Chính vì vậy, chúng tôi thống nhất chọn đề tài”Khảo sát sinh hoạt văn học dân gian của một số nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”làm đề tài nghiên cứu cho luận văn.. Với
Trang 1_
Võ Thị Xuân Thúy
KHẢO SÁT SINH HOẠT VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA
MỘT SỐ NHÓM CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Võ Thị Xuân Thúy
KHẢO SÁT SINH HOẠT VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA
MỘT SỐ NHÓM CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh; Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh
An Giang; Ban Giám Đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên Huyện Tri Tôn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt là tôi xin gởi lời tri ân đến TS Hồ Quốc Hùng, thầy đã hướng dẫn tận tình trong quá trình thực hiện đề tài
Để hoàn thành một đề tài nghiên cứu khảo sát thực tế như thế này cũng nhờ sự cộng tác giúp đỡ của chính quyền địa phương cùng những cư dân trên các địa bàn: Xã Nam Thái Sơn ( Huyện Hòn Đất); Thị trấn Tân Hiệp (Huyện Tân Hiệp) và Thị trấn Kiên Lương (Huyện Kiên Lương) của tỉnh Kiên Giang Bên cạnh đó, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, thầy cô, bạn bè và những người thân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
này sẽ còn nhiều chỗ sai sót nhất định Kính mong được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để chúng tôi có thêm nhiều kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau
Trang 4LỜI CẢM ƠN0T 30T
MỤC LỤC0T 40T
MỞ ĐẦU0T 10T
Chương 1: QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ CỦA CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG0T 60T
1.1 Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang và quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 60T
1.1.1 Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 60T
1.1.2 Vài nét về quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T80T
1.2 Đặc điểm của các nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 120T
1.2.1 Đặc điểm của nhóm cư dân thứ nhất0T 120T
1.2.2 Đặc điểm của nhóm cư dân thứ hai0T 150T
1.2.3 Đặc điểm nhóm cư dân thứ ba0T 170T
1.3 Đặc điểm của cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 190T
Chương 2 : TÌNH HÌNH TƯ LIỆU0T 210T
2.1 Nhóm tư liệu điền dã0T 210T
2.1.1 Nhóm tư liệu từ việc điều tra phỏng vấn0T 210T
2.1.2 Nhóm tư liệu từ việc điều tra bằng phiếu trắc nghiệm0T 290T
2.2 Nhóm tư liệu đã được sưu tầm, nghiên cứu lưu hành0T 390T
2.2.1 Nhóm tư liệu sưu tầm0T 390T
2.2.2 Nhóm tư liệu đã được nghiên cứu, lưu hành0T 400T
2.3 Nhận xét tư liệu0T 410T
2.3.1 Nhận xét kết quả nhóm tư liệu điền dã0T 410T
2.3.2 Nhận xét kết quả đối chiếu tư liệu0T 430T
Chương 3: ĐẶC THÙ TRONG SINH HOẠT VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG0T 470T
3.1 Cách thức và nội dung sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 47
Trang 53.2 Những nét đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 590T
3.2.1 Tâm thức trong sinh hoạt văn học dân gian0T 590T
3.2.2 Sự giao thoa, ảnh hưởng trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc với cư dân bản địa0T 620T
3.3 Quy luật vận động trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phìa Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang0T 660T
3.3.1 Quy luật vận động: Vùng ngoại biên bảo lưu văn hóa tốt hơn vùng trung tâm0T 670T
3.3.2 Quy luật vận động: Thích nghi môi trường trong sinh hoạt văn học dân gian0T 680T
KẾT LUẬN0T 710T
TÀI LIỆU THAM KHẢO0T 740T
PHỤ LỤC0T 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay, do nhiều nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan mà có nhiều đợt di cư của cư dân phía Bắc vào Nam Dù cho họ xuất thân từ tầng lớp nào đi chăng nữa thì khi đến vùng đất mới họ vẫn mang theo những hành trang quý giá nhất về văn hóa vốn được hình thành từ bao đời Trong những thứ hành trang quý giá ấy, ắt hẵn không thể thiếu văn học dân gian của quê hương mình Chính vì vậy, sinh hoạt văn học dân gian trên vùng đất mới chính là một biểu hiện của tâm thức những người li hương xa xứ Trong những dịp sinh hoạt văn học dân gian ấy, họ có dịp giao lưu văn hóa với văn học dân gian của cư dân khác thuộc khối cộng cư
Với mong muốn tìm hiểu đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên vùng đất Nam Bộ, được sự gợi ý, hướng dẫn của thầy và sự động viên giúp đỡ của gia đình, bạn bè, chúng tôi xin chọn vấn đề này làm đề tài cho luận văn
tỉnh tiêu biểu ở Nam Bộ có nhiều nhóm cư dân phía Bắc sống tập trung – đó là tỉnh Kiên Giang Thiết nghĩ, đây là một đề tài thú vị, mở ra hướng tiếp cận văn học dân gian từ nguồn văn học dân gian sống thông qua thâm nhập môi trường thực tế đời
sống Chính vì vậy, chúng tôi thống nhất chọn đề tài”Khảo sát sinh hoạt văn học
dân gian của một số nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi thực hiện nhằm mục đích sau:
Thứ nhất, tìm ra những nét đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của các nhóm cư dân phía Bắc ở Nam Bộ thông qua việc khảo sát một địa bàn cụ thế - tỉnh Kiên Giang
Thứ hai, luận văn góp phần khẳng định tính tích cực, hiệu quả của việc nghiên cứu văn học dân gian bằng cách thức điền dã
Trang 7Từ những mục đích đã đề ra, chúng tôi cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, chúng tôi tiến hành tìm hiểu quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Theo chúng tôi, cần thiết phải tìm hiểu điều này vì đặc điểm môi trường vùng đất định cư sẽ là cơ sở vững chắc cho việc bảo tồn và phát triển văn nghệ dân gian nói chung và văn học dân gian nói riêng
Thứ hai, chúng tôi tiến hành ghi chép trung thực và xử lí những tư liệu do người dân cung cấp về sinh hoạt văn học dân gian của họ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra để khảo sát tình hình sinh hoạt văn học dân gian theo từng nhóm đối tượng cụ thể
Thứ ba, từ những tư liệu khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu sinh hoạt văn học dân gian của cư dân miền Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang với cư dân bản địa (ở từ lâu đời) Từ đó, chúng tôi khái quát lên những quy luật vận động trong sinh hoạt văn học dân gian từ vùng đất cố cựu lên vùng đất mới, rút ra những nét đặc thù, thế mạnh, hạn chế trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc cư trú trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3 Lịch sử vấn đề
Chúng tôi nghĩ rằng đây là một đề tài mới và rất thú vị Trong quá trình khảo sát, chúng tôi rất tiếc chưa tìm được công trình nghiên cứu nào liên quan đến đề tài Chính vì vậy, để thực hiện đề tài theo mục đích và nhiệm vụ đề ra ở trên, chúng tôi phải rất khó khăn để giải quyết cho tường tận Kính mong quý thầy cô thông cảm
4 Đóng góp của luận văn
Chúng tôi nhận thấy với việc khảo sát đề tài này, luận văn có những đóng góp sau: Thứ nhất, thông qua việc xử lí tư liệu, luận văn đã tìm ra được những nét đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, rút ra những quy luật vận động trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân
từ phía Bắc vào Nam
Thứ hai, luận văn góp phần khẳng định tính tích cực, hiệu quả của việc nghiên cứu sự vận động, sinh tồn của văn học dân gian bằng cách thức điền dã
Trang 8
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp chuyên ngành, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp sau:
Với đề tài này, chúng tôi dùng phương pháp điều tra xã hội học ở hai cách: Thứ nhất, điều tra dạng hỏi – đáp (hỏi và trả lời bằng miệng)
Thứ hai, điều tra dạng trắc nghiệm (lập phiếu điều tra theo từng nhóm đối tượng cụ thể)
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm so sánh đối chiếu sinh hoạt văn học dân gian của cư dân miền Bắc trên địa bàn Kiên Giang với các tài liệu sưu tầm văn học dân gian ở miền Bắc và sinh hoạt văn học dân gian của cư dân bản địa
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Căn cứ vào đặc thù của đề tài nghiên cứu văn học dân gian thông qua con đường điền dã trên một địa bàn cụ thể nên đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Tuy nhiên, để tiện cho việc khảo sát, chúng tôi chỉ chọn những địa bàn tiêu biểu trong tỉnh Kiên Giang có đông người miền Bắc sống tập trung Cụ thể, luận văn sẽ khảo sát trên ba huyện của tỉnh Kiên Giang, trong mỗi huyện, chúng tôi
sẽ chọn một xã hoặc thị trấn tiêu biểu Như vậy, đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: cư dân phía Bắc cư trú trên các khu vực thuộc xã Nam Thái Sơn (huyện Hòn Đất); thị trấn Tân Hiệp (huyện Tân Hiệp) và thị trấn Kiên Lương (huyện Kiên Lương) của tỉnh Kiên Giang Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi xin tạm gọi cư
Trang 9dân miền Bắc cư trú ở xã Nam Thái Sơn là nhóm một; cư dân miền Bắc cư trú ở thị trấn Tân Hiệp là nhóm hai và cư dân miền Bắc cư trú ở thị trấn Kiên Lương là nhóm ba Cách gọi này chúng tôi sẽ dùng thống nhất trong luận văn
Về phương diện phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chủ yếu đi vào khảo sát những vấn đề liên quan đến sinh hoạt văn học dân gian đối với đối tượng nghiên cứu đã nêu ở trên
7 Cấu trúc của luận văn
gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Chương 1:Quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.1 Đặc điểm vùng đất định cư
1.1.Tư liệu từ việc điều tra phỏng vấn
U
trên địa Bàn tỉnh Kiên Giang
3.1.Cách thức và nội dung sinh hoạt văn học dân gian
Trang 103.1.2 Cách thức và nội dung sinh hoạt văn học dân gian phổ biến
nhóm cư dân
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong sự đối sánh với sinh hoạt văn học dân gian của cư dân bản địa
bản địa
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
trung tâm
Trang 11Chương 1: QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ CỦA CƯ DÂN PHÍA BẮC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Ở chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ lược về vùng đất định cư và những đặc điểm chính của cả ba nhóm đối tượng cư dân phía Bắc cư trú trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Từ đó, chúng tôi tìm ra những điều kiện thuận lợi cũng như những khó khăn của vùng đất định cư đối với sự phát triển văn học dân gian Chúng tôi nghĩ rằng tìm hiểu sinh hoạt văn học dân gian của một cộng đồng người là cần thiết phải tìm hiểu rõ về những vấn đề liên quan đến đời sống của họ Bởi vì chúng tôi hiểu rằng sinh hoạt văn học dân gian là hoạt động mang tính cộng đồng, họ sử dụng văn học dân gian hoặc chất liệu văn học dân gian có hoặc không có chủ ý ngay trong đời sống sinh hoạt thường nhật Thiết nghĩ, những nội dung này sẽ là những tiền đề quan trọng chi phối sự hình thành và phát triển nền văn học dân gian ở địa bàn tỉnh Kiên Giang nói chung và sinh hoạt văn học dân gian của các nhóm cư dân miền Bắc di cư vào Nam trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng
1.1 Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang và quá trình định cư của cư dân phía
B ắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.1.1 Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang
nước ta Trung tâm của tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh
250 km về phía Tây Tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với tỉnh An Giang ở phía Đông Bắc, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang ở phía Đông, tỉnh Bạc Liêu ở phía Đông Nam, tỉnh Cà Mau phía Nam, đặc biệt là phía Bắc giáp với nước Campuchia với đường biên giới dài 54 km và Vịnh Thái Lan ở phía Tây với đường biển dài hơn 200
km Tỉnh Kiên Giang có khoảng hơn 100 đảo lớn nhỏ ngoài biển vá có diện tích rừng ngập mặn vào loại nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh có diện tích
2
hành chính, tỉnh Kiên Giang có một thành phố, một thị xã và mười ba huyện Nhìn chung, trong tất cả các địa bàn của tỉnh đều có ba thành phần dân tộc gồm Kinh,
Trang 12Hoa và Khơ me Trong số đó, người Kinh chiếm tỉ lệ đông nhất với một phần người Kinh bản địa và một bộ phận rất đông người Bắc di cư vào Nam Những người gốc Bắc di cư này chủ yếu sống ở các địa bàn thuộc các huyện Hòn Đất, Tân Hiệp và Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang Nhìn chung, những người dân trong khối cộng cư này vẫn sống chan hòa, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, người Bắc hay người Nam Họ luôn yêu thương, đoàn kết giúp đỡ, chia sẽ nhau trong việc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cũng như trong sinh hoạt văn hóa cũng có sự giao lưu với nhau Chính điều này đã tạo nên nét đặc thù trong sinh hoạt văn hóa của địa bàn này
Về mặt lịch sử, Kiên Giang trước đây là một trấn hoang vu của phủ Sài Mạt thuộc Chân Lạp xưa do Mạc Cửu, di thần nhà Minh- Trung Quốc, do không hàng phục triều đình Mãn Thanh đã di cư đến mở mang, khai phá và phát triển làm cho vùng đất này ngày càng trở nên trù phú hơn Khoảng cuối thế kỉ mười bảy, đầu thế
kỉ mười tám, vua Cao Miên phong cho Mạc Cửu chức Ốc nha để cai quản vùng đất
không có đủ sức mạnh quân sự để bảo vệ, vì vậy, năm 1708, Mạc Cửu đã thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu để được bảo hộ nhưng vẫn giữ nguyên chức vụ Từ lúc đó trở đi, vùng đất này thuộc lãnh thổ của Việt Nam và có tên gọi Hà Tiên Sau này, con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tích làm đô đốc cai trị và mở rộng thêm vùng đất này Đến đời Minh Mạng, 1832, Hà Tiên là một trong sáu tỉnh Nam kì Đến năm
1876, Pháp chia Nam kì thành bốn khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành các tiểu khu hay hạt tham biện thì tỉnh Hà Tiên lúc bấy giờ lại bị chia thành hai hạt là Hà Tiên và Rạch Giá Đến khoảng năm 1900, hai hạt tham biện
Hà Tiên và Rạch Giá lại đổi thành hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá Sau năm 1954, hai tỉnh này nhập lại làm một với tên gọi là Kiên Giang như ngày nay
Vốn là một tỉnh giàu tiềm năng về kinh tế lại được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào bao gồm hơn hai mươi núi đá vôi lớn nhỏ lại thêm rừng vàng biển bạc nên đời sống của người dân Kiên Giang tương đối phát triển Cùng với sự phát triển ấy, đời sống văn hóa tinh thần của người dân Kiên
Trang 13Giang cũng được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, như đã nói, đây là địa bàn có nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo đặc biệt là khu vực có rất đông người di cư gốc Bắc sống tập trung nên trong sinh hoạt văn hóa vừa đa dạng vừa phức tạp Ngoài sự tiếp thu nền văn hóa mới trong khối cộng cư, mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng kể
cả những người dân di cư, khi đến vùng đất mới, họ vẫn mang theo và truyền cho các thế hệ con cháu những gì thuộc về bản sắc văn hóa của quê hương mình Người Hoa ở Kiên Giang dù đã định cư rất lâu nhưng họ vẫn nói lưu loát tiếng mẹ đẻ và những nghi thức lễ hội của họ đều được bảo tồn Người Khơ me bản địa cũng thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, tôn giáo của mình rất rõ trong sinh hoạt tập thể ở các
lễ hội chùa chiền Người miền Bắc khi di cư vào Nam cũng thể hiện mình bằng những nét văn hóa đặc sắc của quê hương qua những cân chuyện kể, những lời ru, điệu hò câu hát quê mình
1.1.2 Vài nét về quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Đối với đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi những người gốc Bắc di cư trong khoảng thời gian từ nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay Như đã giới thiệu ở phần
mở đầu, từ khoảng nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay đã có rất nhiều đợt di cư của cư dân phía Bắc vào Nam Họ di cư với nhiều lí do, có thể là vì cuộc sống mưu sinh cũng có thể vì lí do tôn giáo, chính trị hoặc nhiều lí do khác nữa, thế nhưng, hầu hết những người miền Bắc di cư đến miền Nam nói chung, đến tỉnh Kiên Giang nói riêng đều có điểm chung là cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó Qua khảo sát tư liệu và thực tế, chúng tôi nhận thấy trong khoảng một thế kỉ trở lại đây có nhiều đợt
di cư từ Bắc vào Nam nhưng nhìn chung vẫn có ba đợt di cư được xem là quy mô lớn Đó là các đợt di cư vào các năm : 1941, từ 1954 đến 1956 và từ 1978 đến 1979 Đợt di cư có thể xem là sớm nhất là đợt di cư năm 1941 của người miền Bắc chủ yếu là ở vùng nông thôn Vào năm 1940, báo chí miền Bắc có đăng một bài thơ vận động nhân dân đi vào Nam, cụ thể là vùng Rạch Giá, Tri Tôn làm đồn điền Hiện nay, hầu hết người dân di cư vào Nam vẫn truyền lại cho con cháu nội dung bài thơ như sau:
Trang 14“Vốn nhà nông nghề mình từ trước
Việc cấy cày cả nước cùng theo
Bắc kì ruộng ít người nhiều
Cái điều nhân mãn là điều đáng lo
Miền Rạch Giá người thưa đất rộng Bãi phù sa gần vũng Tri Tôn
Muôn ngàn mẫu ruộng bỏ không
Cỏ hoa vui mắt non sông nhiệm mầu Nay muốn giúp dân nghèo cả nước
Chính phủ bèn mở cuộc di dân
Đưa người ra đó làm ăn
Riêng dân Nam, Thái dự phần được đi Nhờ chính phủ thương vì rất mực
May áo quần lương thực cấp cho
Ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò
Mười lăm mẫu ruộng riêng cho tư điền Dịp may mắn tự nhiên mà gặp
Anh em nghèo xin chớ bỏ qua
Chữ rằng tứ hải vi gia
Ở đâu cũng đất nước nhà Việt Nam
Nên cố gắng ăn làm chăm chỉ
Chớ tin điều tà quỉ điêu ngoa
Những điều gian trá xấu xa
Đừng nên nghe vạy nữa mà mất khôn Cát lấp mãi nên cồn mấy chốc
Đất vỡ dần thành thục có phen
Nền ta nếp cũ vẫn còn
Ngoảnh trông Tiền Hải, Kim Sơn thuở nào Công tác thổ dồi dào khắp cõi
Trang 15Cuộc hưng vong nối dõi tông đường
Một mai sở vững bền
Thành làng thành nước nổi lên cơ đồ ”
Đó là một nội dung vận động nhân dân hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào vùng Tri Tôn lập nghiệp, thực ra đó là một hình thúc mộ phu của tay tư sản Belot Được chính quyền thực dân ủng hộ bằng một số chính sách cụ thể trong việc di dân, Belot đã mộ được 750 gia đình của các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Thụy Anh,
Nghĩa Hưng, Xuân Thủy, Hải Hậu thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào làm công cho hắn dưới hình thức chia đất cho dân khai hoang lập nghiệp Như vậy, đến
ngày 27/10/1941, đã có 750 gia đình quê ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào định
cư trên vùng đất mới này cho đến ngày nay Có thể xem đợt di cư này là cuộc di cư thứ nhất và riêng có trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Đợt di cư thứ hai có thể xem là cuộc di cư vào Nam qui mô lớn nhất từ trước đến nay Qua khảo sát tài liệu, chúng tôi thấy rằng từ năm 1954 đến năm 1956, tổng cộng có khoảng một triệu người gốc Bắc di cư vào Nam Ngoài số đông là người Kinh, trong đợt di cư này cũng có khoảng bốn mươi lăm ngàn người dân tộc thiểu
số Tây Bắc như Nùng, Thái, Mèo, Trong đợt di cư này, đồng bào công giáo có khoảng tám trăm ngàn người chiếm hơn hai phần ba số dân di cư Trong số đó có rất đông giáo dân thuộc các làng Bùi Chu và Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình và các khu vực phụ cận Như vậy, có thể nói lí do tôn giáo là lí do thứ nhất của những người di cư đợt này Có thể xem đợt di dân này là đợt di dân nhiều nhất trong lịch
sử của người gốc Bắc vào Nam Khi vào Nam, đại bộ phận những cư dân này sống tập trung theo khu vực, cũng có một số rất ít sống riêng lẽ hòa nhập cùng cộng đồng người Nam bản địa hoặc các dân tộc khác Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy rằng, những khu vực có đông người gốc Bắc di cư trong đợt này tập trung nhiều nhất ở các địa bàn của tỉnh Đồng Nai và rất nhiều trong số đó tập trung ở một số địa bàn thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, có địa bàn Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Đây cũng là địa bàn nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài
Trang 16Khác với đợt di dân năm 1941, đợt di dân này gồm nhiều thành phần rất phức tạp, có cả những người trí thức và những người có xu hướng chính trị tiêu cực Qua khảo sát ở địa bàn Tân Hiệp và Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang, chúng tôi thấy đa
số di dân vào Nam vì lí do chính trị trong đợt này hiện nay đã di cư sang Mỹ, nhất là những người định cư ở địa bàn Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi xin phép không đề cập nhiều đến vấn đề lí do chính trị hay tôn giáo của những người di cư đợt này Thiết nghĩ, đó là vấn đề nhạy cảm và cũng không cần thiết cho phần tiền đề để đi vào việc tìm hiểu sinh hoạt văn học dân gian của họ
Đợt di dân thứ ba là đợt di dân khoảng từ năm 1978 đến mùa hè năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nước ta nổ ra, một số cư dân ở nhiều địa bàn miền Bắc đã lần lượt di cư vào Nam Hầu hết những người di dân trong đợt này là tránh họa chiến tranh, một số khác vì lí do kinh tế khó khăn nên vào Nam lập nghiệp Khi vào Nam, họ định cư ở nhiều nơi, nhiều tỉnh ở miền Nam Chính vì vậy, họ khác với các đợt di dân trước, những người di dân trong đợt này có quê gốc ở nhiều tỉnh khác nhau và ít sống tập trung thành khu vực như các nhóm di dân trước đó Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ở tỉnh Kiên Giang duy chỉ có địa bàn Kiên Lương là có nhóm cư dân này sống tập trung tương đối cao
Ngoài ba đợt di cư nói trên, khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng còn có nhiều đợt di cư khác với quy mô nhỏ lẻ Những nhóm cư dân này vào Nam nhiều nhất vào những năm tám mươi đến nay với nhiều
lí do nhưng nhiều nhất vẫn là đoàn tựu gia đình và mục đích kinh tế Một nhóm người dân gốc Bắc khác vào Nam cũng tương đối đông là những cán bộ công viên chức chuyển công tác và bộ đội vào Nam sau 1975 Nhìn chung, trên địa bàn Kiên Giang, những nhóm này định cư ở nhiều nơi nhưng nhiều nhất vẫn là các khu vực thuộc các địa bàn nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài này, đặc biệt chiếm tỉ lệ cao nhất ở địa bàn huyện Kiên Lương
Trang 171.2 Đặc điểm của các nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 1.2.1 Đặc điểm của nhóm cư dân thứ nhất
1.2.1.1 Vài nét về lịch sử vùng đất Nam Thái Sơn
Là một xã thuộc huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Nam Thái Sơn có rất đông người dân phía Bắc di cư Về vị trí địa lí, xã Nam Thái Sơn nằm cặp theo kinh xáng Tri Tôn về phía bờ bắc kinh xáng Rạch Giá-Hà Tiên Xã có diện tích tự nhiên
2
P
với dân số trên 3000 người Phía Bắc giáp xã Vọng Thê và Cô Tô-tỉnh
An Giang, Nam giáp thị trấn Hòn Đất, Đông giáp xã Mỹ Hiệp Sơn-tỉnh Kiên Giang
và phía Tây giáp xã Bình Sơn-Kiên Giang
Trước đây, vùng này là rừng rậm, đất thấp Trải qua một thời gian dài với nhiều biến đổi của thiên nhiên, nhất là thời kì”hải thoái”(biển lùi), lại thêm được nước sông Cửu Long mang phù sa về bồi dần, cây tràm phát triển mạnh Rừng xanh tươi tốt nhưng gần như không có người ở Cho đến khi Trấn Hà Tiên được thành lập thì vùng đất này vẫn còn hoang vu, nhưng cư dân từ các vùng trên, phía An Giang, cũng bắt đầu lần xuống khai hoang lập nghiệp
Đến đầu thế kỉ XIX, dưới triều Nguyễn, khu vực này thuộc tổng Kiên Hảo, huyện Kiên Giang, tỉnh Hà Tiên Đến khi thực dân Pháp xâm chiếm miền Nam,
Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, Long Mỹ và Phước Long Các làng Thổ Sơn, Sóc Sơn, Mỹ Lâm đều thuộc quận Châu Thành Địa giới của các làng bấy giờ rất rộng Làng Sóc Sơn kéo dài từ Sóc Xoài đến Bình Sơn, bao trùm cả Nam Thái Sơn ngày nay
Từ khoảng những năm 20 của thế kỉ XX, thực dân Pháp cho đào kênh Rạch
và kênh Tám Ngàn để phục vụ cho việc khai thác rừng tràm và phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó, thời gian này, các đường giao thông nối liền Rạch Giá, Hà Tiên và các vùng phụ cận còn được mở Kênh Xáng Tri Tôn được đào từ Tri Tôn (Xà Tón) thuộc tỉnh An Giang xuống Rạch Giá-Hà Tiên nên chỗ khu vực nối có địa
Trang 18người khmer bản địa tập trung về ở hình thành xóm Tri Tôn
Khi kênh Tri Tôn hình thành, nhân dân các nơi kéo về khai hoang lập nghiệp, nhất là dân vùng Xà Tón, Ba Thê, lấn dần từ phía An Giang xuống ở dọc theo kênh xáng, mở đất làm ruộng hình thành những khu dân cư mới Từ những năm 1930, một số người hoạt động cách mạng ở các nơi khác bị chính quyền thực dân khủng
bố đã tìm về đây trú ngụ Thế nhưng, vùng đất này có cư dân đông đúc, trù phú như ngày nay phải kể đến những người di dân từ Bắc vào Nam
1.2.1.2 Vài nét về lịch sử di dân của nhóm cư dân thứ nhất
Như đã giới thiệu ở phần trước, vào khoảng những năm 30, 40 của thế kỉ XX, chính quyền thực dân cho phép số tư sản người Pháp và địa chủ người bản xứ đến địa bàn xã Nam Thái Sơn ngày nay khai thác rừng tràm và mở các đồn điền trồng lúa Vùng đất Nam Thái Sơn ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Sóc Sơn được một tay
tư sản người Pháp tên Belot xin khai thác phần đất phía đông kinh xáng Tri Tôn Tại đây, ở hai bờ kênh xáng đã có một số người dân bản địa sinh sống nhưng rất thưa thớt Như đã nói ở phần trước, đến năm 1941, địa bàn này lại có thêm có 750 gia đình quê ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào định cư trên vùng đất mới này cho đến ngày nay
Tính đến thời điểm khảo sát đề tài, người viết đã thống kê có khoảng hơn 2500 người dân trên địa bàn xã Nam Thái Sơn là người gốc Bắc, chiếm tỉ lệ trên 80 phần trăm dân số trong toàn xã Thời gian đầu, cộng đồng cư dân Nam Thái Sơn được hình thành nhưng mối quan hệ giữa dân di cư mới đến và dân địa phương chưa gắn
bó chặt chẽ vì ai cũng phải lao động cật lực để mưu sinh Khi cuộc sống dần ổn định, quan hệ của họ càng ngày càng thân thiết qua trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống, lao động sản xuất hay giao lưu văn hóa, không có sự phân biệt giữa dân mới
và dân cũ, người Bắc hay người Nam Việc hình thành tên xã Nam Thái Sơn cũng
đã phần nào khẳng định mối quan hệ khắng khít của cộng đồng cư dân trong khối cộng cư này (Nam Thái Sơn là tên ghép giữa dân di cư Nam Định, Thái Bình và cư dân người kinh, khơ me thuộc làng Sóc Sơn bản địa)
Trang 191.2.1.3 Điều kiện sinh sống
Phần lớn những hộ gia đình di dân ở xã Nam Thái Sơn theo tập quán lao động của ông cha là làm ruộng và chăn nuôi nông nghiệp Tuy nhiên, có một bộ phận người di dân đến đây lại chuyển sang làm nghề nắn lò đất Đây là một nghề truyền thống có trên một trăm năm nay của cư dân bản địa do tận dụng nguồn nguyên liệu đất sét tự nhiên của địa phương Thế nhưng, từ khi nhiều gia đình người Bắc di cư
với tên gọi “Xóm lò đầu doi” Tại đây, người dân di cư không chỉ nắn lò đất mà còn
chuyên sản xuất một số loại sản phẩm gia dụng như khuôn bánh, nồi, óng khói lò, Nhờ sự cần cù vốn có của số đông đồng bào di cư mà đời sống người dân ở Nam Thái Sơn hiện nay đang dần khấm khá, phát triển hơn
1.2.1.4 Về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng
Hầu hết người dân di cư vào Nam Thái Sơn đều xuất phát từ gốc nông thôn cùng khổ thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình Chính vì vậy, khi đến vùng đất mới, họ vẫn bảo tồn truyền thống tín ngưỡng, văn hóa của quê hương mình Khi có điều kiện thì họ lập tức xây dựng đền thờ những anh hùng dân tộc trên vùng đất mới Có lẽ, đó vừa là niềm tự hào đối với quê hương của họ vừa là chỗ dựa tinh thần giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Khảo sát trong toàn xã Nam Thái Sơn có tổng cộng ba đền thờ đều là do những người Bắc di cư xây dựng, đó là hai đền thờ các vị vua nhà Trần và đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Mặc dù qui mô các đền thờ có khác nhau nhưng lòng tôn kính của họ đối với các bậc tiền nhân theo thời gian vẫn không suy giảm Hàng năm, họ đều tổ chức các nghi thức lễ hội rất long trọng với sự tham gia của đông đảo người dân di cư, trong
đó có cả người dân bản địa Qua khảo sát thực tế, người viết nhận thấy phần lớn người di cư nơi đây không theo tôn giáo nào cả Họ thờ cúng tổ tiên ông bà, thổ địa, thành hoàng và trong nhà đều có treo ảnh Bác Hồ Một bộ phận rất ít người di dân là
ảnh hưởng của đạo Phật giáo Hòa Hảo của người dân Nam Bộ và đạo phật của người Khmer bản địa
Trang 20Hòa chung vào sự giao lưu tín ngưỡng là sự giao lưu văn hóa giữa những người di dân và người bản địa Trong những lễ hội, sinh hoạt văn hóa của người miền Bắc di cư không bao giờ thiếu sự tham gia của những người bản địa, kể cả người Khmer và người dân vùng phụ cận Và tất nhiên trong các lễ hội, sinh hoạt văn hóa của người dân bản địa cũng không thể thiếu sự tham gia nhiệt tình của người dân di cư Thoạt nhìn cứ tưởng trong khối cộng cư này có sự hòa trộn văn hóa sâu sắc nhưng quan sát kĩ thì đó chỉ là sự giao lưu, tiếp thu những tinh hoa giữa các vùng văn hóa với nhau Đã hơn nửa thế kỉ vào Nam nhưng những người Bắc di cư vẫn bảo ban cho con cháu mình giữ giọng nói của người con Nam-Thái, vẫn nhớ không quên những lời ru, điệu hò câu hát và cả những câu truyện kể như là niềm tự hào đối với quê hương xứ sở
1.2.2 Đặc điểm của nhóm cư dân thứ hai
1.2.2.1 Vài nét về lịch sử vùng đất Tân Hiệp
Địa bàn Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang là địa bàn có rất đông người dân miền Bắc theo đạo Công giáo di cư vào Nam Huyện được thành lập năm 1957 trên cơ sở tách ra từ quận Kiên Thành Nơi đây có vị trí địa lí thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội vì huyện nằm trên trục đường chính nối dài theo hướng thành phố Rạch Gía đi thành phố Hồ Chí Minh Huyện gồm chín xã và thị trấn trung tâm- thị trấn Tân Hiệp, phía Bắc giáp huyện Thoại Sơn-tỉnh An Giang, phía Nam giáp huyện Giồng Riềng- tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp huyện Vĩnh Thạnh- thành phố Cần Thơ và phía Tây giáp thành phố Rạch Giá, huyện Châu Thành- tỉnh Kiên Giang
Do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu địa bàn có đông người miền Bắc di cư nhất huyện, đó là thị trấn Tân Hiệp Thị trấn Tân Hiệp có diện tích
từ miền Bắc vào Nam xây dựng từ năm 1957
Trang 211.2.2.2 Vài nét về lịch sử di dân của nhóm cư dân thứ hai
Như đã nói ở phần trước, từ năm 1954 đến năm 1956 một bộ phận khá đông người dân theo đạo Công giáo ở nhiều địa bàn miền Bắc di cư vào Nam Chúng tôi xin phép không đề cập đến vấn đề chính trị liên quan đến lịch sử di dân của nhóm
cư dân này Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng khi di cư vào địa bàn tỉnh Kiên Giang
họ định cư tập trung nhiều nhất ở địa bàn Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang và một số vùng phụ cận thuộc thành phố Cần Thơ Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến nhóm cư dân định cư trên vùng đất Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang
Có thể thấy, phần lớn nhóm người di cư này là những người theo đạo và có trình độ học vấn tương đối, kinh tế cũng không đến nỗi khó khăn cùng khổ (khác với nhóm
cư dân thứ nhất đã trình bày ở trên) Chính vì vậy, chỉ ba năm khi đến vùng đất mới (tính đến thời điểm thành lập huyện Tân Hiệp), họ nhanh chóng biến vùng đất trũng sâu của quận Kiên Thành xưa kia thành huyện Tân hiệp có sự phát triển về mọi mặt,
có nhiều kênh rạch chằng chịt, đặc biệt mang đậm dấu ấn, bản sắc văn hóa của người miền Bắc
1.2.2.3 Điều kiện sinh sống
Đây là địa bàn trung tâm và là khu vực thị tứ của huyện nên phần lớn người dân ở đây sống dựa vào buôn bán, nuôi trồng thủy sản và các làng nghề thủ công truyền thống Một bộ phận khác chủ yếu tập trung vào lớp trẻ làm công nhân cho các nhà máy chế biến nông sản ở địa phương và các khu vực lân cận Hiện nay, địa bàn này vẫn còn làng nghề truyền thống làm bánh đa rất phát triển thu hút hàng trăm
hộ gia đình tham gia Đây là làng nghề truyền thống của người gốc Bắc, nó ra đời ngay khi có mặt của người Bắc trên vùng đất này Nhìn chung, tính đến thời điểm đề tài, chúng tôi nhận thấy đời sống của người dân nơi đây, đặc biệt là người dân di cư
từ phía Bắc đều có đời sống tương đối ổn định
1.2.2.4 Về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng
Theo số liệu điều tra thống kê thì hiện nay toàn thị trấn Tân Hiệp có khoảng hơn 70 phần trăm người gốc Bắc sinh sống Phần còn lại gồm dân người kinh, người Khmer bản địa và cả người gốc Hoa di cư Như đã nói ở trên, chỉ khi người miền
Trang 22Bắc di cư vào huyện này mới có và cùng lúc với quá trình thành lập địa bàn mới là đền thờ Quốc tổ Hùng Vương được dựng lên Nếu ở thành phố Hồ Chí Minh có đến
9 đền thờ Quốc tổ Hùng Vương thì ở đồng bằng sông Cửu Long duy nhất chỉ có ở đây có đền thờ Qua tìm hiểu thực tế, ngôi đền thờ này tọa lạc tại ấp Đông Bình, thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Năm 2005, đền đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, những người dân quanh vùng dù là người Nam hay người Bắc đi đâu xa vẫn về
để bái vong linh tổ tiên Không chỉ có vậy, nơi đây còn có vài đền thờ các vị thần cũng do những người Bắc di cư xây dựng mang dáng dấp của những đền thờ ở quê hương họ Điều đó cho thấy ý thức về cội nguồn, truyền thống dân tộc rất mãnh liệt của những người con xứ Bắc li hương và cả của người bản địa
Như đã nói ở trên, đa số những người di dân miền Bắc vào đây là tín đồ của đạo Công giáo cho nên ở huyện Tân Hiệp nói chung và thị trấn Tân Hiệp nói riêng
có rất nhiều nhà thờ Công giáo phục vụ cho việc tín ngưỡng của người dân nơi đây Hàng tuần vào ngày chúa nhật, những giáo dân nơi đây không phân biệt Bắc Nam
nô nức đi lễ Trong những dịp lễ lớn như lễ Giáng sinh họ tổ chức rất long trọng, hòa vào dòng người đi lễ có cả sự có mặt của các cư dân bản địa Và trong những lễ hội khác của người bản địa lại cũng có sự tham gia của những người Bắc di cư Chính trong những dịp như thế họ lại có điều kiện kết thân, trao đổi kinh nghiệm làm ăn và cả giao lưu văn hóa trong những lần sinh hoạt mang tính tập thể của khối cộng cư
1.2.3 Đặc điểm nhóm cư dân thứ ba
1.2.3.1 Vài nét về lịch sử vùng đất Kiên Lương
Kiên Lương là một địa bàn thuộc trấn Hà Tiên xưa Ngày 31 tháng 5 năm
1961, chính quyền Sài Gòn cho tách ra khỏi Hà Tiên để thành lập quận Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang Từ sau năm 1975, Kiên Lương lại được sát nhập vào huyện
Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Cho đến ngày 8 tháng 7 năm 1998, vùng đất này lại tách khỏi Hà Tiên để thành lập huyện Kiên Lương cho đến ngày nay
Trang 23Xét về địa giới hành chính, huyện Kiên Lương bao gồm khu vực trung tâm là thị trấn Kiên Lương và 9 xã Huyện có vị trí khá thuận lợi về mọi mặt với phía Bắc giáp huyện Tri Tôn-tỉnh An Giang, phía Nam giáp với biển, phía Đông giáp với huyện Hòn Đất-tỉnh Kiên Giang và phía Tây giáp với huyện Hà Tiên - tỉnh Kiên
liên quan đến khu vực thị trấn Kiên Lương
2
P
, với dân số là 85309 người Đây là khu vực thị tứ trung tâm của huyện với nhiều cơ quan mới xây dựng rất khang trang Do địa bàn nằm trải dài trên trục đường chính nối liền thành phố Rạch Giá với huyện Hà Tiên lại có núi có biển, dân cư đông đúc nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và văn hóa xã hội
1.2.3.2 Vài nét về lịch sử di dân của nhóm cư dân thứ ba
So với hai địa bàn trước đó mà chúng tôi khảo sát, địa bàn này có thành phần người gốc Bắc di cư chiếm tỉ lệ thấp hơn Qua tìm hiểu thực tế địa bàn, chúng tôi thấy rằng người gốc Bắc định cư ở thị trấn Kiên Lương có khoảng từ 50 đến 60 phần trăm Thế nhưng, điều này cũng không trở ngại cho quá trình khảo sát đề tài vì hầu hết những người gốc Bắc định cư ở đây sống tập trung thành khu vực
1.2.3.3 Điều kiện sinh sống
Đây là khu vực trung tâm kinh tế, hành chính của huyện Kiên Lương và cũng
là vùng đất nằm trong địa bàn cư dân Nam Phố sung túc của trấn Hà Tiên xưa Đây
là vùng đất được thiên nhiên ban cho nhiều tài nguyên quý giá, nhiều danh lam thắng cảnh, ngư trường thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản Nơi đây có nhiều núi
đá vôi là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất xi măng Hiện nay, tại địa bàn thị trấn Kiên Lương có nhà máy sản xuất xi măng Hà Tiên II, thu hút hàng ngàn lao động địa phương với số đông là người gốc Bắc di cư
Bên cạnh đó, đây là địa bàn dân cư giáp biển nên có một bộ phận cư dân, đặc biệt là những cư dân gốc Bắc làm trong các ngành nghề liên quan đến kinh tế biển như thủy thủ, công nhân trong các nhà máy chế biến hải sản, buôn bán thủy hải
Trang 24sản,…Nhìn chung, về đời sống kinh tế, nhóm cư dân này có đời sống tương đối tốt hơn
1.2.3.4 Về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng
So với hai nhóm cư dân trên, nhóm cư dân này có đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phức tạp hơn Vì rằng, đây là địa bàn có nhiều tôn giáo với nhiều nét văn hóa khác nhau Mặc dù phức tạp nhưng với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của nhóm
cư dân này rất phong phú Nó thể hiện sự pha trộn, giao thoa văn hóa của cộng đồng
cư dân nơi đây
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng địa bàn này vừa có chùa của người Việt, người Khơ me bản địa và cả những nhà thờ của đạo công giáo Trong sự giao thoa văn hóa đó, ắt hẵn sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tình hình sinh hoạt văn hóa, văn học, trong đó có văn học dân gian
1.3 Đặc điểm của cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là địa bàn tiêu biều cho Nam Bộ có khối cộng cư gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó, nhiều nhất là người Kinh, người khơ me và người Hoa Mỗi dân tộc đều có đời sống tinh thần phong phú, nhất là văn hóa, văn học
Do là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên quá trình giao lưu văn hóa sống động tạo nên nét đặc trưng riêng Hiện tượng giao lưu văn hóa thể hiện trên nhiều phương diện, dễ nhận biết nhất là hiện tượng song ngữ, đa ngữ trong vùng, qua cách ăn mặc và nếp sống, ăn uống,…Đặc biệt là trong giao lưu văn hóa giữa các
Những câu hò, điệu lý, câu hát dân ca dù của dân tộc nào thì họ cũng xem như là sản phẩm tinh thần của mình
Như đã nói ở trên, Kiên Giang là vùng đất mới với nhiều dân tộc cộng cư đã
mở ra nhiều mối giao lưu văn hóa Điều này nhận thấy rõ nhất trong văn học dân gian mà chúng tôi sẽ khảo sát ở những chương sau Có thể nói, nếu so với miền Bắc thì ở miền Nam nói chung và Kiên Giang nói riêng có môi trường sinh hoạt văn hóa, văn học dân gian không cố định Những cư dân bản địa này có thể giao lưu văn hóa, văn học ở mọi lúc, mọi nơi, có khi đan xen, lồng ghép trong các sinh hoạt khác
Trang 25Điều này vửa thể hiện sự phong phú trong đời sống tinh thần nhưng cũng không kém phần phức tạp của những cư dân bản địa Những cư dân bản địa này rất phóng khoáng, vì thế khi có cư dân phía Bắc vào định cư thì họ hòa nhập nhanh chóng và trở nên một cộng đồng cư dân đoàn kết cùng tương trợ nhau trong cuộc sống Đây chính là điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh hoạt văn học dân gian mà chúng tôi tiến hành khảo sát
Tóm lại, Kiên Giang là địa bàn có điều kiện thuận lợi cho cả đời sống kinh tế lẫn văn hóa tinh thần cho những người di cư Và khi họ đến đây lại bắt gặp sự nhiệt tình phóng khoáng của những cư dân bản địa Chính vì vậy, việc lựa chọn này làm vùng đất định cư là là một sự lựa chọn đúng đắn Có lẽ, đây cũng là một trong những lý do chúng tôi chọn vùng đất này làm địa bàn khảo sát luận văn
Để cho quá trình khảo sát đi đúng hướng, chúng tôi xin tạm đưa ra một cách
hiểu về cụm từ”sinh hoạt văn học dân gian” Theo chúng tôi sinh hoạt văn học dân
gian là một hoạt động mang tính tập thể, trong hoạt động ấy có sử dụng các thể loại
và nội dung của văn học dân gian theo những cách thức khác nhau gắn với môi trường diễn xướng Như vậy, cách hiểu này chúng tôi sẽ dùng thống nhất trong toàn
bộ quá trình khảo sát đề tài này
Trang 26
Chương 2 : TÌNH HÌNH TƯ LIỆU
Dựa trên những cơ sở ban đầu về đối tượng nghiên cứu đã tìm hiểu ở chương một, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế trên từng nhóm cư dân trên địa bàn về những hình thức sinh hoạt văn học dân gian của họ Việc khảo sát này được tiến hành lần lượt trên từng nhóm cư dân trong khoản thời gian nhất định
2.1 Nhóm tư liệu điền dã
“Điền dã”có nghĩa là vùng xa thành phố, là nơi tiến hành những cuộc điều tra, khảo sát trong nghiên cứu khoa học [33; tr 133] Theo nghĩa này thì đây là nhóm tư liệu mà chúng tôi thu thập được trong quá trình khảo sát thực tế ở cả ba nhóm cư
chọn giới hạn một số lượng nhất định cư dân ở từng địa bàn Sự chọn lựa này mang tính ngẫu nhiên mà cũng là do bộ phận cư dân này đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực địa
2.1 1 Nhóm tư liệu từ việc điều tra phỏng vấn
Cụm từ “điều tra phỏng vấn”mà chúng tôi dùng ở đây bao hàm cả việc phỏng vấn, đối thoại trực tiếpvới từng đối tượng và cả việc quan sát họ sinh hoạt trong một khoảng thời gian nhất định Ở đây, chúng tôi chỉ xin mô tả lại những kết quả thu được thật sự có ích, phục vụ cho việc nghiên cứu Dựa vào kết quả khảo sát, chúng tôi có thể thống kê các hình thức sing hoạt văn học dân gian của cư dân miền Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thành gồm:
Để có thể ghi nhận tình hình sinh hoạt văn học dân gian ở đây, chúng tôi theo chân các cụ đến quan sát các buổi sinh hoạt ở các câu lạc bộ Chúng tôi nhận thấy các tổ chức này sinh hoạt rất đều đặn từ một đến ba tháng một lần Ngoài những nội dung sinh hoạt thường kỳ là những cuộc trò chuyện, giao lưu văn nghệ, kể chuyện rất sôi nổi Đó cũng chính là sự giao lưu văn hóa giữa những người di cư và cư dân
Trang 27bản địa và trong những lần giao lưu sinh hoạt như vậy thì không thể thiếu món ăn
Qua thống kê, chúng tôi ghi nhận ở cả ba địa bàn cư dân mà chúng tôi khảo sát mỗi địa bàn đều có một câu lạc bộ hưu trí và một câu lạc bộ người cao tuổi sinh hoạt rất đều đặn Ở địa bàn thuộc nhóm cư dân thứ nhất, qua ba lần quan sát, chúng tôi ghi nhận được khoản mười ba truyện dân gian (gồm ba truyền thuyết, chín truyện cười); hai mươi tám bài ca dao – dân ca và một số thành ngữ được dùng thường xuyên trong lời nói Ở địa bàn thuộc nhóm cư dân thứ hai, chúng tôi ghi nhận được mười sáu truyện dân gian (gồm hai truyền thuyết, hai truyện cổ tích và mười hai truyện cười, truyện trạng); mười chín bài ca dao, dân ca; một số thành ngữ được dùng thường xuyên trong lời nói và đặc biệt là có hai đoạn hát chèo (trong đó có một đoạn chèo dân gian) Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng ở cả hai nhóm cư dân này khi sử dụng văn học dân gian từ truyền thuyết đến ca dao lại dùng nhiều tác phẩm chỉ nhiều địa danh khác nhau Có thể dẫn ra một số trường hợp sau:
- “ Bình Lãng rut kén ươm tơ
Chợ Trâu Quãng Nhất, bánh đa làng Vò”
- “ Xanh mắt là chợ hàng Na
Mặn mà hàng muối ngọt hoa hàng đường”
- “ Ngày một, ngày bảy chợ Lương
Hai, sáu Ninh Cường năm ,chín Đông Biên
Cồn Chàm mươi ,bốn là phiên
Ba, tám chợ Đền, thêm chợ Xã Trung
Hôm Đình buổi sáng họp đông
Nửa ngày Phe Sáu, bên sông chợ Cầu
Giáp Phương để sớm Chợ Dâu
Lẻ chợ Cồn Cốc, chẵn âu Đông Cường”
Nhắn ai là khách thông thương
Quần Anh lắm chợ ta buôn nhiều hàng”
- “ Mồng một chơi cửa chơi nhà
Trang 28Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
Mồng năm chợ Trình mồng sáu Non Côi Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ viềng một năm mới có một phiên Cái nón em đội cũng tiền anh mua” -” Hỡi cô thắt dãi lưng xanh
Có về Nam Định với anh thì về
Nam Định có bến đò chè
Có dinh Tổng Đốc, có nghề ươm tơ”
-” Quần Anh có tiếng từ xưa
Biển đình Phong Lạc, bia chùa Phú Lâm Khách về khách vẫn hỏi thăm
Nước chè Cầu Ngói, tơ tằm Chợ Lương”
- “ Bối Khê, Tiên Lữ, Chùa Thầy
Đẹp thì có đẹp chưa tày chùa Hương”
- “ Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng Ước gì anh cưới được nàng
Hà Nội, Nam Định dọn hàng đưa dâu Tĩnh Thanh cũng đóng trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mỗ bò
Hưng Yên quạt nước hỏa lò
Trang 29Thái Bình thì phải giả giò gói nem
Ninh Bình trải chiếu bưng măm
Hải Dương vót đũa, Phú Đông đúc nồi
Sơn Tây gánh đá nung vôi
Bắc Cạn thời phải thổi xôi nấu chè
Gia Định hầu điếu hàng xe
Phủ Đình thời phải chém tre bắt cầu
Anh mời mười tám nước chư hầu
Nước Tây, nước Tàu anh gởi tận nơi
An h mời hai họ nhà trời
Ông Sấm, ông Sét, Thiên Lôi đứng đầu”
- “ Thái Bình đang cơn gió thổi
Chiếc thuyền em trôi nổi khác thể cánh bèo
Ý làm sao anh không ra chống đỡ chèo
Anh hùng sao lại nằm queo trong thuyền”
( Ông Lê Văn Nghệ - 69 tuổi – thuộc nhóm cư dân thứ hai)
- “ Gọc Đồng, Gọc Đống nung vôi
Cao trai đóng Cối, buôn dui Hòa Đồng
Xá Thị thì bán giầu không
Cao Dương rèn sắt nên công nhất miền
Hạt Ngang chẻ nứa đan thuyền
Đông hồ làm bạc, giấy tiền đem tiêu
Xê hương là của Lai Triều
Đông Dương dung tép, dung siu kiếm tiền”…
Ở nhóm cư dân thứ ba, chúng tôi ghi nhận chỉ mới có một câu lạc bộ người cao tuổi sinh hoạt thường kỳ mỗi tháng một lần Tuy thời gian dành để sinh hoạt văn
chúng tôi nhận thấy những tác phẩm văn học dân gian sử dụng đan xen rất nhiều tác phẩm của cư dân bản địa Chẳng hạn, những giai thoại, truyền thuyết về anh hùng
Trang 30Nguyễn Trung Trực trong kháng chiến chống Pháp; về lịch sử hình thành đất Hà Tiên, và cả những bài ca dao của miền đất mới:
-”Ngó qua bên núi Tô Châu
Thấy cô gánh nước trên đấu giắt trâm”
Hay” Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên
Ghe xuồng xui ngược hai miền thông thương”
Hay là câu hát đối đáp sau:
-” Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên
Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi
Đất nào lắm dốc nhiều đồi
Đèn nào cao nhất người người đều nghe
Sông nào tấp nập thuyền bè
Hồ nào với biển cặp kè bên nhau
Trai nào nổi tiếng anh hào
Anh mà đối đặn má đào em xin trao”
-” Em ơi! Đường từ Châu Đốc – Hà Tiên
Có kinh Vĩnh Tế nối liền hai nơi
Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi
Đèn cao Châu Đốc người người đều nghe
Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè
Biển Hồ hai chữ cặp kè bên nhau
Trai Việt nam nổi tiếng anh hào
Anh đã đối đặng vậy má đào em trao đây”
Một hoạt động tập thể khác cũng sinh hoạt có sử dụng văn học dân gian là các hội đồng hương Ở mỗi địa bàn cư dân khảo sát, chúng tôi đều nhận thấy có các hội đồng hương hoạt động Cụ thể, ở địa bàn thuộc nhóm cư dân thứ nhất có hai hội đồng hương hoạt động đều đặn là “Hội đồng hương Nam Định” và “Hội đồng
Trang 31hương Thái Bình”; địa bàn thuộc nhóm cư dân thứ hai cũng có hai hội đồng hương hoạt động là: “Hội đồng hương Nam Định” và “Hội đồng hương Phú Thọ”
Tuy có đến bốn hội đồng hương hoạt động nhưng chúng tôi nhận thấy ở địa
hơn hai nhóm thứ nhất và thứ hai (Các hội đồng hương : Bắc Giang; Thái Bình;
cũng lại sử dụng nhiều tác phẩm văn học địa phương, nhiều nhất là ca dao dân ca Chẳng hạn:
- “Muốn ăn cháo cá rau cần
Thì về Rạch Giá cho gần đường đi”
-” Sông Giang Thành quanh co uốn khúc
Nước Giang Thành khi đục khi trong”
nghiệp của họ Chẳn hạn:
-”Ngó ra hòn Chảo sóng bổ lao xao
Thấy thuyền anh chạy như dao cắt lòng”
-” Thẻ mực tuy cực mà vui
Ráng đầy khênh mực cho vui vợ chồng”
Các hội đồng hương này tuy hoạt động không nhiều (mỗi năm chỉ sinh hoạt từ
ba đến bốn lần) nhưng phong phú, đa dạng hơn về đối tượng tham gia so với nhóm trước Chủ yếu sinh hoạt văn học dân gian diễn ra trong các giờ văn nghệ, vì vậy thể loại văn học dân gian được sử dụng nhiều là: Chèo và ca dao – dân ca cùng một số truyện cười
Khảo sát cả ba nhóm cư dân thuộc đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
có hai lễ hội ở địa bàn của nhóm cư dân thứ nhất và thứ hai có sử dụng văn học dân gian, đó là lễ hội của đền thờ Đức Thánh Trần (Xã nam Thái Sơn – Hón Đất - Kiên
hội này như chúng tôi đã giới thiệu qua ở phần chương một, lễ hội đền thờ Đức
Trang 32Thành Trần diễn ra hàng năm vào ngày rằm tháng giêng âm lịch hàng năm và lễ hội đền Hùng diễn ra hàng năm cũng vào mồng mười tháng ba âm lịch Ở lễ hội này, tác phẩm văn học dân gian gắn liền với môi trường diễn xướng – những truyền thuyết
về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, về các vua nhà Trần được nhóm cư dân thứ nhất sân khấu hóa thành những hoạt cảnh rất sinh động cũng như những truyền thuyết về”con rồng cháu Tiên”và các vua Hùng cũng được nhóm cư dân thứ hai thể hiện rất độc đáo tuy nhiên, những hình thức sinh hoạt văn học dân gian này cũng còn hạn chế về thời gian (mỗi năm chỉ sinh hoạt một lần) và đối tượng tham gia sinh hoạt Riêng địa bàn thuộc nhóm cư dân thứ ba, qua khảo sát, chúng tôi chưa ghi nhận được hình thức sinh hoạt văn học dân gian này
U
Hát ruU :
Hình thức sinh hoạt này chủ yếu là do người phụ nữ thể hiện và thể loại sử dụng chủ yếu là ca dao – dân ca và một số ít là chèo Qua khảo sát cả ba nhóm cư
này Ở nhóm cư dân thứ nhất, việc hát ru sử dụng văn học dân gian có phần nhiều hơn hai nhóm còn lại Trong khi đó nhóm cư dân thứ hai và thứ ba lại có sự đan xen với các bài hát hiện đại nhiều hơn Qua việc phỏng vấn, bước đầu chúng tôi thống
kê số trường hợp sử dụng văn học dân gian trong hát ru ở nhóm cư dân thứ nhất là 70%; nhóm thứ hai hơn 50%và nhóm thứ ba chỉ gần 40% Tuy nhiên, ở hai nhóm thứ hai và thứ ba, chúng tôi quan sát và thấy rằng họ có sử dụng đan xen nhiều bài
quàng ; lý con sáo ; lý cái Mơn,… được sử dụng rất nhiều Hoặc là một số bài ca dao địa phương sau cũng được sử dụng rộng rãi:
- “ Xứ đâu bằng xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi đĩa lội lềnh tựa bánh canh”
- “ Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang”
Hay là
Trang 33- “ Thơm nào ngọt bằng thơm Tắc cậu
Dưa hấu nào đỏ bằng dưa hấu Mỹ Lâm
Chiếu Tà Niên anh dệt cho em nằm
Phải lương duyên chồng vợ thì ngàn năm anh cũng chờ”
- “ Đường Mong Thọ tuy dài mà hẹp
Gái Mong Thọ vừa đẹp vừa có duyên
Anh hùng gặp gái thuyền quyên
Bơi đua hò hát nên duyên vợ chồng”
U
Kể chuyệnU:
Nếu như hình thức hát ru sử dụng chủ yếu là ca dao – dân ca thì hình thức kể
hình thức này do người lớn tuổi thực hiện (Ông – bà kể cho con cháu nghe) và những thể loại sử dụng chủ yếu là : truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện trạng Theo thống kê hình thức kể chuyện diễn ra nhiều nhất ở nhóm thứ nhất với 42/77 trướng hợp sử dụng Trong khi đó, nhóm cư dân thứ hai là 23/71 trường hợp và nhóm cư dân thứ ba số trường hợp sử dụng văn học dân gian bằng hình thức
kể chuyện là 7/68…
Hình thức sinh hoạt phổ biến là trong liên hoan, tiệc tùng Đây là hình thức sinh hoạt không thường xuyên và cũng rất phức tạp nhưng cũng rất phong phú Chúng tôi nói như vậy bởi lẽ không phải có tiệc tùng, liên hoan là xuất hiện hình thức sinh hoạt văn học dân gian và đối tượng tham gia ở đây cũng có sự đan xen giữa cư dân di cư từ miền Bắc vào và cư dân bản địa Vì vậy, khi khảo sát hình thức sinh hoạt này, chúng tôi rất khó xác định trong số những người tham gia ai là người
di cư, ai là người bản địa Hơn nữa, chúng tôi cũng không thể trực tiếp tham gia những buổi sinh hoạt như thế này mà chỉ khảo sát thông qua hoạt động phỏng vấn, tuy nhiên, thông qua phỏng vấn, chúng tôi thống kê ở nhóm cư dân thứ nhất cí khoảng 30% những buổi sinh hoạt văn nghệ mang tính làng xã như thế này có sinh
Trang 34hoạt văn học dân gian và tỷ lệ này giảm dần gần một nửa ở nhóm cư dân thứ hai và nhóm cư dân thứ ba lại không được một nửa của nhóm thứ hai
Về thể loại văn học dân gian sử dụng, ngoài các bài dân ca, những người tham gia sinh hoạt chủ yếu là sử dụng thể loại ca dao, đặc biệt là ca dao trào phúng dưới hình thức đọc hoặc ngâm Chẳng hạn những câu ca dao sau:
- “ Chưa giàu đã học làm sang
Leo thang nhiều nấc tuộc thang có ngày”
- “ Tiếng đồn cha mẹ anh hiền
Cắn cơm không bể căn tiền bể tươi”
Hay:
- “ Con gái nhà giàu như tàu chuối hột
Cửa đóng then cài có một đứa con”,
Đối với những tác phẩm thuộc thể loại tự sự dân gian, họ lại rất hay kể chuyện cười, truyện trạng Đặc biệt là những mẫu chuyện về Bác Ba Phi của người bản địa được ưu tiên nhiều nhất
2.1.2 Nhóm tư liệu từ việc điều tra bằng phiếu trắc nghiệm
Để tiện cho việc khảo sát, sau khi thu phiếu điều tra trắc nghiệm trng từng nhóm cư dân, chúng tôi dựa vào một số tiêu chí, đặc điểm để phân loại Từ đó, chúng tôi rút ra những đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của các nhóm cư dân này ở chương sau Trong điều kiện có thể chúng tôi tiến hành khảo sát với số lượng người tham gia trả lời qua phiếu trắc nghiệm là 1310 người (trong đó nhóm
cư dân thứ nhất: 452 người; nhóm cư dân thứ hai: 427 người và nhóm cư dân thứ ba: 426 người) theo từng tiêu chí đặc điểm cụ thể, chúng tôi thống kê kết quả như sau:
Trang 352.1.2.1 Dựa vào đặc điểm lứa tuổi
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ dân gian
Câu nói dân gian
Trang 36Nhóm cư dân thứ hai :
Sử dụng không thường xuyên văn học dân gian
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ
dân gian
Câu nói dân gian
Truyện dân gian
Chèo
Số lượng
Tỉ
lệ
Số lượng
Tỉ
lệ
Số lượng
Tỉ
lệ Trên 60
Trang 37Sử dụng không thường xuyên văn học dân gian
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ
dân gian
Câu nói dân gian
Tỉ
lệ Trên 60
Trang 382.1 2.2 Dựa vào đặc điểm giới tính
Sử dụng không thường xuyên văn học dân gian
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ
dân gian
Câu nói dân gian
Truyện
Số lượng
Tỉ
lệ
Số lượng
Tỉ
lệ
Số lượng
Tỉ
lệ
Số lượng
Trang 39Nhóm cư dân thứ hai:
Sử dụng không thường xuyên văn học dân gian
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ
dân gian
Câu nói dân gian
Tỉ
lệ
Trang 40Nhóm cư dân thứ ba:
gian
Sử dụng không thường xuyên văn học dân gian
Không sử dụng văn học dân gian
Những thể loại văn học dân gian sử dụng Thơ
dân gian
Câu nói dân gian
Tỉ
lệ