trong các hoạt động

của cuộc sống

2.K ỹ năng có tính đa cấp:

- Kỹ năng đơn giản gắn với những hoạt động đơn giản

- Kỹ năng tổng quát gắn với những hoạt động phức tạp (bao gồm nhiều hoạt động: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giáo dục ) [1, tr.50]

Như TS Trịnh Văn Biểu đã nói ở trên "kỹ năng luôn gánh với hành động" Mà hành động của con người thì gồm có hai loại hành động: đơn giản và phức tạp Các kỹ năng gắn với hành động đơn giản, đòi hỏi các kỹ thuật, kỹ xảo đơn giản nên gọi là các

kỹ năng đơn giản Còn các kỹ năng phức tạp gắn với các hành động phức tạp Những hành động có mức độ khó dễ khác nhau sẽ đòi hỏi những kỹ xảo có mức độ khác nhau

từ đó nó sẽ hình thành nên các kỹ năng phức tạp hay đơn giản khác nhau

3.Kỹ năng là một thành tố tạo nên năng lực của mỗi cá nhân

Năng lực = thể chất + hiểu biết + kỹ năng [1, tr.50] Năng lực bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với một số kỹ năng tương ứng Mức độ hoàn thiện của kỹ năng là 1 trong những thuộc tính quan trọng của mỗi người Điều này làm cho những con người

Trang 12

khác nhau hoàn thành công việc với hiệu quả khác nhau Kỹ năng có tính cụ thể, riêng

lẻ còn năng lực có tính tổng hợp khái quát Ta còn có thể hiểu như thế này, năng lực là công cụ giúp con người có thể hoàn thành công việc của mình, và năng lực gắn với

một số kỹ năng cần thiết, các kỹ năng này giống như các bộ phận chính của công cụ

phối hợp với một số bộ phận khác (như là hiểu biết và thể chất) hình thành nên công

cụ (là năng lực) Ví dụ: muốn hoàn thành một bài giảng trên lớp thì người giáo viên

phải có năng lực giảng dạy, năng lực này được hợp thành từ một số kỹ năng như viết

bảng, nói, sử dụng tranh ảnh hình vẽ, cùng thể chất của người giáo viên và một vốn

kiến thức sẩn có của người giáo viên

4 Kỹ năng là 1 trong 3 thành tố cần phải có của người giáo viên: kiến thức, kỹ năng, nhân cách; là 1 trong bộ 3 mục tiêu đào tạo: kiến thức, kỹ năng , thái độ [1, tr.50] Ta thấy rằng kỹ năng là một thứ cần phải có trong cuộc sông của con người, bất

kỳ ngành nghề nào cũng cần có kỹ năng, nhất là trong nghề giáo thì kỹ năng là 1 trong

3 thành tố cần phải có của người giáo viên, dứng bến cạnh kiến thức (là một người giáo viên thì cần phải có một kiến thức vững chắc, không cần phải uyên thâm nhưng

phải cập nhật thông tin mỗi ngày, để kiến thức luôn luôn mới và sâu rộng) và nhân cách (đây là cái không thể thiếu của một con người làm việc đào tạo con người)

Trong quá trình đào tạo giáo viên, các kỹ năng dạy học được hình thành qua các

hoạt động học tập, rèn luyện Mỗi một hoạt động có thể nhắm vào hình thành một kỹ năng riêng lẻ (ví dụ: tập viết bảng) nhưng cũng có thể đồng thời một lúc hình thành nhiều kỹ năng khác nhau (ví dụ thảo luận nhóm, tập giảng )

Trong các ngành nghề khác thì kỹ năng cũng không thể thiếu do đó kỹ năng là 1 trong 3 mục tiêu đào tạo một con người cho xã hội, bao giờ học cũng phải đi đôi với hành, kiến thức bao giờ cũng phải gắn liền với việc thực hành (tức rèn luyện kỹ năng)

đi kèm với việc tu dưỡng đạo đức để trở thành một con người có tài có đức cho xã hội

1.2 CÁC K Ỹ NĂNG DẠY HỌC CƠ BẢN CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN [1, tr.50]

Để hoàn thành nhiệm vụ dạy học người giáo viên cần phải có một hệ thống rất nhiều kỹ năng khác nhau Có những kỹ năng cần hoàn thiện ngay ở đại học, có những

Trang 13

kỹ năng sẽ hoàn thiện dần sau khi ra trường Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, ta chỉ

có thể tập trung vào những kỹ năng cơ bản, thiết yếu nhất, những kỹ năng mà nếu không có nó sinh viên rất khó hoàn thành nhiệm vụ dạy học khi TTSP

Để có một tiết lên lớp, cần làm tốt công tác chuẩn bị: điều tra nắm tình hình lớp, trình độ học sinh, soạn giáo án Ở trên lớp người giáo viên hoa học cần phải có một

số kỹ năng dạy học cơ bản sau:

8 Phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh

9 Tạo mối liên hệ giữa bài giảng với thực tế đời sống

11 Xây dựng mối quan hệ thầy trò và bầu không khí lớp học

12 Củng cố, hệ thống kiến thức, làm rõ trọng tâm bài giảng

13 Kiểm tra, đánh giá

14 Phân bố thời gian hợp lý

Trong các KNDH ở trên, kỹ năng 4, 5, 9 là những kỹ năng mang tính đặc trưng

của việc dạy học hoa học Có thể phân chia 14 kỹ năng đã nếu thành 2 nhóm:

- Nhóm kỹ năng sử dụng các phương tiện, phương pháp dạy học (kỹ năng 1 -7)

- Nhóm kỹ năng định hướng, điều khiển, tổ chức thực hiện các hoạt động dạy

học (kỹ năng 8 - 14)

Trang 14

Xét về mức độ ảnh hưởng đến thành công của bài giảng một cách tương đối, các

kỹ năng được coi là quan trọng hơn gồm:

6 Phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh

7 Xây dựng mối quan hệ thầy trò và bầu không khí lớp họe

8 Củng cố, hệ thống kiến thức, làm rõ trọng tâm bài giảng

Từ những ý kiến trên của TS Trịnh Văn Biểu, cho thấy kỹ năng cần có cho một người giáo viên là rất nhiều, nó đòi hỏi người giáo viên phải cổ một sự rèn luyện chăm

chỉ lâu dài, có thể nó kéo dài đến hết sự nghiệp của một người giáo viên Lúc nào, người giáo viên cũng học hỏi và tổng kết rút kinh nghiệm từ các bạn đồng nghiệp và

lắng nghe sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp của mình

1.3 QUY TRÌNH RÈN LUYỆN CÁC KỸ NĂNG DẠY HỌC

1.3.1 M ục đích rèn luyện các kỹ năng dạy học [1, tr.51]

- Để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh một cách có hiệu quả người giáo viên phải có phương pháp và nghệ thuật sư phạm Một bài giảng tốt không

chỉ đòi hỏi người thầy có kiến thức sâu rộng, vững vàng mà còn phải có các kỹ năng

để việc "truyền đạt" kiến thức có hiệu quả

- Rèn luyện các kỹ năng dạy học là một đặc trưng của các trường sư phạm Nhiều sinh viên trong thời gian học tập ở đại học, ý thức được tầm quan trọng của các

kỹ năng dạy học đã tích cực rèn luyện, nên khi đi TTSP họ đạt được kết quả cao và trưởng thành rất nhanh sau khi ra trường

Trang 15

1.3.2 N ội dung rèn luyện các kỹ năng dạy học có các nội dung sau: [1, tr.52]

1.Nắm đặc điểm, yêu cầu, cách thức hành động và phương pháp rèn luyện từng

kỹ năng dạy học cơ bản

2.Rèn luyện để đạt được ở mức độ thuần thục từng kỹ năng đó

3.Biết cách sử dụng phối hợp các kỹ năng trong một bài lên lớp cụ thể

Khi muốn làm một việc gì đó, thì con người ta cần phải nắm rõ các đặc điểm của công việc đó, công việc đó có những yêu cầu gì (ví dụ như cần tuyển một thư ký cần

biết giỏi một ngoại ngữ, có khả năng sử dụng tin học văn phòng ), phương pháp làm công việc đó thật tốt (tức là có kinh nghiệm) Việc rèn luyện kỹ năng cũng cần phải như vậy Muốn rèn luyện kỹ năng nào đó ta cần phải nắm đặc điểm của kỹ năng đó (như kỹ năng dùng lời có các đặc điểm truyền đạt nhanh, có thể truyền đạt được

những nội dung phức tạp tế nhị, ); đồng thời nắm được những yêu cầu của kỹ năng

nhằm để biết kỹ năng này cần có những cái gì để từ đó mà có phương pháp rèn luyện cho đúng (ví dụ lời nói có yêu cầu: to rõ, phát âm chuẩn dễ nghe, không dùng từ địa phương, tránh nói lấp, có cường độ to rõ khác nhau để nhấn mạnh từ đó ta thấy rèn luyện kỹ năng dùng lời có một số phương pháp sau: tập nói trước nhóm nhỏ, tham gia các hoạt động tập thể, giảng tập cá nhân và ở nhóm, nói trước gương, tập đọc lớn

tiếng từng đoạn văn )

Khi làm một công việc gì đó, bất kỳ ai cũng muốn làm cho tới mức độ thuần

phục công việc đó, muốn làm thật hoàn chỉnh để có kết quả tốt Kỹ năng cũng vậy, kỹ năng cần có một sự khổ luyện thuần phục và liên tục, nhất là các kỹ năng dạy học người giáo viên cần phải rèn luyện thường xuyên để tiết dạy của mình ngày càng hay hơn không bị nhàm chán

Đồng thời người giáo viên cũng phải biết phối hợp các kỹ năng lại với nhau để bài giảng của mình tốt hơn và có khả năng thu hút học sinh

1.3.3 Nguyên tắc rèn luyện các kỹ năng dạy học

1.Kết hợp lý thuyết và thực hành, coi trọng cả 2 khâu: hướng dẫn của giảng viên

và hoạt động rèn luyện của sinh viên [1, tr.52]

Trang 16

- Việc rèn luyện kỹ năng là một công việc vô cùng khó khăn nếu như không có

lý thuyết của giảng viên hướng dẫn thì sinh viên rất khó thành công trong việc rèn luyện kỹ năng của mình

- Một số kỹ năng khó sinh viên không thể chỉ đọc, hiểu qua tài liệu mà còn cần được giảng viên hướng dẫn ừực tiếp nên rèn luyện như thế nào cho đúng và phương pháp rèn luyện trong nhóm và cá nhân như thế nào

- Kỹ năng chỉ được hình thành qua hoạt động thực tiễn, qua luyện tập nên cần

phải tổ chức thực hành theo lớp, nhóm và tự rèn luyện cá nhân Ví dụ: khi rèn luyện

kỹ năng dùng lời, giảng viên trong lớp có thể kêu sinh viên đọc một đoạn trong sách trước lớp, tổ chức tập giảng theo nhóm học tập

2.Sinh viên phải được học bằng hoạt động, thông qua hoạt động [1,tr.52] Cần tăng cường các cơ hội để sinh viên có điều kiện rèn luyện kĩ năng:

- Tăng đàm thoại khi giảng bài trên lớp, nhằm rèn luyện kỹ năng dùng lời, tập cho sinh viên khả năng nói lưu loát và khả năng diễn đạt qua việc trả lời câu hỏi và cho các bạn sinh viên học hỏi kỹ năng sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học

- Tổ chức học nhóm (lớn và nhỏ), các nhóm học này có tác dụng rất lớn trong

việc rèn luyện kỹ năng Trong nhóm học tập, sinh viên có thể rèn luyện kỹ năng dùng

lời, viết bảng, sử dụng hệ thống câu hỏi, sự dụng tranh ảnh hình vẽ, thông qua việc

tập giảng các bài học trong chương trình phổ thông để các bạn trong nhóm quan sát và đóng góp ý kiến

- Tận dụng giờ tập giảng cuối mỗi buổi thực hành

- Tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề, thuyết trình theo chủ đề, để giúp cho sinh viên khả năng diễn đạt trước đám đông một cách lưu loát trôi chảy

- Tổ chức các câu lạc bộ, hội nghiệp vụ, các cuộc thi đố vui hoa học, nhằm rèn luyện cho sinh viên thêm mạnh dạn hơn nữa, không còn nhút nhát trước đám đông

- Tổ chức các hoạt động tập thể như: tham quan, du lịch Sau buổi tham quan yêu cầu mỗi sinh viên hãy viết một bài báo cáo về chuyến tham quan: họ đã thu hoạch được những gì, nhận xét về chuyến tham quan đó cổ thành công không, tại sao để xem kỹ năng viết và dùng từ ngữ của sinh viên

Trang 17

3 Việc rèn luyện kĩ năng phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp [1, tr.52]

Khi làm bất cứ việc gì cũng vậy, con người ta cũng phải đi từ thấp đến cao, cũng như việc đi học, ai cũng phải bước vào học các lớp mẩu giáo trước để tập làm quen với không khí trường lớp, bạn bè, thầy cô; sau đó mới vào các lớp 1-12 để tích lũy kiến thức từ dễ đến khó cho phù hợp với độ tuổi, sau đó mới thi vào đại học theo ngành nghề mình ưa thích Vì thế, việc rèn luyện kỹ năng cũng như vậy, cũng đòi hỏi sinh viên phải tích lũy và rèn luyện từ từ, từ chỗ đơn giản sau đó mới nâng cao mức

độ rèn luyện lên để có thể thuần thục kỹ năng Ví dụ:

- Rèn kỹ năng trình bày bảng qua các giai đoạn: viết trên giấy có dòng kẻ rồi không dòng kẻ, viết bảng đơn giản, trình bày bảng một phần rồi tiến tới trình bày toàn

bộ bài học

- Rèn kỹ năng nói qua các giai đoạn: đọc, trả lời câu hỏi nhỏ, phát biểu một nội dung bài học, kể một chuyện ngắn, giảng một đoạn rồi tiến đến giảng trọn một bài

4.Rèn luyện toàn diện nhưng có trọng điểm [1, tr.52]

Sinh viên chú ý rèn luyện tất cả những kỹ năng cần thiết cho công việc của mình sau này nhưng mà khi rèn luyện kỹ năng cần chú ý những kỹ năng quan trọng như: nói, viết bảng , những kỹ năng khó cần một quá trình khổ luyện và những kỹ năng sinh viên không thể tự rèn luyện một mình

5.Rèn luyện thường xuyên, liên tục [1, tr.52]

Việc rèn luyện của sinh viên không được dừng lại, lúc nào nó cũng phải diễn ra,

nó diễn ra ngay từ năm đầu tiên sinh viên vào trường cho đến khi tốt nghiệp ra trường

và sau này đi dạy (đối với sinh viên sư phạm) hay đi làm thì việc rèn luyện này vẫn

phải diễn ra để có thể ngày càng hoàn thiện mình Việc rèn luyện kỹ năng phải diễn ra

mọi lúc, mọi nơi Ngoài việe rèn luyện ở lớp, ở nhóm, sinh viên cũng phải tự rèn luyện cá nhân ở nhà và phối hợp việc rèn luyện cá nhân với rèn luyện ở tập thể để khi rèn luyện ở lớp còn gì chưa đạt thì về nhà cần phải luyện tập thật nhiều để bổ sung

Trang 18

vào Và đối với sinh sư phạm có hai cơ hội lớn mà sinh viên cần phải tận dụng để rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm cho riêng bản thân mình đó là hai đớt thực tập sư phạm 6.Đề cao tinh thần tự giác nhưng không xem nhẹ việc kiểm tra đôn đốc [l,tr.52]

- Sinh viên cần nhận thức rõ tầm quan trọng của các kĩ năng để có ý thức tự giác trong rèn luyện, chỉ có tinh thần tự giác mới giúp được cho sinh viên ngày càng thuần

thục các kỹ năng

- Ngoài ra giảng viên cần theo sát để uốn nắn, sửa chữa kịp thời những sai sót,

lệch lạc của sinh viên trong phương pháp rèn luyện kỹ năng để hướng sinh viên đáp ứng đúng yêu cầu cần phải có của kỹ năng

- Đồng thời sinh viên cũng phải thật nghiêm túc trong việc rèn luyện, giảng viên không quá dễ dãi, qua loa đại khái sinh viên muốn rèn luyện sao cũng được mà phải

kiểm tra đôn đốc thường xuyên

7.Kết hợp việc rèn kỹ năng với việc cung cấp kiến thức và phát triển tư duy [l,tr.52]

- Lồng ghép phương pháp vào nội dung bài học Khi sinh viên trả lời không chỉ

yếu cầu đúng, đủ ý mà còn yêu cầu diễn đạt mạch lạc, lưu loát, có logic

- Vừa học (kiến thức) vừa rèn (kỹ năng), vui mà học Ví dụ: tập đọc, kể các câu chuyện vui hoa học

1.3.4 Quy trình chung khi rèn luy ện các kỹ năng dạy học [1, tr.53]

Bước 1 Chuẩn bị:

Sinh viên đọc và nghiên cứu tài liệu để nắm vững mục đích, yêu cầu, cách thức hành động đối với kỹ năng cần rèn luyện

Bước 2 Quan sát mẫu và làm thử trên lớp:

- Sinh viên nghe giảng viên hướng dẫn về lí thuyết (chú ý những chỗ khó, những kinh nghiệm để thành công)

- Giảng viên làm mẫu (có thể chọn sinh viên có kỹ năng tốt để làm mẫu)

- Sinh viên làm thử

Trang 19

- Giảng viên nhận xét đúng sai và chỉ dẫn cách sửa lỗi

Bước 3 Sinh viên tự tập dượt cá nhân (thời gian ngắn)

b) Số sinh viên ở mỗi nhóm từ 6—12 là thích hợp, không nên quá đổng để dễ thu

xếp địa điểm, thời gian và sình viên có nhiều cơ hội hoạt động

c) Tận dụng các phòng trống, các tụ điểm công cộng

Bước 5 Giảng viên tổng hợp kết quả (sau khi đi dự với các nhóm):

- Nhận xét ưu khuyết điểm của các cá nhân

- Nhận xét rút kinh nghiệm về cách làm việc của nhóm

- Có thể yếu cầu một số sinh viên (giỏi, trung bình, kém) lên trình bày trước lớp

để rút ra bài học chung

Bước 6 Sinh viên tự rèn (thời gian có thể từ 1 đến 4 tháng hoặc lâu hơn)

Kỹ năng trong đó hành động càng phức tạp sinh viên càng phải rèn luyện nhiều Bước 7 Kiểm tra lần cuối lấy điểm chính thức

1.3.5 Việc vận dụng lý thuyết kỹ năng vào đề tài

Lý thuyết kỹ năng góp phần củng cố thêm cho việc tổ chức hoạt động "Vui để

học" Việc tổ chức hoạt động "Vui để học" sẽ được gắn liền với hoạt động rèn luyện

kỹ năng sư phạm cho sinh viên như: kỹ năng diễn đạt, làm cho sinh viên có phát huy tính tích cực sáng tạo của mình, xây dựng quan hệ thầy trò và bầu không khí lớp học

Trang 20

Áp dụng các bước rèn luyện kỹ năng vào việc tổ chức hoạt động sẽ giúp cho

hoạt động này không bị thiên về chỉ là một phương pháp dạy học hướng vào người

của giảng viên mà hoạt động này còn bao hàm luôn cả việc rèn luyện kỹ năng cho sinh viên

Ngoài việc rèn luyện kỹ năng bằng hoạt động, mà thông qua hoạt động này ta có

thể tổ chức cho sinh viên hoạt động "Vui để học" về vấn đề kỹ năng để có thể ông luyện lại phần lý thuyết kỹ năng cho sinh viên

Do đó, việc rèn luyện kỹ năng phải luôn gắn liền với hoạt động thực tế để cho các bạn sinh viên có thêm môi trường rèn luyện song song với việc học lý thuyết

1.4 D ẠY HỌC BẰNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC [4, tr.7]

Một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang được khuyên khích là "dạy học bằng hoạt động của người học" Nội dung cơ bản của xu hướng đổi mới phương pháp này là tạo mọi điều kiện để ọc sinh hoạt động càng nhiều càng tốt Theo lối dạy học cũ, hoạt động của thầy chiếm phần lớn thời gian trên lớp Trò chủ yếu là ngồi nghe một cách thụ động, rất ít khi tham gia hoạt động học tập chung của lớp Trò ít phát biểu, càng rất ít khi được thắc mắc, hỏi thầy những điều không hiểu hay chưa được rõ Dạy như thế kết quả học tập bị hạn chế rất nhiều Người

ta đã tìm cách để giảm thời gian hoạt động của thầy và tăng thời gian hoạt động của trò trong một tiết học Với các tiếp cận đó, thực chất của dạy học bằng hoạt động của người học là chuyển từ lối dạy cũ (thầy nặng về truyền đạt, trò tiếp thu một cách thụ động) sang lối dạy mới, tron đó vai trò chủ yếu của thầy là toe chức, hướng dẫn hoạt động, trò chủ động tìm kiếm và phát hiện ra kiến thức

Trang 21

2.Theo TS Trịnh Văn Biều, "Dạy học bằng hoạt động của người học là một trong những con đường dẫn đến thành công của người giáo viên (dạy tốt, trở thành giáo viên giỏi)" [4, tr.7] Dạy học bằng hoạt động của người học giúp cho học sinh phát huy được tiềm năng của mình, người học sẽ tiếp thu nhanh hơn nhờ trực tiếp tiếp xúc với tri thức Và giáo viên chỉ cần đưa phương pháp và tài liệu cho học sinh, giúp

học sinh ngày càng có nhiều kiến thức Nhờ vậy giáo viên sẽ dạy tốt hơn phương pháp xưa

3.Dạy học bằng hoạt động của người học làm tăng hiệu quả dạy học:

- Học sinh chỉ có thể học tập một cách thực sự nếu như họ có cơ hội hoạt động

Một giờ học, nếu học sinh chỉ nghe giảng một cách thụ động, thì rất dễ bị phân tâm

Họ sẽ thờ ơ, sao nhãng với nhiệm vụ học tập, nghĩ đến những việc khác như lo cho bài

giảng sắp tới, giờ ra chơi sẽ làm gì , họ sẽ làm việc riêng, thậm chí có thể có thể còn

quậy phá gây ảnh hưởng đến những bạn xung quanh Thời gian học tập thực sự của

học sinh khó có thể chiếm một tỷ lệ cao so với thời gian đã sử dụng Nhưng một khi

học sinh bị lôi cuốn vào hoạt động, là chủ thể của một hoạt động tự giác, tích cực, thì

họ sẽ hoạt động tích cực hơn Họ sẽ không thể sao nhãng, lơ là như khi hoạt động một cách cưỡng ép, bắt buộc, thời gian họ học tập thực sự trong một tiết học sẽ tăng lên

- Học sinh càng được hoạt động nhiều thì thời gian học tập thực sự trong một tiết

học càng lớn, hiệu quả dạy học càng cao

4.Dạy học bằng hoạt động của người học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi rèn luyện các kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm vì kỹ năng chỉ có thể được hình thành qua hoạt động Với các trường sư phạm, dạy học bằng hoạt động của người học

là một hình thức tích hợp giữa dạy kiến thức với dạy kỹ năng nghề nghiệp Việc rèn luyện các kỹ năng dạy học chỉ có thể thực hiện được qua các hoạt động của chính bản thân mỗi sinh viên Sinh viên càng được hoạt động nhiều thì kết quả rèn luyện các kỹ năng dạy học sẽ càng cao Trong mô hình cấu nhân cách của người giáo viên thì phẩm

chất và năng lực,ăng lực chuyên môn và nghiệp vụ hòa với nhau cùng tạo ra sản

phẩm, chất lượng và hiệu quả giáo dục Để dạy được tốt sinh viên phải được đào tạo

cả về nội dung dạy học và phương pháp dạy học Phải làm cho việc đào tạo chuyên môn thấm đượm tính nghiệp vụ, góp phần tích cực vào việc hình thành cho sinh viên

Trang 22

năng lực dạy học và giáo dục Chính vì vậy, đây là một hướng đi đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của các trường Sư phạm

1.4.2 Nh ững biện pháp để tăng cường hoạt động của người học

Để tạo điều kiện cho học sinh hoạt động, giáo viên có thể áp dụng một số hình

thức sau:

1.Thầy gợi mở, nếu vấn đề cho trò suy nghĩ (không đặt thành câu hỏi)

2.Sử dụng cấu hỏi dưới nhiều dạng câu hỏi khác nhau từ thấp đến cao:

- Thầy đặt câu hỏi rồi tự trả lời

- Thầy đặt câu hỏi rồi yêu cầu trò trả lời (đàm thoại)

3.Thầy yêu cầu trò nêu câu hỏi về các vấn đề mà bản thân thấy không hiểu hay chưa rõ

4.Ra bài tập hay yêu cầu học sinh hoàn thành một nhiệm vụ học tập

5.Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa Khi sử dụng hình

thức này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh các hoạt động sau:

- Đọc một đoạn trong tài liệu (tập đọc lưu loát, ngắt nghỉ đúng chỗ, lên giọng và

xuống gọng )

- Nếu các ý chưa rõ, chưa hiểu trong tài liệu

- Tìm ý chính của bài và của từng phần

- Tóm tắt nội dung bài học

- Đặt câu hỏi cho từng nội dung bài học

6.Tổ chức cho học sinh làm một vài thí nghiệm nhỏ, đơn giản trên lớp

7.Thảo luận nhóm: tổ chức cho học sinh thảo luận các câu hỏi dưới sự điều khiển

của thầy hay để học sinh tự điều khiển

8.Thuyết trình theo chủ đề: học sinh có thể thuyết trình theo chủ đề cho trước

hoặc chủ đề tự chọn

Trang 23

9.Tổ chức cho học sinh nhận xét, góp ý, nhận xét tham gia vào quá trình đánh giá (tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau)

10.Câu lạc bộ hóa học

1.5 LÝ LU ẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

1.5.1 Khái ni ệm chung về hoạt động [5 ,tr.35]

a Ho ạt động là gì?

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động

- Thông thường người coi hhoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ

bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu

của mình

- Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phương

thức tồn tại của con người trong thế giới

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách

thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể)

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau,

thống nhất với nhau:

- Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa trong đó chủ thể chuyển năng lực

của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý của con người (của

chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm

- Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động con người chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để

tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế

giới

b Nh ững đặc điểm của hoạt động

• Hoạt động bao giờ cũng là "hoạt động có đôi tượng": đối tượng của hoạt động

là cái con người làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ Động cơ luôn thúc đẩy còn người hoạt động nhằm tác động vào khách thể để thay đổi nó biến thành sản phẩm,

Trang 24

hoặc tiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình tạo nên một cấu tạo tâm lý mới, một năng

lực mới

• Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thể

hoạt động có thể là một hoặc nhiều người

• Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: mục đích của hoạt động làm biến đổi

thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng Tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội

• Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động con người

"gián tiếp" tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, gián tiếp qua việc

sử dụng công cụ lao động và sử dụng phương tiện ngôn ngữ Như vậy công cụ tâm lý, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể, tạo

ra tính gián tiếp của hoạt động

1.5.2 Các loại hoạt động [5, tr.35]

Có nhiều cách phân loại hoạt động:

a Xét về phương diện cá thể, ta thấy ở con người có bốn loại hoạt động: vui chơi, học tập, lao động và hoạt động xã hội

b Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần) người ta chia làm hai

loại hoạt động lớn:

- Hoạt động thực tiễn: hướng vào vật thể hay quan hệ, tạo ra sản phẩm vật chất là

chủ yếu

- Hoạt động lý luận: diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm tạo ra sản

phẩm tinh thần Hai loại hoạt động luôn tác động qua lại bổ sung cho nhau

c Còn có cách phân lo ại khác, chia hoạt động thành bốn loại:

- Hoạt động biến đổi

- Hoạt động nhận thức

- Hoạt động định hướng giá trị

- Hoạt động giao lưu

Trang 25

1.5.3 C ấu trúc của hoạt động [5, tr.35]

- Chủ nghĩa hành vi cho rằng hoạt động của con người và động vật có cấu trúc chung là: kích thích - phản ứng (S - R)

- Trong tâm lý học có lúc người ta chỉ xét về cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tố diễn ra ở phía con người (chủ thể) thuộc các thành tố đơn vị thao tác của hoạt động, hoạt động có cấu trúc như sau: hoạt động - hành động -thao tác

- Quan điểm của A.N Leonchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động: trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm, nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng A.N Leonchiev đã nêu lên cấu trúc vĩ mổ của hoạt động, bao gồm 6 thành tố và mối quan

hệ giữa 6 thành tố này

Khi tiến hành hoạt động:

•Về phía chủ thể bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa 3 thành tố này, đó là:

hoạt động - hành động - thao tác Ba thành tố này là thuộc vào các đơn vị thao tác (mặt kỹ thuật) của hoạt động

•Về phía khách thể (về phía đối tượng hoạt động) bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau, đó là: động cơ - mục đích - phương tiện Ba thành tố này tạo nên "nội dung đối tượng" của hoạt động (mặt tâm lý)

Cụ thể là: hoạt động hợp bởi các hành động Các hành động diễn ra bằng các thao tác Hoạt động luôn hướng vào động cơ (nằm trong đối tượng) đó là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động, mục đích chung này (động cơ) được cụ thể

bằng những mục đích cụ thể, mục đích bộ phận mà từng hoạt động hướng vào Để đạt

mục đích con người phải sử dụng các phương tiện Tùy theo các điều kiện, phương

tiện mà con người thực hiện các thao tác để tiến hành hành động đạt mục đích, hay nói khác đi hành động thực hiện nhờ các thao tác và nội dung của đối tượng hoạt động (cả

về phía khách thể, cả về phía chủ thể - "sản phẩm kép"): Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động như sau:

Trang 26

1.5.4 V ận dụng lý thuyết hoạt động vào thực tế của đề tài

Lý thuyết hoạt động sẽ giúp cho việc làm thực nghiệm của đề tài sẽ chính xác hơn và bảo đảm khi tiến hành thực nghiệm hoạt động này phải đầy đủ các thành tố:

- Đối với chủ thể hoạt động sẽ phải bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa 3 thành tố này hoạt động - hành động - thao tác Áp dụng vào đề tài ta thấy rằng hoạt động "Vui để học" bao gồm những hành động như: chọn người dẫn chương trình, chia nhóm tham gia hoạt động, lập ban giám khảo Những hành động này bao gồm nhiều thao tác như: soạn các câu hỏi cho hoạt động (chuẩn bị câu hỏi bằng Power Point),

soạn phiếu điều tra, chỉ định người dẫn chương trình, cho ghép nhóm thi đấu (bằng cách phát bài, hoặc bốc thăm số), thành lập ban thư ký ghi điểm số cho các đội thi, cho các đội tham gia hoạt động

- Đối với khách thể hoạt động bao gồm 3 thành tố, mối quan hệ giữa chúng bao

gồm: động cơ - mục đích - phương tiện Động cơ để tổ chức hoạt động này là nhằm

tạo ra một cách nghĩ mới về phương pháp dạy học hướng vào học sinh Mục đích của

hoạt động này là nhằm củng cố lại những kiến thức cũ cho sinh viên và rèn luyện một

số kỹ năng sư phạm cho sinh viên Phương tiện để tiến hành hoạt động là: máy chiếu projector overhead, phiếu điều tra sau khi đã tổ chức hoạt động

1.6 THAM KHẢO Ý KIẾN SINH VIÊN VỀ HOẠT ĐỘNG "VUI ĐỂ

H ỌC "

Trang 27

1.6.1 M ục đích điều tra

- Thăm dò ý kiến của các bạn sinh viên đã từng tham gia hoạt động "Vui để học"

về hoạt động này

- Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức hoạt động "Vui để học " của các bạn

- Từ đó rút ra những căn cứ về hoạt động "Vui để học" và đưa ra một số cách

thức tổ chức hoạt động "Vui để học" để đạt kết quả cao nhất

1.6.2.Đối tượng và nội dung điều tra

a Đối tượng điều tra

- Sinh viên năm 4, khoa Hóa trường Đại học Sư Phạm TP HCM, sau khi đã học qua học phần Phương pháp giảng dạy Hóa học ở trường phổ thông Phát ra 83 phiếu thu về 83 phiếu

b N ội dung điều tra

1 Nhận xét về hoạt động "Vui để học"

2 Thái độ của các bạn sinh viên đối với hoạt động này

1.6.3.Phương pháp pháp điều tra

Tôi đã tiến hành điều tra theo các bước sau:

- Xác định mục đích thăm dò, các nội dung cần thăm dò, đối tượng thăm dò

- Thiết kế phiếu câu hỏi thăm dò (phu lục 1)

- Phát và thu phiếu

- Xử lí các số liệu thu được

1.6.4.K ết quả điều tra

Các phiếu thăm dò thu về được xử lý như sau:

Trang 28

Trên số liệu ta có thể thấy đa phần sinh viên cho rằng sự cần thiết và tác dụng

của hoạt động "Vui để học" là có nhưng nó không ở mức độ cao là vì hoạt động này còn khá mới nên một số sinh viên cũng không ưa thích

Bảng 2 Thái độ của sinh viên năm IV đối với hoạt động "Vui để học"

Các bạn đa phần thích thú khi tham gia hoạt động này, và mỗi khi tham gia cà

bạn rất hưng phấn và nhiệt tình khi tham gia

Trang 29

Trên bảng số liệu có thể cho thấy đa phần các bạn tập trung vào mức độ 3 và 4 vì

do các bạn chỉ tham gia được một hoặc hai lần hoạt động này trong quá trình học môn giáo học pháp (mới được thầy thử nghiệm) nên các bạn cảm thấy nó hơi mới lạ do đó

rất khó cho các bạn xác định có thích thú hoạt động này hay không

Nhưng khi tham gia hoạt động này các bạn cảm thấy nó rất hay rất hưng phấn khi tham gia, và các bạn sẵn sàng nhiệt tình tham gia trả lời các câu hỏi của hoạt động

Và các bạn nhiệt tình tham gia đặt câu hỏi và củng cố kiến thức bằng cách trả lời câu

hỏi rất hăng say nhiệt tình

b Nh ận xét về đặc điểm của hoạt động "Vui để học "

Trang 30

- Làm cho lớp học càng thêm sôi động, tạo được bầu không khí học tập tốt (8,12)

- Rèn luyện kỹ năng diễn đạt trước đám đông cho sinh viên (8,17)

- Rèn luyện kỹ năng xử lý nhanh các tình huống (7,93)

- Tập cho sinh viên khả năng tổ chức một buổi "Vui để học" để ôn luyện kiến

một cách dễ dàng hơn

Đồng thời các bạn cho rằng hoạt động này sẽ rèn luyện cho các bạn kỹ năng diễn đạt trước đám đông và kỹ năng xử lý các tình huống Đây cũng là hai kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với sinh viên sư phạm khi đi thực tập cũng như đối với một người giáo viên sau khi ra trường đi dạy, do đó, các bạn đã chọn hai tác dụng này là chủ yếu

Và hoạt động này, tập cho sinh viên có khả năng hoạt động theo nhóm tốt và tăng cường khả năng hợp tác Vì khi cho tiến hành hoạt động thì các bạn phải thảo

luận và hội ý theo nhóm của mình để đưa ra câu trả lời chính xác Đây cũng là một

hoạt động cần thiết cho sinh viên khi đi thực tập phải hoạt động theo nhóm chuyên môn của mình và cũng như khi thực tập chủ nhiệm chung với các bạn khác

Trang 31

- Rèn luyện được nhiều kỹ năng sư phạm cho sinh viên (7.98)

- Người học có thể trao đổi và học hỏi lẫn nhau (7.93)

- Việc tổ chức hoạt động này làm tốn rất nhiều thời gian (8.10)

Đa số các bạn đều cho rằng ưu điểm của hoạt động này có thể rèn luyện được nhiều kỹ năng sư phạm cho sinh viên và khi tổ chức hoạt động này trong lớp học nó sẽ giúp học có thể trao đổi và học hỏi lẫn nhau Đây là hai điều rất cần thiết cho người sinh viên sư phạm khi học tập và rèn luyện kỹ năng chuẩn bị ra trường, hai việc này giúp cho sinh viên có thể tích lũy một vốn kiến thức và kỹ năng tạm thời khi đi thực

tập cũng như khi ra trường đi dạy

Hoạt động này làm mất rất nhiều thời gian làm cho thời gian giảng dạy trên lớp

của giảng viên bị hạn hẹp nến nó cần cân nhắc ở chỗ sử dung nó sao cho hợp lý với

thời lượng chương trình trên lớp

- Tổ chức giống chương trình Đường lên đỉnh Olympia (7.81 điểm)

- Tổ chức cho hai nhóm thi với nhau và tự đặt câu hỏi cho nhau (7.76 điểm)

Trang 32

Hai cách thức tổ chức hoạt động có số điểm cao nhất đã nêu trên cho thấy hai cách thức tổ chức hoạt động này rất được sinh viên ưa chuộng vì nó hỗ trợ cho sinh viên các kỹ năng sư phạm mà sinh viên cần luyện tập khi còn ngồi trên ghế giảng đường

Trang 33

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG "VUI ĐỂ HỌC " NHẰM

2.1 GIỚI THIỆU HOẠT ĐỘNG "VUI ĐỂ HỌC "

2.1.1 Giới thiệu về hoạt động "Vui để học "

"Vui để học" là một dạng hoạt động kiểm tra và ôn luyện lại các kiến thức cơ

bản của một người học Đồng thời đây là một trong những hoạt động đang được nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm cho việc rèn luyện kỹ năng cho sinh viên sư phạm trong giờ học giáo học pháp theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang được khuyến khích là "dạy học bằng hoạt động của người học"

Hoạt động này có khả năng lôi cuốn người tham gia vào mọi quá trình của hoạt động Người tham gia càng chơi càng thấy hào hứng và thích thú khi trả lời các câu

hỏi của hoạt động Các câu hỏi của hoạt động này bao quát tất cả các kiến thức mà người học đã được tiếp thu qua trường lớp hoặc qua các kinh nghiệm sống trong cuộc

sống Các câu hỏi này giúp con người ta củng cố vốn kiến thức trong cuộc sống về tư nhiên - xã hội - khoa học kỹ thuật

Hoạt động này là một trong những hình thức để tăng cường hoạt động của người

học theo phương pháp dạy học mới bằng hoạt động của người học Do đó, hoạt động này còn hơi mới và nó còn nằm trong giai đoạn thử nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng cho sinh viên các trường Sư phạm Sau này khi được nhân rộng ra hoạt động này

sẽ giúp ích rất nhiều công tác giảng dạy và học tập ở các trường Đại học Sự Phạm cũng như ở các trường phổ thông trung học

2.1.2 Ưu nhược điểm của hoạt động "Vui để học "

Hoạt động này có một số ưu nhược điểm sau:

a Ưu điểm:

- Hoạt động này giúp cho người tham gia có thể ôn luyện được nhiều kiến thức Khi tham gia hoạt động này, người tham gia được khơi gợi lại những kiến thức nằm trong tiềm thức của mình về bài học hiện tại và về các kiến thức mà mình đã được học

Trang 34

qua Đồng thời hoạt động này cũng giúp cho người học có thể bổ sung những kiến

thức mình còn thiếu sót trong lúc học (củng cố lại để đạt kết quả tốt trong kỳ thi) cũng như những kiến thức mình chưa biết trong cuộc sống

Người học có thể trao đổi lẫn nhau các kiến thức mình cần biết qua hoạt động này Hoạt động này có thể diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình

thức tổ chức thi theo hình thức các đội tham dự mỗi đội có một số lượng thành viên tham dự Do đó, những người tham gia chung một đội thường có thời gian hội ý với nhau, trong thời gian hôi ý đó người tham gia có thể tiếp thu nhiều kiến thức từ các

bạn đồng đội của mình Đây là một ưu điểm khá hay của hoạt động này

- Hoạt động này cũng rèn luyện cho người tham gia những kỹ năng cần thiết khi sinh hoạt trong cuộc sống như là có thể tự tin hơn trong quan hệ giao tếp của mình với

bạn bè, kỹ năng xử lý nhanh các tình huống, kỹ năng diễn đạt trước đám đông khi trả

lời các câu hỏi, kỹ năng hòa nhập vào tập thể là những kỹ năng cần thiết cho một người giáo viên tương lai khi ra trường đi dạy Do đó, mà hoạt động này đang được

thử nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng cho sinh viên sư phạm

b Nhược điểm

- Tốn nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị và chọn lọc những câu hỏi hay

Muốn tổ chức những hoạt động này, người tổ chức (có thể là người dạy) phải cho người học chuẩn bị bàn ghế, số lượng người tham gia, cần người dẫn chương trình

thật lưu loát Đồng thời các câu hỏi cũng phải được chọn lựa một cách kỹ lưỡng, phải được soạn thảo bằng Microsoit PowerPoint để trình chiếu cho lúc tổ chức hoạt động Câu hỏi không chỉ dành cho người tham gia, mà còn dành cho các khán giả tham gia

cổ vũ Đồng thời người tổ chức phải canh lượng câu hỏi sao cho phù hợp với thời gian

tổ chức hoạt động mà phải bảo đảm câu hỏi chất lượng Do đó, mà nó làm cho người

tổ chức tốn nhiều công sức để chuẩn bị

- Hoạt động này đòi hỏi phải có một bầu không khí sôi nổi để người tham dự

cảm thấy hào hứng thích thú khi tham gia Bầu không khí sôi nổi đó là những tiếng hò reo vỗ tay của các cổ động viên khi cổ vũ, những tiếng chuông giành quyền trả lời của các đội tham gia Do đó, hoạt động này diễn ra rất ồn ào náo động, dễ làm ảnh hưởng

Trang 35

tới các hoạt động khác diễn ra xung quanh nó (như nếu tổ chức trong lớp học sẽ làm phiền đến các lớp học khác bên cạnh )

2.1.3.Tác d ụng của hoạt động "Vui để học " [9]

- Là phương tiện giao tiếp Thông qua hoạt động này, con người có thể chuyển

tải tất cả tâm tư, tình cảm cho nhau, nhờ vậy mà gần gũi và thân thiện với nhau hơn Người tham gia hoạt động này có thể giao lưu và gắn kết với bạn đồng đội của mình

Họ có thể giao lưu về kiến thức và gắn kết với nhau qua sự nhất trí về sự lựa chọn câu

trả lời không ai trách móc ai cả khi câu trả lời sai Chính điều này làm cho các bạn trong một đội có thể gần gũi nhau hơn nên họ trở nên gần gũi và thân thiện với nhau hơn

- Góp phần giáo dục con người toàn diện về: Đức, trí, lao động, thể mỹ Hoạt động này làm cho người tham gia rèn luyện tinh kiên nhẫn, kiến trì gặp câu khó không

nản chí mà phải cố gắng suy nghĩ trả lời cho chính xác các ý mà câu hỏi nêu ra Sự suy nghĩ này cũng giúp cho người tham gia rèn luyện sự tư duy của mình và luôn luôn

miệt mài suy nghĩ - lao động về trí óc để tìm ra lời giải đáp Ngoài việc suy nghĩ ra câu trả lời người tham gia cũng phải biết lựa cách trả lời cho hay và có cấu trúc ngữ pháp rõ ràng để có thể lấy điểm với ban giám khảo, việc này rèn luyện cho người tham gia về mặt thể mỹ

- Phát triển tính nhanh nhẹn, hoạt bát, thông minh, sáng tạo, bạo dạn, Hoạt động này đòi hỏi người tham gia phải nhanh nhẹn, nhạy bén trong suy nghĩ và thông minh để có thể giành quyền trả lời về phía đội mình Đồng thời phải biết sáng tạo và

bạo dạn trả lời trong những câu hỏi lạ và mới để có thể được một phần điểm của câu

trả lời Do đó, hoạt động này làm cho người tham gia dần dần nhanh nhẹn hơn, nhạy bén hơn, trở nên thông minh và sáng tạo táo bạo trong học tập và suy nghĩ của mình

để có thể vận dụng những tính năng này vào công việc của mình

- Là phương tiện giúp tiếp thu tri thức nhanh nhất Hoạt động này giúp cho người tham gia có thể tiếp thu kiến thức mới một cách nhanh chóng Người ta thường nói "học thầy không tày học bạn", người tham gia hoạt động này được tiếp thu những

kiến thức mới hoặc những kiến thức chưa hoàn thiện trong quá trình học tập của mình

từ những người cùng chơi hoặc từ những đồng đội của mình Những kiến thức này sẽ

Trang 36

nhanh chóng được người tham gia tiếp thu vì hoạt động này nó khắc sâu vào trí nhớ

của người tham gia

- Là một trong những phương pháp chữa bệnh tâm lý cho con người Lượng kiến

thức quá nhiều trong quá trình học tập làm cho người học bị stress và bị nhồi nhét

kiến thức khiến cho người học khó có thể "tiêu hóa " lượng kiến thức vừa mới vừa khó Và khi tham gia hoạt động này người học có thể giảm bớt áp lực tâm lý và có thêm liều thuốc tiêu hóa cho lượng kiến thức quá tải của mình - Giúp tuổi trẻ thể hiện tài năng và sức sáng tạo

2.2 N ỘI DUNG CÁC CÂU ĐỐ

2.2.1 Câu h ỏi về phần kỹ năng

1.Ba thành tố mà người giáo viên cần đạt được là:

Trang 37

4.Người Ấn Độ có phát biểu một câu như sau:

" Tôi - tôi quên, tôi - tôi nhớ, tôi - tôi hiểu"

6.Hãy cho biết cách viết nào sau đây chính xác?

a Lưu huỳnh tác dụng với Thủy ngân hơn Oxi

b Lưu Huỳnh tác dụng với Thủy Ngân hơn Oxi

c Lưu huỳnh tác dụng với thủy ngân hơn oxi (x)

Trang 38

Hãy chọn câu trả lời đúng

a Chữa bài mẫu thật kỹ, cho bài tập tương tự về nhà (sẽ chữa vào giờ sau)

b Chữa những bài tập học sinh yêu cầu ngoài dự kiến (x)

c Gọi học sinh lên bảng giải những bài tập tương tự

d Dùng phấn màu khi cần làm nổi bật các chi tiết đáng chú ý

11.Việc làm nào sau đây gây mất nhiều thời gian của giáo viên trong tiết bài tập? Hãy chọn câu trả lời đúng

a Photo đề bài phát cho học sinh hoặc viết trước ra bảng, bìa cứng

b Tận dụng các bài tập trong sách giáo khoa

c Giải đáp những thắc mắc nằm ngoài dự kiến (x)

d Những việc làm trên đều tiết kiệm thời gian

12.Trong số các trường hợp dưới đây, trường hợp nào không thích hợp cho sử

dụng sơ đồ trong dạy học hóa học?

a Dạy phần sản xuất hóa học và điều chế các chất

b Khi giải bài tập tách chất

c Khi giải bài tập nhận biết (x)

d Khi dạy bài sản xuất hóa học

Trang 39

13.Trong số các trường hợp dưới đây, trường hợp nào thích hợp nhất cho sử

dụng cả sơ đồ và bảng trong dạy học hóa học?

a Khi hệ thống hóa kiến thức (x)

b 'Khi giải bài tập nhận biết

c Khi giải bài tập tách chất

d Không có trường hợp nào cả

14.Phát biểu dưới đây đúng hay sai?

" Thí nghiệm là một tiêu chuẩn đánh giá tính cần thiết của kiến thức và hỗ trự đắc lực cho tư duy nhận thức."

a Đúng

b Sai (x)

15.Khi viết bảng, tất cả nội dung viết lên bảng và cách trình bày phải được dự

kiến trước Ý này đúng hay sai?

a Đúng (x) b Sai

16.Phát biểu dưới đây là đúng hay sai:

" Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng là quá trình rèn luyện để nắm vững

hệ thống các thao tác "

a Đúng (x) b Sai

2.2.2 Câu h ỏi về phần kiến thức hóa học

1.Ai là người phát hiện ra hạt nhân nguyên tử? —» Rutherford (năm 1910)

2.Kim cương được cấu tạo từ các nguyên tử của nguyên tố nào? —> cacbon 3.HR 2 R0 là công thức của nước hay nước đá? —> Cả hai

4.Nguyên tố lưu huỳnh được tìm ra từ thời đại nào: thượng cổ hay trung cổ? —>

Thời thượng cổ

5.Kim loại có thể dát mỏng tốt nhất? — > Vàng

Trang 40

6.Hãy cho biết tên hệ thống của nước và oxy già —> HR 2 R0 là hidro oxit - HR 2 R0R 2 R là hidro peoxit

7 Trong cơ thể con người nguyên tố nào chiếm khối lượng lớn nhất? -—> Oxi 8.Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học do Mendeleev sáng lập ra Hỏi trong đó

có nguyên tố nào mang tên ông? > Nguyên tố Mendelevi (Md),Ô 101

9.Khí oxi và ozon, kim cương và than chì, photpho trắng và photpho đỏ có liên quan gì với nhau? —> Là những dạng thù hình của cùng một nguyên tố

10.Vàng có thể hòa tan trong chất lỏng nào không? —> nước cường toan (hay nước cường thủy), hỗn hợp 3 ddHClđ + 1dd HN0R 3 Rđ

11.Thuyết điện li do ai đề ra? —> Arhénius (1859 - 1927) - người Thụy Điển

12 Hãy cho biết tên nguyên tố được đề cập đến trong câu thơ sau:

Huy chương đây đứng thứ ba Sao tên hiệu lại đặt như là bé trai (Đồng-Cu) 13.Trước công nguyên, con người đã biết rõ 7 kim loại có cùng chung tính chất như dễ rèn, ánh kim 7 kim loại đó là gì? —> Vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì, thủy ngân

14.Đốt cháy 3 chất khí riêng biệt: metan, etilen, axetilen Chất khí nào cháy với

ngọn lửa sáng nhất? ——> axetilen (vì hàm lượng cacbon trong nó cao nhất)

15.Khí của đơn chất nào nhẹ nhất?-—>Hidro(HR 2 R)

16.Tên tiếng Hy Lạp của đơn chất này dịch ra tiếng Việt là "phá hủy, chết chóc"

Đó là đơn chất nào? > Flo

17.Tên tiếng Hy Lạp của đơn chất này dịch ra tiếng Việt là "vàng lục" Đó là đơn

chất nào? —> Clo

18.Cho vào ống nghiệm 2ml dd FeS04, 1 ml dd H2S04; nhỏ từ từ dd KMn04 vào thì có hiện tượng gì đối với KMn04? —> mất màu thuốc tím

19.Kim loại nào cứng nhất? —> Crom

20.Ở điều kiện thường, lưu huỳnh phản ứng trực tiếp với:

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w