1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tnhững tranh luận xung quanh 1tmột số bài ca dao hay và phương pháp phân tích ca dao

168 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 919,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7T Trong khi làm sáng tỏ các bài ca đao thông qua đặc trứng thể loại, cách tiếp cận văn học dân gian đúng phương pháp; từ những bài ca dao cụ thể, gây nhiều cách hiểu khác nhau, chúng tô

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

24T

Cho phép gởi trong muôn vàn câu ca dao thắm đượm nghĩa tình dân gian những lời tri ân chân thành và sâu nặng nhất tới quý thầy cô, những người đã giảng dạy, động viên, giúp đổ, đóng góp ý kiến cho chúng tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn,

7T

Người thực hiện 7T8TĐinh Thị Mỹ Hạnh

Trang 6

nghệ thuật trong các bài ca dao43T 98

Trang 7

đề xuất một cách hiểu đối với những bài ca dao đó

7T

Tìm hiểu, xác định lại cái hay, ý nghĩa của các bài ca dao là cần thiết (cả lý luận và thực tiễn) nhất là trong quá trình giảng dạy ca dao cho học sinh phổ thông Có thể nói, sự giải mã không chỉ hướng tới đối tượng là một thể loại của VHDG mà còn hướng tới đối tượng cao hơn là phương pháp giải mã một vấn đề, giải mã bằng tâm hồn dân tộc; giải mã bằng con người của dân tộc

7T

Trong khi làm sáng tỏ các bài ca đao thông qua đặc trứng thể loại, cách tiếp cận văn học dân gian đúng phương pháp; từ những bài ca dao cụ thể, gây nhiều cách hiểu khác nhau, chúng tôi cũng cố gắng gợi mở những khía cạnh có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn Đồng thời, phần nào đề xuất cách hiểu, cách giảng ca dao tương đối thỏa đáng và phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh phổ thông, chú ý khía cạnh giáo dục đạo đức, rèn luyện nhân cách, nâng cao đời sống tinh thần cho học sinh phổ thông qua việc học ca dao

Trang 8

2.Mục đích, ý nghĩa của đề tài:

2.1 7TNhìn nhận một cách có hệ thống những điểm chính trong cách hiểu khác nhau của các nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà giáo về một số bài ca dao hay Lí giải nguyên

3.Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu

- 8TXem xét những tranh luận theo nghĩa rộng: 7T8TNhững ý kiến khác nhau, thậm chí tói ngược về một bài ca dao trọn vẹn, hoặc một số chi tiết (dị bản, nhân vật, hình ảnh nghệ thuật ) thể hiện những cách tiếp cận khác nhau, những cách hiểu khác nhau xung quanh các bài ca dao của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, các nhà giáo

- 7TPhương pháp nghiên cứu ca dao nói chung và phương pháp giảng dạy ca dao trong nhà trường

- 7TTuy nhiên, các bài ca dao dẫn đến cách hiểu khác nhau rất nhiều Đề tài không thể bao quát hết Chúng tôi chỉ chọn khoảng 14 bài ca dao hay, có nhiều cách hiểu, ý kiến khác nhau nhất, có giá trị nội dung, nghệ thuật, được yêu thích,

7T

được lưu truyền rộng rãi; đặc biệt chú ý những bài ca dao được giới thiệu ở phổ thông trong chương trình chính khóa lẫn ngoại khóa Đó là những bài ca dao sau:

1 6TCày đồng đang buổi ban trưa (Văn học lớp 6T7T7- 6T7Ttập 2)

2 6TAnh đi anh nhớ quê nhà (Văn học lớp 6T7T7- 6T7Ttập 2)

3 6TGió đưa cành trúc la đà (Văn học lớp 6T7T7- 6T7Ttập 2)

4 Con cò mày đi ăn đêm (Văn học lớp 7- tập 2)*

Trang 9

5 6TTrèo lên cây bưởi hái hoa (Văn học lớp 10 tập 1)*

6 6TĐứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng (Văn học lớp 6T7T7- 6T7Ttập 2) *

7 6THỡi cô tát nước bên đàng

8 6THoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím

9 6TTát nước đầu đình (Văn học lớp 10' tập 1) *

10 6TĐồng Đãng có phố kỳ lừa *

11 6TThằng Bờm có cái quạt mo

12 6TMười cái trứng (Văn học Lớp 10- tập 1) *

13 6TGió đâu thổi mát sau lưng *

14 6TTrâu ơi ta bảo trâu này, *

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 24TUPhương pháp thống kê, hê thống hóa tư liêu

7T

-Thống kê, hệ thống hóa các bài ca dao

7T

-Thống kê, hệ thống hóa ý kiến khác nhau về các bài ca dao đã chọn

4.2 24TUPhương pháp miêu tả, so sánh, qui nạp

- 7TMiêu tả các tranh luận, các ý kiến, các vấn đề gây tranh luận

- 7TSo sánh các ý kiến giống nhau hoặc khác nhau

- 7TQui nạp thành những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận

4.3 24TUÁp d ụng phương pháp nghiên cứu liên ngành

7T

Văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng là một hiện tượng của văn hóa dân gian

Vì vậy để tìm hiểu nó một cách đúng đắn và sâu sắc, cần vận dụng thành tựu của các ngành khoa học: lí luận văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học, và thành tựu của ngành nghiên cứu văn học dân gian

5.L ịch sử vấn đề

7T

Đề tài của chúng tôi gần như chưa có lịch sử vấn đề Các công trình 7T19TSƯU 7T19Ttầm và nghiên cứu ca dao rất nhiều nhưng những công trình trực tiếp khảo sát những ý kiến khác nhau xung quanh một số bài ca dao và rút ra phương hướng giảng dạy ca dao thì còn hiếm

7T

Phần sưu7Ttập19T 6T19T"Mười tác phẩm ca dao qua sự cảm thụ, phân tích tranh luận theo dòng thời gian" 6T7Tcủa Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật trong 6T7T''Kho tàng ca dao người Việt" 6T7Tcó thể coi là công trình đầu tiên hệ thống hóa những ý kiến khác nhau xung quanh mười bài ca dao theo dòng thời gian vế từng bài Ở một số bài của bộ kho tàng trên, các tác giả nêu chính kiến của mình, nhưng cũng có những trường hợp các tác giả không thể hiện ý kiến riêng

7T

C7Tách đây hai năm (Năm 2000) trong khuôn khổ của luận văn đại học, sinh viên Nguyễn Diệp Anh tiến hành đề tài này với sự hướng dẫn của TSKH Bùi Mạnh Nhị Nhưng tác giả cũng giới hạn tư liệu, số lượng bài khảo sát ở một phạm vi nhất định Ý kiến riêng của tác giả cũng còn ở chừng mức ban đầu

Trang 11

Cũng cần kể đến những bài phân tích ca dao riêng lẻ Ở một số bài, trước khi trình bày chính kiến của mình, các tác giả thường nhắc lại ý kiến của người khác Chẳng hạn, Phan Đăng Nhật với bài 6T7T"Giải mã một chùm ca dao, tìm hiểu đặc điểm xứ Lạng" 6T7T[152], hay Hoàng Tiến Tựu với bài : 6T7T"Trèo lên cây bưởi hái hoa" 6T7T[239] Nhưng nhìn chung, các bài viết thường chỉ quan tâm đến một, hoặc một vài ý kiến tương đồng hay tương phản với bài viết của mình

1.Nam ph ong giải trào, 6T7TTrần Danh Án

2 6TViệt Nam phong sử, 6T7TNguyễn Văn Mại

3 6TKinh Thi, 6T7TTrương Tửu

24T

Sau Cách mạng Tháng Tám

1 6TPhân tích tác phẩm văn học dân gian, 6T7TĐỗ Bình Trị, Tài liệu BDTX chu kỳ

1992-1996, NXB Giáo dục, 1995

2 6THướng dẫn học văn học dân gian Việt nam, 6T7TĐỗ Bình Trị, NXB Giáo dục 1998

3 6TVăn bản văn học dân gian và việc phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường phổ thông, 6T7TĐề cương bài giảng, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997-2000 cho Giáo viên PTTH và THCB, Đại học Sư Phạm TP HCM

4 6TPhân tích tá c phẩm Văn học dân gian, 6T7TBùi Mạnh Nhị, sở Giáo dục An Giang, 1988

5 6TVăn học dân gian- những công trình nghiên cứu, 6T7TBùi Mạnh Nhị (chủ biên), Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, (1999), NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh

7T

6 6T7TVăn hoá dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, 6T7TChu Xuân Diên (1995),

Tủ sách Đại học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh

Trang 12

9 Bình giảng ca dao, 6T7THoàng Tiến Tựu, NXB Giáo dục, H, 1992.

10 6TVăn học dân gian Việt nam trong nhà trường, 6T7TNguyễn Văn Lạc, NXB Giáo dục,

1988

11 6TThi pháp ca dao, 6T7TNguyễn Xuân Kính, NXB Khoa học xã hội, H, 1992

12 6TNhững thế giới nghệ thuật ca dao, 6T7TPhạm Thu Yến, NXB Giáo dục, 1998

13 6TPhân tích - Bình giảng tác phẩm văn học 10, 6T7TNXB Giáo dục, 1999

14 7TSách 6T7THướng dẫn giảng dạy 6T7T(Sách giáo viên) năm 1980, 1986, 2000, 2001

7T

Nhìn tổng thể lịch sử vấn đề có thể thấy, các bài phê bình, phân tích văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng thường thể hiện những cách hiểu khác nhau, cách lí giải khác nhau Các tác giả bài viết bên cạnh việc phân tích, bình phẩm, đánh giá giá trị của các sáng tác ca dao còn có ý tranh luận và đưa ra nhiều gợi ý về phương pháp phân tích, cảm thụ ca dao

7T

Khi ứng dụng vào việc giảng dạy ở nhà trường, một số nhà nghiên cứu VHDG nói chung, các nhà giáo nói riêng đã phác thảo 7T8Tmô hình giảng dạy ca dao với các bước, các thao tác cần thiết 7T8TTiêu biểu cho xu hướng này là Nguyễn Xuân Lạc, Hoàng Tiến Tựu và Đỗ Bình Trị

Trang 13

3- 7TBài ca dao thuộc thể loại nào ? (Vấn đề xác định đặc trưng thể loại và tiểu loại của nó)

4- 7TChủ thể và nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì ? Hay bài ca dao là tiếng nói của ai

? Người ấy như thế nào ? (Vấn đề xác định chủ thể và nhân vật trữ tình trong phần lời và ương sự biểu diễn, sử dựng thực tế trong bài ca dao)

5- 7TĐối tượng trữ tình của bài ca dao là gì ? Hay bài ca dao là lời trao đổi, bày tỏ với ai? Người ấy như thế nào ? (Vấn đề xác định đối tượng trữ tình trực tiếp hay gián tiếp, chung hoặc riêng của mỗi bài ca dao)

6- 7TNội dung của bài ca dao là gì ? Hay bài ca dao nói về những điều gì ? (Vân đề xác định nội dung truyền đạt phô diễn của bài ca dao)

7- 7TChủ đề của bài ca dao là gì ? Hay vấn đề chủ yêu mà tác giả bài ca dao muốn nói là

gì ? (Vấn đề phân tích chủ đề của bài ca dao Thường phải tìm hiểu đầy đủ nội dung của tác phẩm mới xác định đúng được)

8- 7THình thức nghệ thuật của bài ca dao như thế nào ? Hay bài ca dao phô diễn tâm tư, tình cảm bằng những phương pháp, phương tiện và thủ thuật như thế nào ? (Vấn đề phân tích,

lý giải hình thức nghệ thuật của tác phẩm Thường chỉ có thể nhận thức rõ khi đã nắm chắc nội dung của chủ đề của nó)

7T

9- Bài ca dao có còn mối liên hệ gì đối với cuộc sống và tâm tình cảm của nhân dân hiện nay và mai sau hay không ? Mối liên hệ ấy như thế nào, nếu có ? (Vấn đề ý nghĩa và giá trị hiện đại của bài ca dao cổ về mặt nội dung cũng như mặt nghệ thuật)

1 Lưu ý về tình hình tư liệu ca dao

Trang 14

2: Định hướng phân tích nội dung

3 7TXác định chủ thể trữ tình

4 7TĐưa bài ca dao vào hệ thống của nó

5 7TTập trung khai thác "trung tâm sáng tạo" của bài ca dao

6 7TKết hợp phân tích và khơi gợi

7 7TTìm tòi nhiều hướng hiểu, xác định một hướng hiểu bài ca dao 7T8TNguyễn Xuân Lạc

Trang 15

6 Đóng góp của luận văn

7T

Các công trình trên nêu vấn đề phương pháp phân tích ca dao xuất phát từ những tác phẩm cụ thể Công trình của chúng tôi có khác Từ những tranh luận, những ý kiến khác nhau xung quanh một số bài ca dao hay, chúng tôi tìm hiểu nguyên nhân gây tranh luận, nêu những kiến giải, đề xuất phương pháp giảng dạy ca dao phù hợp đặc trứng thể loại, chọn cách hiểu

ca dao phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh phổ thông

7T

Tất nhiên hai hướng tiếp cận có những điểm gần nhau vì mục tiêu chung

7 Kết cấu của luận văn:

7TLuận văn của chúng tôi xin được triển khai theo một kết cấu như sau:

> 8TUPHẦN MỞ ĐẦU:

> 8TUPHẦN NỘI DUNG:

• 8TUChương 1:U 8T24TNhững tranh luận xung quanh vấn đề thể loại

8T

(Thơ hay ca dao? Ca dao hay vè?)

• 8TUChương IIU 8T24TNhững tranh luận liên quan đến vấn đề dị bản tác phẩm

• 8TChương III: 8T24TNhững tranh luận liên quan đến nhân vật trữ tình trong ca dao

• 8TUChương IV:U 8T24TNhững tranh luận liên quan đến cách hiểu các chi tiết nghệ thuật

trong bài ca

> PHẦN KẾT LUẬN

Trang 16

CHƯƠNG 1: NHỮNG TRANH LUẬN XUNG QUANH VẤN ĐỀ THỂ LOẠI (THƠ HAY CA DAO? CA DAO HAY VÈ ?)

1.1.Gi ới thuyết:

24T

1.1.1 7T24TXác định thể loại tác phẩm là một vấn đề quan trọng và cũng là nguyên nhân gây nhiều tranh luận xung quanh các tác phẩm Việc xác định thể loại tác phẩm là việc làm đầu tiên, cần thiết, góp phần " giải mã" tác phẩm

24T

1.1.2 7T24TTrong văn học viết, thể loại giữ vai trò quan trọng Không phải ngẫu nhiên cách đây mấy chục năm, tác giả Trần Thanh Đạm đã viết một cuốn sách đề cập đến vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể Tác giả đã khẳng định: "loại thể văn họcc là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học có liên quan khăng khít đến nội dung Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một thể loại nhất định, đòi hỏi một phương pháp, một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó Vì vậy, vấn đề thể loại văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là một vấn đề phương pháp." (Dẫn theo Văn Tâm [201, tr 136,137])

7TĐối với văn học dân gian, vấn đề loại thể càng quan trọng Tác phẩm văn học dân gian hình thành theo thể loại và cũng được cảm thụ theo thể loại V.Ia.Prôp [183, tr 117] đã có những nhận định mang tính định hướng về vấn đề thể loại Ông cho rằng : "Mỗi thể loại đều

có những đặc trưng riêng của nó thể hiện ở quan hệ đối với thực tại và ở những phương tiện nghệ thuật mà nó dùng để phản ánh thực tại ấy Những thể loại khác nhau hình thành trong những thời đại khác nhau, có số phận lịch sử khác nhau, theo đuổi những mục đích khác nhau và phản ánh những khía cạnh khác nhau của lịch sử chính trị xã hội và sinh hoạt của nhân dân." Prôp nhấn mạnh "Cần nhớ rằng không có một folklore duy nhất, tự bản thân nó là chính nó, rằng Folklore trong thực tế tồn tại thông qua các thể loại Thể loại là đơn vị cơ sở, việc nghiên cứu cần xuất phát từ đấy"[183, tr 117]

7T

13 Thực tế sưu tầm và nghiên cứu ca dao cho thấy: việc xác định thể loại ở nhiều bài

ca không đơn giản Chúng ta thấy có mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa văn học dân gian

Trang 17

và văn học viết Thông thường, văn học dân gian là cơ sở, là nguồn cội, là "lòng mẹ" của văn học viết Đến khi có văn học viết, mối quan hệ này tiếp tục phát triển Đồng thời xuất hiện những tác động của văn học viết đến VHDG Sự tác động qua lại này thể hiện ở nhiều thể loại Nhưng chúng ta thấy rõ nhất là những tác động giữa ca dao và thơ trữ tình Tại sao như vậy?

7T

Trước hết, ở Việt Nam, ca dao (thuộc văn học dân gian) và thơ (thuộc văn học viết) rất phát triển Lịch sử văn học Việt Nam cũng đã chứng tỏ: thời kì nở rộ của ca dao (có lẽ vào khoảng thế kỉ 7TXVIII12T 7T12Ttrở về sau), cũng trùng với sự nở rộ của thơ, đặc biệt là thơ Nôm (Những sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương là những minh chứng rõ nét nhất) 7T8TVũ Ngọc Phan 7T8Tnhận xét : "Những câu ca dao hay của ta quả là khuôn vàng thước ngọc cho thơ trữ tình." [173, tr 204]

7T

Thứ hai, phần lớn các nhà thơ Việt Nam là nhà nho bình dân Họ có cuộc sông gắn bó với những sinh hoạt ở nông thôn Nhiều người trong số họ tham gia vào các sinh hoạt dân gian ở vùng quê (tiêu biểu là câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Phan Bội Châu, Trần Tuấn Khải )

đó, hiện tượng dân gian hóa các bài thơ lúc đầu có tên tác giả đã xuất hiện 7T8TĐặng Văn Lung

trong bài viết "Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình” đặt vấn đề: "thường khi tiếp

Trang 18

xúc với thơ ca, người ta nhận xét rằng bài này có 'chất ca dao', hoặc là, bài gọi là ca dao này không phải là ca dao Vậy thì, ‘chất ca dao’ ấy là thế nào?"[131,tr.66]

7T

Có thể nói, dân gian hóa các bài thơ là một hiện tượng có tính quy luật bởi vì ca dao vốn là sáng tác của tập thể nhân dân Ban đầu, tác phẩm thường do một người sáng tác Trong nhiều trường hợp, bản thân tác giả không nghĩ đến quyền sở hữu, quyền tác giả; tác phẩm của họ gần gũi với phong cách dân gian và được sử dụng như một tài sản chung Một

số sáng tác của Nguyễn Du, Phan Bội Châu khi tham gia hát ví ở Nghệ An, Hà Tĩnh là tiêu biểu

7T

Thậm chí, một số tác phẩm có thể lúc đầu có tên tác giả rõ ràng Chẳng hạn bài 6T7T"Hỡi cô tát nước bên đàng '' 6T7T- nhiều người cho là của Bàng Bá Lân; bài 6T7T"Anh đi anh nhớ quê nhà "được 6T7Tghi là của Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983) in trong 6T7T"Bút quan hoài" 6T7T(1927); bài 6T7T"Cày đồng đang buổi ban trưa." 6T7Tđược cho là dịch từ bài cổ phong của Lý Thân; hoặc của Nhiếp Di Trung (Trong cuốn Bắc Mộng tỏa ngôn của Tôn Quang Hiến) Tương tự là trường hợp bài ca dao 6T7T"Tháp mười đẹp nhất bông sen " 6T7Ttương truyền của Bảo Định Giang và bài

6T7T

"Trên trời có đám mây xanh " 6T7Tcủa Ngô Văn Phú Trong những trường hợp này, các tác phẩm đều có ít nhiều đặc điểm của ca dao; các tác giả không đòi quyền sở hữu, ngược lại còn coi là vinh dự khi tác phẩm của mình có đời sống trong dân gian Người đọc cũng không đặt vấn đề tác phẩm của ai, thậm chí hoàn toàn quên tên tác giả trong quá trình lưu truyền

Ngược lại, họ chỉ quan tâm bài ca nói gì, đặt ra vấn đề gì Đó là những bài thơ lục bát được sông trong đời sông dân gian, được dân gian hóa trong quá trình lưu truyền, được xem là ca dao Có những trường hợp vì không tìm được tư liệu và xét thấy có nhiều sự tương đồng với thơ hơn cũng gây băn khoăn Đó là bài 6T7T"Gió đưa cành trúc la 6T7Tđà

7TLí giải điều này, 7T8TChế Lan Viên 7T8Tcho rằng: "Nghĩ cho cùng, ca dao cũng chỉ là thơ - một lối thơ riêng biệt." [267, tr 194] Nhận xét của ông nêu lên hai khía cạnh, cũng là những định hướng quan trọng khi xem xét các bài ca "có vân đề" Ca dao có những điểm tương đồng với thơ, nhưng ca dao cũng khác thơ - ca dao là ca dao 7T8TXuân Diệu 7T8Tcó lần so sánh: "Thơ cổ điển

có những ưu điểm lớn lao khác nhưng chưa dễ trong thơ cổ điển đã có được cái chất tâm hồn

Trang 19

người mới cày xới lên, còn tươi rói, bóc hơi chảy máu." [41] Đây là một điểm cần ghi nhớ khi phân tích ca dao

1.2 Miêu tả một số ý kiến khác nhau xung quanh một số tác phẩm

1.2.1 Bài Gió đưa cành trúc la đà

dị trong sáng Bài này vốn được lưu truyền khá rộng rãi trong dân gian Nhưng cũng có yếu

tố "lạc hệ thống" Vì vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về thể loại của bài ca Một số ý kiến cho rằng đây là một bài thơ thuộc văn học viết Nhiều ý kiến lại cho rằng đây là bài thơ đã được dân gian hóa Trong thực tế, người ta xem đây là ca dao bất kể có thể nó đã có tên tác giả

Trang 20

Theo 6T7TNguyễn Xuân Lạc, để giải quyết vấn đề này, phải xem xét trên hai phương diện.7T12Tvề 7T12Tmặt thi pháp, phải trả lời câu hỏi: ca dao có hình thức tiểu đôi hay không, có kiểu cấu trúc 3-3 và 4-4 tron7Tg câu thơ lục bát 7Thay không? V7Tề12T 7T12Tmặt văn bản, thử kiểm ưa xem cho đến nay đã tìm ra được văn bản của một tác giả nào chứng tỏ đây là sáng tác của văn-học viết

Về12T 7T12Tphương diện thứ nhất, vấn đề 7T8Tthi pháp ca dao, 7T8TNguyễn Xuân Lạc dựa trên ý kiến của ba nhà nghiên cứu, cuối cùng đưa ra quan điểm của mình về thể loại bài ca Trước hết, ông khẳng định, tác phẩm này có hiện tượng tiểu đối

7T

Tác giả bài viết chú ý đến hai ý kiến trái ngược nhau của Phan Ngọc và Hoàng Trinh Theo đó, một người cho là hình thức tiểu đối rất hiếm khi xuất hiện trong ca dao và một người cho rằng hình thức này tồn tại phổ biến trong ca dao Ông thống kê những ý kiến liên tiếp của Phan Ngọc về vấn đề này Năm 1983, trong bài "Tìm hiểu sự đối xứng trong văn

Trang 21

học", 6T7TPhan Ngọc viết: "Trong lục bát của ca dao, dân ca, vè, không có tiểu đối ( ) Đây là một bước chuyển của nghệ thuật đi từ tiếng nói mộc mạc sang lĩnh vực của cái đẹp có ý thức."[143,tr 65]; năm 1984, Phan Ngọc cho rằng "nói chung lục bát dân gian không biết đến câu 6T7Ttrác 6T7T3-3 và 4-4 Trong toàn bộ ca dao, dân ca phải hàng ngàn câu mới có một câu như thế Khi ta thấy một câu như thế, ta phải giả thiết rằng tác giả là một nhà nho mượn hình thức dân ca chứ không phải là lục bát dân gian" [144, tr.76-77]; đến năm 1985, trong bài "Tìm

6T7T

hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều", 6T7TPhan Ngọc tiếp tục khẳng định, nhưng ở mức thấp hơn rằng, trong ca dao dân ca "phải hàng trăm câu mới gặp một câu có cấu trúc 3-3 hay 4-4 đối nhau Đó là một loại kiến trúc không có trong thơ ca dân gian" [145] Riêng đối với bài ca dao trên ý kiến của Phan Ngọc là: "Nếu trong ca dao thỉnh thoảng có bắt gặp một hai câu tiểu đối như:

7T

Nguyễn Xuân Lạc chọn cuốn 6T7T"Thi pháp Ca dao" 6T7Tcủa Nguyễn Xuân Kính [104] là cơ sở

để đưa ý kiến của mình Đặc biệt, ông quan tâm đến những con số trong thực tế ca dao để rút

ra kết luận Do vậy, Nguyễn Xuân Lạc không đồng tình với Phan Ngọc: "Trong thực tế, ca dao có hình thức tiểu đối và không phải đến mức phải 'đốt đuốc lên mới tìm thấy'" Ông nêu một số dẫn chứng cụ thể 7Tđể 7Ttăng tính thuyết phục Ông dẫn giải: "Trong tổng số 13.688 dòng (6844 cặp lục bát) thì 718 dòng có hình thức tiểu đối, chiếm 5,24% (Tri 53) Như vậy, không thể khẳng định như hai nhà nghiên cứu nói trên là hình thức tiểu đối không có hoặc phổ biến

Trang 22

trong ca dao" Ông nói: "Chúng tôi tán thành ý kiến và cách lí giải của tác giả 6T7TThi pháp Ca dao 6T7Tcũng có thể trước ữuyện Kiều, thể lục bát trong ca dao rất hiếm cấu trúc 3-3 và 4-4 trong thơ lục bát V7Tả12T 7T12Tlại, phép đối (đối chữ, 6T7Tđối 6T7Tthanh, đối ý không phải là độc quyền của Nho gia, của Đường thi ( ) Có lẽ để cho thỏa đáng, chỉ nên nói ở văn học viết, hình thức đối xứng có phần phổ biến hơn và được đòi hỏi nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn so với trong ca dao từ sau thế kỷ 7TXVIII12T 7T12TVì vậy, ông kết luận: "Vấn đề thứ nhất đến đây coi như đã được giải đáp:

ca dao có hình thức tiểu đối, nhưng tiểu đối ở ca dao (VHDG) so với tiểu đối ở thơ (văn học bác học) có mức độ nhạt, đậm khác nhau (Nhạt đậm theo nghĩa phổ biến, nghiêm ngặt, chặt chẽ) Có tiểu đối ở hai câu bát, bài 6T7TCảnh đẹp Hồ Tây 6T7Tvẫn có thể là ca dao vì ca dao cũng có hình thức đối" Song, vẫn có những dấu hiệu khiến tác giả bài viết nghi ngờ đây là sản phẩm của văn học viết chứ không phải văn học dân gian Nguyễn Xuân Lạc đặt vấn đề "Chỉ có việc tìm ra tác phẩm dưới dạng văn bản mới chứng tỏ nó là sáng tác của văn học viết - là thơ chứ không phải là ca dao" 6T7T( Có nhiều ý kiến tương tự như Nguyễn Xuân Lạc)

7T

(Chúng tôi băn khoăn: một tác phẩm đã được xem là ca dao liệu có nhất định sẽ không còn là ca dao nữa khi tìm ra văn bản chứng tỏ nó có thể có nguồn gốc thành văn ? Bởi vì, hiểu rộng ra dường như tồn tại hai loại ca dao Một loại lúc đầu tồn tại bằng văn bản, sau sống đời sông dân gian gọi là 6T7Tca dao thành văn 6T7Tvà một loại ra đời từ dân gian, lưu truyền bằng miệng gọi là 6T7Tca dao dân gian)

7T

Nguyễn Xuân Lạc trích đăng bài viết của Hải Đăng, sinh viên Phân Viện Báo chí, người đã ghi lại văn bản tác phẩm như là sáng tác của văn học viết Theo Hải Đăng, " Vừa rồi, chúng tôi được cụ Dương Thiệu cần cho đọc cuốn Gia phả họ Dương (Vân Đình - ứng Hòa - Hà Tây), mục 6T7T"Một số 6T13Tbài thơ Cữ tiêu 6T13Tbiểu của cụ thượng Dương Khuê" 6T7T(Hiệu là Vân Trì, 1839-1902) có ghi bài này như sau:

Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Trang 23

t răng tà 6T7Tđã được chuyển thành 6T7TGió đưa cành trúc la đà 6T7TĐúng là câu trên mang tính chất bác học rõ hơn, còn câu dưới lại mang đậm đà phong vị dân gian Ba câu sau dân gian giữ nguyên bởi khó có thể thay đổi, và cũng bởi vì, cái chất bác học ở đây trong một chừng mực nào đó, đã có thể hòa đồng, gặp gỡ cái chất dân gian Nhân dân đã chấp nhận, giữ nguyên, coi đó là tài sản tinh thần của mình." [115]

7T

Theo Nguyễn Xuân Lạc, "Hiện tượng 'thơ được ca dao hóa" là một vân đề lí thú và không đơn giản, cần được nghiên cứu sâu sắc và lí giải thỏa đáng, mà bài viết này chỉ là một thể nghiệm bước đầu trên một bài ca dao quen thuộc nhưng lại có thể gợi mở ra nhiều vấn đề

Đó là vân đề ranh giới giữa hai dòng VHDG và văn học viết với những mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại để dòng này có thể hội nhập vào dòng kia theo những quy luật của Folklore Tương tự là vấn đề giữa thơ trữ tình và ca dao

8T

Trong các sách sưu tầm sau năm 1945, hầu như sách nào cũng có ghi bài này Như vậy liệu bài ca có tồn tại trong dân gian trước năm 1945 hay không, thật khó biết Nhưng chắc có lẽ trong tâm trí đa số người Việt Nam, đây là một bài ca dao

Trang 24

Trong một bài viết mang tính hướng dẫn giảng dạy, Bùi Mạnh Nhị đã xếp bài này chung với sáu bài khác ương một hệ thống, đặt tên là 6T7T"Ca dao về đất nước Việt Nam" 6T7TỞ phần phân tích, tác giả nhìn tổng thể sáu bài ca để thấy những đặc điểm chung mang tính hệ thống: "Các bài ca dao này vừa có cái chung, vừa có cái riêng, gợi lên vẻ đẹp của các vùng quê đất nước và những tình cảm yêu mến, tự hào đối với các vùng quê đó" [166, tr 79] Tác giả bài viết đã phân tích cụ thể một số dấu hiệu cho thấy "tính" dân gian của tác phẩm

7T

Có thể nói, ca dao và thơ có rất nhiều điểm chung Trong đó nhiều bài là thơ mang màu sắc ca dao rõ nét; ngược lại nhiều bài là ca dao nhưng có đặc điểm của thơ Có thể lí giải rằng thơ và ca dao vốn cùng có chung những đặc điểm của tác phẩm trữ tình - văn vần (ca dao nhiều khi được gọi là "thơ dân gian") Nhiều tác giả của văn học viết vốn thuộc nằm lòng vô vàn câu ca dao, họ viết thơ mang màu sắc ca dao là điều tự nhiên Đến lượt người đọc, vô tình thuộc những bài thơ mang âm hưởng ca dao, lưu truyền truyền miệng, vô tình thực hiện quá trình ca dao hóa bài thơ một cách tự nhiên Và cuối cùng nhiều nhà nghiên cứu sử dụng

hệ thống thuật ngữ công cụ, phương pháp phân tích chung cho những bài có đặc tính lưỡng hợp như thế

7T

Cuốn 6T7TVăn học 7 tập 2 6T7Tđặt bài ca dao vào phần 6T7T"Tình yêu quê hương đất nước" 6T7TPhần hướng dẫn học bài được gợi ý bằng một hệ thống câu hỏi dường như mang nét đặc thù của phương pháp phân tích thơ [266]

Trang 25

niệm đó là một hiện tượng mang tính quy luật thể hiện một nét đặc trưng cơ bản của ca dao nói riêng và Polklore nói chung Đỗ Bình Tri đã đề cập đến hiện tượng này như một vấn đề

có tính phương pháp luận trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, nhất là xác định thể loại của tác phẩm VHDG

7T

Trong bài viết nêu trên, tác giả khẳng định "Cụ Hoàng Đạo Thúy gọi đây là "câu thơ cổ" chắc không phải không có lí do Bài này có yếu tố thơ, yếu tố bác học rất rõ như chúng tôi đã có nhận xét từ lâu trong bài giảng về ca dao"[255,tr.331] Đỗ Bình Trị nhìn ra "chất thơ" của bài ca khi đặt trong hệ thống câu tạo của các bài ca tả cảnh Theo ông, "Trong những câu ca dao có yếu tố miêu tả thiên nhiên, các tác giả dân gian, nói chung, ít quan tâm đến việc miêu tả cảnh vật một cách hoàn chỉnh, nhưng lại thường không quên biểu lộ trực tiếp cái tình mộc mạc của mình đối với cảnh bằng một lời tán tụng chất phác (chẳng hạn “6T7T như động tiên sa”, " như tranh hoa đồ", " càng nhìn càng say" 6TV V); 7Thoặc bằng lối kể phô phang những cái đặc sắc của địa phương ("có , có ", "lắm , nhiều " vv.) [255, tr.336] Khi đặt vào hệ thống, Đỗ Bình Trị nhận xét: "Đặc điểm ấy, chúng ta không thấy ở bài này" [245,

tr.336] Ông gọi đó là hiện tượng "nằm ngoài hệ thống cho rằng điều này "rất hiếm thấy trong một nền văn học dân gian vì nó trái với tính truyền thông của sáng tác dân gian" [255, tr.336]

7T

Cũng căn bản xét trên tính hệ thống, một đặc trưng cơ bản cửa VHDG, Đỗ Bình Trị -đã

đi sâu phân tích bài ca dao để thấy "Hiện tượng 'nằm ngoài hệ thống' của bài ca dao này thể hiện trước hết và chủ yếu ở chỗ nó lấy bản thân thiên nhiên làm đối tượng miêu tả" Đây là dâu hiệu của sự "lạc hệ thống" Bởi vì, "Trong ca dao ( ) tràn đầy thiên nhiên Mọi sự miêu

tả tình cảm của con người trong ca dao hầu như không -tách rời sự sử dụng hình tượng thiên nhiên Mặc dù vậy, trong ca dao lại rất hiếm những văn thuần túy tả cảnh, vịnh cảnh Trong

ca dao thường tả cảnh đi liền với lời mời kết bạn Điều này thực ra không có gì mâu thuẫn Chỉ có trong thơ, thể tài 'phong cảnh' mới được phát triển rộng rãi" Đỗ Bình Trị cho đây là nguyên nhân gây tranh luận về vấn đề xác định thể loại của bài ca Ông viết: "Nội một điểm quan trọng đó cũng chứng tỏ việc đặt vấn đề về mức độ tính dân gian của bài này là có cơ sở" Chúng ta thấy nổi bật là sự linh hoạt, tính chất "mở" ương cách nhìn nhận vân đề của tác

Trang 26

giả Cụ thể, Đỗ Bình Trị nhận xét rằng đây có vẻ là bút pháp của thơ viết; người viết là người

có học, bài viết mang đậm bứt pháp của thơ phương Đông

7T

Ông còn dựa trên việc xác định nhân vật trữ tình là ai, nhân vật trữ tình là người như thế nào để xác định thể loại của bài ca dao Theo tác giả, trong ca dao, "cái tình" của người tả cảnh thường hiện lên rất rõ ràng; ngược lại, con người trữ tình trong bài ca dao trên ẩn rất sâu, gần như không thây ảnh hình, chỉ thấy thấp thoáng thế đứng, tầm quan sát [255, tr 329] Ông cũng phát hiện những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc, tinh tế của thơ cổ (thơ Đường ?) Quan trọng hơn ông nhìn ra cách thể hiện cảm xúc tinh tế theo lối văn chương bác học của bài thơ.Và trong cái nhìn tổng thể, ông cũng nhìn ra "sự uyên bác" trong việc vận dụng tri thức khoa học để viết tác phẩm của tác giả bài ca

7T

(Theo chúng tôi, tác giả dân gian không "cầu kì" như thế trong việc sáng tác các câu ca dao Ca dao ra đời từ "cửa miệng" người bình dân vốn hồn nhiên chất phác, bình dị và "ít kỹ thuật" hơn nhiều)

7T

Theo chúng tôi, bài ca có nhiều nét đặc trưng của ca dao (Chủ đề ca ngợi thiên nhiên,

vẻ đẹp của quê hương đất nước, cụ thể là của Hà Nội xưa, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, tác phẩm được lưu truyền rộng rãi, có cả dị bản 6T7T" Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương "), nhưng bài ca cũng có những đặc điểm "chệch" chuẩn của ca dao Rõ nhất là ở chỗ

Trang 27

cả bốn câu đều tả cảnh Đây là hiện tượng "lạc" hệ thống ca dao Bởi vì, trong ca dao rất hiếm bài nào mà toàn bài là bức tranh phong cảnh Theo Guxep, mĩ học tả cảnh coi phong cảnh là đối tượng trực tiếp, duy nhất chưa có ương văn học dân gian [64] Thực tế cho thấy, ngay truyện cổ tích cũng không thấy những bức ữanh thuần phong cảnh Trong ca dao có phong cảnh nhưng phong cảnh không hiện ra như một bức tranh thiên nhiên độc lập Cảnh trong ca dao bao giờ cũng gắn với bức tranh sinh hoạt hoặc với hình ảnh con người ngay trong ngôn ngữ của tác phẩm Khi ca dao tả cảnh bao giờ cũng ngụ ý nói về con người hay bức tranh sinh hoạt

8T

Đặng Văn Lung 7T8Tđã có lần nhận xét "Ca dao hay lấy cảnh mà so sánh, nhưng không phải để tả cảnh mà thường tả tình"[131] 7T8TBùi Mạnh Nhị 7T8Tcho rằng "văn bản-bài ca được xây, dựng từ các công thức"[164, tr.24] Do vậy, "Một mặt khi được sử dụng trong văn bản, công thức là bộ phận của bài ca, là nhân tố cấu trúc của nó Mặt khác, công thức là yếu tố của truyền thống, vượt ra ngoài phạm vi cùa văn bản cụ thể "[164, tr 24,25] Từ đó ông chỉ ra phương pháp nghiên cứu ca dao: "đi vào thế giới thi pháp của CDDCTT nói riêng, Folklore nói chung, chúng ta không được dừng ở một văn bản mà phải mở rộng ra thi pháp liên văn bản, tức thi pháp truyền thống" [164, tr 25]

sử dụng lặp đi lặp lại tạo nên cách nói quen thuộc, thành một 'kho' môtíp phong phú, đọng sâu trong lối diễn tả dân gian tạo nên sự giàu có về sô" lượng và vẻ đẹp thẩm mĩ riêng biệt ở TCTTDG"[279, tr 30], thì đều có thể thấy rằng bài này đã đi ra ngoài quỹ đạo thi pháp quen thuộc của ca dao

Trang 28

Một điều nữa là bài này tương truyền của Dương Khuê, thuộc văn học viết Vậy thì tại sao bài này được xem là ca dao?

7T

Có một điều đã trở thành quy luật: một khi có mặt trong các sách 7Tsưu19T 7T19Ttầm, tác phẩm rất

dễ được xem là ca dao Thế hệ người đời sau thường học ca dao qua các sách sưu tầm nên việc chấp nhận là đương nhiên Nhiều bài thơ đã được xem là ca dao bằng con đường như thế hoặc tương tự như thế Điều này thực ra không mang tính thuyết phục Điều quan trọng và có tính thuyết phục là bài này đã được dân gian sử dụng từ lâu như một bài ca dao Nói như Đỗ Bình Trị, " trên thực tế nó đã có cuộc sống của một sáng tác dân gian Cho nên, bất kể nó sẽ được xác định là của ai, khó có thể loại nó ra khỏi lĩnh vực ca dao"[255, tr 331]

7T

Một số nhà nghiên cứu có hướng "xử lý" bài ca dao này cũng như những bài ca dao có cùng hiện tượng (chẳng hạn bài: 6T7T"Anh đi anh nhớ quê nhà "- 6T7Tcho rằng có thể là của Trần Tuấn Khải; 6T7T"Hỡi cô tát nước bên đàng"; và "Long lanh đáy nước in trời " 6T7T- được xem là của Bàng Bá Lân) một cách linh hoạt 6T7TĐỗ 6T8TBình Trị 7T8Tcho rằng: "Xuất phát từ quan niệm thông dụng hiện nay về tiêu chuẩn tính dân gian chúng ta vẫn coi đây là một bài ca dao theo đúng nghĩa của từ này, dù có tài liệu đã nêu lên tên tác giả của nó"

7T

Tác phẩm 6T7T"Gió đưa cành trúc la đà" 6T7Ttiêu biểu hơn cả cho những bài ca có vấn đề tranh luận là ca dao hay thơ? Bên cạnh đó, chúng ta thấy cũng có một số tranh luận tương tự xung quanh một số bài ca khác

1.2.2.Bài Anh đi anh nhớ quê nhà

Trang 29

P 6T7Tcó ghi đây là sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983) và tác phẩm này

đã được in trong tập 6T7T"Bút quan hoài 6T7T"(1927)" [93, tr 152]

7T

Song rất nhiều người đã, đang và sẽ xem bài này là ca dao

7T

Theo chúng tôi, những dấu hiệu ca dao rất dễ nhận ra trong bài Trước hết, bài ca đề

cập đến đề tài xa quê nhớ nhà Nỗi nhớ nhà được cụ thể hóa qua nỗi nhớ hương vị và dáng vẻ quê hương Bài ca cũng sử dụng mô típ quen thuộc 6T7T"Anh đi " 6T7Tvốn đầy ắp trong ca dao thuở trước Hình ảnh quê nhà được gợi qua bài ca thật mộc mạc, giản dị Ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ đời thường Tác giả còn sử dụng cả những từ ngữ quen thuộc trong ca dao như: 6T7T"quê nhà", "canh rau muống, cà dầm tương", "dãi nắng dầm sương'", 'tát nước bên đường", "nhớ ai” 6T7TBên cạnh đó là dâu hiệu thuộc về thể thơ- thể lục bát với những yêu cầu

về vần luật được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, thuần khiết Cách diễn đạt ý tưởng, lối câu

tứ của bài thơ cũng rất thân quen Tinh quê hương gắn liền với xóm với làng, với ruộng với đồng, với sinh hoạt lao động; đặc biệt hơn là gắn liền với tình yêu đôi lứa Điều này gần như

đã trở thành truyền thống của ca dao Việt Nam

7T

Trong cuốn 6T7T"Thi pháp Ca dao", 6T8TNguyễn Xuân Kính 7T8Tcho rằng ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, 7T12Tvề 7T12Tthể thơ, 95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể lục bát Ca dao thường hồn nhiên, mộc mạc, diễn tả sinh động và chân thật cuộc sống tinh thần phong phu của nhân dân lao động Thời gian nghê thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng Không gian nghệ thuật là không giain đời thường Nhân vật trữ tình trong ca dao chưa được cá thể hóa, thường tâm trạng chung, tình cảm chung của nhiều người

8T

Theo chúng tôi, 7T8Tcó lẽ một số nhà thơ của văn học viết đã dựa vào đặc điểm của ca dao

để sáng tác những bài thơ mang đậm âm hưởng, đặc điểm của ca dao như thế Đây không phải là trường hợp ngoại lệ duy nhất Thơ Nguyễn Duy có nhiều bài mang âm hưởng ca dao Song người ta không gọi những bài thơ Nguyễn Duy là ca dao, vì nó có đời sống của văn học

Trang 30

viết, lưu truyền theo đường văn bản Còn bài thơ trên thì khác Do nó đã sống khá lâu trong đời sống dân gian, nó trở thành một tác phẩm được dân gian hóa Với rất nhiều người, dù biết hay không biết tên tác giả bài thơ là ai cũng không phải là quan trọng

"tương truyền hai câu này là do Bàng Bá Lân sáng tác" [235] Trong một số cuốn hồi kí, các nhà văn có uy tía như Anh Thơ, Tô Hoài, Vũ Bằng đều cho tác phẩm là của Bàng Bá Lân

7T

Tuy nhiên, Người ta vẫn thấy bài ca trên mang nhiều đặc điểm của ca dao truyền thống Trước hết, bài ca phác họa một bức tranh về cảnh vật - con người trong lao động Chủ thể trữ tình là chàng trai - không hiện diện trực tiếp mà được thể hiện qua cảm xúc say mê đến gần như kinh ngạc trước vẻ đẹp bình dị mà lung linh kì diệu của đối tượng trữ tình là một cô gái trong cảnh thiên nhiên đẹp Hình ảnh một cô gái đang tát nước thật đẹp, thật quen thuộc trong ca dao xưa; càng đẹp hơn, tuyệt vời hơn khi cô đang tát nước dưới ánh trăng Có

vẻ như tự ngàn xưa hình ảnh đó đã 6T7Ttrở 6T7Tthành một nét đặc trứng của vẻ đẹp Việt Nam Vượt lên vẻ đẹp của cảnh, của người là vẻ đẹp của một cảm xúc yêu thương khởi nguồn từ lao động Với những hình tượng sống động, ngôn ngữ gợi cảm, cách chọn con người và động tác lao động sóng đôi, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh cô gái tát nước giữa không gian quen thuộc 6T7T"bên 6T7Tđàng" khiến tác phẩm thật sự mang dáng dấp một sáng tác dân gian Bởi vì mượn

cảnh lao động để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, sức sống của con người, qua đó tỏ tình yêu nồng nàn, say đắm vốn đã là những môtíp thật quen thuộc trong thế giới những bài ca tỏ tình Thêm vào đó, hình thức đối đáp một vế, cách dùng câu hỏi tu từ càng khiến ta cảm nhận

âm hưởng ca dao đậm nét

Trang 31

2.3 Bài Cày đồng đang buổi ban trưa

Ta cũng dễ dàng nhận thây các thủ pháp nghệ thuật truyền thông khác của ca dao trong bài

Đó là cách kể chuyện quen thuộc: 6T7T"Cày đồng đang buổi ban trưa, mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày"', 6T7Tlối so sánh bình dị "Mớ 6T7Thôi thánh thót như mưa ruộng cày", "Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần", 6T7Tcách dùng từ ngữ mộc mạc tựa lời ăn tiếng nói của nhân dân; cách sử dụng hô ngữ "ai ơi" cùng với giọng điệu thiết tha thể hiện tình cảm sâu nặng

7T

Nhưng gần đây, có dư luận cho rằng bài ca là của một nhà thơ Trung Quốc đời Đường

Lí giải tại sao bài này bị "lầm tưởng" là 1 ca dao, các nhà nghiên cứu giả định: có lẽ một nhà nho Việt Nam xuất thân nông dân đã dịch bài thơ trong mối đồng cảm sâu sắc Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng chưa thống nhất trong việc công nhận ai là tác giả thật sự của bài ca nguyên tác Gần đây, Trần Văn Kỉnh trong bài 6T7T"Ai là tác giả bài thơ Cày đồng!" 6T7Tcho rằng có hai luồng ý kiến về xuất xứ bài thơ Một là khi xem cuốn 6T7T'"Đường Thi Tinh Hoa" 6T7Tcủa Ba Thục Thư Xã (từ trang 649-950) do Trương Chí Kiệt chủ biên thấy bài thơ nằm ở phần thơ của Lý Thân; hai là trong cuốn 6T7T"Cổ Kim thi độc bản" 6T7T(Thượng Hải ấn thư quán) lại thấy ghi tên tác giả là Nhiếp Di Trung - một người đã viết cả một chùm thơ về nhà nông Hơn nữa, trong cuốn 6T7T"Bắc mộng tỏa ngôn" 6T7Tcủa Tôn Quang Hiến (Nhà thơ, nhà khảo cứu cùng thời với Nhiếp Di Trung) cũng có ghi bài này là của Nhiếp Di Trung [91] Theo ông Kỉnh, bài thơ có

Trang 32

lẽ là của Nhiếp Di Trung, bởi vì Nhiếp Di Trung von xuất thân nhà nghèo, tác phẩm lại thường viết về nhà nông, nên lẽ tự nhiên là thâu hiểu nỗi khổ của người nông dân Trong khi

đó Lý Thân đậu tiến sĩ được bổ làm hàn lâm học sĩ, sau lại làm Hữu Thập Di (Ngự sử) thật khó có điều kiện gần gũi để thấu hiểu tình cảm tâm trạng của nông dân nghèo Ông Kinh càng tin chắc vào điều này khi cho rằng: Tôn Quang Hiến là người cùng thời với Nhiếp Di Trung, chắc có lẽ có lí do để ghi tên Nhiếp Di Trung dưới tác phẩm Tôn Quang Hiến lại là con người thận trọng, nổi tiếng làm việc nghiêm túc Mặt khác, có một lí do quan trọng hơn

là Nhiếp Di Trung vốn có sở trường về lối thơ cổ thể (là loại thơ cổ hồn nhiên chất phác, phong vị dân dã như ca dao trong Kinh thi); trái lại thơ Lý Thân hầu như không có mấy bài thuộc loại này Nguyên bản bài thơ Đường như sau:

7T

Thử so sánh cái gọi là nguyên bản bài thơ với bài ca dao sẽ thây sự khác biệt rất rõ Giả

sử có thật một bài như bài thơ của Lý Thân hay Nhiếp Di Trung, dù mang đậm lối thơ cổ thể (loại thơ hồn nhiên, chất phác có phong vị dân dã như ca dao trong Kinh thi) như trên liệu có

Trang 33

thể có đời sống lâu bền đến thế trong đời sống văn chương bình dân Việt Nam? Nói cách khác, giả sử đó thật sự là một bài thơ dịch thì phần sáng tạo của tác giả dân gian rất lớn, đến

độ tác phẩm như thoát thai thành một tác phẩm mới, mang đậm những nét đặc trưng cơ bản của ca dao Việt Nam, mang đậm bản sắc tâm hồn Việt Nam Cũng giông như khi nói tới Truyện Kiều của Nguyễn Du - liệu bao nhiêu người quan tâm tới việc nó bắt đầu từ câu chuyện của người Trung Quốc? Và dù mười mươi biết rằng Nguyễn Du dựa vào 6T7T"Kim Vân Kiều Truyện" 6T7Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân để viết 6T7TTruyện Kiều, 6T7Tliệu có ai là người đòi Nguyễn

Du trả 6T7TTruyện Kiều 6T7Tvề cho người Trung Quốc?

7T

Một lí do nữa là trong lịch sử văn học Việt Nam cũng như thế giới, việc xuất hiện những tác phẩm với nhiều tương đồng về đề tài, thi tứ là chuyện đương nhiên Một khi chưa có gì chứng tỏ bài ca dao vẫn tồn tại trong dân gian Việt Nam đúng là bản dịch của bài thơ có từ bên Trung Quốc thì không có lí gì trả bài ca về cho văn học viết Hãy cứ để bài ca tồn tại trong thể loại ca dao vốn đã được dân gian chấp nhận

7T

Có chăng khi tìm hiểu, phân tích, giảng dạy, người thầy nên có chút liên hệ để càng thấy rõ hơn sự giống nhau và khác biệt trong cách diễn đạt của một bên là thơ ca của văn học viết, một bên là ca dao

Trang 34

Bài ca dao này tiêu biểu cho các bài ca có nhiều tranh luận 7T8TMinh Tranh 7T8Tnhận xét:

"Cũng là một bài ca mà người thì hiểu thế này, người thì hiểu thế khác, thậm chí lại hiểu rất

trái ngược nhau" [242, tr 24]

7T

Phần lớn các bài viết tham gia tranh luận từ những năm 1955 trên tập san Văn Sử Địa

do quá thiên về cái nhìn xã hội học, rốt cuộc hoặc ngợi ca bài ca như một quốc túy văn chương, hoặc cho là bài ca chống địa chủ; cũng có khi chê trách bài ca nói xấu giai cấp nông dân tức là phân tích bài ca một cách thoát li khỏi đặc trưng thể loại - vốn là tiêu chí vô cùng quan trọng, để chỉ còn nhìn thấy những vấn đề xã hội, vấn đề giai cấp

8T

Đỗ Bình Trị 7T8Tcho rằng cần tránh cái nhìn ấu trĩ như vậy, cần đặt bài ca vào hệ thống những bài có chung đặc trưng thể loại Đó là những 7T8Tbài ca của trẻ, cho trẻ, giống như một loại vè, hay một loại đồng dao 7T8TKiểu như: "Vè 6T7TThằng Nhác, vè Thằng Bờm, vè Con kỳ nhông

6T7T

"[248, ữ 38,46] Trong hệ thống những tác phẩm như thế, một mặt, nhân vật như được bước vào một thế giới khác, xa lạ, cuộc đời đầy phong lưu, sung túc, đầy đủ (có lẽ thể hiện ước mơ nghìn đời của nhân dân), mặt khác, đứa trẻ này thường có một nhược điểm nào đó, hiện ra rất dễ thương trong mắt và trong cách nói của người lớn Trong bài 6T7TThằng Bờm, 6T7Ttác giả dân gian dường như có chút trách móc với nhân vật: ngốc Do vậy mới xảy ra chuyện, Bờm từ chối các thứ mà phú ông đưa ra để đổi, dù đó là những sự vật có giá trị Bởi vì là đứa trẻ, Bờm không biết giá trị của những sự vật ấy như cách của người lớn Hình ảnh cái quạt do vậy không phải là cái quạt có phép màu như trong truyện cổ tích mà chỉ là chút cười cợt;

,6T7Tcó lẽ chỉ là cách nói bày ra, và cuối cùng 6T7T"Bờm cười" 6T7Tcó thể là sự đồng ý như một cách hạ màn trò chơi Bờm đồng ý đổi cái gì? 6T7T"Hòn xôi" 6T7TTại sao không đổi lấy những thứ khác có giá trị hơn nhiều, mà lại đổi lấy hòn xôi? Nếu hiểu bài ca là đồng dao thì rất đơn giản Hòn

Trang 35

xôi, với Bờm là thứ dùng ngay được, nó phù hợp với nhận thức và nhu cầu của Bờm Hòn xôi vừa với sự tiếp nhận của Bờm Bờm nhận ra đúng giá trị của cây quạt chỉ thực sự bằng giá trị hòn xôi Bài ca có nụ cười cảm thông với một thoáng niềm vui của tuổi trẻ.'dù bên ngoài có một chút cười chế giễu Tác giả dân gian rõ ràng rất am hiểu triết lí nông dân cũng như tâm lí trẻ thơ Bài ca cũng cho thấy người xưa yêu trẻ theo cách của mình Dường như qua bài ca, người xưa muốn dạy cho trẻ đôi điều những kiến thức về đời sống, xung quanh cuộc sống phong lưu giàu có của các phú ông trong làng vốn rất khác biệt với cuộc sống của Bờm [255]

Trong khi đó nhiều nhà nghiên cứu khác cho đây là một bài ca dao 7T8TSoạn giả 6T8T"Nam

G iao cổ kim 6T7T"viết: "Đây là bài ca dao nói lên cái chất phác thật thà của người dân đời Lê" 7T8TLô Răng 7T8Tkhẳng định rõ hơn: "Đây là những câu ca dao thuộc vào loại phổ biến nhất của văn học dân gian"[192, tr 144].Tương tự, 7T8TMinh Tranh 7T8T[242, tr 24], 7T8TThiện Căn 7T8T[ 18, tr 7,16], 7T8TPhan Văn Hoàn 7T8T[80, tr.29-32] cũng xem đây là ca dao Thiện Căn đặt ra vấn đề tìm hiểu bài ca chủ yếu dựa trên thi pháp của nó - một tác phẩm văn chương Ông cho đó là một bài ca dao giản dị, có sức sống lâu bền cùng thời gian Nhưng ông cũng so sánh để thây nét đặc biệt về thể loại của bài ca Theo Thiện Căn, phần lớn ca dao mang tính chất trữ tình, riêng bài Thằng Bờm không hề phát hiện tính chất đó Trái lại, bài ca là một cuộc đối thoại - "Một vở kịch ngắn một màn hai nhân vật"[18, tr7,16]

Trang 36

động và hấp dẫn" Ông còn nhìn ra sự phát triển cùa bài ca trong thời hiện đại vào các thể loại khác: "gần đây, Bờm trong ca dao cổ đã được tái tạo và phát triển thành Bờm trong hài kịch, điện ảnh và ca dao mới" [238] (Chúng tôi nhận thấy, gần đây ngay cả chương trình truyền hình cũng sử dụng câu chuyện của bài ca như một cách quảng cáo hấp dẫn và có hiệu quả cho một số sản phẩm)

7T

Cũng cảm nhận đây là một bài ca dao, nhưng 7T8TTrần Thanh Mại, Ngô Quân Miện, Trần

6T8T

Đức 6T8TThảo 7T8T[214, tr 27 -> 35] lại dùng khái niệm công cụ của văn học viết - "bài thơ" để nói

về bài ca Có điều, cách hiểu của mỗi người hoàn toàn trái ngược Trong khi Ngô Quân Miện đánh giá "Bài 6T7TThằng Bờm 6T7Tlà một bài thơ tiêu biểu nhất cho tinh thần nông dân đâu tranh chống phong kiến, địa chủ áp bức, bóc lột" và "về hình thức, bài 6T7T''Thằng Bờm" 6T7Tbiểu tượng được tất cả cái hay đẹp, cái tinh hoa của một áng văn chương dân tộc là một bài thơ kiệt tác của nông dân lao động, một hòn ngọc đẹp nhất, sáng nhất của chuỗi ngọc thi ca Việt Nam

Nó là một 'Quốc túy' văn chương" [133]; thì Trần Thanh Mại cho rằng: "Bài thơ đó đề cao uy thế của giai cấp địa chủ và làm giảm tư thế của giai cấp nông dân cho nên "Nó quyết không thể là một sản phẩm của văn chương bình dân", trái lại nó là một sản phẩm văn chương của phong kiến", do vậy " nhất định là phải tẩy trừ" [136, tr 51 -54]

Trang 37

Một số người, dù bằng cảm nhạo chủ quan hay bằng sự phân tích khách quan dưới góc

độ thi pháp thể loại đều nhìn ra tính chất lưỡng hợp: 7T8Tvừa là tự sự, vừa là trữ tình của bài ca

ca dao Việt Nam lại rất mực dồi dào, phong phú, phân tífch hoặc xếp thành chương mục khó lòng hết được; vả lại sẽ làm giảm vẻ đẹp tự nhiên như người phá rừng sửa thành vườn cảnh, hay đem núi non, hoa cỏ bày vào toong bể cạn, bên tường" [230, tr, 21]

7T

Chúng tôi cũng đồng tình ở khía cạnh: trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng có những tác phẩm nằm ở ranh giới các thể loại Nói cách khác, không phải tác phẩm văn học dân gian nào, bài ca dao nào cũng thuần nhất, theo đúng những đặc trưng thể loại Đời sống dân gian đã trộn hòa màu sắc thể loại trong khá nhiều tác phẩm Đôi khi sự trộn hòa nhuần nhuyễn đến độ rất khó phân biệt, khó xác định rạch ròi Trong những trường hợp này, cách xử lý tốt nhất là nhìn ra và cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm ngay ở tính chất lưỡng hợp như thế Nhưng cũng nên xét kỹ để thấy nét đặc trưng thể loại nào "đậm" hơn Căn bản 7T8Ttác phẩm "Thằng Bờm " là ca dao

2.4.2 Bài Mười cái trứng

Trang 38

về kết cấu và thành "cao trào" ở hai câu cuối cùng là thể lục bát chính thức" [245, tr.16-17]

Trang 39

8TVi Hồng 8T9Tcòn cho rằng đã có nhiều sách sưu tập xếp 6T9TMười cái trứng 6T9Tvào 7T9Tmục vè dân

gian và gọi nó bằng cái tên 6T7TVè nuôi gà, 6T7Tlời của nó không đếm trứng bằng "cái" mà bằng

"quả": 6T7T" Còn ba quả nở ra ba con"

8TVũ Anh Tuấn 7T8Tđồng tình với ý kiến của Vi Hồng: '"rõ ràng bài ca dao trên đây đã có một dị bản như thế, và có lẽ trên thực tế nó đã từng sống trong môi trường sinh hoạt đời thường ở một giai đoạn nhất định với tư cách kể vè" [257, ữ 145-146] Ông dẫn bài 6T7T"Cây đa Bình Đông" 6T7Tnhư một ví dụ Nhưng dựa vào nhiều cứ biện, cuối cùng Vũ Anh Tuấn xác định

"Bài 6T7Tca Mười cái trứng 6T7Tlà ca dao"-"bài ca lao động"; phân biệt 6T7T(khác 6T7Tvới bài 6T7Tvè nuôi gà 6T7Tkể chuyện 6T7T"Mười cái trứng") 6T7TThứ nhất, xuất phát từ từ ngữ "quả trứng" hay "cái trứng", ông đoán định thời điểm xuất hiện và khả năng biểu hiện của bài ca Theo ông, "Trong cảm nhận đời thường rõ ràng gọi 'con trứng' hay 'cái trứng' sinh động và có nghĩa lí hơn hẳn cách gọi là quả trứng" Thứ hai, ông phân biệt sự khác nhau giữa thi pháp vè và ca dao: "vè là văn vần dân gian chứ không có chất thơ" và "Vè nói chung thường mang nghĩa cụ thể, trần trụi" Ca dao thì ngược lại.Thứ ba, ông cho rằng bài ca dao là phần lời đã bỏ đi những tiếng đệm ương một bài ca Bình Trị Thiên, thuộc lối hò lao động theo điệu mái đẩy (hò mái nhì) vùng Quảng Trị Thứ tư, Vũ Anh Tuấn cũng dựa trên hệ thống để đoán định sự ra đời cũng như sự chuyển hóa trong môi trường diễn xướng của bài ca dao Tác giả cho rằng ở thời kì đầu tiên xuất hiện, bài ca thiên về nhịp điệu phù hợp với đặc điểm hình thức lao động, mục đích là tạo sự hiệp lực, tổ chức công việc trong lao động và gia tăng niềm hứng khởi "Song, càng ngày lời

ca càng xa nguồn gốc nguyên thủy" Bài ca mang thêm ý nghĩa phái sinh, tức là giúp thỏa mãn đời sông tâm hồn, nhu cầu bày tỏ và giao lưu tình cảm trong nhân dân Do đó nó mang ý nghĩa là bài ca than thân, phản kháng Tác giả bài viết thậm chí ước đoán cơ sở lịch sử xã hội

và trình độ phát triển ngôn ngữ nghệ thuật khi bài ca ra đời Theo Vũ Anh Tuấn, một khi "Bài

ca đã chứa đề tài đời sông xã hội rất mạnh mẽ, sâu sắc và triệt để,'triết lý dân gian trong nội dung của nó đã đạt tới một trình độ cao " thì có lẽ nó mang đặc trừng của một bài ca dao nhiều hơn đặc trưng một bài vè

Trang 40

biệt Bài một là bai ca thể hiện niềm luyến tiếc nhớ thương đối với mái âm bị 6T7T"ai thù ai oán đốt đi", 6T7Tbài thứ hai là bài ca lỡ duyên; bài thứ ba thì khác hẳn: đó là một bài ca mơ ước cảnh đời sung túc

8T

Trần Hoàng 7T8Tcó phát hiện mới khi xếp bài này vào loại những bài mà tác giả tạm gọi là

6T7T

"thơ dân gian tự dỡ"[83, tr 94->97] 6T7TÔng cho rằng về mặt câu trúc, các bài thơ dân gian tự

do trong ca dao xứ Huế thường có hai phần :

7T

Theo chúng tôi, văn bản quen thuộc đích thực là 7T8Tmột bài ca dao 7T8TTrong khi đó một số

dị bản lại có thể là vè Chẳng hạn dị bản thứ ba đã dẫn ở trên Chúng tôi quan tâm đến cách phân biệt hai thể loại này của Đỗ Bình trị Theo ông, xét về bản chất chung "ca dao đựơc xác định là thơ trữ tình, đối ứng với vè, là thơ ca tự sự" Ông cũng lưu ý: "Tất nhiên trong ca dao cũng thường có yếu tô" tự sự và ngược lại, trong vè cũng không thiếu yếu tố trữ tình" Nhưng cũng cần thấy rằng: lối kể chuyện trong ca dao khác vè Những khác biệt chủ yếu là trong ca dao nhân vật trữ tình tự kể chuyện mình, còn trong vè, câu chuyện về nhân vật tự sự do người khác kể lại Câu chuyện kể trong ca dao là câu chuyện tâm tình, còn câu chuyện kể trong vè

là câu chuyện kể về sợ việc ương đó nổi lên hành động của nhân vật [253, tr 67, 76]

Xét trên đặc trứng thể loại, có thể thấy bài Mười cái trứng từ ca dao

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w