1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiều đặc trưng ngôn ngữ trong truyện kí của nguyễn tuân

111 1,7K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 730,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông đã làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí, tùy bút, phóng sự, chân dung văn học,… Toàn bộ di sản phong phú đó đã tạo nên một diện mạo hoàn ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ THANH UYÊN

TÌM HIỀU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG TRUYỆN KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



LÊ THỊ THANH UYÊN

TÌM HIỀU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ

TRONG TRUYỆN KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60.22.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Sâm

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

DẪN NHẬP 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu 6

3 Mục đích nghiên cứu 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp mới của luận văn 16

7 Cấu trúc của luận văn 16

CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 17

1.1 Một số khái niệm 17

1.1.1 Phong cách và phong cách ngôn ngữ 17

1.1.2 Phong cách ngôn ngữ cá nhân 21

1.2 Phong cách Nguyễn Tuân 24

1.2.1 Ý thức sáng tạo ngôn ngữ 24

1.2.2 Phong cách ngôn ngữ độc đáo 27

1.3 Truyện kí 29

1.3.1 Khái niệm truyện kí 29

1.3.2 Phân biệt truyện kí với các thể loại khác 29

1.3.3 Những đặc điểm cơ bản của thể loại truyện kí 30

1.3.4 Tiểu kết 31

CHƯƠNG HAI: TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG TRUYỆN KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN 32

2.1 Xét trên bình diện từ ngữ 32

2.1.1 Khái niệm “từ” 32

2.1.2 Vấn đề sử dụng từ ngữ trong văn xuôi và trong truyện kí 33

2 1.3 Đặc điểm về cách dùng từ của Nguyễn Tuân 35

2.2 Xét trên bình diện cú pháp 55

2.2.1 Giới thuyết chung về câu 55

2.2.2 Ngôn ngữ truyện kí Nguyễn Tuân xét trên bình diện cú pháp 58

2.3 Xét trên bình diện tu từ 69

2.3.1 Giới thuyết chung về tu từ học 69

Trang 4

2.3.2 Việc sử dụng biện pháp tu từ trong truyện kí Nguyễn Tuân 70

2.4 Tổ chức văn bản 95

2.4.1 Một vài vấn đề chung về việc tổ chức văn bản 95

2.4.2 Việc tổ chức văn bản của Nguyễn Tuân 96

2.4.3 Tiểu kết 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

DẪN NHẬP



1 Lý do chọn đề tài

ngữ pháp học, phong cách học, ngữ dụng học, thi pháp học, … Mỗi ngành khoa học đều xác định cho mình một mục đích nghiên cứu riêng, có lối tiếp cận riêng và thu được những kết quả khác nhau

Tuy nhiên, phải thấy rằng: tính chất đặc thù của tác phẩm văn chương bị quy định trước hết bởi đặc trưng thể loại Do vậy, bất cứ ngành khoa học nào khi chọn ngôn ngữ tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu đều phải chú ý đúng mức đặc trưng thể loại của nó

Trong thực tế, một tác giả có thể sáng tác ở nhiều thể loại, và ở mỗi thể loại đóng vai trò nhất định trong việc thể hiện phong cách ngôn ngữ của tác giả ấy Nguyễn Tuân là một trong những trường hợp như vậy Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông đã làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí, tùy bút, phóng sự, chân dung văn học,… Toàn bộ di sản phong phú đó đã tạo nên một diện mạo hoàn chỉnh về phong cách nghệ thuật cũng như phong cách ngôn ngữ của ông, trong đó, mỗi thể loại giữ một vị trí riêng, không thể xem nhẹ

Từ tình hình trên, khi chọn các tác phẩm truyện kí của Nguyễn Tuân để tìm hiểu, chúng tôi muốn khu biệt đối tượng ở một thể loại nhất định, đồng thời đặt nó trong mối tương quan với những thể loại khác trong di sản của ông Về số lượng, trong toàn bộ tác

phẩm mà Nguyễn Tuân để lại, truyện kí chiếm một tỉ lệ không nhỏ (Toàn tập Nguyễn Tuân

có 4659 trang in tác phẩm tất cả các thể loại thì có đến 1947 trang truyện kí) Về chất lượng, một mặt, tác phẩm truyện kí khẳng định văn tài xuất sắc của Nguyễn Tuân trong bức tranh chung của văn xuôi lãng mạn chủ nghĩa; mặt khác, nó đánh dấu sự vận động có tính quy luật trong sự lựa chọn thể loại trên tiến trình sáng tạo của nhà văn Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Tuân ở thể loại truyện kí có thể giúp ta lí giải một số vấn đề quan trọng trong các sáng tác đa dạng, phong phú của ông

ngữ, bằng nghệ thuật chuyển nghĩa, bằng phương thức ẩn dụ ngôn từ, bằng chất liệu ngôn ngữ, …Vì thế, khi nghiên cứu tìm hiểu về phong cách học, người viết bắt buộc phải sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm

Trang 6

Phân tích tác phẩm bằng con đường ngôn ngữ, hay nói cụ thể hơn : phân tích bao giờ cũng phải là một thao tác vận dụng tất cả mọi sự hiểu biết về văn học và ngôn ngữ Thật vậy, ngôn ngữ và văn học là hai hình ảnh của cùng một hiện thực Khi phân tích tác phẩm, chúng ta không thể thiếu hiểu biết về hình tượng, cảm xúc, cũng như không thể thiếu hiểu biết về cấu trúc, đặc trưng ngôn ngữ Vấn đề chủ yếu là người viết phải xác định được lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương nói chung, ngôn ngữ của thể loại truyện kí nói riêng, người viết sẽ tiến hành khảo sát, phân tích trên nhiều cấp độ: từ vựng, cú pháp, biện pháp tu từ, …Qua đó, rút ra những đánh giá, nhận định và kết luận về những đặc điểm trong

phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân Đề tài Tìm hiẻu đặc trưng ngôn ngữ trong truyện kí

của Nguyễn Tuân mà chúng tôi nêu lên ở đây chính là sự lựa chọn hướng nghiên cứu ấy

Chọn đề tài này, mục đích của chúng tôi là xác định những nét nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân thể hiện qua các tác phẩm truyện kí Kết quả nghiên cứu sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc vận dụng lí thuyết phong cách học – hướng đi còn khá mới mẻ ở Việt Nam Cũng từ kết quả nghiên cứu này, ta sẽ có điều kiện quan sát và đánh giá những tìm tòi, cách tân về ngôn ngữ trong nền văn học đương đại Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu

Trên thế giới, phong cách học không phải là một bộ môn ra đời sớm vì nhiều lí do khác nhau, nó gắn liền với nghệ thuật hùng biện Tuy nhiên, việc xác định đối tượng nghiên cứu minh xác với hệ thủ pháp nghiên cứu tương thích thì mới chỉ hình thành gần đây

Theo viện sĩ Timôphiép, nguồn gốc của thuật ngữ phong cách bắt nguồn từ mẫu tự

La Tinh Trước đây, người Hy Lạp dùng chữ Stylos để chỉ một cái que một đầu nhọn, một đầu tù Người La Mã thì gọi là Stylus cũng để chỉ cái que đó, đầu nhọn dùng để viết, đầu tù dùng để xóa các chữ viết Về sau người Pháp dùng chữ Style với nghĩa ban đầu là nét chữ,

và sau thì được dùng với nghĩa là bút pháp

Theo thời gian, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về phong cách Đầu tiên,

Ar.Grigorian khẳng định: “Phong cách không thể vô can với phương pháp, với thế giới

quan, với bút pháp, với cá nhân mà nhà nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta … Phong cách là sự thống nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó”

Trang 7

Có thể nói rằng, người đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của phong cách học hiện đại là Charles Baly (1865 – 1947), người học trò xuất sắc của F de Saussure Một

trong những tác phẩm quan trọng của ông là Khảo luận về phong cách học tiếng Pháp, trong đó tác giả chỉ rõ: “Phong cách học nghiên cứu các sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ trên

quan điểm nội dung biểu cảm của chúng, nghĩa là sự biểu đạt của các sự kiện tình cảm bằng ngôn ngữ và tác động của ngôn ngữ với tình cảm” Theo quan điểm của Charles Baly,

thì phong cách học có nhiệm vụ miêu tả cấu trúc và chức năng của các sự kiện ngôn ngữ

trong sự biểu đạt tư tưởng, tình cảm Vì vậy được gọi là phong cách học miêu tả hay phong

cách học biểu đạt

Một trong những trường phái lớn về phong cách học ở Châu Âu cùng thời với Charles Baly mà đại diện xuất sắc là Léo Spitzer - nhà ngôn ngữ học người Áo, nhà lí luận

và phê bình phong cách nổi tiếng ở Châu Âu đầu thế kỉ XX Với Léo Spitzer thì ngôn ngữ là

sự sáng tạo cá nhân, hướng mục đích nghiên cứu về lời nói cá nhân nhằm khám phá nguyên nhân của sự sáng tạo, chủ yếu là phê bình phong cách của nhà văn Quan niệm của Léo Spitzer là: “Phong cách học cá nhân hay phong cách học cội nguồn” Ông cho rằng sự kiện phong cách ba o gồm cả mặt tư duy và tình cảm Phong cách học phải nằm trong tác phẩm

cụ thể như là một điểm xuất phát chứ không phải là một vài điều tiên nghiệm (apriori) ở ngoài tác phẩm

Trường phái ngôn ngữ học Praha mà Roman Jakobson (1896 – 1982) là tác giả tiêu biểu đi theo quan điểm cấu trúc - chức năng, ông là người đề xướng lí thuyết cho một phong cách học mới có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Tây trong thời gian qua Tác phẩm tiêu biểu

của Roman Jakobson là Khảo luận về ngôn ngữ học đại cương, gồm 11 chương trong đó, chương cuối đề cập đến lĩnh vực phong cách học: Ngôn ngữ học và thi pháp học Roman

Jakobson không dùng tên gọi “phong cách học” mà thường dùng thuật ngữ “chức năng thi pháp học” nhưng thực ra ông là người đề xướng một phong cách học hiện đại Ông cũng là người có công thống nhất hai chiều hướng trái ngược nhau: phong cách học Charles Baly và phong cách học Léo Spitzer Tuy nhiên, trên quan điểm chức năng, Roman Jakobson đã có nhiều kiến giải vừa nhất quán vừa phong phú đối với ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ (văn chương) và nghệ thuật nói riêng Đáng tiếc ông ít nói đến phong cách cá nhân

Vào những năm giữa của thế kỉ XX, Roland Barthes - một nhà phong cách học nổi tiếng của Pháp - đã bổ sung những hạn chế của Roman Jakobson Tác phẩm có giá trị của ông là: Dẫn luận thi pháp học truyện kể, Độ không của bút pháp, … Đóng góp về mặt lí

Trang 8

luận của Roland Barthes có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực phong cách học là ông đã chỉ

ra sự đối lập giữa phong cách và bút pháp Quan niệm về phong cách của ông là “một ngôn

ngữ tự tại chỉ đắm mình trong huyền thoại cá nhân và sự bí ẩn của tác giả, trong đó những hình thức bề ngoài (hypo-physique) của lời nói, trong đó hình thành cặp đầu tiên của các từ

và các vật, trong đó chỉ được thiết lập một lần các chủ đề của lời nói và sự tồn tại của nó … Phong cách thực sự là một hiện tượng nảy mầm, nó là biến thể của một khí chất”

Ở Liên Xô, vào những năm của thập niên 50, vấn đề phong cách học đã thu hút được nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm Trong đó, V.V.Vinogradov - một học giả Xô Viết - đã tổng

kết các cuộc tranh luận về phong cách học trên tạp chí Những vấn đề ngôn ngữ học, nội

dung của các cuộc tranh luận đã trở thành phương hướng cho lí thuyết ngôn ngữ học nói chung và phong cách học nói riêng theo quan điểm Mác-xít Các nhà ngôn ngữ học Xô Viết

đã đưa ra khái niệm phong cách chức năng và phong cách học chức năng Với họ, khái

niệm “chức năng” khác với cấu trúc - chức năng của trường phái Praha, là ở quan điểm chức năng xã hội của ngôn ngữ, tức là mối liên hệ giữa ngôn ngữ và xã hội thông qua việc xem xét ngôn ngữ như là cổng giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Sự thỏa thuận đạt được ở đây là chấp nhận ngôn ngữ có ba chức năng chính, đó là: chức năng giao tiếp, chức năng thông báo, chức năng tác động Cần thấy tư tưởng này bắt nguồn từ Karl Buhlev với luận đề giao tiếp hình tam giác với ba đỉnh tương ứng với ba góc và ba chức năng vừa nêu Mỗi biến thể chức năng kéo theo những biến thể ngôn ngữ ở các phương diện và cấp độ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Do đó, các chức năng đồng thời là tiêu chí phân loại phong cách và từ đó mới có tên gọi “phong cách chức năng” V.V.Vinogradov đã khái quát một

cách đầy đủ: “Phong cách chức năng là sự tổng hợp mọi thủ pháp sử dụng, lựa chọn và kết

hợp các phương tiện thông báo bằng lời, có ý thức về mặt xã hội, có điều kiện về mặt chức năng và thống nhất nội tại trong lĩnh vực ngôn ngữ toàn dân hay ngôn ngữ toàn dân tộc, tương ứng với những phương thức biểu đạt khác nhau, phục vụ cho những mục đích khác nhau, thực hiện những chức năng khác nhau trong thực tiễn ngôn ngữ của một dân tộc nhất định”

Trong khi đó, lại có quan điểm lí giải phong cách từ góc độ ngôn ngữ học, xem

phong cách như một hiện tượng gắn liền với ngôn ngữ Trên tạp chí Những vấn đề văn học

số 10 năm 1959, V.Turbin viết: “Phong cách - đó là ngôn ngữ được xét trong mối quan hệ

của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những

ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật”

Trang 9

Lại có những quan niệm cho rằng, phong cách lại là sự tổng hợp, là hệ thống phương tiện miêu tả và biểu đạt, phong cách là hình thức vẹn toàn có tính chất nội dung V.Đneprov

nhận xét: “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống

nhất của nội dung nghệ thuật

Cùng ý kiến với quan điểm trên, Y.Exberg cho rằng: “Phong cách biểu hiện sự toàn

vẹn của hình thức có tính chất nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn và của phương páp của nhà văn vốn thống nhất với thế giới quan; phong cách đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó”

Ở Việt Nam, phong cách nghệ thuật nói chung, phong cách tác giả nói riêng là lĩnh vực khá mới mẻ nhưng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chính vì vậy đã có khá nhiều công trình đề cập đến vấn đề này

Trước Cách mạng tháng Tám gần như chưa có công trình nào có giá trị cao về phong

cách học, đáng kể phải nói đến cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm ghi lại các luật thơ Công trình đầy đủ và công phu nhất là “Thơ ca Việt Nam - Hình thức và

thể loại” của hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức

Sau năm 1954, phong cách học mới thực sự phát triển, lúc đầu gọi là Tu từ học được đưa vào giảng dạy ở khoa Ngữ Văn của một số trường Đại học Năm 1964, Giáo trình Việt

ngữ - tu từ học ra đời đánh dấu sự ra đời chính thức của bộ môn khoa học mới - Phong cách

học

Giáo trình phong cách học tiếng Việt hiện đại do Nguyễn Nguyên Trứ, Lê Anh Hiền,

Cù Đình Tú viết cho trường Đại học Sư phạm Việt Bắc là một công trình tương đối đầy đủ

và có tính hệ thống cao Năm 1982, nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Võ Bình,

Nguyễn Thái Hòa biên soạn một giáo trình mới Phong cách tiếng Việt Tài liệu này bổ sung

những phần còn thiếu, chẳng hạn như: vấn đề phong cách chức năng, phân loại phong cách chức năng, …

Cù Đình Tú trong Giáo trình phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt đã có một

bước tiến quan trọng trong việc xác định lí thuyết phong cách học Đây là công trình được biên soạn khá công phu trong đó có tập họp tương đối đầy đủ các tài liệu và dẫn chứng minh họa Đóng góp của Cù Đình Tú trong công trình này là đã xác định rõ đối tượng của phong cách học “là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các nguyên tắc, quy luật lựa chọn

Trang 10

và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng nhất định” Mặt

khác, ông đã có sự phân biệt các lớp từ vựng được chuyên dùng trong những phong cách khác nhau, đặc biệt là sự miêu tả kĩ càng dựa vào các nét đối lập giữa các phong cách Trong giáo trình này, phần miêu tả các phương tiện diễn đạt được đánh giá là phong phú, đa dạng, lí giải nhiều sự kiện phong cách của tiếng Việt, đó là những đóng góp rất quan trọng cho Việt ngữ học

Về mặt lí thuyết, khái niệm phong cách ngôn ngữ tác giả đã được luận giải và minh chứng khá cụ thể Chính vì vậy, nội dung của khái niệm này đã được xác định một cách rõ ràng Một trong những công trình quan trọng có tính tổng quan cao về phong cách học là tác

phẩm Dẫn luận phong cách học của Nguyễn Thái Hòa Trong tác phẩm này, Nguyễn Thái

Hòa đã trình bày tóm lược sự ra đời và phát triển của các trường phái phong cách học ở Châu Âu cách đây một thế kỉ Đồng thời cũng ở cuốn sách này, tác giả đã điểm lại những thành tựu của phong cách học ở nước ta trong vòng hơn nửa thế kỉ qua, bằng sự khái lược

về lí luận và thực tiễn phát triển, tác giả đã dựng lên được một bức tranh tương đối hoàn chỉnh và đầy đủ các chặng đường phát triển của ngành phong cách học

Đào Thản trong tác phẩm Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật đã chỉ rõ quá

trình từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật cũng như các vấn đề ngôn ngữ tác phẩm

và ngôn ngữ tác giả Qua công trình này, Đào Thản đã đóng góp một phần quan trọng vào

việc xây dựng lí thuyết phong cách ngôn ngữ nhà văn Theo ông, “phong cách ngôn ngữ

nghệ thuật nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ đã được nhà văn, nhà thơ sử dụng để xây dựng nên các văn bản nghệ thuật” Chính vì vậy “việc xác định được đặc trưng phong cách ngôn ngữ rõ ràng có một giá trị lí luận và một ý nghĩa hết sức quan trọng” [Đào Thản

(1998), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội]

Nguyễn Khắc Sính trong tác phẩm Phong cách thời đại - nhìn từ một thể loại văn

học, đã có cái nhìn khá bao quát về phạm trù phong cách học trong nghiên cứu văn học

Trong công trình này, tác giả thông qua một thể loại cụ thể để chỉ ra những vấn đề cơ bản nhất về khái niệm phong cách trong văn học nghệ thuật cũng như những đặc trưng của phong cách thời đại biểu hiện trong các loại hình nghệ thuật Theo Nguyễn Khắc Sính thì:

“Trong ngôn ngữ, để thực hiện được những chức năng, yêu cầu khác nhau, các tập đoàn xã hội, các giới nghề nghiệp có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau nên dần dần đã hình thành

Trang 11

những phong cách ngôn ngữ chuyên biệt” [Nguyễn Khắc Sính (2006), Phong cách thời đại

nhìn từ một thể loại văn học, Nxb Văn học]

Với công trình Phong cách học văn bản, có thể nói rằng Đinh Trọng Lạc đã xây

dựng được một lí thuyết chung về văn bản ở góc độ phong cách học và như thế ông trở thành người đặt nền móng cho một chuyên ngành mới ở nước ta Trong tác phẩm này, tác giả đã đưa ra một loạt phạm trù cơ bản của phong cách học văn bản: tính nhất thể, tính khả phân, tính cá thể / phi cá thể, tính định hướng trong giao tiếp, từ phạm trù ấy tác giả đã mở rộng các khái niệm mới: phương tiện biểu đạt và biện pháp biểu đạt; giá trị tu từ và giá trị phong cách; … Đóng góp lớn nhất của Đinh Trọng Lạc qua công trình này là ông đã bước đầu xây dựng được một chuyên ngành lí thuyết đại cương mới cho phong cách học với đối tượng cụ thể

Đi sâu vào lĩnh vực phong cách ngôn ngữ tác giả, chúng ta phải thừa nhận một số

thành tựu nổi bật đó là Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc

Ông đã vận dụng tri thức của cấu trúc luận vào việc phân tích giá trị của một tác phẩm lớn

đã được rất nhiều người nghiên cứu, đánh giá trong thời gian qua Trong công trình này, tác

giả đã xác định: “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và biểu cảm của

các kiểu lựa chọn ấy” [Phan Ngọc (2007), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện

Kiều, Nxb Khoa học xã hội]

Trên một tầm nhìn khái quát Phan Ngọc đã đưa ra một định nghĩa khá rõ ràng về

phong cách: “ Phong cách là một hiện tượng thuộc văn hóa, lịch sử chứ không phải thu lại trong một vài quy tắc về hình thức … Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại hay một tác giả” Đóng góp của ông bên cạnh

việc xác lập bộ máy khái niệm tương đối rõ ràng là việc lược quy thành các thao tác có sức giải thích

Trước cách mạng, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan – tác giả cuốn Nhà văn hiện đại

(1942), đã sớm nhận ra: “Nguyễn Tuân là nhà văn đứng riêng hẳn một phái” Qua việc điểm bình tất cả những gì Nguyễn Tuân đã viết cho tới thời điểm đó, Vũ Ngọc Phan đã cảm nhận

khá tinh một số nét nổi bật trong ngôn ngữ Nguyễn Tuân Ông cho rằng: “Câu văn Nguyễn

Tuân rất hợp để tả những cảnh âm u, sầu thảm, vì đọc lên, nó ngân sâu như những tiếng đàn trầm Văn của Nguyễn Tuân buồn, buồn lắm, dùng lối văn ấy để viết những cái đã qua,

Trang 12

những cái đã chết thì không còn lối văn nào thích hợp bằng” [119, tr.39] Vũ Ngọc Phan

cũng nói đến những đoạn lê thê, giọng khinh bạc, chua chát trong văn Nguyễn Tuân, và theo ông, căn bản đó vẫn là một lối hành văn “hoàn toàn Việt Nam” Tuy chưa gắn với việc phân tích cụ thể, nhưng những ý kiến của Vũ Ngọc Phan như đã nêu trên là khá chính xác

Ngay khi tập Vang bóng một thời mới ra mắt độc giả, Thạch Lam đã bày tỏ thái độ trân trọng đối với một nhà văn “biết yêu mến dĩ vãng”, “tiếc thương và muốn vớt lại những

vẻ đẹp đã qua”, “đã làm sống lại một thời xưa” [106, tr.230] Bên cạnh việc nhận ra giá trị

văn chương đích thực của Vang bóng một thời, Thạch Lam cũng kì vọng Nguyễn Tuân

“giản dị, sáng sủa hơn nữa, cố tránh những lối hành văn cầu kì – sự cầu kì trong cái tìm tòi, không phải trong cách điệu tả - tránh những chữ nhắc lại, những sự kiểu cách, những lối về âm điệu trong câu văn” [106, tr.230] Những điều Thạch Lam nói đến, sau này vẫn

thấy biểu hiện rất rõ trong ngôn ngữ Nguyễn Tuân Thực sự, đó cũng là những điểm nổi bật của một phong cách

Cũng nghiên cứu Vang bóng một thời, Trương Chính đánh giá rất cao phương diện nghệ thuật, đặc biệt ngôn ngữ Ông cho rằng “về văn phong, phải nói Nguyễn Tuân trong

tác phẩm đầu tay này đã đạt đến đỉnh cao mà về sau ông không đạt tới nữa Đó là một lối hành văn thuần thục, điều hòa, mạch lạc, chải chuốt”, chứng tỏ Nguyễn Tuân có ý thức rất

cao về giá trị nghệ thuật của văn chương Cái giọng “khinh bạc, sâu cay, bừa bãi, lôi thôi”

của tác giả Vang bóng một thời chỉ bộc lộ ở những tùy bút viết về trụy lạc Nhận xét như thế

là hoàn toàn có cơ sở [106, tr 237 – 243]

Sau cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nguyễn Tuân càng có sức thu hút đặc biệt giới nghiên cứu, phê bình Một trong những người dành rất nhiều tâm huyết tìm hiểu sự nghiệp Nguyễn Tuân là nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh Ông đã sưu tầm, biên soạn và

viết lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân (1982) và Nguyễn Tuân toàn tập (2000) Bài giới

thiệu của Nguyễn Đăng Mạnh là một tiểu luận công phu, đánh giá thỏa đáng nhiều phương diện về con người tác giả cũng như tác phẩm của Nguyễn Tuân Ông đã xem xét quan điểm sáng tác, tư tưởng nghệ thuật, đề tài, thể loại, phong cách, những thành công và hạn chế trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân Nguyễn Đăng Mạnh nói đến một biểu hiện của lòng yêu nước ở Nguyễn Tuân: sự gắn bó thiết tha với tiếng nói của cha ông

“Trong hoàn cảnh nước mất nhà tan mà chưa có gan đứng lên cứu nước, con người ấy dồn tất cả lòng yêu Tổ quốc vào tình yêu tiếng mẹ đẻ” [101, tr.26] Đây là gốc rễ của những tìm

tòi sáng tạo trong cách dựng cảnh, diễn ý, tả tình, trong cách dùng từ đặt câu mang màu sắc

Trang 13

rất riêng của Nguyễn Tuân mà Nguyễn Đăng Mạnh đã lấy ra được những dẫn chứng rất tiêu biểu Nhà nghiên cứu chú ý đến những lối ví von chính xác, mới lạ “nhưng nhiều khi thật oái oăm, khinh bạc, bi quan”; những liên tưởng, chuyển đổi cảm giác tinh tế; những kiểu kiến trúc đa tầng, đa dạng của câu văn nhằm tạo ra một âm điệu trầm bổng, hài hòa, … trong các trang văn Nguyễn Tuân Ông cũng đánh giá rất cao cái vốn từ vựng mà Nguyễn

Tuân đã cần cù tích lũy để có thể thoải mái tung hoành “chạy đua với tạo vật muôn màu”

Những nhận xét khái quát như vậy về ngôn ngữ Nguyễn Tuân có tác dụng kích thích sự khảo sát, tìm hiểu, cắt nghĩa vấn đề một cách kĩ lưỡng hơn

Trong tiểu luận Nguyễn Tuân và quá trình chuyển biến của một phong cách (1987),

Phan Ngọc đã có một số phát hiện về phong cách nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Tuân Theo Phan Ngọc, Nguyễn Tuân là người đầu tiên nêu lên được cái đẹp ở phương diện

kĩ thuật Chính cái nhìn kĩ thuật đã chi phối cảm thức ngôn ngữ của Nguyễn Tuân Nó giúp

ông viết nên những câu văn “vừa rất qui tắc vừa phá qui tắc”, “một lối văn như khắc mà

các nhà Tự lực văn đoàn không viết được” Phan Ngọc cho rằng: nhiều người viết được câu

văn đẹp, nhưng chỉ có Nguyễn Tuân nắm được cái đẹp của câu văn đơn tiết Quan sát phong cách Nguyễn Tuân, Phan Ngọc nhận ra sự vận động biến hóa của nó gắn với sự chuyển đổi

của tất cả các phương diện trong sáng tác Từ truyện sang tùy bút, “các nhân vật vốn đã

thấp thoáng, lờ mờ, đi đến mức biến mất, chỉ còn độc anh chàng Nguyễn Cốt truyện đã lỏng lẻo giờ bốc hơi Câu văn điêu khắc bị giải thể, nhường chỗ cho một sản phẩm mới mang dáng dấp câu văn tự hành” Phan Ngọc cũng nhận thấy đôi khi ngôn ngữ Nguyễn

Tuân không tránh khỏi những chỗ bất cập: “Câu văn điêu khắc chỉ thành công trước một vật

cụ thể, bước vào lí luận thì văn Nguyễn yếu Nguyễn chưa có được câu văn tư biện” Không

chỉ dừng lại ở việc nhận xét câu văn, Phan Ngọc còn chỉ ra những chỗ “kì tuyệt” của Nguyễn Tuân về sử dụng từ ngữ Theo ông, Nguyễn Tuân có một vốn từ phong phú ít ai bì

kịp, một khả năng kết hợp bất ngờ thú vị “Nguyễn dùng danh từ chính xác nhưng dùng

động từ mới là vô địch” Nó cho thấy sự tài hoa bên cạnh sự công phu của Nguyễn Tuân

trong hành ngôn Nói tóm lại, Phan Ngọc luôn gắn đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Tuân với cái

nhìn – một phạm trù thi pháp học Vì thế, những kiến giải của ông tỏ ra khá mới mẻ, sâu sắc

và thỏa đáng [111, tr.198 – 231]

Với cái nhìn khái quát không phân biệt thể loại, đề tài, giai đoạn sáng tác, trong một bài viết của mình, Mai Quốc Liên đã đề cập đến “cái đẹp ngữ pháp” của câu văn Nguyễn Tuân: “Những câu văn đẹp do cấu trúc tầng lớp mà bao giờ cũng sáng, cũng đúng; ở đó,

Trang 14

ông chú ý đến giọng điệu, cách sắp xếp trật tự các từ để làm nổi bật các mối quan hệ trong

sự vật và trong cảm giác của chính ông” [106, tr.205]

Viết về kí Nguyễn Tuân, Vũ Đức Phúc lại tỏ ra rất thích thú trong việc chọn từ, dùng

từ của nhà văn Nó khiến cho trong văn ông, “mỗi chữ như cựa quậy” Tuy thế, việc chọn từ ngữ của Nguyễn Tuân - theo Vũ Đức Phúc - nhiều lúc lại quá cầu kì

Tôn vinh Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ, Hà Văn Đức cho rằng: “Nguyễn

Tuân không chỉ là nhà văn xuất sắc mà còn là một nhà ngôn ngữ học, nhà tu từ học hết sức độc đáo, uyên bác và tài hoa” Khi cầm bút Nguyễn Tuân thường tạo ra sự lệch chuẩn mực

thông thường trong ngôn ngữ Sự lệch chuẩn này diễn ra ở tất cả các cấp độ ngôn từ trong tác phẩm Trong thực tế, việc xác định chuẩn làm căn cứ để xem xét sự lệch chuẩn ở những trường hợp cụ thể là chuyện không dễ dàng, song sự phân tích của Hà Văn Đức về ngôn ngữ của Nguyễn Tuân là khá thuyết phục

Đảm trách phần nói về bốn mươi năm phát triển ngôn ngữ văn học, trong công trình

tập thể Một thời đại mới trong văn học (1995), khi phân tích một số phong cách ngôn ngữ

cụ thể, Vương Trí Nhàn đã đánh giá Nguyễn Tuân thuộc loại có công đầu trong việc xây

dựng “tòa lâu đài tiếng nói dân tộc” Vương Trí Nhàn ví von: “Văn Nguyễn Tuân lộng lẫy

như một người đàn bà ăn mặc kiểu cách, đúng kiểu, đúng mốt nên dù có ai thầm nghĩ là

“chua” quá, ngoa ngoắt quá cũng không tránh nổi; ngược lại phải nhận là người này đã mang toàn bộ hiểu biết và sự lịch lãm vào những hình thức trang sức trên người mình”

[104, tr.235] Những cảm nhận thiên về ấn tượng nhưng cũng khá chính xác như thế không chỉ đúng với các sáng tác của Nguyễn Tuân sau cách mạng, thực ra đó là những nét nổi bật, nhất quán trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân thể hiện trong toàn bộ tiến trình sáng tạo của ông

Như vậy, hễ viết về Nguyễn Tuân, ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, dường như không ai là không đề cập một vài nét về ngôn ngữ trong tác phẩm của ông Nhìn chung, các

ý kiến đều gặp nhau ở mấy điểm:

Thứ nhất, đề cao tài năng chọn chữ, đặt câu và sử dụng các biện pháp tu từ có hiệu quả của Nguyễn Tuân

Thứ hai, những nhận xét về thành công ngôn ngữ của Nguyễn Tuân chưa gắn nhiều với việc phân tích thể loại, nếu có thì cũng chỉ mới dừng lại ở lối điểm bình ngẫu hứng

Trang 15

Những công trình khảo sát kĩ lưỡng, công phu về ngôn ngữ trong các tác phẩm ở những thể loại khác nhau đặc biệt trong thể loại truyện kí để từ đó nhận diện phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân, dường như vẫn còn ở phía trước Tình hình đó càng kích thích người viết đi vào đề tài mà mình đã chọn

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở của những thành quả nghiên cứu của ngành phong cách học, người viết đã

cố gắng áp dụng lí thuyết về phong cách học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung để:

3.1 Nhận diện những đặc điểm ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thông qua việc

mô tả, khảo sát một thể loại cụ thể

3.2 Bước đầu nhìn nhận và đánh giá đóng góp của Nguyễn Tuân về phương diện truyện kí, qua đó góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu, học tập về Nguyễn Tuân của giáo viên và học sinh bậc Trung học phổ thông và những người yêu thích tác phẩm của Nguyễn Tuân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đặc điểm diễn đạt ngôn ngữ mà nhà văn Nguyễn Tuân thể hiện trong thể loại truyện kí

Phạm vi khảo sát là những tác phẩm truyện kí được tập hợp của Nguyễn Tuân

Nhằm làm rõ đặc điểm riêng của Nguyễn Tuân về ngôn ngữ, luận văn sẽ tiến hành khảo sát, đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của ông với một số tác giả cùng thời

5 Phương pháp nghiên cứu

Trước một đối tượng như vậy, luận văn sẽ áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Các ngữ liệu cần thiết sẽ được tập hợp

bằng sự khảo sát kĩ lưỡng và thống kê đầy đủ theo yêu cầu cụ thể của từng chương, từng mục trong luận văn Phân tích định lượng làm cơ sở cho nhận xét định tính để làm rõ bản chất các vấn đề trọng tâm

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Luận văn sẽ tiến hành so sánh về ngữ liệu và

kết quả phân tích, tổng hợp giữa đối tượng nghiên cứu (tác phẩm của Nguyễn Tuân) với các đối tượng có liên qua (tác phẩm của những nhà văn cùng thời) để rút ra những nét đặc trưng trong phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân

Trang 16

5.3 Phương pháp hệ thống: Trong quá trình nghiên cứu, người viết luôn xem đối

tượng là một hệ thống nằm trong một hệ thống khác, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ hữu cơ, tinh vi, có sự vận động theo những quy luật đặc thù Hướng xử lí tư liệu và những khái quát của luận văn sẽ cố gắng tuân thủ tối đa phương pháp nghiên cứu này

6 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình đầu tiên đi vào nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ trong truyện kí của Nguyễn Tuân dưới ánh sáng của phong cách học, tự sự học Hướng tiếp cận xuất phát từ đặc trưng thể loại như thế này sẽ giúp cho việc phát hiện, khẳng định phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân một cách có cơ sở khoa học Đồng thời, cũng từ góc nhìn này, sự vận động của một tiến trình sáng tạo (trường hợp Nguyễn Tuân) sẽ được lí giải thấu đáo hơn Cuối cùng, hiểu được ngôn ngữ của tác giả trong tư cách một loại hình, người viết sẽ có điều kiện cắt nghĩa một số cách tân về ngôn ngữ của thể loại truyện kí trong văn học đương đại - những vấn đề đang được giới nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay quan tâm

7 Cấu trúc của luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Dẫn nhập và phần Kết luận, nội dung của luận văn sẽ được triển khai trong hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận

Chương 2: Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ trong truyện kí của Nguyễn Tuân

Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo

Trang 17

CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Phong cách và phong cách ngôn ngữ

Nhìn chung, phong cách là một khái niệm khá phức tạp, có nhiều quan điểm và trường phái khác nhau Hiện nay, có hàng trăm khái niệm, mỗi khái niệm thể hiện một cách nhìn, một hướng tiếp cận khác nhau Phong cách học là một bộ môn của ngôn ngữ học, đó

là điều rõ ràng nhưng phong cách học lại hàm chứa nhiều vấn đề, nhiều khái niệm như: phong cách, phong cách thời đại, phong cách tác giả, … những vấn đề, những khái niệm đó vẫn chưa được xác định một cách nhất quán

Trước đây, khi ngôn ngữ học chưa phát triển, văn ngữ bất phân, phong cách vừa có

nghĩa đặc trưng của một ngôn ngữ thuộc một loại hình nhất định: phong cách cao quý (ngôn ngữ thượng lưu), phong cách trung bình (ngôn ngữ trung lưu) và phong cách giản dị (ngôn ngữ hạ lưu); vừa là cảm nhận màu sắc sáng tạo nghệ thuật

Có thể nói, bộ môn tu từ học là tiền thân của phong cách học, với chiều dài phát triển hàng chục thế kỉ, tu từ học đã để lại cho con người những kiến thức quan trọng và phong phú về ngôn ngữ và văn chương Những thành tựu mà tu từ học có được là cơ sở và nền tảng cho phong cách học phát triển, những khái niệm hay những tên gọi như: thi pháp học,

âm luật học vẫn được sử dụng và tồn tại cho đến ngày nay Tu từ học là bộ môn hội tụ cả hai yếu tố:

Yếu tố thứ nhất, là nghệ thuật diễn đạt (ngôn ngữ) Yếu tố thứ hai, là nghệ thuật sáng tạo (văn chương) Như vậy, tu từ học vừa chứa đựng những đặc điểm liên quan đến ngôn ngữ học lại vừa mang những đặc điểm của văn chương Mặt khác, ta thấy rằng, tu từ học đã giúp cho các nhà ngôn ngữ học có cách nhìn những xây dựng tương ứng với sơ đồ ngôn ngữ học hiện đại: Người nói – Tư tưởng – Ngôn ngữ Nó chứa đựng những gợi ý, những quan sát, những định nghĩa mà các nhà ngôn ngữ học sẽ kết thừa, đi sâu và phát triển thêm Thật sự, tu từ học là một bộ môn có sự phát triển lâu đời và có nhiều thành tựu to lớn Tuy vậy, bộ môn này không tránh khỏi được những hạn chế khi xã hội phát triển và ngôn ngữ học có những bước tiến quan trọng Để khắc phục những hạn chế của tu từ học thì bộ môn khác ra đời, đó

là Phong cách học Đến thế kỉ XVII khái niệm phong cách được nhìn nhận là: đặc trưng

sáng tạo, cá tính sáng tạo nghệ thuật, phong cách đồng nhất với các khái niệm trên: “Phong

cách chính là bản thân con người” (Buffon), quan niệm này chỉ là một cách phát triển khác

Trang 18

của quan niệm “Lời nói chính là diện mạo của tâm hồn” (Sènèque) và “Tính cách nào thì

phong cách ấy” (Platon) Cho đến nay lí thuyết sáng tạo nghệ thuật vẫn trung thành với

cách nhìn phong cách bằng con người hoặc tính cách, hoặc tâm hồn, hoặc tư tưởng, hoặc cả ba: cá tính sáng tạo, tư tưởng nghệ thuật trong mối quan hệ với trào lưu tư tưởng xã hội và trào lưu nghệ thuật Như vậy, từ “phong cách” được hiểu theo ba nghĩa:

Một là, đối với một số người là nghệ thuật viết văn

Hai là, đối với một số khác thì chính là bản chất con người “một phẩm chất tự nhiên chẳng khác nào âm thanh của giọng nói” (P Claudel)

Ba là, “số còn lại thường là lẫn lộn hai ý nghĩa trên” [Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, tr.59]

Đến cuối thế kỉ IXX đầu thế kỉ XX, ngôn ngữ học phát triển và tách khỏi văn học thì vấn đề phong cách học được tiếp cận ở nhiều hướng khác nhau, có lúc trái ngược nhau:

- Khái niệm phong cách gắn với F De Saussủe và Ch.Bally là: “Tinh thần

ngôn ngữ dân tộc” bao hàm tất cả các “sự kiện được biểu đạt với màu sắc biểu cảm”

- Khái niệm phong cách gắn với trường phái ngôn ngữ học Đức, xem lời nói như là một sự kiện phong cách mà ta gộp chung gọi là phong cách lời nói

- Với trường phái ngôn ngữ học Praha mà tiêu biểu là R Jakobson, chú ý nhiều ở phương diện chức năng - cấu trúc Trường phái này tránh sử dụng những khái niệm như “phong cách” hay “phong cách học” Vì hệ thống tổng quát lí thuyết của R Jakbson dù

đủ sức khái quát các hiện tượng thuộc về phong cách học nhưng trong ứng dụng, những người kế tục ông thiên về văn bản nghệ thuật (thơ và văn xuôi nghệ thuât) trong khi phạm vi

sử dụng ngôn ngữ rộng lớn hơn rất nhiều

- Với các nhà ngôn ngữ học Xô Viết thì “phong cách” được hiểu giới hạn trong “phong cách chức năng” như là hệ thống phân loại các lớp ngôn ngữ trong lòng ngôn ngữ dân tộc, bao gồm các: phong cách khẩu ngữ, phong cách khoa học, phong cách nghệ thuật Trong đó, phong cách ngôn ngữ cá nhân chỉ được xem là một phần nhỏ trong lời nói nghệ thuật và là tượng của thi pháp học

Tuy nhiên, cái chung nhất ở đây khi nói về khái niệm phong cách là những thuộc tính của hoạt động ngôn ngữ và phong cách cũng là hiện tượng lặp đi lặp lại trong biểu đạt ngôn

từ của con người Về mặt lí thuyết, gần đây người ta còn nói đến phong cách thời đại, phong cách thể loại, phong cách lập mã, phong cách giải mã, phong cách lời nói

Trang 19

Phong cách ngôn ngữ học chính là lý thuyết về khảo sát các phương tiện biểu đạt tu

từ của ngôn ngữ Cách nhìn nhận này đã giúp cho việc thiết lập được phương pháp nghiên cứu hiệu quả và mở đường cho phong cách học phát triển Ở đây, ta cũng cần hiểu thêm khái niệm phong cách học lời nói Phong cách học lấy lời nói làm đối tượng nghiên cứu kể

cả văn bản và văn bản nghệ thuật Dường như, điều này trái với quan điểm của Ch Bally, ông cho rằng, phong cách học không để ý đến từng cá nhân hay từng tác phẩm mà chỉ dừng lại ở các phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ mà thôi

Nhìn nhận ở góc độ giao tiếp thì phong cách học có khả năng xem xét giá trị của lời nói và hiệu lực của nó ở mối quan hệ đối thoại, bao gồm những dạng văn bản nói và văn bản viết, tức là tất cả các hình thức diễn đạt ngôn ngữ có giá trị Phong cách học có xu hướng tiếp cận và ảnh hưởng các bộ môn khác là thi pháp học và phê bình văn học và như thế phong cách học sẽ trở thành một khoa học liên ngành tuy vẫn không xa rời xuất phát điểm

là ngôn ngữ học

Dựa vào nhiều nguồn tư liệu, nhiều xu hướng nghiên cứu phong cách Nguyễn Thái

Hòa đã đưa ra một định nghĩa Ông viết: “Phong cách là những đặc trưng trong hoạt động

lời nói được lặp đi lặp lại ở một người nào đó, ở một môi trường ngôn ngữ hay một cộng đồng, có khả năng khu biệt với những kiểu biểu đạt ngôn ngữ khác; nói cách khác, nó là tổng số của những dấu hiệu khu biệt của các sự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một cấu trúc bên trong và một cơ chế hoạt động ngôn ngữ” [Nguyễn Thái Hòa, Dẫn luận phong cách học 1997, tr.172, Nxb Giáo dục]

Dù Nguyễn Thái Hòa xác định trước rằng đây chỉ là một cách hiểu xuất phát của từ

“phong cách”, không phân biệt ngôn ngữ với hoạt động ngôn ngữ; nghệ thuật hay phi nghệ thuật, nhưng định nghĩa này có thể giúp ta nhận diện phong cách ngôn ngữ của một tác giả văn học

Trong tác phẩm “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” Phan Ngọc

đã định nghĩa về phong cách như sau: “Phong cách là sự lặp đi lặp lại của một chùm nét

khu biệt […] phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng những giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại hay một tác giả”

Ở góc độ khác, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Phong cách là tất cả những phương tiện

biểu đạt tiêu chuẩn hóa mà xã hội hiểu được, do mục đích và đặc điểm của việc trao đổi quy định Cơ sở của phong cách là truyền thống chọn lọc từ thành ngữ và phương tiện ngữ pháp

Trang 20

dùng cho mục đích thông tin nhất định, người ta còn gọi phong cách đây là phong cách chức năng” [Nguyễn Văn Tu, Từ vựng tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1968, tr.122]

Nguyễn Thái Hòa cũng đưa ra một quan niệm về phong cách tương đối xác đáng đó là: “Ngôn ngữ là tiềm năng chung, là vật liệu xây dựng từ đó tất cả người sử dụng đều có thể lắp ghép lời nói cụ thể của mình Lời nói chứa đựng nội dung thông báo và những quy tắc mà mọi người đều hiểu được Vậy thì, cách thức tạo thành và sự sắp xếp thống nhất ngôn ngữ / lời nói trong trường hợp giao tiếp cụ thể, đó chính là phong cách” [Nguyễn

Thái Hòa, Dẫn luận phong cách học, Nxb Giáo dục, 1997]

Với cái nhìn có tính khái quát cao, Cù Đình Tú đã đưa ra khái niệm phong cách học

khá tiêu biểu: “Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu quy tắc, quy

luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” [Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ học tiếng Việt, Nxb Đại học

và Trung học chuyên nghiệp, 1983, tr.29]

Rõ ràng, phong cách học ngôn ngữ có nhiệm vụ và chức năng khảo sát các phong cách chức năng ngôn ngữ và khảo sát các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ, từ đó tìm ra những đặc điểm và những quy luật của mỗi nhà văn hoặc từng thời đại

Cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên đã tổng hợp một cách khá đầy đủ các quan niệm về phong cách Theo ông, “phong cách là cách sử

dụng (lựa chọn) những phương tiện ngôn ngữ trong các phát ngôn hữu quan tùy theo mục đích hình thái và tác dụng cụ thể của các phương tiện đó, cũng như tùy theo phương hướng

cá nhân (như hướng cảm xúc, hướng thẩm mĩ, …) của người nói hay người viết Nói chính xác hơn, phong cách là tổ chức toàn bộ các thủ pháp sử dụng và lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ theo nguyên tắc sắc tái tu từ” Phong cách cũng chính là “toàn bộ các thủ pháp

sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, từng tác phẩm văn học hoặc từng thể loại”

Qua những quan niệm về phong cách mà chúng tôi liệt kê ở trên, tuy là rất nhỏ so với tất cả ý kiến mà các nhà nghiên cứu đã nêu ra, chúng ta có thể thấy những định nghĩa về phong cách rất đa dạng, phong phú và rất khó đồng thuận để đưa ra một khái niệm chung về phong cách Tuy nhiên, qua đó chúng tôi có thể rút ra một nhận định như sau: Phong cách ngôn ngữ thể hiện ở những đặc điểm cách thức sử dụng những phương tiện ngôn ngữ như:

Trang 21

từ, ngữ pháp, ngữ nghĩa, văn bản, … mỗi phương tiện có vị trí và tầm quan trọng khác nhau

tùy thuộc vào từng tác giả, từng thể loại tác phẩm và từng thời đại

1.1.2 Phong cách ngôn ngữ cá nhân

Ta thấy rằng, toàn bộ các yếu tố của phong cách có mặt và ổn định trong các tác phẩm của tác giả nào đó trong một giai đoạn sáng tác nhất định hay phổ biến ở tất cả quá trình sáng tạo nói chung ở tác giả đó, đặc điểm, các thủ pháp sử dụng từ ngữ, các kết cấu, … đặc trưng cho ngôn ngữ của mỗi cá nhân, đó chính là phong cách ngôn ngữ cá nhân

Phong cách mang dấu ấn của từng thời đại và mỗi cá nhân, bởi vì nó chứa đựng và thể hiện những đặc điểm sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của nhà văn trong khoảng thời gian và từng tác giả cụ thể Như vậy, phong cách vừa mang tính thời đại vừa mang tính cá nhân

Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thể hiện phong cách của mình qua những sở trường, sở đoản Chính những sở trường, sở đoản và những thói quen sử dụng những phương tiện ngôn ngữ đã tạo ra dấu ấn riêng của mỗi nhà văn, ta gọi đó là phong cách ngôn ngữ cá nhân Toàn bộ các yếu tố phong cách cơ bản có mặt ổn định trong các tác phẩm của một tác giả nào đó trong một giai đoạn sáng tạo nhất định hay phổ biến ở tất cả các quá trình sáng tạo nói chung của tác giả đó; đặc điểm các thủ pháp sử dụng từ ngữ, các kết cấu, … đặc trưng cho ngôn ngữ nói và viết của một cá nhân, không phụ thuộc vào anh ta đối với

hoạt động văn chương [Nguyễn Như Ý (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,

tr.220]

Đào Thản, trong tác phẩm Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm

trong thơ nôm (1998), quan niệm: “Phong cách thường được hiểu là những nét biến hóa riêng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm đạt mục đích diễn đạt nội dung Nó bao gồm các yếu tố luôn luôn được tái hiện và hình thành bền vững trong ngôn ngữ của tác giả Đối với ngôn ngữ nghệ thuật thì phong cách tác giả là kết quả của sự làm chủ các phương tiện ngôn ngữ khác nhau nhằm thể hiện nội dung tư tưởng với hiệu quả cao nhất”

Thật ra, phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của nghệ thuật, không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách riêng Chỉ có những nhà văn có tài năng thật sự, có bản lĩnh vững vàng mới có được phong cách riêng độc đáo Nét riêng của nhà văn thể hiện ở mỗi tác phẩm và được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của chính nhà văn đó làm cho ta có thể nhận ra sự khác nhau, chẳng hạn nói đến phong cách bút kí của Hồ Chí Minh là ta nói đến một cách viết hóm hỉnh, hài hước và giàu

Trang 22

tính chính luận; nói đến phong cách bút kí của Nguyễn Tuân là nói đến một phong cách tài hoa, tài từ và uyên thâm, uyên bác Cái riêng của nhà văn thể hiện ở sự lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình sáng tác biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy

Cần nói thêm rằng, ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần như tâm lí, khí chất, cá tính đều có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành phong cách nhà văn Một điều chắc chắn rằng, phong cách của nhà văn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại

Như vậy, phong cách - một khái niệm có nội hàm khá rộng, liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn ở đây - có thể hiểu là một chùm những nét riêng khác cho loại hình giao tiếp này phân biệt với loại hình giao tiếp khác Vẫn trên cơ sở này, sự khác biệt phong cách ngôn ngữ tập trung ở các phương tiện ngôn ngữ

Trên cơ sở những quan niệm vừa nêu, chúng ta có thể rút ra mấy luận điểm quan trọng về mặt lí thuyết của phong cách:

Thứ nhất, phong cách cá nhân là những điểm riêng, độc đáo thể hiện cách

thức của từng nhà văn trong việc phản ánh miêu tả, xây dựng hình tượng thông qua việc sử dụng ngôn ngữ văn học nghĩa là phong cách cá nhân thể hiện trong tác phẩm văn học là kết

quả của hoạt động ngôn ngữ đầy ý thức của nhà văn Nó là sự lựa chọn các yếu tố, các đơn

vị ngôn ngữ nhằm biểu đạt một cách đắc địa nhất những vấn đề mà nhà văn quan tâm

Thứ hai, nhà văn phải tạo ra sự khác biệt về cách sử dụng cũng như hiệu quả của ngôn ngữ nghệ thuật, và sự khác biệt này trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm (tất nhiên phải luôn gắn với yêu cầu sáng tạo cái mới), trở thành những dấu hiệu đặc trưng để

nhận diện tác giả trong một bối cảnh văn học Vì vậy phải có tài năng, bản lĩnh, ý thức sâu

sắc và tính chủ động sáng tạo theo cách riêng của mình thì mới tạo được cho mình một phong cách riêng Dù ở thể loại nào, phong cách cũng bắt nguồn từ yêu cầu của đời sống văn học và từ thực tiễn sáng tác Nhưng khi đã hình thành phong cách thì mỗi nhà văn phải

có những đặc điểm ổn định mang sắc thái độc đáo trong một giai đoạn nhất định khác hẳn với các nhà văn khác Phong cách của một nhà văn cũng phát triển theo sự trưởng thành của bản thân nhà văn

Như vậy, phong cách có thể hiểu là những đặc điểm cá tính sáng tạo của nhà văn, là nhận thức của nhà văn về cuộc sống, đó là cách nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ của nhà văn đối với thế giới, là sự tổng hợp của các đặc điểm của hình thức nghệ thuật trong sự thống nhất với nội dung Tìm hiểu phong cách của một nhà văn, chúng ta không nên chỉ nghiên

Trang 23

cứu riêng về các vấn đề như thể loại, ngôn ngữ, tư duy nghệ thuật, … mà nên xem xét chúng trong sự thống nhất, toàn vẹn của thế giới nghệ thuật, bởi các yếu tố lặp đi lặp lại như một quy luật này không tồn tại một cách độc lập mà có sự thống nhất hữu cơ với nhau để tạo nên một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh

Mặt khác, nhiều ý kiến đều thống nhất cho rằng, phong cách là một mặt do tài năng

bẩm sinh của người nghệ sĩ, bên cạnh đó điều quan trọng là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài, gian khổ, xông pha vào thực tế cuộc sống Phong cách là chất tổng hợp của tâm

hồn, trí tuệ, kiến thức học hỏi và làm việc ở cá nhân mỗi nghệ sĩ Cho nên, mọi quan điểm cho rằng phải tạo lập cho mình một cá tính, một phong cách trước khi cầm bút chỉ là một phong cách gượng ép, đưa đến sự giả tạo Thực tế cho thấy, không phải nhà văn nào cũng tạo lập cho mình được một phong cách riêng Bởi phong cách không phải ngẫu nhiên mà có

Phong cách là phẩm chất sáng tạo cao nhất của người nghệ sĩ trong quá trình đi tìm cái đẹp Nhà văn Nam Cao cho rằng mỗi nhà văn phải tạo cho mình một tiếng nói, một giọng

điệu riêng: “không nên thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào”

Vậy phong cách có đặc trưng gì nổi bật ? Trước hết, phong cách vừa có tính bền

vững, vừa có tính kế thừa Phong cách nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với thế giới quan, nhưng

nó cũng có tính độc lập tương đối của nó Nói một cách khác thì khi thế giới quan thay đổi

thì chỉ những nét phong cách nào đó tỏ ra đối lập, đối kháng với thế giới quan mới sẽ thay đổi, còn những nét phong cách nào phù hợp thì sẽ tiếp tục tồn tại Nhà văn M.Gorki từng

nói: “Nhà văn là tiếng vang của thời đại và nhân dân mình” Do đó, phong cách cá nhân

không chỉ thể hiện phong cách nhà văn mà nó còn thể hiện thời đại của nhà văn với những biến cốlịch sử của thời đại đó Vì vậy, khi nói đến tính bền vững và độc đáo của phong cách thì chúng ta cần chú ý đúng mức đến tính năng động của phong cách Phong cách không phải là cái gì khép kín, bất di bất dịch Sự thay đổi trong phong cách đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan

Tới đây, chúng ta cần bàn thêm về mối quan hệ giữa phong cách và phương pháp

Phong cách và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Sự thay đổi về phương pháp sẽ dẫn tới những thay đổi về phong cách, và ngược lại, phong cách trong quá trình hình thành và phát triển của mình cũng tác động trở lại phương pháp Có nghĩa là khi thực hiện một nhiệm vụ này hay một nhiệm vụ khác trong lĩnh vực nghệ thuật, nó yêu cầu phương pháp phải tìm ra cách thức mới mà khi tìm được thì

sẽ có những ảnh hưởng lại đến phong cách

Trang 24

Tóm lại, phong cách nói chung cũng như phong cách cá nhân nói riêng là những vấn

đề lớn, phức tạp được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Qua những ý kiến trên, chúng ta thấy tất cả các ý kiến liên quan đến phong cách đều có cơ sở lí luận và khoa học cụ thể Những kiến thức ấy đều có liên đới và có mối liên hệ bổ sung cho nhau giúp chúng tôi có thể định hình được những vấn đề lí luận khoa học để tiến hành nghiên cứu

đề tài trong luận văn này

1.2 Phong cách Nguyễn Tuân

1.2.1 Ý thức sáng tạo ngôn ngữ

Ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành và xác định phong cách của từng nhà văn Nó nằm trong hệ thống hình thức nghệ thuật của tác phẩm và đóng một vai trò lớn tạo nên vẻ đặc thù của những tác phẩm ấy Thậm chí nhiều khi việc tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu như chính bản thân phong cách nghệ thuật V.Trubin – một nhà nghiên cứu Liên Xô nhận xét: “Phong cách – đó là ngôn từ được xét

trong mối quan hệ của nó với hình tượng, là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn được đặt vào trong một văn cảnh nghệ thuật” Qua ý kiến trên, chúng ta có thể thấy ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng như thế nào

đối với phong cách văn chương

Chúng ta thấy ngôn ngữ nhà văn bao giờ cũng có tính chất riêng, cụ thể Ở Nguyễn Tuân, tính chất riêng biệt ấy được thể hiện một cách rõ nét Nhà văn Anh Đức đã có một

nhận xét sâu sắc và tinh tế về ngôn ngữ văn chương Nguyễn Tuân: “Một nhà văn mà khi ta

gọi là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ, ta không hề thấy ngại miệng Một nhà văn độc đáo

vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngòi bút đều như có đóng một dấu triện riêng”

Đó là một dấu triện khẳng định tài năng độc đáo, riêng biệt của nhà văn

Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn có ý thức giữ gìn và trân trọng sự trong sáng và

giàu đẹp của tiếng Việt – thứ tiếng mà ông nghĩ rằng “không thể nào quên được cái tiếng

Việt Nam hữu cơ, cái tiếng nói Việt Nam linh diệu ấy Có đến chết cũng không quên được

Có chết càng vẫn nhớ” [Nguyễn Tuân (1986), Chuyện nghề, Nxb Tác phẩm mới, tr.403]

Ông nhấn mạnh: “Tiếng nói hàng ngày của anh chị em rất phong phú về hình ảnh và cảm

xúc, về từ ngữ Tiếng nói ý nhị sinh động và thuần phác của giai cấp, cái tiếng nói lành mạnh của nông dân lao động có nhiều khả năng diễn tả và biểu hiện ấy, sẽ đủ chữ đủ sức chép ghi lại về sau tất cả những tinh tế muôn vẻ, tất cả những sáng kiến của anh chị em từ

Trang 25

trước tới nay và từ nay trở đi” ” [Nguyễn Tuân (1986), Chuyện nghề, Nxb Tác phẩm mới,

tr.474]

Nhà văn Nguyễn Tuân luôn quan niệm “Nghề văn là nghề của chữ” Ông cũng từng

nói: “Nghệ thuật là một sự khổ hạnh” Như vậy, ông đã thừa nhận rằng, phải đổ mồ hôi trên

từng trang bản thảo mới có thể tạo được dấu ấn riêng của mình trong lĩnh vực nghệ thuật Mỗi một trang viết là thành quả của sự khổ luyện, của những phút giây trăn trở, lựa chọn

Ông từng tâm sự, mỗi lần đứng trước trang giấy ông có cảm giác như đứng trước “pháp

trường trắng” Trong khi cầm bút nhà văn luôn xác định rõ ràng: “Cái điều mình nghĩ được

và cái điều mình cảm thấy, nay đều đã viết ra xong, đúng như mình đã cảm nghĩ, và lại viết

ra bằng một thứ ngôn ngữ mình tin là khá nhiều hiệu năng Đã nghĩ kĩ rồi mới cầm bút vào

mà viết ra Nhưng khi đã viết rồi chưa có nghĩa là xong hẳn Viết ra nhưng mà phải đọc lại Đọc lại để mà hoàn chỉnh cái đã viết tới Đọc lại bằng mắt, đọc lại bằng tai Đọc thầm bằng mắt, và đọc to lên bằng miệng để cho tai nó cũng đọc” ” [Nguyễn Tuân (1986), Chuyện nghề, Nxb Tác phẩm mới, tr.409]

Qua những trích dẫn ở trên, ta thấy đó thực sự là trách nhiệm, là ý thức của một nhà văn luôn khao khát vươn tới những chân trời sáng tạo, những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn

từ

Tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Tuân ta mới thấy thực sự ông là một nghệ sĩ bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam, Ông là người luôn làm chủ vốn chữ nghĩa phong phú của mình và sử dụng chúng một cách tài hoa, thuần thục, tinh tế và điêu luyện Trong bài tán về ngôn ngữ, Nguyễn Tuân tự cho rằng ông không phải là nhà ngôn ngữ học Nhưng qua các tác phẩm của ông, ta thấy Nguyễn Tuân hiểu sâu sắc, thấu đáo tiếng Việt và vận dụng chúng vào tác phẩm một cách tinh tế, khéo léo, điêu luyện Có thể nói, Nguyễn Tuân đạt được những thành công trong nghệ thuật vừa do tài năng bẩm sinh, vừa do nỗ lực sáng tạo không ngừng, cũng như quá trình tự học, tự khám phá của ông

Nguyễn Tuân quan niệm “nghề văn phải là nghề của chữ” Theo ông, một nhà văn

về mặt chuyên môn mà bàn thì giá trị của người đó là ở chỗ “Ông ta đã mở mang thêm vốn

liếng dân tộc về tiếng nói được tới mức nào, và đã góp phần sáng tạo của mình vào ngôn ngữ Việt Nam ra sao” Cho nên, ông có đưa ra một số tiêu chí cần có của ngôn từ văn học

cần phải có trong sáng tạo nghệ thuật

Trước hết, ngôn ngữ văn học phải trong sáng Trong sáng trong cách cảm, trong cả

cách nghĩ và nhất là trong cách nói ra những cảm nghĩ đó Mà muốn có ngôn ngữ trong sáng

Trang 26

thì cần phải nghĩ chín, nghĩ sâu: “Tâm mình thanh, trí mình sâu, thì lời nói mình mới sáng

mới đẹp” Bên cạnh đó, theo nhà văn, ngôn ngữ văn chương cần phải thực sự phong phú và giàu có Đã là nhà văn thì chữ nghĩa phải dồi dào Tuy đã có vốn từ dồi dào nhưng vẫn phải

tích lũy “vốn chữ”, phải “đóng góp thêm cho kho tàng tiếng nói” Cuối cùng, nhà văn phải

có tấm lòng nồng nhiệt, có khối óc minh mẫn, dày công khổ luyện ngôn từ “mỗi chữ phải

biết đặt vào đúng vị trí của nó” Ngoài ra, còn phải biết dùng các giác quan thích hợp để rà

xoát kĩ, đọc đi đọc lại, cả “đọc thầm bằng mắt”, “đọc to bằng miệng” Người viết văn phải

biết khai thác, tinh luyện cái quặng thô chữ nghĩa thành những sản phẩm độc đáo, sắc bén

Có thể khẳng đinh, Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn có tình cảm đặc biệt

thiết tha với tiếng Việt – một thứ tiếng mà theo Đặng Thai Mai “có những đặc sắc của một

thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”

Nguyễn Tuân luôn say sưa theo “thứ nhịp sáu tám lỗi lạc lâng lâng của Nguyễn

Du” Giữa đại hội hòa bình thế giới năm 1955, ông đã không nén hết được sự xúc động, khi

nghe chính cái tiếng nói dân tộc mình, khi nghe “cái tiếng nói Việt Nam sắc huyền hỏi ngã

nặng rất nhiều nhạc điệu và khí phách dân tộc sang sảng cất lên giữa hội trường” Ông

muốn ngôn ngữ phải giàu có mà không vẩn đục Ông ghét mọi ngôn từ sáo rỗng, những

“cánh bướm phù phiếm mà không làm nên chút mật gì”

Trong một bài viết về ngôn ngữ ông có nói: “Chao ôi, nghe đến những âm như khai,

khú, kháng, khắm, khẳn, khai mò mò, khắm lằm lặm, khét lèn lẹt, người Việt Nam yêu nước chân chính nào (yêu nước hiểu theo nghĩa cơ bản yêu tiếng nói dân tộc và ngôn ngữ văn tự của mình) mà không nổi da gà lên, mà da mình không nổi gai lên Ấy là sự diệu kỳ của ngôn ngữ Tiếng nói của dân tộc nào nói chung cũng đều có cái linh diệu của nó Và tiếng ta lại càng có cái linh diệu rất đáng quý đáng yêu của tiếng Việt Có lẽ vì thế nữa mà mặc dầu vô vàn khó khăn (nghề nào phát triển mà chẳng có cái khó khăn của nó) chúng ta vẫn đắm đuối với nghề văn, ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn lên nữa cái tiếng nói Việt Nam cổ truyền của mình” ” [Nguyễn Tuân (1986), Chuyện nghề,

Nxb Tác phẩm mới, tr.427]

Rõ ràng, ta thấy Nguyễn Tuân là một nhà văn, một nhà thực hành tài hoa và sáng

tạo với một ý thức sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của người cầm bút trong sáng tạo văn

chương

Trang 27

1.2.2 Phong cách ngôn ngữ độc đáo

Ngông là biểu hiện của sự chống trả mọi thứ phép tắc, định kiến cứng nhắc, hẹp hòi của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định

về phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân như sau: “Hạt nhân của phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa đắc chí của những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, … và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn; vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết hiện sinh …”

Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân chơi ngông một cách cực đoan Mọi sở thích, quan niệm riêng đều được đẩylên thành các thứ chủ nghĩa: chủ nghĩa duy mỹ, chủ

nghĩa xê dịch, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa ẩm thực, … Thực ra, chủ nghĩa độc đáo trong

đời sống cũng như trong nghệ thuật mà biểu hiện là thú chơi ngông của Nguyễn Tuân không

chỉ đơn thuần là phản ứng tâm lý của một cá nhân trước tấn bi kịch xã hội Nó còn bao hàm

cái khí khái của người trí thức yêu nước không cam tâm chấp nhận chế độ thực dân, tự đặt những nghịch thuyết để tách mình ra và vượt lên trên cái xã hội của những kẻ xu thời, thỏa mãn với thân phận nô lệ Như vậy, từ bản chất, cái ngông đó bao hàm một nội dung luân lý

đạo đức truyền thống Sau năm 1945, Nguyễn Tuân không còn lý do để mà gây sự, mà ném

đá vào đời như trước nữa Cái ngông tự mất đi phần cực đoan, chỉ giữ lại cái cốt cách vốn tạo nên nét độc đáo cho trang viết Thói quen và sở thích tìm cách nói mới lạ, không giống

ai khiến ngòi bút của ông luôn tràn đầy sáng tạo và có sức hấp dẫn mạnh mẽ Do đó, hoàn

toàn có thể khẳng định: cái ngông tồn tại như hạt nhân, chi phối toàn bộ các phương diện

khác của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân; từ đề tài, hệ thống nhân vật cho đến thể loại, giọng điệu, ngôn ngữ

Mới, lạ, không giống ai là những đặc điểm dễ nhận thấy ở hệ thống đề tài Mọi thứ

Nguyễn Tuân bày biện đều có hương vị đặc sản, từ những nguồn “chưa ai khơi” nên

thường tạo được cảm giác rất mạnh, ấn tượng rất sâu Đến những trang viết của ngòi bút tài hoa ấy một mặt người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình và tri thức phong phú các loại được bày biện một cách đẹp đẽ; mặt khác, khi cảm giác nhất thời qua đi, bao giờ người ta cũng thấy như yêu quý thêm một chút, tự hào thêm một chút về dân tộc mình, về thời đại mình đang sống Hóa ra những điều tưởng chừng tủm mủn, lặt vặt kia lại được Nguyễn Tuân gọi

Trang 28

về để làm sống dậy trong chúng những ý nghĩa có tính tư tưởng cao cả, chứ không nhằm thỏa mãn cảm giác hiếu kỳ, hời hợt

Hệ thống nhân vật của Nguyễn Tuân bao giờ cũng mang một dáng vẻ riêng, độc đáo

và rất đẹp – vẻ đẹp của tài hoa, của nhân cách Ở cả hai giai đoạn sáng tác, nhà văn luôn trân

trọng những “đấng tài hoa” và say mê miêu tả, chiêm ngưỡng họ Mỗi nhân vật thường

sành hơn người ở một thú chơi hoặc một món nghề nào đó, đầy tính nghệ thuật Đó là cụ Kép, cụ Sáu, cụ Nghè Món, ông Phó Sứ, ông Cử Hai, … những nghệ sĩ bậc thầy của nghệ

thuật uống trà, uống rượu, chơi đèn kéo quân và đánh bạc bằng thơ (trong Vang bóng một

thời) Là ông Thông Phu lắm tài nhiều tật, cuối cùng đã gục chết trên một ván cờ đất vì uất

ức (trong Chiếc lư đồng mắt cua) Tài hoa, một khi đi kèm với nhân cách cao thượng thì

càng đáng kính trọng Nhân vật Huấn Cao tài hoa với khí phách, nghị lực phi thường là một tính cách tiêu biểu, được Nguyễn Tuân rất mực yêu thích

Xét đến cùng, cái duyên riêng không lẫn lộn, không ai bắt chước được của Nguyễn Tuân chính là ở sự linh hoạt, phong phú đền thần tình của giọng điệu văn chương Có nhiều chi tiết tưởng rất bình thường nhưng bằng giọng điệu đọc đáo, khả năng quan sát sắc sảo, thông minh, hóm hỉnh cộng với hệ thống lý lẽ khúc triết, những triết lý có chiều sâu, nhà văn đã khiến nó trở nên lung linh kỳ ảo, gợi mở nhiều liên tưởng mới lạ Nguyễn Tuân có lối ví von, so sánh thật chính xác, mới lạ; sự vật được miêu tả trong trường liên twỏng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ Nhà văn nhưmê mẩn trong ma lực của ngôn từ và truyền được trọn vẹn đến người đọc chất men say nhiều khi kỳ quái ấy Nguyễn Tuân có một kho

từ vựng hết sức phong phú do cần cù tích lũy cả đời, với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ Ông không chỉ góp nhặt những từ sẵn có mà ông còn có ý thức sáng tạo từ và cách dùng từ mới

lạ Rất nhiều từ ngữ tưởng như đơn nghĩa hoặc cũ mòn, nhưng khi vào tay ông, chợt trở nên dồi dào sức biểu hiện

Vốn từ vựng ấy, có lúc Nguyễn Tuân dùng để chơi ngông với đời, hoặc để trêu ghẹo

thiên hạ và xót xa cho chính bản thân mình Ông tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng

cà lủng củng, dấm dẳng cứ như đấm vào họng Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được”

Trang 29

1.3 Truyện kí

Là một thể loại trung gian giữa truyện và kí Truyện kí thường tập trung cốt truyện vào một nhân vật, một danh nhân, một nhân vật lịch sử, một người anh hùng trên các mặt trận, Trong truyện kí, tác giả có thể hư cấu để câu chuyện được hoàn chỉnh nhưng phải giữ được tính xác thực của sự việc và con người

Là một loại kí đặc biệt chú trọng đến sự việc Trong “nhà văn hiện đại” của Ngọc

Phan viết “Phóng sự là thăm dò lấy sự việc và ghi lấy việc” Phóng sự nhằm phản ánh một

sự kiện, hiện tượng xã hội một cách kịp thời và thường mang tính chất điều tra, phỏng vấn, một vấn đề có ý nghĩa thời sự

Người viết phóng sự phải đáp ứng một đòi hỏi nào đó về thời sự trực tiếp của người đọc Ở đây nhà văn thường ít bộc lộ cảm xúc, suy tư nhưng lại mang tính khuynh hướng rõ rệt

chuyện và có sự khái quát cao

1.3.2.4 Bút kí

Nhằm ghi lại những sự việc, cảnh vật mà nhà văn đã mắt thấy, tai nghe cũng như cảm xúc, suy nghĩ của họ qua một chuyến đi Ở đây, những sự việc luôn xen kẽ với những yếu tố liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc Vì vậy, bút kí luôn mang đâm sắc thái trữ tình

Ranh giới của việc phân chia các thể kí nêu trên chỉ có tính chất tương đối Các thể kí luôn luôn chuyển hóa, xâm nhập lẫn nhau trong sáng tác, các nhà văn có thể không quan

Trang 30

tâm đến đặc trưng của từng thể loại mà chủ yếu là vận dụng các khả năng, phương tiện nhằm thể hiện một cách tốt nhất mục đích của mình

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về truyện kí Theo Goulaiep, “đặc trưng của

truyện kí là tính tổng hợp về đối tượng mô tả và người ta có thể tìm thấy ở đó không chỉ là những số phận mà là những bức tranh về phong tục, về đời sống kinh tế, chính trị, ” Ðặc

trưng này thực ra có thể được xác định rõ nét hơn trong tiểu thuyết Có người cho rằng đặc trưng của truyện kí là ở tính chủ quan Ðiều này có một phần căn cứ nhưng tính chất này có

lẽ được chỉ rõ nhất trong tác phẩm trữ tình Do truyện kí là một thể loại có tính chất ghi chép nên nhiều người cho rằng truyện kí phản ánh người thật, việc thật

Quan niệm này được nhiều người chấp nhận nhưng vẫn chưa lí giải một cách thuyết

phục tại sao lại gọi Ðất nước đứng lên, Thép đã tôi thế đấy, là tiểu thuyết mà gọi Người

mẹ cầm súng, Sống như anh,… là kí Việc xác định một khái niệm đúng đắn về kí khó khăn

một phần vì trong kí có nhiều loại khác nhau, phần khác vì cách gọi tên của các nhà văn đối

với tác phẩm của mình Chẳng hạn Tây du kí của Ngô Thừa Ân là một tiểu thuyết, Nhật kí ở

rừng của Nam Cao là một truyện ngắn Muốn giải quyết vấn đề này, cần xem xét truyện kí

một cách có hệ thống

Do đặc điểm viết về người thật - việc thật nên mục tiêu, phương hướng của người viết truyện kí là phải luôn luôn phấn đấu theo hướng xác thực tối đa như là một ý thức trách nhiệm thông tin cho người đọc chứ không phải là sáng tạo nên một thiên nhiên thứ hai như

trong truyện

Tuy nhiên, đã là một tác phẩm nghệ thuật, không thể không nói đến hư cấu Vì vậy,

có thể nói đến một số trường hợp hư cấu trong truyện kí

Như trên đã nói, tác phẩm truyện kí viết về sự thật nhưng thực ra, cứ giả định rằng,

có sự thật đang "Dâng sẵn, đón chờ" và nhà văn có tư tưởng, tình cảm hoàn toàn đúng đắn chỉ việc ghi chép lại thì trước khi ghi chép, ít nhất cũng phải nghe hoặc thấy, tức là nghe kể lại hoặc chứng kiến Trong trường hơp chứng kiến và viết lại, nhà văn vẫn không thể bao quát hết mọi sự việc hoặc nhớ hết mọi sự diễn biến một cách tường tận Trong trường hợp nhà văn chỉ nghe kể lại mà không chứng kiến thì có thể sẽ nghe từ nhiều nguồn khác nhau -

Trang 31

trực tiếp hoặc gián tiếp - và trong trường hợp nào, người kể cũng không thể biết hết, nhớ hết

Vì vậy, trước khi đặt bút viết, người viết truyện kí chỉ có một mớ tư liệu lộn xộn, nhiều lỗ hổng, chưa móc nối được tư liệu với nhau Vì thế, nhà văn buộc phải sử dụng trí tưởng tượng và hư cấu nhằm làm cho bức tranh trở nên hợp lí, liên tục và hấp dẫn hơn

Người viết truyện kí không thể tự do tưởng tượng và hư cấu thế nào cũng được Về nguyên tắc, những thành phần xác định của người thật - việc thật (ngoại hình, tên tuổi, lai lịch, nguồn gốc gia đình ) người viết phải phấn đấu thể hiện xác thực đến mức tối đa Nhà văn có thể hiện được hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không xác định (như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, những nhân vật phụ ) cũng như việc sắp xếp, tổ chưc

Trang 32

CHƯƠNG HAI: TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG

TRUYỆN KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN

2.1 Xét trên bình diện từ ngữ

2.1.1 Khái niệm “từ”

Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ”, trong

thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về đơn vị này, tuy nhiên, ở đây người viết chỉ xin được nhắc lại một số quan niệm cơ bản nhất được nhiều người ủng hộ nhằm mục đích làm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá những đặc điểm nổi bật về từ trong truyện kí của Nguyễn Tuân, qua đó góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của ông

Một trong những quan niệm được công nhận rộng rãi về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất

có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [Mai Ngọc Chữ - Vũ Đức Nghệu - Hoàng

Trọng Phiến (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục]

Theo Nguyễn Văn Tu, “Từ là một đơn vị đặc biệt có thể diễn đạt một nội dung tối

thiểu đầy đủ và phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác […] Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp Chúng ta gọi từ là đơn vị trung tâm vì từ có đầy đủ những tiêu chuẩn của đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị quan trọng nhất”

Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là một

hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy, âm thanh và hình thức chỉ là những phương tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng” [Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ (tập 2, Từ hội học), Nxb Giáo dục, tr.3]

Đi sâu vào khái niệm từ trong tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ tiếng Việt là

những phân đoạn ngữ âm cố định, bất biến, phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ 1/1

số lượng hình vị và phương thức cấu tạo, toàn bộ ứng với một hoặc một số từ - ngữ nghĩa gồm một khuôn từ loại và những nét nghĩa riêng cho mỗi từ và ứng với một tập hợp những đặc điểm ngữ pháp chủ yếu mà ngoài từ phù hợp với mỗi từ - ngữ nghĩa Đó là những đơn

vị trong hệ thống từ vựng tiếng Việt - tức là lớn nhất trong hệ thống từ vựng tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu, chứa đựng trong bản thân những cấu trúc từ - ngữ nghĩa, từ - cấu tạo

Trang 33

và từ - ngữ pháp, chúng cho nhiều từ khác cùng loại” [Đỗ Hữu Châu (1968), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, tr.139]

Luận văn nhất trí với những quan niệm cho rằng từ là đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ và nó có cấu tạo hoàn chỉnh gồm hai phần cơ bản: phần vỏ âm thanh và phần ruột ngữ nghĩa Từ muốn tồn tại như một đơn vị ngôn ngữ thực sự phải có sự cấu thành của hai tiêu chí vừa nêu

2.1.2 Vấn đề sử dụng từ ngữ trong văn xuôi và trong truyện kí

Chúng ta đồng ý với nhau rằng văn học là nghệ thuật ngôn từ Tuy nhiên, muốn hiểu được một cách sâu sắc, cặn kẽ bản chất thẩm mỹ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng

như trong phong cách ngôn ngữ của nhà văn thì ta nhất thiết phải gắn nó với thể loại bởi vì:

“Mỗi thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại ấy” [Phan Ngọc

(1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội] Chúng

ta có thể áp dụng quan điểm này để nhìn nhận, xem xét và đánh giá mọi biểu hiện của các cấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn học má cụ thể ở đây là cấp độ từ ngữ

Xuất phát từ những quy định của thể loại mà từ ngữ trong thể loại truyện kí có những đặc trưng riêng và những đặc trưng sẽ rõ ràng hơn khi ta so sánh từ ngữ trong văn xuôi nói chung, trong truyện kí nói riêng với từ ngữ trong một thể loại khác, cụ thể là trong thơ

Trước hết, từ ngữ trong thơ - xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy - không phải là một thứ gì cao siêu hoặc xa lạ mà đó vẫn là những từ ngữ của đời sống, được chắt lọc từ vốn

từ ngữ chung của dân tộc Điều đó cho phép chúng được luân chuyển, tồn tại trong nhiều ngữ cảnh khác nhau với những mục đích sử dụng khác nhau Rõ ràng là nhà thơ không sản sinh ra từ mới trước đó chưa hề có mà chỉ sử dụng chúng bằng năng lực sáng tạo của mình

Có những trường hợp dùng từ của nhà thơ được xem là bí hiểm, khó hiểu Cái khó hiểu ở đây không nằm trong nội hàm từ ngữ mà do sắp xếp, cấu trúc ngôn từ của văn bản Cấu trúc ngôn từ trong tác phẩm thơ rất đặc biệt, nó mã hóa những ý tưởng, tình cảm của tác giả để độc giả phải giải mã mới thấy hết được giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm Xuất phát từ điều này mà nhiều người thống nhất rằng nghĩa của từ trong thơ là một thứ nghĩa được tạo sinh bởi quan hệ chứ không còn là nghĩa tròn trịa như trong từ điển Trong quá trình sáng tạo văn học, loại hình tác phẩm rất quan trọng bởi đây là yếu tố quyết định sự lựa chọn vật liệu kiến tạo nên tác phẩm Trong thơ, từ ngữ thường được lựa chọn bởi nhiều căn cứ, điều kiện áp chế như: cảm hứng, phong cách tác giả, thể thơ, âm luật, … với các thể thơ cổ điển có kết cấu chặt chẽ, có thi luật khắt khe thì áp lực về những bó buộc khá nặng

Trang 34

nề Về lí thuyết mà nói, mọi từ ngữ đều có thể được đưa vào trong thơ, nhưng trong thực tế thì từ ngữ trong thơ được lựa chọn một cách rất kỹ càng Để diễn tả một ý tưởng có thể phải lựa chọn trong hàng trăm từ mới có được một từ vừa ý Chính vì vậy, từ ngữ trong thơ mang tính chọn lọc cao

Khác với thơ, văn xuôi nói chung, truyện kí nói riêng phản ánh, tái hiện cuộc sống một cách toàn diện trong đó có tâm lý con người với sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó Ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, vì vậy, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi sự biến đổi thậm chí mang cả nguyên bản từ ngoài cuộc sống vào trong tác phẩm Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là từ ngữ văn xuôi không cần có sự lựa chọn, trau chuốt, chỉ có điều sự lựa chọn, trau chuốt ở đây khác với trong thơ Về vấn đề này, Đào Thản cho

rằng: “Ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một độ chính xác lí tưởng về mặt miêu tả Điều

này trước hết và chủ yếu được quyết định bởi tài nghệ của nhà văn song cũng phải kể đến sức mạnh và tiềm năng của sức mạnh biểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả các yếu tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” đối với các phương tiện thể hiện Ở đây, không có biện pháp nào được đánh giá là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể được ưa dùng, quen dùng hơn trong những thời kì, những xu hướng hoặc những tác giả nhất định” [Đào Thản, Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ

thuật, Nxb Khoa học xã hội, tr.202]

Từ suy nghĩ này của Đào Thản, chúng ta nhìn nhận rõ hơn đặc điểm của từ ngữ trong văn xuôi hiện đại Một điều dễ nhận thấy là với cách tổ chức khá phóng túng nên ngôn ngữ văn xuôi có thể chấp nhận mọi lớp từ, mọi cách nói, không phân biệt sang hèn, thanh tục, cao thấp miễn sao chúng thể hiện có hiệu quả ý đồ nghệ thuật của người viết Đặc biệt trong thể loại truyện kí, người viết có thể “múa bút” một cách thoải mái và linh hoạt, hay dùng những lớp từ “độc chiêu” theo sở trường và phong cách của mình

Bởi sự phong phú của nó, từ ngữ trong văn xuôi thường có nhiều cách tiếp cận Nhà

từ vựng học thống kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tương quan với vốn từ của toàn dân rồi đặt trên quan điểm đồng đại để rút ra nhận xét Nhà ngữ pháp học thì quan tâm đến vấn đề từ loại, cách tạo từ trong tác phẩm và đối chiếu với đặc điểm từ loại và đặc điểm cấu tạo từ trong ngôn ngữ chung Còn nhà ngữ dụng học quan sát trong tác phẩm của nhà văn ở

sự hành chức của nó

Trang 35

Với người nghiên cứu phong cách tác giả, khảo sát từ ngữ để nhận ra những dấu ấn riêng của một tác giả là điều không thể bỏ qua trong việc khái quát đặc điểm của ngôn ngữ nhà văn Bằng phương pháp thống kê, chúng ta có thể có được số liệu chính xác về vốn từ của một tác giả Sự giàu nghèo trong vốn từ của các nhà văn hoàn toàn khác nhau, điều này tùy thuộc vào vốn sống, trình độ, khả năng tích lũy của mỗi người

Thực tế đó đặt ra cho người nghiên cứu phong cách tác giả một hướng tiếp cận riêng, được cụ thể hóa bằng những thao tác rõ ràng Trước hết, phải khảo sát vốn từ của đối tượng đang tìm hiểu để thấy những lớp từ nào được dùng phổ biến, xuất hiện với tần suất cao trong tác phẩm cũng như những yếu tố nổi bật phân biệt rõ nét với những tác giả cùng thời Mặt khác, phải khái quát được những trường diễn ngôn và tương ứng với chúng là những trường từ vựng cơ bản trong tác phẩm của nhà văn đó

Bên cạnh đó phải thấy được trong hệ thống từ ngữ của nhà văn được khảo sát có những đặc điểm gì nổi bật về nguồn gốc hay phạm vi sử dụng, … Cuối cùng, phải đánh giá một cách thỏa đáng những sáng tạo độc đáo riêng của nhà văn trong cách dùng từ ngữ Những điều cơ bản trên đây sẽ được người viết quán triệt khi tìm hểu hệ thống từ ngữ trong các tác phẩm truyện kí của Nguyễn Tuân

2.1.3 Đặc điểm về cách dùng từ của Nguyễn Tuân

“Nghề văn là nghề của chữ … Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa sinh sự để sự sinh” Ý

kiến này của Nguyễn Tuân một mặt đã nêu được bản chất lao động của nhà văn; mặt khác, chỉ ra chất liệu đặc thù của văn học Thực tế không người cầm bút nào cũng hiểu thấu đáo đặc điểm chất liệu mà họ dùng để tạo nên sản phẩm nghệ thuật Chỉ những ai thực tài, có quan niệm thẩm mĩ riêng, có ý thức trau dồi nghề nghiệp bền bỉ mới mong nắm được công năng cũng như hạn chế của vật liệu và mới có thể hình thành nhãn quan ngôn ngữ qua sáng tạo văn học

Một đời làm nghề văn, Nguyễn Tuân có nhiều dịp phát biểu những suy nghĩ về công việc viết lách; về những sở trường, sở đoản; những thị hiếu sở thích cá nhân; những hay dở, thành bại; những kinh nghiệm, những ngón nghề, … và nhất là về tiếng Việt, thứ bảo vật truyền đời mà ông hết lòng yêu quý Nguyễn Tuân từng nguyện đem tâm lực của mình góp phần “xây cao thêm cái lâu đài ngôn ngữ dân tộc lung linh diễm lệ” Từ những lời “tán” tùy hứng và phóng túng nhưng thể hiện sự am tường rất sâu về tiếng Việt đến những sản phẩm nghệ thuật phong phú, đa dạng thuộc nhiều thể loại, Nguyễn Tuân đã tự bộc lộ nhãn quan ngôn ngữ độc đáo của mình Với một mĩ cảm riêng, trong tay Nguyễn Tuân, ngôn ngữ

Trang 36

không chỉ là phương tiện biểu đạt nội dung mà chính nó cũng là thông tin thẩm mĩ Điều

tưởng chỉ có được ở địa hạt thơ trữ tình hóa ra lại rất phổ biến trong văn xuôi Nguyễn Tuân Thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân, người đọc có thể nhận ra chất thơ trong văn xuôi tự sự, truyện thì đậm chất tùy bút, trong kí có yếu tố tiểu thuyết … Chính ở chỗ “hỗn mang” bất định này, ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã phô bày hết mọi sắc màu, mọi phẩm chất thẩm mĩ của nó

Về mặt từ vựng, Nguyễn Tuân đã tự trang bị cho mình một vốn liếng có lẽ không thua kém bất cứ nhà văn nào cùng thời Ông biết “làm giàu” bằng nhiều cách thâu góp từ ngữ trong cuộc đời sinh động và qua sách vở; vận dụng tối đa các phương thức tạo từ trong tiếng Việt để tạo từ mới lạ Cái lạ được Nguyễn Tuân thể hiện trước hết ở cấp độ từ ngữ

Chẳng hạn như, ông gọi thuốc lào là cỏ tương tư, trí thức là bọn bán óc, thơ lục bát là cách

nói sáu tám, chết được gọi là mạch sống đứt phựt, đưa năm được dùng thay cho tiễn năm

cũ, khuôn mặt được gọi là khổ mặt, tàu hỏa thành ô-tô ray, đèn pha ô-tô được thay bằng

con mắt điện, vành trăng được gọi là sừng trăng, quan tài được gọi bằng thùng gỗ, kim

đồng hồ thay bằng que đồng hồ, cao cờ thì nói xinh cờ, giật lửa thay cho vay nóng, cha mẹ

thì gọi bằng hai đấng tác giả đời tôi, đi ảnh thay cho chụp ảnh, …

Chúng ta ai cũng biết rằng, từ ghép là loại từ có kết cấu bền vững Các hình vị trong

từ ghép vốn có quan hệ với nhau rất chặt, nhưng trong văn Nguyễn Tuân, chúng lại được tách ra, gián cách nhau trong một cụm hoặc một câu, tạo âm hưởng, nhấn mạnh để gây ấn tượng Với cách này mỗi âm tiết lại phát huy ý nghĩa riêng của nó, thay vì cả hai âm tiết cùng diễn tả một ý nếu đặt gần nhau như bình thường

Chẳng hạn khi nói về những vị quan đỗ đạt nhưng không muốn tiến xa trên con

đường hoạn lộ, Nguyễn Tuân gọi họ là người “có khoa mà không có hoạn” (“Một cảnh thu

muộn”) Hay khinói về tình cảm của người dân quê đốivới cụ Nghè Móm vừa từ quan về

Trang 37

vị “dân chi phụ mẫu” Nhân vật của Nguyễn Tuân chính là những nhà Nho gần với quan niệm ấy, những người có “khoa”, nghĩa là có học hành đỗ đạt nhưng không có “hoạn”, nghĩa là không lấy con đường làm quan làm mục đích tiến thân Nếu bảo họ là người không

có “khoa hoạn” thì không đúng vì họ có học hành khoa cử, nhưng bảo họ có “khoa hoạn” thì cũng không ổn vì họ không hẳn theo “nghiệp” làm quan Cách tách từ của Nguyễn Tuân

có lạ tai nhưng quả thật đã diễn tả được những nét nghĩa rất tinh tế mà đôi khi người đọc vội vàng có thể bỏ qua

Không những thế, cách tách từ còn là phương tiện để Nguyễn Tuân biểu thị thái độ mỉa mai đối với bọn người đáng được mỉa mai Đó là quan Đổng lý Quân vụ quen ngả mình

trên ghế bành “vàng và son” với một sự quan liêu, phô trương và hách dịch trong “Bữa rượu máu” Đó còn là những đứa “dốt cay dốt đắng” vung tiền để học đòi thú chơi tao nhã

trong “Đánh thơ”, …

Đọc hàng loạt các trang truyện kí của Nguyễn Tuân, người đọc còn bắt gặp hiện

tượng tách từ khá nhiều Chẳng hạn thành ngữ “màn trời chiếu đất” được Nguyễn Tuân

diễn đạt lại cho thấy cụ thể hơn cảnh âm u hoang dã của rừng Hưng Hóa, nơi hai đứa trẻ thơ dắt nhau chạy loạn:

Màn trời … có những vòm cây lá âm u Chiếu đất … có những cỏ áy, sim lụi và

những cành cây mục bở với những đàn kiến lửa nối nhau ngày đêm bò liền liền như là quan quân đi tiễu giặc.”

(Ngôi mã cũ)

Rồi thì:

sốt và rét; những đoạn gông đã bóng thì loáng; những cái sở đắc về thanh và sắc

của mình; một cái nghề tinh, một cái thân được vinh nhàn, …

Nào là :

chùm tóc vừa mới tơ đã nhuộm màu tang; tạc bằng khối ngọc bích đều sắc, nhẵn và

bón g; ông trời chơi miếng khăm; …

Tất cả thể hiện sự tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo của Nguyễn Tuân khi sử dụng lại vốn từ tiếng Việt sẵn có, làm cho nó mới hơn, hấp dẫn người đọc bằng nét phong cách riêng mà tác giả thổi vào từng con chữ Đồng thời, chúng tôi cho rằng cách tách từ như thế phần nào phù hợp với giọng văn đủng đỉnh, nhịp văn chậm rãi trầm lắng – đặc trưng nổi bật của phong cách truyện kí của Nguyễn Tuân

Trang 38

Nguyễn Tuân luôn kích thích độc giả bằng những từ ngữ, câu chữ mới mẻ, lạ lùng, tác động mạnh vào các giác quan Dường như, không bao giờ ông thỏa mãn với lối diễn đạt trung tính, thông thường Có những cách nói hết sức đơn giản nhưng qua cách nói của Nguyễn Tuân, người đọc phải xuyên qua bao lớp “trùng vi ngôn từ” mới có thể nắm được

cái lõi của sự vật, hiện tượng, mới hiểu đúng ý đồ nghệ thuật của ông Theo Thụy Khê: “Lối

nói tân kì này người ta gọilà biện pháp siêu thực và biện pháp đó có mặt trong văn Nguyễn Tuân là do ông tự sáng tạo, phi trường phái, không vay mượn, không chịu ảnh hưởng từ đâu hết” [Thụy Khuê (2003), Thi pháp Nguyễn Tuân, tr.80]

Có thể tìm thấy vô số những dẫn chứng kiểu này trong truyện kí của Nguyễn Tuân Đây là một trong những “bí thuật” mà Nguyễn Tuân ưa dùng để làm giàu thêm vốn từ và luôn thay đổi “thực đơn” cho người thưởng thức, dẫu có lúc vì điều này mà ông không khỏi mang tiếng là cầu kì, là “vầy vò chữ nghĩa” và thiếu tính đại chúng Chính vì vậy mà không

dễ cảm thụ tác phẩm của ông nếu thiếu sự chú giải cẩn thận

Có thể nói, Nguyễn Tuân là người chăm nhặt chữ và quý chữ Văn của ông viết rất

kĩ, có người từng nói ông “chọn từ như bà nội trợ đảm đang chọn quả”, đó là một kho từ

vựng hết sức phong phú, là thứ “tài sản” vô giá mà nhà văn đã tích lũy được trong quá trình lao động nghệ thuật lâu dài của mình Ông có được vốn từ ấy là nhờ tình cảm thiết tha với tiếng mẹ đẻ Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng, Nguyễn Tuân là một người cầm bút

luôn có ý thức sáng tạo ra những từ mới và cách dùng từ mới: “Vốn từ vựng của người viết

văn như nước đối với cá Từ càng giàu có, người viết càng thả sức tung hoành Đọc Nguyễn Tuân thấy ông như con cá vùng vẫy thoải mái giữa hồ sâu nước cả là vì thế” (Nguyễn Đăng

Mạnh) Nhiều từ ngữ bình thường khi đi qua lăng kính thẩm mỹ của Nguyễn Tuân được ông

gọt dũa, kết ghép, sắp đặt đã trở nên mới mẻ, có giá trị thẩm mỹ cao và điều quan trọng

nhất là giúp cho nhà văn truyền tải thông tin, cảm xúc một cách ấn tượng

Và cũng không phải vô cớ trong văn Nguyễn Tuân, từ Hán Việt, nhất là những từ mới mẻ, lạ tai, có thể còn xa lạ đối với nhiều người được ông sử dụng một cách thật phóng túng

2.1.3.1 Đặc điểm sử dụng từ Hán Việt

a Khái lược về từ Hán Việt

Xuất phát từ vị trí lãnh thổ và lịch sử phát triển của Việt Nam, văn hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng của chúng ta chịu sự ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa và ngôn ngữ Trung Hoa

Trang 39

Một thời gian khá dài, dưới sự đô hộ của các thế lực phong kiến phương Bắc, chữ Hán được đưa vào sử dụng một cách phổ biến ở mọi lĩnh vực đời sống của nhân dân ta Quá trình này diễn ra rất phức tạp, trong suốt các triều đại phong kiến nhà Hán đô hộ Việt Nam Lần thứ nhất, sau khi xâm chiếm nước ta, nhà Hán chia Việt Nam thành 9 quận và lấy Long Biên làm thủ phủ Dưới ách đô hộ bạo tàn của nhà Hán, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa nhưng thất bại Lúc ấy, tiếng Hán (Hán cổ) đã du nhập vào nước ta Sau thời kì đó, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Đường Bấy giờ, chữ Hán đã xâm nhập vào đời sống nhân dân

ta một cách toàn diện qua con đường khẩu ngữ và con đường sách vở Chính vì vậy, vốn từ

có nguồn gốc từ Trung Quốc trong tiếng Việt rất lớn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, những từ gốc Hán này đã bị Việt hóa sâu sắc, do đó lớp từ gốc Hán thực sự đã trở thành một

bộ phận hết sức quan trọng của tiếng Việt

Trong tiếng Việt, những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt,

ta gọi đó là từ gốc Hán Có thể định nghĩa một cách đơn giản rằng: “Tiếng Hán - Việt là

những tiếng Hán phát âm theo lối Việt Ban đầu đó là những chữ Hán mà khi đọc trong sách Trung Hoa, các nhà tri thức ta đọc trại đi theo giọng Việt” [Bùi Đức Tịnh, Văn phạm Việt Nam, Sài Gòn, tr.10]

Tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt có thể chia làm ba loại:

Thứ nhất là các từ Hán cổ Đó là những từ du nhập từ thời kì Triệu Đà và nhà

Hán thống trị nước ta Cho tới đời Đường, những từ gốc Hán có sự biến đổi về mặt ngữ âm

Thứ hai là toàn bộ hệ thống từ Hán du nhập vào nước ta từ đời Đường

Thứ ba là những từ Hán đã được Việt hóa Đó là những từ Hán đã biến đổi theo khẩu ngữ của tiếng Việt Theo tác giả Bùi Đức Tịnh: “Từ Hán Việt là những từ tiếng

Hán phát âm theo lối Việt, ban đầu đó là những chữ Hán mà khi học trong sách Trung Hoa, các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt” [Nguyễn Như Ý (1998a), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa thông tin, tr.369]

Ta thấy rằng trong quá trình phát triển của mình, tiếng Việt chịu sự ảnh hưởng sâu sắc các yếu tố của tiếng Hán, bởi sự giao thoa diễn ra trong một thời gian khá dài Chính vì vậy mà trong vốn từ tiếng Việt hiện nay, thành tố Hán Việt, các từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ rất cao Đây là vấn đề mà đã có không ít người cho là một trong những nguyên nhân làm cho tiếng Việt thiếu đi sự trong sáng Thật ra, trong thực tế hoàn toàn không phải như vậy, trong quá trình phát triển, tiếng Việt bắt buộc phải tiếp nhận một số lượng lớn từ gốc Hán

Trang 40

nhưng không vì vậy mà tiếng Việt mất đi sức sống của mình mà trái lại điều đó đã làm tăng thêm sự phong phú cả về vốn từ lẫn khả năng diễn đạt cho mình Thực tế cho thấy rằng, trong phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, từ Hán Việt chiếm ưu thế vượt trội Kiến giải vấn đề này có nhiều nguyên nhân, nhưng điều quan trọng nhất là xuất phát từ yêu cầu về diễn đạt của phong cách chức năng Thật khó mà thay thế những từ Hán Việt có mặt trong văn bản có tính chính thức của

xã hội Việt Nam

Có thể nói, ảnh hưởng của từ Hán đối với tiếng Việt là rất lớn Vì vậy, ta không tránh khỏi việc lạm dụng từ Hán một cách thái quá Để hạn chế phần nào việc lạm dụng từ Hán, ông cha ta đã sáng tạo ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán Đó là biểu hiện của tinh thần tự cường dân tộc Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ chủ tịch đã chú ý vấn đề sử

dụng chữ Hán Trong cuốn Sửa đổi lối làm việc Bác đã viết: “Chúng ta không chống mượn

tiếng nước ngoài để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm” nhưng “chúng ta phải chống lại cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu”

Điều đáng lưu ý là trong cuộc đấu tranh giữa từ Hán và từ Việt, ông cha ta đã khéo léo tạo ra những từ mới bằng việc lợi dụng vốn từ của tiếng Hán Những từ mới được tạo ra

có thể bằng việc kết ghép hai từ tố Hán, hoặc có thể gồm một từ tố Hán với một từ tố Việt Điều này giúp cho vốn từ tiếng Việt phát triển phong phú đáp ứng được các yêu cầu trao đổi

tư tưởng tình cảm của xã hội

Tóm lại, từ Hán Việt là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của tiếng Việt, nó có số lượng khá lớn và có vai trò không thể thiếu trong ngôn ngữ dân tộc

b Lớp từ Hán - Việt trong truyện kí của Nguyễn Tuân

Là nhà văn được học tập và trưởng thành tại Hà Nội - nơi mà tiếng Hán có sự ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sống cũng như trong học thuật Mặt khác, là người ham thích và

có khả năng tiếp nhận cũng như vận dụng các yếu tố Hán Việt nhuần nhuyễn, điêu luyện Bởi vậy, trong tác phẩm của mình Nguyễn Tuân đã thể hiện một sự am tường đến uyên bác

khi sử dụng từ Hán Việt

Nhìn nhận, khảo sát từ ngữ trong truyện kí của Nguyễn Tuân chắc chắn người nghiên cứu phải quan tâm đến bộ phận từ Hán Việt, lớp từ mà ông sử dụng khá phổ biến và rất

thành công trong các sáng tác của mình, đặc biệt là trong thể loại truyện kí, bởi Nguyễn

Tuân là một nhà văn tinh tường Hán học, vốn từ vựng gốc Hán của ông rất phong phú Và

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w