Sang đến thế kỷ XX, ngoại trừ việc biên dịch và giới thiệu văn bản, thì sự quan tâm tìm hiểu Thiền uyển t ập anh cơ bản không ngoài ba mục đích sau : 1- Khai thác tư liệu để xây dựng cá
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUNG TÂM KHOA H ỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
VIỆN VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã s ố: 5.04.33
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS NGUY ỄN HUỆ CHI
HÀ N ỘI - 1998
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGUYỄN HỮU SƠN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 L ịch sử vấn đề 8
3 M ục đích khoa học và những đóng góp mới của luận án 13
4 Đối tượng, phạm vi và tính chất của luận án 16
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 C ấu trúc luận án 21
CHƯƠNG 1: KHẢO SÁT CẤU TRÚC CÁC TIỂU TRUYỆN THIỀN SƯ TRONG THI ỀN UYỂN TẬP ANH 24
1.1 V ề sự ra đời của các thiền sư 27
1.2 V ề cuộc đời tu hành, giáo hóa của các thiển sư 32
1.2.1 Các thiền sư có phép lạ 33
1.2.2 Các thiền sư nhập thế 36
1.2.3 Các thiền sư ẩn dật 41
1.2.4 Các thiền sư có công hoằng dương Phật giáo 42
1.3 V ề môtip “qui tịch” của các thiền sư 45
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ VỊ TRÍ BỘ PHẬN “TÀNG TRỮ GIÁ TRỊ THI CA” TRONG THI ỀN UYỂN TẬP ANH 54
2.1 Nh ững bài thơ sấm ký và thơ thế tục 54
2.2 D ấu ấn văn học chức năng và tính thuyết giáo 59
2.2.1 Thiền sư Viên Chiếu (999-1090) 64
2.2.2 Thiền sư Trí Bảo ( ? -1190) 65
2.2.3 Thiền sư Y Sơn (? -1216) 66
2.3 Quan ni ệm về bản thể 68
2.4 Nh ững nẻo đường tu chứng và giải thoát 78
2.5 Con đường trở lại với thiên nhiên và đời sống 93
2.6 Dòng thơ viếng tế và thơ - kệ thị tịch 99
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ FOLKLORE VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CỐT TRUY ỆN THIỀN SƯ TRONG THIỀN UYỂN TẬP ANH VỚI THƯ TỊCH CỔ VÀ TRUY ỆN CỔ TÍCH 112 3.1 V ề khả năng tích hợp các yếu tố folklore trong tác phẩm thiền uyển tập anh 116
Trang 53.1.1 Từ một môtip nhân vật độc đáo 116
3.1.2 Các môtip tương đồng với văn hóa -văn học dân gian 121
3.2 M ối quan hệ giữa cốt truyện thiền sư trong thiền uyển tập anh với thư tịch cổ và truy ện cổ tích 130
3.2.1.Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? – 1117) 132
3.2.2 Thiền sư Dương Không Lộ ( ? -1119 ) 137
3.2.3 Quốc sư Minh Không (1066-1141) 142
PH ẦN KẾT LUẬN 148
THƯ MỤC THAM KHẢO 152
PH Ụ LỤC 167
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử văn học dân tộc, dòng văn học Phật giáo chiếm một vị trí quan
trọng, đặc biệt ở giai đoạn khởi đầu Đến nay, trong các nguồn tư liệu Phật giáo còn lại,
Thi ển uyển tập anh (Anh tú vườn thiền) đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các chuyên
ngành văn học, sử học, triết học, văn hóa học, lịch sử tư tưởng Theo dòng thời gian, tác
phẩm Thiền uyển tập anh ngày càng được giới khoa học xã hội và nhân văn quan tam tìm
hiểu, kể từ việc biên dịch, giới thiệu văn bản đến sự phân định lịch sử các dòng thiền và thế
thứ các đời; khai thác nội dung thơ văn và giới thiệu chân dung các thiền sư - thi sĩ , mở
rộng phạm vi từ trong nước tới các nhà khoa học nước ngoài Điều này cho thấy tầm quan
trọng đặc biệt về mặt văn học sử của bộ sách Thiền uyển tập anh, xứng đáng có những công
trình nghiên cứu chuyên biệt, nhất là cho đến nay bộ sách đã được biên dịch toàn văn, qua hai bản dịch của Lê Mạnh Thát [174] và Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thuý Nga [175]
Trên thực tế, các nhà nghiên cứu, biên khảo văn hóa - văn học cổ - trung đại Việt Nam
đều gặp nhau ở chỗ coi tác phẩm Thiền uyển tập anh in đậm đặc trưng “văn - sử - triết bất
phân” Do đó, mỗi chuyên ngành nghiên cứu đều có thể khai thác từng phương diện nội dung tác phẩm để phục vụ cho hướng đi riêng của mình Ngay dưới thời trung đại, các nhà bác học lớn như Lê Quý Đôn (1726-1784), Phan Huy Chú (1782-1840) đều đã có mô tả về
Thi ền uyển tập anh như là những ghi chép sự tích và tông phái Thiền học của nước ta từ đời
Lý trở về trước; hoặc tiến hành sao lục, trích tuyển thơ văn của các vị thiền sư Sang đến thế
kỷ XX, ngoại trừ việc biên dịch và giới thiệu văn bản, thì sự quan tâm tìm hiểu Thiền uyển
t ập anh cơ bản không ngoài ba mục đích sau : 1- Khai thác tư liệu để xây dựng các bộ lược
sử Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam; 2- Xây dựng các bộ văn học sử Việt Nam; và 3-
Tiến hành nghiên cứu về từng vị thiền sư với tư cách là tác gia văn học – danh nhân văn hoá, và phân tích một số bài thơ thiền, kệ, lời viếng, lời thị tịch với ý nghĩa là những sáng
tác thơ ca độc lập Như thế, có thể nói Thiền uyển tập anh đã được soi rọi từ nhiều khía cạnh
khác nhau, và trên mỗi phương diện đó đều đã đạt những kết quả học thuật ngỡ như khó có
thể nói thêm điều gì Song cũng chính với cái nhìn có phần chia lẻ, chuyên biệt như thế khiến cho việc đánh giá về Thiền uyển tập anh thiếu tính toàn cục, hay nói cho đúng hơn là
thiếu tính bao quát tổng thể trên phương diện nghiên cứu văn học Đặc điểm này càng bộc
lộ rõ hơn khi người nghiên cứu thường bóc tách phần “tàng trữ giá trị thi ca” với phần
Trang 7“truyện - ghi chép tiểu sử”; hơn nữa, lại càng ít khi đặt các tiểu truyện thiền sư vốn có ý nghĩa độc lập tương đối trong tính tương quan, tương đồng của loại hình tiểu truyện thiền sư trong toàn bộ tác phẩm Thiển uyển tập anh Đây chính là mục đích khoa học cơ bản và cũng
là lý do chủ yếu trong việc xác định đề tài luận án
1.2 Trong bối cảnh văn hoá - văn học Phật giáo đang ở vào giai đoạn phát triển hiện nay, việc đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực Phật giáo là hết sức cần thiết [138] Xét trong khoảng mươi năm gần đây phong trào tìm hiểu văn hóa Phật giáo bột khởi cả ở việc xuất
bản các ấn phẩm luật tạng, giải nghĩa kinh điển, xây dựng từ điển, dịch thuật các công trình nghiên cứu Phật học của nước ngoài, dịch thuật tư liệu cổ Phật giáo Việt Nam và từng bước
tổng kết lịch sử Phật giáo dân tộc Trong tình hình chung đó, việc nghiên cứu Phật giáo từ góc độ văn học cũng được chú trọng, đặc biệt đáng chú ý với việc thực hiện được số Đặc
san văn học Phật giáo Việt Nam lần đầu tiên trên Tạp chí Văn học [41] Do đó, việc đi sâu
tìm hiểu Thiển uyển tập anh chính là nằm trong xu thế chung, đóng góp một tiếng nói học
thuật vào việc xác định những đặc điểm tư duy văn học Phật giáo cũng như chính giá trị tư tưởng Phật giáo thông qua các môtip, hình thức ước lệ nghệ thuật Phải nhận rằng tinh thần
“phục hưng” Phật giáo đương đại đã góp phần thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn và hứng thú đi vào nghiên cứu tác phẩm Thiền uyển tập anh
1.3 Như đã nói trên, bản thân tác phẩm Thiền uyển tập anh đã được thâm canh trên
nhiều phương diện học thuật, song việc quan tâm theo dõi khu vực văn học Phật giáo cho phép chúng tôi thể hiện một cách đặt vấn đề ít nhiều không trùng lặp với những cách làm trước đây, hy vọng sẽ đưa ra được một số kết luận thoả đáng Qua việc bao quát các tư liệu
liên quan đến Thiền uyển tập anh, chúng tôi định hướng vận dụng lý thuyết loại hình để
khảo sát một tác phẩm cụ thể, từ đó mở rộng so sánh với các tác phẩm văn xuôi đương thời cũng như sự vận động trong quá trình dân gian hoá, cổ tích hoá một số truyện thiền sư Như
thế, việc vận dụng phương hướng nghiên cứu mới cũng là cơ sở giúp chúng tôi tự tin hơn khi nhận đề tài này
1.4 Mặc dù chưa thể có điểu kiện khảo sát toàn bộ loại hình các tiểu truyện thiền sư
Việt Nam cũng như các tiểu truyện thiền sư của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên song qua so sánh bước đầu chúng tôi nhận thấy có sự tương đồng về mặt loại hình, mang tính điển hình của văn hóa khu vực Do đó, từ một góc nhìn hẹp về một tác phẩm cụ thể, đề tài luận án Kháo sát loại hình tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh hứa hẹn sẽ mở
Trang 8ra việc nghiên cứu loại hình các tiểu truyện thiền sư Việt Nam và phương Đông, có thể đạt thành hướng nghiên cứu chuyên sâu lâu dài
Chung qui, với giá trị và tầm quan trọng đích thực của tác phẩm, với việc áp dụng một hướng nghiên cứu mới và sự quan tâm tới đề tài được cụ thể hoá bằng các bài viết riêng đã
in trên các Nội san Vạn Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Văn học, Nghiên cứu văn hoá dân gian, Tạp chí Tác phẩm mới, Nhân dân, Văn nghệ quân đội, Tạp chí Kinh Bắc
và một số bài viết in sách chung , chúng tôi mạnh dạn đón nhận và hy vọng có thể hoàn
thành được đề tài Khảo sát loại hình tiểu truyện thiền sư trong “Thiền uyển tập anh” này
2 Lịch sử vấn đề
Trong giới hạn cụ thể của đề tài, từ toàn bộ lịch sử vấn đề liên quan đến tác phẩm
Thi ền uyển tập anh có thể tạm phân lập thành hai nội dung chính Một là những vấn đề chung liên quan đến Thiền uyển tập anh, trong đó bao gồm việc giới thiệu văn bản, nghiên
cứu lịch sử văn hoá - tư tưởng Phật giáo và nghiên cứu văn học Phật giáo từ góc độ tìm hiểu chân dung các thiền sư - thi sĩ Thứ hai là những vấn đề liên quan đến cách nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu “tiểu truyện thiền sư” và “loại hình tiểu truyện thiền sư” ở những mức độ đậm
nhạt khác nhau Để tiện theo dõi, chứng tôi tạm chia các nội dung đó theo 4 mục khác nhau
2.1 Tình hình gi ới thiệu, biên dịch văn bản
Trước thế kỷ XX, lẽ đương nhiên là văn bản Thiền uyển tập anh chí có thể khắc in và
lưu truyền bằng chữ Hán, kể cả các lời đánh giá, bình giải, trích tuyển thơ văn Bước sang
thế kỷ XX, với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của chữ quốc ngữ, có lẽ Đệ nhị giáp Tiến sĩ Đinh Văn Chấp (1892-1953) là người đầu tiên lưu tâm giới thiệu thơ ca thời Lý – Trần,
trong đó có tác phẩm của các thiền sư - thi sĩ trong Thiền uyển tập anh, với một số lượng
lớn và có hệ thống trên tạp chí Nam phong ngay từ năm 1927 (113 bài) Từ đó cho tới năm
1945 hầu như không có những công trình chuyên biệt với mục đích văn bản học thực thụ mà
thường sưu tầm, giới thiệu và dịch thêm thơ văn vốn tàng trữ trong Thiền uyển tập anh
nhằm vào việc viết lịch sử văn hóa - văn học dân tộc Giai đoạn từ sau 1945 đến nay có hai
bộ sách cùng đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu về tác giả và khảo chứng văn bản Thiền
uy ển tập anh là Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, của Nguyễn Lang [83] và Thơ văn Lý –
Tr ần , Tập I, của Viện Văn học do Nguyễn Huệ Chi chủ biên [181] Điều khấc biệt giữa hai
bộ sách này là nếu Việt Nam Phật giáo sử luận xác minh vấn đề phục vụ cho việc viết “sử
luận” thì Thơ văn Lý - Trần đặt trọng tâm vào việc trích tuyển, khảo chứng, phiên dịch sáng
Trang 9tác của các thiền sư - thi sĩ Kế thừa kết quả học thuật qua nhiều thập kỷ, và mặc dù chưa đạt
chất lượng như mong muốn, song phải đến năm 1990 thì văn bản Thiền uyển tập anh mới
được biên dịch gần như trọn vẹn sát đúng với cấu trúc và nguyên tác bản Hán văn [211], [175] Đồng thời cũng còn một công trình khảo chứng văn bản công phu khác nữa của Lê
Mạnh Thát in Rônêô đã nêu trên Đây cũng chính là các nguồn tài liệu cơ sở giúp cho chúng tôi thực hiện đề tài này
2.2 V ề các công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo
Đồng thời với phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn 1930-1945, Thúc Ngọc Trần
Văn Giáp đã sớm cho in chuyên khảo Phật giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII
bằng tiếng Pháp (1932) và đã được dịch ra tiếng Việt [45] Tiếp sau là công trình khá bao
quát Vi ệt Nam Phật giáo sử lược (1944) của Mật Thể Nguyễn Hữu Kiên [170] Trên phương
diện viết lịch sử tư tưởng Phật giáo còn có các bộ sách nối tiếp sau này như Phật giáo Việt Nam (1974) c ủa Nguyễn Đăng Thục [ 182], Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập I) của Nguyễn Lang [83], M ấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam (1986) [100], Lịch sử
Ph ật giáo Việt Nam (1988) [86] và Lược sử Phật giáo Việt Nam (1993) [191] Nhìn chung
các bộ sách này đều sử dụng các nguồn tư liệu liên quan tới cuộc đời và nội dung thơ văn
cũng như sự phân dòng các lưu phái Phật giáo được ghi chép trong Thiền uyển tập anh để
mô tả lịch sử Phật giáo Việt Nam từ đời Lý trở về trước Đương nhiên những cách nhìn từ góc độ sử học và lịch sử tư tưởng này cũng góp phần soi sáng mối quan hệ giữa cuộc đời các tác giả - thiền sư với đời sống xã hội và nội dung thi ca mà họ sáng tác
2.3 V ề các công trình nghiên cứu Thiền uyển tập anh
Đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và viết lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam có liên quan tới Thiền uyển tập anh và giai đoạn từ vương triều Lý trở về trước hẳn phải kể đến hai
bộ sách cùng in năm 1942 : Việt Nam văn học - Văn học đời Lý của Ngô Tất Tố [185] và
Vi ệt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi [19], trong đó cuốn sau có phần bề thế và
nguồn tài liệu cũng phong phú hơn Giai đoạn từ 1945 đến nay đáng chú ý có các bộ chuyên
khảo và giáo trình văn học sử bậc đại học tiêu biểu như Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam,
Quyển II [591], Lịch sử văn học Việt Nam (thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII) [74] Liên quan
xa gần tới vấn đề tác giả - thiền sư có thể kể đến một số bộ hợp tuyển, tuyển tập thơ văn và các nguồn sách như Thiền sư Việt Nam [193], Từ điển văn học (hai tập) [201], [202], Từ điển văn hóa Việt Nam [200], Từ điển văn học Việt Nam [5] v.v Nhìn chung, các bộ sách
Trang 10này thường có ý nghĩa giới thiệu khái quát về cuộc đời và nêu nhận định chung về giá trị thơ
văn của các thiền sư được biên chép trong sách Thiển uyển tập anh Song về đại thể, những trang phân tích, đánh giá về phần thơ ca tàng trữ trong Thiền uyển tập anh tuy có sâu sắc nhưng chưa chú ý đúng mức tầm quan trọng của Thiền uyển tập anh như một đối tượng thể
loại, một loại hình văn học riêng
Từ thực tiễn tiến trình nghiên cứu về tác phẩm Thiền uyển tập anh như đã nói trên,
chứng tôi nhận thấy ở từng phương diện cụ thể như về tác gia thiền sư - thi sĩ, thiền sư - nhà
tư tưởng hay giá trị tác phẩm ở tư cách lịch sử, văn hoá dân gian, thơ thiền - triết lý, thơ thiền - ý nghĩa nhân văn, thơ thiền – cảm hứng nhân sinh trong mối liên hệ xa gần tới thiên nhiên - đất nước - con người thì đã có nhiêu trang phân tích, đúc kết sâu sắc Nói ngay
việc lý giải ở từng khái niệm, từng câu chữ liên quan tới triết lý lư tưởng Phật giáo cũng đã
được xem xét kỹ lưỡng Điểm qua Tạp chí Văn học (1960-1997) - cơ quan nghiên cứu, lý
luận và phê bình của Viện Văn học - có thể nhận ra mối quan tâm chung của giới nghiên
cứu về các tác giả thiền sư - thi sĩ có tên trong Thiền uyển tập anh, đơn cử như Bùi Văn Nguyên : V ề mấy câu thơ đối đáp giữa sư Thuận và sứ nhà Tống Lý Giác [110]; Kiều Thu
Hoạch: Tìm hiểu thơ văn của các nhà sư Lý – Trần [58]; Nguyễn Huệ Chi : Các yếu tố Phật, Nho, Đạo, được tiếp thu và chuyển hoá như thế nào trong đời sống tư tưởng và văn học Lý -
Tr ần [20], Nghĩ về văn học đời Lý [24], Mãn Giác và bài thơ thiền nối tiếng của ông [23];
Nguyễn Phạm Hùng : Thơ thiền và việc lĩnh hội thơ thiền đời Lý [65]; Phạm Ngọc Lan :
Ch ất trữ tình trong thơ thiền đời Lý [82]; Trần Thị Băng Thanh : Một vài tìm tòi bước đầu
v ề văn bản “Thơ văn Lý - Trần” [165], Mấy nhà thơ phụ nữ thời đại Lý - Trần [164], và một
số bài của các tác giả khác như Đoàn Thị Thu Vân, Đỗ Văn Hỷ, Hà Văn Tấn, Tầm Vu, Trần
Lê Sáng, Trần Nghĩa, Nguyễn Hữu Sơn Song việc các tiểu luận nghiên cứu trên chưa tập
trung đi sâu tìm hiểu Thiền uyển tập anh ở tư cách một loại hình tiểu truyện thiền sư một
mặt bởi chính lý do mà ông Nguyễn Huệ Chi đã nêu về việc cần thiết khiến phải đặt lại câu chuyện về “loại hình”, phải “nhận thức đầy đủ các loại hình văn học Lý - Trần”, trong đó
Thi ền uyển tập anh thuộc loại hình truyện kể bao trùm cả sự tàng trữ một số thể thơ van
khác : “Có thể xem là hình thức vừa nhảy vọt lại vừa kế thừa thủ pháp nghệ thuật của cả 4
loại hình nói trên (thơ ca, biền văn, tản văn, tạp văn - N.H.S thêm) Chỗ đặc biệt ở loại hình này là bắt đầu hình thành một cốt truyện, tình tiết hoặc phong phú hoặc đơn giản Và xoay quanh cốt truyện là những nhân vật được khắc họa nhiều khi rất sinh sắc Có 3 thể : truyện
(gồm các thần tích, truyền thuyết, truyện cổ dân gian được ghi thành văn bản), sử (gồm tiểu
Trang 11sử các vua chúa, liệt nữ, anh hùng chép trong các bộ sử) và bia, ký (gồm tiểu sử những
người có công lao với các tôn giáo, hoặc các bài ký sự được khắc trên đá” [21/183]; và mặt khác bởi các tác giả chủ yếu mới chú ý tới phương diện tàng trữ giá trị thi ca, trong khi bản
thân Thi ền uyển tập anh chưa được biên dịch và xuất bản một cách thật đầy đủ, hoàn chỉnh -
nghĩa là thiếu một tiền đề cho phép hướng tới một cách nhìn hoàn chỉnh, một cách hình dung và khảo sát chuyên sâu về Thiền uyển tập anh Trên cơ sở kế thừa cấc kết quả học
thuật nói trên, đề tài của chúng tôi chính là góp phần tiếp cận tác phẩm Thiền uyển tập anh
từ góc độ loại hình và tiến hành khảo sát các đặc điểm chung đó trên phương diện loại hình văn học
2.4 Lược sử về khái niệm “tiểu truyện thiền sư”
Cho đến hiện nay cũng không thật rõ bản thân các tác giả Thiền uyển tập anh duy danh
xác định cho tập sách - đứa con tinh thần của mình - theo một thể loại, loại văn nào Xét ngay trong chính lời Tựa của một nhà nho chưa rõ tung tích được viết vào năm 1715 thì thể văn của bộ sách chính là “lục” : “Dự kiến lục trung đa hữu cao thiền danh tổ” ( Tôi đọc
trong sách ấy thấy ghi chép nhiều bậc cao tăng, danh tổ) Tìm ngược trở lại một bộ sách
khác của Lê Trắc (thế kỷ XIII - XIV) được viết cũng vào khoảng Thiển uyển tập anh ra đời
là An Nam chí lược (1333) thấy có mục ghi chung là “Các vị thiền sư” và giới thiệu lược sử
các vị như Mai Viên Chiếu, Không Lộ và Giác Hải, Thảo Dường, Từ Đạo Hạnh, Giới Châu, Hoàng Nguyên:” [186/190-192] Lê Quý Đôn trong thiên Nghệ văn chí thì xếp vào loại
“truyện ký” và ghi rõ : “Thiền uyển tập anh, một quyển, người đời Trần soạn, ghi tông phái
Thiền học và sự tích các nhà sư nổi tiếng ở nước ta ” [175/5] Tiếp đó Phan Huy Chú cũng
mô tả tương tự rằng Thiền uyển tập anh là sách của người đời Trần “ghi chép sự tích và tông phái Thi ền học của nước ta ” [21/116] Cho đến thiền sư Phúc Điền (1784-1863) cũng xác
định : “Xưa có sách Thiền uyển tập anh ghi chép đại lược tiểu sử các bậc cao tăng thạc
đức của ba triều ” [21/115] Như vậy, các nhà khảo cứu trước thế kỷ XX khá thống nhất trong cách xác định thể tài của Thiền uyển tập anh là “lục”, “ghi chép”, “truyện ký” Có lẽ
bản thân tính chất dung hợp về mặt thể loại và đặc trưng văn - sử - triết “bất phân” cũng như chính phương thức khảo cứu đã định hướng cho họ một cách phân loại chung như thế
Bước sang thế kỷ XX - đặc biệt trong khoảng vài ba thập kỷ gần đây có ý nghĩa như
những bước kế thừa và tổng kết học thuật cả quá trình nghiên cứu về Thiền uyển tập anh -
thì khái niệm “truyện các thiền sư” vẫn thường được sử dụng khá phổ biến Trên tinh thần chung, các cách gọi là “truyện thiền sư”, “truyện các nhà sư”, “sự tích thiền sư”, “ghi chép
Trang 12về các thiền sư”, “truyện kể thiền sư”, “hành trạng thiền sư”, “cuộc đời thiền sư” đều để
chỉ loại truyện thiền sư được viết theo nguyên tắc tiểu sử Từ đây có thể thấy rõ rằng, nếu bám sát theo đúng từng câu chữ thì cách nói “truyện thiên sư” dường như còn có phần chung chung, mới thể hiện được tính chất “truyện” về đối tượng là các “thiền sư” chứ chưa xác định được đặc trưng bản thân các “truyện thiền sư” đó là như thế nào Phải chăng do ý
thức được điều này nên một số nhà nghiên cứu đã hướng tới một thuật ngữ khả dĩ có thể khu
biệt rõ hơn về mặt nội hàm, đó là “tiểu truyện thiền sư” Đơn cử một vài dẫn chứng, trong
Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi xếp Thiền uyển tập anh và Tam tổ thực
l ục thuộc “loại sử và truyện”, “Đây là hai bộ sử về tôn giáo Bộ trên chép tiểu truyện các bậc
cao tăng của các dòng Thiền tôn từ lúc các dòng này được truyền sang Việt-nam (đời
Đường) cho đến nhà Trần” [159/42]; ông Nguyễn Lang xác định trong Việt Nam Phật giáo
s ử luận : “Thiền uyển tập anh ghi chép tiểu sử các thiền sư từ cuối thế kỷ thứ sáu tới đầu thế
kỷ thứ mười ba ” [83/120]; ông Nguyễn Huệ Chi viết về Thiền uyển tập anh trong Thơ văn
Lý - Tr ần : “ cuốn sách là một tập chân dung các nhà thiền học Toàn tập sách hiện còn,
có 62 ti ểu truyện nhân vật” [21/117] và đến Từ điển văn học lại xác định rõ hơn : “Tam tổ
th ực lục - Tập tiểu truyện về ba người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm đời Trần ở Việt Nam” [25/328] đồng thời nói về Thánh đăng lục : “ tập truyện kể về năm ông vua, cũng là năm
“Phật tử” Việt Nam đời Trần” [26/351-352] Cũng trong khoảng thời gian này, ở miền Nam, Khánh Vân Nguyễn Thụy Hoà có riêng chuyên đề mang tên Tiểu truyện các Thiền sư Việt Nam (phái Vô Ngôn Thông) [57] Đồng thời, ông Đinh Gia Khánh xác định: “Thiền uyển
t ập anh chép sự tích các cao tăng thuộc ba chi phái Thiền tông” [173/122] Sau này, ông
Ngô Đức Thọ trong Lởi giới thiệu cũng triển khai tiếp : “Ngày nay đọc Thiền uyển tập anh
mà thấy tập ấy ghi chép tiểu truyện và tác phẩm của các nhà sư - thi sĩ đời Lý thì không có
gì lạ Chính nhờ vậy, ngoài thế thứ, tiểu truyện của các thiền sư thuộc dòng mình, Thường Chiếu có điều kiện để sưu tập tiểu truyện của các vị khác thuộc phái Tì-ni-đa-lưu-chi Trong tập Thiền uyển không thấy chép tiểu truyện của Ẩn Không là người định cảo tập sách này nên ông không tự viết tiểu truyện về bản thân mình” [180/18,12-13] Tiếp đó, các sách
như Từ điển văn hoá Việt Nam - Nhân vật chí của nhiêu tác giả [200], Từ điển văn học Việt Nam - Quy ển 1 của Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường [5] và trong một số bài viết của
chúng tôi [140], [142], [143], [147] cũng đồng theo cách hiểu và vận dụng rộng rãi thuật
ngữ “tiểu truyện thiền sư” nói trên
Trang 13Theo chúng tôi thì khái niệm “tiểu truyện thiền sư” là sự chuẩn hoá hơn nữa cách gọi
“truyện thiền sư” nhằm để chỉ loại truyện thiền sư được viết theo nguyên tắc tiểu sử Ở đây,
bản thân chữ “tiểu truyện” không nhằm vào sự liên hệ, so sánh mức độ với các chữ “đại”,
“đoản thiên”, “trường thiên tiểu thuyết” chẳng hạn, mà chủ yếu bao hàm ý nghĩa là tiểu sử, truyện tiểu sử, tiểu sử thiền sư, Phật tích thuật ngữ này tương hợp với các chữ trong tiếng
về các Thánh tích, truyện tiểu sử các vị thánh, Phật tích hay là các truyện theo lối ghi chép
tiểu sử nói chung [218/187], [217], [219]
3 M ục đích khoa học và những đóng góp mới của luận án
Luận án không nhằm vào việc bổ sung, xác minh những vấn đề thuộc về khảo chứng văn bản, vấn đề tác giả, niên đại tác phẩm cũng như lược sử quá trình khắc in và những thay đổi sai biệt về câu chữ trong tập sách Ở đây chúng tôi chỉ nêu tóm tắt những kết quả học thuật mà các học giả đã đạt được nhằm xác định tính xác thực, khoa học của văn bản với tư cách là đối lượng khảo sát của luận án
3.1 Về niên đại tác phẩm, ông Nguyễn Lang trong công trình Việt Nam Phật giáo sử
lu ận xác định quá trình xây dựng và hoàn chỉnh bộ Thiền uyển tập anh : “Sách này bắt đầu
được biên tập vào khoảng trước năm 1134 cho đến đầu thế kỷ thứ mười ba thì hoàn tất” [83/113] Ông Nguyễn Huệ Chi trong phần Khảo luận văn bản ở sách Thơ văn Lý - Trần kết
luận: “Có thể thừa nhận Thiền uyển tập anh được biên soạn trong khoảng đời Khai Hựu
(1329-1341) mà cụ thể là hoàn thành vào năm Đinh Sửu, 1337” [21/117] Sau này, Ngô Đức
Thọ trong Lời giới thiệu sách Thiền uyển tập anh thì đoán định “Thiển uyển tập anh đã được
biên soạn xong năm sáu chục năm trước đó, còn năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) chỉ là năm tác phẩm được in ra” [180/15] Đi theo một hưởng khảo sát tương đối độc lập và tỉ mỉ, ông
Lê Mạnh Thát đi tới khẳng định tương đồng với kết luận của ông Nguyễn Huệ Chi : “Thiền
uy ển tập anh được viết vào năm Khai Hựu Đinh Sửu, 1337” [169/24-35] Ở đây xin ghi
nhận theo chủ thuyết Thiền uyển tập anh hoàn thành vào năm 1337
Về tác giả, sách Thơ văn Lý - Trần hầu như không bàn gì về tác giả Thiền uyển tập anh Ông Nguy ễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận viết: “Vậy ta có thể kết luận là
tác giả sách Thiền uyển tập anh gồm có nhiều người, trong đó những vị sau đây là quan
trọng nhất:
Trang 141/ Thống Điện
2/ Thường Chiếu
3/ Thần Nghi
4/ Ẩn Không [183/119]
Ông Ngô Đức Thọ cũng có kết luận tương tự : “Nói tóm lại, chúng ta có thể hình dung
cuốn Thiền uyển tập anh này đã trải qua một quá trình biên soạn; khởi thảo bởi thiền sư
Thông Biện, chuyển tiếp qua các thiền sư Biện Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi, đến Ẩn Không (tức Na Ngạn Đại sư) là người cuối cùng hoàn thành việc biên soạn” [180/14] Riêng ông Lê Mạnh Thát lại xác định theo một hướng gần như hoàn toàn mới mẻ: “Dẫu sao chăng
nữa, tất cả những gì ta biết về Kim Sơn, tác giả Thiền uyển tập anh, chỉ gồm có việc Sơn là
một trong những cao đệ của Pháp Loa có những liên hệ mật thiết với Minh Tôn và sống tối thiểu cho tới năm 1357” [169/42]
Đến đây chúng tôi xác nhận, trong tình hình biên dịch hiện thời, xin lấy bản dịch còn Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thuý Nga làm đối tượng khảo sát Đương nhiên bản dịch và cả quan niệm xác định văn bản còn có điểm cần bàn thêm (chẳng hạn như việc lược bỏ tiểu truyện Thiền sư Minh Không [175/213] ), song đây vốn là công trình biên dịch hoàn chỉnh
nhất đã được xuất bản chính thức, nhất là có phần dịch thơ, lời kệ, đối đáp vốn được trích tuyển lại từ nhiều công trình dịch thuật khác đã được công bố Trong điều kiện có thể chúng tôi sẽ đối chiếu với nguyên bản chữ Hán hiện lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, ký hi ệu A.3144 [221] Ngoài ra chúng tôi cho rằng nên đưa cả tiểu truyện Thiền sư Minh Không (1066-1141) cho đúng với nguyên bản Riêng trường hợp này sẽ được chúng tôi bổ sung bằng bản dịch của Lô Mạnh Thát [174/1501, 1136/48-50] Như vậy, việc góp
phần thẩm định văn bản, thẩm định các nguồn sử liệu, các chi tiết về cuộc đời nhân vật thiền
sư tuy có tính độc lập tương đối so với toàn bộ nội dung song cũng là một phần cơ sở khoa
học của luận án Trong định hướng chung, chúng tôi đưa những khảo sát văn bản đã nêu vào
mục này để khi bước vào phần chính của luận án sẽ khổng còn phải mô tả, giới thiệu lặp lại
nữa
3.2 Luận án xác định mỗi tiểu truyện thiền sư sẽ là một đơn vị tác phẩm có tính độc
lập tương đối Các bước khảo sát, mô tả chi tiết về các môtip, các cách thức dẫn chuyện, các đặc điểm nghệ thuật có tính tương đồng, tính qui luật và tính hệ thống sẽ đưa đến kết luận
và nhận thức chung về loại hình tiểu truyện các thiền sư trong Thiền uyển tập anh
Trang 15Luận án góp phần chỉ ra sự tương hợp giữa hình thức nghệ thuật, giữa phương thức xây dựng cốt truyện - tiểu sử các thiền sư với chính cách thức tư duy, cách hình dung của
Phật giáo về thế giới, về đời người - cũng chính là góp phần xác định tính nội dung của các
tiểu truyện thiền sư
3.3 Luận án hướng tới trình bày kết cấu các tiểu truyện thiền sư ở Thiền uyển tập anh
trong chiều hướng diễn tiến, hay là sự tổng hợp và trầm tích còn có phần cơ giới giữa các
thể thơ ca - biền văn - tản văn - tạp văn - truyện kể; hoặc nói cách khác, chúng thuộc “loại hình truyện kể, có thể xem là hình thức vừa nhảy vọt lại vừa kế thừa thủ pháp nghệ thuật cùa cả 4 loại hình nói trên”, và cũng là việc triển khai một cách cụ thể mục đích “Trình bày
mối quan hệ và xu thế tiến triển của các loại hình văn học Lý-Trần ” [21/184]
Luận án đặt vấn đề tìm hiểu tác phẩm Thiền uyển tập anh trong tương quan với các tác
phẩm văn xuôi cùng thuộc thời đại Lý – Trần, chủ yếu là Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, t ừ đó có thể gợi ra những nét chung của thể truyện và bia, ký cùng nằm trong loại hình
truyện kể [21/170-187]
3.4 Luận án hướng tới tìm hiểu các đặc trưng của tác phẩm văn học vốn chịu sự qui định chung của thời đại như về tính không rạch ròi, minh xác của các thể loại; về xu thế
“văn - sử - triết” bất phân; hay về sự chi phối của cảm quan folklore còn đậm đặc sắc màu
hư ảo, hoang dường và “lạ hóa” Lựa chọn những truyện tiêu biểu nhất mà sau này đã chuyển hoá vào hệ thống các lễ hội, truyện ký, bia ký thánh tích và kho tàng truyện cổ tích , luận án nhằm xác định những yếu tố còn bảo lưu cũng như cái “khả biến” vận động trong dòng chảy văn xuôi trung đại và văn học dân gian dân tộc
Trên cơ sở lựa chọn một phương pháp, một cách nhìn để soi rọi vào mội tác phẩm cụ
thể, luận án áp đụng thao tác nghiên cứu tương đối “chính xác” bằng vào sự phân tích, khảo sát, thống kê có lớp lang, hệ thống, ít nhiều gần gũi với thi pháp học hình thức Đây cũng là
cơ sở ban đầu để có thể mở rộng tìm hiểu toàn bộ loại hình tiểu truyện thiển sư Việt Nam, văn hóa - văn học Phật giáo Việt Nam, và trong điều kiện cho phép sẽ tiến tới mở rộng tìm
hiểu loại hình tiểu truyện thiền sư vốn có truyền thống lâu đời và phát triển mạnh ở toàn khu
vực Đông Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên [77], [219], [49], [218]
Trang 164 Đối tượng, phạm vi và tính chất của luận án
Tuân theo định hướng thống nhất từ các mục trên, chúng tôi chủ ý không đi sâu tìm
hiểu những vấn đề thiên vê lịch sử vãn bản, niên đại văn bản và tác giả - ngoại trừ những
khảo cứu nhằm đính chính văn bản đồng thời thể hiện như một phần kết quả khoa học của
luận án - mà coi văn bản Thiền uyển tập anh là một giá trị xác định và trở thành đối tượng
nghiên cứu Điều này cũng có nghĩa là chúng tôi đã được thừa hưởng thành quả nghiên cứu
về mặt khảo chứng văn bản của các thế hệ đi trước, thừa nhận những kết quả đó như một văn bản ổn định, hoàn chỉnh Sự nối tiếp và khác biệt chủ yếu ở cách nhìn và việc sử dụng
những thao tác nghiên cứu văn học cụ thể khi khảo sát và phân tích tác phẩm
Cũng xuất phát bởi chủ đích tìm hiểu Thiền uyển tập anh từ góc độ phương pháp loại
hình, chúng tôi đồng thời tiếp tục xem xét những phương diện thuộc về nội dung tư tưởng -
xã hội, chẳng hạn như những đặc điểm tư tưởng Phật giáo chứa đựng trong tác phẩm, nội dung tư tưởng toát lên trong từng thiên truyện, cái hay cái đẹp và giá trị nhân văn của dòng thơ thiền; song không quá đi sâu tìm hiểu sự khác biệt của các dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi,
Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và chính nội dung triết học cũng như ý nghĩa lịch sử, xã hội
của chúng Bởi lẽ, với ngay phần thơ ca được tàng trữ trong mỗi tiểu truyện thiền sư đã hầu như có thể trở thành đối tượng cùa một tiểu luận nghiên cứu Và như thế, toàn bộ các phần thơ ca đó lại có thể trở thành đối tượng cho cả một đề tài nghiên cứu khác, trong đó thậm chí có thể phân chia thành nhiều chương mục với nhiều nội dung chuyên sâu khác - chẳng
hạn như việc tìm hiểu về bối cảnh xã hội - thời đại, về vai trò đội ngũ các thiền sư - thi sĩ, về các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của bộ phận thơ ca này Do đó chúng tôi giới hạn và
tập trung xác định các nội dung đó theo chủ điểm loại hình các tiểu truyện thiền sư, hoặc có bàn luận về thơ ca cũng cốt phục vụ cho hướng đi chính yếu của đề tài
Xét trên phương diện phạm vi tư liệu, do lấy tác phẩm Thiền uyển tập anh làm dối lượng đổ khảo sát liên mặc dù còn có nhiêu văn bản, nhiều loại ghi chép kiểu như Thượng sĩ hành tr ạng, Tam tổ hành trạng, Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục, các thiền sư được
biên chép tiểu sử trong Thiền uyển kế đăng lục hay về thiền sư Hương Hải (1628-1715),
thiền sư Toàn Nhật (? -1832) , song chúng tôi chỉ coi là tài liệu bổ trợ, khi thật cần thiết
mới mở rộng sự liên hệ, so sánh Cũng như thế, một phần các nguồn thi liệu liên quan đến
loại hình tiểu truyện thiền sư ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên cũng chỉ được coi là dẫn chứng tham khảo khi thật cần thiết Điều này có lý do bởi vốn kiến văn của chúng
Trang 17tôi còn hạn hẹp, hơn nữa việc ôm đồm quá nhiều các nguồn tư liệu e sẽ thành phân tán và thiếu sức thuyết phục
Một điểm cuối cùng, do tính chất luận án hướng tới đối tượng là tác phẩm Thiền uyển
t ập anh đã dược xác định về mặt văn học sử, song phương hướng tiếp cận lại là từ góc độ
“loại hình”, thế tất phải điểm qua vấn đề lý luận loại hình và khả năng vận dụng lý thuyết
loại hình vào việc nghiên cứu các tiểu truyện thiền sư Điều này cũng có nghĩa là phải xác
lập một phần cơ sở lý thuyết – dù là khái quát ngắn gọn nhất - để rồi từ đó soi nhìn vào đối tượng khảo sát Như thế, để đi vào khảo sát một tác phẩm cụ thể hoá ra lại cần vận dụng
một vốn kiến thức tương đối sâu rộng, mà trong trường hợp này là những hiểu biết chung về
lý thuyết loại hình
5 P hương pháp nghiên cứu
Theo sát yêu cầu chung của luận án, chúng tôi đạc biệt chú trọng phương pháp thống
kê, phân loại và mô hình hoá Việc vận dụng phương pháp này một mặt sẽ tạo lập nên phần khung cốt cho các luận điểm và mở rộng đường hướng nghiên cứu, khảo sát, so sánh; và
mặt khác nhằm minh chứng cho mức độ phổ biến của vấn đề cũng như việc kiểm tra lại độ tin cậy của các phán đoán, kết luận
Đồng thời với việc hướng tới mô hình hoá, chúng tôi cũng chú trọng áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu, góp phần củng cố các mối liên hệ xa gần Đương nhiên các phương pháp trên không thể tách rời các thao tác mô tả, phân tích cụ thể Ngoài ra, do yêu cầu có khác nhau mà việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào từng chương mục cucng có
mức độ đậm nhạt khác nhau Trong toàn luận văn, chúng tôi quán triệt phương pháp duy vật
và biện chứng Cái nhìn duy vật thể hiện ở việc coi tư tưởng Phật giáo và tư duy văn học
Phật giáo chính là một cách hình dung về thế giới tâm linh con người, là sản phẩm tinh thẩn
của con người Cách nhìn biện chứng thể hiện ở việc khảo sát những đặc điểm thuộc về hình
thức nhưng vẫn chú ý đúng mức mối liên hệ chặt chẽ với nội dung tác phẩm Nhằm xác lập
cơ sở tiền đề cho phần chính của luận án, ở đây chúng tôi tập trung xác định khái niệm “tiểu truyện thiền sư” và phác họa những hiểu biết chung nhất về lý thuyết và phương pháp loại hình sẽ được triển khai trong luận án
Xem xét từ nội dung ngữ nghĩa, sách Từ điển tiếng Việt định nghĩa về danh từ loại hình là “T ập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc điểm cơ bản nào đó”, và loại
Trang 18hình h ọc là “Khoa học nghiên cứu về các loại hình nhằm giúp cho việc phân tích và phân
loại một thực tại phức tạp” [199/570] Nhìn trên toàn thể đã thấy xuất hiện những loại hình nghệ thuật với các hình thức tồn tại ổn định : “Mỗi loại hình nghệ thuật có những đặc trưng riêng được quy định bởi đặc điểm của đối tượng miêu tả, phương thức tái hiện, nhiệm vụ nghệ thuật và bởi cả những phương tiện vật chất chủ yếu tạo nên hình tượng nghệ thuật” [198/127] Giới hạn trong phạm vi văn học, chúng tôi xác định những đúc kết của Viện sĩ M.B Khrapchenkô về phương pháp loại hình là cơ sở lý thuyết cơ bản : “Như hiện nay người ta thường nói, vẫn có những cấp độ khác nhau của sự khảo sát theo phương pháp loại hình Ngoài sự phân định loại hình của những khuynh hướng văn học ra, sự phân định loại hình các thể loại có một ý nghĩa lớn Sự phân định loại hình các phong cách từ lâu đã được phát triển, nhất là trong ngành nghiên cứu nghệ thuật Sự phân định loại hình về sự phát triển lịch sử của các nền văn học là một điều cực kỳ lý thú và rất quan trọng - đó là sự tìm
hiểu những loại thể, loại hình của quá trình văn học trong những thời đại lịch sử khác nhau,
ở những dân tộc thuộc các nước khác nhau
Ở bên trong mỗi một lĩnh vực vừa được nhắc tới của việc nghiên cứu theo phương pháp loại hình, lại có sự phân hoá riêng biệt một cách đáng kể đối với những chủ đề và vấn đề.” [176/340]
Không chỉ quan tâm tới những vấn đề chung của lý thuyết loại hình mà M.B Khrapchenkô còn lưu ý tới từng khía cạnh loại hình - tác giả, loại hình nhân vật, loại hình -
lịch sử, đồng loại hình ở những phạm vi và mức độ rộng hẹp khác nhau; đồng thời chỉ ra
mối tương quan giữa nghiên cứu văn học theo phương pháp loại hình với phương pháp so sánh, chỉ ra tương quan giữa phương pháp loại hình và so sánh loại hình với “quan hệ cấu trúc”, “phân tích cấu trúc”, “cấu trúc tác phẩm” [76/337-339, 353]
Từ sự lược tả trên cho thấy một quan niệm chung, xác định của M.B Khrapchenkô về phương pháp loại hình và cả những biên giới, những đường viền, những bước giao thoa trong tương quan với phương pháp phân tích cấu trúc, xác định cấu trúc tác phẩm, hay mở
rộng hơn nữa là cái nhìn loại hình lịch sử, so sánh loại hình Tất cả những phương diện nói trên đều đã dược M.B Khrapchenkô vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu các tác giả và tác
phẩm văn học lớn thuộc thế kỷ XIX, tức là đối tượng của “văn học hình tượn” thuộc phạm trù cận - hiện đại [76/353-378] Đi theo định hướng nói trên, chúng tôi xác định trọng tâm
việc khảo sát các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh từ góc độ loại hình, song vẫn
thường xuyên chú ý vận dụng các thao tác nghiên cứu phân tích cấu trúc tác phẩm, khảo sát
Trang 19các môtip, các phương thức biểu hiện nghệ thuật hay có thể đối chiếu, so sánh trong trường
hợp cần thiết Mặt khác chúng tôi cũng ý thức được những giới hạn của việc vận dụng lý thuyết chung vào nghiên cứu một tác phẩm cụ thể, đặc biệt với một tác phẩm như Thiền
uy ển tập anh vốn thuộc khu vực văn học cổ - trung đại và có nhiều điểm khác biệt với văn
học cận-hiện đại Với cách hiểu như thế mà một số thuật ngữ, một số cách diễn dạt khi đi vào phân tích tác phẩm cụ thể sẽ có độ “nhòa”, có sự tương đồng với nhau trên những khía
cạnh nhất định nào đó
Ngay ở Việt Nam, ngoài những công trình dịch thuật, giới thiệu về lý thuyết loại hình cũng như công trình nghiên cứu, khảo sát loại hình văn học - văn học truyền thống phương Đông của học giả nước ngoài thì nhiều nhà nghiên cứu của chúng ta cũng đã chú ý vận dụng phương pháp loại hình vào việc tìm hiểu loại hình thể loại văn học, loại hình ngôn ngữ thơ
ca, loại hình môtip chủ dể, loại hình tác giả, loại hình văn xuôi, kịch Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu : Trước hết, có lẽ ngay từ khoảng trước năm 1957, Giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã sớm ý thức đặt vấn đề nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam từ góc độ loại hình
Ông đã triển khai ngay trong Phần thứ nhất : Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện
c ổ tích Việt Nam, hướng tới mục đích “phân loại truyện cổ” và nhằm xác định “bản chất
truyện cổ tích”, “ranh giới giữa truyền thuyết và cổ tích”, “đặc điểm của truyện cổ tích” [13/51-88] Cho đến khoảng trước năm 1982, sau khi đã hoàn tất bộ Kho tàng truyện cổ tích
Vi ệt Nam về mặt văn bản, trong Phần thứ ba : Nhận định tổng quát về kho tàng truyện cổ tích Vi ệt Nam, ông dã đi đến xác định “Yếu tố tưởng tượng trong loại hình truyện cổ tích
Việt Nam nói chung ít xa lạ với nhân tính” và tiến hành phân loại thành “truyện sinh hoạt”,
“truyện thần kỳ”, “truyện loài vật”, “truyện phiêu lưu mạo hiểm” từ đó đi tới việc mô hình hóa bằng biểu đồ Lịch sử vận động loại hình của truyện cổ tích [16/2417-2431]; đồng thời khi đặt vấn đề Th ử tìm nguồn gốc truyện cổ tích, ông đã mở đầu bằng việc giới thiệu khái
quát Các trường phái cổ tích học xưa nay với vấn đề cái “chung” và cái “riêng” trong loại hình c ổ tích [16/2519] Mặc dù đối tượng ở đây là truyện cổ tích song cách nhìn loại hình
đã được hiện thực hoá bằng các thao tác nghiên cứu, phân loại, tiểu loại và các môtip, các phương thức tư duy và cách thức thể hiện của truyện cổ tích, có thể coi là “bài tập mẫu” trong việc vận dụng phương pháp loại hình vào nghiên cứu vãn học
Một sự vận dụng phương pháp loại hình khác nữa được thực hiện vào khoảng trước
năm 1977, trong công trình Thơ văn Lý – Trần, ở Phần thứ nhất: Khảo luận văn bản, trong
đề mục Từ thực tế công tác văn bản, thử tìm mấy phương hướng nhằm khôi phục và giới
Trang 20thuy ết lại diện mạo văn học Lý – Trần, ông Nguyễn Huệ Chi đã xác định nhiệm vụ “Nhận
th ức đẩy đủ các lọai hình văn học Lý - Trần”; trong đó ông đã biện giải về các khái niệm
văn học, văn chương, tư duy hình tượng, hệ thống thể loại và tiến tới giới thuyết, lập bảng
sơ đồ phân loại về các thể loại - loại hình văn học Lý – Trần [21/157-187] Đứng trước thực
tế các thể loại văn học còn chưa có sự phân định đường biên rõ nét, chưa có tính độc lập,
thậm chí còn trầm tích trong nhau, ông đã xác lập một qui ước lý thuyết: “Mô hình phân loại
của chúng tôi có thể còn chưa hợp lý, do tìm hiểu các hình thức nghệ thuật thơ văn Lý –
Trần chưa đầy đủ Và những thể loại đã vạch ra có thể còn phải thay đổi Bên cạnh đó, cách trình bày về mối liên hệ giữa các thể, loại cũng có thể làm cho bạn đọc hiểu lầm Các loại hình văn học chữ Hán ra đời trong thời kỳ phong kiến tự chủ nói chung đều có nguồn gốc ở Trung-quốc, đều từ Trung-quốc mà chuyển sang Việt-nam Và ngay từ khi bước chân vào trường ốc, người Việt-nam học thức nào cũng đã bắt buộc phải làm quen với những loại hình đó; cho nên, không thể nói loại hình nào có trước, loại hình nào có sau, loại hình nào phát sinh từ loại hình nào, nhưng đứng về khả năng và hình thức biểu hiện thì rõ ràng chiều
hướng diễn biến thơ ca - biền văn - tản văn - tạp văn - truyện kể là một chiều hướng hợp
với quy luật ” [21/184] Ở đây, với tư cách sự phân định loại hình – thể loại thơ văn Lý –
Trần nhìn từ góc độ lý thuyết và đặt trong nhiệm vụ chính “Khảo luận văn bản” nên tác giả chưa đi sâu mô tả, phân tích các dẫn chứng, các thực thể văn học Điều quan trọng là tác giả
đã đưa ra một mô hình phân loại, chỉ ra tính chất hỗn dung và tương đối loại biệt của thơ văn Lý - Trần mà bất cứ người nghiên cứu nào khi tiếp cận với đối tượng này cũng không
thể bỏ qua
Cuối cùng, chúng tôi xin dẫn chuyên luận Loại hình học tác giả văn học: Nhà nhơ tài
t ử và văn học Việt Nam của Trần Ngọc Vương [209] thể hiện như một phương hướng nghiên
cứu loại hình học ở một đối tượng và phạm vi cụ thể Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong
bài Lo ại hình học tác giả văn học và vấn dề phương pháp luận nghiên cứu đã giới thiệu tóm
tắt nội dung chuyên luận [4] Có thể nói đây cũng là một dẫn chứng hữu ích trong việc vận
dụng lý thuyết loại hình vào nghiên cứu văn học - tác gia văn học
Về các bài giới thiệu và nghiên cứu ứng dụng liên quan đến phương pháp loại hình thuộc các lĩnh vực, các đối tượng, các phạm vi và từng phương diện văn học cũng đã được nhiều tác giả quan tâm công bố trên sách báo và tạp chí chuyên ngành Xin xem : Đỗ Nam
Liên : Vài nét v ề phương pháp so sánh loại hình lịch sử trong khoa nghiên cứu folklore ở Liên-xô [89]; Lê Chí Qu ế: V.Ia Prôp (1895-1970) và phương pháp nghiên cứu folklore theo
Trang 21so sánh lo ại hình lịch sử [125] và Phương pháp loại hình học trong khoa văn học dân gian
[124]; Trần Đức Ngôn : Lý thuyết hình thái học của V.Ia Prôp và truyện cổ tích thần kỳ của người Việt [109]; Phan Trọng Thưởng : Những thu hoạch ban đầu về phương pháp loại hình trong nghiên c ứu văn học [183]; Lại Nguyên Ân : Loại hình các môtip chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại [3]; Nguyễn Văn Dân : Loại hình văn xuôi viễn tưởng [34]; Đặng Thanh Lê: Lo ại hình ngôn ngữ thơ ca “Truyện Kiều” và mối quan hệ giữa phương pháp - đối tượng - quan điểm trong nghiên cứu văn học [85]; B.L Ríplin : Mấy vấn đề nghiên cứu văn học Trung cổ phương Đông theo phương pháp loại hình [129] v.v
Với những nhận thức chủ yếu như trên về lý thuyết chung cũng như tìm hiểu thực tiễn
việc vận dụng phương pháp loại hình vào nghiên cứu văn học dan gian, truyện cổ tích, thơ văn Lý - Trần, văn học cổ - trung đại và cận - hiện đại , chúng tôi thấy hoàn toàn có khả
năng áp dụng vào việc khảo sát loại hình các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh
Bởi lẽ Thiền uyển tập anh thuộc loại hình thể loại truyện trong dòng chảy thơ văn Lý - Trần,
mang đặc trưng về sự trầm tích trong nó dấu ấn những thể văn khác mà có thể chỉ ra các môtip, các đặc điểm nghệ thuật trong tương quan với cấu trúc mỗi tiểu truyện và tạo nên tính thống nhất loại hình ở cả bộ sách đó Hơn nữa, việc đặt loại hình truyện thiền sư trong tương quan đồng đại với các tác phẩm văn xuôi đương thời và tương quan lịch đại ở một số
tiểu truyện tiêu biểu sẽ càng làm nổi rõ hơn những đặc điểm loại hình ấy Việc đi sâu khảo sát, phân tích, xem xét cấu trúc và đặc điểm tư duy nghệ thuật ở tác phẩm Thiền uyển tập anh sẽ là cả quá trình vận dụng, chuyển hoá nhận thức lý luận vào chính văn bản tác phẩm
3 Mục đích khoa học và những đóng góp mới của luận án (14-17)
4 Đối tượng, phạm vi và tính chất của luận án (17-19)
5 Phương pháp nghiên cứu (19-24)
Trang 226 Cấu trúc luận án (24-25)
PHẦN NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương 1 : Khảo sát cấu trúc các tiểu truyện thiền sư trongThiền uyển tập anh
1.1 Về sự ra đời của các thiền sư (29-36)
1.2 Về cuộc đời tu hành, giáo hoá của các thiền sư (36-50)
1.3 Về môtip “qui tịch” của các thiền sư (50-58)
Chương 2 : Đặc điểm và vị trí bộ phận “tàng trữ giá trị thi ca” trong Thiền uyển tập
anh
2.1 Những bài thơ sấm ký và thơ thế tục (61-67)
2.2 Dấu ấn văn học chức năng và tính thuyết giáo (67-77)
2.3 Quan niệm về bản thể (77-88)
2.4 Những nẻo đường tu chứng và giải thoát (88-105)
2.5 Con đường trở về với thiên nhiên và đời sống (105-112)
2.6 Dòng thơ viếng tế và thơ-kệ thị tịch (112-124)
Chương 3 : Các yếu tố folklore và mối quan hệ giữa cốt truyện thiền sư trong Thiền
uy ển tập anh vơi thư tịch cổ và truyện cổ tích
3 l Về khả năng tích hợp các yếu tố folklore trong tác phẩm Thiền uyển tập anh
3.1.1 Từ một môtip nhân vật độc đáo (131-137)
3.1.2 Các môtip tương đồng với văn hoá - văn học dân gian (137-147)
3.2 Mối quan hệ giữa cốt truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh với thư tịch cổ và
truyện cổ tích
3.2.1 Thiền sư Từ Đạo Hạnh (149-155)
3.2.2 Thiền sư Dương Không Lộ (155-161)
3.2.3 Quốc sư Minh Không (161-166)
Trang 23PHẦN KẾT LUẬN (168-171) THƯ MỤC THAM KHẢO (172-195)
Trang 24C HƯƠNG 1: KHẢO SÁT CẤU TRÚC CÁC TIỂU TRUYỆN THIỀN
SƯ TRONG THIỀN UYỂN TẬP ANH
Với tác phẩm Thiền uyển tập anh, việc xác định trong đó có bao nhiêu tiểu truyện
thiền sư cũng không dễ thống nhất Điều này có lý do trước hết bởi cách viết tiểu sử các thiền sư không tuân theo một tiêu chí thật cụ thể, rõ ràng Nói ngay như với ba dòng thiền
lớn thì có hai dòng Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi là được biên chép tương đối kỹ lưỡng, có hệ thống; còn với dòng Thảo Đường thì hầu như chỉ còn một bảng danh sách thế
thứ truyền thừa các đời Rồi ngay cả hai dòng Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi thì cách
viết các tiểu truyện cũng không đồng đều nhau, có sự co giãn cách biệt về dung lượng và độ dài ngắn, có tiểu truyện đài năm mười trang trong khi ở một số tiểu truyện khác lại chỉ giới thiệu ngắn gọn trong vài ba dòng Đã thế, trong khi số lớn các tiểu truyện mô tả cuộc dời các thiền sư theo qui trình khá thống nhất thì ở một số truyện lại hầu như chỉ là một đoạn lý
lịch trích ngang hay như một đoạn sử ký bình chú vắn tắt Hơn nữa, với các tiểu truyện tương đối hoàn chỉnh thì vẫn có tiểu truyện thiên về tàng trữ các gía trị thi ca thông qua các
lời kệ, lời truyền dạy đệ tử, lời căn dặn trước lúc thị tịch hay lời thơ viếng tế; còn số tiểu truyện khác lại gia tăng yếu tố ngữ lục, thuyết giáo, công án, đối thoại, ghi chép lời sấm ký Đứng trước tình hình nói trên, các sách - với quan niệm và chủ đích khác nhau - đã xác định danh sách tiểu truyện các thiền sư ít nhiều có khác nhau Đa phần các sách chỉ nêu chung chung, kiểu như : “Thiền uyển tập anh chép tiểu truyện của các thiền sư ở Việt Nam
theo ba thiền phái lớn” [5/426], hoặc đi theo hướng mô tả, liệt kê, tóm lắt danh sách các thiền sư theo thế thứ truyền thừa như ở các sách Việt Nam Phật giáo sử luận [83], Lịch sử
Ph ật giáo Việt Nam [86], Lược sử Phật giáo Việt Nam [191] Sách Văn học Việt Nam từ thế
k ỷ X đến giữa thế kỷ XIX lấy tiêu chí là các thiền sư-thi sĩ nên đã viết: “Theo sách Thiền
uy ển tập anh có khoảng trên bốn chục nhà sư làm thơ văn” [111/93] Đồng thời, sách Văn
học Việt Nam (thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII) cũng xác định : “Theo sách Thiền uyển tập anh, một tác phẩm viết vào hồi thế kỷ XIII, thì trong đời Lý có khoảng trên bốn chục nhà sư
làm thơ văn” [72/47] Sách Thơ văn Lý-Trần xác định : “Toàn tập hiện còn, có 62 tiểu
truyện nhân vật” [21/17] Ông Lê Mạnh Thát ở phần Nghiên cứu về “Thiền uyển tập anh”
viết rõ : “Về nội dung thì trong số 65 vị thiền sư thuộc hai dòng thiên Pháp Vân và Kiến Sơ
có tên trong Thi ền uyển tập anh ” [169/46] Đến bảng Mục lục (không đánh số thứ tự) của Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga lập trong bản dịch Thiền uyển tập anh thấy có 67 vị,
Trang 25trong đó có cả vua Lý Thái Tông và không có tên Minh Không [175/253-254] Riêng ông Thanh Từ trong sách Thiền sư Việt Nam có kê cứu và đánh số thứ tự các thiền sư của cả ba
dòng thiền nhưng lại tuân theo trật tự năm sinh, bao gồm 65 vị; trong đó lược bỏ vua Lý Thái Tông, đồng thời xếp chung cả hai thiền sư Bảo Tính và Minh Tâm vào một mục, và lập thêm danh sách thiền sư Thảo Đường (vốn chỉ có tên mà không có tiểu truyện trong Thiền
uy ển tập anh) [193] Gần đây nhất, ông Nguyễn Đăng Na trong bài Bí ẩn của đoạn kết truy ện Vô Ngôn Thông và việc giải mã bí ẩn đó [101] và ở tập sách Văn xuôi tự sự Việt Nam
th ời trung đại - Truyện ngắn đã lập chính sách và thống nhất ghi Thiền uyển tập anh có 68
tiểu truyện thiền sư [ 103/59-60]
Qua toàn bộ sự mô tả trên chúng tôi đi đến xác định tác phẩm Thiền uyển tập anh có
68 tiểu truyện thiền sư Điều cán chú ý là danh sách này được lập theo sát văn bản Thiền
uy ển tập anh, trong đó bao gồm cả các cư sĩ Thông Sư, Ứng Vương và vua Lý Thái Tông;
đồng thời những ghi chép về các thiền sư Bảo Tính và Minh Tâm được kể là hai tiểu truyện,
về bản dịch, như đã nêu ờ phần Các mục đích khoa học của luận án, chúng tôi chủ trương
sử dụng bản dịch của Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thuý Nga vì thấy đây là bản dịch Thiền uyển
t ập anh trọn vẹn nhất đã được xuất bản (đồng thời với việc chúng tôi có bổ sung thêm tiểu
truyện Quốc sư Minh Không), đặc biệt với phần tàng trữ giá trị thơ ca qua bản dịch đã được
sàng lọc qua thời gian của các nhà Hán học, nhà thơ tiêu biểu như Ngô Tất Tố, Nguyễn Đổng Chi, Hoa Bằng, Đoàn Thăng, Phạm Trọng Điềm, Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, Thanh Từ, Nguyễn Lang, Huệ Chi, Minh Chi, Phạm Tú Châu, Băng Thanh, Hà Văn
Tấn, Hoàng Lê, Kiều Thu Hoạch, Mai Xuân Hải, Hoàng Trung Thông Như vậy, về cơ bàn, chúng tôi đã có trong tay một văn bản - bản dịch tác phẩm tương đối đáng tin cậy làm đối tượng khảo sát
Nhìn nhận một cách bao quát, Nguyễn Duy Hinh căn cứ chủ yếu trên phương diện tư tưởng và hình thức nghệ thuật đã phân chia các tác phẩm văn xuôi và văn vần thời Phật giáo
cực thịnh thành ba loại : “Thứ nhất, các tác phẩm bình giảng lý thuyết Phật giáo như Khóa
hư lục, Cư trần lạc đạo phú, các bài tụng cổ, các bài kệ Chính đó mới là văn học Phật giáo,
thuần tuý bàn giáo lý và lu hành Thứ hai là những áng văn chương chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo Nội dung của loại văn này bàn về Sinh, Tử, Vô, Hữu, Tâm, Phật Thứ ba, các tác phẩm không dùng từ ngữ hay có dùng ít nhiều từ ngữ Phật giáo song tuyệt nhiên không mang nội dung Phật giáo” [53] Trong sự phân định trên, tác giả đặc biệt chú ý hai
loại đầu, coi đó là những nội dung lớn của thơ văn thời Lý-Trần trở về trước Những đặc
Trang 26điểm này không chỉ thể hiện ở phần “truyện - ghi chép tiểu sử” mà còn bộc lộ sâu sắc ở cả
phần tàng trữ các giá trị thi ca trong tác phẩm Thiền uyển tập anh
Hướng tới việc tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật các tiểu truyện thiền sư trong
Thi ền uyển tập anh từ góc độ loại hình, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát cấu trúc các tiểu
truyện thiền sư (trong đó mỗi tiểu truyện được coi là một đơn vị tác phẩm độc lập và việc
chỉ ra sự đồng dạng của các môtip, các biện pháp nghệ thuật và sự tương hợp với nội dung
tư tưởng cũng như hình thức tư duy theo cảm quan Phật giáo sẽ làm nên tính loại hình các
tiểu truyện thiền sư ) Hơn nữa, việc khảo sát cấu trúc các tiểu truyện theo từng đoạn đời các thiền sư dường như có truyền thống từ chính cuộc đời đức Phật Chẳng hạn, theo cách hình dung của Thu Giang Nguyễn Duy Cần : “Trong cuộc đời của Phật Thích-ca, có ba giai-đoạn quan-trọng tiêu-biểu được cả một hệ-thống giáo-lý của Ngài
1) lúc thiếu thời;
2) khi xuất gia;
3) sau ngày đắc Đạo
Cuộc đời ấy có thể gọi là cuộc đời điển-hình cho những ai quyết-tâm đi vào con đường
giải-thoát, chứ không phải riêng gì của Thích-ca Hay nói một cách khác: Đời sống của Thích-ca ch ứng minh một cách hùng-hồn giáo-lý của Ngài còn hơn tất cả các kinh-luận của
Ph ật-Pháp” [10/34-35] Điều này cũng có nghĩa là bản thân cuộc đời đức Phật cũng đã là
một cách hình dung Phật giáo, tự thân biểu hiện một cảm quan Phật giáo Xét trong phạm vi
cụ thể về ý nghĩa văn học của các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh, ông
Nguyễn Huệ Chi viết : “Nói rõ hơn, cuốn sách là một tập hợp chân dung các nhà Thiền học,
với những phác họa đôi khi rất có cá lính, đã vượt khỏi mọi tiểu sử nhạt nhẽo mà đạt đến
những chân dung văn học có giá trị” [21/115] Tiếp theo, ông Nguyễn Tử Cường cũng đã
khảo sát, so sánh hết sức công phu và đi đến kết luận Thiền uyển tập anh căn bản không
phải là “văn bản truyền đăng” mà thực sự thuộc loại “truyện cao tăng” vốn rất phổ biến ở Trung Quốc [33] Nói như thế cũng có nghĩa là các tiểu truyện thiền sư trước hết là những trang ghi chép tiểu sử, mang đậm phong cách tiểu sử, trên cơ sở căn cốt đó mới mở rộng dung lượng hiện thực và gia tăng các yếu tố nghệ thuật Với cách hiểu như thế nên chúng tôi triển khai việc khảo sát cốt truyện tiểu sử và cấu trúc các tiểu truyện thiền sư theo ba giai
đoạn của cuộc đời : khi sinh, quá trình hành đạo và sự trả về cõi Phật
Trang 271.1 V ề sự ra đời của các thiền sư
Xem xét 68 tiểu truyện thiền sư được ghi chép trong Thiền uyển tập anh có thể thấy
các tiểu truyện nói về sự ra đời của các thiền sư thường giữ vai trò dàn chuyện, khởi đầu câu chuyện và khá thống nhất trong cách hình dung, lý giải các hiện tượng “sinh” đó Trong cách thức miêu tả, các tiểu truyện có kể lại sự ra đời của các thiền sư thì bao giờ cũng gắn
với các hiện lượng lạ, những điềm lạ, giấc mơ lạ Ở một số tiểu truyện, sự miêu tả này nhiều khi còn được nhấn mạnh ngược lên các đời ông bà, cha mẹ hay tiền thân của chính vị thiền
sư đó Hơn nữa, bản thân con người các thiền sư ngay từ nhỏ đã bộc lộ những dấu hiệu thiên
bẩm khác thường cả về tư chất, tướng mạo, tài năng, sở thích, tiếng cười, giọng nói
Khi ghi chép về sự ra đời của các thiền sư, các tiểu truyện không chỉ đơn thuần kể lại
sự kiện sinh ra mà thường diễn tả ngược về đời cha mẹ, truy tìm lại những hành vi, việc làm được coi như sự “tác nghiệp” làm cơ sở hình thành và điều kiện “duyêi khởi” dể sinh ra một
con người cụ thể Đó là trường hợp các tiểu truyện Thiền sư Vân Phong (? - 957) : “Khi
mang thai, bà mẹ thường trai giới, tụng kinh niệm Phật Đến khi sinh thấy hào quang toa sáng khắp nhà, cha mẹ cho là điều lạ, có ý định ngày sau sẽ cho con xuất gia”; là Thiền sư
Ng ộ Ấn (1020-1088): “Mẹ họ Cù, khi chưa lấy chồng nhà ở cạnh nghĩa địa gần khu rừng,
thấy người la đặt bẫy bắt hết cả chim, bà nói : “Thà chết mà làm người thiện còn hơn sống
mà làm kẻ ác Một hôm bà đang ngồi dệt vải có con khỉ lớn từ trong rừng chạy ra ôm lấy lưng bà suốt ngày mới bỏ đi Sau đó bà biết mình có mang Đến khi sinh ra, đứa con mặt mũi xấu xí, bà lấy làm ghét, bèn đem bỏ vào rừng Trong hương có sư cụ người Chiêm Thành họ Đàm, trông thấy đem vê nuôi, nhân đó đặt tên là Khí”; và Thiền sư Chân Không
(1046-1100) : “Khi mẹ ông mang thai, cha ông mộng thấy vị sư người Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó sinh ra ông Ông mồ côi từ thuở nhỏ, khổ công đèn sách học tập, không
mấy chú ý đến những việc lặt vặt”
Ở nhiều chân dung thiền sư khác, đặc trưng “lạ hoá” khi sinh lại được tô đậm ở dáng
vẻ ngoại hình hoặc những khả năng khác thường nào đó Cách thức tạo ấn tượng kiểu này khá phong phú, chẳng hạn việc nói về các vị như Đại sư Khuông Việt (933-1011) : “Ông
dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa”; Thiền sư Viên Chiếu
(999-1090) : “Thuở nhỏ ông thông minh, mẫn tuệ, hiếu học”; Thiền sư Đạo Huệ (7-1073) :
“Tướng mạo đoan chính, giọng nói trong trẻo”; Thiền sư Hiện Quang (7-1221) : “Dáng mạo
thanh tú, giọng nói ôm nhẹ Sư sống tự lập từ thuở nhỏ, từng trải qua nhiều khốn khó”;
Trang 28Thi ền sư Pháp Hiền (7-626): “Thân cao bảy thước, ba tấc”; Thiền sư Sùng Phạm
(1044-1087): “Sư người họ Mâu, dáng mạo lo lớn, tai dài đến vai”
Trước khi đi vào phân tích và lý giải đặc điểm sự ra đời của các thiền sư được chép
trong Thi ền uyển tập anh, chúng tôi sẽ giới thiệu một hiện tượng đồng loại hình đã diễn ra
trong lịch sử ghi chép các tiểu truyện thiền sư Trung Hoa, với các bộ sách tiêu biểu như Cao tăng truyện của Tuệ Hạo (đời Lương), Tục cao tăng truyện của Đạo Tuyên (đời Đường),
T ống cao tăng truyện cùa Tán Ninh (đời Tống), Minh cao tăng truyện của Như Tịnh (đời
Minh) v.v Công trình phiên dịch Thiền sư Trung Hoa, ba tập [171], [172], [173] giới thiệu
187 tiểu truyện, trung đó có nhiều truyện nói tới sự ra đời và tuổi ấu thơ của các nhà sư Đó
là các truyện như Thiền sư Pháp Tú (7-1090): “Sư họ Tân , mẹ mộng thấy ông sư già đến
ngủ nhờ, tỉnh mộng liền biết có thai Nguyên do là núi Mạch Tích có vị sư già quen cùng hoà thượng Lỗ ở chùa Ứng Càn, muốn theo Hoà thượng Lỗ đi du phương Hòa thượng Lỗ chê già đi không được Vị sư ấy nói với Lỗ : Ngày sau nên tìm tôi ở dưới ngọn Thiết Trường, bốn rặng tre cạnh sườn nùi Sau, Lỗ nghe quả ở chỗ ấy có sinh một đứa bé liên tìm đến xem Đứa bé vừa thấy Lỗ liền cười Được ba tuổi, đứa bé (tức sư) liền xin theo Lỗ về chùa” v.v Cách thức miêu tả các vị sư ra đời được hiểu như là quá trình lâu dài tu nhân tích đức, ăn chay niệm Phật, hướng về Phật tổ tiếp tục được triển khai ở nhiều thế kỷ tiếp
theo; đơn cử như lược truyện tự thuật của Đại sư Hám Sơn (1545- ?) -người đã góp công
đầu trong việc phục hưng đạo tràng Tào Khê đời nhà Minh: “Tôi sinh ở Toàn Tiêu thuộc
quận Nam Kinh Mẹ tôi là một Phật tử mộ đạo, suốt đời thờ đức Đại sĩ Quan Thế Âm Một hôm bà nằm mộng thấy đức Đại sĩ dắt đến một đứa trẻ, bà vui mừng ôm lấy Sau đó bà mang thai, và tôi ra đời nhằm ngày 12 tháng 10, 1545” [12/188] Như vậy, các môtip liên quan đến sự ra dời của các thiền sư Trung Hoa cũng giống hệt như đặc trưng “lạ hoá” về sự
ra đời của các thiền sư Việt Nam được ghi chép trong Thiền uyển tập anh Điều này có
nghĩa là chúng đồng loại hình, tương đồng với nhau: khi các tiểu truyện có nói đến sự ra đời cùa các thiền sư thì sự ra đời đó bao giờ cũng có liên hệ tới môi trường Phật giáo, gắn với các hiện lượng lạ, những điềm lạ, giấc mơ lạ - nghĩa là gắn với phương thức tư duy “duyên
khởi”, tạo sinh kiểu Phật giáo
Lần ngược trở lại ngọn nguồn, hay là cơ sở khởi thủy cái bệ phóng làm nên những đặc
điểm khi sinh ở các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh rõ ràng thấy có chịu ảnh
hưởng hoặc tương đồng với cách ghi chép tiểu truyện thiền sư Trung Hoa từ đời Tống trở về trước và truy nguyên truyền thống từ chính cách ghi chép về cuộc đời đức Phật Thích Ca
Trang 29Mâu Ni - Tất-đạt-đa (Siddhata) Theo kinh Pháp Hoa, ở phần Thọ mạng Như Lai, đức Phật
tuyên bố : “Ta thành Phật đến nay đã lâu không biết ngần nào, tuổi thọ của ta dài đến vô lượng vô biên, vô số kiếp Ta vốn thường còn chẳng mất” (Ngã thành Phạt dĩ lai thâm đại
cửu viễn, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp, thường trụ bất diệt) [151/51] Như vậy, trước khi được trở thành “là mình”, đức Phật đã có một “hiện tồn quá khứ” với “vô lượng a tăng
kỳ kiếp” - trong đó 1 a tăng kỳ (asamkliya) đã gồm con số 1 kèm theo 47 con số không, và
mỗi tiểu kiếp nhỏ nhất cũng tới 16.798.000 năm Chính với cách hiểu như thế mà phần thứ
nhất sách Lịch sử Phật tổ lại mở đầu với tựa đề Nhân duyên quá khứ, trong đó giới thiệu 10
hiện thân của đức Phật ở các kiếp đời trước, khi còn từng là kẻ phàm phu, là thái tử, là vua,
là tiên ông; từng chịu đọa nơi hỏa ngục, từng cắt thịt cứu con chim bồ câu - và mẫu đề này
đã được nhà văn Thụy Điển Torgny Lindgren tái cấu trúc thành truyện Đức Phật và chim câu [93]; ngài lại từng bố thí tiền của, vợ con và đầu mình để tinh tiến cầu trí tuệ, vãng sinh
trời đâu suất và xuống cứu độ nhân gian [30/7-39] Và tiếp sau đó mới là “Thời kỳ ứng thân
xu ống đời”, mà đề mục mở đầu “Trẫm triệu giáng sinh” được giới thiệu như sau: “Bóng
giăng vằng vặc, hồ sen hoa nở tốt tươi, gió thổi hiu hiu, hương bay ngào ngạt Hoàng hậu Ma-gia vừa mới thiu thiu giấc điệp, bỗng trông thấy một người tướng mạo khôi ngô, mũ áo
chỉnh tề, cưỡi một con voi trắng sáu ngà từ trên trời xuống, rồi chui vào bên nách bên hữu
bà, bà lại thấy nhiều thần tiên ngọc nữ xuống mà ca xướng chúc tụng ” [30/41-42]; đề mục
thứ hai có tiêu đề “Đến ngày đức Phật giáng sinh”, mồ tả : “Tháng ngày thấm thoát, đã tới
k ỳ nguyệt mạn hoa khai, bà Hoàng hậu Ma-gia bỗng thấy thân thể nhẹ nhàng, tâm thần khoan khoái khác thường Bà trông ra giời quang mây tạnh, trăm hồng ngàn tía đua chen, gió tho ảng hương bay, lũ én đàn oanh ríu tít, bà liền sai các thị nữ sắm sửa xe loan để bà ra chơi thưởng hoa ở vườn Lam-tì-ni Khi Hoàng hậu đến nơi thấy trong vườn cây cối um tùm, c ỏ hoa xanh tốt, bà liền xuống kiệu dạo gót xem hoa, khi đến một cây rất qúy tên là Ba- la- xoa (người Tàu dịch là vô-ưu), bà trông lên thấy cành lá rườm rà, quả hoa tươi tốt, lại
th ấy một cành la đà rủ xuống, bà liền ngồi dưới cành cây ấy, ngắm nghía hồi lâu, bổng thây khác mình, li ền sinh Thái tử
B ấy giờ vua Đế thích vội vàng đem cái áo kiều thi ca rất đẹp và rất mềm mỏng cùng
v ới bốn vị thiên vương xuống đỡ Thái tử, trong lòng Hoàng hậu bấy giờ thật là vui mừng khôn xi ết, ở trên không lại có các tiếng âm nhạc vang động, hoa thơm ngào ngạt từ bốn phương bay xuống như mưa, các thị nữ xúm lại đỡ lấy Khi ấy ở trong vườn tự nhiên biến ra hai cái ao nước rất trong sạch, mát mẻ thơm tho, ở trên trời lại có chín con rồng phun nước
Trang 30xu ống tắm cho Thái tử Bấy giờ chính là ngày mồng 8 tháng Tư năm Giáp Dần, niên hiệu
th ứ 24 vua Chiêu Vương đời nhà Chu (622 tr.CN),
Khi Ph ật giáng sinh có năm sắc hào quang soi thấu điện Thái Vi vua Chiêu Vương bên Trung Qu ốc Vua hỏi quần thận rằng : “Đây là điềm gì ?” Quan Thái sử là ông Tô-Gio tâu
r ằng : “Tâu bệ hạ, đây là ở phương Tây có thánh nhân giáng sinh, sau đây một nghìn năm
n ữa thì giáo pháp mới truyền vào Trung Quốc” Vua nghe rồi bảo khắc vào bia ở miếu Nam Giao để kỷ niệm lại
Khi v ề đến cung, vua cho triệu các thầy tướng vào để xem tướng Thái tử Vua thấy đã sinh được Thái tử, trong lòng mừng rỡ bội phần, liền ra lệnh ân xá cho hết thảy những kẻ tủ
t ội và chẩn cấp cho nhũng người nghèo khổ Ai nấy đều được vui vẻ, hưởng thú thái bình Vua bèn đặt tên cho Thái tử là Tất-Đạt-Đa” [30/42-45]
Ngay đến tác phẩm Đường xưa mây trắng - Theo gót chận Bụt của Nhất Hạnh Nguyễn
Lang, mặc dù tác giả không ghi rõ thể loại song có thể dược coi là công trình biên soạn, trình bày lại cuộc đời du hành, giáo hóa chúng sinh của đức Phật từ rất nhiều nguồn tài liệu kinh tạng khác nhau (hoặc có thể coi là một dạng ghi chép tiểu truyện thiền sư trường thiên), thì ở Chương VI, Quyển I có nói tới sự ra đời của Siddhata theo một cách thức tương
tự : “Ngày có mang Siddhata, mẹ của Siddhata đã nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà t ừ trên trời đi xuống Trên không nhã nhạc vang lừng và tiếng ca hát chúc tụng của chư thiên v ọng lên không ngớt Con voi trắng đi xuống càng lúc càng gần, da của nó trắng như tuy ết trên đỉnh núi và vòi của nó quấn một đóa sen hồng Con voi tới gần bà, đưa đóa hoa
ch ạm vào người bà Rồi con voi ấy đi vào trong bà Tự nhiên bà thấy trong người sảng khoái l ạ thưởng Bà có cảm tưởng rằng từ nay bà sẽ không bao giờ còn khổ đau, lo lắng,
gi ận dữ và phiền muộn nữa Bà thức giấc Chưa bao giờ bà cảm thấy hạnh phúc như thế
Bà tr ỗi dậy Những tiếng ca hát của chư thiên và nhạc trời êm ái như còn văng vẳng bên tai
hà Bà đi tìm vua Suddhodana và kể cho vua nghe về giấc mộng Vua chia sẻ niềm vui với
bà Sáng hôm ấy vua mời những đạo sĩ và những thầy Bà la môn nổi tiếng ở kinh đô vào cung để nhờ đoán mộng Sau khi đã nghe kể về giấc mộng của hoàng hậu, các vị đều nói:
- Tâu b ệ hạ, hoàng hậu sẽ sinh hạ hoàng nam Thái tử sau này sẽ là một người xuất chúng Thái t ử có thể sẽ là một vị chuyển luân thánh vương trị vì cả bốn cõi; thái tử có thể
s ẽ đi tu và trở thành vị lãnh đạo tinh thần cho cả cõi người và cõi trời Cõi đất của chúng
ta, tâu b ệ hạ, đã chờ đợi từ lâu rồi một người như thái tử
Trang 31Vua Suddlhodana rết vui mừng Sau khi hội ý với hoàng hậu, vua ra lệnh lấy bớt tài
vật trong kho ban phát cho những người ốm đau và bệnh tật trong xứ Thần dân ở vương
quốc Sakya đều được thấm nhuần ơn đức của vua và hoàng hậu
M ẹ của Siddhata tên là Maha Maya, người nước Koliya Hoàng hậu Maya là một người đức hạnh Bà thương yêu con người, nhưng bà cũng thương yêu các loài cầm thú và
c ỏ cây Mùa xuân năm sau, đúng vào ngày trăng tròn tháng tư, hoàng hậu hạ sinh thái tử trên đường từ Kapilavatthu về thủ đồ Rômagama của vương quốc Koliya, quê hương của
bà T ục lệ của nước bà là người con gái có chồng phải về sinh con tại nhà cha mẹ Trên đường đi, bà đã ghé vào nghỉ tại vườn Lumbini Trong vườn muôn hoa đang nở rộ, chim chóc ca hát vang l ừng Những con công xoè đuôi rực rỡ trong nắng mai Thấy một cây vô
ưu hoa nở rực rỡ đầy cảnh, bà bước tới Khi tới gần cây này, bà thấy hơi lảo đảo Bà vội đưa tay nắm chặt một cành cây Vô ưu Một giây sau đó, bà sinh em bé Thái tử Siddhata được các thị nữ nâng lên và bọc lại trong một tấm khăn choàng bằng lụa vàng Các thị nữ
bi ết rằng chuyến đi Rômagama không cần thiết nữa cho nên dìu hoàng hậu ra xe bốn ngựa
đi trở về Kapilavatthu Thái tử được đem tắm bằng nước ấm rồi được đặt lên giường bên
mẹ tu lập, không phải là mội hiện tượng cá biệt ở trong các tiểu truyện thiền sư trong Thiền
uy ển tập anh mà chính là một đặc điểm mang tính loại hình, có truyền thống lâu dài và mở
rộng ở khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo Đồng thời, bản thân sự ra đời thường gắn
với các hiện tượng lạ dường như xa gần liên hệ tới hai vấn đề sau Thứ nhất, trong tư duy dân gian, ở các truyện cổ tích, truyền thuyết vẫn thường xuất hiện môtip các bà mẹ mơ thấy
nuốt sao, uống nước suối và ăn quả lạ, hoặc ướm vào dấu chân người khác (như kiểu truyền thuyết Thánh Gióng) để suy tôn người anh hùng “mẹ hiền sinh con thánh”, coi sự ra đời
của mỗi danh nhân là sự khế hợp của thiên cơ, sự chung đúc của khí thiêng sông núi, và do
sự chỉ định, ký thác của một lực lượng huyền bí, cao cả siêu nhiên nào đó Thứ hai, theo cách hình dung của Phật giáo, con người hiện thời được sinh ra là do quả kiếp tiền duyên, là
hiện hữu của quá khứ Mối thiện duyên, thiện nghiệp (các bà mẹ tu nhân tích đức, ăn chay, không sát sinh ) sẽ tạo sinh nên các vị thiên sư đạo cao đức trọng [123], [184], [216] Cách
Trang 32tư duy này tương hợp và là hệ quả của quan niệm Phật giáo về luân hồi, rằng con người sinh
ra là do vô số các mối nhân duyên làm tiền đề trước đó Nhà Phật học Thái Lan, Tỷ kheo Khantipàlo xác định : “Các sự kiện đều tùy thuộc (duyên sinh) vì sự sinh khởi của chúng tùy thuộc vào những lập hợp phức tạp của các điều kiện (nhân duyên) Các pháp (các sự việc, sự
vật, cả vật lý lẫn tâm lý) thực sự sinh như vậy, và diệt như vậy, không cần phải tìm kiếm
khởi điểm, đấng tạo dựng nào cả” [70/94] Như thế, việc các đời ông bà, cha mẹ làm điều thiện và có các giấc mơ lạ chẳng qua chỉ là điềm báo xác nhận việc chuẩn bị cho sự ra đời
một vị thiền sư đó Nhìn nhận từ góc độ triết học Phật giáo, O.O Rozenberg cho rằng :
“Nếu chủ thể, thế giới bên trong và bên ngoài của nó là đối tượng nghiên cứu của thuyết dharma tức là các “pháp”, những “cái mang”, “chủng tử”, những yếu tố của tồn tại - N.H.S
chú), thì hoá ra cái được gọi là sinh thể không phải là thực thể sống trong thế giới mà là thực
thể xúc cảm thế giới Vấn đề trước hết là về cái được sinh thể cảm xúc, tức thế giới trong
phạm vi là cảm xúc của sinh thể” [130/95-96] Đặt trong mối liên hệ với sự ra đời gắn với các hiện tượng lạ ở các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh có thể xác định rằng
phương thức tư duy kiểu này cũng chính là một cách “xúc cảm thế giới” – có nghĩa các thiền sư ra đời vừa có ý nghĩa tự thân, có tính tất yếu (là sản phẩm sẽ đến của duyên nghiệp, quan niệm tiền duyên, duyên khởi, hậu lai ) vừa cần có sự trợ duyên, bảo trợ, xác nhận của
một lực lượng tâm linh siêu nhiên khác (sự báo hiệu, báo ứng của các điềm lạ, hiện tượng
lạ, giấc mơ lạ), Do đó, các vị thiền sư đạo cao đức cả phải được sinh ra như là kết quả của cái chân-thiện, từ những điểm lạ, những nhân cách đẹp [176] Theo chúng tôi, đây cũng chính là cơ sở để lý giải về sự ra đời của các thiền sư vốn thường gắn với các hiện tượng lạ,
hư ảo, siêu thực
1.2 V ề cuộc đời tu hành, giáo hóa của các thiển sư
Các nhà nghiên cứu người Nga khi tìm hiểu các tập tiểu truyện thiền sư tiêu biểu nhất
của Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ chủ yếu vào phần cuộc đời tu hành để
phân loại các thiền sư Điều này có lý do bởi tiểu sử cuộc đời là phần chính yếu, nổi trội
nhất tạo nên chân dung mỗi vị thiền sư; còn những đặc điểm khi sinh và cái chết hiển nhiên
là những yếu tố phù trợ, góp phần “lạ hóa” và tôn vinh cuộc đời các thiền sư
Trong công trình L ịch sử văn học Triều Tiên từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV, hai nhà
nghiên cứu M.I Nikilina và A.Ph Trôxêvits đã phân chia các tiểu truyện thiền sư theo 3
kiểu loại truyện: truyện có môtip thần kỳ, truyện ghi chép và loại truyện mang tính sử thi
Trang 33[218/178-210] Đến công trình nghiên cứu, dịch thuật Cao tăng truyện (Tuệ Hạo, nhà
Lương) do L.N Mensikôp chủ biên lại phân chia theo 4 kiểu nhân vật: thiền sư truyền giáo, thiền sư có pháp thuật, thiền sư nhập thế và thiền sư ẩn dật [219/82-94] Cuối cùng, công trình nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật Tuyển tập bài viết về tư tưởng truyền thống Việt Nam
- Th ế kỷ X- đầu thế kỷ XIII (M.T Xtêpanhianx chủ biên), khi giới thiệu về các danh nhân –
thiền sư trong Thiền uyển tập anh cũng đã phân chia thành 4 kiểu loại: thiền sư truyền giáo
(6 vị), thiền sư du phương ( 6 vị), thiền sư quán thiền (22 vị), quan hệ thầy trò (17 vị) Điều đáng chú ý ở đây là sự phân chia trên chỉ có ý nghĩa tương đối, hoàn toàn không tách biệt rõ ràng, triệt để Chẳng hạn, thiền sư Đa Bảo vừa thuộc nhóm “truyền giáo” vừa được xếp vào nhóm “thầy trò”; Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ vừa thuộc nhóm “du phương” cũng vừa được xếp vào nhóm “thầy trò”; các thiền sư Ngộ An, Trí Bảo, Tô Minh Trí, Quảng Nghiêm, Thiền Lão, Chân Không cũng vừa thuộc nhóm “quán thiên” lại vừa dược xếp theo nhóm
“thầy trò” [217/87-171], v.v
Theo những gợi ý và định hướng nghiên cứu chủ yếu đã nêu trên, chúng tôi vận dụng vào khảo sát tác phẩm Thiền uyển tập anh và phân chia thành 4 kiểu loại cuộc đời nhân vật
thiền sư: Các thiền sư có phép lạ, Các thiền sư nhập thế, Các thiền sư ẩn dật và Các thiền
sư có công hoằng dương Phật giáo
1.2.1 Các thiền sư có phép lạ
Nếu như đặc trưng “lạ hoá” liên quan đến sự ra đời của các thiền sư thường mới chỉ là
những mâm mống, yếu tố, có ý nghĩa như là những điềm lạ, những kết quả của thuyết nhân duyên, báo ứng , thì nó lại đã trở thành một phẩm chất nghệ thuật in đậm trong cuộc đời tu hành, giáo hoá ở các tiểu truyện thiền sư Xét về mặt khái niệm, đặc trưng “lạ hoá” được xác định là “Toàn bộ những thủ pháp nghệ thuật (nghịch dị, nghịch lý, v.v ) được dùng để đạt đến một hiệu quả nghệ thuật, theo dó, hiện tượng được miêu tả hiện ra không phải như ta đã quen biết, hiển nhiên, mà như một cái gì mới mẻ, chưa quen, “khác lạ” [198/118] Trong
Kho tàng truy ện cổ tích Việt-nam, Giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã sử dụng khái niệm “lạ hoá”
như một thủ pháp nghệ thuật để cắt nghĩa sự vận động của cốt truyện và kết cấu nghệ thuật
của tác phẩm truyện cổ tích Ông viết: “Bên cạnh thủ pháp đối sánh, truyện cổ tích Việt-nam còn sử dụng thành thạo một thủ pháp thứ hai: Sự lạ hoá” [16/2434]; “Bằng hình thức trộn
lẫn âm-dương, người-vật, tác giả đã đạt được sự “lạ hóa”, và đó chính là cái nút nghệ thuật
của truyện” [16/2435]; “Để thay đổi hình thức đối sánh và lạ hóa, tác giả truyện cổ tích thần
Trang 34kỳ còn sử dụng nhiều yếu tố ngẫu nhiên, các phép lạ, vật thiêng, người thần (Bụt, Ngọc Hoàng thượng đế, tiên, thánh ) can thiệp vào cốt truyện, tạo nên những cảnh huống bất
ngờ, những cái nút đột ngột, khiến cho câu chuyện có được những bước tiến nhảy vọt,
những nghịch cảnh sinh động” [16/2437] Cũng theo cách hiểu về khái niệm “lạ hóa” như
thế, chúng tôi sẽ vận dụng vào việc phân tích các tiểu truyện thiền sư
Trên thực tế tác phẩm Thiền uyển tập anh có nhiều tiểu truyện hướng theo những chi
tiết tiểu sử đời thường, đời thực mà ít nhất hư ảo, ngoa dụ, lạ hoá Đó là các tiểu truyện
Trưởng lão Định Hương (? -1050), Quốc sư Thông Biện (? -1134), Đại sư Mân Giác 1096), Thi ền sư Minh Trí (? -Ì 196), Thiền sư Tì-ni-đa-lưu- chi (? -594), Tăng thống Khánh
(1052-H ỷ (1067-1142), Thiền sư Thường Chiếu (? -1.203)., Ở các tiểu truyện này, cuộc đời các
thiền sư thường được mô tả theo cách nhìn thế sự, sự kiện hiện thực, tuân theo phong cách chép sử, theo đúng chi tiết đời thường và không có những nét lạ, những phá cách và bước ngoặt lớn trong đời các vị thiền sư
Chiếm một số lượng khá lớn trong Thiền uyển tập anh là các tiểu truyện nhấn mạnh
một vài nét cá tính và công phu tu tập của các thiền sư khi đã đạt đến một trình độ nhất định
Những khả năng đó vừa biểu thị sự hướng nội, sức mạnh nội tâm nội lực, sự đạt đạo ở ý chí làm chủ bản ngã; đồng thời vừa biểu thị sức mạnh hướng ngoại, có khả năng chinh phục thế
giới ngoại cảnh, thế giới chúng sinh, hàng ngũ vua quan, đệ tử và cả giới tự nhiên, loài vật,
cỏ cây, gió mưa, mây nước Có thể nói đây mới chỉ là những yếu tố lạ hoá, những dấu hiệu
thể hiện khả năng đặc biệt, phi phàm, khác thường của giới tu hành Các chi tiết, yếu tố đó
có thể chỉ xuất hiện duy nhất một lần hoặc cũng có thể nằm trong một chuỗi các chi tiết,
hoặc cũng có thể làm nền cho những chi tiết, môtip, hành động “lạ hoá” trong cùng một tiểu truyện thiền sư Xét ở giới hạn yếu tố lạ hoá có thể kể đến các tiểu truyện như Thiền sư Đạo
Hu ệ (? -1173) : “Sau sư đến trụ trì chùa Quang Minh, giữ nghiêm giới luật, chuyên tu thiền
định, trong vòng sáu năm lưng không bén chiếu, hiểu sâu phép Tam quán Tam ma địa, học trò đông đến hơn một nghìn người Tiếng sư tụng kinh ngày đêm cảm hóa cả khỉ vượn trong núi, khiến chúng kéo từng đàn đến chùa nghe kinh Vì thế danh tiếng của sư vang truyền
đến kinh đô”; Thiền sư Hiện Quang (7-1221): “Mỗi khi xuống núi sư thường quảy túi vải
trên đầu gậy Sư đi tới đâu, những lúc nằm ngồi, dã thú trông thấy đều đến thuần phục”;
Thi ền sư Pháp Hiền (? -626): “Sau khi Tì-ni-đa-lưu-chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên Phúc
tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay đến vây quanh, dã thú
tới đùa rỡn Người đương thời hâm mộ danh tiếng đến học đạo với sư đông không kể xiết”;
Trang 35Tăng thống Huệ Sinh (? -1064) : “Tuổi trẻ theo Nho học, nhưng khi rỗi rãi thường nghiên
cứu sách Phật, chư kinh bách luận không sách nào không đọc Mỗi khi nói đến những điều
yếu chỉ trong Phật pháp, ông thường cảm khái rơi lệ Mỗi lần nhập định, sư ngồi suốt năm ngày liền, người đương thời thường gọi sư là Nhục Thân đại sĩ”; Thiền sư Giới Không (? -
?) : “Qua vùng Nam Sách, sư trụ lại lèn Thánh Chúa tu hạnh Đầu đà trong sáu năm, ác thú đều đến thuần phục, quỉ thần cũng đến xin sư sai khiến Vua Lý Thần Tông nhiều lần sai chiếu chỉ thinh sư về kinh; nhưng sư từ chối Đến năm , dịch bệnh hoành hành, vua lại mời
sư về kinh chữa bệnh Sư vừa về đến cửa khuyết thì có sắc chỉ ủy cho sư đến chùa Gia Lâm
để làm phép chú thủy chữa bệnh, mỗi ngày cứu sống được hàng nghìn người” v.v Chung qui, những yếu lố lạ hóa mang tính chất phi phàm- khác thường nói trên (chứ chưa phải là siêu phàm, siêu việt) mới là sự tô dậm những tính cách và khả năng của các vị thiền sư, tạo
ấn tượng về con đường tu hành, giáo hoá và khẳng định con đường tu luyện đã đạt đạo,
nhậm vận theo đúng tinh thần Phật giáo Như thế, những yếu tố lạ hoá ở đây tuy đã khác
biệt, cách biệt với đời thường, thường nhân thế tục, song vẫn được hiểu như một khả năng hoàn toàn có thể có, có thể vươn tới của các thiền sư; là lẽ thường của người tu hành tinh
tiến và nằm trong cách cảm nhận qui phạm, cách tụng ca phẩm chất con người thiền sư đã
trở thành truyền thống Bản thân việc ăn chay niệm Phật, cầu học, chịu đựng kham khổ, mở
rộng lòng khoan từ, cứu nhân độ thế, thậm chí được cả giới vua quan triều đình trọng
dụng thực tế đều là những cách mô lả khác nhau nhằm tôn cao uy vọng của các thiền sư, nhưng đó cũng chính là công việc của người tu hành, là nhiệm vụ người tu hành phải đạt tới
Việc xác định các yếu tố lạ hoá ở đây đã khác biệt với thường nhân song vẫn gần gũi với truyền thống tu hành và tư cách con người thiền sư tài cao đức trọng chính là vì thế
Trong Thi ền uyển tập anh, mức độ các yếu tố “lạ hoá” ở một số tiểu truyện đã được đẩy tới đỉnh điểm, chuyển hoá từ sự phi phàm tới siêu phàm, từ sự khác lạ tới kỳ lạ, hư ảo
Phương thức biểu hiện cực tả này có thể đồng thời tồn tại bên các chi tiết, yếu tố “lạ hóa” tương đối dung dị khác, hoặc cũng có thể tồn tại độc lập như là một biểu tượng con người
có khả năng siêu phàm, có thể hổ phong hoán vũ, có thể cảm ứng tương thông và cảm hoá,
thay đổi cả đất trời, thiên nhiên, vũ trụ Đó là các tiểu truyện Thiền sư Đạo Hạnh (? -1117):
“Sư bèn đến bên cầu Quyết, thử ném gậy xuống giữa dòng nước xiết Chiếc gậy liền trôi ngược dòng đến phía tây cầu Tây Dương thì dừng lại ; có thể khiến rắn rết, muông thú đến
chầu phục, đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm”, đồng thời sau này còn chủ động thác sinh làm con Sùng Hiền hầu và hậu thân
Trang 36chính là vua Lý Thần Tông”; Quốc sư Minh Không (1065-1141) thì vốn là đệ tử và tiền thân
vua Lý Thần Tông - tức Từ Đạo Hạnh - từng chữa bệnh hóa hổ cho vua, ứng với lời nguyền cũng như lời căn dặn của Đạo Hạnh từ năm nào kiếp trước : “Sư sai lấy một vác lớn đựng nước nấu sôi tới cả trăm lần, dùng tay quậy lên khỏang bốn lần rồi tắm vua trong đó”, và trước đó đã bộc lộ khả năng kỳ lạ khi đóng một cái đinh dài hơn năm tấc vào cột điện, trong khi không ai dám nhổ thì “sư lại lấy hai ngón tay trái cầm vào thì đinh theo chúng mà ra
Mọi người đều khiếp phục” v.v Như vậy, đặc trưng sự lạ hoá ở đây đã đạt đến độ đậm đặc,
v ừa đi vào chiều sâu tư duy hư ảo, siêu phàm vừa gia tăng số lượng các chi tiết, sự kiện được lạ hóa Các yếu tố “lạ hoá” trong chừng mực mới là những phác họa tạo ấn tượng, tô
đậm uy vọng và khả năng phi phàm của các thiền sư đến đây đã chuyển hoá thành một tuyến chi tiết, sự kiện siêu phàm và tự thân chúng mở ra một nhánh “cốt truyện” mới, ít nhiều có tính độc lập tương đối so với tiểu sử - đời thường của chính các vị thiền sư ấy Điều này cũng có nghĩa là nếu các chi tiết, yếu tố “lạ hoá” được điểm xuyết bao phủ lên
cuộc đời đã tạo nên uy vọng của các thiền sư thì định hướng cực tả sự lạ hóa lại đã một lần
nữa chắp thêm đôi cánh của trí tưởng tượng, nâng cấp và khách thể hoá, siêu thăng hoa, siêu nhiên hoá thành một bậc thánh linh có phép thần tiên, có thể hàng long phục hổ, bay trên không lội dưới nước, hoặc nôn các thức ăn mặn ra để các món thịt biến thành thú đi vật
chạy, các món cá biến thành cá vùng quãy, rượu thì biến thành nước gỉ đồng Nhìn chung,
hiện tượng này có phần tương thông với một đặc điểm tư duy và biện pháp nghệ thuật của truyện cổ tích mà Giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã quan sát : “Nhiều khi quan niệm luân hồi hay số mệnh còn được triển khai thành một cấu trúc chuỗi, tạo nên không phải hai mà nhiều
ch ặng lạ hóa vả đối sánh khác nhau - N.H.S nhấn mạnh” [16/2436], và cũng là tương đồng
với yếu tố “kỳ” trong loại truyện truyền kỳ Việt Nam và Trung Quốc [22/11-24], [167] Chỉ xin lưu ý rằng tất cả các chi tiết, sự kiện lạ hoá đó - thậm chí có thể chiếm số lượng chủ yếu trong tiểu truyện - thì rút cuộc nó vẫn tuân thủ mạch sự kiện tiểu sử sinh ra - hành hóa - qua đời theo đúng nghĩa con người thiền sư-đời thường
1.2.2 Các thiền sư nhập thế
Từ dẫn chứng cũng như việc khảo sát toàn bộ các tiểu truyện thiền sư trong Thiền uyển
t ập anh thấy diễn ra những phép ứng xử và quan niệm sống vừa trái ngược nhau, vừa liên hệ
chặt chẽ với nhau và có phần chịu sự chi phối qua hoàn cảnh rất đáng chú ý Đó là hiện tượng các thiền sư vừa “nhập thế” hướng về cõi đời thế tục, vừa “xuất thế” hướng về thế
Trang 37giới tâm linh, tu luyện bản ngã chân tâm Cả hai định hướng này vừa đồng thời diễn ra trong
cuộc đời một vị thiền sư, hoặc cũng có vị trước sau vẫn triệt để tuân theo một cách sống ẩn
dật Xem xét trong mối liên hệ với nhân sinh thế tục, ngoài các công việc xây chùa, dựng tháp, giáo hoá chúng sinh thì chính mối ràng buộc với giới vua quan triều đình có thể được xem là mội tiêu chí để minh định xu hướng “nhập thế” này Các cách thức “nhập thế”, hướng về thế lục có thể biểu hiện trực tiếp từ việc tham gia chính sự, xây dựng vương quyền, giúp vua đánh giặc cứu nước, thực hiện phương thuật cầu đảo mưa thuận gió hòa, trợ giúp vào việc kinh bang tế thế và cảm hoá, dẫn độ họ theo về Phật giáo Có thể kể đến tên
tuổi các vị như Đại sư Khuông Việt (933-1011) : “Năm bốn mươi tuổi, danh tiếng vang dội
đến triều đình Vua Đinh Tiên Hoàng vời về kinh đô hỏi chuyện Sư đối đáp hợp ý, được vua phong giữ chức Tăng thống Năm thứ 2 niên hiệu Thái Bình (971), sư được ban hiệu là
Khuông Vi ệt Đại sư Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm
các việc quân quốc triều dinh, sư đều được tham dự Năm Thiên Phúc thứ nhất (981), quân
Tống sang xâm lược nước la Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền cẩu đảo xin thần phù hộ Quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy lung tung trên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy”
Tiếp đó, Khuông Việt Ngô Chân Lưu còn tham gia phái đoàn đón tiếp sứ giả nhà Tống và làm bài từ tiễn đưa Chánh sứ Lý Giác [110], [190], [104]; Thiền sư Đa Bảo (? - ?): “Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhiều lần vời sư về kinh thỉnh vấn yếu chỉ của Thiền tông, ân lễ tiếp đãi trọng hậu, các việc chính sự triều đình đều mời sư dự bàn định đoạt Vua từng xuống chiếu cho trùng tu chùa Kiến Sơ là nơi sư trụ trì”; Quốc sư Viên Thông (1080-1151) ; “Vua
Lý Nhân Tông cho là bậc kỳ tài, định phong quan tước, nhưng sư cố từ, chỉ nhận chức Nội cung phụng truyền pháp sư Năm Đại Khánh thứ 3 (1080-1151) : “Vua Lý Nhân Tông cho
là bậc kỳ tài, định phong quan tước, nhưng sư cố từ, chỉ nhân chức Nội cung phụng truyền pháp sư Năm Đại Khánh thứ 3 (1130) đời Lý Thần Tông, vua thỉnh sư vào điện Sùng Khải
để hỏi kế hưng, vong, trị, loạn Lời đáp của sư quả nhiên hợp ý vua, vua bèn gia phong sư
chức Hữu nhai Tăng thống trông coi công việc của bản dạo Từ đó sư được tùy ý ra vào cung cấm để dâng lời khuyên răn can gián, chưa từng biếng trễ với chức vụ giúp rập vua Về sau, sư vâng mệnh đến quán Tây Dương làm lễ bảo vệ Thai vua có ứng nghiệm, vua lại càng thêm quý trọng Khi có lễ triều yết, sư được đứng cùng thứ bậc với thái tử
Nam Thiên Chương Báo Tự thứ 5 (1137), vua Lý Thần Tông băng hà, vâng theo di chiếu, sư được dự hàng cố mệnh đại thần, được ủy thác các việc triều chính
Trang 38Năm Thiệu Minh thứ nhất (1138), vua Lý Anh Tông lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, thái hậu nhiếp chính, xét sư là người có công tôn lập hoàng thái tử nên nhiêu lần được ban thưởng
trọng hậu Sau sư trở về bản quán dựng chùa Quốc An, trụ trì tại đó cho đến cuối đời Triều đình lại cho ba thôn sở tại được miễn tô thuế, lấy đó chu cấp phí dụng cho chùa để tỏ ý khen thưởng
Năm Đại Định thứ 4 (1143), sư được tiến phong Tả hữu nhai Tang thống Nội cung
phụng tri giáo môn công sự, truyền giảng Tam tạng văn chương, ứng chế hô quốc quân sư, ban hàm Tử y đại sa môn Đó là chức vị quan trọng, quả là bậc đại thần được trong triều ngoài quận tôn kính” Nhưng không chỉ có thế, tài năng và uy vọng của các thiền sư còn được trọng dụng ở việc đối ngoại, đón tiếp sứ giả, được cả vua và giới Thiên môn người
nước ngoài biết tiếng, vì nể, nghĩa là đã vươn tới tầm “quốc tế” Đó là các tiểu truyện Thiền
sư Viên Chiếu (999-1090) : “Sư từng soạn sách Dược sư thập nhị nguyện văn, Vua Lý Nhân
Tông lấy bản thảo sách ấy đưa cho sứ giả nước ta đem sang tặng vua Triết Tông nhà Tống Vua Tống trao cho vị pháp sư cao tọa ở chùa Tướng Quốc xem Pháp sư xem xong chắp tay tâu với vua Tống :
- Ở nước Nam có vị Bồ tát sống đã ra đời, giảng giải kinh nghĩa rất linh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào
Vua Tống sai chép lại một bản, còn bản chính giao lại cho sứ giả đem về Sứ giả trở về tâu lại sự việc, vua Lý Nhân Tông rất khen ngợi, ban thưởng sư rất trọng hậu”; Thiền sư Đại
X ả (1120-1180) : “Bấy giờ có thầy tăng nước Tống lag Nham Ông cảm mộ danh tiếng của
sư, tìm đến thỉnh vấn, tự đốt một ngón tay để tỏ rõ lòng thành” Thiền sư Pháp Hiền (? -626)
: “Thứ sử nhà Tuy là Lưu Phương [186/72] tâu về triều, Tuy Cao Tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng chuộng đạo Phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc diệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng Sư bèn chia xá
lỵ cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở châu Phong, Hoàn, Trường, Á để
sựng pháp phụng thờ”; đồng thời các vị như Đại sư Khuông Việt (933-1011) và Đỗ Pháp Thu ận (915-990) lại đều đã tiếp kiến và xướng họa thơ từ với sứ nhà Tống là Lý Giác [11],
[139] Toàn bộ những điều này tỏ rõ rằng, trong định hướng “nhập thế”, hướng về thế tục thì mối quan hệ với vua quan triều đình đã trở thành một tiêu chí quan trọng xác nhận uy
vọng và vai trò các thiền sư trong đời sống xã hội và cộng đồng quốc gia Điều đó cũng
chứng tỏ mối liên kết giữa thần quyền và vương quyền cũng như vai trò chi phối đời sống tinh thần, thế giới tâm linh của Phật giáo với tư cách là “quốc giáo” trong buổi đương thời
Trang 39Xét trên phương diện mục đích hành dộng có thể nhận thấy các yếu tố “lạ hoá” thường tham dự vào thực tế đời sống sản xuất của cư dân nông nghiệp và công cuộc xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ Điểm nổi bật ở đây là các thiền sư thường được nhà vua mời đến thực
hiện nghi thức tế lễ “đảo vũ”, “cầu vũ” một cách linh nghiệm, gần như đóng vai trò các
pháp sư, thậm chí được tôn là Vũ sư Đó là các tiểu truyện như Thiền sư Tịnh Giới (? -1207)
: “Mùa hè năm Trinh Phù thứ 2 (1177), gặp đại hạn, vua Lý Cao Tông xuống chiếu cho các danh tăng làm lễ cầu đảo đều không ứng nghiệm Vua từ lâu đã nghe danh tiếng của sư, bèn sai sứ thỉnh sư về kinh Sư nghỉ ở chùa Báo Thiên, đến nửa đêm thắp hương đứng giữa sân chùa tụng niệm cầu khấn, trời bèn đổ mưa Vua hết lời khen ngợi sủng ái, thường gọi là Vũ
sư”; Thiền sư Nguyện Học (? -1181): “Sư thường trì tụng bài chú Hương Hải đại bi Đà la ni,
cầu mưa, trị bệnh luôn ứng nghiệm”; Thiền sư Đạo Hạnh (? -1117) : “Đốt ngón tay cầu
mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm”
Như vây, chính các yếu tố “lạ hoá” và bản thân các khả năng siêu phàm, kỳ lạ của
việc đảo vũ cầu mưa, chú thủy chữa bệnh cho dân cho thấy những hoạt động thiêng liêng, linh dị của các thiền sư đã dược vân dụng hướng về giải quyết công việc sản xuất và đời
sống an lạc thường ngày của nhân dân Điều này cũng cho thấy rõ thêm đặc tính hướng về
cộng đồng, hướng về nhân sinh thế lục, biểu hiện tính “vụ lợi” trực tiếp của Phật giáo Việt Nam Có thể nói tính “vụ lợi” này cũng khiến cho Phật giáo Việt Nam dễ dàng dân gian hoá,
“giải thiêng” các yếu tố ly kỳ nhằm phục vụ đời sống dân sinh Đặc điểm này còn bộc lộ ở
chỗ, ngoài phương thuật cầu đảo chính thức do triều đình tổ chức, có thể do nhà vua trực
tiếp làm chủ đàn hay có sự tham dự của các thiền sư, thì vẫn có hệ thống tín ngưỡng dân gian tôn thờ tứ pháp cầu mưa gió thuận hòa Trong cách nhìn duy lý, đương nhiên nhiều khi
sự cầu đảo chỉ có ý nghĩa trấn an, thậm chí có thể vận dụng cả kinh nghiệm tiểu xảo kiểu như câu chuyên Lê Như Hổ (1511-1583) và Trạng Lợn dựa vào rễ si và cỏ gà mọc mà trổ tài
cầu mưa ứng nghiệm (!), khiến cho vua Tầu hết sức kính trọng
Một điểm khác nữa, các yếu tố “lạ hoá” tiếp tục chi phối và phát huy tác dụng trong công cuộc xây đựng, củng cố vương quyần và công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Như đã phân tích ở phần trên, ngoài việc các thiền sư tài cao đức trọng, có khả nàng
kỳ lạ dược giới vua quan triều đình trọng dụng thì bản thân họ cũng từng trực tiếp tham gia
“sáng nghiệp” vương triều, trực tiếp là những thiền sư - khai quốc công thần và tham dự công việc chính sự [50/39-45], [131/148-149] Đó là các tiểu truyện như Thiền sư Định Không (? -808) trụ trì ở chùa Thiệu Chúng, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (tức người
Trang 40cùng làng cổ Pháp của Lý Công Uẩn sau này) đã từng đoán giải hiện tượng một chiếc khánh
đồng rơi xuống sông thập khẩu-thuỷ thổ khứ cùng một bài Tụng và hai bài thơ khác đều là
những lời đoán định về sự kiện Lý Công Uẩn sẽ lên làm vua vào hơn 200 năm sau đó (!)
Đến tiểu truyện Trưởng lão La Quý An (thế kỷ IX-X) từng nói nhiều lời sấm ngữ, từng dụng
thuật phong thúy trấn chỗ đất bị Cao Biền (thế kỷ IX) cắt long mạch, trên đó có trồng cây
gạo và đọc bài kệ vào năm Thanh Thái thứ 3 (936), từng tiên tri việc Lý Công Uẩn sẽ lên
làm vua vào 74 năm sau đó, thậm chí còn biết rõ cả năm, tháng, ngày, giờ (!) Tiếp đó, Thiền
sư Vạn Hạnh (? -1018) chính thức vừa có sấm ngữ, làm thơ yết bảng tuyên truyền, trực tiếp
bàn luận với chú bác người nhà Thân vệ Lý Công Uẩn và cùng các quan như Đào Cam Mộc khuông phò Công Uẩn lên làm vua [187], [188/414-426] Ngoài ra, xét trong quan hệ bang giao thì chính Đại sư Khuông Việt cùng sư Đỗ Pháp Thuận (915-990) đều được dùng làm cố
vấn, được uỷ quyền đối đáp, bàn luận với sứ giả nhà Tống; thậm chí có thể coi Pháp Thuận
là một thiền sư-“tình báo viên” với nhiệm vụ hoạt động hết sức cụ thể : “Năm Thiên Phúc
thứ 7 (986), sứ giả nhà Tống là Lý Giác sang nước ta Vua sai sư thay dổi quíỉn áo, giả là người cai quản bến đò để dò xét cử động của Giác” Và cả hai nhà sư này đều hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ và có thơ xướng hoa với sứ giả nhà Tống, có thể xem như những bài thơ đầu tiên trong lịch sử thi ca bang giáo của dân tộc Nhưng với cách nhìn về các thiền sư tham gia công việc chính sự thì ở đây lại nảy sinh một điểm hết sức đáng lưu ý Xét về mặt
lịch sử thì tất cả các vị đều dược trọng dụng và gần cận với nhà vua tiên triều, nhưng liền sau đó lại theo về tân chúa, thậm chí còn trực tiếp khuông phò cho tân đế lên nắm vương quyền Ngay như Đại sư Khuông Viẹt từng được vua Đinh Tiên Hoàng vời về kinh đô hỏi chuyện, được vua phong chức Tăng thống và Đại sư, song đến năm 980 - vào chính năm Lê Hoàn vừa mới lên ngôi - ông đã cùng Đỗ Phấp Thuận ra tay giúp tân đế; hoặc như sư Vạn
Hạnh từng dược vua Lê Đại Hành “đặc biệt tôn kính” nhưng qua thời lao loạn Trung Tông Long Việt (1005) và Ngoa Triều Long Đĩnh (1005-1009), ông đã sớm tham dự vào việc đánh đổ vương triều cũ và ủng hộ việc Lý Cổng Uẩn lên ngôi [137] Những điều này phải chăng là do các vị đã sáng suốt nhìn ra tình thế đất nước, đặc biệt trước yêu cầu tập hợp lực lượng toàn dân chống giặc ngoại xâm, nên dã quyết đoán ra tay phò nghiêng đỡ lệch ? Hoặc
giả lúc đó họ vốn là những thiền sư - đại trí thức có uy vọng lớn lao nên các tân triều đều có
ý thức lôi kéo, trọng dùng ? Hơn nữa, hay là bản chất khoan dung, cởi mở của các thiền sư chưa nặng nhiễm ý thức trung quân Nho giáo nên dễ bề chuyển đổi, cứ thấy minh chúa, vua sáng tôi hiền là họ đi theo? Đi sâu phânn tích, lý giải, đánh giá những đặc điểm đó vốn