Một trong những đóng góp quan trọng của các kiến thức vật lí vào ứng dụng thực tiễn đó là làm cơ sở để chế tạo nên các máy móc, thiết bị phục vụ cho cuộc sống con người, trong đó phổ biế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Hoàng Thị Phương Anh
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC NGUYÊN LÍ, ĐỊNH LUẬT CHẤT LƯU VÀ CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CỦA CHÚNG TRONG CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” LỚP 10 BAN
LỰC, SÁNG TẠO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN
Trang 2Hoàng Thị Phương Anh
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC NGUYÊN LÍ, ĐỊNH LUẬT CHẤT LƯU VÀ CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CỦA CHÚNG TRONG CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” LỚP 10 BAN NÂNG CAO THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC, SÁNG TẠO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN
Trang 3L ời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào
Tác giả Hoàng Thị Phương Anh
Trang 4L ời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
• PGS-TS Phạm Xuân Quế- người đã trực tiếp khuyến khích, động viên
và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này
• Quý thầy cô trong khoa Vật lí, trường Đại học Sư Phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, Phòng Khoa Học Công Nghệ và Sau Đại Học đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực
hiện đề tài
• Ban Giám Hiệu trường THPT Nguyễn Hữu Cầu, Huyện Hóc Môn, TP
Hồ Chí Minh và trường THPT Trương Định, thị xã Gò Công, tỉnh
Tiền Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài
• Gia đình, bạn bè, các thầy cô, các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2011
Trang 5Lời cam đoan
Lời cám ơn
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CỦA VẬT LÍ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 5
1.1 Mục tiêu giáo dục trong thời đại ngày nay 5
1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay 5
1.1.2 Mục tiêu giáo dục của môn Vật lí THPT hiện nay 10
1.2 Dạy học các định luật vật lí 12
1.2.1 Chu trình sáng tạo khoa học Razumôpxky 12
1.2.2 Vận dụng chu trình sáng tạo Razumôpxky trong việc dạy học các nguyên lí, định luật vật lí 13
1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí 16
1.3.1 Ứng dụng kĩ thuật (ƯDKT) của vật lí 16
1.3.2 Vai trò của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học vật lí 16
Trang 61.3.5 Các con đường nghiên cứu các ƯDKT của vật lí trong dạy học 21
1.4 Tính tích cực, tự lực và sáng tạo và việc cần thiết phải phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo trong học tập 26
1.4.1 Tính tích cực 26
1.4.2 Tính tự lực 31
1.4.3 Tính sáng tạo 37
1.5 Tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật vật lí và các ƯDKT của chúng nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo học tập của học sinh 44
1.5.1 Các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo học tập của học sinh trong dạy học các nguyên lí, định luật vật lí 44
1.5.2 Các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo học tập của học sinh trong dạy học các ƯDKT của vật lí 46
1.5.3 Tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật vật lí và các ƯDKT của vật lí ở trường THPT hiện nay Ưu nhược điểm 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 51
Chương 2 SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC Ở CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 53
2.1 Giới thiệu về chương “Cơ học chất lưu” 53
2.1.1 Cấu trúc nội dung của chương 53
Trang 7của chúng nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong dạy
học chương “Cơ học chất lưu” 55
2.2.1 Ý đồ soạn thảo chung 55
2.2.2 Tiến trình dạy học theo từng bài cụ thể 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 105
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 107
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 107
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 107
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 107
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 108
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 110
3.3.1 Diễn biến quá trình thực nghiệm sư phạm 110
3.3.2 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm sư phạm (về việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh) 121
3.3.3 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm (về việc nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức) 122
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 130
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 8PHT : phi ếu học tập
PT : ph ổ thông THPT : trung h ọc phổ thông TST : tính sáng t ạo
TTL : tính t ự lực TTC : tính tích c ực
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cấu trúc Chương “Cơ học chất lưu” 53
Bảng 2.2 Bảng phân phối chương trình chương “Cơ học chất lưu” 54
Bảng 2.3 Giáo án bài “Áp suất thủy tĩnh Nguyên lí Pa-xcan” 75
Bảng 2.4 Giáo án bài “Sự chảy thành dòng của chất lỏng và chất khí Định luật Béc-nu-li” 87
Bảng 2.5 Giáo án bài “Ứng dụng định luật Béc-nu-li” 97
Bảng 3.1 Bảng phân phối tần số 123
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất 124
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất tích lũy 124
Bảng 3.4 Bảng thống kê kết quả của nhóm ĐC và TN 125
Bảng 3.5 Bảng tham số đặc trưng thống kê của nhóm ĐC và TN 127
Bảng 3.6 Bảng hệ số t của các nhóm ĐC và TN 129
Trang 10Hình 1.1 Chu trình Razumôpxky………15
Hình 2.1 Mô hình đài phun nước 64
Hình 2.2 Minh h ọa về áp suất tại các điểm trên cùng mặt nằm ngang 79
Hìn h 2.3 Sơ đồ máy nén thủy lực 81
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố điểm của nhóm ĐC và TN 123
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân phối tần suất 124
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy của nhóm ĐC và TN 125
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ xếp loại học tập 126
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay đòi hỏi dạy học không còn đơn thuần là cung cấp những kiến thức rời rạc khô cứng mà phải gắn liền
mật thiết với thực tiễn Vật lí học là môn học có rất nhiều các kiến thức được vận
dụng trong lao động sản xuất, trong kĩ thuật công nghiệp Một trong những đóng góp quan trọng của các kiến thức vật lí vào ứng dụng thực tiễn đó là làm cơ sở để
chế tạo nên các máy móc, thiết bị phục vụ cho cuộc sống con người, trong đó phổ
biến nhất là các loại máy được chế tạo dựa trên ứng dụng của các định luật chất lưu (máy bay, tàu ngầm, huyết áp kế…) Chúng tưởng chừng như rất khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung: đều dựa trên các nguyên lí, định luật của chất lỏng nói riêng, hay chất lưu nói chung Điều này cho ta thấy Vật lí không chỉ là những kiến
thức mang nặng các công thức, khái niệm trừu tượng mà rất gần gũi với đời sống
Và nhiệm vụ của người giáo viên vật lí chính là hãy cho học sinh thấy được khía
cạnh gần gũi này của vật lí, để từ đó học sinh cảm thấy hứng thú hơn trong học tập
Việc dạy học gắn liền với các ứng dụng kĩ thuật của các định luật, nguyên lí vật lí trong phần Cảm ứng điện từ và một số phần khác trong chương trình vật lí phổ thông đã được nghiên cứu bởi các nghiên cứu sinh hay học viên cao học, tuy nhiên
dạy học gắn liền với các ứng dụng kĩ thuật trong phần Cơ học chất lưu vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, trong khi đó, trong mọi lĩnh vực cuộc sống như y tế, giao thông vận tải v v có rất nhiều các ứng dụng kĩ thuật quan trọng
xuất phát từ các định luật, nguyên lí vật lí của Cơ học chất lưu
Với lí do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức dạy học các nguyên
lí, định luật chất lưu và các ứng dụng kĩ thuật của chúng trong chương “Cơ
h ọc chất lưu” Lớp 10 ban Nâng cao THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng t ạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh” với mong muốn góp
phần đặt thêm những viên gạch nhỏ bé xây nên cầu nối giữa dạy học vật lí và thực
tiễn
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật chất lưu và các ứng dụng
kĩ thuật của chúng trong chương “Cơ học chất lưu” Lớp 10 ban Nâng cao THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Khách th ể nghiên cứu: quá trình dạy và học vật lí của giáo viên – học sinh
trường THPT
Đối tượng nghiên cứu: việc tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật chất
lưu và các ứng dụng kĩ thuật của chúng trong chương “Cơ học chất lưu”
4 Gi ả thuyết khoa học
Nếu sử dụng phối hợp hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy học để tổ
chức dạy học các nguyên lí, định luật chất lưu và các ứng dụng kĩ thuật của chúng trong chương “ Cơ học chất lưu” lớp 10 ban Nâng cao THPT sẽ phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo học tập và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
5 Ph ạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật chất lưu và các ứng dụng kĩ thuật của chúng trong chương “Cơ học chất lưu” ở trường THPT Nguyễn
Hữu Cầu huyện Hóc Môn –Tp Hồ Chí Minh và trường THPT Trương Định thị xã
Gò Công, Tiền Giang theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo học tập và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
6 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn vận dụng các phương pháp và phương
tiện dạy học theo hướng tổ chức dạy học các nguyên lí, định luật và các ứng
dụng kĩ thuật của vật lí theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo
của học sinh
Trang 13 Tìm hiểu thực tế dạy và học chương “Cơ học chất lưu” ở các trường THPT
hiện nay
Nghiên cứu các nguyên lí, định luật chất lưu và các ứng dụng kĩ thuật của
chúng trong chương “Cơ học chất lưu”
Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học một số ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong chương “Cơ học chất lưu” Lớp 10 ban Nâng cao THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
Tiến hành thực nghiệm sư phạm các tiến trình dạy học đã soạn thảo để xác định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của chúng về mặt phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, nâng cao chất lượng kiến thức của
học sinh Sau đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện các tiến trình dạy học này
7 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên c ứu lí luận
Đọc và tìm hiểu lí luận từ sách, báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết để làm sáng
tỏ quan điểm đề tài
Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan đến chương “Cơ học chất lưu”
Điều tra khảo sát
Quan sát, điều tra ý kiến của giáo viên và học sinh ở trường THPT để đưa ra các nhận xét liên quan đến nội dung nghiên cứu
Th ực nghiệm sư phạm
Tiến hành giảng dạy ở một số trường THPT theo tiến trình đã xây dựng để
kiểm tra tính khả thi, hiệu quả và hoàn thiện các tiến trình dạy học đó
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học các nguyên lí, định
luật vật lí và các ứng dụng kĩ thuật của vật lí nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh
Trang 14Các tiến trình dạy học đã xây dựng sau khi hoàn thiện có thể sử dụng phổ biến trong trường và có thể mở rộng cho nhiều trường khác góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay
9 Cấu trúc luận văn
Luận văn có cấu trúc như sau:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học ứng
dụng kĩ thuật của vật lí nhằm phát huy tính tích cực tự lực và sáng tạo của học sinh
Chương 2: Soạn thảo tiến trình dạy học một số kiến thức ở chương
“Cơ học chất lưu” nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CỦA VẬT LÍ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1.1 Mục tiêu giáo dục trong thời đại ngày nay
1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay
1 Mục tiêu GD nhân cách tổng quát của VN được chính thức hóa trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần II khóa VIII năm 1996 như sau [36]:
“Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có tư duy sáng tạo, tính độc lập và tích cực cá nhân; có năng lực thực hành giỏi, yêu nghề, làm chủ khoa học, kỹ thuật hiện đại; có ý thức tổ chức kỉ luật; tác phong công nghiệp; ý thức cộng đồng và tinh thần hợp tác; có ý thức bảo vệ mội trường; có nếp sống lành mạnh và có sức khoẻ tốt.”
2 Mục tiêu GD của nước ta còn được thể hiện rõ qua các văn kiện, văn bản, chiến lược khác mà nhà nước đã đề ra:
a) Trong “chi ến lược phát triển GD Việt Nam 2009-2020 “ ( Dự thảo lần thứ
mười bốn 30-12-2008) đã ghi [1]:
M ục tiêu chiến lược giai đoạn 2009-2020
Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập
quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực
giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản
Trang 16lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
CLPTGD lần này đưa ra 6 quan điểm phát triển GD, các quan điểm nhấn mạnh đến đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, hài hoà nhu cầu phát triển của
mỗi cá nhân trong xã hội, tạo điều kiện cho mọi cá nhân học tập, làm cho việc tới trường trở thành nhu cầu, niềm vui, hạnh phúc của tuổi trẻ; xem cạnh tranh lành
mạnh trong GD là một trong những động lực của sự phát triển GD; nhấn mạnh tính
hiệu quả trong GD: đảm bảo chất lượng GD tốt nhất trong điều kiện nguồn lực còn
Có thể nói người học là tâm điểm của CLPTGD 2009 –2020
T r o n g văn bản”luật giáo dục”[23]
( Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm
2001 c ủa Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10)
Trong chương I –những quy định chung, đã viết:
Điều 2 Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 17Điều 3 Tính chất, nguyên lý giáo dục
Nền GD Việt Nam là nền GD xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng
Hoạt động GD phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, GD
kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp
với GD gia đình và GD xã hội
Điều 5 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục
Nội dung GD phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có
hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học
PP GD phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên
Trong chương II – hệ thống giáo dục quốc dân đã viết:
Điều 27 Mục tiêu của giáo dục phổ thông
Mục tiêu của GDPT là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc
đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
GD THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của GD trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường
về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động
Trang 18Điều 28 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
Nội dung GD PT phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
của học sinh, đáp ứng mục tiêu GD ở mỗi cấp học
GD THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ
sở, hoàn thành nội dung GD PT; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến
thức PT, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
PP GD THPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS
3 Nh ững mục tiêu trên thống nhất với mục tiêu GD của thế giới Nó phản ánh yêu c ầu cấp thiết của GD trong việc đào tạo thế hệ trẻ thích nghi với sự phát tri ển như vũ bão của cuộc sống, đảm bảo cho họ có thể nhanh chóng hòa nhập vào đời sống chung của nhân loại và phát triển nó [15, tr 3-4]
Mục tiêu chung này đã được Hội đồng quốc tế về GD cho thế kỷ 21 do UNESCO thành lập 1993 xác lập nhằm hỗ trợ các nước trong việc tìm cách thức tốt
nhất để kiến tạo lại nền GD của mình vì sự phát triển bền vững của con người Tháng 4.1996, Hội đồng này đã cho ra ấn phẩm “Học tập: một kho báu tiềm ẩn” (Learning: the treasur within) trong đó đề ra phương châm học suốt đời dựa trên 4
cột trụ:
Học để biết: Học kiến thức, học cách học (biết học tập theo phương pháp khoa học), học cách nắm vững những công cụ sử dụng kiến thức, học cách nhận xét đánh giá
Học để làm: nắm được các kỹ năng, biết cách sử dụng kiến thức (phá vỡ
Trang 19bức tường ngăn giữa kiến thức trí tuệ và kiến thức thực tiễn), có khả năng đối mặt
với nhiều tình huống trong cuộc sống
Học để cùng sống với nhau: có cách nhìn đúng đắn về thế giới, cảm nhận sâu sắc tính phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc sống hiện tại, hiểu được người khác thông qua hiểu chính mình (giúp học sinh khám phá ra mình là ai và chỉ khi đó mới
biết đặt mình vào địa vị người khác cùng sống trong sự tôn trọng lẫn nhau, biết khoan dung)
Học để làm người: GD là một hành trình nội tại dẫn đến sự xây dựng nhân cách mỗi con người, thế kỷ 21 đòi hỏi mỗi con người năng lực tự chủ và xét đoán cao hơn, không thể coi nhẹ bất cứ tiềm năng nào của từng cá nhân (trí nhớ, lập
luận, thể lực, kỹ năng giao lưu…), khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo mỗi người với toàn bộ sự phong phú và phức tạp của nó
4 Theo Lê Th ị Thanh Thảo thì “Thích nghi và sáng tạo là hai phẩm chất
quan tr ọng của con người trong thời đại ngày nay và GD phải giúp cho con người
hình thành và phát huy các ph ẩm chất ấy.”[31]
Dạy học là dạy cả tri thức, kĩ năng và thái độ để khi ra đời có thể học tập suốt đời, có thể thích nghi và tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào thế giới phong phú, luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau GD giúp mỗi người phát hiện và làm giàu tiềm năng sáng tạo của bản thân - năng lực nội sinh của mỗi người, đó là vốn liếng để mỗi người trở nên giàu có, đó là quá trình phát triển của mỗi con người
và cũng là quá trình con người tự khẳng định mình, tự thể hiện mình trong cộng đồng, trong xã hội
K ết luận: Như vậy, mục tiêu GD PT luôn được Đảng và Nhà nước coi là
quốc sách hàng đầu, và việc đổi mới PPDH mà trọng tâm là nhằm phát huy tính tích
cực, tự lực, sáng tạo của học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đạt được mục tiêu đó
Trang 201.1.2 Mục tiêu giáo dục của môn Vật lí THPT hiện nay
(Theo quy ết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo d ục và Đào tạo về Chương trình giáo dục phổ thông)
1 V ề kiến thức
Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với
những quan điểm hiện đại, bao gồm :
a) Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí thường gặp trong đời sống và sản xuất
b) Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lí cơ bản
c) Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng nhất
d) Những ứng dụng phổ biến của vật lí trong đời sống và trong sản xuất
e) Các PP chung của nhận thức khoa học và những PP đặc thù của vật lí, trước hết là PP thực nghiệm và PP mô hình
2 V ề kĩ năng
a) Biết quan sát các hiện tượng và quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời
sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập môn vật lí
b) Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến của vật lí; biết lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí đơn giản
c) Biết phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết
luận, đề ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện
Trang 21tượng hoặc quá trình vật lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
d ) Vận dụng được kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống
a) Có hứng thú học Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với
những đóng góp của Vật lí cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học
b) Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, cũng như trong việc áp
dụng các hiểu biết đã đạt được
c) Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
Các mục tiêu này phải được thực hiện trong suốt thời gian học sinh học tập ở trường THPT, nó cũng phải được thực hiện trong từng giờ học, từng hoạt động dạy
học vật lí
Trang 221.2 Dạy học các định luật vật lí
1.2.1 Chu trình sáng tạo khoa học Razumôpxky [32, tr 23-26],[33, tr8-28]
Nhận thức vật lí là nhận thức chân lí khách quan V.I Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, đó là con đường biện chứng của
nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
Trong quá trình phát triển của vật lí học, các nhà khoa học đã sáng tạo ra nhiều
PP nhận thức có hiệu quả trong việc đi tìm chân lí Đề cập đến quá trình sáng tạo khoa học có thể áp dụng cho quá trình nhận thức vật lí, các nhà vật lí nổi tiếng như A.Anhstanh, M.Plăng, M.Boocnơ, P.L.Kapitsa đều có những quan điểm tương đối giống nhau, những quan điểm giống nhau đó được V.G.Razumôpxky khái quát hoá và trình bày những khía cạnh chính của quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm các giai đoạn chính sau: Từ việc khái quát hoá những sự kiện xuất phát, đi đến xây dựng mô hình giả định của hiện tượng; từ mô hình dẫn đến việc rút
ra các hệ quả lí thuyết; rồi từ hệ quả lí thuyết đến kiểm tra bằng thực nghiệm Nếu
những sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả thuyết đó được xác
nhận là đúng đắn và trở thành chân lí khoa học, nếu những sự kiện thực nghiệm không phù hợp với những dự đoán lí thuyết, thì phải chỉnh lí lại hoặc thay đổi
Trong diễn biến của chu trình, những hệ quả lí thuyết ngày một nhiều, mở
rộng phạm vi ứng dụng của các kết luận đã thu được, cho đến khi xuất hiện những
sự kiện thực nghiệm mới không phù hợp với thực nghiệm thì điều đó dẫn đến phải xem lại lí thuyết cũ, chỉnh lí lại hoặc phải thay đổi và như thế là lại bắt đầu một chu trình mới, xây dựng những kiến thức mới, thiết kế những máy móc mới để kiểm tra;
bằng cách đó làm kiến thức khoa học ngày một phong phú thêm
Trang 23V.G.Razumôpxky cho rằng: “Có thể xây dựng quá trình dạy học vật lí bao
gồm bốn giai đoạn phù hợp với chu trình sáng tạo khoa học ở trên.” Chu trình ấy được biểu diễn bằng sơ đồ 1.1
Hình 1.1 Chu trình sáng t ạo khoa học theo Razumôpxky
Chu trình sáng tạo khoa học do V.G.Razumôpxky đề ra không phải là chu trình khép kín mà mở rộng dần
Bằng cách đó, con người ngày càng tiếp cận hơn với chân lí khách quan Ta
có thể mô tả quá trình nhận thức vật lí chi tiết hơn, gồm các giai đoạn điển hình sau:
Thực tiễn →Vấn đề → Giả thuyết → Hệ quả→ Định luật (Lí thuyết) → Thực
a) Nêu các s ự kiện mở đầu (đề xuất vấn đề)
Mô hình (giả thuyết
trừu tượng)
Các hệ quả suy ra từ
mô hình
Kiểm tra bằng thực nghiệm Các sự kiện
Trang 24Sự kiện mở đầu được đặt ra với yêu cầu phải xuất phát từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết, từ đó làm nảy sinh nhu cầu về một cái còn chưa biết, về
một cách giải quyết không có sẵn, nhưng hy vọng có thể tìm tòi, xây dựng được
Ngay sau khi nêu các sự kiện mở đầu, GV cần làm bộc lộ những quan niệm
sẵn có của HS Mục đích của việc làm bộc lộ quan niệm sẵn có của HS là để GV
biết được mức độ hiểu biết của HS (đúng hay sai; nông hay sâu; chính xác hay chưa chính xác ) về hiện tượng định nghiên cứu
Có thể thực hiện tốt bước này bằng cách GV đặt ra những câu hỏi thuộc loại:
Vì sao? Thế nào? những câu hỏi này đòi hỏi phải được trả lời bằng những quan
niệm trước đó của HS về vấn đề đang nghiên cứu hoặc GV có thể đưa ra một số quan niệm, trong đó có cả những quan niệm sai lẫn quan niệm đúng để HS lựa
chọn
b) Xây d ựng mô hình – giả thuyết
Để giải quyết vấn đề đặt ra, phải suy đoán được điểm xuất phát để từ đó có
thể tìm được lời giải; chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành được để đi tới cái
cần tìm; hoặc phỏng đoán các biến cố thực nghiệm có thể xảy ra mà nhờ đó có thể
khảo sát thực nghiệm để xây dựng cái cần tìm
Trong trường hợp nội dung kiến thức vật lí là mối liên hệ phức tạp giữa các đại lượng mà HS khó nhận thấy, thì GV có thể định hướng, gợi ý cho HS về mối quan hệ giữa các đại lượng, còn mối quan hệ đó tuân theo quy luật nào thì nên để
HS tự đưa ra
c) Suy lu ận hệ quả lôgic
Ở giai đoạn này, tư duy lôgic theo kiểu lập luận, suy diễn và biến đổi toán
học dựa vào những kiến thức đã biết hoàn toàn chiếm ưu thế GV chỉ cần định hướng để HS tự rút ra các hệ quả lôgic về cái cần tìm bằng cách sử dụng những lập
Trang 25luận, suy diễn từ những dự đoán đã nêu Trong nhiều trường hợp, HS cần phải phối
hợp tốt giữa PP suy luận và những biến đổi toán học cần thiết
Trước khi kiểm tra những hệ quả lôgic, GV nên định hướng cho HS trao đổi,
thảo luận và đề xuất các phương án thí nghiệm nghiệm kiểm tra hệ quả lôgic GV
cần dự phòng một số phương án thí nghiệm để phòng khi HS không nêu ra được phương án hoặc khi phương án của HS nêu ra chưa thật tối ưu
d) Ti ến hành thực nghiệm kiểm tra
Đây là giai đoạn xác định sự đúng đắn hay không của hệ quả lôgic, giai đoạn này đòi hỏi HS phải có kĩ năng, kĩ xảo trong thực hành thí nghiệm GV cần lựa chọn
và chuẩn bị những thí nghiệm kiểm tra phù hợp với các phương án đã nêu đồng thời
phải đảm bảo kết quả thí nghiệm là chính xác và thành công ngay
Tùy vào mức độ dễ hay khó của thí nghiệm và khả năng thực hành của HS
mà GV có thể yêu cầu HS tự tiến hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của thầy hoặc
• Mô hình được xây dựng đã hợp lí chưa?
• Việc tiến hành thực nghiệm kiểm tra đã tiến hành đúng theo phương án đề ra chưa?
• Nếu ba nội dung ấy chưa hợp lí thì cần điều chỉnh, bổ sung thậm chí thay đổi hoàn toàn
+ Kh ả năng thứ hai
Trang 26Kết quả thực nghiệm hoàn toàn phù hợp với hệ quả lôgic, GV có thể cho HS nêu một cách chính xác, đầy đủ mô hình – giả thuyết chấp nhận được, từ đó GV hướng dẫn HS khái quát hóa, nêu thành khái niệm, định luật vật lí
Sau khi xác lập những nguyên lí, định luật GV định hướng cho HS vận
dụng để giải thích các hiện tượng thực tế và luyện tập, như thế không những HS
thấy được những ứng dụng của kiến thức vật lí trong đời sống mà từ đó còn có thể làm nảy sinh sự mở rộng giới hạn của mô hình – giả thuyết do sự xuất hiện của sự
kiện mới
1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí [4, tr 90-97], [32, tr 82-93]
1.3.1 Ứng dụng kĩ thuật (ƯDKT) của vật lí
Các ứng dụng của các định luật, nguyên lí, hiệu ứng,…vật lí trong kĩ thuật và đời sống (gọi là các ứng dụng kĩ thuật) được hiểu là các đối tượng, thiết bị máy móc (hoặc hệ thống các đối tượng, thiết bị máy móc) được chế tạo và sử dụng với mục đích nào đó trong kĩ thuật và đời sống mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các định luật, nguyên lí, hiệu ứng đó
Với quan niệm về ứng dụng kĩ thuật như vậy thì trong chương trình vật lí phổ thông có nhiều ứng dụng kĩ thuật được nghiên cứu Ví dụ như:
• Các máy phát điện, các động cơ điện, Rơ-le điện từ… mà nguyên tắc hoạt động của nó dựa trên hiện tượng điện từ
• Máy ảnh, kính hiển vi, kính thiên văn, kính lúp… ứng dụng qui luật đường
đi của các tia sáng qua lăng kính, gương, thấu kính
1.3.2 Vai trò của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học vật lí
Xét về phương diện dạy học, việc nghiên cứu các ƯDKT là giai đoạn củng cố các định luật (hay các nguyên lí, hiệu ứng…) vật lí thông qua việc vận dụng nó trong trường hợp cụ thể Bởi vì các ƯDKT được chế tạo dựa trên các nguyên lí, định luật vật lí, chỉ có dựa trên cơ sở hiểu sâu sắc chúng mới có thể hiểu được các
Trang 27thiết bị đó hoạt động như thế nào, mới có thể chế tạo, thiết kế được các thiết bị ƯDKT đó
Như vậy, việc ứng dụng một kiến thức vật lí vào kĩ thuật để chế tạo một thiết
bị, máy móc không phải đơn thuần chỉ là vận dụng một định luật vật lí, mà thực sự
là một hoạt động sáng tạo Sự sáng tạo này nhiều khi đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm Bởi vậy, đã xuất hiện những ngành kĩ thuật riêng chuyên nghiên cứu chế tạo thiết bị máy móc này, để đạt được hiệu quả cao Nghiên cứu các ƯDKT của vật lí không phải là nghiên cứu xây dựng một
kiến thức vật lí mới mà là nghiên cứu tìm ra một cơ chế, thiết bị hay máy móc có
thể tạo ra hiện tượng mà kiến thức vật lí đã dự đoán và vận dụng được nó để giải quyết một nhiệm vụ nào đó trong kĩ thuật Việc làm này nhiều khi rất khó khăn, ngay trong lịch sử khoa học cũng phải mất hàng chục năm
Nghiên cứu các ƯDKT của vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và
thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng xảy ra trong máy móc, thiết bị) Nhờ đó mà làm cho việc nhận thức các kiến
thức vật lí trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mềm dẻo hơn
Việc nghiên cứu các ƯDKT của vật lí góp phần phát triển tư duy vật lí kĩ
thuật của học sinh, làm cho học sinh thấy được vai trò quan trọng của kiến thức vật
lí đối với đời sống và sản xuất; qua đó mà kích thích hứng thú, nhu cầu của học sinh khi học tập vật lí
1.3.3 Bản chất của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học vật lí
Trong việc nghiên cứu các ƯDKT, HS được tìm hiểu các lĩnh vực kĩ thuật chủ
yếu nhất và nắm được cơ sở vật lí của các đối tượng kĩ thuật khác nhau và các quy trình công nghệ sản xuất Những hiểu biết này nhằm chỉ ra mối quan hệ tương đối
gắn bó của sự phát triển vật lí và kĩ thuật trong sự phát triển của xã hội
Trang 28Như vậy, việc nghiên cứu các ƯDKT của vật lí trong dạy học thực chất là việc
“sắp xếp” các kiến thức vật lí trong các mối quan hệ khác nhau, mối liên hệ có tính
chất vật lí kĩ thuật Thông qua việc nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của các thiết bị
vật lí kĩ thuật, HS xác định được những mối liên hệ có tính qui luật vật lí tồn tại trong hoạt động của thiết bị, giải thích được hoạt động của nó trên cơ sở những định
luật, nguyên lí vật lí đã biết
1.3.4 Cá c loại mô hình thường được sử dụng trong dạy học các ƯDKT
Trong dạy học các ƯDKT của vật lí thường sử dụng hai loại mô hình:
mô hình vật chất chức năng và mô hình hình vẽ
b) Sơ đồ hóa bằng các kí hiệu chuyên biệt một thiết bị nào đó (ví dụ : vẽ
sơ đồ mạch điện, sơ đồ máy thu…)
c) Biểu diễn các giai đoạn khác nhau của quá trình diễn biến hiện tượng (ví
dụ: bốn giai đoạn của động cơ đốt trong), từ hình vẽ có thể suy ra dự đoán những
hiện tượng giống như khi ta thao tác trên mô hình
Ưu nhược điểm của sử dụng mô hình hình vẽ
a) Ưu điểm
Có thể đại diện cho vật gốc về một số mặt, nhờ thế mà có thể sử dụng mô hình để dự đoán và giải thích một số hiện tượng (chẳng hạn có thể sử dụng mô hình
Trang 29hình vẽ để dự kiến thiết kế một thiết bị quang học đòi hỏi đáp ứng các nhu cầu đã cho trước)
a) Nhược điểm
Mỗi mô hình chỉ phản ánh được một số tính chất nhất định của vật gốc Bởi vậy
mỗi mô hình đều có giới hạn ứng dụng của nó vì thế suy ra hệ quả lí thuyết có khi không hoàn toàn phù hợp với thực tiễn
2 Mô hình v ật chất chức năng
Mô hình vật chất của ƯDKT có thể hoạt động được như đối tượng gốc (thực
hiệc chức năng), nó được tạo ra và sử dụng với mục đích là phương tiện của nhận
thức chứ không phải là để dùng trong cuộc sống
Đặc điểm của mô hình vật chất chức năng
a) Được chế tạo để thay thế vật gốc mà nguyên tắc hoạt động của nó dựa trên các nguyên lí, định luật, hiệu ứng, hiện tượng vật lí
b) Trình tự hoạt động của mô hình vật chất chức năng theo thời gian xảy ra
giống như trình tự của vật gốc (hơn nữa khi chế tạo nếu có thể phân chia thành từng giai đoạn nhỏ tạo điều kiện cho việc giảng dạy) Do đó, ta có thể tách ra được
những yếu tố riêng biệt của đối tượng nghiên cứu giúp học sinh nhìn thấy được các đối tượng kĩ thuật mà thực tế thường bị che kín, quan sát được các quá trình động
học xảy ra với nhịp điệu chậm hơn, tái hiện lại các quá trình nghiên cứu với số lần
cần thiết, hình dung được cụ thể các đối tượng không thể cảm giác được
c) Ở mô hình vật chất chức năng này các vấn đề tối ưu hóa về kĩ thuật, kinh tế chưa cần được đặt ra
Vai trò c ủa mô hình vật chất chức năng
a) Mang tính trực quan hơn mô hình hình vẽ HS có thể nhìn thấy được các bộ
phận của đối tượng kĩ thuật mà hình vẽ không diễn tả hết và cụ thể được
Trang 30b) Nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng kĩ thuật không thể có được trong điều kiện nhà trường
c) Khi mô hình vận hành có thể chia thành nhiều giai đoạn tạo điều kiện cho
học sinh thấy được hoạt động của các thiết bị và dễ phát hiện được những mối quan hệ có tính qui luật
d) Minh họa được quá trình hoạt động thực của thiết bị
Ưu nhược điểm của mô hình vật chất chức năng
Dùng mô hình vật chất chức năng giúp HS hiểu được một cách nhanh chóng,
cặn kẽ nguyên tắc hoạt động cấu tạo và cơ chế vận chuyển của các máy móc công
cụ, cũng như hiểu được một cách trực quan những hiện tượng và cơ chế hết sức trừu tượng, không thể trực tiếp quan sát được Qua đó giúp học sinh hiểu rõ hơn các hiện tượng, các định luật vật lí và các ứng dụng thực tế của chúng
Mô hình vật chất chức năng có thể đóng vai trò của thí nghiệm kiểm tra giả thiết (dự án thiết kế một ƯDKT) trong khi nghiên cứu ƯDKT của vật lí
b) Nhược điểm
Có tính đúng tạm thời
Trang 31Tuy phản ánh “vật gốc” nhưng không thể thay thế hoàn toàn “vật gốc” mà nó
chỉ có giá trị như phương tiện công cụ
1.3.5 Các c on đường nghiên cứu các ƯDKT của vật lí trong dạy học
Việc nghiên cứu những ƯDKT của vật lí trong dạy học vật lí ở trường PT có
thể diễn ra theo hai con đường sau:
1 Con đường thứ nhất: quan sát cấu tạo của đối tượng kĩ thuật đã
có s ẵn, giải thích nguyên tắc hoạt động của nó
Nghiên cứu ƯDKT của vật lí theo con đường này thực chất là giải bài toán
“hộp trắng”: biết cấu tạo bên trong của hộp, biết tác động ở đầu vào và kết quả của đầu ra, giải thích vì sao đầu vào thế này, nhờ thiết bị lại cho đầu ra như vậy Sự giải thích phải dựa vào các định luật vật lí đã biết Để đưa ra được lời giải thích đúng đắn thì trước hết phải làm rõ được “điều cần giải thích”, nghĩa là phải phát hiện được chính xác những điều kiện tác động ở đầu vào, hiện tượng xuất hiện ở đầu ra,
rồi tìm những định luật, qui tắc vật lí chi phối quá trình biến đổi ở bên trong đối tượng kĩ thuật đó từ đầu vào đến đầu ra Được định hướng từ “điều cần giải thích” này, học sinh tìm cách giải thích bằng suy luận diễn dịch: xuất phát từ những định
luật, qui tắc vật lí áp dụng vào những điều kiện cụ thể của đối tượng kĩ thuật để đi
đến kết luận là hiện tượng thu được ở đầu ra
Ti ến trình nghiên cứu có thể gồm các giai đoạn sau:
a) Giai đoạn 1: Quan sát thiết bị gốc, cho vận hành để xác định được chính
xác tác động ở đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra
Kết quả thu được ở đầu ra chính là mục đích sử dụng của thiết bị Nhiều khi
sự quan sát này gặp khó khăn vì hiện tượng tinh tế, khó quan sát được chính xác
bằng các giác quan của mình
Đối với trường hợp này, giáo viên có thể mô tả bổ sung bằng lời cho rõ Kết
Trang 32thúc giai đoạn này, đưa ra được điều cần giải thích, thường được diễn đạt bằng một câu hỏi dưới dạng “tại sao?"
b) Giai đoạn 2: Quan sát thiết bị gốc để xác định cấu tạo bên trong của nó,
làm rõ những bộ phận có liên quan với nhau, tác dụng lẫn nhau trong khi thiết bị
vận hành
Trong nhiều trường hợp, việc làm này khó khăn vì thiết bị máy móc gốc có
một vỏ bọc ngoài che kín những bộ phận bên trong và có rất nhiều chi tiết bên ngoài
mà thoạt mới nhìn, ta không rõ chúng có liên quan gì tới quá trình vận hành của thiết bị
Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của học sinh trong giai đoạn này,
cần đưa ra một số thiết bị gốc đã được bổ dọc hay bổ ngang để có thể quan sát được
ở bên trong, rồi xây dựng một mô hình để thay thế cho đối tượng gốc Mô hình này
chỉ bao gồm những bộ phận chính của thiết bị gốc mà ta cho rằng có liên quan đến
diễn biến của quá trình xảy ra trong thiết bị
Thông thường ở đây, ta dùng mô hình hình vẽ hay mô hình vật chất- chức năng hoặc kết hợp cả hai Việc chọn những bộ phận, chi tiết nào của thiết bị để đưa vào mô hình nhiều khi gặp khó khăn Giáo viên có thể giúp học sinh bằng cách định hướng cho họ chú ý đến những bộ phận, chi tiết của thiết bị máy móc có biến đổi,
có tương tác với nhau hoặc có những dấu hiệu, những đặc tính có liên quan đến hiện tượng ở đầu vào và đầu ra
Việc cho mô hình vận hành sẽ tạo điều kiện cho học sinh phát hiện ra những
mối quan hệ giữa sự vận hành của các bộ phận trong thiết bị với các định luật vật lí chi phối chúng
Việc xây dựng một mô hình như thế không phải luôn luôn thành công mà
phải chỉnh lí, bổ sung nhiều lần
c) Giai đoạn 3: Giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị máy móc
Trang 33Ta phải lựa chọn một định luật, qui tắc vật lí đã biết làm cơ sở xuất phát, sau
đó dựa vào những điều kiện cụ thể, đặc điểm của thiết bị, thực hiện phép suy luận
diễn dịch, suy ra một kết luận Nếu kết luận đó phù hợp với hiện tượng quan sát được ở đầu ra của thiết bị máy móc là ta đã hoàn thành việc giải thích Cũng có khi quá trình vận hành của thiết bị có nhiều giai đoạn nối tiếp nhau, ta phải thực hiện nhiều phép suy luận nối tiếp cho đến khi ra kết quả cuối cùng
Nếu kết quả thu được từ suy luận không phù hợp với kết quả cuối cùng quan sát được thì ta phải lựa chọn lại định luật xuất phát hoặc kiểm tra lại xem quá trình suy luận có tuân thủ chặt chẽ các qui tắc của suy luận diễn dịch không, hoặc có thể
bỏ qua một giai đoạn nào đó của quá trình vận hành thiết bị không
Để cho thuận lợi, dễ hình dung, ở giai đoạn này, ta có thể sử dụng mô hình
đã đưa ra ở giai đoạn 2
Như vậy, việc lựa chọn định luật vật lí làm cơ sở xuất phát có vai trò quyết định Cần phải hướng dẫn học sinh biết dựa vào những dấu hiệu quan sát được ở đầu vào và đầu ra để liên tưởng đến những định luật, qui tắc vật lí có liên quan đến
hiện tượng đó, nhận biết xem hiện tượng xảy ra thuộc loại hiện tượng gì, có liên quan đến định luật nào
2 Con đường thứ hai: dựa trên những định luật vật lí, những đặc
tính v ật lí của sự vật hiện tượng, thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu
c ầu kĩ thuật nào đó
Con đường này thực chất là tìm tòi, phát minh lại một thiết bị máy móc dùng trong kĩ thuật, là một bài tập sáng tạo Ở đây, hiện tượng vật lí và những định
luật chi phối nó đã biết dưới dạng tổng quát Yêu cầu tìm tòi là đưa ra một thiết bị
có cấu tạo thích hợp để tạo ra hiện tượng vật lí đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể
của sản xuất hay đời sống Việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí theo con đường thứ hai này có thể tiến hành theo các giai đoạn sau:
Trang 34a) Giai đoạn 1: Xác định rõ những định luật, qui tắc vật lí ta sẽ phải sử
dụng để chế tạo thiết bị kĩ thuật mới
Việc nhìn lại con đường đã dẫn đến nhận thức được định luật, qui tắc này (từ
thực tiễn đến kiến thức khái quát) sẽ là một gợi ý rất bổ ích để có thể tìm ngược lại con đường đi từ những định luật trừu tượng, khái quát đến hiện tượng cụ thể mà ta
cần tạo ra trong các thiết bị kĩ thuật
b) Giai đoạn 2: Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có một chức năng xác
định nhằm sử dụng được hiện tượng vật lí vào sản xuất hay đời sống
c) Giai đoạn 3: Đưa ra một phương án thiết kế thiết bị
Đối chiếu hiện tượng do các định luật, qui tắc vật lí dự đoán được với hiện tượng yêu cầu thiết bị cần tạo ra để đưa ra các phương án thiết kế thiết bị Ở đây,
cần vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm của mình để tìm phương án thiết kế phù hợp Những vấn đề thường gặp trong thiết kế, chế tạo thiết bị kĩ thuật là:
Tăng cường độ của một đại lượng nào đó đến mức độ đủ lớn để có
thể sử dụng được trong sản xuất (thí dụ: tăng cường độ của dòng điện cảm ứng trong khung dây)
Đảm bảo sự xuất hiện liên tục của một hiện tượng (thí dụ: duy trì
dòng điện trong pin)
Điều khiển để hiện tượng xảy ra theo một hướng, ở một thời điểm có
lợi cho công việc mà ta mong muốn (thí dụ: thời điểm nổ của nhiên liệu, hướng chuyển động của pittông trong động cơ đốt trong, tập trung ánh sáng phản xạ vào
một điểm trong gương cầu lõm)
Chuyển được hiệu quả của hiện tượng xảy ra trong thiết bị ra ngoài
Trang 35để sử dụng (thí dụ: máy phát điện, hiện tượng quang điện)
Phối hợp hiện tượng xảy ra trong thiết bị với một hiện tượng khác
ở bên ngoài (thí dụ: tốc kế ly tâm hay tốc kế cộng hưởng)
Đo lường chính xác một đại lượng (thí dụ: đo cường độ dòng điện,
đo áp suất chất khí)
Để đưa ra một phương án giải quyết những vấn đề như thế, có khi phải
vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức vật lí và những kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nữa Nếu nhiệm vụ giải quyết khá phức tạp thì nên tìm cách chia thành những nhiệm vụ thành phần đơn giản hơn, cho phù hợp với trình độ HS
d) Giai đoạn 4: Dựa trên phương án thiết kế đã chọn, đưa ra một mô
hình vật chất- chức năng, kèm theo hình vẽ có các bộ phận chính của thiết bị đã
chọn, sắp xếp theo một cách thích hợp và cho mô hình vận hành để sơ bộ kiểm tra tính hợp lí của thiết kế này Ví dụ như: gây một tác động ở đầu vào thì ở đầu ra có thu được hiện tượng mong muốn không
e) Giai đoạn 5: Dựa trên mẫu thiết kế, lắp ráp một thiết bị thật (bằng
vật thật) Cho thiết bị vận hành để quan sát hiệu quả thu được, kiểm tra tính đúng đắn, khả thi của thiết kế
f ) Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh thiết kế, bổ sung điều chỉnh trên thiết bị thật
để tăng thêm tính hiệu quả Trong dạy học, đến đây, giáo viên nên đưa ra một thiết
bị cùng loại đang được sử dụng trong kĩ thuật và nói cho học sinh rõ một số chi tiết khác với mẫu đã thiết kế nhưng đều có cùng một chức năng
Trang 361.4 Tính tích cực, tự lực và sáng tạo và việc cần thiết phải phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo trong học tập
1.4.1 Tính tích cực [12], [20], [38]
1.4.1.1 Khái niệm
TTC là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng TTC cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện
một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt:
− Sinh lí : đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp
− Tâm lí: tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng
− Xã hội: đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài
Vì vậy, tích cực là một thuộc tính nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của
rất nhiều nhân tố như:
− Nhu cầu: nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó
− Động cơ: tích cực hướng tới những động cơ nhất định
− Hứng thú: do bị lôi cuốn bởi những sự say mê, vì muốn biến đổi cải tạo
một hiện tượng nào đấy
TTC cũng có quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là TTC xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS Có thể phân chia sự phát triển TTCNT làm ba mức độ:
− TTC tái hiện
− TTC vận dụng
− TTC sáng tạo
Trang 371.4.1.2 Sự cần thiết của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập
Một trong những trọng tâm của việc đổi mới giáo dục là việc phát huy tính tích cực, tự lực sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Bên cạnh đó, thực tiễn cũng đòi hỏi cần đào
tạo những con người luôn tích cực tìm kiếm tri thức cho bản thân trong học tập và trong mọi hoạt động xã hội khác Do đó, việc phát huy tính tích cực cho HS là một
việc làm cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo con người của xã hội và góp phần
thực hiện tốt mục tiêu đổi mới giáo dục
Việc phát huy tính tích cực cho học sinh còn là biện pháp kích thích, phát huy khả năng tự học- một trong những nguồn gốc của sáng tạo-vì trong quá trình tự
học, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo được nảy nở và phát triển
Khi tính tích cực trong học tập được phát huy, nghĩa là HS tích cực tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, xây
dựng thái độ và hành vi đúng đắn, thông qua đó tạo được không khí học tập sôi nổi
HS dần trở nên tự tin hơn khi phải trình bày các khái niệm, sự kiện, hiện tượng
…trong học tập Đồng thời, thông qua việc tham gia tích cực của HS trong học tập
sẽ giúp GV nhận ra những sai lệch, những hiểu biết còn chưa đúng của học sinh cũng như phát hiện ra những sáng tạo của HS để điều chỉnh và khuyến khích kịp
thời Nhờ đó, hiệu quả dạy học cũng được nâng cao
1.4.1.3 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
GV muốn phát hiện được HS có tính tích cực học tập không, cần dựa vào
những dấu hiệu sau đây:
- Có chú ý học tập không?
- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không
- (thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép )?
- Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?
Trang 38- Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?
- Có hiểu bài học không?
- Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
- Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?
- Tốc độ học tập có nhanh không?
- Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Có sáng tạo trong học tập không?
1.4.1.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực
Các biện pháp nâng cao TTC nhận thức của HS trong giờ lên lớp được phản
ánh trong các công trình xưa và nay có thể tóm tắt như sau:
- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
- Nội dung DH phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên
hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS
- Phải dùng các PP đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
- Sử dụng các phương tiện DH hiện đại
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể,
tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
- Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức
Trang 39- Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Trong thời gian tới nên điều chỉnh công tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS theo một số hướng cơ bản sau:
• Nghiên cứu PP nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức sáng tạo chứ không dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay
• Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí tuệ, tâm hồn
và ý chí Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm ) là điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức
• Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thày giáo, các nhà quản lí, các nhà văn hóa và phụ huynh HS
1.4.1.5 Tiê u chí để đánh giá tính tích cực
Trong quá trình học tập mức độ tích cực của HS có thể không giống nhau,
GV có thể phát hiện được điều đó dựa vào một số chỉ tiêu sau đây:
a) S ự chủ động học tập của HS trong giờ học
- Mđ1: Thụ động hoàn toàn (ghi chép máy móc)
- Mđ2: Nhận biết không chủ định (GV nói gì ghi đó Không phân biệt đúng, sai)
- Mđ3: Nhận biết có chủ định (tiếp thu có chọn lọc, ghi theo ý riêng của mình)
Trang 40- Mđ4: Tích cực suy nghĩ tìm tòi, tham gia giải quyết vấn đề (được lượng hoá bằng số % số HS phát biểu xây dựng bài)
b) S ự tập trung chú ý của HS trong tiến trình học bài (4 mức độ)
- Mđ1: Hoàn toàn không chú ý (làm việc riêng, nói chuyện, không tập trung)
- Mđ2: Chú ý giả tạo (ngồi nghiêm chỉnh, nhưng đầu ốc trống rỗng)
- Mđ3: Chăm chú theo dõi, quan sát
- Mđ4: Tập trung chú ý cao độ (tập trung nghe giảng, hăng say phát
biểu xây dựng bài)
d) K ết quả học tập (sau một giờ học, một quá trình dạy học) Có thể đo kết
quả học tập theo hai phương án:
Điểm số: Đánh giá kết quả nhận thức
Đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng (theo 4 mức độ)
o Mđ1: Sự ghi nhớ (nhớ lại, tái hiện, nhận biết)
o Mđ2: Hiểu bài (hiểu vấn đề, có thể trình bày lại các luận điểm của bài
học
bằng luận điểm riêng của mình)
o Mđ3: Có khả năng vận dụng (vận dụng kiến thức vào các tình huống