1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm

175 622 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thực tế như đã nêu đã thu hút người nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của việc giải bài toán đối với sự phát triển tính tích cực nhận thức nơi học sinh, sự quan tâm của các lực lượng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Nguyễn Thị Trang Nhung

TÌM HIỂU TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 5 MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TẠI TP HCM

Mã số: 603180

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HUỲNH VĂN SƠN

Thàn h phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 9

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 9

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 10

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 13

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC 13

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về tính tích cực nhận thức tại nước ngoài 13

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về tính tích cực nhận thức tại Việt Nam 17

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 22

1.2.1 Tính tích cực nhận thức 22

1.2.2 Toán học ở bậc Tiểu học và bài toán có lời văn ở học sinh lớp 5 41

1.2.3 Tính tích cực nhận thức của học sinh trong việc giải bài toán có lời văn 55

1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý - nhận thức của học sinh Tiểu học 59

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 67

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 67

2.1.1 Mục đích, nội dung nghiên cứu 67

Trang 3

2 1.2 Phương pháp nghiên cứu 67

2.1.3 Vài nét về khách thể nghiên cứu 73

2.2 THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH L ỚP 5 TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 74

2.3 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 93

2.3.1 Nguyên nhân xét từ phía học sinh 93

2.3.2 Nguyên nhân xét từ phía giáo viên 101

2.3.3 Nguyên nhân xét từ yêu cầu của bài toán có lời văn 107

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÂM LÝ - SƯ PHẠM NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 110

3.1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 110

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 110

3.1.2 Khách thể thực nghiệm 110

3.1.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 110

3.1.4 Một số biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 111

3.1.5 Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm 119

3.2 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÂM LÝ - SƯ PHẠM NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 122

3.2.1 Kết quả nghiên cứu trước thực nghiệm 122

3.2.2 Kết quả nghiên cứu sau khi thực nghiệm 127

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141

KẾT LUẬN 141

KIẾN NGHỊ 143

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Xếp loại các mức độ tính tích cực nhận thức nói chung trong việc

giải bài toán có lời văn 62

Bảng 2.2 Xếp loại các mức độ của từng loại tính tích cực nhận thức trong

việc giải bài toán có lời văn 63

Bảng 2.3 Tổng quan về mẫu nghiên cứu 66 Bảng 2.4 Tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học

sinh lớp 5 67

Bảng 2.5 Kết quả các loại tính tích cực nhận thức 70 Bảng 2.6 Mức độ các loại tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có

lời văn của học sinh lớp 5 80

Bảng 2.7 Thực trạng tính tích cực nhận thức khi giải bài toán có lời văn của

Trang 5

Bảng 3.4 Điểm trung bình chung về tính tích cực nhận thức của nhóm đối

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Thực trạng tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc

giải bài toán có lời văn 70

Biểu đồ 2.2 Điểm trung bình các loại tính tích cực nhận thức 72 Biểu đồ 2.3 Mức độ các loại tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán

có lời văn của học sinh lớp 5 82

Biểu đồ 2.4 Mức độ hứng thú khi học sinh giải bài toán có lời văn 90 Biểu đồ 3.1 Các mức độ tính tích cực nhận thức của nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm 116

Biểu đồ 3.2 Tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc giải bài

toán có lời văn trước và sau thực nghiệm 121

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội đã mang lại cho con người nhiều giá trị hưởng thụ mới, nhưng bên cạnh đó, chính sự phát triển này cũng

đề ra những yêu cầu mới, cao hơn, phức tạp hơn và gay gắt hơn nơi con người

về các phẩm chất cá nhân, năng lực tư duy và năng lực hành động Tất cả những yêu cầu này được tin tưởng gửi gắm vào quá trình giáo dục với hy vọng sẽ đào tạo và cung cấp cho xã hội những cá nhân có trình độ chuyên môn, khả năng thực hành, hoàn thành công việc hiệu quả

Để đáp ứng những yêu cầu ấy, quá trình giáo dục luôn được đổi mới để theo kịp và đón đầu sự phát triển của xã hội Chiến lược giáo dục đã chuyển trọng tâm sang học sinh theo hướng phát huy cao độ tính tích cực nhận thức, học tập của học sinh Nằm trong định hướng này thì không thể không đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục tiểu học, bởi đây chính là nền tảng cơ sở hình thành thái độ học tập, nhân cách toàn diện của mỗi cá nhân Điều này

được thể hiện rõ trong mục tiêu của giáo dục tiểu học Theo Điều 23 - Luật

Giáo dục - 1998 như sau “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành

những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở ” [32]

Bỏ qua giai đoạn Mẫu giáo với hoạt động vui chơi đầy màu sắc, học sinh Tiểu học được tiếp cận với nhiều môn học mới để đảm bảo cho mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách toàn diện về các mảng: đạo đức, trí tuệ, thẩm

mỹ, thể chất,… Một trong những môn học giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cho hoc sinh là môn Toán Ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản ban đầu là cơ sở và nền tảng để học sinh học ở các bậc học cao hơn, môn

Trang 8

Toán ở bậc Tiểu học còn hình thành cho học sinh các kỹ năng thực hành tính,

đo lường có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Thông qua dạy - học Toán, học sinh bước đầu phát triển các năng lực tư duy như: khả năng suy luận hợp lý, diễn đạt đúng, phát hiện, giải quyết các vấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống, từ đó kích thích trí tưởng tượng, hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt

và sáng tạo Bên cạnh đó, Theo Điều 24 - Luật Giáo dục - 1998, thì “phương

pháp giáo dục Tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [32] Việc giải bài toán, đặc biệt là việc giải bài toán có lời văn giữ một vai trò đặc biệt to lớn đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh, bởi việc giải bài toán

có lời văn là sự cộng gộp của rất nhiều thao tác trí tuệ, từ việc phân tích đề bài

là những lời văn thông thường chuyển sang khái quát hóa thành những hình ảnh và những con số tương ứng, sau đó là quá trình giải quyết yêu cầu để đưa

ra một kết quả cuối cùng Như vậy, chính bản thân học sinh sẽ chủ động tìm tòi, suy nghĩ, tự tìm ra cách giải quyết những yêu cầu mà bài toán đặt ra và đây là yếu tố hàng đầu phát huy tính tích cực nhận thức của các em Tuy nhiên, việc giảng dạy môn toán trong nhà trường chưa thật chú trọng đến hứng thú cũng như tính tích cực học tập của học sinh, để kích thích niềm say

mê học tập môn toán nơi các em Vì vậy, đối với một số học sinh, môn toán bỗng dưng trở thành “nỗi sợ” hay một gánh nặng về học tập chứ không thú vị như những môn học khác Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thái độ học tập tại trường Tiểu học mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của các em

Trang 9

Những thực tế như đã nêu đã thu hút người nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của việc giải bài toán đối với sự phát triển tính tích cực nhận thức nơi học sinh, sự quan tâm của các lực lượng sư phạm liên quan đến việc phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh trong quá trình học tập môn toán nói riêng và

sự phát triển tính tích cực nhận thức trong suốt quá trình học tập nói chung

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Khảo sát thực trạng tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc giải bài toán có lời văn Trên cơ sở đó, đề xuất và thử nghiệm một số biện

pháp tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao tính tích cực trong việc giải bài toán

cũng như kết quả học tập của các em

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến tính tích cực nhận

thức trong việc giải bài toán có lời văn; đặc điểm tâm lý học sinh Tiểu học

3.2 Khảo sát thực trạng tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 một

số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh trong việc giải bài toán có lời văn

3.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao

tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc giải bài toán có lời văn

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 10

Học sinh lớp 5 tại một số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, khách thể bổ trợ của đề tài còn là một số giáo viên giảng dạy,

tổ trưởng chuyên môn của trường Tiểu học

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh

lớp 5 một số trường Tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh là chưa cao Nguyên

nhân của thực trạng này do một số yếu tố chủ quan và khách quan Có thể

nâng cao tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học

sinh lớp 5 bằng một số biện pháp tâm lý - sư phạm như sau: Gây hứng thú

nhận thức cho học sinh khi giải bài toán có lời văn; Hướng dẫn chi tiết các bước giải bài toán có lời văn

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

6.1 Đề tài chỉ nghiên cứu tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5

trong việc giải bài toán có lời văn

6.2 Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu học sinh lớp 5 một số trường Tiểu

học tại thành phố Hồ Chí Minh

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp luận

Đề tài tiến hành tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng tiếp cận biện

chứng, hệ thống - cấu trúc, hướng tiếp cận nhân cách và thực tiễn

7.1.1 Hướng tiếp cận biện chứng

Tính tích cực nhận thức được phân tích dưới góc độ duy vật biện chứng, những biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức được xem xét trong mối

liên hệ với thế giới khách quan, đặc biệt là hoạt động và giao tiếp của chủ thể

7.1.2 Hướng tiếp cận hệ thống - cấu trúc

Trang 11

Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức được nghiên cứu trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không có biện pháp nào hoàn toàn biệt lập mà chúng nằm trong một chỉnh thể thống nhất

7.1.3 Hướng tiếp cận nhân cách

Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức không chỉ được nghiên cứu dưới góc độ tác động thuần về mặt tổ chức hành vi mà còn được nghiên cứu như là một tác động góp phần hình thành năng lực trong nhân cách

7.1.4 Hướng tiếp cận thực tiễn

Thực tiễn là nguyên nhân cũng như là điều kiện để các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức được thực thi Đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng các tình huống thực tiễn để làm bộc lộ tính tích cực nhận thức của khách thể

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Dựa trên sự tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan, kết hợp với lý luận riêng, nhóm nghiên cứu sẽ xây dựng một hệ thống khái niệm công cụ cũng như những khái niệm có liên quan để định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu, toàn bộ quá trình điều tra thực tiễn cũng như

nghiên cứu thực nghiệm

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Xây dựng hệ thống bài tập nhằm khảo sát thực trạng tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc giải bài toán có lời văn

- Thiết lập bảng hỏi dành cho giáo viên để tìm hiểu về thực trạng tính

tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc giải bài toán có lời văn,

nguyên nhân của thực trạng

7.2.2.2 Phương pháp quan sát

Trang 12

Thông quan dự giờ sẽ quan sát quá trình học tập và các biểu hiện tính

tích cực nhận thức của học sinh và các phương pháp của giáo viên trong việc

tổ chức việc giải bài tập toán của học sinh theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh

7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Thông qua trò chuyện, phỏng vấn với học sinh, giáo viên sẽ thu thập

thêm dữ liệu về thực trạng tính tích cực nhận thức của học sinh

7.2.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Số liệu thu về được xử lý bằng phần mềm SPSS để đưa ra những kết luận

phù hợp trên bình diện thống kê

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

8.1 Đóng góp về mặt lý luận

Đề tài hệ thống hóa những cơ sở lý luận về tính tích cực nhận thức và đặc biệt là tính tích cực nhận thức của trẻ Tiểu học (lớp 5) trong quá trình giải bài toán có lời văn

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Đề tài đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tâm lý nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực nhận thức của trẻ trong quá trình giải bài toán nói riêng và trong quá trình học tập nói chung, qua đó, góp phần thúc đẩy sự phát triển

tính tích cực nhận thức của trẻ trong quá trình phát triển nhân cách

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC TRONG VIỆC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC

Các vấn đề về tính tích cực nhận thức đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phương Đông và phương Tây Có thể điểm qua như sau:

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về tính tích cực nhận thức tại nước ngoài

Ngay từ rất sớm, các nhà Giáo dục học và Triết học cổ đại đã nhận thấy sự cần thiết của việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động của người học trong quá trình học tập, và coi đó là “nguyên tắc vàng”, là kim chỉ nam trong hoạt động dạy học Điều này được minh chứng rõ rệt qua quan điểm của một số nhà Giáo dục học và Triết học tiêu biểu sau đây:

Khổng tử (551 - 479 TCN) là một nhà tư tưởng giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa Ông rất chú trọng đến việc kích thích sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh và ông cho rằng nếu “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy nghĩ ba góc khác thì không dạy nữa” [26] Rõ ràng, Khổng tử đã chú trọng đến khả năng thực hành và ứng dụng, đặc biệt đã lưu ý đến sự nhận thức tích cực của học sinh

J A Comenxki (1592 - 1670), nhà giáo dục xuất sắc của thế kỷ 17, ngay

từ rất sớm đã quan niệm rằng, giáo dục không phải là sự nhồi nhét vào đầu học sinh những kiến thức nguyên vẹn mà phải “Tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực nhận thức của người học” và đưa ra quan điểm trong đó

“Cho phép giáo viên dạy ít hơn và học sinh học nhiều hơn” Cùng quan điểm với ông là tác giả người Đức A Dixtervec (thế kỷ 19) khi cho rằng “Dạy học

Trang 14

không phải là mang kiến thức nhồi vào đầu trẻ mà phải cung cấp chìa khoá cho chúng đi tới chân lý” [46]

Các nhà giáo dục cùng thời như J J Rutxo (Pháp), K Đ Usinxki (Nga) là những nhà giáo dục kiệt xuất thế kỷ 18 đã cho rằng trẻ em phải tích cực giành lấy kiến thức bằng con đường tự tìm hiểu, tự khám phá và sáng tạo chứ không phải học thuộc lòng hoặc tuân theo bất kỳ sự áp đặt nào; kiến thức phải được thu lượm bằng con đường tự tìm tòi mày mò “tự quan sát, phát biểu ý kiến của mình, tưởng tượng và nhớ lại những gì đã quan sát được và rút ra kết luận”[46]

K Mark, nhà triết học duy vật biện chứng nổi tiếng thế kỷ 19 (Đức) đã chỉ

ra rằng, “Nhân cách trẻ hình thành và phát triển khi tích cực tham gia vào các hoạt động với môi trường xung quanh, đặc biệt là hoạt động nhận thức Phải luôn coi trẻ là chủ thể của quá trình nhận thức” [9]

J Piaget cho rằng quá trình phát triển của trẻ mang tính chủ động và tích cực, trẻ có thể tự xây dựng kiến thức cũng như chủ động xây dựng kiến thức cho mình [37]

Đến thế kỷ 20 – 21, vấn đề tính tích cực nhận thức tiếp tục được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau Có thể điểm qua một số khuynh hướng sau:

Khuynh hướng thứ nhất có các tác giả như I F Khalarmov, R A

Nhidamov, đã nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối quan hệ giữa nhận thức và ý chí Đây được coi như một lý thuyết

hỗ trợ hữu hiệu cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những cách thức cần thiết để phát huy tính tích cực nhận thức cho người học

Thứ hai, một số tác giả như P B Exipov, L P Aristova, nghiên cứu về

bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó lưu ý đặc biệt đến vai trò của chủ động của chủ thể trong quá trình

Trang 15

nhận thức Tính tích cực được coi như thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông qua việc huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức

Thứ ba, khi nghiên cứu về một số dấu hiệu của tính tích cực nhận thức và

các mức độ thể hiện chúng ở tuổi học sinh, có các tác giả tiêu biểu như X P

Baranov, A M Machiuskin, Theo khuynh hướng này, các tác giả đã xác định các dấu hiệu và mức độ tính tích cực nhận thức của học sinh trong hoạt động học tập, từ đó đưa ra những yêu cầu đối với giáo viên cũng như các phương pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

Khuynh hướng thứ tư, một số tác giả tiêu biểu như I Ia Lecner, P B

Exipov, L P Aristova, đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính tích cực nhận thức và tính độc lập nhận thức của học sinh trong việc hình thành vấn đề nhận thức và giải quyết vấn đề theo một số quan điểm sau:

- I Ia Lecner thấy tính tích cực là điều kiện của tính độc lập và không thể nào có tính độc lập mà thiếu tính tích cực nhưng giữa chúng có thể không có

sự kết hợp với nhau [27]

- P B Exipov, L P Aristova cho rằng ngay trong tính tích cực phải có tính độc lập khi hình thành vấn đề và xác định cách giải quyết vấn đề [14]

Thứ năm, các tác giả như G I Sukina, R A Nhidamov, dựa vào chức

năng tâm lý và mức độ huy động các chức năng đó để phân loại tính tích cực nhận thức

Cùng quan điểm khi nhìn nhận tính tích cực nhận thức là thái độ chủ động của chủ thể trong quá trình nhận thức cũng như thể hiện tính độc lập trong quá trình giải quyết vấn đề, một số tác giả như Charles C Bonwell và James

A Eison (Đại học George Washington, Mỹ), trong công trình “Active learning: Creating excitement in the class room” (1991) đã sử dụng thuật ngữ

Trang 16

“học tập tích cực” (active learning) để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học sinh phải “tự chịu trách nhiệm cho quá trình học tập của mình” bằng cách

“phải làm nhiều hơn là lắng nghe: học sinh phải đọc, viết, thảo luận hoặc tích cực tham gia vào quá trình giải quyết những vấn đề được đưa ra Để làm được điều đó, học sinh phải sử dụng những chức năng tư duy bậc cao như tổng hợp, phân tích và đánh giá” Đây cũng là ý tưởng thực chất đề cập đến tính tích cực nhận thức của người học Từ đó, các tác giả này đã đề xuất những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học như làm việc theo cặp, thảo luận các vấn đề cần giải quyết thông qua trò chơi phân vai, [52]

Bên cạnh đó, tác giả Stacy E Walker (Đại học William Paterson, Mỹ) trong bài viết “Active learning trategies to promote critical thinking” đăng trên tạp chí Athletic Training (2003) cũng đưa ra một góc nhìn mới về tính tích cực nhận thức Theo ông, khi tích cực tham gia vào quá trình suy nghĩ thì

cá nhân đó không chỉ đơn thuần đánh giá, diễn giải và phân tích các dữ kiện

mà còn suy luận những phân tích đó và đưa ra những giả định về những dữ kiện đã được cho biết Kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức này là hình thành tư duy phản biện nơi người học Dưới góc nhìn của Stacy E Walker, không thể gọi là tích cực nhận thức nếu người học không thật sự tìm kiếm và đưa ra những lập luận, những ý kiến khác nhau về một vấn đề trước khi đưa

ra ý kiến cuối cùng Như vậy, tính tích cực nhận thức ở đây được xem là tiền

đề của tư duy phản biện và các phương pháp dạy học tích cực sẽ hướng đến việc phát triển tư duy phản biện nơi người học [55]

Như vậy có thể thấy rằng, các quan điểm của các tác giả nước ngoài từ thời cổ đại đến hiện đại khi nghiên cứu về tính tích cực nhận thức thường tập trung ở tính chủ động tìm tòi để giải quyết vấn đề được đặt ra, hoặc đề cao tính tự lập trong quá trình nhận thức vấn đề và giải quyết vấn đề, từ đó, tạo ra

Trang 17

“chất” mới trong nhận thức của chủ thể Xuất phát từ đây, hướng nghiên cứu

về tính tích cực nhận thức theo chiều sâu của nó lại được tiếp tục khơi gợi và

mở rộng hơn

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về tính tích cực nhận thức tại Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề tính tích cực nhận thức được một số nhà sư phạm quan tâm như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Ánh Tuyết, Thái Duy Tuyên, Lê Nguyên Long… Đã có những công trình nghiên cứu hoặc những tài liệu đề cập đến vấn đề này như: “Một vài phương pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh”; “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học”; “Quá trình dạy

- tự học”; “Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại”… Các tác giả này đã xem xét tính tích cực nhận thức của học sinh trong hoạt động học tập như là

“thái độ cải tạo” khách thể nhận thức trong đó có sự “huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý” để có thể giải quyết được những nhiệm vụ học tập, nhận thức và cũng đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể trong quá trình cải tạo khách thể, sự cần thiết phải phát huy tính tích cực nhận thức cho người học

Tác giả Thái Duy Tuyên đề cập đến việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh như là một trong những nhiệm vụ của người thầy trong quá trình dạy học Ngoài ra, tác giả còn đề cập vấn đề có liên quan như: đặc điểm tính tích cực của học sinh; biểu hiện của tính tích cực, nguyên nhân của tính tích cực nhận thức, các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh Theo tác giả thì tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác Mặt

tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò

mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi ở trẻ đều có, trong mức độ khác nhau Mặt tự giác của tính tích cực tức là trạng thái tâm lý, tính

Trang 18

tích cực có mục đích và đối tượng Tính tích cực tự giác biểu hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học… Từ những đặc điểm này, tác giả đã nhấn mạnh “Hạt nhân của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng” [45]

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo cũng quan tâm khá sâu về tính tích cực nhận thức và xem xét ở một phạm vi có giới hạn hơn, nghĩa là tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức

độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết vấn đề học tập nhận thức Vì vậy theo tác giả, sự lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra mục đích nhiệm vụ cần giải quyết sâu khi lựa chọn đối tượng trong hoạt động mới chính là nhân tố của tính tích cực nhận thức [1]

Ngoài ra, trong những năm gần đây có nhiều tác giả đã thực hiện trong một số luận văn, luận án và các bài báo, tạp chí Lĩnh vực nghiên cứu trải dài

từ bậc Mầm non đến Đại học với các công trình tiêu biểu như:

Ở bậc Mầm non, có thể kể đến đề tài “Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp

của trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vui chơi” do tác giả Nguyễn

Xuân Thức thực hiện (1997) đã đề cập khá nhiều tri thức khoa học có liên

quan đến tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi, tạo điều kiện tâm lý cho các em thích ứng được với hoạt động học tập trong giai đoạn đầu bậc tiểu học Đề tài đã nghiên cứu khá công phu những vấn đề lý luận về tính tích cực cũng như những biểu hiện của tính tích cực [42]

Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thị Kim Dung nghiên cứu đề tài “Một số

biện pháp phát huy tính tích cực của trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động

vẽ tranh” Đề tài đã thử nghiệm một số biện pháp phát huy tính tích cực của

trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ để nâng cao chất lượng của hoạt động này Bên cạnh đó tác giả còn phân tích các mức độ và biểu hiện của tính

Trang 19

tích cực Tuy nhiên, việc phát huy tính tích cực trong hoạt động vẽ tranh của trẻ Mẫu giáo dưới góc độ tính tích cực học tập hay là tính tích cực nhận thức

có thể nói vẫn chưa được làm rõ trong luận văn [42]

Năm 2001, tác giả Nguyễn Thị Xuân Trinh đã bảo vệ luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Giáo dục trẻ em trước tuổi học với đề tài nghiên cứu “Một số

biện pháp phát huy tính tích cực của trẻ Mẫu giáo 3 - 4 tuổi trong giờ thể dục” Tác giả đã xác định một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của

trẻ Mẫu giáo 3 - 4 tuổi trong giờ thể dục, góp phần nâng cao chất lượng giờ thể dục ở trường Mầm non Dù tác giả đã đưa ra khá nhiều khái niệm có liên quan đến tính tích cực nhưng những đặc trưng về tính tích cực nhận thức trong giờ học có phải là tính tích cực học tập hay là tính tích cực về hoạt động vận động vẫn chưa được phân tích một cách rõ ràng và sâu sắc

Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung với công trình “Tìm hiểu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi phân vai theo chủ

đề tại một số trường mầm non nội thành Thành phố Hồ Chí Minh” hay tác giả Đào Việt Cường nghiên cứu về vấn đề tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo trong trò chơi học tập năm 2008 với công trình “Tìm hiểu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi học tập ở một số trường mầm non Thành phố Hồ Chí Minh” đã tổng hợp những lý luận cơ bản về vấn đề tính tích cực nhận thức trong hoạt động vui chơi của trẻ Mẫu giáo

Vấn đề tính tích cực nhận thức của học sinh các bậc Tiểu học, Trung học cũng đồng thời nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của những tác giả với các

đề tài sau:

Tác giả Lê Đình Dũng cũng đã nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học vùng nông thôn Đồng Tháp” Mục đích nghiên cứu của tác giả là tìm kiếm một số biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh phù hợp với đặc trưng của vùng

Trang 20

nông thôn Đồng Tháp Song, đối tượng nghiên cứu là các biện pháp được sử dụng trong dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học nói chung cho nên chiều sâu của đề tài chưa được khai thác triệt để [36] Tiếp đó, là đề tài “Một số biện pháp sư phạm góp phần nâng cao năng lực giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5” là một luận văn thạc sĩ Giáo dục thuộc chuyên ngành phương pháp giảng dạy Toán của tác giả Nguyễn Thị Thanh

Thủy Điểm chính của đề tài là tác giả nghiên cứu khá kỹ về năng lực giải

toán Xung quanh vấn đề là tìm ra những khó khăn, những sai lầm và cả về nguyên nhân của học sinh trong quá trình giải toán từ đó, đề ra những biện pháp sư phạm thích hợp để giúp giáo viên và học sinh dạy - học tốt môn Toán

ở học sinh Tiểu học cuối cấp đạt chất lượng cao Thế nhưng, do giới hạn cũng như đối tượng nghiên cứu của đề tài tác giả chỉ xem xét kỹ năng giải toán có lời văn ở học sinh chưa đi sâu và phân tích được cấu trúc tâm lý của quá trình giải bài toán có lời văn nên đề tài cũng còn những hạn chế nhất định

Vấn đề tính tích cực nhận thức tiếp tục được quan tâm ở các lứa tuổi khác nhau, trong các hoạt động khác nhau Tác giả Ngô Đình Qua - Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh với bài viết “Thực trạng biểu hiện tính tích cực nhận thức của học sinh trung học phổ thông” được đăng trên Tạp chí Giáo dục (số 29, 5/2002) Tác giả đã đưa ra các số liệu trong sáu dấu hiệu biểu hiện của tính tích cực nhận thức Từ đó, tác giả kết luận rằng: Biểu hiện tính tích cực nhận thức của học sinh Trung học phổ thông trong việc học tập môn Lịch sử không cao Với thực trạng này, tác giả đã đề nghị phải tìm kiếm biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Các biện pháp cần tìm và nên áp dụng chính là hệ biện pháp tác động vào mô hình tâm lý của tính tích cực nhận thức ở học sinh Trung học phổ thông [38]

Trang 21

Năm 2006, tác giả Đoàn Thị Lệ Thanh tiếp bước nghiên cứu về vấn đề tính tích cực học tập của học sinh trung học phổ thông thông qua công trình “Phát huy tính tích cực của học sinh trong việc dạy và học thơ ở bậc Phổ thông trung học” Công trình đã không chỉ mang đến một góc nhìn mới mẻ và đa chiều về tính tích cực nhận thức mà còn góp phần vào việc giải quyết bài toán nan giải trong nhà trường trung học về pháp dạy và học môn Ngữ văn

Gần đây nhất (2010), tác giả Vũ Kim Ngọc đã tiến hành nghiên cứu về

“Tính tích cực nhận thức và mối quan hệ của nó với kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ tương quan giữa tính tích cực nhận thức và kết quả học tập cũng như kết quả thực tập của sinh viên và cũng thông qua công trình này, tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa tính tích cực nhận thức cho sinh viên nhằm cải thiện thái độ cũng như kết quả quá trình học tập của các sinh viên [34]

Bên cạnh đó, việc dạy và học bài toán có lời văn ở bậc Tiểu học cũng nhận được sự quan tâm của nhiều giáo viên thông qua các đề tài tham gia các cuộc thi về “sáng kiến kinh nghiệm” Tập trung vào nghiên cứu những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giải bài toán có lời văn nơi học sinh là vấn đề được khá nhiều giáo viên quan tâm Có thể kể tên một vài tác giả như Trịnh Thị Thu Hà (giáo viên trường tiểu học Hoà Sơn A, Hoà Bình) tìm hiểu về “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 5” (2006); tác giả Chung Thị Quyên (giáo viên trường tiểu học Kiên Lương, Kiên Giang) với đề tài “Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán

có lời văn lớp 5” (2008) Nội dung của những nghiên cứu này chủ yếu phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc học toán chưa hiệu quả ở học sinh lớp

5, từ đó đề ra những biện pháp tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giải bài toán có lời văn nơi học sinh Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ

Trang 22

mang tính “sáng kiến” và chưa thực sự mang tính hệ thống mà chỉ mới đề cập đến thực trạng chất lượng giải bài toán có lời và đề xuất các biện pháp giải quyết thực trạng này [12, 39]

Tóm lại: Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến tính tích cực

như nêu ở trên Tuy nhiên, các công trình này chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của tính tích cực nhận thức hoặc chưa tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về tính tích cực nhận thức ở một hoạt động, một độ tuổi cụ thể Do đó, đề tài

“Tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành nghiên cứu để bổ sung và tạo sự phong phú cho kho tư liệu về Tâm lý học và ứng dụng đặc biệt cho lĩnh vực giảng dạy trong nhà trường Tiểu học

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Democrite đã đóng góp khá sâu về tính tích cực khi cho rằng các trạng thái tâm lý bên trong cũng ảnh hưởng, tác động đến tính tích cực của phản ánh tâm lý và tính tích cực có vai trò vô cùng quan trọng để tạo ra linh hồn

Platon đã đề cập đến vai trò và nguồn gốc của yếu tố tích cực Ông cho rằng tính tích cực là yếu tố quan trọng để hình thành ý niệm - đây là yếu tố có

Trang 23

trước vật chất Nguồn gốc của yếu tố tính tích cực trong ý niệm nằm trong

bản thể luận” của con người [37]

Aristote đã đề cập đến mức độ sơ khai của tính tích cực, giải thích bản chất của lý trí và tính tích cực lý trí Đặc biệt, ông cho rằng “Tính tích cực của chủ thể khi hướng đến các sự vật thực tế một cách cảm tính thể hiện ở việc tái tạo lại các hình thức của sự vật ấy” [37]

Các nhà Triết học duy vật như: K Mark, F Engel, L Nliakhôra đều xem tính tích cực là thuộc tính chung của vật chất, tạo thành điều kiện tiên quyết bên trong cho sự tự vận động và tự biểu hiện của hoạt động

Quan điểm của các nhà Triết gia theo hướng duy vật đều nhìn nhận tính tích cực ở cốt lõi vấn đề của nó và đã thống nhất ở điểm cơ bản sau: Tính tích cực là thuộc tính chung của vật chất, tạo thành điều kiện tiên quyết bên trong của sự tự vận động của vật chất Sự phát triển này diễn ra theo ba giai đoạn nhất định

+ Giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển tính tích cực là sự chuyển tiếp từ tích cực là thuộc tính chung của vật chất đến tính tích cực là đặc trưng của các sinh vật và được biểu hiện trong mọi quá trình của hoạt động đời sống, đảm bảo sự ổn định, tồn tại của sự vật, “tính tích cực theo nghĩa này của sinh vật xét ở góc độ vật lý, sinh vật học là đấu tranh cho sự ổn định tồn tại của sự vật” [9] Sự vận động của vật chất, sự vận động này, sự biến đổi này có thể nhận thấy ngay ở mức độ thấp nhất và giúp cho sự vật thoát khỏi trạng thái

nằm yên “quân bình” hoàn chỉnh tạm thời hiện tại, tạo ra những biến đổi của

vật thể trong không gian và thời gian nhất định Vì ý nghĩa này nên thuật ngữ

tính tích cực” thường được mô tả bằng các thuật ngữ khác như: “tính tự trị”,

“tính phát sinh từ nội tạng”, “tính tự sinh”, “tính chủ động”… nhằm đề cập

và nhấn mạnh đến tính bản thân của khách thể

Trang 24

Tính tích cực thể hiện trong sự tác động thay đổi các khách thể khác có nghĩa là tạo ra sự biến đổi nhất định ở các khách thể, các vật thể có liên quan đối tác với mình

Tính tích cực là sự phát triển, biến đổi các trạng thái bên trong dưới ảnh hưởng của các tác động bên ngoài

+ Bước nhảy vọt thứ hai trong sự phát triển tính tích cực không chỉ gắn với quá trình trả lời kích thích bên ngoài mà còn thể hiện ở hoạt động tìm kiếm của các sự vật nó được phát sinh từ các nguyên nhân bên trong

+ Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quan trọng nhất - sự phát triển tính tích cực gắn với sự xuất hiện hoạt động loài người Sự khác biệt cơ bản của hoạt động này so với hành vi của động vật ở sự chuyển tiếp từ chỗ đơn thuần thích nghi với thiên nhiên đến chỗ dựa trên cơ sở nhận thức tính tất yếu mà cải tạo, sáng tạo khách thể cho phù hợp với mục đích của cá nhân và xã hội

Như vậy, tính tích cực đề cập đến sự tự vận động của phạm trù vật chất rộng lớn, đồng thời tạo ra sự biến đổi, sự phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng

Cũng chính từ cái nhìn này, tính tích cực ở từng phương diện, ở từng khoa học cụ thể hay từ góc độ hẹp được xem xét là vấn đề hết sức lý thú, hấp dẫn

b Khái niệm tính tích cực

Tùy vào góc độ xem xét khái niệm mà có những định nghĩa khác nhau về tính tích cực

Trong tiếng La tinh, tính tính tích cực có nghĩa là activus, trong tiếng Anh

là activity đều được dùng để chỉ đến trạng thái hoạt động và tính chủ động Theo Từ điển Tâm lý học của Tiệp Khắc thì tính tích cực được đề cập và nhấn mạnh như là một đặc điểm chung của sinh vật sống, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống và hoàn cảnh, là khả năng đặc biệt của tồn tại sống giúp cơ thể thích ứng với môi trường

Trang 25

Theo từ điển Tâm lý học của Liên xô do hai tác giả A V Pêtrôpxki và M

G Iarôsepxki (chủ biên), thì tính tích cực được hiểu gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh môi trường bên ngoài Theo tác giả, tính tích cực được thể hiện:

- Nó gắn liền với sự hoạt động, được thể hiện như điều kiện, động lực để hình thành và hiện thực hóa hoạt động

- Ở mức độ cao, nó thể hiện ở tính chế ước, chế định trạng thái bên trong của chủ thể

- Nó biểu hiện sự thích ứng một cách chủ động với hoàn cảnh, môi trường sống bên ngoài [36]

Trong Từ điển tiếng Việt, “tính tích cực” bao gồm ba ý nghĩa:

Một là: có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy với sự phát

triển, trái với tiêu cực

Hai là: tính chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo phương hướng phát triển

Ba là: hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ đối với công việc [48]

Ở góc độ Tâm lý học, tính tích cực được nghiên cứu có quan hệ với hoạt động, nó làm xuất hiện động lực nên tạo ra hoạt động phản ứng của cơ thể Vì vậy, tính tích cực có các tính chất sau:

- Hoạt động phản ứng - sự hoạt động của trạng thái bên trong của chủ thể với môi trường

- Hoạt động ý chí thể hiện tính độc lập của chủ thể với môi trường

- Tính chất vượt khó, trở ngại trong mọi hoàn cảnh theo mục đích vạch ra của chủ thể

- Thể hiện tính ổn định, bền vững của hoạt động tạo thành kiểu phản ứng đối với môi trường bên ngoài của chủ thể

Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (chủ biên) cho rằng tính tích cực

là động lực cá nhân của các cơ thể sống với tư cách là nguồn gốc của mọi

Trang 26

hành động cải cách hay duy trì các mối quan hệ có ý nghĩa sống còn mà chúng tiến hành với môi trường xung quanh Tính tích cực là đặc điểm chung của các cơ thể sống Trong mối tương quan với hoạt động, tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, là động lực của các quá trình hình thành thực hiện và thay đổi về loại hình của hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt động Tính tích cực được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra, tính đặc thù của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh (tức là sự vượt quá giới hạn của mục đích ban đầu), và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua [10]

Tính tích cực còn được phân tích và xem xét trên nhiều góc nhìn của vấn

đề con người, có thể nhận thấy các xu hướng nhìn nhận khác nhau về tính tích cực theo bốn hướng cụ thể sau đây:

Xu hướng một: Tính tích cực được xem xét từ góc độ chức năng, vai trò

của chủ thể đối với thế giới bên ngoài Xu hướng này với một số tác giả đại diện như: S Đ Smirnôv, V P Dintrencô Các tác giả cho rằng sự phát triển tính tích cực là sự phức tạp hóa dần các chức năng tính tích cực của chủ thể Hướng nhìn nhận này đã vạch ra ba biểu hiện của tính tích cực:

- Tính tích cực thể hiện tính chủ định của ý thức, tính chủ động của chủ thể với thế giới bên ngoài - đó là thước đo tính chủ động của chủ thể Giới hạn phía trên của nó là tính tích cực tuyệt đối còn giới hạn dưới là tính bị động hoàn toàn

- Tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi hoạt động tâm

lý của chủ thể gắn liền với việc tiêu hao năng lượng tâm lý và sinh lý Tính tích cực thực hiện chức năng chỉ báo hoạt động của con người, con người có tính tích cực là con người đang hoạt động

Trang 27

- Tính tích cực thực hiện chức năng biểu hiện sự thích nghi mà cao hơn là

sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài Khi nói đến tính tích cực là phải nói đến khía cạnh chủ thể thích ứng, sáng tạo trong thế giới bên ngoài như thế nào

Xu hướng thứ hai: Nhìn nhận về tính tích cực với các đại diện tiêu biểu

như P I Ganpêrin, A A Liublinxcaia, G Ananhiev Xu hướng này đã gắn tính tích cực với hành động và được thể hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau đó là chỉ số đo mức độ phát triển tính tích cực của chủ thể

Tác giả P I Ganpêrin nhìn nhận ở góc độ phát triển của tính tích cực đã sử dụng phạm trù hành động và nhận xét rằng các mức độ tiến hóa của hành động đánh dấu thể hiện mức độ phát triển của tính tích cực Nó gồm bốn mức

độ hành động vật chất để nâng dần tính tích cực của hành động cá nhân [13]

Ở góc độ phát sinh cá thể, A A Liublinxcaia đã cho rằng tính tích cực được thể hiện trong hoạt động và mức độ phát triển tính tích cực được đánh giá qua mức độ lĩnh hội hoạt động của trẻ em từ nhỏ cho đến lớn Theo tác giả, có ba mức độ thể hiện tính tích cực như sau:

Xu hướng thứ ba: Nhìn nhận tính tích cực qua các dấu hiệu của chúng với

các tác giả như M I Lixina, A N Lêonchiép, A V Dapôrôzét… đã đánh giá tính tích cực của trẻ thông qua những dấu hiệu nhất định cũng như vạch ra

Trang 28

những dấu hiệu, những biểu hiện và các thành tố tâm lý đặc trưng của tính tích cực

Các tác giả đã chốt lại những thành tố tâm lý cơ bản, đặc trưng cho tính tích cực đó là:

- Tính tích cực gắn liền với hoạt động, hay nói khác đi tính tích cực phải thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể của trẻ em, con người

- Tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Yếu tố nhu cầu có mối liên hệ chặt chẽ với tính tích cực - đây chính là một thành tố tạo nên nguồn gốc, động lực của tính tích cực Có thể nhận định

là không có nhu cầu thì không có tính tích cực nhưng nhu cầu ở đây đó là nhu

cầu mang “tính người” cụ thể là nhu cầu lao động, nhu cầu nhận thức, nhu

cầu học tập…

- Tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của mình để đối lập với sự bị động, thụ động có nghĩa là tính tích cực tiệm cận hoặc gần bằng không

Xu hướng thứ tư: Nhóm các tác giả L M Áckhangenxki; R Minle; I

Lích, Đã xem xét thuật ngữ “tính tích cực” khi đánh giá trình độ tính chất,

các đặc tính cơ bản của tính tích cực trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể như tính tích cực lao động, tính tích cực chính trị - xã hội… Theo các tác giả trên thì tính tích cực bao hàm và thể hiện bốn chỉ số sau:

- Tính giá trị của hoạt động và tính tự nguyện

- Tính hiệu quả của hoạt động mà tính tích cực đang hướng tới

- Tính sáng tạo (hay mức độ sáng tạo hoạt động)

- Tính phát triển (tính tích cực hướng đến phát triển năng lực tâm lý, sự phát triển nhân cách của chủ thể…)

Trang 29

Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều cách nhìn nhận về tính tích cực Sự nhìn nhận đa dạng và phong phú này xuất phát từ nhiều cái nhìn khác nhau Tuy vậy, để hiểu về bản chất cũng như có cái nhìn khách quan về tính tích cực nhận thức cần phải xuất phát từ những điểm mốc để đánh giá tương đối

về nội hàm của khái niệm cũng như xác định việc mở rộng phạm vi của tính tích cực với những lĩnh vực, từng hoạt động

Nhóm các tác giả L M Áckhangenxki, L P Buêva, L I Ivascô… đã đặt vấn đề này và xác định ba nguyên tắc sau:

- Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem tính tích cực duy nhất là trạng thái hoạt động

- Không được tách rời mặt bên trong (hình thức tồn tại bên trong) của tính tích cực với mặt biểu hiện bên ngoài của tính tích cực

- Sự phát triển tính tích cực có thể được thể hiện bằng các đặc trưng số lượng và chất lượng của hoạt động con người [42]

Kết hợp các cách đề cập khác nhau về tính tích cực cũng như các xu hướng nghiên cứu và đặc biệt là các nguyên tắc khi giải thích khái niệm tính tích cực

có thể tóm tắt các biểu hiện cơ bản nhất hay các thành tố tâm lý tạo thành tính tích cực như sau:

- Nhu cầu tâm lý hoạt động của con người tồn tại như là một thành tố tâm

lý bên trong, động lực của tính tích cực Nhu cầu tồn tại như khát vọng, nguồn gốc bên trong của tính tích cực hoạt động con người, thể hiện sự tự nguyện hoạt động, tác động vào thế giới bên ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu đó

- Tính chủ động trong hoạt động, đối lập với tính bị động

- Kết quả, hiệu quả của tính tích cực hoạt động, sự thích ứng tâm lý, sự cải tạo thay đổi của chủ thể với thế giới xung quanh

Cũng từ đây, có thể thấy rằng cách nhìn nhận và giải thích về tính tích cực như trên có thể vận dụng nó để xem xét và làm khái niệm cơ bản Khi xem xét

Trang 30

tính tích cực của con người trong các hoạt động, đặc biệt là hoạt động nhận thức của con người

Như vậy, có khá nhiều tác giả đã đề cập đến thuật ngữ “tính tích cực” Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, khái niệm tính tích cực có thể được nhìn nhận ở các góc độ sau:

- Tính tích cực là thái độ cải tạo và biến đổi của chủ thể đối với khách thể

- Tính tích cực gắn liền với hoạt động và mang tính chủ động

- Tính tích cực có nguồn gốc bên trong là động cơ, nhu cầu, hứng thú hoạt động

- Tính tích cực là sự nỗ lực, sự quyết tâm của chủ thể trong quá trình tương tác với đối tượng để đạt được mục đích đề ra với chất lượng cao 1.2.1.2 Khái niệm nhận thức

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Nhận thức là tiền đề của tình cảm và hành động ý chí nhưng đồng thời lại có quan hệ mật thiết với chúng

Hoạt động nhận thức là hoạt động rất đặc trưng của con người nói chung

và của một con người nói riêng Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh và nhằm đạt đến kết quả cuối cùng là tìm ra chân lý hay sự thực về những thuộc tính hoặc quy luật khách quan của một sự vật cụ thể

Hiểu một cách đơn giản nhất, hoạt động nhận thức là một hoạt động bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau

và mang lại những sản phẩm khác nhau [13, 47]

Nhận thức có thể được xem như là việc tìm hiểu, khám phá một đối tượng hay giải quyết một vấn đề nào đó [13, 47]

Trang 31

Như vậy, hoạt động nhận thức cung cấp cho con người sự hiểu biết cần thiết về thế giới khách quan, về các sự vật hiện tượng Trong quá trình nhận thức và khám phá sự vật, nhận thức có thể có những mức khác nhau khi tìm đến kết quả Hoạt động nhận thức cung cấp cho con người sự hiểu biết về sự vật trong thế giới khách quan thông qua sự khám phá sự vật Việc khám phá

sự vật có thể dựa trên kết quả đạt được để thấy các mức độ của nó

Tái hiện: Là mức độ thể hiện lại sự vật ở một những mức nhất định dựa

trên biểu tượng của trí nhớ [47]

Ở mức độ này, khi nhận thức chủ thể dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và sản phẩm nhận thức cũng chỉ dừng ở một mức độ tái hiện mà thôi

Tìm tòi: Là mức độ mà chủ thể vận dụng các thao tác tư duy để phát hiện

ra những đặc điểm của sự vật hiện tượng [47]

Ở mức độ tìm tòi, chủ thể thể hiện khá rõ sự phân tích của mình dựa trên những gì phát hiện được chứ không chỉ là nhớ lại, nhận lại Việc tìm tòi thể hiện khá rõ sự phân tích, tìm tòi, phê phán,…

Sáng tạo: Là mức độ tạo ra những giá trị mới trong quá trình nhận thức

của chủ thể Sản phẩm tạo ra không giống như những gì chủ thể đã biết, đã nắm được trước đó Ở mức độ sáng tạo trong nhận thức, chủ thể tạo nên được những sản phẩm mới, độc đáo và sâu sắc [47]

Sáng tạo trong nhận thức là mức độ khá cao, bởi vì cái mới được tạo ra đã khẳng định tính giá trị, tính đặc trưng riêng của cá nhân mang tính mới mẽ, lạ lẫm và đặc sắc

Như vậy, nhận thức và giải quyết vấn đề không chỉ đáp ứng nhu cầu của tình huống mà còn đáp ứng nhu cầu của người khác và nhu cầu của chính mình Lúc mà nhận thức để đáp ứng nhu cầu chính mình thì tính tích cực thể hiện rất rõ nét và sâu sắc

Trang 32

1.2.1.3 Tính tích cực nhận thức

Để hiểu rõ khái niệm trọng tâm của đề tài, có thể phân tích các vấn đề lý luận xoay quanh khái niệm tính tích cực nhận thức, các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức, phân loại tính tích cực nhận thức, phân biệt giữa tính tích cực nhận thức với tính tự lực nhận thức và tính tích cực học tập

a Khái niệm tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức được hiểu như là một trạng thái xác định, tác động qua lại giữa chủ thể nhận thức với mục đích tiếp nhận thông tin tương ứng về khách thể đó Hay nói cụ thể hơn, tính tích cực nhận thức là sự thể hiện mối quan hệ có tính đổi mới và sáng tạo của cá thể đối với khách thể nhận thức, liên quan tới sự thay đổi trong nhận thức của cá thể đó mà kết quả là hình thành kiến thức mới

Khi nghiên cứu về tính tích cực nhận thức, các tác giả đã đứng ở các góc

độ khác nhau để xem xét Các nhà Tâm lý học thuộc các trường phái Tâm lý học liên tưởng, Tâm lý học Gestalt hay Tâm lý học hành vi đều không giải quyết được vấn đề tính tích cực nhận thức trong lý luận và nghiên cứu thực nghiệm của mình Khi xem xét hiện tượng tâm lý và cơ chế diễn ra các hiện tượng tâm lý thì họ chỉ chú ý đến các kết quả cuối cùng, chẳng hạn các hình thức liên tưởng, cái trọn vẹn hoặc biểu hiện hành vi tương ứng khi có kých thích mà không đề cập đến vai trò của chủ thể Thế giới chủ quan của con người không có vai trò đáng kể nào trong các học thuyết trên

Vấn đề tính tích cực nhận thức chỉ được nghiên cứu một cách triệt để trong khoảng thời gian từ những năm 1930 của thế kỷ XX, là khoảng thời gian ra đời và phát triển của Tâm lý học Xô Viết Có nhiều cách tiếp cận về vấn đề này

Dưới góc độ Triết học, L Aristova cho rằng “Tính tích cực nhận thức của con người nói chung và của trẻ em nói riêng xuất hiện trong hoạt động cải tạo,

Trang 33

thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức Nếu hành động mà thiếu thái độ cải tạo thì không được coi là tích cực mà ngược lại bị coi là trì trệ” [37]

Các nhà Tâm lý học xã hội giải thích tính tích cực nhận thức bằng sự mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn trong các cuộc tranh luận giữa chủ thể tranh luận với

sự tác động của xã hội đến với cá nhân Mâu thuẫn làm cho các quan điểm bị phân tán, chủ thể ý thức được bản thân mình đầy đủ và rõ nét hơn Chính sự kết hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội đã làm nảy sinh những mâu thuẫn và từ đó, mâu thuẫn trở thành động lực, nguồn gốc nảy sinh tính tích cực nhận thức của con người với thế giới khách quan

Dưới góc độ Tâm lý học Macxit, các nhà Tâm lý học đã xem tính tích cực nhận thức như là một dạng hoạt động, một số tác giả khác lại xem tính tích cực nhận thức như là trạng thái hoạt động của chủ thể, của người hành động

và được đề cập đến ở hai khía cạnh:

- Tính tích cực như là một hoạt động tích cực gồm có các thành phần: + Động cơ, nhu cầu, hứng thú thu hút chủ thể nhận thức vào quá trình nhận thức và duy trì tính tích cực nhận thức trong suốt quá trình đó

+ Tình cảm, ý chí tạo điều kiện tập trung hành động trí tuệ để duy trì tính tính cực nhận thức có chủ định ở mức độ cao

- Tính tích cực như là một đặc điểm, một nét tính cách của mỗi cá nhân Hai khía cạnh này của tính tích cực nhận thức có mối quan hệ mật thiết với nhau vì khi đã được hình thành thì nó không chỉ là hoạt động đơn thuần mà sự phát triển của nó trở thành một thuộc tính, một nét tính cách của mỗi cá nhân

Theo quan điểm của một số nhà Tâm lý học như A A Liubinxkaia thì tính

tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo được hiểu như là tính tích cực nhận thức của hoạt động trí tuệ E I Kozakova khi nghiên cứu sự phát triển tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi đã tập trung vào các

Trang 34

thao tác tư duy trong quá trình nhận thức và coi đó như là một năng lực tư duy phức tạp, đòi hỏi phải có sự nỗ lực căng thẳng của trí tuệ, cùng các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,

I I Samôva đã xem tính tính tích cực nhận thức như mục đích của hoạt động, phương tiện cũng như kết quả của hoạt động Theo tác giả, một trong những phẩm chất của nhân cách chính là tính tích cực nhận thức được biểu hiện ở tính định hướng, tính bền vững của hứng thú nhận thức, sự cố gắng tìm tòi phương thức hiệu quả để đạt được mục đích hoạt động [14]

Tại Việt Nam, vấn đề tính tích cực nhận thức cũng nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu Có thể kể đến các tác giả như sau:

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức Tác giả nhấn mạnh khi các chức năng tâm lý được vận dụng cao nhất để giải quyết các vấn đề học tập thì tính tích cực nhận thức được thể hiện rõ nhất, cao nhất [1]

Tác giả Nguyễn Kỳ nhấn mạnh tính tích cực nhận thức là sự ham muốn, hứng thú hoạt động nhận thức của chủ thể Chính lòng ham muốn hiểu biết đã hình thành lên động cơ nhận thức [25] Còn theo tác giả Thái Duy Tuyên thì tính tích cực nhận thức biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập nhằm đạt được các mục đích đã đề ra [45] Như vậy có thể nhận thấy tính tích cực nhận thức bao gồm các thành phần: nhận thức, tình cảm, ý chí hay nói khác đi nó xoay quanh ba mặt: nhận thức, thái độ và hành động cụ thể Tiếp nhận những quan niệm đa dạng trên, chúng

tôi hiểu tính tích cực nhận thức là một phẩm chất tâm lý của nhân cách; thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ nhận thức

Trang 35

b Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô thì sự phát triển của tính tích cực nhận thức có những nét đặc trưng sau:

+ Thái độ tích cực với thế giới xung quanh

+ Sự ham muốn vượt ra ngoài phạm vi kiến thức đã biết

+ Sự mong muốn mở rộng phạm vi hiểu biết và sử dụng chúng một cách sáng tạo trong lý luận và thực tiễn [36]

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo đưa ra các tiêu chí sau:

+ Lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức

+ Đề ra mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi lựa chọn đối tượng + Cải tạo đối tượng hoạt động [1]

Tác giả Đặng Hữu Giang đánh giá tính tích cực nhận thức dựa trên các tiêu chuẩn sau:

+ Sản phẩm, chất lượng và kết quả hoạt động [11]

Tác giả Thái Duy Tuyên nghiên cứu và nhấn mạnh rằng hạt nhân của tính tích cực nhận thức chính là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo lên do sự thúc đẩy của nhu cầu Tính tích cực có “hai mặt” đó là mặt tự giác (là trạng thái tâm lý tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt từ đó nảy sinh hoạt động

để chiếm lĩnh đối tượng) và mặt tự phát (là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi với những mức độ khác nhau ở mỗi người khác nhau) Từ đó, ông xem xét tính tích cực nhận thức trên cơ sở các yếu tố sau:

Trang 36

+ Sự tập trung chú ý

+ Sự tự giác, hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động có liên quan đến quá trình nhận thức

+ Kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao ở mức tốt

+ Ghi nhớ tốt các điều kiện đã tiếp thu được

+ Khả năng trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ riêng của bản thân

+ Vận dụng tốt những kiến thức thu được vào hoạt động thực tiễn + Tự tìm tòi đọc thêm, học thêm những vấn đề có liên quan

+ Tốc độ nhận thức nhanh

+ Hứng thú với việc học

+ Quyết tâm vượt qua mọi khó khăn trở ngại để tiếp thu tri thức

+ Sáng tạo trong quá trình nhận thức [45]

Tác giả Nguyễn Thị Hòa cho rằng, tính tích cực nhận thức cũng như tất cả các hoạt động của nhân cách đều chứa đựng quy luật nhất định trong sự phát triển và được xác định bằng các chỉ số sau:

+ Nhu cầu nhận thức

+ Hứng thú nhận thức

+ Kỹ năng phân tích nhiệm vụ nhận thức

+ Sự cố gắng, kiên trì vượt qua khó khăn trong hoạt động trí tuệ

+ Chủ động trong việc tìm kiếm lựa chọn những phương thức phù hợp

để hoàn thành nhiệm vụ nhận thức [36]

Bên cạnh đó, vụ Giáo dục Mầm non cũng đưa ra các biểu hiện của tính tích cực nhận thức của trẻ trong hoạt động chung có mục đích học tập:

- Về thái độ

+ Hứng thú tham gia vào hoạt động chung

+ Thường xuyên trao đổi thông tin về đối tượng nhận thức

- Về cảm xúc:

Trang 37

+ Thể hiện tốt sắc thái tình cảm trước đối tượng nhận thức

- Về ý chí

+ Tập trung vào đối tượng nhận thức

+ Kiên trì hoàn thành nhiệm vụ được giao [4]

Theo tác giả Nguyễn Văn Kiên, tính tích cực nhận thức được xem xét

trong quá trình học tập thì các dấu hiệu thể hiện của nó là:

- Dấu hiệu về hoạt động nhận thức với các biểu hiện như sự tham gia của các thao tác tư duy, khả năng quan sát, khả năng ngôn ngữ, sự ghi nhớ… trong hoạt động nhận thức của học sinh

- Dấu hiệu về mặt chú ý nghe giảng bao gồm các yếu tố như chú ý và nỗ lực nghe trình bày bài giảng, thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên, hòa nhập vào không khí học tập của cả lớp, giải đáp các câu hỏi giáo viên đưa ra một cách nhanh chóng - chính xác, nhận rõ đúng, sai ý kiến của bạn

- Dấu hiệu về tinh thần, tình cảm học tập thể hiện ở sự say mê, sốt sắng thực hiện yêu cầu mà giáo viên đặt ra, thích được trả lời câu hỏi, làm bài một cách hồ hởi tự nguyện và sẵn sàng

- Dấu hiệu về nhu cầu, hứng thú, niềm tin học tập như năng lực định hướng, sự căng thẳng trí tuệ, hứng thú khi giải quyết tình huống học tập

- Dấu hiệu về ý chí quyết tâm học tập thể hiện ở hành vi, cử chỉ biểu hiện

ra bên ngoài ở nét mặt, nhịp điệu hoạt động…

- Dấu hiệu về kết quả nhận thức, trong đó, học sinh lĩnh hội kiến thức nhanh chóng, chính xác và tái hiện được khi cần vận dụng trong các tình huống cụ thể

Cách phân biệt này đã vạch rõ các biểu hiện của nó nhưng đặt tính tích cực

nhận thức gắn liền với hoạt động học tập đã có thể làm “hẹp hóa” các biểu

hiện của nó khi xét sâu hơn trên phương diện nhận thức Từ đây cho thấy việc xem xét tính tích cực nhận thức chung nhất cần bám sát vào bản chất khái

Trang 38

niệm của nó rồi từ đó có những vận dụng cụ thể mang tính giới hạn nhất định [36]

Một trong những tư tưởng khá độc đáo mà chúng tôi muốn chọn lọc và phân tích ở đây là góc nhìn của tác giả I F Kharlamov khi xem xét tính tích cực nhận thức gắn chặt với việc giải quyết các nhiệm vụ học tập Theo tác giả,

đối với học sinh, việc giải quyết các nhiệm vụ học tập là hoạt động là “nơi”

mà tính tích cực nhận thức thể hiện một cách rõ nét nhất, sâu sắc nhất và toàn diện nhất Theo tác giả, có ba dấu hiệu cụ thể đó là:

- Học sinh biết nhớ lại những kiến thức liên quan làm chỗ dựa để giải quyết nhiệm vụ học tập

- Học sinh biết xác định những cách thức hợp lý hơn cả để giải quyết nhiệm vụ học tập

- Học sinh biết vận động mọi sức lực phù hợp với điều kiện nhiệm vụ học tập đòi hỏi

Đây là ba dấu hiệu chủ yếu mà chúng tôi chọn lọc làm cơ sở nghiên cứu tính tích cực nhận thức nói chung của học sinh Đồng thời, kết hợp thêm các dấu hiệu khác bổ sung như:

- Hứng thú học tập, hứng thú hoạt động học tập cụ thể

- Việc thực hiện các hành động học

- Biểu hiện tự suy nghĩ, tự nhận thức để giải quyết thắc mắc

c Phân loại tính tích cực

Có các cách phân loại tính tích cực nhận thức như sau

- Cách phân chia thứ nhất dựa vào biểu hiện của tính tích cực nhận thức

mà chia thành tính tích cực nhận thức bên ngoài và tính tích cực nhận thức bên trong

+ Tính tích cực nhận thức bên ngoài

Trang 39

Tính tích cực nhận thức bên ngoài là những biểu hiện của sự tập trung, chú

ý vào hoạt động thông qua các biểu hiện bên ngoài của nét mặt, các hành động cụ thể khác như sự hăng hái tham gia giải quyết các vấn đề trước mắt + Tính tích cực nhận thức bên trong

Tính tích cực nhận thức bên trong thể hiện ở chỗ chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ, khám phá cái mới, cái tinh tế, giải quyết vấn đề nhanh nhẹ, chính xác Mức độ thấp nhất được tính đến đó là khả năng thực hành, tái hiện hành động nào đó, khả năng lĩnh hội, nhập tâm kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết Mức độ cao nhất của tính tích cực bên ngoài đó là khả năng vận dụng kiến thức và khả năng sáng tạo cái mới

- Cách phân chia thứ hai căn cứ vào việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào và mức độ huy động những chức năng tâm lý đó để chia ra: tính tích cực tái hiện, tích cực tìm tòi và tích sáng tạo

+ Tính tích cực tái hiện, bắt chước

Tính tích cực tái hiện, bắt chước chủ yếu dựa vào vào trí nhớ và tư duy tái hiện, trong đó chủ thể thể hiện, tái tạo lại những gì đã học (nhận thức), thực hiện các kỹ năng, thao tác theo yêu cầu của người khác

+ Tính tích cực tìm tòi

Tính tích cực tìm tòi được đặc trưng bởi sự bình phẩm, phê bình, độc lập tìm cách giải quyết, cũng như sáng kiến, lòng khát khao hiểu biết của chủ thể nhận thức Tính tích cực tìm tòi đi liền với quá trình lĩnh hội khái niệm, định

lý hay giải quyết các tình huống nhận thức hay tìm tòi các phương thức hành động Tính tích cực tìm tòi luôn có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí nên nó xảy ra theo sự vận động của nhu cầu đối với chủ thể

+ Tính tích cực sáng tạo

Tính tích cực sáng tạo là mức độ cao nhất thể hiện tích tích cực nhận thức

Nó đặc trưng bởi sự tìm tòi, khẳng định con đường giải quyết riêng của mình

Trang 40

nhằm đạt được mục đích đã định Tính tích cực sáng tạo thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức tự tìm được kết quả nhận thức mới, kiến thức mới, phương thức hành động mới một cách dễ dàng mà không cần sự giúp đỡ từ người khác

Khi xem xét tính tích cực nhận thức của học sinh tiểu học, cụ thể là học sinh lớp 5, chúng tôi dựa trên việc tham khảo cách phân chia tính tích cực theo ba mức độ: tính tích cực tái hiện, tích cực tìm tòi và tích sáng tạo để có thể có cái nhìn thích hợp hơn cho đề tài này

d Phân biệt khái niệm tính tích cực nhận thức với các khái niệm khác

có liên quan: tính tự lực nhận thức, tính tích cực học tập

Để có góc nhìn toàn diện hơn về khái niệm cơ bản của đề tài, cần có sự phân biệt khái niệm tính tích cực nhận thức với tính tự lực nhận thức và tính tích cực học tập

Trước hết, tính tự lực nhận thức là khái niệm biểu thị khả năng tự nhận thức của con người, là một phẩm chất quan trọng của hoạt động trí tuệ Theo nghĩa rộng, tính tự lực nhận thức có nghĩa là sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho sự

tự nhận thức nhưng theo nghĩa hẹp thì nó lại là năng lực, nhu cầu nhận thức Các thành phần của tính tự lực nhận thức bao gồm: động cơ nhận thức, năng lực nhận thức, sự tổ chức nhận thức, hành động ý chí nhận thức Trong khuôn khổ đề tài này, tính tích cực nhận thức được nhìn nhận như là một phẩm chất tâm lý của nhân cách; thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ nhận thức Như vậy có thể thấy giữa tính tích cực nhận thức và tính

tự lực nhận thức có mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng bổ sung cho nhau

và theo một cách khác, có thể nói tính tích cực nhận thức vừa là hạt nhân của tính tự lực nhận thức nhưng cũng đồng thời là sự biểu hiện, kết quả của quá trình phát triển tính tự lực nhận thức Trong tính tự lực nhận thức đã biểu hiện

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo, Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo viên, Hà Nội, (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
2. Bernd Mier, Các phương pháp dạy học hiện đại, (Tài liệu tập huấn - Biên dịch Nguyễn Văn Cường), Thành phố Hồ Chí Minh, (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiện đại
3. Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận, Nhà xuất bản Giáo dục, (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
4. Nguyễn Thị Hải Bình, Một số biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi khoa học, Luận văn Thạc sĩ, Thành phố Hồ Chí Minh, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi khoa học
5. Vũ Quốc Chung (chủ biên), Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Nguyễn Hùng Quang, Lê Ngọc Sơn, Giáo trình Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học (Giáo trình đào tạo CĐSP Tiểu học), Hà Nội, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
6. A. G. Côvaliôp, Tâm lý học cá nhân, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, (1971) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
7. Hồ Ngọc Đại, Tâm lý học dạy học, Nhà xuất bản Giáo dục, (1983) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
8. A. V. Daparogiet, Tâm lý học, Nhà xuất bản Giáo dục, (1974) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
9. Vũ Trọng Dung, Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
10. Vũ Dũng, Từ điển tâm lý học , Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Viện Tâm lý học, (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa
11. Đặng Hữu Giang, Bản chất tâm lý của tính tích cực nhận thức, Tạp chí tâm lý học, số 4, (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất tâm lý của tính tích cực nhận thức
12. Trịnh Thị Thu Hà, Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 5, Sáng kiến kinh nghiệm, Trường Tiểu học Hoà Sơn A, Hoà Bình, (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 5
13. Phạm Minh Hạc, Tuyển tập tâm lý học, Nhà xuất bản Giáo dục, (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. Phạm Minh Hạc (biên dịch), Tâm lý học Liên Xô, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, (1977) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Liên Xô
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ
15. Phạm Minh Hạc, Giáo dục con người hôm nay và ngày mai, Nhà xuất bản Giáo dục, (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục con người hôm nay và ngày mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
16. Nicky Hayes, Nền tảng Tâm lý học, Nhà xuất bản Lao động, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền tảng Tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
17. Đỗ Đình Hoan, Đỗ Trọng Hiệu, Vũ Quốc Chung, Vũ Dương Thuỵ, Phương pháp dạy học Toán ở tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán ở tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
18. Trần Bá Hoành, Trần Đình Khuê, Đào Như Trang, Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Toán học, Tài liệu tham khảo dùng cho giảng viên Sư phạm, GV THCS, GV tiểu học môn Toán, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Toán học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
19. Lê Văn Hồng và các tác giả khác, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Bùi Văn Huệ, Tâm lý học Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Xếp loại các mức độ tính tích cực nhận thức nói chung trong - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 2.1. Xếp loại các mức độ tính tích cực nhận thức nói chung trong (Trang 69)
Bảng 2.4. Tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 2.4. Tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của (Trang 74)
Bảng 2.5. Kết quả các loại tính tích cực nhận thức  Loại tính tích - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 2.5. Kết quả các loại tính tích cực nhận thức Loại tính tích (Trang 77)
Bảng 2.7. Thực trạng tính tích cực nhận thức khi giải bài toán có lời - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 2.7. Thực trạng tính tích cực nhận thức khi giải bài toán có lời (Trang 90)
Bảng 3.1. Tính tích cực nhận thức của nhóm đối chứng và nhóm thực - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 3.1. Tính tích cực nhận thức của nhóm đối chứng và nhóm thực (Trang 122)
Bảng 3.2. Điểm trung bình của học sinh về các loại tính tích cực nhận - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Bảng 3.2. Điểm trung bình của học sinh về các loại tính tích cực nhận (Trang 124)
Hình 1: Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực tái hiện - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 1 Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực tái hiện (Trang 171)
Hình 4: Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực sáng tạo (giải bài toán - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 4 Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực sáng tạo (giải bài toán (Trang 172)
Hình 3: Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực tìm tòi (tóm tắt bài - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 3 Kết quả giải bài toán tìm hiểu thực trạng tính tích cực tìm tòi (tóm tắt bài (Trang 172)
Hình 5: Kết quả giải bài toán tìm hiểu tính tích cực tái hiện sau thực nghiệm trên - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 5 Kết quả giải bài toán tìm hiểu tính tích cực tái hiện sau thực nghiệm trên (Trang 173)
Hình 6: Kết quả giải bài toán hiểu tính tích cực sáng tạo sau thực nghiệm trên nhóm - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 6 Kết quả giải bài toán hiểu tính tích cực sáng tạo sau thực nghiệm trên nhóm (Trang 173)
Hình  2: Học sinh tập trung vào bài tập - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
nh 2: Học sinh tập trung vào bài tập (Trang 174)
Hình 1: Học sinh đang làm bài tập khảo sát thực trạng - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 1 Học sinh đang làm bài tập khảo sát thực trạng (Trang 174)
Hình 3: Trong giờ thực nghiệm biện pháp tâm lý - sư phạm (nhóm thực nghiệm) - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 3 Trong giờ thực nghiệm biện pháp tâm lý - sư phạm (nhóm thực nghiệm) (Trang 175)
Hình 4: Học sinh làm bài tập khảo sát sau khi thực nghiệm - tìm hiểu tính tích cực nhận thức trong việc giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 5 một số trường tiểu học tại tp hcm
Hình 4 Học sinh làm bài tập khảo sát sau khi thực nghiệm (Trang 175)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w