TT08 ra ngày 21.8.1988 của Bộ Giáo dục hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông là văn bản quy phạm pháp luật của ngành giáo dục đào tạo có tính bắ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC XỬ LÝ HỌC SINH VI PHẠM KỶ LUẬT TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TP HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC XỬ LÝ HỌC SINH VI PHẠM KỶ LUẬT TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 31.3.2 Kỷ luật học sinh:3T 183T
1.3.3 Quản lý nhà nước về giáo dục:3T 183T
TIỂU KẾT CHƯƠNG 13T 21
3T
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC XỬ LÝ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VI PHẠM KỶ LUẬT TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH3T 23
2.2.2 Thực trạng quản lý giáo viên xử lý học sinh vi phạm kỷ luật tại một số trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh theo 04 chức năng quản lý:3T 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC XỬ LÝ HỌC SINH VI PHẠM KỶ LUẬT TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH3T 68
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Chủ đề năm học từ năm học 2008-2009, được xác định là "Năm học đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ", nhằm triển khai phong trào "2TXây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực2T" theo Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 và
Kế hoạch số 307/KH-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với các loại hình trường
“Thân thiện” ở đây có nghĩa là thầy cô phải giống như người cha, người mẹ thứ hai của học sinh - người dẫn dắt các em vào đời Thầy cô phải gần gũi, thân mật, tạo niềm tin, giúp các em phấn đấu học tập tốt vì nếu có sự ngăn cách, các em sẽ khó học tập tốt môn học đồng thời cũng khó phấn đấu rèn luyện nhân cách của mình Các nhà quản l ý giáo dục đều thống nhất rằng mục tiêu của “học sinh tích cực” là học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động, năng nổ, được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực là phong trào thi đua được phát động sâu rộng trong phạm vi cả nước Tại cuộc sơ kết một năm thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", Phó Thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: “Phong trào này, không chỉ góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục mà còn góp phần lưu giữ phát triển truyền thống văn hóa dân tộc Năm học mới này, phong trào cần được nhân rộng hơn với nhiều chủ đề mới gắn với các sự kiện của đất nước”
Trên tinh thần đó, các trường đều có những chuyển biến tích cực, đáng mừng Tuy nhiên trong thực tế vẫn tồn tại một số giáo viên của một số trường tỏ ra “lạc hậu” với yêu cầu trên Thậm chí có nơi, có lúc còn xử l ý học sinh một cách thiếu thân thiện, làm “hao hụt” tính tích cực vốn có và phải có ở học sinh
Tình hình trên cho thấy, hiện nay một bộ phận giáo viên phổ thông còn lúng túng thậm chí ứng xử sai luật trong công tác xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật L ý do chính là giáo viên bộ môn và thậm chí là giáo viên chủ nhiệm lớp vẫn chưa nắm rõ văn bản Thông tư 08
Trang 6(TT08) ra ngày 21.8.1988 của Bộ Giáo dục hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông là văn bản quy phạm pháp luật của ngành giáo dục đào tạo có tính bắt buộc chung trong toàn ngành, nên dẫn đến việc giáo viên không biết rõ quy định quyền hạn và cách xử l ý của mình trong trường hợp học sinh vi phạm kỷ luật Bức xúc trước thực trạng của ngành giáo dục như trên dẫn đến l ý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu khoa học: “Thực trạng quản l ý việc xử l ý học sinh trung học phổ thông vi phạm kỷ luật tại một số trường ở thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản l ý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng quản l ý việc xử l ý học sinh trung học phổ thông vi phạm kỷ luật ở thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất một số biện pháp để cung cấp thông tin nhằm giúp CBQL quản l ý giáo viên hình thành ý thức đúng đắn và đầy đủ về việc
áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong xử l ý học sinh trung học phổ thông vi phạm kỷ luật hiện nay
3 Khách th ể & đối tượng:
3.1 Khách th ể nghiên cứu:
Công tác quản l ý học sinh vi phạm kỷ luật tại một số trường Trung học phổ thông ở
thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản l ý việc xử l ý học sinh Trung học phổ thông vi phạm kỷ luật ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học:
Khi đánh giá đúng thực trạng việc quản l ý xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật tại một số trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể đề xuất những giải pháp phù hợp
để góp phần vào phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm của giáo viên trong xử l ý kỷ luật học sinh làm cho tình hình xử l ý kỷ luật đúng tinh thần của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Trang 75 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Hệ thống hóa tài liệu để xác lập cơ sở l ý luận cho đề tài
5.2 Khảo sát thực trạng “quản l ý giáo viên áp dụng văn bản pháp luật trong xử l ý
học sinh phổ thông vi phạm kỷ luật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, gồm:
* Địa điểm:
- Một số trường ở khu trung tâm
- Một số trường ở vùng ven
- Một số trường ở ngoại thành
(có tính cả trường ngoài công lập)
* Đối tượng khảo sát:
- Ban giám hiệu (Cán bộ quản l ý)
- Giáo viên
- Học sinh
5.3 Đề xuất giải pháp
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu l ý luận:
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu về l ý luận giáo dục; về văn bản pháp luật, hiệu lực pháp luật về việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp quan sát thực trạng việc quản l ý xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật của
Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông đóng tại:
* Khu trung tâm: chọn một số trường thuộc một trong số quận 1, 3, 4
* Vùng ven: chọn một số trường thuộc một trong số quận 12, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp
* Ngoại thành: chọn một số trường thuộc một trong số huyện Hóc Môn, Bình Chánh
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Khách thể điều tra: hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, học sinh ở trường THPT
- Nội dung điều tra:
Thái độ, nhận thức của giáo viên, học sinh đối với việc xử lý học sinh vi phạm kỷ luật
Mức độ điều chỉnh, cập nhật TT08 cho phù hợp với thời kỳ mới
Trang 8 Nhận thức về sự cần thiết của việc quản lý công tác xử lý học sinh vi phạm kỷ luật theo quy định
Các công tác quản lý cụ thể: dự tập huấn và tập huấn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá
Các biện pháp cụ thể để quản lý hiệu quả công tác xử lý học sinh vi phạm kỷ luật theo quy định
- Mẫu điều tra: 14 trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh:
THPT Thalmann, Quận 1
THPT Lê Qúy Đôn, Quận 3
THPT Nguyễn Thị Diệu, Quận 3
THPT Nguyễn Trãi, Quận 4
THPT Võ Trường Toản, Quận 12
THPT Nguyễn Thượng Hiền, Quận Tân Bình
THPT Nguyễn Chí Thanh, Quận Tân Bình
THPT Tây Thạnh, Quận Tân Phú
THPT Trần Phú, Quận Tân Phú
THCS-THPT Đinh Tiên Hoàng, Quận Tân Phú
THPT Chu Văn An, Quận Tân Phú
THPT Nguyễn Công Trứ, Quận Gò Vấp
THPT An Lạc, Quận Bình Tân
THPT Bà Điểm, Huyện Hóc Môn
- Bảng hỏi được phát cho khách thể nghiên cứu là 35 CBQL, 228 giáo viên, 300 học sinh ở 14 trường Trung học phổ thông tại TPHCM
Từ những lý luận của đề tài, chúng tôi xây dựng ba bảng hỏi như sau:
B ảng hỏi thứ nhất, dành cho khách thể điều tra chính của đề tài gồm 10 câu, phân
thành các nội dung:
- Phần 1: các câu hỏi về thực trạng áp dụng TT08 ở các trường Trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh, gồm các câu: câu 1 khảo sát phân loại giáo viên biết qua TT08 và chưa biết nội dung TT08 này; câu 2, 3, 4 tìm hiểu mức độ phổ biến, thực hiện nội dung TT08 (rất thường xuyên, thường xuyên, không thường xuyên, hiếm khi, hoàn toàn không); câu 5 tìm hiểu thực trạng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ở trường
Trang 9- Phần 2: các câu hỏi về thực trạng áp dụng TT08 có những điều gì cần điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, gồm các câu:
+ Câu 6, 7, 8 tìm hiểu nhận thức và thái độ của giáo viên về việc áp dụng quy định trong xử l ý tình huống thực tế học sinh vi phạm trong giờ học
+ Câu 9 tìm hiểu nhận thức giáo viên về sự cần thiết của TT08 trong nghề nghiệp hiện
nay (rất cần thiết, cần thiết, không ý kiến, hơi cần thiết, không cần thiết)
+ Câu 10 tìm hiểu có hay không mức độ nhận thức sự khác biệt giữa quy định của TT08 với thực tế áp dụng của giáo viên khi xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật
B ảng hỏi thứ hai, dành cho khách thể điều tra bổ trợ của đề tài là các cán bộ quản l ý
tại 14 trường Trung học phổ thông tại TPHCM Bảng hỏi này được thiết kế với 7 câu hỏi như sau:
- Phần 1: Câu 1 khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL về việc giáo viên áp dụng TT08 trong khi xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật Câu 2,3,4: chọn lọc một số câu hỏi trong
bảng hỏi thứ nhất với mục đích để so sánh, đối chiếu với kết quả khảo sát ở bảng hỏi thứ
nhất Đồng thời thêm câu 5 khảo sát mức độ thực hiện những yêu cầu để quản l ý công tác
xử lý học sinh vi phạm kỷ luật (Tốt, khá, trung bình, yếu, kém); câu 6 khảo sát thực trạng
mức độ CBQL áp dụng các biện pháp để quản l ý công tác xử lý học sinh vi phạm tại trường
của họ (rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnh thoảng, không, hoàn toàn không); câu 7
khảo sát kiến nghị của CBQL nhằm quản l ý tốt công tác xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật
trong trường THPT
- Phần 2: Các câu hỏi về thông tin cá nhân của CBQL , gồm các câu hỏi thu thập thông tin về họ tên, đơn vị công tác, chuyên môn giảng dạy, trình độ đào tạo, giới tính, thâm niên công tác, chức vụ của CBQL
B ảng hỏi thứ ba, gồm 3 câu hỏi Bảng hỏi này được phát cho 300 học sinh ở một số
trường Trung học phổ thông tại TPHCM Trong đó, câu 1 tìm hiểu thực thực trạng nhận
thức của học sinh về việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (đồng ý); câu 2 tìm hiểu mức độ thực hiện các hình thức xử l ý học
sinh vi phạm kỷ luật ở trường học sinh đang học (có, không); câu 3 tìm hiểu về những kiến nghị của học sinh về việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật cho phù hợp với tinh thần “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (kiến nghị)
Trang 10Kết quả thu được từ bảng hỏi thứ hai và bảng hỏi thứ ba là cơ sở để nhận định về
mức độ phù hợp giữa công tác quản lý việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo TT08 của
CBQL với nhận định của giáo viên và học sinh
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
• Lấy ý kiến về việc lựa chọn các nội dung cần thiết để điều chỉnh TT08 nhằm giúp giáo dục học sinh Trung học phổ thông khi các em vi phạm kỷ luật
• Lấy ý kiến về biện pháp kiểm tra và cách thức đánh giá hiệu quả công tác giáo viên xử lý học sinh vi phạm kỷ luật theo đúng tinh thần TT08 hướng dẫn
• Lấy ý kiến về việc bổ nhiệm giáo viên chuyên tham vấn tâm lý cho học sinh
Cụ thể:
• Lấy ý kiến CBQL, Thanh tra Sở Giáo dục – Đào tạo về việc lựa chọn các nội dung cần thiết để điều chỉnh TT08 nhằm giáo dục học sinh Trung học phổ thông khi các em vi phạm kỷ luật
• Lấy ý kiến CBQL, Thanh tra Sở Giáo dục – Đào tạo về biện pháp kiểm tra và cách thức đánh giá hiệu quả công tác giáo viên xử lý học sinh vi phạm kỷ luật theo đúng tinh thần TT08 hướng dẫn
• Lấy ý kiến CBQL về việc bổ nhiệm giáo viên chuyên tham vấn tâm lý cho học sinh
6.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 11.5 để xử lý thống kê làm cơ sở
để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Việc nghiên cứu thực trạng quản lý việc xử lý học sinh trung học phổ thông vi phạm
kỷ luật đáp ứng những yêu cầu thực hiện năm chủ điểm chú trọng giáo dục toàn diện học sinh và phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trường học thân thiện (Child-friendly 4Tschool4T) là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới với những đặc điểm do UNICEF đưa ra Những dự án này được thực hiện ở một số nước Đông Nam Á và một số nước phát triển
Ở Việt Nam, từ năm 2001, phối hợp với UNICEF, Bộ đã làm thí điểm nhiều năm nay ở 50 trường tiểu học và THCS (trong đó có một số trường ở TP.HCM) Từ kết quả thí điểm, Bộ chủ trương tiến hành đại trà trong năm học 2008 - 2009 ở tất cả các trường tiểu học và THCS trong toàn quốc, rồi phát triển đến tất cả các trường phổ thông cho tới năm
2013
Mô hình này không hoàn toàn mới đối với Việt Nam Từ những thập niên 60, 70 thế
kỷ XX, với triết lý “Đời sống học đường là cuộc sống thực của trẻ em ngay ngày hôm nay,
lúc này; chứ không chỉ chuẩn bị cho tương lai”, nên phương châm “mỗi ngày đến trường là
một niềm vui” đã được phổ biến và áp dụng ngay từ những ngày đó Đặc biệt phương châm này đã được bền bỉ thực hiện rất có kết quả tại Trung tâm Công nghệ giáo dục (do Hồ Ngọc Đại làm Giám đốc)
Năm 1981, ở Hà Nội xuất hiện mô hình trường học mới do giáo sư Hồ Ngọc Đại – người đã có một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm tại Matxcơva – đó là trường phổ thông cơ sở Thực Nghiệm Với sự trưởng thành nhanh chóng của cơ quan nghiên cứu thực nghiệm, ngày 11/8/1984, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ra quyết định thành lập Trung tâm
Thực Nghiệm giáo dục phổ thông trực thuộc Bộ Giáo dục 6TNăm 1988, Trung tâm đã có trường thực nghiệm với đủ các cấp, từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông Năm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định đổi tên Trung tâm thực nghiệm giáo dục
phổ thông thành Trung tâm công nghệ giáo dục trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Từ đó, Trung tâm trở thành một cơ quan nghiên cứu và thực nghiệm6T được trang bị đầy đủ trang thiết bị hiện đại Triết lý của trung tâm chính là: “Đi học là hạnh phúc Mỗi ngày đến
trường là náo nức một niềm vui” Qua một thời gian dài, trung tâm có trên 207 cán bộ giáo
viên, nhân viên và hơn 2.000 học sinh từ mẫu giáo đến lớp 12 của hệ thống Trường Thực nghiệm
Trang 12Giáo dục Thực nghiệm đã được triển khai công nghệ tới 43 tỉnh, thành và vùng sâu vùng xa Hồ Ngọc Đại nói rằng: "Cái gì tự nhiên là cái đáng tin nhất Càng tự nhiên càng vĩ
đại Trung tâm đã nghiên cứu một mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu
c ủa trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm"
Như vậy, những vấn đề lý thuyết có liên quan đến trường học thân thiện đã được đề cập đến từ năm học 1992 – 1993 và mô hình này đã được bền bỉ thực hiện và có kết quả tốt tại Trung tâm Công nghệ giáo dục của Hồ Ngọc Đại làm Giám đốc Sau đó, được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh trong cả nước khi đề tài khoa học cấp nhà nước “Mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” được nghiệm thu với kết quả đánh giá tốt
Tuy nhiên sau nhiều lần thay Bộ trưởng, vì những lẽ khác nhau nên mô hình trên đã
bị lãng quên (Giữa “trường học thân thiện” và “công nghệ giáo dục” gặp nhau ở phần
“ngọn” (mỗi ngày đi học là một niềm vui), nhưng có sự khác biệt ở phần “gốc” (triết lý giáo dục))
Theo Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục cũng nhấn mạnh, trường học thân thiện là thành tố tác động vào việc phổ cập giáo dục phổ thông thông qua việc hạn chế tối đa học sinh bỏ học Đặc biệt, trong việc vận động học sinh đến trường còn
có sự tham gia tích cực của chính học sinh Các em cảm thấy yêu trường lớp hơn, lễ phép, tôn trọng thầy cô và người lớn tuổi Đặc biệt, kỹ năng ứng xử giao tiếp, tinh thần đoàn kết thân ái, tôn trọng và bảo vệ được nâng cao hơn
Ngày 31/3/2009, lãnh đạo của hơn 30 Sở Giáo dục-Đào tạo các tỉnh, thành phố phía Nam tham gia hội thảo “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Câu lạc bộ giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo các tỉnh phía Nam tổ chức tại Nha Trang Hầu hết các đại
biểu đều nhất trí với các tiêu chí về trường học thân thiện của Bộ Giáo dục-Đào tạo và có
những đề nghị cụ thể về các biện pháp xây dựng trường học thân thiện, trong đó đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò chủ động của Hiệu trưởng các trường
Ngày 30/01/2010, được sự giúp đỡ của Bộ Giáo dục & Đào tạo mà trực tiếp là Ban
chỉ đạo phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", Sở Giáo dục & Đào
tạo Thái Bình đã tổ chức Ngoại khóa phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực" Nội dung chủ yếu của buổi ngoại khóa được thầy Phùng Khắc Bình - Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh Sinh viên trình bày tập trung vào các biện pháp thiết thực để xây dựng trường học thân thiện và vai trò của các nhà quản lý giáo dục
Trang 13Ngày 1/9/2010 tại Hà Nội, 5TBộ Giáo dục & Đào tạo 5Tcùng các bộ, ngành (Văn hóa,
Thể thao & Du lịch, Trung ương đoàn TNCS HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội khuyến học) đã ký kết kế hoạch liên tịch chương trình phối hợp thực hiện phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2010 – 2011 5TMỗi Bộ, ngành, đoàn thể đóng góp vào phong trào thi đua phù hợp với thế mạnh của mình và thông qua kế
hoạch phối hợp để phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc chăm lo sự nghiệp “trồng người”,
vì tương lai của mỗi gia đình và sự phát triển của đất nước
Những vấn đề lý thuyết về trường học thân thiện và quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trên thế giới và ở Việt Nam còn rất ít, tuy vậy trên cơ sở những nghiên cứu thì việc thực hiện phong trào “xây dựng trường học thân thiện-học sinh tích cực” ở Việt Nam đang được sự quan tâm của ngành và dư luận xã hội
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu:
1.2.1 “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” là gì?
1.2.1.1 Trường học thân thiện:
“Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau Bản thân khái
niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo lý Bởi nếu bất bình đẳng, mất dân chủ, vô cảm trong quan hệ giữa người với người thì đâu còn gì mà “thân” với “thiện” “Thân thiện” bắt nguồn từ sứ mệnh
của nhà trường và thiên chức của nhà giáo đối với thế hệ trẻ và xã hội, chứ không dừng ở thái độ bề ngoài trong quan hệ ứng xử Khẩu hiệu trong nhà trường là mỗi giáo viên phải như mẹ hiền Trong tiếng Việt, bản thân từ ghép “nhà trường” cho thấy trường học trước hết
là mái nhà thân thương
“Trường học thân thiện” là mô hình trường học do 4TUNICEF4T đưa ra và đã được áp
dụng thành công ở nhiều nước Ở 4TViệt Nam4T giáo dục phổ thông hiện nay còn cần rất nhiều
yếu tố 4Tquan4T trọng để tạo ra một “trường học thân thiện” bao gồm: môi trường thân thiện, phương pháp dạy học thân thiện, phương pháp kiểm tra – đánh giá thân thiện, các mối quan
hệ thân thiện Trong phạm vi của đề tài, phần cơ sở lý luận chỉ nêu nội dung của các mối quan hệ thân thiện
Trang 14Phương pháp dạy theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher-centered)
hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò Nhiều giáo viên vẫn duy trì quan niệm
rằng thầy là “người trên” và học sinh là “người dưới” nên dẫn đến sự xa cách trong quan hệ
thầy trò Học sinh rất ít khi dám tranh luận với giáo viên vì sợ giáo viên phật ý; ngược lại các giáo viên cũng ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn vì sợ học sinh đánh giá Do
đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ quan với học sinh Phần lớn giáo viên hiện nay vì
vậy rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để học sinh có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa
họ và học sinh luôn có khoảng cách về tuổi tác và tri thức, nhất là rào cản tâm l ý
Việc thay đổi phương pháp dạy học theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (learner-centered) giúp giáo viên có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì học sinh được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục; các em được tôn trọng và được tự
do bày tỏ ý kiến cá nhân; mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi, thoải mái hơn
Giáo viên cần học cách lắng nghe ý kiến của học sinh, biết chấp nhận những ý kiến
“đối lập” từ học sinh và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với học sinh Giáo viên có thể lấy ý kiến đánh giá của học sinh thông qua các phiếu điều tra không ghi tên
để không ngừng tự hoàn thiện mình Để có một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như
chỉ chú trọng đưa vào các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khoá khác thì chưa đầy đủ Vì đó mới là những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập của các em
Vấn đề quan trọng nhất mà các em cần là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và phương pháp dạy học thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và những sự
phục vụ thân thiện của nhà trường Có như vậy, các em mới thấy thật sự thoải mái và yêu
mến trường như ngôi nhà của mình Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ mong chóng trở
lại trường, học sinh sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày đến trường mới thực sự là một ngày vui của các em
1.2.1.2 Học sinh tích cực:
Là sự chủ động, hứng thú của người học trong việc tham gia vào quá trình học tập, rèn luyện ở cả nhà trường, gia đình và cộng đồng Tùy theo điều kiện cụ thể mà chuyển dần
Trang 15từ học thụ động sang tự học, tự rèn luyện của học sinh, học chủ động vì mục tiêu mai sau cho mình, cho gia đình, cho quê hương, đất nước
Học sinh tích cực là những học sinh của thời đại mới, năng động sáng tạo, không thụ động trong mọi công việc, nỗ lực phấn đấu trong mọi hoàn cảnh, học tập theo tấm gương đạo đức của Bác Vậy chủ động trong học tập như thế nào?
Đó là việc chủ động tìm hiểu kiến thức, nắm vững kiến thức và vận dụng vào thực tiễn Học ở thầy cô, bè bạn, xã hội Không chỉ học kiến thức hiện tại để làm chủ tương lai mà cũng là nhìn nhận về quá khứ với truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, bồi dưỡng thêm lòng yêu nước Chủ động cũng là những sự sáng tạo của tuổi trẻ trong cách tiếp nhận tri thức
1.2.1.3 Quan hệ giữa “Trường học thân thiện và học sinh tích cực”:
- Thân thiện là tạo tiền đề cho tích cực, không có thân thiện thì khó có thể phát huy tính tích cực của con người
- Tích cực là kết quả của sự thân thiện Mục tiêu cuối cùng là sự tích cực của người học để tiếp thu được tri thức, rèn luyện được kỹ năng, hình thành lòng đam mê với cuộc sống thông qua việc học
- Tích cực thì sẽ tạo điều kiện cho thân thiện có chiều sâu và bền vững hơn Người ta
có thể chấp nhận điều kiện còn khó khăn vì vật chất và có thể xây dựng môi trường thân thiện Tuy nhiên nếu các bên tham gia không cố gắng tạo điều kiện một cách không tương xứng với hoàn cảnh thì đó chưa phải là thân thiện Thân thiện phải được thể hiện thông qua
sự tích cực của các bên tham gia
1.2.2 Cơ sở pháp l ý của việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật:
1.2.2.1 Văn bản pháp luật:
Hiện tại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (được quy định trong Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008) bao gồm:
* V ăn bản luật
1 Hiến pháp
2 Luật (bộ luật)
Trang 163 Nghị quyết của Quốc hội
* Văn bản dưới luật
1 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
2 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
3 Nghị định của Chính phủ
4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Kiểm toán Nhà nước
5 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân
6 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
7 Nghị quyết liên tịch giữa ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
8 Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
9 Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân
Như vậy văn bản quy phạm pháp luật có nội dung là quy phạm pháp luật, tức là những
quy tắc xử sự cụ thể có dự kiến giả định, quy định, chế tài, có tính bắt buộc chung do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Thông tư 08/TT ngày 21.8.1988 của Bộ Giáo
dục hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông là văn bản quy phạm pháp luật của ngành giáo dục đào tạo có tính bắt buộc chung trong toàn ngành
1.2.2.2 Hiệu lực pháp luật; hiệu lực pháp lí:
Các văn bản quy phạm pháp luật khác có hiệu lực pháp lí sau các văn bản quy phạm pháp luật Quốc hội và của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thường được gọi chung là văn bản dưới luật
Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao hơn (Điều 80 – Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Giá trị bắt buộc thi hành của một văn bản quy phạm pháp luật: từ một thời điểm bắt đầu đến thời điểm chấm dứt, hoặc có văn bản khác thay thế, hay có văn bản bãi bỏ, hủy bỏ (Hiệu lực về thời gian); trên một lãnh thổ nhất định (Hiệu lực
về không gian; Hiệu lực về đối tượng áp dụng)
Trang 17Theo nguyên tắc chung, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực về sau tức là thời điểm sau khi văn bản ra đời được ghi trên văn bản ấy hoặc theo nguyên tắc đã được quy định ( Hiệu lực về thời gian)
Thực tế hiện nay chỉ có Quy chế 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mới về đánh giá, xếp loại học sinh để làm
cơ sở khen thưởng, xét lên lớp nhưng vẫn chưa có văn bản nào khác thay thế phần xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật
Đồng thời theo điều 40,41,42 Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định những điều học sinh không được làm, khen thưởng và kỷ luật học sinh còn sơ sài, thiếu chi tiết để áp dụng mức phạt cho đúng mức nên gây khó khăn cho giáo viên khi áp dụng
Từ thực tế như trên nên Thông tư 08/TT ngày 21.8.1988 của Bộ Giáo dục hướng dẫn chi tiết về việc thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông vẫn còn giữ nguyên giá trị và
Theo tác giả, cụm từ học sinh cá biệt đã gắn sâu vào tiềm thức của giáo viên và thông thường học sinh được xếp vào loại này đều được hưởng sự "quan tâm đặc biệt" gây ức chế cho học sinh và đôi khi bất lợi cho công tác giáo dục Vì vậy cần phải loại bỏ cụm từ này ra khỏi hệ thống ngôn ngữ của trường học để tạo sự bình đẳng trong đối xử với học sinh, phù hợp với môi trường thân thiện mà nhà trường đang thực hiện
Những học sinh chưa ngoan là những học sinh đặc biệt Vì những học sinh này thường có cá tính mạnh, không biết cách kiềm chế cảm xúc và thường mong muốn chứng tỏ mình với bạn bè chung quanh
Trang 18Mặt khác, xét cho cùng, mỗi học sinh đều là một cá thể riêng biệt – là một học sinh
cá biệt có: cá biệt giỏi – cá biệt kém, cá biệt ngoan – cá biệt chưa ngoan Một số thầy cô giáo vì nhọc nhằn, mệt mỏi trong cuộc sống mưu sinh, gia đình thường gặp những học sinh chưa ngoan nên cũng hay bực bội, quát mắng hoặc xử l ý vi phạm theo cảm tính của giáo viên với mong muốn lập lại nhanh nhất trật tự trường lớp Nhưng kết quả thường là trái ngược, vô tình các thầy cô đã xúc phạm nhân cách học sinh, chạm tới lòng tự ái hoặc có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của các em
1.3.2 Kỷ luật học sinh:
Việc kỷ luật đối với học sinh cần nghiêm minh, nhưng phải dựa trên nguyên tắc giáo
dục là chính và bảo đảm tính nhân văn, phù hợp với Luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, số 25/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em Do đó khi áp dụng, giáo viên phải thực hiện đúng những quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời có phối hợp chặt chẽ với gia đình, chính quyền địa phương (khi cần thiết) để có biện pháp giúp đỡ những em vi phạm kỷ luật có cơ hội tiến bộ Bên cạnh đó cũng cần chú trọng đến những giải pháp ngăn chặn, phòng ngừa, cảm hóa để
hạn chế đến mức thấp nhất việc phải dùng các hình thức kỷ luật Đây là việc cần làm để xây
dựng trường học thân thiện
Nhà trường là cái nôi để giáo dục đạo đức học sinh, vì vậy không thể chấp nhận
những hành vi kỷ luật học sinh trái phép, không mang tính sư phạm cho dù có được biện minh vì bất kỳ mục đích gì Học sinh và phụ huynh cũng cần được biết những quy định về
kỷ luật cũng như những quyền lợi chính đáng của con em mình và có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan chức năng về những hành vi vi phạm của nhà trường khi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của học sinh
Đây là giải pháp cần thiết để chống sự lạm dụng, áp dụng thái quá các biện pháp của
việc xử l ý kỷ luật học sinh
1.3.3 Quản l ý nhà nước về giáo dục:
Theo Từ điển bách khoa về giáo dục, khái niệm quản l ý nhà nước về giáo dục được
giải nghĩa là việc “Thực hiện công quyền để quản l ý các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội”
Trang 19Có thể hiểu một cách tường minh hơn như sau:
Qu ản l ý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội, nhằm thực hiện
m ục tiêu giáo dục quốc gia
Trong khái niệm quản l ý nhà nước về giáo dục nổi lên ba bộ phận chính Đó là: chủ
thể, đối tượng, mục tiêu quản l ý nhà nước về giáo dục
Chủ thể quản l ý nhà nước về giáo dục là các cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan
lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp) được phân công theo quy định của pháp luật
Chủ thể trực tiếp là bộ máy quản l ý giáo dục từ trung ương đến cơ sở được cụ thể hóa ở Điều 100 của Luật Giáo dục 2005
Đối tượng của quản l ý nhà nước về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, hoặc
rộng hơn là mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội
Mục tiêu quản l ý nhà nước về giáo dục là bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật trong các hoạt động giáo dục, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài cho xã hội; hoàn thiện và phát triển nhân cách của công dân Ở mỗi cấp,
bậc học và trình độ đào tạo mục tiêu này được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường
Xuất phát từ khái niệm quản l ý nhà nước về giáo dục cùng với việc phân tích các tính
chất, đặc điểm và nguyên tắc quản l ý nhà nước về giáo dục có thể rút ra:
Quản l ý nhà nước về giáo dục là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do
nhà nước quy định, phân cấp trong các hoạt động quản l ý giáo dục các cấp Quản l ý nhà
nước về giáo dục thực chất là quản l ý các hoạt động hành chính – giáo dục, vì vậy nó có hai
m ặt thâm nhập vào nhau, đó là quản l ý hành chính sự nghiệp giáo dục và quản l ý chuyên môn trong quá trình sư phạm
Cách xác định đó cho phép phân biệt rõ quản l ý nhà nước với quản l ý của nhà trường, được hiểu là “thực hiện hoạt động quản l ý giáo dục trong tổ chức nhà trường và chịu
sự tác động của những chủ thể quản l ý bên trên nhà trường nhằm hướng dẫn vào tạo điều
Trang 20kiện cho hoạt động của nhà trường và các mối liên hệ bên ngoài nhà trường, các thực thể trong cộng đồng, nhằm xây dựng những định hướng về sự phát triển của nhà trường và hỗ
trợ, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển”
Quản lý nhà trường
“Quản l ý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường”
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý trường học là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản và chủ yếu sau:
K ế hoạch hóa: là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Là quá trình xác
định hình thành các mục tiêu phát triển của nhà trường, đồng thời xác định, đảm bảo các nguồn lực và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Sản phẩm quan
trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật) và
kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp)
T ổ chức: được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế hoạch đã
đề ra Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối
hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Nội dung chủ yếu của tổ chức là xây dựng cơ cấu tổ
chức: xác định các bộ phận cần có, thiết lập các mối quan hệ hàng ngang và dọc của các bộ
phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận (xây
dựng qui chế hoạt động); quản lí nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề
bạt, sa thải, tổ chức các hoạt động
Ch ỉ đạo: là quá trình liên kết, liên hệ các thành viên trong tổ chức; tập hợp được
các lực lượng tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau Bên cạnh đó, người chỉ huy theo dõi, giám sát hoạt động của bộ máy để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận đồng thời điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng và động viên khuyến khích người lao động để các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch; các thành viên hoàn thành những nhiệm vụ nhất định nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 21 Ki ểm tra: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động
đạt tới các mục tiêu của tổ chức Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống
nhằm thực hiện bốn chức năng: kiểm soát phát hiện, động viên phê phán, đánh giá và thu
thập thông tin Nhờ có kiểm tra mà người quản lý đánh giá được thành tựu công việc và uốn
nắn điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng Kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức
Kiểm tra trong quản lý trường học: là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người Hiệu trưởng nhằm theo dõi, xem xét, phát hiện, kiểm nghiệm quá trình diễn biến và kết quả của các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ trường học Đánh giá kết quả của hoạt động giáo dục có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, quy chế đề ra hay không Phát hiện những ưu điểm để động viên khuyến khích; hoặc những thiếu sót, lệch lạc để có những biện pháp uốn
nắn, giúp đỡ và điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường
Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu kỳ sau theo hướng phát triển Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường cũng đã bao quát hết các nội dung của
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực” Các nhiệm vụ của “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đều là nhiệm vụ, trách nhiệm của các trường khi mục tiêu chung là phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp, hiệu quả
Quản lý công tác giáo viên xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một
cách có định hướng nhằm đưa việc giáo viên xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo đúng quy định của văn bản quy phạm pháp luật của ngành ở từng cơ sở giáo dục vận hành và đạt được mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức, vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống quản lý giáo dục
Trang 22Hiểu theo cách khác thì đó là quản lý công tác xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo
quy định của Thông tư 08/TT ra ngày 21.8.1988 của Bộ Giáo dục hướng dẫn về việc khen
thưởng và thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông là văn bản quy phạm pháp luật của ngành giáo dục đào tạo có tính bắt buộc chung trong toàn ngành, để giáo viên biết rõ quy định quyền hạn và cách xử l ý của mình trong trường hợp học sinh vi phạm kỷ luật nhằm đảm bảo hiệu quả công tác triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Trong đề tài này, việc khảo sát thực trạng công tác xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở việc:
- Nhận thức về tầm quan trọng của vận dụng đúng quy định pháp luật trong xử l ý học
sinh vi phạm kỷ luật theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật trong giáo viên và CBQL
- Thực hiện bốn chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện,
kiểm tra – đánh giá công tác xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo quy định của văn bản quy
phạm pháp luật
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC XỬ LÝ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VI PHẠM KỶ LUẬT TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội và giáo dục phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh:
2.1.1 Đặc điểm Kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh:
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm 3T
kinh tế3T, 3Tvăn hóa3T, 3Tgiáo dục3T quan trọng của 3TViệt Nam3T Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả 3TViệt Nam3T.Năm 3T20083T, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.534 3TUSD3T/người/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 1024 USD/năm Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm
2010 ước 2.800 USD, bằng 1,68 lần năm 2005 (1.660 USD) [11]
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác 3Tmỏ3T, 3Tthủy
sản3T, 3Tnông nghiệp3T, 3Tcông nghiệp3T chế biến, 3Txây dựng3T đến 3Tdu lịch3T, 3Ttài chính3T Cơ cấu kinh tế
của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn
lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao
nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng; nông nghiệp; lâm nghiệp và thủy sản
chỉ chiếm 1,2% Tính đến giữa năm 3T20063T, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành
phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ 3TUSD3T và 19,5 nghìn tỉ 3TVND3T Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam về tổng lượng vốn 3Tđầu tư trực tiếp nước ngoài3T với 2.530 dự án FDI,
tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 3T20073T[24]
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.093,7 kmP
2
P, tổ chức thành 24 quận, huyện (gồm 19 quận và 5 huyện với 322 phường - xã, thị trấn) Điều kiện kinh tế dân cư tương đối thuận lợi nhưng không đồng đều; vẫn còn một bộ phận khó khăn, thiếu thốn Hệ thống trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và từng bước được cải thiện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, ở một số huyện ngoại thành cự ly đến trường
Trang 24của học sinh còn xa (có nơi trên 7 km); riêng huyện Cần Giờ mật độ dân cư còn thấp, giao thông đi lại còn khó khăn
Theo số liệu điều tra, dân số thành phố đã tăng từ 5 triệu người năm 1998 lên trên 7 triệu người vào tháng 4 năm 2009 Đối tượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đối tượng phổ cập bậc trung học tuổi từ 11 đến 21 tuổi là 723.395 người (chỉ tính hộ khẩu thường trú
hoặc tạm trú dài hạn KT3) Dân cư hầu hết là dân tộc Kinh; một số ít dân tộc Hoa, Chăm, Khơme, Nùng, … trong đó, ngoài dân tộc Kinh thì dân tộc Hoa đông nhất, có trên nửa triệu người, sống tập trung ở các quận 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình
Thành phố tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục thường xuyên, quy hoạch xây dựng Khu đại học Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Tăng cường các giải pháp chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng biểu dương, nhân rộng các điển hình về đổi mới phương pháp dạy và học; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào
tạo; phát huy vai trò của hội khuyến học trong phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng
xã hội học tập; phổ cập ngoại ngữ, tin học cho học sinh phổ thông
Quy mô đào tạo các cấp học (mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học) tăng lên; giáo
dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề được mở rộng; chất lượng dạy và học
từng bước được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông khá cao và ổn định; hoàn thành phổ cập bậc trung học, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí thành phố Mạng lưới các trường chuyên nghiệp phát triển nhanh; cơ cấu ngành nghề và chương trình đào tạo ngày càng sát với nhu cầu xã hội; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt chỉ tiêu đề ra
Chương trình phát triển nguồn nhân lực bước đầu đạt kết quả tích cực trong việc đào
tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực trọng yếu, nhất là chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị, đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý và doanh nghiệp
Quy mô của ngành giáo dục và đào tạo thành phố :
Tổng số trường học mầm non và phổ thông trong năm học 2009 - 2010 là 1540 trường,
trong đó :
+ Mầm non : 678 (ngoài công lập 277)
Trang 25+ Tiểu học : 470 (ngoài công lập 35)
Cơ cấu giáo viên:
Số TT Giáo viên Số lượng
Trang 262.1.2 Đặc điểm về giáo dục phổ thông ở TP Hồ Chí Minh:
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng kế hoạch liên tịch đẩy mạnh hoạt động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2009 – 2013, Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Hội Khuyến học và Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh ký kết liên tịch số 2802/CTr/GDĐT-HKH-HLHPN ngày 10/12/2009 với Thành Đoàn, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Bằng sự phối hợp này, thành phố đã huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu
xã hội Các sở ngành và tổ chức Hội đoàn đã cùng đồng hành với ngành giáo dục và đào tạo thành phố thực hiện tốt các nội dung trong phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2009 – 2013
Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được sự hưởng ứng tích cực của các đơn vị cơ sở trường học trên địa bàn thành phố Có 100% đơn
vị trường phổ thông đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc trong Hội đồng sư phạm, học sinh của nhà trường Nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo từ các đơn vị trường học đã dấy lên phong trào thi đua đổi mới phương pháp học tập trong học sinh và tham gia tốt các hoạt động xã hội, kỹ năng sống Năm học 2009 – 2010, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tập trung “Đổi mới toàn diện nhà trường” nhằm từng bước xây dựng các trường tiên tiến, đạt chuẩn quốc tế, hội nhập giáo dục khu vực Một trong các nội dung đổi mới của giáo dục thành phố là đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, chuyển từ dạy học “số đông”, “từ chương” sang dạy học “cá thể” với các biện pháp cụ thể như đổi mới hiệu quả phương pháp dạy học: Sở đã chỉ đạo các trường đổi mới cách biên soạn đề và đã tổ chức nhiều hội thảo, nhiều hội nghị chuyên môn theo định hướng đổi mới công tác biên soạn đề kiểm tra theo định hướng thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt đối với các môn học KHXH như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân Thông qua các Hội đồng bộ môn và hoạt động chuyên môn của các cụm trường như: thao giảng, hội nghị chuyên đề, giáo viên các trường đã trao đổi kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học; tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh ngân hàng đề thi các môn học, chú trọng việc biên soạn các câu hỏi dưới dạng mở, khuyến khích học sinh sáng tạo trong giải quyết vấn đề, tránh học vẹt từ chương, thuộc lòng, ghi nhớ máy móc
Trang 27Nhằm lắng nghe những nguyện vọng, đề đạt của học sinh thành phố, góp phần thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, vào ngày
25/3/2010, Sở Giáo dục & Đào tạo đã tổ chức buổi tọa đàm “Tiếng nói của học sinh thành
phố Hồ Chí Minh lần 2 - 2010” với sự tham dự của 80 em là học sinh, cán bộ Đoàn tiêu
biểu đến từ các trường THPT Qua 45 ý kiến phát biểu tại hội trường và hơn 27 ý kiến chuyển đến thư ký buổi tọa đàm, cho thấy học sinh THPT thành phố ngoài việc phấn đấu học tập tốt, các em còn rất quan tâm đến đất nước, đến thành phố, đến ngành giáo dục và sự phát triển của chính các em Tất cả các ý kiến của các em đều xuất phát từ những suy nghĩ rất thật của tuổi trẻ trường học hôm nay
Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội thảo “Phòng chống bạo lực trong nhà trường” vào ngày 09/4/2010 Hội thảo quy tụ các chuyên gia tâm lý học, các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên phụ trách đoàn thể, giáo viên chủ nhiệm…đã phân tích, đánh giá những tác động của xã hội hiện nay dẫn đến việc học sinh có những hành vi bạo lực trong nhà trường
và đề ra những giải pháp khắc phục tích cực, hiệu quả
Thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường trung học tiên tiến, Sở Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ đạo các trường Trung học Phổ thông và Trung học Cơ sở qua Phòng Giáo dục và Đào tạo quận - huyện thực hiện nghiêm túc qui chế chuyên môn, đổi mới nội dung chương trình
và phương pháp dạy học Các hoạt động giáo dục (Ngoài giờ lên lớp, Giáo dục hướng nghiệp, Giáo dục nghề phổ thông…) được các trường tổ chức thực hiện đầy đủ và chất lượng
Giáo dục trung học đã nhân rộng phong trào xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực và đạt được những kết quả tốt đẹp Từng trường học đã chú ý xây dựng môi trường
sư phạm sạch đẹp, phòng học khang trang, đạt chuẩn; tăng cường mối quan hệ bình đẳng, dân chủ trong hội đồng sư phạm, nâng cao ý thức tự giác trong cán bộ, giáo viên, thân thiện với học sinh trong quá trình dạy học; tổ chức các hoạt động tập thể nhằm giáo dục toàn diện
và phát huy tính tích cực trong học sinh Các trường tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ban Giám hiệu các trường đã tổ chức thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học cá thể, tự chủ về thời lượng, dạy sát đối tượng học sinh, tổ chức soạn giáo án tập thể và kiểm tra chung Hầu hết các trường đều đã sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, quản lý Với sự hỗ trợ của Intel và Microsoft, phương
Trang 28pháp dạy học mới thông qua công nghệ thông tin đã làm cho nhà trường đổi mới mạnh mẽ,
thầy thích dạy, học sinh thích học, giảm thiểu tình trạng quá tải trong nhà trường
Đối với xã hội và địa phương, giáo dục trung học là lực lượng nòng cốt của ngành trong việc tham gia phong trào xây dựng nếp sống văn minh đô thị Trong năm học 2009 -
2010, số lượng học sinh vi phạm luật giao thông giảm, phong trào giữ gìn vệ sinh trường lớp và môi trường sư phạm, văn minh trong giao tiếp đã được các trường thực hiện có kế hoạch, có tổ chức và có kiểm tra đánh giá
Quán triệt đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhận thức sâu sắc ý nghĩa của công tác phổ cập giáo dục và phổ cập bậc trung học, thành phố có quyết tâm cao trong công tác phổ cập giáo dục và phổ cập bậc trung học Đến nay số xã phường đạt chuẩn quốc gia PCGD THCS là 322/322 phường xã, đạt 100% Số quận huyện đạt chuẩn quốc gia PCGD THCS : 24/24 quận huyện, đạt tỉ lệ 100% Thành phố đã hoàn thành phổ cập bậc trung học (theo chuẩn của thành phố) với 24/24 quận huyện đạt chuẩn, tỉ lệ 100% (Nguồn:
Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM)
Kết quả trong năm học 2010 - 2011, giáo dục trung học vẫn tiếp tục là niềm tự hào của ngành giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh; là nơi tổ chức thi cử nghiêm túc đạt được chuẩn chất bền vững trong bốn năm liền thông qua nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ cuộc vận động “2 không” Tỉ lệ thi đậu tốt nghiệp THPT đạt 94,60 %; trong đó học sinh tốt nghiệp khá, giỏi đạt 14,7 % Giáo dục trung học được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là đơn vị xuất sắc của ngành trong năm học
Ngành giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục:
- Đổi mới toàn diện nhà trường, đi đầu thực hiện kết luận của Bộ Chính trị theo tinh thần thông báo 242-TB/TW, xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ hội nhập
- Tích cực đổi mới quản lý và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo; tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ quản lý và giáo viên tự học, tự rèn; không ngừng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu hội nhập; chủ động và sáng tạo thực hiện hiệu quả thiên chức dạy người; tổ chức cho học sinh tích cực tự rèn luyện trở thành những người công dân văn minh tiến bộ của thời đại từ nhân cách, thể chất và trí tuệ, kỹ năng làm chủ cuộc sống
- Những chỉ tiêu chính phải phấn đấu trong năm học là :
Trang 291 Trong từng ngành học, cấp học ở từng địa phương quận huyện phải xây dựng được ít nhất 1 đơn vị trường học đạt chuẩn của khu vực và quốc tế
2 Tiếp tục đảm bảo đủ chỗ học đạt chuẩn ở mọi cấp học, ngành học; không còn một đơn vị trường học nào yếu kém về cơ sở vật chất và môi trường sư phạm
3 Tất cả cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường đều quán triệt và thực hiện có hiệu quả 8 bài học đổi mới nhà trường, không có trường hợp không học và làm trái những điều đã học Cán bộ, giáo viên đều biết sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học
4 Tất cả học sinh phổ thông đều được học tin học, ngoại ngữ; đều được tổ chức hoạt động tập thể, văn nghệ, thể dục thể thao; được giáo dục kỹ năng sống; được hướng dẫn phương pháp tự học đạt hiệu quả
5 Tất cả phụ huynh học sinh đều quan tâm đến việc học tập của con em, chia sẻ được với nhà trường những thuận lợi khó khăn, tích cực cùng nhà trường chăm lo tổ chức tốt hoạt động dạy và học
2.2 Thực trạng quản lý việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật tại một số trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Thực trạng giáo viên xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật theo văn bản quy phạm pháp luật của ngành tại một số trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh
a Th ực trạng nhận thức về văn bản quy phạm pháp luật và việc giáo viên xử l ý học sinh t ại một số trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh
Nhận thức có vai trò rất quan trọng, là ngọn đuốc soi đường để con người thực
hiện hành động Trước khi thực hiện một hành động nào đó, con người cần phải ý thức được các thao tác và cả biểu tượng sản phẩm đạt được Nhận thức càng đúng đắn, sâu sắc thì kết
quả hành động càng cao và ngược lại Như vậy, để có thể thực hiện công tác quản lý việc giáo viên xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật cho tốt, CBQL và giáo viên phải nhận thức đúng được tầm quan trọng của việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong tình huống học sinh phạm lỗi Về phía học sinh, để có thể học tốt trong ngôi trường đang xây dựng phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” trước hết, phải hiểu mục
Trang 30đích của việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo
- Số liệu ở bảng trên cho thấy các CBQL đã nhận thức được tầm quan trọng của áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật của ngành (Thông tư 08/TT) trong xử l ý học sinh THPT vi
phạm kỷ luật Điều này thể hiện qua tỉ lệ 100% CBQL cho rằng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật là cần thiết, trong đó tỉ lệ
khẳng định là “rất cần thiết” lên đến 42,9%
Còn số liệu khảo sát ở giáo viên ở bảng trên cho thấy:
- Đa số các giáo viên THPT đã nhận thức được tầm quan trọng của áp dụng văn bản quy
phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật Điều này thể hiện
qua tỉ lệ 90,4% giáo viên cho rằng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử
Trang 31l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật là cần thiết, trong đó tỉ lệ khẳng định là “rất cần thiết” lên đến 30,1%
- Tuy vậy, nhiều người đang lo ngại vì cũng còn có những giáo viên chưa thực sự quan
tâm đến áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi
phạm kỷ luật nên đã chọn mức độ “không ý kiến” - “có hay không cũng được”, tỉ lệ 6,1%
Đặc biệt, có 2,6% giáo viên quan niệm áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật chỉ là “hơi cần thiết” Thậm chí có 0,9% giáo
viên còn cho rằng việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh
THPT vi phạm kỷ luật là “hoàn toàn không cần thiết” Như vậy, tỉ lệ giáo viên nhận thức không tích cực về vấn đề này cao hơn CBQL
Do đó, có thể nói, tất cả CBQL và một bộ phận khá lớn giáo viên THPT đã nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý
học sinh THPT vi phạm kỷ luật (CBQL = 100%; giáo viên = 90,4%) với điểm trung bình ở
mức khá cao (CBQL = 4,43; giáo viên = 4,16) và với độ lệch chuẩn gần như nhau ( ĐLCR CBQL R = 0,502; ĐLCR GV R = 0,724) Điều này cho phép khẳng định, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật được rất nhiều
CBQL và giáo viên quan tâm Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của áp dụng Thông tư 08 trong xử l ý học sinh
THPT vi phạm kỷ luật Bằng con đường nào, bằng cách nào để sự quan tâm này hiệu quả
và hợp lý; để việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh
THPT vi phạm kỷ luật được thực sự thực hiện, thực hiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả? Chính điều này, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sát hơn về cách áp dụng văn bản quy
phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật; đồng thời, phải có sự
chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật của CBQL các cấp để việc triển khai
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” có hiệu quả cao
Để có thêm số liệu khách quan, chúng tôi khảo sát tình hình nhận thức của học sinh
về mục đích của việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh, người nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 300 học sinh thuộc ba khối lớp (khối 10, khối 11, khối 12) và thuộc ba địa bàn (Nội thành, Vùng ven,
Ngo ại thành) khác nhau
Trang 32 Th ực trạng nhận thức của học sinh
- Trong số học sinh thuộc mẫu nghiên cứu là 300 có 50,2% học sinh đã nhận thức đúng đắn về mục đích của việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”: Đó là xu thế thời đại mới đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu
cầu học tập, rèn luyện của mỗi cá thể thành con người năng động thích ứng và điều chỉnh
mối quan hệ thầy trò theo hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm
B ảng 2.2 Nhận thức của học sinh về mục đích của việc triển khai “Xây dựng trường
h ọc thân thiện, học sinh tích cực”
TT Các l ựa chọn Đồng ý Không đồng ý
T ần số Tỉ lệ % Tần số Tỉ lệ %
1 Nâng cao năng lực cá nhân, giúp học sinh tồn
tại và thích ứng với cuộc sống hàng ngày 28 9.3 272 90.7
2 Nâng cao năng lực tâm lý xã hội, giúp học
sinh tự tin bước vào cuộc sống xã hội 47 15.7 253 84.3
3
Truyền thống hiếu học của dân tộc đòi hỏi
phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng
nhu cầu học tập, rèn luyện của mỗi cá thể
thành con người năng động thích ứng
76 25.3 224 74.7
4
Xu thế thời đại mới đòi hỏi phải đổi mới
phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu học
tập, rèn luyện của mỗi cá thể thành con người
năng động thích ứng
71 23.7 229 76.3
5 Điều chỉnh mối quan hệ thầy trò theo hướng
dạy học lấy học sinh làm trung tâm 98 32.7 202 67.3
- Kết quả khảo sát tại Bảng 2.2 chứng tỏ nhận thức về chương trình của học sinh còn nhiều hạn chế Còn khá nhiều học sinh chưa nhận thức đúng hoặc nhận thức chưa rõ về vấn
đề này: có 9,3% học sinh cho rằng mục đích đó là giúp cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống hàng ngày; 15,7% học sinh cho rằng đó là nhằm nâng cao năng lực tâm lý xã hội giúp cho học sinh tự tin bước vào cuộc sống xã hội; một số lượng lớn học sinh, chiếm tỉ lệ 25,3%, nhận thức một cách quá khái quát về mục đích, cho rằng mục đích của việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là truyền thống hiếu học của dân
Trang 33tộc đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện của mỗi cá thể thành con người năng động thích ứng Tất cả những quan niệm này là những suy nghĩ chưa đúng đắn hoặc chưa sâu sắc.
Đâu là nguyên nhân của hiện trạng trên? Theo nhận định của người nghiên cứu đó có thể là khâu tuyên truyền, giáo dục của giáo viên và các cấp quản lý về ý nghĩa của chương trình còn nhiều hạn chế hoặc thời gian dành cho công tác phổ biến nội dung không cho phép nên việc tiếp cận của học sinh chưa được thấu đáo
Điều này, một phần gây trở ngại cho người làm công tác quản l ý giáo dục Vì nếu các
em học sinh chưa hiểu rõ mục đích của việc triển khai phong trào này của Bộ Giáo dục và Đào tạo vì cho rằng việc triển khai phong trào trên chỉ là một trong số các hoạt động giáo
dục bình thường trong nhà trường Từ đó, các em sẽ không tạo ra được kỷ luật – tự giác phát huy, khơi dậy sự chủ động, tự tin, tích cực trong học tập, rèn luyện Điều này có phần nào ảnh hưởng đến việc triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và hiệu
quả thực hiện công tác này trong ngành giáo dục
b Th ực trạng đánh giá về mức độ áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong x ử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật
Thực trạng cho thấy rõ việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành trong
xử l ý học sinh THPT vi phạm kỷ luật ở các trường được các CBQL và giáo viên đánh giá
mức độ thực hiện khác nhau:
B ảng 2.3 Mức độ phổ biến, nghiên cứu đầy đủ các quy định Thông tư 08 để áp dụng
khi x ử l ý học sinh vi phạm kỷ luật
Việc phổ biến, nghiên cứu đầy đủ các quy định Thông tư 08 để áp dụng khi xử l ý học
sinh vi phạm kỷ luật được CBQL thực hiện thường xuyên hơn với 94,3% trong khi ở giáo viên mức độ này là 73,3%, trong đó mức độ thường xuyên ở CBQL cao hơn rất nhiều
Trang 34(CBQL = 74,3%, giáo viên = 55,3%) Tuy nhiên, bên cạnh những số liệu khả quan trên thì
việc giáo viên đứng lớp là người trực tiếp giáo dục học sinh nên rất cần áp dụng thường xuyên thì lại thấp hơn CBQL và khi khảo sát một số giáo viên thì số giáo viên chủ nhiệm chiếm số đông (Xem bảng 2.4)
Bảng 2.4 Tỉ lệ giáo viên làm chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm Tần số Tỉ lệ %
Đồng thời, số lượng giáo viên đã biết về Thông tư 08 là 189 người (chiếm tỉ lệ khá cao là 82,9%) khi so với số lượng giáo viên chưa biết gì về Thông tư 08 là 39 người (17,1%) Và khi đã được tập huấn về văn bản quy phạm pháp luật của ngành là Thông tư 08 thì có một bộ phận giáo viên khá lớn (70,6%) nhận thấy trường họ công tác vẫn còn có
những giáo viên có cách xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật chưa phù hợp với quy định Ví dụ
như vẫn còn giáo viên đánh học sinh, bắt học sinh vi phạm kỷ luật chép phạt quá nhiều, đuổi học sinh vi phạm ra đứng ngoài hành lang trước cửa lớp
Kết quả khảo sát cho thấy:
Tuy tỉ lệ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp – trực tiếp quản l ý, xử lý học sinh đã
biết qua Thông tư 08 là cao nhưng thực tế thì vẫn còn không ít giáo viên đứng lớp tiến hành
kỷ luật học sinh của mình theo kinh nghiệm bản thân (32,9% - xem bảng 2.6) nên tính hiệu
quả của cách xử l ý chưa cao, còn mang tính chủ quan của giáo viên, và vì vậy giáo viên vẫn còn xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật không đúng với tinh thần của TT 08 Do đó sau khi đối chiếu với TT08, giáo viên nhận thấy họ vẫn còn xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật chưa phù
hợp với quy định của TT08 ở mức cao so với CBQL ( giáo viên = 70,6%, CBQL = 14,3% -
xem bảng 2.5)
Trang 35Bảng 2.5 Mức độ không phù hợp với quy định TT08 mà trường thường hay mắc phải
trong việc xử lý kỷ luật hs ở trường THPT thời gian qua
Bảng 2.6 Thực tế giáo viên đã xử lý kỷ luật học sinh của mình theo cách nào?
Cho dù CBQL rất quan tâm đến việc phổ biến, cho giáo viên nghiên cứu TT08 để xử
lý học sinh vi phạm kỷ luật được đúng với quy định của ngành, nhưng thực tế vẫn còn một
bộ phận không nhỏ giáo viên chưa nắm được nội dung TT08 hoặc đã biết nhưng chưa áp dụng vào tình huống học sinh vi phạm kỷ luật Đặc biệt, đối với trường có độ tuổi của giáo viên tương đối trẻ - thâm niên dưới 10 năm - đông thì mức độ áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của ngành khi xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật ở mức không thường xuyên là rất lớn (chiếm 50%) trong khi trường ở nội thành, có giáo viên đứng lớp lâu năm thì mức áp
dụng không thường xuyên ít hơn nhiều (chỉ 9,8% - xem bảng 2.7) bởi l ý do là giáo viên mới
về trường công tác sau thời điểm Ban giám hiệu trường phổ biến, tập huấn quy định của ngành nên mức độ phổ biến, nghiên cứu đầy đủ các quy định Thông tư 08 để áp dụng khi xử
l ý học sinh vi phạm kỷ luật ở mức độ rất thường xuyên còn ít (10%) Tại sao có nguyên nhân này? Đó là do giáo viên vắng mặt khi trường triển khai Thông tư 08; Ban giám hiệu các trường thường tổ chức phổ biến, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật vào buổi họp hội đồng sư phạm đầu năm học mà hiện nay các trường THPT được học sớm từ khoảng tuần thứ 3 của tháng 8, thời điểm này sinh viên ra trường chưa nhận nhiệm sở; hoặc giáo viên trẻ xin thuyên chuyển cũng chưa được nhận nhiệm sở
Mức độ CBQL Giáo viên
Tần số Tỉ lệ % Tần số Tỉ lệ % Phù hợp 30 85.7 67 29.4
Chưa phù hợp 5 14.3 161 70.6
X ử lý kỷ luật học sinh Tần số Tỉ lệ %
Áp dụng như Thông tư 08 153 67.1
Theo kinh nghiệm bản thân 75 32.9
Trang 36Kết quả khảo sát cho thấy, giáo viên có thâm niên công tác từ 10 năm trở xuống:
- THPT An Lạc (ngoại thành): 47/70 giáo viên (67,1%)
- THPT Võ Trường Toản (vùng ven): 48/66 giáo viên (72,7%)
- THPT Nguyễn Trãi và THPT Nguyễn Thị Diệu (nội thành): 43/92 giáo viên (46,7%)
B ảng 2.7 Mức độ phổ biến, nghiên c ứu đầy đủ các quy định Thông tư 08 để áp dụng khi xử
Tuy nhiên, bên cạnh những số liệu khả quan trên, tại các trường ở khu vực nội thành
ở mức độ không áp dụng có 3,3% giáo viên cho là mình hiếm khi thực hiện, thậm chí còn
có 2,2% giáo viên hoàn toàn không; khu vực vùng ven có 1,5% hoàn toàn không thực hiện
(xem b ảng 2.7) Nhìn bao quát hơn cùng có 1,3% giáo viên và cùng có 2,9% CBQL cho
rằng ở trường mình hiếm hoặc hoàn toàn không nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật của ngành để áp dụng trong xử lý kỷ luật học sinh vi phạm kỷ luật Con số này cho phép khẳng định vẫn còn một số CBQL và giáo viên chưa chú trọng đến việc nghiên cứu văn bản quy
phạm pháp luật của ngành (TT 08) để áp dụng trong xử lý kỷ luật học sinh vi phạm kỷ luật
(xem b ảng 2.3) Điều này cũng thể hiện rõ trong thực tế, có nhiều giáo viên tự tin xử lý học sinh vi phạm kỷ luật theo kinh nghiệm, cảm xúc bản thân nên dẫn đến hai kết quả xử lý là
hoặc sẽ quá nhẹ, không đủ sức răn đe học sinh tái phạm hoặc áp dụng hình phạt thái quá,
dẫn đến phản giáo dục
Trang 37Bảng 2.8 Mức độ không phù hợp với quy định TT08 mà giáo viên thường hay mắc
phải trong việc xử lý kỷ luật hs ở trường THPT thời gian qua
Mức độ Nội thành Vùng ven Ngoại thành
kỷ luật hs ở trường THPT thời gian qua lại cao hơn tỉ lệ giáo viên ở khu vực khác (nội thành
là 76,1% trong khi vùng ven là 60,6%, ngoại thành là 72,9%) Số liệu trên cho thấy, việc nghiên cứu, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật chưa được sự đồng nhất giữa việc nghiên
cứu và thực hiện của giáo viên Cũng như chưa có sự đồng nhất giữa việc thực hiện của giáo viên với sự quản lý việc thực hiện đó của CBQL (xem bảng 2.7)
Kết quả phỏng vấn một số CBQL và giáo viên cho thấy: Sở dĩ có sự không đồng nhất như nêu trên là do một số nội dung của TT08 không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay nên giáo viên không hoàn toàn làm theo quy định của TT08 mà thay đổi nội dung cho phù
hợp hơn với học sinh trong thời đại mới nhưng lại không phù hợp với quy định của TT08
c Th ực trạng thực hiện các biện pháp xử l ý h ọc sinh vi phạm kỷ luật tại một số THPT ở thành phố Hồ Chí Minh
Nhằm tìm hiểu thực trạng xử lý học sinh theo tinh thần TT08 của các trường khảo sát, người nghiên cứu đưa ra câu hỏi “Theo em, việc xử l ý học sinh vi phạm kỷ luật ở trường
em được thực hiện như thế nào?” mỗi học sinh căn cứ vào nội dung của từng câu hỏi phù
hợp mà trả lời có hoặc không Bảng 2.9 là kết quả của khảo sát
Bảng 2.9 Các hình thức xử lý kỷ luật của các trường STT NỘI DUNG (%) Có Thứ
hạng
1 Tất cả đều báo về cho giáo viên chủ nhiệm (GVCN) quyết
Trang 382 Do giáo viên bộ môn (GVBM) tự xử lý trong giờ dạy của
3 Lần đầu HS vi phạm: Bị GVBM ghi sổ đầu bài Viết tự
kiểm Báo về cha mẹ Mời cha mẹ gặp GVCN 38.7 12
4 Lần đầu HS vi phạm: GVBM nhắc nhở/ khiển trách để HS
nhận ra sai phạm (sẽ không bị ghi ghi sổ đầu bài) 76 2
5 Lần đầu HS vi phạm: Cho tự chọn hình thức phạt tại lớp
(sẽ không bị ghi ghi sổ đầu bài) như thụt dầu, hít đất, tự tát
6 Tái phạm (tính từ lần vi phạm thứ 2 trong 1 tháng): khiển
trách trước lớp trong sinh hoạt chủ nhiệm, có tham khảo ý
7 Tái phạm (3 lần trở lên trong 1 tháng) khiển trách trước lớp
trong sinh hoạt chủ nhiệm, có tham khảo ý kiến cán bộ lớp 59.3 7
8 Bị thúc ép phải đánh nhau với bạn dù không muốn và được
thầy cô phát hiện sớm: bị đuổi học 01 tuần lễ mà không cần
9 Đánh nhau với bạn có tổ chức và gây thương tích cho
người khác: bị đuổi học 01 tuần lễ mà không cần phải ra
10 Có thái độ kém văn hóa hoặc hành vi thiếu đạo đức đối với
GV: bị GV la mắng và đuổi ngay ra khỏi lớp trong tiết đó 76.3 1
11 Bất cứ lỗi vi phạm gì nhưng HS làm GV đứng lớp không
hài lòng là bị la mắng đưa xuống giám thị ngay tiết học
12 Hội đồng kỷ luật của nhà trường gồm: Hiệu trưởng hoặc
Hiệu phó, Giám thị phụ trách lớp của HS phạm lỗi 49 10
13 Hội đồng kỷ luật của nhà trường gồm: Hiệu trưởng, Trợ l ý
TN, GVCN lớp của HS phạm lỗi, hai GV có kinh nghiệm ở
14 Sau khi HS vi phạm kỷ luật bị xử l ý và có thông báo quyết
định kỷ luật thì HS và cha mẹ HS có quyền khiếu nại về kỷ
luật của mình trong thời hạn 01 tuần lễ 53.7 9
15 Sau khi HS vi phạm kỷ luật bị xử l ý và có thông báo quyết
định kỷ luật thì phải chấp hành hình thức kỷ luật đó ngay
hôm sau
64.3 4
Bảng hỏi gồm 15 câu hỏi nhỏ tần số trả lời được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%) Căn
cứ vào tỉ lệ % để xếp hạng Câu hỏi có tỉ lệ % cao sẽ được xếp thứ hạng 1 và lần lượt cho đến hết Theo tinh thần TT08 thì việc khen thưởng và kỷ luật nhằm:
1 Việc khen thưởng và thi hành kỉ luật đối với học sinh là một trong các biện pháp giáo dục quan trọng trong nhà trường phổ thông, nhằm mục đích:
Trang 39- Khuyến khích học sinh phấn đấu vươn lên, noi theo các gương tốt để tu dưỡng và rèn luyện bản thân
- Ngăn chặn không để các hiện tượng sai trái phát triển, giáo dục các học sinh phạm sai lầm, giúp các học sinh này phấn đấu trở thành học sinh tốt
- Thúc đẩy học sinh tự giác thực hiện quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của mình nhằm nâng cao ý thức góp phần xây dựng mọi nề nếp, kỷ cương trong nhà trường
2 Việc khen thưởng và kỉ luật đối với học sinh được thực hiện đúng đắn sẽ góp phần tích cực vào việc củng cố và phát triển phong trào thi đua “Hai tốt” trong nhà trường phổ thông từng bước thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường và từng cấp học Muốn vậy, cần phải đảm bảo được các nguyên tắc sau:
a) Chính xác, khách quan, vô tư, không định kiến, hẹp hòi, tùy tiện
b) Dân chủ, bình đẳng, có lí có tình đối với mọi học sinh
c) Lấy giáo dục làm chính, đồng thời giữ nghiêm kỉ luật Phát huy ưu điểm, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, lấy đó làm chỗ dựa để khắc phục những thiếu sót, những biểu hiện tiêu cực
d) Tiến hành kịp thời những hình thức thích hợp
e) Tạo ra trong nhà trường và ngoài xã hội một dư luận đúng đắn, ủng hộ cái tốt, phê phán cái sai
f) Có kế hoạch theo dõi sự tiến bộ và sửa chữa của học sinh phạm lỗi
g) Khen phải kèm theo hình thức thưởng thích đáng
Người nghiên cứu đưa ra các câu hỏi nhỏ của bảng hỏi trên sẽ có mục phù hợp với
tinh thần thông tư nhưng cũng có mục không phù hợp (nhưng vẫn được sử dụng), nhằm
mục đích tìm hiểu thực trạng việc tiến hành xử lý kỷ luật tại các trường
- Xếp hạng 1 là mục 10: “Khi học sinh có thái độ kém văn hóa hoặc hành vi thiếu
đạo đức đối với GV: thì bị GV la mắng và đuổi ngay ra khỏi lớp trong tiết đó.” Có 76,3%
các em học sinh cho rằng giáo viên trường mình có áp dụng phương pháp đó Tuy nhiên,
mức độ áp dụng giữa các trường cũng không giống nhau Biểu đồ 2.1 thể hiện mức độ áp
dụng hình thức trên giữa các trường
Bi ểu đồ 2.1
Trang 40Sự chênh lệch giữa các trường là không cao, điều này thể hiện mức độ áp dụng là
“khá đồng đều” Có vẻ như do nôn nóng và muốn có hiệu quả tức thời nên các giáo viên
thường “đốt cháy giai đoạn” và tùy tiện áp dụng phương pháp như trên Tuy nhiên cần nhìn
nhận sự việc trên toàn cục diện của vấn đề, để tìm ra những cách xử lý có tình có lý nhưng không cứng nhắc rập khuôn Nếu giáo viên vận dụng không đúng các hình thức kỷ luật nói chung và từng vụ việc cụ thể nói riêng thì hậu quả của nó sẽ rất khó kiểm soát TT08 nêu
rằng nếu học sinh có “thái độ kém văn hóa hoặc hành vi thiếu đạo đức đối với GV” thì giáo
viên cần bình tĩnh nhắc nhở, khiển trách học sinh đó trước lớp nhằm mục đích để học sinh
vi phạm hiểu ra và đồng thời giáo viên nhắc nhở những học sinh khác trong lớp Còn khi
học sinh “có lời nói và hành động vô lễ với thầy cô giáo ” sẽ bị cảnh cáo trước toàn
trường Như vậy trong văn bản quy phạm pháp luật của ngành không hề có hình thức la
mắng và đuổi ra khỏi lớp học trong giờ học Tuy nhiên sự nhập nhằng giữa hai khái niệm này với hai mức độ xử lý khác nhau khiến học sinh lớp 12 có thể bị cấm thi tốt nghiệp do
cảm tính của người thầy bởi hình thức cảnh cáo trước toàn trường sẽ được ghi vào học bạ cũng đồng nghĩa với hạ bậc hạnh kiểm và hạ xuống đến yếu là khỏi thi tốt nghiệp Những
lỗi này lại rất thường rơi vào học sinh, mà đôi khi chỉ là do cách ứng xử thiếu cân nhắc, lỡ
lời của lứa tuổi học sinh THPT Mặt khác nếu giáo viên đứng lớp nôn nóng, mất bình tĩnh
mà xử lý thì hình ảnh của giáo viên trong suy nghĩ của học sinh cũng có nhiều bất cập Một khi hình ảnh giáo viên bị “méo mó”, uy tín bị giảm sút thì sự tự tin trong chuyên môn cũng
bị ảnh hưởng Về phía học sinh khi bị tổn thương nặng nề thì dẫn đến sự chai lì và thường
có phản ứng tiêu cực