1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tập thơ “hải ông thi tập” của đoàn nguyễn tuấn

143 367 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 751,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là lí do mà chúng tôi muốn đi vào khảo sát toàn bộ tập thơ “Hải Ông thi tập” với hi vọng có thể xác định được những đóng góp của Đoàn Nguyễn Tuấn trong nền văn học Tây Sơn nói riêng v

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

….o0o…

Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2011

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

….o0o…

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1- Lí do ch ọn đề tài 5

2- L ịch sử vấn đề 6

3- Phạm vi nghiên cứu 9

4- Phương pháp nghiên cứu 10

5- C ấu trúc luận văn: 11

6- Đóng góp của luận văn 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ THƠ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN 13

1.1- Thời đại 13

1.1.1- Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến trên phạm vi cả nước: 13

1.1.2- Phong trào nông dân Tây Sơn 16

1.1.3- Triều đại Nguyễn – Tây Sơn 23

1.2- Cuộc đời 28

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ “HẢI ÔNG THI TẬP” 32

2.1- “Hải Ông thi tập” – hình ảnh khúc xạ của hiện thực đương thời 32

2.1.1- Ánh hào quang của một triều đại 32

2.1.2- Vị thế của một dân tộc bất khuất: 42

2.1.3- Bức họa Thăng Long thành: 53

2.2- “Hải Ông thi tập” – bức chân dung con người cá nhân nhà thơ 64

2.2.1- Nỗi nhớ quê nhà 65

2.2.2- Nỗi niềm dâu bể 72

2.2.3- N ỗi ân hận lầm sa vào vòng tục lụy 75

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TẬP THƠ “HẢI ÔNG THI TẬP” 94

3.1- Ngôn ng ữ nghệ thuật 94

3.1.1- Từ ngữ 94

3.1.2- Câu 95

3.2- Giọng điệu nghệ thuật 109

3.2.1- Giọng tự hào, sảng khoái 112

3.2.2- Giọng u buồn 114

3.2.3- Giọng cảm thương, ngậm ngùi 115

Trang 4

3.3- Th ời gian nghệ thuật 119

3.4- Không gian nghệ thuật 126

3.1.1- Không gian xa cách 127

3.1.2- Không gian sông nước 133

KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

Trang 5

MỞ ĐẦU 1- Lí do ch ọn đề tài

Văn học trung đại là một giai đoạn có vị trí hết sức quan trọng trong

tiến trình vận động của nền văn học nước ta Trải qua mười thế kỉ với biết bao biến cố lớn của lịch sử, văn học trung đại đã lưu giữ những di sản tinh thần quý giá của cha ông ta như một minh chứng cho bản sắc văn hóa của dân tộc không hề mai một Tìm về với văn học trung đại là tìm về với bản lĩnh văn hóa Việt Nam, với những giá trị truyền thống của con người Việt Nam

Trong việc nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, có thể nói văn học thời Tây Sơn chiếm một vị trí khá khiêm tốn Văn học thời kì này không có nhiều công trình đồ sộ, lực lượng sáng tác cũng không đông đảo và đặc biệt là thời gian tồn tại của nó quá ngắn ngủi Bởi vậy, nhắc đến văn học thời kì này người ta thường chỉ nghĩ ngay đến tác gia Ngô Thì Nhậm, người đứng đầu dòng văn học yêu nước thời Tây Sơn Tuy nhiên, bên cạnh Ngô Thời Nhậm, văn học thời kì này còn có nhiều tác giả, tác phẩm văn học khác chưa được giới nghiên cứu chú ý nhiều Đoàn Nguyễn Tuấn là một trong số đó Ông có

số lượng sáng tác khá dày dặn (khoảng 250 bài), lại là nhà thơ hình thành được cho mình một phong cách riêng May mắn cho chúng tôi được tiếp cận với tập thơ “Hải Ông thi tập” của ông do viện Hán Nôm dày công biên soạn Điều đó giúp chúng tôi có thể bước đầu mở cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật của ông, từ đó khám phá sự đa dạng, phong phú của văn học Tây Sơn

Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn ít nhiều đã được chú ý nhưng chưa được nghiên

cứu một cách hệ thống Đó là lí do mà chúng tôi muốn đi vào khảo sát toàn bộ tập thơ “Hải Ông thi tập” với hi vọng có thể xác định được những đóng góp của Đoàn Nguyễn Tuấn trong nền văn học Tây Sơn nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung

Trang 6

2- L ịch sử vấn đề

Sách Tây Sơn thuật lược (không rõ tác giả) cho biết: “Ở trong làng

mình, ông (Đoàn Nguyễn Tuấn) đã từng làm một ngôi nhà sàn giữa vườn hoa gọi là Phong nguyệt sào (Tổ gió trăng) để thường đến đấy ngâm vịnh, tự gọi

là Sào Ông, dường như tự cho mình là Sào Phủ.”

Theo đánh giá của Ngô Thì Nhậm, người cùng thời với Đoàn Nguyễn Tuấn: Thơ ông "đầy ý vị, ai oán mà hài hoà, trầm tư mà ngay thẳng"

Viện nghiên cứu Hán Nôm trong Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn – Hải

Ông thi tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982 đã đề cập đến tiểu sử Đoàn

Nguyễn Tuấn và khảo sát các văn bản thơ ông

Mai Quốc Liên trong công trình nghiên cứu Ngô Thời Nhậm trong văn

học Việt Nam, Sở văn hóa thông tin Nghĩa Bình, 1985, dành một phần nhỏ

đánh giá về Đoàn Nguyễn Tuấn: “Ra cộng tác với Tây Sơn năm Canh Tuất (1790), Đoàn Nguyễn Tuấn (? - ?) được sung vào sứ bộ giao hiếu với nhà Thanh Ông đã sống những ngày say sưa, mới mẻ, con mắt và tấm lòng mở rộng: “Nhất bôi thiên địa ky hoài khoát, Mã thủ giang sơn lão nhãn minh” (Đất trời một chén lòng xa rộng, Sông núi bên đường mắt mở to) Đoàn Nguyễn Tuấn có một chuyển biến sâu sắc và mãnh liệt hơn trong tình cảm, nhận thức,và sự chuyển biến đó được ghi lại trong thơ Trong hơn 500 bài thơ còn lại của ông, nổi bật lên những bài phản ánh khí thế chiến thắng và lòng tự hào dân tộc thời đại Quang Trung Chính những bài thơ như vậy giữ Đoàn Nguyễn Tuấn ở lại với văn mạch dân tộc.”

Trong công trình này, Mai Quốc Liên cũng đánh giá vị trí của Đoàn Nguyễn Tuấn trong sự so sánh với các nhà thơ cùng thời:

“Ra đi từ một chân trời cũ, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn…đã đến với một chân trời mới, rộng mênh mông của lịch sử dân tộc Điều đáng tiếc là sáng tác của họ về chủ đề này chỉ lóe lên như một ánh chớp

Trang 7

đẹp Chất lượng những bài thơ văn ấy dù cao sâu, nhưng số lượng quả là quá

ít, không đủ để định nghĩa sáng tác của mỗi người Những bài thơ ấy của họ

đã đề cập đến những vấn đề quan trọng của lịch sử đương thời, đã mang được cảm hứng tự hào về dân tộc thật là rạng rỡ, nhưng dù sao vẫn còn là quá ít để nói về một thời đại.[…] Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn chỉ triển khai một, hai mô-típ của chủ đề yêu nước, còn ở Ngô Thời Nhậm thì đã triển khai hầu như tất cả các mô típ Điều quan trọng đặc biệt là chủ đề ấy được Ngô Thời Nhậm khơi sâu với một chiều sâu hiếm thấy bằng tâm huyết, tài năng, tư tưởng của mình, tạo nên một ngọn núi hùng vĩ trong thơ văn yêu nước của thế

kỉ XVIII.”

Phương Lựu trong Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung

đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1997 có đề cập đến một bài thơ của Đoàn

Nguyễn Tuấn qua lời bình của Ngô Thời Nhậm: “Những bài tựa, bài bạt, bài bình nói chung là cho cả một tập thơ, nhưng thảng hoặc cũng bắt gặp được những lời bình cho riêng một bài thơ đã đi sâu vào thế giới nghệ thuật hết sức tinh tế, đặc sắc Thí dụ về bài “Quá Tam Điệp” của Đoàn Nguyên Tuấn […]

Ngô Thời Nhậm đã bình như sau: “Từ bụi hồng, tông tích là hai dốc của cảnh đèo thứ nhất Từ cây biếc, quan hà rọi chiếu xuống đường thế gập ghềnh là hai dốc của lớp đèo thứ hai Từ thổn thức, bóng ta xúc động tới tiếng chim đa

đa là hai dốc của lớp đèo thứ ba Núi Tam Điệp của tạo vật là cảnh, câu tam điệp của nhà thơ là tình Đem tình hiện tại đặt sát liền với cảnh quá khứ và tương lai, hết thảy khiến vô hạn hoài niệm về xuân thu, vô số hoài niệm về kim cổ của con người, không trốn thoát ra khỏi những vần thơ này được Ta bảo sáu đợt tình của nhà thơ còn cao hơn gấp bội so với ba đợt đèo của núi Tam Điệp” Phát hiện cái thế Tam Điệp trong cấu trúc của lời thơ, gợi được cái tình cùa nhà thơ, mà cuộc đời nhiều phen bôn ba càng gập ghềnh lên xuống hơn cả đèo Ba Dội, lời bình thơ cùa Ngô Thời Nhậm quả là siêu việt”

Trang 8

Nguyễn Thạch Giang (chủ biên) trong Tinh tuyển văn học Việt Nam

(Tập 5- Quyển hai),Văn học thế kỉ XVIII, Nxb Khoa học Xã hội, 2004, trình

bày sơ lược về tiểu sử Đoàn Nguyễn Tuấn Về sự nghiệp sáng tác: “Ông đã để

lại cho chúng ta một tập thơ – Hải Ông thi tập – ngót 250 bài Nội dung thơ

ông cho ta thấy ông là con người trầm mặc, thanh cao, chân thành, giản dị, thiết tha với quê hương, với tổ quốc Thơ ông lời chải chuốt, thanh thoát, gợi cảm, ít điển cố Một số bài ca ngợi triều đại Tây Sơn, nhiệt liệt ngưỡng mộ Quang Trung, hào hứng trước quang cảnh đất nước dưới triều đại mới.”

Trong Từ điển Văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Phùng Văn

Tửu, Trần Hữu Tá, Nxb Thế giới, 2004, mục Đoàn Nguyễn Tuấn, Phạm Tú

Châu viết khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Về thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, tác giả chú ý đến khía cạnh tư tưởng: “Nhìn chung thơ Đoàn Nguyễn Tuấn dù sáng tác dưới thời Quang Trung (1788-92) hay Quang Toản (1792-1802), đều có những bài chân thành và hào hứng ca ngợi triều đại mới, ca ngợi võ công đánh quân Thanh, dẹp Nguyễn Ánh của đội quân Tây Sơn, mang lại cảnh thanh bình thịnh trị cho đất nước […]; hoặc biểu lộ niềm

tự hào về nền văn hiến dân tộc […] Đoàn Nguyễn Tuấn còn cho thấy niềm phấn khởi, lòng tin, ý mong muốn đóng góp nhiều cho thời đại mới Nhà thơ cũng không giấu giếm những ý nghĩ tiêu cực, buồn nản để lộ rải rác trong thơ

Đó là một sự thật khó tránh Là một trí thức có gia đình, bạn bè, thân thích đều là những đại thần của triều đại cũ mà nhiều người trong họ cũng như chính tác giả đã từng ôm chí khôi phục nhà Lê nhà Trịnh, Đoàn Nguyễn Tuấn trong tập thơ của mình thành thực nhận rằng ông chưa rũ bỏ được hết nỗi băn khoăn, day dứt – những mâu thuẫn và đấu tranh khi đã đi theo Tây Sơn Tuy nhiên, cuối cùng Đoàn Nguyễn Tuấn đã vượt được dư luận, vượt được giáo lý

và những mặc cảm của đời và của mình để phục vụ thủy chung cho triều đại

mới Hải ông thi tập cũng đã ghi nhận điều đó”

Trang 9

Trong bài viết này, Phạm Tú Châu chú ý đến bài thơ “Không đề”, xem

nó là một bài thơ tình thực sự và cho rằng: “Đó là nét độc đáo của Đoàn Nguyễn Tuấn so với thơ đi sứ nói chung cũng như so với thơ trữ tình của người cùng thời như Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, v.v…”

Nguyễn Tiến Đoàn trong Đoàn Nguyễn Tuấn đề thơ trên Hoàng Hạc

Lâu (www.honvietquochoc.com.vn) cung cấp thông tin về hành trình đi sứ đặc biệt (do Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung) của đoàn sứ bộ Việt Nam trong đó có Đoàn Nguyễn Tuấn

Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam đánh giá Hải Ông thi tập như

sau: "Hải Ông thi tập ghi lại tâm tư và hoạt động trong thời gian làm quan của

Đoàn Nguyễn Tuấn Có những bài bày tỏ niềm hào hứng, ca ngợi chiến thắng Đống Đa hoặc tự hào về đất nước Cũng có những bài phản ánh ý nghĩ buồn nản, chán chường”

Dư Vân trong Văn học nghệ thuật thời Tây Sơn nhận xét: “Đoàn

Nguyễn Tuấn là anh vợ của Nguyễn Du, làm quan triều Lê, nhưng sau này cùng anh của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ theo phò Tây Sơn, làm quan đến Thị lang bộ Lại, được phong tước Hải Phái Hầu Như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, ông từng đi sứ đối đáp với triều Mãn Thanh và làm thơ phản ảnh một niềm tự hào dân tộc rất đĩnh dạc, khác hẳn văn phong yếm thế hay tôn

sùng Trung Hoa của các danh sĩ cùng thời Tác phẩm của ông để lại có Hải

Ông thi tập” (http://www.thuvienso.info/index.php/sach-viet/van-hoa-am

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ tập thơ “Hải Ông thi tập”

Văn bản mà chúng tôi lựa chọn là: Viện nghiên cứu Hán Nôm, Thơ văn Đoàn

Nguy ễn Tuấn – Hải Ông thi tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982:

Lí do chúng tôi lựa chọn văn bản này để khảo sát là do văn bản được Viện nghiên cứu Hán Nôm biên soạn công phu, tỉ mỉ, có sự so sánh đối chiếu với nhiều bản khác Ở phần đầu tập thơ, nhóm biên soạn đã trình bày cách làm

1- Lấy thêm những bài mà sách [H.O.T.T] (A 2603) không thấy chép

2- Bổ sung những chữ mà “ Hải Ông thi tập” ( A.2603) do bị rách nên thiếu, hoặc chữ mờ và chép sót, cũng như xác định lại một số chữ có thể chép sai, v.v…”

4- Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống để nghiên cứu toàn bộ tác

phẩm thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, nhằm đem đến một cái nhìn toàn diện, khái quát về nội dung tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của ông Mặt khác, chúng tôi cũng đặt thơ Đoàn Nguyễn Tuấn trong hệ thống thơ ca trung đại Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam cuối thế kỉ XVIII nói riêng để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt Đối với từng tác phẩm chúng tôi cũng

Trang 11

xem xét nó như một chỉnh thể nghệ thuật với sự thống nhất giữa các yếu tố nội tại

Bên cạnh phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình cũng được chúng tôi vận dụng để tìm hiểu thơ Đoàn Nguyễn Tuấn Thơ ông thuộc phạm trù thơ trung đại với những đặc trưng riêng hoàn toàn khác với thơ ca dân gian hay thơ hiện đại Do đó cần nghiên cứu thơ Đoàn Nguyễn Tuấn dưới góc

độ loại hình để thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ông theo quan niệm của thơ trung đại vốn mang những nét đặc thù riêng

Phương pháp xã hội học cũng hết sức cần thiết cho chúng tôi khi nghiên cứu thơ Đoàn Nguyễn Tuấn Không ai có thể phủ nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa văn học với điều kiện lịch sử, xã hội sản sinh ra nó Hơn nữa,

thời đại mà ông sống là một thời đại đầy bão táp và tập thơ Hải Ông thi tập

thực sự là một tập nhật kí bằng thơ về cuộc đời ông, về thời đại ông Vận dụng phương pháp xã hội học không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tác phẩm mà qua đó còn thấy được những đóng góp của nhà thơ trong việc ghi lại hiện thực xã hội đương đời

Các phương pháp trên được sử dụng một cách linh hoạt, kết hợp với các thao tác: tổng hợp, phân tích, thống kê và so sánh đối chiếu

5- C ấu trúc luận văn:

Luận văn gồm 3 phần

PHẦN DẪN NHẬP

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

Trang 12

1.1- Thời đại

1.2- Cuộc đời

Chương 2- Giá trị nội dung của tập thơ “Hải Ông thi tập”

2.1- “Hải Ông thi tập” - hình ảnh khúc xạ của hiện thực đương thời:

2.1.1- Ánh hào quang của một triều đại

2.1.2- Vị thế của một dân tộc bất khuất

2.1.3- Bức họa Thăng Long thành

2.2- “Hải Ông thi tập”- bức chân dung con người cá nhân nhà thơ:

2.2.1- Nỗi nhớ quê hương

2.2.2- Nỗi niềm dâu bể

2.2.3- Nỗi ân hận vì trót sa vào vòng tục lụy

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tập thơ “Hải Ông thi tập”

3.1- Ngôn ngữ nghệ thuật

3.2- Giọng điệu nghệ thuật

3.3- Thời gian nghệ thuật

3.4- Không gian nghệ thuật

PHẦN KẾT LUẬN

6- Đóng góp của luận văn

Khảo sát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của toàn bộ tập thơ “Hải Ông thi tập” nhằm giới thiệu một gương mặt thi ca có đóng góp cho văn học dân tộc

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ THƠ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Trong tình hình khó khăn đó, nội bộ chính quyền Lê – Trịnh ngày càng mâu thuẫn Năm 1767, Trịnh Doanh chết, con là Trịnh Sâm lên thay, chuyên quyền và tàn bạo Thái tử Lê Duy Vĩ bị vu oan và bị giết Em Trịnh Sâm là Trịnh Lệ mưu giết anh để cướp ngôi, cuối cùng bị bắt bỏ ngục Trịnh Sâm say

mê Đặng Thị Huệ, bỏ bê việc triều chính Y truất thế tử Trịnh Khải để đưa con thứ còn ít tuổi là Trịnh Cán, con của Thị Huệ, lên thay Phe phái của Đặng Thị Huệ là nhóm quận công Hoàng Đình Bảo – Đặng Thị Huệ được dịp nắm hết quyền hành Em trai của Thị Huệ cũng nhân đó cậy thế làm càn, khiến kinh thành náo động Năm 1782, Trịnh Sâm chết Phe Trịnh Khải nổi

Trang 14

dậy đánh giết nhóm Hoàng Đình Bảo – Đặng Thị Huệ, phế Trịnh Cán Quân Tam phủ – chỗ dựa chính của Trịnh Khải, được thế cậy công, thả sức tung hoành Chúng còn kéo nhau đi cướp bóc, phá phách các phố phường, không ai chế ngự nổi Nhân dân gọi đó là “loạn kiêu binh” “Loạn kiêu binh” đánh dấu

sự tan rã của thế lực họ Trịnh, gây nên một sự đối lập lớn giữa nhận dân và quân sĩ Tình thế đó kéo theo hậu quả là một mặt bọn quan lại địa phương mà phần lớn là nhờ tiền bạc mà có chức quyền, tha hồ vơ vét, đục khoét nhân dân, mặt khác, dòng họ Lê tìm cách nâng cao uy thế mong có ngày khôi phục địa vị trước đây Mặc dầu, từ năm 1774, nhân cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng

nổ, chúa Trịnh đã cử quân vào chiếm đất Thuận Hóa, sự suy sụp về chính trị, kinh tế – xã hội của Đàng Ngoài vẫn ngày càng trầm trọng

• Ở Đàng Trong

Những ưu thế của đất Đàng Trong đã giúp các chúa Nguyễn giữ được tình trạng ổn định của xã hội trong một thời gian khá dài Nhưng rồi những mâu thuẫn cố hữu của chế độ phong kiến cũng dần dần phát huy tác dụng và

từ giữa thế kỉ XVIII, đưa Đàng Trong vào cuộc khủng hoảng

Từ 1669, ruộng đất ở vùng Thuận Quảng phần lớn đã là ruộng công, nhưng do tô thuế phiền phức, nặng nề, nhân dân không đóng nổi, nhà chúa buộc phải “châu phê” cho bán đoạn làm ruộng tư hoặc bọn hào lí tự viết là ruộng đất tư đem bán đoạn hết Ở vùng Gia Định (Nam bộ nay) đất đai rộng lớn, trù phú, người ít, thế nhưng phần lớn ruộng đất nằm trong tay địa chủ, nông dân nghèo vẫn phải cày thuê cuốc mướn hoặc đi khai hoang ở các vùng

xa Chính sách thuế khóa nặng nề của chúa Nguyễn đã làm cho cuộc sống của nông dân ngày càng khổ cực

Trang 15

Thương nghiệp, thủ công nghiệp cũng sút kém dần so với trước Ngoại thương thì sụt hẳn do số thuyền bè nước ngoài đến thưa thớt mà sự hạch sách của chúa và các quan tuần ti ngày càng không chịu nổi Các đô thị như Hội

An, Thanh Hà, Nước Mặn sa sút hẳn Một vài thị tứ như Bến Nghé, Nông Nại hoạt động bình thường nhưng việc buôn bán chủ yếu nằm trong tay Hoa kiều

Về chính trị, như đã nói ở phần trước, từ năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, xây dựng Phú Xuân thành kinh đô, tổ chức lại bộ máy nhà nước Các gia đình quý tộc, quan lại cao cấp cũng nhân đó xây dựng dinh thự la liệt hai bên bờ thượng lưu sông Phú Xuân và con sông nhỏ ở Phù Cam

Họ đua nhau ăn chơi xa xỉ, nuôi các đội tuồng chèo, ca kĩ chuyên phục vụ các cuộc yến tiệc

Nguyễn Phúc Khoát chết, Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên thay Quyền hành thực tế do Trương Phúc Loan thâu tóm, tự xưng là Quốc phó Một mình y chiếm đoạt 5 cửa nguồn, hàng năm thu lợi 4-5 vạn quan tiền Y còn nắm bộ Hộ để hạch sách các thương nhân nước ngoài đến buôn bán Nội

bộ chính quyền phân chia bè cánh Những người chống Trương Phúc Loan đều bị giết hại, cách chức Phủ huyện, làng xã nằm trong tay bọn quan lại cường hào tham nhũng Một xã hồi đó có đến 17 tướng thần (quan thu thuế)

và 20 xã trưởng Chính trị thối nát

Tình hình trở nên trầm trọng hơn vì cái gọi là nạn “tiền hoang” Nguyên là Đàng Trong phải mua đồng của Đàng Ngoài thông qua các lái buôn ngoại quốc; khi chính quyền Đàng Ngoài tìm cách cấm ngặt việc đó và thương thuyền nước ngoài ít đi thì chúa Nguyễn buộc phải dùng kẽm đúc tiền Kết quả dân Gia Định nhiều thóc không bán lấy tiền mà thương nhân cũng không muốn đổi hàng hóa lấy tiền kẽm, buôn bán do đó không thông, thóc gạo miền Nam không ra được Thuận, Quảng, làm cho giá gạo ở đây cao

Trang 16

vọt lên không phương cứu vãn Năm 1752, một nạn đói lớn đã xảy ra, dân bị chết đói rất nhiều Từ năm 1769, trong khoảng 4 – 5 năm liền, đói kém diễn ra liên miên Đặc biệt là năm 1774, Thuận Hóa bị đói lớn

Người nông dân đã nổi dậy Cuộc khởi nghĩa lớn nhật được nhân dân truyền tụng là cuộc khởi nghĩa của “chàng Lía” ở Quy Nhơn (Bình Định) Vốn là một nông dân nghèo, tên là Đoan, anh phải đi ở cho địa chủ, nuôi sẵn chí căm thù Anh lại khỏe mạnh, giỏ võ, khí khái Nạn đói xảy ra, anh trốn vào rừng, tụ tập dân nghèo khởi nghĩa lấy Truông Mây làm căn cứ Nghĩa quân đánh giết bọn cường hào, lấy của cải phân phát cho dân nghèo Nghĩa quân bị đàn áp, Lía chết nhưng hình ảnh của anh mãi mãi khắc sâu vào lòng nhân dân

Chế độ phong kiến Đàng Trong bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả đất nước

1.1.2- Phong trào nông dân Tây Sơn

Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở đất Tây Sơn, do ba anh

em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam vốn gồm hai vùng: vùng rừng núi gọi là Thượng đạo (nay thuộc Gia Lai – Kontum) và vùng đồng bằng gọi là

Hạ đạo (nay thuộc Bình Định) bấy giờ rừng núi rậm rạp thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ Không chịu nổi cảnh áp bức, bóc lột và hoành hành của bọn quan lại chúa Nguyễn, không yên lòng trước cảnh sống khổ cực của những người nông dân cùng ấp, huyện, từ sớm 3 anh em đã liên kết với các bạn cùng chí hướng cũng như các tù trưởng dân tộc ít người, luyện võ, hội bàn chuẩn bị khởi nghĩa

Trang 17

Năm 1771, nhân bị tên đốc trưng Đằng ức hiếp, Nguyễn Nhạc cùng hai

em dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn, giương cao khẩu hiệu “Đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Phúc Dương “ (Phúc Dương là cháu đích tôn của Nguyễn Phúc Khoát, bị Trương Phúc Loan phế truất) Nhờ sách lược khôn khéo đó, nghĩa quân đã thu hút được sự ủng hộ và hưởng ứng của nhiều tầng lớp nhân dân Đồng thời với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”, nghĩa quân đi đến đâu, dân nghèo tham gia đến đó

Mùa thu năm 1773, nghĩa quân đã chiếm được phần lớn phủ Quy Nhơn Thanh thế nghĩa quân lên cao Nguyễn Nhạc nhân đó dùng mưu kế đem quân đánh chiếm phủ lị Quy Nhơn rồi tiến lên chiếm nốt Quãng Ngãi

Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng Tây Sơn Vương, phong Nguyễn Huệ làm phụ chính, xây lại thành Đồ Bàn làm thủ phủ

Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm tiết chế Các năm 1782, 1783, quân Tây Sơn hai lần đánh vào Gia Định Quân Nguyễn Ánh thất bại nặng nề, tạm bỏ Gia Định chạy trốn sang Xiêm

Chính quyền chúa Nguyễn đã bị đánh đổ nhưng Nguyễn Ánh vẫn không chịu từ bỏ mong muốn khôi phục cơ đồ của dòng họ Sang Xiêm, Ánh xin vua Xiêm đem quân đánh Tây Sơn, cứu giúp mình Cho đến cuối năm đó, gần một nửa đất Gia Định đã thuộc về quân Xiêm – Nguyễn Ánh Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa giữ vững hai thành Gia Định và Mỹ Tho Kiêu căng với thắng lợi nhanh chóng của mình, quân Xiêm mặc sức cướp phá, đốt nhà lấy của, giết người rất tàn bạo Nhân dân Gia Định chất chứa căm thù, ngày ngày mong đợi quân Tây Sơn tiến vào giải phóng cho họ

Trang 18

Tin báo về, Nguyễn Huệ được lệnh cầm quân tiến vào giành lại đất Gia Định Đầu tháng 1 năm 1785, quân Tây Sơn vào đóng lại ở Mỹ Tho Bấy giờ quân Xiêm – Nguyễn Ánh đang đóng ở Sa Đéc, chuẩn bị tấn công Mỹ Tho Trận quyết chiến diễn ra trên khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (về sau được gọi là trận Rạch Gầm – Xoài Mút) vào sáng ngày 19-1-1975 Nguyễn Huệ nhử quân địch vào trận địa mai phục và đánh cho chúng tan tành chỉ còn vài ngàn quân chạy bộ về nước

Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của vị chủ soái Nguyễn Huệ và tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết liệt của quân đội Tây Sơn Chiến thắng đó cũng khẳng định quyền làm chủ xứng đáng của nghĩa quân Tây Sơn đối với đất Đàng Trong

Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm và bè lũ Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ củng cố lại chính quyền Tây Sơn ở Gia Định rồi rút về Thắng lợi to lớn đó đã làm nảy sinh ý tưởng chiếm lại Phú Xuân ở các thủ lĩnh Tây Sơn Được Nguyễn Hữu Chỉnh gợi ý và sẵn sàng góp sức, Nguyễn Nhạc đã quyết định cử Nguyễn Huệ làm tiết chế quân thủy bộ cùng Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh tiến ra Phú Xuân Dùng mưu li gián Hoàng Đình Thể và Phạm Ngô Cầu, nghĩa quân Tây Sơn nhanh chóng hạ thành Phú Xuân rồi nhân đà thắng lợi, tiến ra chiếm nốt các dinh còn lại ở nam sông Gianh Đất Đàng Trong hoàn toàn thuộc về quân Tây Sơn

Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào Thăng Long Chính quyền của họ Trịnh bị lật đổ Nguyễn Huệ trao lại quyền hành cho vua Lê Hiển Tông và được vua Lê phong tước Uy quốc công Vua Lê cũng nhường cho Tây Sơn đất Nghệ An, gọi là để thưởng công Sau khi hoàn thành mọi việc, Nguyễn Huệ rút quân về Nam

Trang 19

Quân Tây Sơn rút về, Bắc hà rối loạn Nạn đói hoành hành, nhân dân cực khổ, vua Lê Chiêu Thống kế vị Lê Hiển Tông, bất lực trong việc chống chọi với thế lực họ Trịnh do Trịnh Bồng đứng đầu, đang cố sức phục dựng cơ

đồ cũ Dựa vào sự giúp đỡ của Nguyễn Hữu Chỉnh (sau khi quân Tây Sơn rút,

đã trở lại Bắc hà), Chiêu Thống đánh bại quân Trịnh, đốt phá phủ chúa Nguyễn Hữu Chỉnh nhân đó lộng quyền, chống lại Tây Sơn, cho người vào đòi lại Nghệ An Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ (Bắc Bình Vương, làm chủ vùng đất từ Phú Xuân ra Bắc theo sự phân chia của Nguyễn Nhạc) cử Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm đem quân ra diệt Chỉnh Trước sức tấn công dữ dội của quân Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh và Lê Chiêu Thống rủ nhau chạy lên phía bắc Giữa đường, quân sĩ bỏ trốn hết Hữu Chỉnh chạy đến Yên Thế (Bắc Giang) thì bị bắt và bị giết Lê Chiêu Thống trốn thoát rồi vượt biên giới chạy sang đất Quảng Tây Nhà Lê sụp đổ sau gần 4 thế kỉ trị vì đất nước Vũ Văn Nhậm thu xếp mọi việc, lập một người họ Lê là Lê Duy Cẩn làm giám quốc

bù nhìn Được thông báo về sự lộng quyền của Nhậm, Nguyễn Huệ vội vã ra Bắc, bắt giết Nhậm và cử Ngô Văn Sở lên thay, đồng thời thu nhận một số quan lại, sĩ phu tiến bộ Bắc hà như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn,… giao quyền hành, chức vụ cho

họ, thể hiện đúng ý thức trọng dụng người hiền tài

Như vậy là sau hơn 15 năm khởi nghĩa, đánh nam, dẹp bắc, quân Tây Sơn ngày càng lớn mạnh đã hoàn thành một sự nghiệp to lớn: đánh đổ 3 tập đoàn phong kiến thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê, làm chủ cả đất nước Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng vào năm 1788 này, thế lực họ Lê vẫn còn lay lắt và trong bước đường cùng đã cầu cứu nhà Thanh, còn ở mặt nam, nhân cuộc xung đột, bất hòa của an hem Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và nhân sự thoái hóa của Nguyễn Nhạc, sự bất lực của Nguyễn Lữ, từ đất Xiêm, Nguyễn Ánh

Trang 20

đã trở về, một lần nữa dựa vào bọn đại địa chủ ở đây chiếm lại Gia Định Sự nghiệp của phong trào Tây Sơn vẫn chưa trọn vẹn

Thoát sang được Quảng Tây, vua tôi Lê Chiêu Thống vội đến cầu cứu tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh và viết thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị Cả hai, mặc dầu có ý sợ quân Tây Sơn “một phen ra đã đánh đổ được cả triều đại 300 năm”, vẫn tỏ thái độ sẵn sàng giúp vua Lê để nhân đó đặt thú binh giữ lấy An Nam, làm một việc mà được hai công

Tháng 11 năm 1788, quân Thanh ồ ạt tiến vào nước ta Tướng Tây Sơn đóng ở Lạng Sơn là Phan Khải Đức đầu hàng Trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng của hai bên, thời xưa và thời nay, Ngô Thời Nhậm không tán thành chủ trương của Nguyễn Văn Dụng và đề nghị: tạm rút lui vào đóng giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ba Dội – Ninh Bình) – Biện Hóa (Thanh Hóa) để cho quân Thanh vào Thăng Long rồi cho người cấp báo với Nguyễn Huệ đem quân ra tiêu diệt chúng, tựa như “cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi” Ngô Văn Sở đã tán thành đề nghị đó, một mặt hạ lệnh cho quân sĩ một mặt rút

về Tam Điệp – Biện Sơn, một mặt cử Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa về Phú Xuân cáo cấp

Được sự dẫn đường và nội ứng của tàn quân Lê Chiêu Thống, ngày 17 tháng 12 năm 1788, quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị kéo vào chiếm đóng Thăng Long Làm chủ được Thăng Long và các xứ phía Bắc, Tôn Sĩ Nghị hống hách, thả cho quân sĩ mặc sức làm càn, cướp bóc nhà giàu có, hãm hiếp đàn

bà, không còn kiêng sợ gì cả Trong lúc đó thì Lê Chiêu Thống một mặt trả thù, báo oán rất ti tiện, một mặt hàng ngày đến chầu chực ở bản doanh của Tôn Sĩ Nghị rất nhục nhã và bị chúng khinh bỉ Một số quan tướng nhà Lê sốt ruột, xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân Nghị kiêu ngạo, từ ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (20-1-1789) thả cho quân sĩ chơi bời, quậy phá đón xuân

Trang 21

Nhận được tin cấp báo, ngày 22 tháng 12 năm 1788 (25 tháng 11 Mậu Thân) Nguyễn Huệ sai người lập đàn ở phía nam núi Ngự Bình (Huế), tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức ra quân Ngày 26, Quang Trung đến Nghệ An, đóng quân lại một thời gian để mộ thêm quân Chỉ trong mấy ngày, thanh niên trai tráng địa phương nô nức kéo về, hăng hái tòng quân làm cho quân số tăng lên đến trên 10 vạn Rồi tiếp đó, Quang Trung kéo quân ra Thanh Hóa tuyển thêm lính mới Ngày 20 tháng chạp Mậu Thân (15-1-1789) đại quân Tây Sơn tập kết ở phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn Nghe báo cáo của Ngô Văn Sở, Quang Trung tỏ ý tán thành chủ trương của Ngô Thời Nhậm và cùng các tướng chuẩn bị cuộc tổng tấn công

Kế hoạch tác chiến đã sẵn sàng Nhiệm vụ của các đạo quân đã được xác định Quang Trung nghĩ đến ngày Tết cổ truyền của dân tộc và vào ngày cuối tháng chạp năm Mậu Thân, quyết định mở tiệc khao quân, gọi là ăn Tết trước Rồi sau đó, lễ “thệ sư” được tổ chức trong không khí hồ hởi, quyết chiến của toàn quân, giữa đêm Giao thừa thanh vắng, Quang Trung đã đọc vang lời hịch:

Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

Nửa đêm ngày mồng 3 tết, quân Quang Trung bao vây đồn Hà Hồi (Thường Tín – Hà Tây) đúng vào lúc quân Thanh đang say sưa trong giấc

Trang 22

ngủ Theo đúng kế hoạch đã định, Quang Trung cho bắc loa gọi hàng, hốt hoảng, bất ngờ khi nghe tiếng loa vang như sấm dậy, lũ giặc bó tay xin hàng Đồn Hà Hồi bị diệt gọn

Ngày mồng 5 Tết Kỉ Dậu (30-1-1789) lúc trời còn chưa sáng, đội tượng binh của Quang Trung bất thần tiến nhanh về phía Ngọc Hồi Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, địch không chống nổi, quay đầu bỏ chạy tán loạn

Trưa ngày mồng 5 Tết Kỉ Dậu (31-7-1789) vua Quang Trung ngồi trên lưng voi, áo bào xạm đen khói súng, đi đầu đại quân tiến vào Thăng Long giữa cảnh mừng vui khôn xiết của nhân dân

Trong vòng chưa đầy 5 ngày đêm vừa hành quân thần tốc vừa chiến đấu quyết liệt, cơ động và đầy sáng tạo, dưới sự chỉ huy quân sự thiên tài Quang Trung, quân ta đã đập tan hoàn toàn mộng tưởng xâm chiếm nước ta của quân Thanh cũng như mưu đồ “rước voi về giày mả mồ” của bè lũ Lê Chiêu Thống, giữ vững nền độc lập dân tộc Chiến thắng oanh liệt Ngọc Hồi – Đống Đa cũng như tên tuổi của người anh hùng áo vải Quang Trung mãi mãi sáng ngời trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc anh hùng của dân tộc ta Đặc biệt, sau ngày chiến thắng, làm chủ Thăng Long, Quang Trung phát ngay lời chiếu kêu gọi giặc ra hàng, phàm những quân tan nát mà ta bắt được đều cấp cho lương ăn, tìm nơi an trí rồi đưa trả sang cửa quan

Từ một cuộc khởi nghĩa ở đất Tây Sơn phát triển lên thành một phong trào nông dân rộng lớn, đánh đổ các tập đoàn phong kiến đang thống trị và đến đây, với cuộc kháng chiến chống xâm lược Mãn Thanh, phong trào Tây

Trang 23

Sơn đã trở thành một phong trào dân tộc vĩ đại Truyền thống yêu nước hầu như lắng xuống trong nhiều thế kỉ, giờ đây lại bừng lên rực rỡ

1.1.3- Triều đại Nguyễn – Tây Sơn

Sau những thắng lợi bước đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đặc biệt là đối với vùng đất phía nam, năm 1788, Nguyễn Nhạc tự xưng hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Đức, lấy thành Đồ Bàn (Bình Định) làm kinh đô với tên mới là thành Hoàng Đế Nguyễn Huệ được phong làm phụ chính, Nguyễn Lữ làm thiếu phó Nhiều tướng lĩnh khác cũng được phong chức tước Khi Nguyễn Huệ đem quân ra đánh Bắc hà, lật đổ chúa Trịnh, Nguyễn Nhạc sợ em lộng quyền, vội vã đem một số tuỳ tùng đi nhanh ra Thăng Long, rồi cùng Nguyễn Huệ bí mật rút quân về Quy Nhơn Mâu thuẫn giữa hai anh em nảy sinh và từ mâu thuẫn bùng lên thành xung đột gay gắt Sau 3 tháng đánh nhau, hai anh

em giải hoà, lấy Bến Ván (Quảng Nam) làm giới mốc chia đôi đấy nước Cuộc xung đột đã ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ cục diện của phong trào Tây Sơn Từ đó, Nguyễn Nhạc chỉ cai quản vùng đất từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận

Cuối năm 1788, nhận tước Bắc Bình Vương do Nguyễn Nhạc phong, Nguyễn Huệ trở thành người cai quản thực sự vùng đất Quảng Nam trở ra Bắc, mặc dầu Bắc hà còn tồn tại chính quyền của vua Lê Năm 1788, khi quân Mãn Thanh vào Thăng Long, Nguyễn Huệ đã lập đàn tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Quang Trung Cuộc kháng chiến kết thúc với thắng lợi rực rỡ của dân tộc, triều đại Quang Trung ra đời, hoàn toàn thay thế cho Nhà nước Lê - Trịnh trước đó Trong bối cảnh của xã hội Đại Việt ở cuối thế kỉ XVIII, việc lên ngôi của Nguyễn Huệ, xây dựng triều đại mới là một lẽ tất yếu

Trang 24

• Tổ chức chính quyền

Từ năm 1788, sau khi tiêu diệt lực lượng của Nguyễn Hữu Chỉnh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã cử các võ tướng của mình cai quản các trấn ở Bắc hà Năm 1789, triều đình mới được tổ chức quy củ

Hàng ngũ quan lại bao gồm thân thuộc của nhà vua (như Bùi Đắc Tuyên) các võ tướng Tây Sơn và các cựu thần nhà Lê, tự nguyện hợp tác với triều Tây Sơn (như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Thế Lịch, Trần Bà lãm, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Thiếp, Bùi Dương Lịch v.v ) Quang Trung rất trân trọng những nho sĩ này và thường giao cho các chức vụ quan trọng Đặc biệt, Quang Trung đã 3 lần viết thư trực tiếp mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp việc triều chính

Để tiện việc điều hành, Quang Trung quyết định chọn đất thành lập kinh đô mới Việc xây dựng được xúc tiến ngay sau khi chọn vùng chân núi Dũng Quyết (gần Bến Thuỷ – Nghệ An) làm trung tâm với tên gọi Phượng Hoàng trung đô

Quân đội được kiện toàn và củng cố, bao gồm thuỷ binh, bộ binh, tượng binh, kị binh và pháo binh Chiến thuyền có nhiều loại, có loại lớn chở được voi chiến, trang bị 50, 60 đại bác, hoả nổ Để huy động lực lượng nhân dân, Quang Trung đã tiến hành việc lập lại sổ hộ ở các xã Tất cả trai tráng, không phân biệt sang hèn, xuất thân đều phải ghi tên vào sổ hộ Để tránh tình trạng ẩn lậu, trốn tránh, nhà nước phát thẻ tín bài trên khắc 4 chữ “Thiên hạ đại tín” cho mọi dân đinh, đi đâu đều phải mang theo vì có ghi họ tên, quê quán và điểm chỉ

• Phục hồi và phát triển kinh tế

Trang 25

Tình hình Bắc hà những năm 1788 - 1789 hết sức khó khăn, luôn năm mất mùa đói kém, ruộng đất bỏ hoang hoá khắp nơi Do đó, một trong những việc làm đầu tiên của triều vua Quang Trung là nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nhiệp Năm 1789, “Chiếu khuyến nông” được ban bố

Về công thương nghiệp: với mong muốn xây dựng một nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, chính quyền Quang Trung chủ trương khuyến khích phục hồi và mở rộng các làng thủ công cũng như việc trao đổi buôn bán trong nước và với nước ngoài Đối với thương nhân nước ngoài, Quang Trung khuyến khích họ chở hàng hoá đến trao đổi, tránh việc chở vũ khí viện trợ

cho nhóm Nguyễn Ánh Ở vùng biên giới Việt – Trung, Quang Trung cũng đề nghị nhà Thanh cho thương nhân trong nước được qua lại buôn bán ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Nam Ninh

Về tài chính: chính quyền Quang Trung cho đúc tiền mới để tiêu dùng Thuế khoá được định lại từ thuế ruộng đất các loại đến thuế thân, phụ thu, các loại thuế công thương nghiệp

Nhìn chung, sau một thời gian thực hiện khẩn trương các chính sách kinh tế, cuộc sống của nhân dân ở vùng đất của triều đại Quang Trung trở lại

ổn định với một số biểu hiện mở rộng về mặt công thương nghiệp

• Văn hoá, giáo dục

Cũng như các triều đại phong kiến trước, chính quyền Quang Trung vẫn tôn sùng Nho giáo nhưng tỏ ra rất rộng rãi với các tôn giáo khác Một số chùa được phục hồi, tu bổ Những nhà sư có đạo đức, sùng đạo đều được phép trụ trì ở các chùa, tiếp tục giảng đạo hàng năm, những kẻ trốn việc quan

đi ở chùa, “sư hổ mang” đều bị bắt hoàn tục Các giáo sĩ đạo Kito được tự do truyền đạo và được tôn trọng nếu họ chỉ làm việc tôn giáo của mình

Trang 26

Chữ Nôm được đề cao lên vị trí chữ viết chính thức của dân tộc Theo quy định của Quang Trung, mọi chiếu chỉ, mệnh lệnh, văn tế, thư từ của nhà nước đều phải viết bằng chữ Nôm Nhờ đó, chữ Nôm ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giới tri thức, trong nhân dân Nhiều nhà thơ Nôm nổi tiếng xuất hiện (như Nguyễn Huy Lượng, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương )

Quang Trung cũng chủ trương đưa chữ Nôm vào giáo dục và khoa cử Năm 1791, ông cho thành lập viện Sùng Chính, mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng Một số nhà nho giỏi cũng được đưa vào đây để chuyên dịch các sách thi, thư ra chữ Nôm chuẩn bị làm tài liệu giáo dục cho nhân dân cả nước Quang Trung cũng ban “chiếu lập học” lệnh cho các xã thành lập xã lập học, chọn người hay chữ có đức hạnh làm thầy giáo Một số chùa cũng được dùng làm chỗ dạy học Phương pháp học tập của người học cũng được chấn chỉnh theo đúng tinh thần kết hợp học với hành như đề nghị của Nguyễn Thiếp “theo điều học biết mà làm, hoạ may nhân tài mới có thể thành tựu, nhà nước nhờ đó mà được vững yên” Những “sinh đồ 3 quan” thời

Lê – Trịnh, sau khi thi lại mà không đạt bị thải về quê Năm 1789, kì thi Hương đầu tiên được tổ chức ở Nghệ An Thí sinh phải thi thơ phú bằng chữ Nôm

Chính sách văn hoá, giáo dục cũng như thực trạng tôn giáo, học hành thi cử thời Nguyễn Quang Trung đã thể hiện rõ sự bùng lên của ý thức dân tộc, của mong muốn vượt lên tiên tiến của người dân đương thời

• Quan hệ ngoại giao

Sau khi đánh bại 29 vạn quân Mãn Thanh, giải phóng Thăng Long, một vấn đề lớn được đặt ra cho triều Nguyễn Quang Trung là nhanh chóng đạt được mối quan hệ hoà hiếu với nhà Thanh

Trang 27

Sau thất bại của Tôn Sĩ Nghị, vua Càn Long rất lo ngại muốn thu xếp việc giảng hoà nhưng vẫn cử Phúc Khang An làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, phao tin điều động 50 vạn quân sang trả thù Biết ý của Càn Long, Phúc Khang An đã cử người sang đề nghị hảo hoà Quang Trung cho viết biểu cầu hoà, sẵn sàng triều cống Mùa thu năm 1789, Càn Long đã sai sứ sang phong Quang Trung làm An Nam quốc vương Sứ bộ của ta cũng sang nhà Thanh đưa thư cầu hoà, Càn Long đòi Quang Trung phải đích thân sang dự lễ mừng thọ 80 của mình vừa thể hiện vị trí bề trên, vừa xem mặt người anh hùng kiệt xuất Quang Trung không nhận, nhưng theo đề nghị của Phúc Khang An và của những người thân cận, ông phải cho cháu họ ngoại là Phạm Công Trị đóng Quang Trung giả sang triều cận vua Càn Long Sứ bộ ta có thêm Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, được đón tiếp long trọng Sau

đó, Quang Trung xin được nhà Thanh bỏ lệ cống người vàng, mở cửa ải cho hai bên buôn bán Quan hệ Việt – Trung hoà hiếu, tốt đẹp Năm 1792, Qung Trung cử một sứ bộ do Vũ Văn Dũng đứng đầu sang Thanh xin cầu hôn một công chúa để thăm dò thái độ, nhưng sứ bộ vừa lên đường thì Quang Trung mất, nên thôi

Đối với các nước phía tây như Vạn Tượng (Lào), Miến Điện (Mianma), Quang Trung đều có quan hệ tốt

Triều đại Quang Trung đang đi dần vào thế ổn định với xu thế tiến bộ, cuộc sống của nhân dân cũng đang phục hồi, thì, tháng 9 năm 1792, Quang Trung mất đột ngột (39 tuổi) Hơn 4 năm cầm quyền trong bối cảnh một đất nước vừa thoát ra khỏi cảnh suy thoái, loạn lạc, chiến tranh ác liệt, người anh hùng áo vải Quang Trung chưa thể làm gì hơn để đưa xã hội phong kiến Đại Việt vượt qua được cuộc khủng hoảng, vươn mình lên cùng thế giới tiên tiến

Trang 28

Sau khi Quang Trung qua đời, lợi dụng sự suy yếu của triều đình Cảnh Thịnh, Nguyễn Ánh tăng cường các cuộc tấn công Lúc bấy giờ, nhân dân lao động không còn nhìn Tây Sơn như những đại diện của mình nữa Loạn lạc, chiến tranh đã quá nhiều, họ đã quá cực khổ và chán nản, trong lúc bọn địa chủ, quan lại cũ thì mong chờ quân Nguyễn Ánh kéo ra Tháng 6 năm 1801, lợi dụng lúc Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vây đánh Quy Nhơn, Nguyễn Ánh tấn công Phú Xuân Quân của Quang Toản thua chạy Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Ánh

Để khẳng định quyền vị của mình, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long (tháng 6-1802) Cuộc tấn công ra Bắc được tiếp tục Nghệ An, Thanh Hóa và các trấn Bắc Thành lần lượt rơi vào tay Nguyễn Ánh Cuối tháng 7-1802, Nguyễn Ánh xa giá ra Thăng Long Triều đại Tây Sơn đã bị đánh đổ Đất nước hoàn toàn thuộc về lực lượng của Nguyễn Ánh Ba mươi năm không phải là một thời gian dài, nhưng phong trào nông dân Tây Sơn và người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung đã làm nên cả một sự nghiệp đáng tự hào đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần suy ngẫm cho các thế hệ mai sau

Chưa có một tài liệu nào chép rõ năm sinh, năm mất và năm thi đỗ của ông; chỉ biết rằng ông thi đỗ Hương cống có lẽ vào khoảng đời Cảnh Hưng, nhưng không ra làm quan cho triều Lê

Trang 29

1780: Đoàn Nguyễn Tuấn đón Nguyễn Du về quê ở Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập

Khoảng 1786, ông có tụ họp người làng bàn chuyện dấy binh giúp Trịnh Bồng nhưng việc không thành Khảo luận về Kim Vân Kiều (Đào

Duy Anh) phần Hành trạng có viết: “Ông (tức Nguyễn Du) cùng với anh vợ

là Đoàn Nguyễn Tuấn cử hợp hào mục để mưu đồ khôi phục nhà Lê, nhưng chung quy thất bại, ông phải lưu lạc lâu năm ở đất Bắc để trốn tránh và sau cùng ông chán nản về quê nhà ở Tiên Điền.” (Trịnh Bá Đĩnh với sự cộng tác

của Nguyễn Hữu Sơn – Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, Nguyễn Du về tác

giả và tác phẩm (tái bản lần thứ tư), Nxb Giáo dục, 2003, tr.330)

Cuối năm 1787, ông cùng Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm ra giúp nhà Tây Sơn; ông được cử giữ chức Hàn lâm trực học sĩ (1788)

Tháng 9 năm sau (1789), ông được giao nhiệm vụ đón tiếp sứ giả nhà Thanh sang phong vương cho vua Quang Trung (1753-1792)

Năm 1790, ông cùng Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, được cử vào sứ bộ của vua Quang Trung giả, sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long Khi trở

về nước, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu

Sau khi vua Quang Trung mất đột ngột (1792), ông tiếp tục giúp vua Cảnh Thịnh (1783-1820) cho đến khi triều đại Tây Sơn sụp đổ

Hiện chưa có tài liệu nào cho biết rõ ông có ra làm quan thời Gia Long (1762-1802) hay không

Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ để lại một tập thơ chữ Hán “Hải Ông thi tập” (còn có tên khác là Cựu Hàn lâm Đoàn Nguyễn Tuấn thi tập)

• Về người cha Đoàn Nguyễn Thục

Đoàn Nguyễn Thục là danh thần đời Lê Hiển Tông (1740 – 1786)

Trang 30

Năm Nhâm Thân 1752, ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ, lúc 34 tuổi Bia Tiến sĩ khoa Nhâm Thân (1752) là tấm bia đầu tiên cho biết chính quê, họ cũ, tên cũ

của người đỗ Do đó chúng ta biết được Đoàn Nguyễn Thục, người xã Hải Yên, huyện Quỳnh Côi (nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), chính quê xã Đại Hạnh, huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Giang, Hưng Yên), vốn họ Nguyễn, tên cũ là Đoàn Duy Tĩnh Sở dĩ ông đổi tên là để tránh phạm húy của chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm

Năm Mậu Tý 1768, ông làm Hiệu thư Đông các, kiêm chức Thiên đô

ngự sử Tính cương trực, giữ vững khí tiết, được sĩ phu trọng vọng Chính ông dâng khải hạch tội Dương Trọng Khiêm, được chúa Trịnh Sâm khen ngợi, thưởng cho 3 nén bạc Ít lâu ông có tang nên xin từ chức Nhưng gặp lúc trong nước có nhiều biến loạn, ông lại dâng biểu xin ra làm quan võ, được triều đình chấp thuận, cử ông thống lãnh các đạo quân ở miền thượng du Ông là người đóng vai chủ chốt trong việc đánh dẹp các cuộc nổi loạn của Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật

Năm Tân Mão 1771, ông làm chánh sứ, sang nhà Thanh dâng lễ cống, khi trở về được thăng Phó đô ngự sử, tước Quỳnh Xuyên Bá

Năm Giáp Ngọ 1774 ông làm Đốc trấn Nghệ An, không đồng ý người

phụ tá là Thiều Quận Công, ông dâng sớ xin về hưu

Năm sau, Ất Mùi 1775 ông mất, thọ 57 tuổi, được truy tặng là Đô Ngự

sử, thụy là Cảnh Trực

Tác phẩm: Đoàn hoàng giáp phụng sứ tập là tập thơ ông làm khi đi sứ

nhà Thanh trong năm 1771, Phan Huy Chú đọc và cho thi tập này “lời thơ tao nhã, thanh tao phóng khoáng Tả cảnh hồn nhiên, nhẹ nhỏm và siêu thoát,

đáng gọi là danh gia” Phan Huy Chú có trích mấy bài, như: Nam Quan vãn

độ (buổi chiều qua sông Nam Quan), Quá Động Đình hồ (Qua hồ Động

Trang 31

Đình), Xích Bích hoài cổ (Nhớ Xích Bích Xưa), Tế Hoàng Hà (Qua Hoàng

Hà) đều cho là xuất sắc và độc đáo

Trang 32

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ “HẢI ÔNG THI TẬP”

2.1- “Hải Ông thi tập” – hình ảnh khúc xạ của hiện thực đương thời

2.1.1- Ánh h ào quang của một triều đại

Triều đại Tây Sơn là một triều đại tuy ngắn ngủi nhưng ánh hào quang của nó đủ làm rực sáng cả bầu trời Việt Nam thế kỉ XVIII Hiếm có một triều đại nào trong lịch sử Việt Nam lập được nhiều chiến tích đến thế trong một thời gian ngắn kể từ khi khởi sự như nhà Tây Sơn Từ Nam ra Bắc, Tây Sơn đánh đổ cả chính quyền cai trị sở tại lẫn ngoại viện hùng mạnh từ nước ngoài

do tàn dư của các thế lực cũ rước vào Điều đáng nói hơn là trong số những chiến tích võ công đó có nhiều chiến thắng hiển hách, vang dội, làm rạng danh trang sử vàng dân tộc Trong lễ thệ sư ở Thọ Lạc (Thanh Hóa), Quang Trung đã đọc một bài hiệu dụ quân sĩ, kết thúc bằng lời thề quyết chiến quyết thắng đầy hào khí:

Đánh cho để tóc dài

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

Có thể nói phải đến thời đại Tây Sơn, hào khí Đông A mới một lần nữa được sống dậy, khí thế “sát thát” lại ngút trời Hào khí đó đủ làm nức lòng những con người còn nặng tình sông núi Hào khí đó đủ làm thức tỉnh những con người còn vướng chút niềm riêng với triều vua cũ Hào khí đó làm sống dậy cả một dân tộc đang chìm trong đêm đen và tái sinh những tâm hồn chưa tìm thấy lối Quả vậy, chính hào khí của thời đại và tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã mở đường cho những trí thức cũ nhà

Lê về tập hợp dưới ngọn cờ đào Tây Sơn Trong số những trí thức đó không

Trang 33

thể không kể đến Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Bá Lãm, Ninh Tốn,

Vũ Huy Tấn và Đoàn Nguyễn Tuấn Và đến lượt mình, những trí thức ấy lại dốc hết tài năng, tâm huyết của mình để làm vẻ vang triều đại Không những thế, ngòi bút tài hoa của họ còn kịp lưu dấu ánh hào quang của triều đại vào trong những trang thơ để đời sau ngưỡng vọng Đúng như lời của nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã nói: “không ít các nhà văn khác đã phục vụ triều đại Tây Sơn, đã sống và sáng tác dưới ánh chớp chói lọi của chiến thắng Đống Đa lịch sử, tạo nên dòng thơ văn yêu nước của thời đại Tây Sơn ngắn ngủi nhưng

vĩ đại.” (Mai Quốc Liên, Ngô Thời Nhậm trong văn học Việt Nam, Sở văn hóa thông tin Nghĩa Bình, 1985)

Số lượng bài thơ ca ngợi triều đại Tây Sơn trong “Hải Ông thi tập” của Đoàn Nguyễn Tuấn dù không nhiều (trực tiếp đề cập đến chỉ khoảng 6, 7 bài) nhưng lại nói được những đóng góp lớn lao của triều đại cho lịch sử dân tộc

Có thể bắt gặp trong những bài thơ viết về triều đại Tây Sơn của Đoàn Nguyễn Tuấn khá nhiều hình ảnh “ánh hào quang” hay “vầng dương” rực rỡ:

Đài đầu hốt đổ trinh minh sắc, Vạn lý sơn hà nhất thái dương

(Ngẩng đầu bỗng thấy hào quang rực rỡ;

Muôn dặm non sông, một vầng thái dương.)

( Tây lâu đãi lậu - Chờ tàn canh ở lầu Tây) Hay:

Hỗ tùng hốt thướng kim thiên lộ, Vạn đạo tường quan nhiễu khúc ôi

(Nay theo xe vua bỗng lên đường vàng, Muôn ánh hào quang tỏa quanh góc núi.)

Trang 34

(Hựu ứng chế nhất thủ phó thạch - Lại vâng mệnh vua làm một bài thơ đề

Phong tự Nam lai, tiết bất khiên, Thái hòa cảnh tượng mãn hoành diên

Thanh lương sảng lại lai tùng Tốn

Trưởng dưỡng gia thời hậu ứng thiên

(Gió từ Nam đến, thời tiết không sai, Cảnh tượng thái hòa tràn khắp nơi nơi

Luồng gió mát mẻ từ phương Tốn tới;

Mùa lành nuôi dưỡng hợp với khí trời.)

(Nam phong – Gió Nam)

Trang 35

(Giao đàn tùng hạnh tại Đồ Bàn thành ngoại - Theo vua đến dự lễ tế Nam

Giao tại ngoại thành Đồ Bàn)

Hay:

Địa liên cấm thát hương phong mãn, Thiên nhập cao lâu ngọc lậu trường

(Đất liền cửa cấm, chan chứa gió thơm;

Trời lọt lầu cao, thêm dài giọt ngọc.) (Tây lâu đãi lậu - Chờ tàn canh ở lầu Tây)

Hay:

Tiếp cận khai thời phong chính phất, Bãi triều quyển xứ lộ sơ hi

(Tiến triều mở ra, đúng khi gió phất;

Bãi triều cuộn lại, móc cũng vừa tan.) (Thành kỳ quải húc - Cờ thành treo nắng sớm)

Hình ảnh ngọn gió xuất hiện khá nhiều trong những bài thơ trên cho chúng ta thấy được không khí mới của một triều đại mới Có thể nói triều đại Tây Sơn tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi, chưa làm được gì nhiều để thay đổi toàn bộ bức tranh đời sống nhưng cũng đã thổi một luồng gió mát lành, làm dịu bớt cái bức bối, ngột ngạt của đời sống xã hội lúc bấy giờ Hơn nữa, đáng chú ý là từ “Nam phong” (gió Nam) Nói gió Nam, gió từ phương Nam thổi tới còn có ý cơn gió tượng trưng cho phương Nam Hình ảnh này làm ta liên tưởng tới câu thơ của Ngô Thì Nhậm cũng cùng một cảm hứng tự hào:

Phong lai giải uẩn tây nam lợi,

Vị hứa Hùng Bi vạn nhận cao

(Cơn gió tây nam làm nguôi cơn nóng bức, Núi Hùng Bi dù cao muôn trượng cũng không thấm vào đâu.) (Phân mao lĩnh – Núi Phân mao)

Trang 36

Đúng như lời bình của Mai Quốc Liên: “Cơn gió tây nam, cơn gió tượng trưng cho phương nam vừa chiến thắng phương Bắc, cơn gió ấy chấp

cả cái cao ngạo nước lớn của núi Hùng Bi.” (Mai Quốc Liên, Ngô Thời Nhậm

trong v ăn học Việt Nam, Sở văn hóa thông tin Nghĩa Bình, 1985) Mặt khác,

hình ảnh ngọn gió lành còn vẽ nên bức tranh tâm hồn lộng gió thời đại của nhà thơ Không chỉ là những bài thơ làm mang tính chất thù tạc mà nó là tiếng reo vui của một tâm hồn trí thức trước những đổi thay của quê hương đất nước, trước tương lai tươi sáng rạng ngời của dân tộc

Nhưng nếu chỉ có những bài thơ trên thì thơ Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ mới nói đúng chứ chưa trúng tinh thần thời đại Những chiến công hiển hách

có là gì nếu nó chỉ nhằm củng cố địa vị một vương triều và dát vàng điện ngọc Những Rạch Gầm – Xoài Mút, những Đống Đa có là gì nếu mục đích cuối cùng của người cầm quân dẹp giặc không phải là đem lại cơm no áo ấm trong cảnh thái bình cho dân đen con đỏ? Bởi vậy, khi ngợi ca sự trù phú của quê hương trong cảnh thanh bình, tác giả không chọn hình ảnh lầu son gác tía, cung vàng điện ngọc Ngòi bút của ông dừng lại nơi cánh đồng quê xanh sắc lúa:

Lục già thôn thụ cư tăng mật, Thanh nhiễu trù miêu địa bất hoang

(Sắc biếc phủ cây làng, dân thêm đông đúc;

Màu xanh vờn lúa ruộng, đất chẳng bỏ hoang.) (Kinh quá Nghệ An – Đi qua Nghệ An)

Có thể nói chỉ với hai câu thơ trên, Đoàn Nguyễn Tuấn đã ghi công cho triều đình Tây Sơn một cách xứng đáng Đó thực sự là những gì đáng quý nhất mà triều đình Tây Sơn đã làm được cho nhân dân Lần về những trang sử

cũ ta có thể thấy được những chính sách tiến bộ của Tây Sơn đã làm thay đổi

bộ mặt đời sống của người dân lúc bấy giờ Phan Huy Lê trong Phác họa

Trang 37

chân dung Quang Trung – Nguyễn Huệ đã nhận định: “Đến năm 1789, Quang

Trung ban hành Chiếu khuyến nông nhằm phục hồi nông nghiệp Tờ chiếu nói lên thực trạng bi đát của nền kinh tế: “Từ trải qua loạn lạc đến nay, binh hỏa liên miên, lại thêm đói kém, dân lưu tán, ruộng bỏ hoang, thực số đinh và điền chẳng còn được 4,5 phần 10 so với trước Trên cơ sở đó tờ chiếu đề ra những chính sách cụ thể, kêu gọi dân phiêu tán trở về quê hương, nhận ruộng công và ruộng tư bỏ hoang để cày cấy, góp phần phục hồi kinh tế nông

nghiệp Quá một thời hạn qui định, nếu ruộng công còn bỏ hoang thì phải nộp thuế gấp đôi, ruộng tư bỏ hoang thì bị tịch thu Nhờ những biện pháp kiên quyết đó, mùa thu năm 1791, sử cũ ghi nhận, mùa màng trở lại phong đăng và một nửa nước được thanh bình.”

Trần Huy Liệu trong bài viết Đánh giá cuộc Cách mạng Tây Sơn và vai

trò Lịch sử của Nguyễn Huệ cũng đưa ra kết luận: “Chúng ta không lấy làm lạ

khi thấy bộ máy thống trị của Tây Sơn vẫn đặt trên cơ sở phong kiến và người phục vụ cho nó vẫn là những thành phần phong kiến Chúng ta cũng không đòi triều chính Tây Sơn phải giải quyết vấn đề cơ bản là chia ruộng đất cho dân cày một khi chúng ta đã nhận rõ điều kiện lịch sử và giai cấp lãnh đạo cách mạng lúc ấy Tuy vậy, dưới triều đại Tây Sơn, một triều đại mới nổi lên

từ phong trào nông dân và trong thời đại tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở thế giới, vẫn có những đặc điểm tiến bộ của nó Đặc điểm thứ nhất là chính sách tăng gia sản xuất bằng cách bắt buộc mọi người ở nông thôn phải chăm lo nông nghiệp, cày cấy những ruộng công và ruộng tư bỏ hoang, cho nhân dân lưu vong được có phần ruộng đất cày cấy và đánh lại thuế ruộng cho công bằng hơn Đặc điểm thứ hai là chấn hưng công thương nghiệp bằng cách miễn thuế điệu cho nhân dân miền Bắc, mở rộng việc buôn bán với Trung Quốc và các nhà buôn phương Tây Đặc điểm thứ ba là chú ý xây dựng một nền văn học dân tộc bằng việc phổ biến chữ Nôm, dùng chữ Nôm vào việc thi cử và

Trang 38

những văn kiện chính thức của nhà nước và phiên dịch những kinh truyện chữ Hán ra chữ Nôm.” Như vậy, có thể thấy chỉ với hai hình ảnh “dân thêm đông đúc” và “đất chẳng bỏ hoang”, Đoàn Nguyễn Tuấn đã khái quát được công lao to lớn của triều Tây Sơn đối với nhân dân mà các nhà sử học sau này đều

đánh giá rất cao

Đến bài Quá Khoa Trường cung ký kiến, ngòi bút của Đoàn Nguyễn

Tuấn lại một lần nữa phác họa bức tranh quê hương đất nước thanh bình chỉ bằng một nét vẽ thần tình:

Hoàng lộ thanh di đương nhật sự, Trượng phu vạn lý bất trì binh

(Ngày nay đường vua yên tĩnh thanh bình, Trượng phu đi muôn dặm không phải mang binh khí.) (Quá Khoa Trường cung ký kiến - Qua cung Khoa Trường ghi

những điều trông thấy…)

Tương tự, trong một bài thơ khác, Đoàn Nguyễn Tuấn cũng viết:

Thánh đại hân kim vô dụng vũ, Quy lai nhàn bộ quá sa song

(Đời thánh, mừng nay không phải dùng võ, Trở về, thủng thỉnh dạo qua song the.) (Tô giang ẩm mã - Ngựa uống nước dòng Tô)

Trong cảm hứng ngợi ca triều đại mới, Đoàn Nguyễn Tuấn cũng không quên khắc họa chân dung người anh hùng áo vải cờ đào – linh hồn của một triều đại lẫy lừng Sử sách chỉ cho biết vài nét sơ lược về chân dung Nguyễn

Huệ như “tóc quăn” (Tây Sơn thuật lược), “tiếng nói như chuông, mắt sáng như chớp” (Đại Nam chính biên liệt truyện) Hình ảnh Quang Trung –

Nguyễn Huệ trong sử sách thường gắn với tài cầm quân của ông Dưới sự chỉ huy của Quang Trung, quân Tây Sơn “hành quân như bay, tiến quân rất gấp,

Trang 39

đi lại mau chóng vùn vụt như thần” (lời một viên quan nhà Lê, Hoàng Lê nhất

thống chí), “tướng như trên trời rơi xuống, quân như dưới đất chui lên” (lời

quân Thanh, Hoàng Lê nhất thống chí), tiến công “như nước triều dâng” (lời

Trần Nguyên Nhiếp, bí thư của Tôn Sĩ Nghị, An Nam quân doanh kỷ yếu) Thơ viết về Quang Trung cũng không nhiều, đặc sắc nhất có thể kể đến Ai tư

vãn của Ngọc Hân công chúa, hồng nhan tri kỉ của người anh hùng áo vải và

Hoài cựu của Ngô Thì Nhậm, cánh tay phải đắc lực, “vừa là bề tôi vừa là

khách” của hoàng đế Nhưng đó là những bài thơ được làm khi Quang Trung

đã qua đời Như vậy, thơ viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ đã ít mà thơ được sáng tác khi Người còn sống lại càng ít hơn Tiếng thơ Đoàn Nguyễn Tuấn góp vào văn học một bức họa chân dung hoàng đế Quang Trung tuy

gián tiếp nhưng hết sức sinh động và sâu sắc:

Vân ủng thần long há cửu thiên, Vạn nhân đầu thượng hữu thanh truyền

Thùy nhiêm tương thủ đăng thiên lý,

Cổ lãng phiên ba hấp vạn xuyên

Quyển tận lan đào qui phế phủ, Phún lai vũ trạch phổ hoàng diên

Nhất ban linh ứng nan lường xứ,

Vị tất đan thanh tả đắc huyền

(Mây đỡ rồng thần từ trời cao xuống, Trên đầu muôn người có tiếng truyền vang

Rủ râu, cao đầu bay lên nghìn dặm,

Vỗ sóng, cuốn nước, hút lấy muôn sông

Thu hết sóng nước vào trong gan dạ, Phun ra mưa móc tưới khắp mọi nơi

Sự linh thiêng nói chung khó mà lường được,

Trang 40

Màu “đan thanh” chưa chắc tả được vẻ thần.)

( Đề thần long ẩm thủy đồ - Đề bức hoạ “Rồng thần hút nước”)

Ẩn dụ về hoàng đế Quang Trung ngoài hình tượng rồng ra có lẽ không còn hình tượng nào thích hợp hơn Sự thích hợp đó không phải chỉ vì xưa nay

rồng vẫn thường tượng trưng cho quyền lực của vua chúa mà còn vì một lẽ khác Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng

của dân tộc Việt Nam Nó là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” của người Việt Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý Rồng thời Lý thân tròn lẳng, khá dài và không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát Các nhà nghiên cứu gọi đây là rồng hình giun hay hình dây Không biết vô tình hay hữu ý mà hình tượng rồng thời này rất giống biểu tượng “đằng lạc” (dây mây quấn quýt) trong bài “Quốc tộ” của thiền sư Đỗ Pháp Thuận, bài thơ mở đầu cho thơ ca sơ kì trung đại Việt Nam Cũng giống như hình tượng “đằng lạc”, hình tượng rồng thời Lý biểu trưng cho sự uyển chuyển, phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau Nói như Đoàn Thị Thu Vân: “Đây là sức mạnh của nhu thắng cương, nhược thắng

cường.” (Đoàn Thị Thu Vân, Bài thơ "Vận nước" và những giá trị văn hoá

Việt, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5/2010) Đến thời Lê, khi vua chúa thâu

tóm quyền năng tối thượng, hình tượng rồng trở nên xa lạ với tâm thức dân gian, bị tước đoạt để làm biểu tượng của quyền uy: đầu to, bờm lớn ngược ra sau, chiếc mũi to thay thế mào lửa, thân trông nặng nề, chỉ còn lượn hai khúc lớn, chân mọc năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn Đến thế kỷ XVIII, thế kỉ của phong trào nông dân khởi nghĩa, hình tượng rồng mới trở về với vẻ đẹp thân thuộc trong tâm thức dân gian với những phù điêu hiếm quý tạc cảnh đôi rồng tình tự, cảnh rồng mẹ vui vầy che chở bầy rồng con quấn quýt Nhưng rồi khi nhà Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn áp đặt nền chuyên chế hà khắc, hình

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w