Các nhà khoa học, bằng nhiều con đường khác nhau đã tạo ra những sản phẩm có ứng dụng trong các lĩnh vực như : y học, dược học, sinh học, nông nghiệp…Những sản phẩm được tạo ra bằng cách
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP
C Ử NHÂN HÓA HỌC
NƯỚC ANNONA GLABRA L
Chuyên ngành : HÓA H ỮU CƠ
TP H Ồ CHÍ MINH - 2012
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP
C Ử NHÂN HÓA HỌC
NƯỚC ANNONA GLABRA L
Chuyên ngành : HÓA H ỮU CƠ
Hướng dẫn khoa học : TS LÊ TIẾN DŨNG
Sinh viên th ực hiện : ĐÀO THỊ NGỌC ÁNH
TP H Ồ CHÍ MINH - 2012
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 6
1.1 GIỚI THIỆU VỀ CHI ANNONA [1,4,5] 6
1.1.1 Đặc điểm thực vật 6
1.1.2 Thành phần hóa học các cây thuộc chi Annona 6
1.1.3 Công dụng và dược tính 13
1.2 CÂY BÌNH BÁT NƯỚC 13
1.2.1 Mô tả thực vật [1, 5] 14
1.2.2 Thành phần hóa học 15
Bảng 1.1 Mười hai hợp chất được nhóm tác giả Fang-Rong Chang phân lập 15
1.2.2 Công dụng và dược tính 27
1.3 SƠ LƯỢC VỀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXI HÓA[34,35,36] 27
Chương 2 PHẦN THỰC NGHIỆM 29
2.1 THIẾT BỊ, DỤNG CỤ, NGUYÊN LIỆU VÀ HÓA CHẤT 29
2.1.1 Thiết bị 29
2.1.2 Dụng cụ 29
2.1.3 Hóa chất 29
2.1.4 Nguyên liệu 30
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.2.1 Phương pháp phân lập các chất 30
2.2.1 Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất hóa học 30
2.2.2 Phương pháp thử hoạt tính kháng oxy hóa 30
2.3 THỰC NGHIỆM 32
2.3.1 Điều chế cao thô 32
2.3.2 Cô lập và tinh chế các hợp chất 33
2.3.3 Sơ đồ phân lập hợp chất 35
2.4 Hằng số vật lý và các số liệu phổ nghiệm 35
2.4.1 Hợp chất AGAΙ 36
2.4.2 Hợp chất AGAΙΙ 37
2.5 Phân tích hoạt tính kháng oxi hóa 37
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
Trang 43.1 KẾT QUẢ CHUNG 39
3.2 XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CỦA HỢP CHẤT AGAΙ 39
3.3 XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CỦA HỢP CHẤT AGAΙΙ 43
3.4 HOẠT TÍNH KHÁNG OXI HÓA CỦA AGA I 46
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
4.1 KẾT LUẬN 48
4.2 KIẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 5L ỜI MỞ ĐẦU
- -
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, ngành hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội Các nhà khoa học, bằng nhiều con đường khác nhau đã tạo ra những sản phẩm có ứng dụng trong các lĩnh vực như : y học, dược học, sinh học, nông nghiệp…Những sản phẩm được tạo ra bằng cách tổng hợp tuy có kết quả tốt nhưng lại gây ra nhiều tác dụng phụ cho con người và môi trường Do đó, hóa học các hợp chất thiên nhiên ngày càng được quan tâm hơn Các nhà hóa học đã tiến hành tách chiết, cô lập, bán tổng hợp ngày càng nhiều các hợp
chất có hoạt tính sinh học để tạo ra các sản phẩm hữu ích từ cây cỏ thiên nhiên để nâng cao chất lượng cuộc sống
Trên thế giới, chi Annona được nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học cũng
như hoạt tính sinh học Cho đến nay, có khoảng 430 công trình khoa học công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Annona Chi Annona
chứa nhiều hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học hấp dẫn như các nhóm chất : diterpenoid, alkaloid, acetogenin, sesquiterpenoid…Tuy nhiên, các cây thuộc chi
Annona ít được nghiên cứu và áp dụng vào thực tế ở Việt Nam
Cây bình bát nước ( Annona glabra ) là một loại cây được phân bố rộng rãi ở
nước ta Đây là loài cây rất dễ sống, có sự phát tán và sinh sôi nảy nở rất dễ dàng Với
những hoạt tính sinh học hấp dẫn như: chống ung thư, cản trở quá trình nhân bản của
tế bào HIV, kháng kí sinh trùng…Với những ưu điểm này thì đây quả là một nguồn dược liệu quý giá
Nhưng những nghiên cứu về Annona glabra ở nước ta còn ít, vì thế chúng tôi
tiến hành khảo sát thành phần hóa học cao etylacetat của lá cây bình bát ở nước ta
Mục tiêu cô lập và xác định cấu trúc hóa học các hợp chất flavonoid và hoạt tính của chúng trong lá cây ( được thu hái ở quận 8, Bình Chánh TP Hồ Chí Minh) Hy vọng
rằng kết quả nghiên cứu sẽ mang lại nhiều hiểu biết mới về mặt hóa thực vật của cây bình bát nhằm làm tăng giá trị ứng dụng của cây vào trong cuộc sống
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 GI ỚI THIỆU VỀ CHI ANNONA [1,4,5]
Chi Annona thu ộc họ Na – Annonaceae Juss gồm khoảng 15 loài Chúng thuộc
cây gỗ nhỏ hay cây bụi Lá dai như da Hoa lưỡng tính, ở ngoài nách lá đối diện với lá
hoặc trên cành già Lá đài 3, xếp van; cánh hoa 3 hoặc 6; nhị nhiều; lá noãn nhiều, lúc đầu rời nhau, khi thành quả thì dính nhau tạo thành một khối nạc Hạt đen, vỏ hạt nhẵn bóng Mọc hoang ở châu Mỹ và châu Phi
Ở Việt Nam, có 4 loài mà 3 loài là cây trồng :
Annona glabra L ( cây bình bát nước) : có vỏ nhẵn
Annona muricata L ( cây mẵng cầu xiêm) : có vỏ quả phủ gai ngắn
Annona squamosa L ( cây na ) : có vỏ quả gồm những vẩy nhỏ xếp xít nhau
Annona reticulate L ( cây bình bát) : có vỏ quả xếp sát nhau như các mắt của môt
mạng lưới
Trên thế giới, cho đến nay có khoảng hơn 430 công trình khoa học công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Annona Thành phần
chủ yếu trong chi Annona thuộc nhóm chất : diterpenoid, alkaloid, acetogenin,
sesquiterpenoid…
1.1.2.1 Annona muricata L[27]
Năm 1994, Zhou Yang Ren, Wu Shu Jun đã phân lập được 3 hợp chất từ hạt của loài
Annona muricata là howiicin A (1), howiicin B (2) và 4-deoxyhowiicin B (3)
O OH
O O OH
OH OH
Howiicin A (1)
Trang 7O OH
O O OH
OH
Howiicin B (2)
O OH
O O OH
4-Deoxyhowiicin B (3)
Năm 1995, Ming Li chao, Tan Ning hua đã phân lập một cyclopeptidemới từ hạt của
loài A muricata là annomuricatin A (4).[20]
Annomuricatin A (4)
Năm 2000, Li De Yu, Jing Guang Yu, Xiu Zhen Luo, Lan Sun, Shi Lin Yang đã phân
lập được 3 hợp chất là muricatenol (5), murihexol (6) và donhexocin (7) từ hạt của
OH
OH
OH
H3C(H2C)12
Trang 8(CH 2 ) 5
O
O OH OH
Murihexol: A=erythro (6) Donhexocin: A=threo (7)
Năm 2002, Liaw Chih-Chuang, Fang-Rong Chang, Chih-Yuan Lin, Chi-Jung Chou, Hui-Fen Chiu, Ming-Jung Wu, và Yang-Chang Wu, đã phân lập được một số hợp chất thuộc nhóm acetogenins từ hạt của loài Annona muricata L và có độc tính tế bào là
annonacinone (8), muricin A (9), muricin H (10), muricin I (11), annocatalin (12).[12]
O OH
O O OH
OH O
Annonacinone (8)
O
O
O H
H HO
OH
OH
24
Muricin H (10)
Trang 9O
O H
H HO
OH OH
Muricin I (11)
O
O
O H
H HO
OH
OH OH
Annocatalin (12)
1.1.2.2 Annona squamosa L
Năm 1998, Fujimoto Yoshinori và cộng sự đã phân lập được một acetogenin mới có
độc tính tế bào từ hạt của loài Anona squamosa là squamocin (13).[9]
O O
16
19 20
37
Squamocin (13)
Năm 2004, Hiroshi và cộng sự đã phân lập được hợp chất squamostatin–A (14) từ hạt
của loàiAnnona squamosa L.[10]
Trang 10O O
O
1 2 35
O O
16
19 20
OH
OH
O O
OH
NH N
O
Trang 11Annonin XVI (22)
OH O
Palmitic acide(23)
OH O
Stearic acide(24)
OH O
Lignoceric acide(25)
Trang 12OH
Oleic acide(26)
HO O
CH2OH
H3CO
OCH3HO
H3CO
O O
H3CO
OH OCH3HOH2C
Cleomiscosin A (28) Cleomiscosin B (29) Cleomiscosin C (30)
Năm 2009, Magadula Joseph J., Ester Innocent and Joseph N Otieno đã phân lập một alkaloid từ lá của loài A squamosa làannonaine (31) có hoạt tính tẩy giun sán.[17]
NH O
O
Trang 13Annonaine (31)
Các cây thuộc chi Annona chủ yếu được sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm
dân gian
Loài Annona muricata L ( mẵng cầu xiêm )
Quả mẵng cầu xiêm có thịt trắng, mùi dễ chịu, vị dịu, hơi ngọt, chua Người ta thường dùng quả để ăn Thịt quả pha thêm nước và đường trộn đều làm thành một
loại sinh tố dùng để giải khát, bổ mát và chống hoại huyết Quả xanh phơi khô tán
Hạt chứa 0,05 % alcaloide dùng làm thuốc sát trùng và duốc cá Ngoài ra, người
ta còn dùng hạt đem giã nhỏ lấy nước gội đầu trị chấy, rận
Loài Annona squamosa L ( mẵng cầu ta hay na)
Quả mẵng cầu ta có thịt thơm, ngọt, mềm Quả mẵng cầu ta ăn được, có tác
dụng hạ khí, tiêu đờm Quả xanh dùng trị lỵ, đái tháo và bệnh tiểu khát Quả điếc dùng trị mụn nhọt
Lá mẵng cầu ta có một alcanoide vô định hình, lá xanh chứa 0.08% là dầu Lá dùng trị sốt rét cơn lâu ngày, mụn nhọt, sưng tấy, ghẻ
Hạt mẵng cầu ta có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt,
tiêu độc, sát trùng Hạt còn được dùng diệt côn trùng, trừ chấy rận
Trang 141.2.1 Mô t ả thực vật[1, 5]
Cây gỗ nhỏ, cao 2-5 m, cành ít phân nhánh, dáng giống như mẵng cầu xiêm Lá không lông, hình xoan hay tròn dài, gân bên có 8-9 đôi
Hình 1.1 Lá của cây bình bát nước Annona Glabra L
Hoa vàng, rộng 2cm; lá đài xanh khoảng 5cm, có 6 cánh hoa dài 2-3cm có bớt
đỏ ở trong, tiểu nhụy nhiều
Hình 1.2 Hoa c ủa cây bình bát nước Annona Glabra L
Quả dài 7-10cm, vàng xanh, không gai, vỏ nhẵn, nạt, thịt trắng Hạt có màu nâu đen nhạt
Hình 1.3 Trái c ủa cây bình bát nước Annona Glabra L
Trang 15Phân bố : Gốc ở Bắc Mĩ, được nhập vào trồng ở nước ta Nay mọc rải rác từ
Hải Phòng, Quảng Ninh đền Quảng Nam và mọc nhiều ở các tỉnh phía Nam
Sinh thái : Cây trồng dựa bờ rạch có nước nợ và trồng được ở cả nguồn nước nhiễm phèn và mặn
Năm 1995, nhóm tác giả Padmaja V., V Thankamany, N Hara, Y Fujimoto, A
Hisham đã phân lập từ vỏ cây Annona glabra L hợp chất ent-kaur-16-en-19-oic
acide(32) có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, tẩy giun, độc tế bào và diệt côn trùng.[21]
Kuo-R1
R3
R2
Bảng 1.1 Mười hai hợp chất được nhóm tác giả Fang-Rong Chang phân lập
(33)
CHO OAc COOCH3
methyl-16β-acetoxy-19-al -ent-kauran-17-oate
Trang 16(38) CH3 H COOH 16β-hydro-ent-kauran-17-oic acide
(39) CH3 COOH H 16α -hydro-ent-kauran-17-oic acide
(43)
CHO OH CH2OAc
16β-hydroxyl-17-acetoxy -ent-kauran-19-al
(44) OH COOH H 19-nor-ent-kauran-4α-ol-17-oic acide
CH2OH
CH2OH
Ent-kaur-15-ene-17,19-diol (45)
Trang 17Năm 1997, nhóm tác giả Teresa Gallardo, Raul Aragon, Jose R Tormo, M Amparo Blazquez, M Carmen Zafra- Polo và Diego Cortes đã phân lập các hợp chất có tính kháng khuẩn, kháng vi sinh vật
R1O
H3C
OH
R2
R1=R2= OH: Annonacin (47) R1=H, R2=OH: Corossolin (49)
R1=OH, R2=O: Annonacinone (48) R1=H, R2=O: Corossolone (50)
Trang 18Erythro: molvizarin (56)Threo: parviflorin (57)
Năm 1997, nhóm tác giả Li Chao-Ming, Tan Ning-Hua, Mu Qing, Zheng Hui-Lan, Hao Xiao-Jiang, Liang Hui-Ling, Zhou Jun đã tổng hợp được 2 hợp chất cyclopeptieds
mới là glabrin A (58) và glabrin B (59) từ hạt của Annona Glabra .[13]
Pro
Ne
OH
N NH
HN
HN
H NH
O
O
O O O O
OH
S
O
Trang 19Năm 1997, nhóm tác giả Xiao-Xi Liu, Feras Q Alali, Elsa Pilarinou, Jerry L McLaughlinphân lập được 4 hợp chất là glabracins A (60) và glabracins B (61), bullatanocin (62)và javoricin (63)có hoạt tính chống ung thư mạnh
1 37
(CH2)5OH
(CH2)5OH
Trang 20Glacins B (65)
Năm 1998, nhóm tác giả Xiao-Xi Liu, Feras Q Alali, Elsa Pilarinou, Jerry L McLaughlin cũng đã phân lập ra 2 hợp chất có hoạt tính chống ung thư vú ( MCF-7)
và ung thư tụy (Paca-2) Đó là annoglacin A (66) và annoglacin B (67) Hai hợp chất
này có hoạt tính mạnh hơn nhiều lần so với adriamycin.[15]
(CH 2 ) 5 OH
Annona glabra Đó là annoglaxin (68) và 27- hydroxybullatanocin (69) Trong đó hợp
chất (69) có hoạt tính chống lại ung thư thận ( A-498), ung thư biểu mô tuyến tiền liệt
(PC-3) và ung thư tụy (Paca-2 ); mạnh hơn chất đối chứng dương adriamycin ít nhất
O
O
O
OH OH
OH
O
OH
Trang 2127- hydroxybullatanocin (69)
Cuối năm 1998, nhóm tác giả Xiao-Xi Liu, Feras Q Alali, Elsa Pilarinou, Jerry
L McLaughlin cũng đã phân lập được 2 hợp chất có hoạt tính cao từ lá của cây
Annona Glabra L Đó là 6-OH Desacetyluvaricin (70) và 6-OH-4-Deoxysquamotacin
Trang 22Pondaplin (73)
Năm 2000, nhóm tác giả Chang Fang-Rong, Chung-Yi Chen, Tian-Jye Hsieh, Chun-Ping Cho, and Yang-Chang Wu đã phân lập được 6 hợp chất mới, đó là : [8]
B ảng 1.2 Sáu hợp chất được nhóm tác giả Chang Fang-Rong phân lập
(78) COOH CH3 OCH3
Trang 23N O
O
N O
Trang 24H HO
H
H OH H
O C O
(CH 2 ) 14 CH 3
6-O-palmitoyl-β-sitosteryl-D-glucoside (96)
Năm 2003, nhóm tác giả Yang Nian Yun, Tian Li Juan, Meng Zheng Mu, Han
Ying đã phân lập 2 hợp chất annonebinide A (97) và samoquasine A (98) từ vỏ
Annona glabra L.[26]
HO
H3CO
H N
OH O
N H O
Trang 25H O
O
CH 2
OH
NH N
Trang 26Annonglabasin G (101)
Năm 2010,hai nhà hóa học Sheng-Fa Tsai and Shoei-Sheng Lee đã phân lập được bốn hợp chất mới từ thân cây Annona Glabra L đó là : (7S,14S)-(-)-N-methyl-
10-O-demethylxylopinine (102), S-(-)-7,8-didehydro-10-O- demethylxylopininium
(103), S-(-)-7,8-didehydrocorydalminium (104) và 5-O- methylmarcanine D (105) Trong đó, hợp chất (103) và (104) là những hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy
N+
H3CO
H3CO
OH OCH3
Trang 271.2.2 Công d ụng và dược tính
Quả giống quả bình bát nhưng nhỏ hơn, có mùi thơm nhưng nếu không quen sẽ khó ăn Quả chín có thể ăn cùng với đường như một loại nước giải khát
Quả bình bát nước có tính ức chế các vi khuẩn Staphylococcus hemolyticus
(chuỗi cầu khuẩn tan huyết), Bacillus subtilis, Escherichia coli, Pseudommonas
aerogennes
Hạt và vỏ cây dã ra có tác dụng làm thuốc trị tiêu chảy, kiết lị và làm thuốc sát trùng
Dịch của lá cây dùng để trừ chấy rận
Ở Cu Ba, gỗ cây bình bát nước nhẹ nên được dùng làm giữ lưới đánh cá nổi trên mặt nước
Ở Trung Quốc, toàn cây dùng làm thuốc trị ung bướu; lá được dùng để trị viêm khí quản mãn tính
HÓA[34,35,36]
Trong cơ thể con người, thường xuyên diễn ra nhiều sinh hoạt hoặc xây dựng hoặc
huỷ hoại Có những chất tưởng như là thực phẩm chính của tế bào nhưng đồng thời cũng lại làm hại tế bào Có những phân tử gây ra tổn thương thì cũng có những chất
đề kháng lại hành động phá phách này Gốc tự do, oxy hóa và chất chống oxy hóa là
một ví dụ Những phân tử này ảnh hưởng đến cơ thể con người rất nhiều
Chất ôxy hoá còn gọi là gốc tự do, đó là những phân tử hay hợp tử chất có chứa điện
tử độc thân không ghép đôi Chính do chứa điện độc thân mà gốc tự do có hoạt tính rất
mạnh, nó luôn mang tính "huỷ hoại", sẵn sàng thực hiện tính ôxy hoá, cướp điện tử
của chất mà nó tiếp xúc và làm chất bị nó ôxy hoá bị huỷ hoại nặng nề.Trong cơ thể,
phản ứng của chất ôxy hoá của gốc tự do gây huỷ hoại tế bào (đặc biệt ở màng tế bào
hoặc cấu trúc di truyền trong nhân tế bào) phá huỷ các mô gây nên quá trình lão hoá Oxy hóa là quá trình chuyển electron từ nguyên tử này sang nguyên tử khác, oxy hóa rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất Tuy nhiên, khi electron ở trạng thái độc thân, chúng sẽ tạo ra các gốc tự do được gọi là những loại oxy hoạt động (reactive
Trang 28oxygen species) như: superoxide (O2.), peroxyl (ROO.), alkoxyl (RO.), hydroxyl (HO.) và nitric oxide (NO.) Gốc tự do RO và HO.nhanh chóng tấn công vào các phân
tử lipid trong màng tế bào, protein trong các mô hay các enzyme, cacbohydrate và AND gây hư hại màng tế bào, AND, biến tính protein Quá trình này được xem là nguyên nhân của sự lão hóa và nhiều bệnh tật khác như tim mạch, suy giảm trí nhớ, ung thư, huyết áp,…
Trong cơ thể, bên cạnh các gốc tự do luôn có hệ thống các chất chống oxy hóa “
nội sinh” để cân bằng lại, vô hiệu hóa các gốc tự do Hệ thống các chất chống ôxy hoá
nội sinh gồm các enzym như glutathione peroxidase, superroxid, dismutase đặc biệt
là vitaminC, vitamin E, beta-caroten (tiền vitamin A)… xúc tác các phản ứng khử để
vô hiệu hoá gốc tự do (còn gọi là "bẫy" gốc tự do) giúp cơ thể khoẻ mạnh Nhưng do các yếu tố bên ngoài tác động vào làm cho các gốc tự do sinh ra quá nhiều và hệ thống
chất ôxy hoá nội sinh không đủ sức cân bằng, cơ thể sẽ sinh ra rối loạn bệnh lý, có thể gây ung thư
Nguyên nhân gây ra ung thư đã được làm sáng tỏ là một quá trình nhiều bước, trong đó giai đoạn xúc tiến có liên hệ chặt chẽ đến sự hư hại mô bị viêm và mô bị oxi hóa Bằng thực nghiệm đã chứng minh được các gốc tự do có liên quan đến sự xúc tiến
khối u trong da chuột và các mô khác Khi các chất hoạt hóa khối u được áp dụng cục
bộ vào da chuột đã sinh ra H2O2 trong biểu bì, điều này tương quan với khả năng xúc
tiến khối u của các chất này Do đó các chất có hoạt tính chống oxi hóa mạnh có khả năng ngăn chặn sự gây ung thư, đặc biệt ở giai đoạn xúc tiến
Do vậy, xu hướng nghiên cứu gốc tự do và các chất chống oxi hóa ngày càng được chú trọng trong lĩnh vực Y-dược nhằm phát hiện những chất chống oxi hóa mang lại những tác dụng tốt có lợi cho sức khỏe con người, trong đó chất chống oxi hóa có nguồn gốc thiên nhiên được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm do đặc tính
ít độc, dễ hấp phụ đối với cơ thể và ít gây ra các phản ứng phụ
Trang 29Chương 2 PHẦN THỰC NGHIỆM
2.1.1 Thiết bị
Tủ sấy hiệu Memmert
Bếp cách thủy hiệu Julabo 461 Water Bath
Máy cô quay chân không hiệu Buchi-111
Đèn UV ở 2 bước sóng 254 nm và 365 nm hiệu UVITEC
Thiết bị gia nhiệt hồng ngoại hiệu SCHOTT
2.1.2 D ụng cụ
Máy sấy
Máy đánh siêu âm
Máy hút chân không
Cột sắc ký đường kính 2-5.5 cm
Máy cô quay chân không Buchi-111
Thiết bị gia nhiệt hồng ngoại hiệu SCHOTT
Cân phân tích AB 265-S và cân kỹ thuật PB 602-S
Đèn UV soi tử ngoại bước sóng 254-365 nm hiệu UVITEC
Các dụng cụ thông thường dùng để ly trích như: bình tam giác, cốc thủy tinh, ống nghiệm, bình cô quay, ống đong…
Trang 30 Thuốc thử hiện hình các cấu tử hóa học trên sắc ký lớp mỏng: dung dịch
H2SO4/EtOH (10%), FeCl3/EtOH
2.1.4 Nguyên li ệu
Mẫu lá cây Bình bát được thu hái tại quận 8, Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh
Sử dụng phương pháp ngâm dầm với ethanol để chiết xuất cao ethanol thô Các cao phân đoạn được điều chế bằng phương pháp trích pha rắn cao ethanol ban đầu với các dung môi có độ phân cực tăng dần như: hexan, chloroform, ethyl acetate và methanol
Sử dụng sắc ký cột silica gel pha thường, pha đảo, Sephadex LH-20, sắc ký bản điều chế kết hợp sắc ký lớp mỏng để phân lập các chất tinh khiết từ cao etyl acetate
Kiểm tra độ tinh khiết các chất phân lập được bằng sắc ký lớp mỏng
Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): 1
H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125 MHz) đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội Với chất chuẩn nội là TMS
Hiện nay có rất nhiều phương pháp đo hoạt tính kháng oxy hóa như : oxygen radical absorbant capacity (ORAC), total radical-trapping antioxidant parameter (TRAP), ferrie reducing antioxidant power assay (FRAP), 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl radical scavenging (DPPH),… Tuy nhiên ở đây tôi chọn thử hoạt tính kháng oxy hóa bằng phương pháp bắt gốc tự do DPPH tại phòng phân tích môi trường, Viện công nghệ Hóa Học; vì những ưu điểm sau :
• Phương pháp đơn giản
• Thời gian tiến hành nhanh chóng
• Phạm vi thử nghiệm được với nhiều tác nhân kháng oxy hóa khác nhau
Trang 31Nguyên t ắc
Tên khoa học: 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl
DPPH là gốc tự do bền, màu tím, phân tử không bị dimer hóa như một số gốc tự do khác Hoạt tính kháng oxy hóa thể hiện qua việc làm giảm màu của DPPH, được xác định bằng cách đo quang ở bước sóng λ = 515 nm
Điều kiện tiến hành phản ứng
Dung môi phản ứng : Kết quả của nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng EtOH và MeOH là hai dung môi tối ưu nhất
Độ hấp thu : Đỉnh hấp thu cực dại nằm ở bước sóng 515-520 nm
Thời gian đo độ hấp thu : Thời gian phụ thuộc vào hàm lượng mẫu đem phản
ứng Tuy nhiên, ta nên để mẫu phản ứng 30 phút trước khi đo là tối ưu nhất