1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

huyền thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh trong moon palace của paul auster

164 426 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 853,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tinh thần đọc như vậy, chúng tôi nhận thấy trong tiểu thuyết Moon Palace của Auster, vấn đề bản thể, nhân dạng, cuộc hành trình tìm kiếm tâm linh của nhân vật được đặt trong một khô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM

Phan Thị Thùy Nhung

HUYỀN THOẠI VÀ HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM TÂM LINH TRONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM

Phan Thị Thùy Nhung

HUYỀN THOẠI VÀ HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM TÂM LINH TRONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Thầy hướng dẫn, PGS.TS Đào Ngọc Chương

Các thầy cô giảng dạy lớp Cao học Văn học Nước ngoài Khóa 20

Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Gia đình và bạn bè

đã tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 6 năm 2012

Người viết luận văn

Phan Thị Thùy Nhung Lớp Cao học Văn học Nước ngoài Khóa 20

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố ở các công trình khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 6 năm 2012

Người viết luận văn

Phan Thị Thùy Nhung Lớp Cao học Văn học Nước ngoài Khóa 20

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

DẪN NHẬP 6

1 L ý do chọn đề tài 6

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3 Lịch sử vấn đề 7

4 Phương pháp nghiên cứu 25

5 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 27

6 Bố cục của luận văn 28

CHƯƠNG 1: HUYỀN THOẠI VÀ NHÂN VẬT 29

TÌM KIẾM TÂM LINH 29

1.1 Khái quát về phương thức huyền thoại trong Moon Palace 29

1.2. Huyền thoại về cái Khác và nhân vật du hành 32

1.2.1 Cái Khác – một phạm trù cơ bản của tư duy và văn hóa phương Tây 35 1.2.2 Cái Khác dưới góc độ lịch sử cộng hưởng và nguồn gốc nhân vật 40

1.2.3 Cái Khác và cuộc du hành của người nghệ sĩ 57

CHƯƠNG 2: SỰ PHÂN LẬP CỦA KHÔNG GIAN HUYỀN THOẠI 75

2.1 Không gian lục địa Mỹ và những mảnh vỡ 76

2.1.1 Không gian Babel 76

2.1.2 Không gian tù ngục và không gian cửa 85

2.2 Không gian miền Tây nước Mỹ và những mảnh vỡ 93

2.2.1 Không gian sa mạc 93

2.2.2 Không gian thiên đường 98

CHƯƠNG 3: KẾT CẤU TÁC PHẨM VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM TÂM LINH 106

3.1 Kết cấu Mobius 107

3.1.1 Cốt truyện – trùng lặp và song chiếu 108

3.1.2 Điểm nhìn – định vị và đồng nhất 117

3.2 Kết cấu Matrioska 134

3.2.1 Cốt truyện – bản gốc và phiên bản 135

Trang 6

3.2.2 Điểm nhìn – đồng hiện và chồng xếp 141

KẾT LUẬN 146 TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại ngổn ngang và hỗn loạn, con người luôn trăn trở về sự tồn tại của bản thân và thế giới Paul Auster, một tiểu thuyết gia đương đại Mỹ sinh năm 1947, đã biến nỗi trăn trở ấy thành một vấn đề trung tâm trong các tác phẩm của mình Vấn đề nhân dạng, bản thể, sự tìm kiếm tâm linh là một chủ đề trở đi trở lại trong nhiều tiểu thuyết của Auster và đi cùng với chủ đề đó là những tìm tòi của nhà văn về một hình thức nghệ thuật tương hợp Với loại hình tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống hay tiểu thuyết trinh thám siêu hình trong đó câu chuyện săn đuổi giữa thám tử và tội phạm được miêu tả như cuộc truy tìm bản thể, Auster đã chứng minh rằng mọi loại hình đều có thể có giá trị, kể cả trinh thám, miễn là nó trinh thám con người theo chiều sâu Bên cạnh việc “trinh thám” về bản thể, nhân dạng, tiểu thuyết của Auster còn “trinh thám” về ý nghĩa và vai trò của lịch sử, ngôn ngữ, văn học… như những yếu tố gắn bó mật thiết với đời sống con người Có thể nói, với không khí trinh thám trong trong tiểu thuyết của Auster, cảm quan truy tầm luôn tồn tại, trở thành cảm quan chủ đạo và cũng trở thành một nguyên tắc đọc tác phẩm của ông Đọc tiểu thuyết của Auster, người đọc chẳng những cần quan tâm đến hành trạng của nhân vật mà còn phải tham gia vào cuộc du hành lần tìm, kết nối những tín hiệu rải rác như những mảnh vỡ trong tác phẩm để có thể thưởng thức tác phẩm một cách toàn diện nhất

Với tinh thần đọc như vậy, chúng tôi nhận thấy trong tiểu thuyết Moon

Palace của Auster, vấn đề bản thể, nhân dạng, cuộc hành trình tìm kiếm tâm linh của nhân vật được đặt trong một không gian vừa chông chênh, xô giạt của kỷ nguyên hậu hiện đại, vừa thâm trầm và đầy màu sắc huyền thoại Tiếp cận dưới góc nhìn huyền thoại là một việc làm cần thiết để tìm hiểu tiểu thuyết này nhưng cách tiếp cận đó, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, vẫn chưa được khai thác đúng mức Đó

là lý do chúng tôi thực hiện đề tài Huyền thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh

trong Moon Palace của Paul Auster

Trang 8

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài Huyền thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh trong Moon

Palace của Paul Auster, chúng tôi tiến hành khảo sát tác phẩm Moon Palace trên

cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật dựa vào bản dịch của Cao Việt Dũng (NXB Văn học, 2009) có đối chiếu với nguyên tác Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đối

chiếu Moon Palace với một số tác phẩm khác của Paul Auster để có cái nhìn toàn

diện về tiểu thuyết của nhà văn này

Đề tài chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Đầu tiên chúng tôi quan tâm đến những huyền thoại, huyền tích, cổ mẫu (với

tư cách là motif, biểu tượng), phạm trù có nguồn gốc từ huyền thoại, huyền tích tồn

tại lâu dài trong văn hóa, văn học phương Tây xuất hiện trong Moon Palace

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành khảo sát sự ảnh hưởng, sự chuyển hóa, sự tái sinh và biến đổi của những huyền thoại, huyền tích, cổ mẫu, phạm trù có nguồn gốc từ huyền thoại, huyền tích đó trong hình tượng nhân vật, hình tượng không gian

và kết cấu của tác phẩm, qua đó chỉ ra mối liên hệ của nó với vấn đề tìm kiếm bản thể, nhân dạng, đời sống tâm linh trong tác phẩm

3 Lịch sử vấn đề

Tiểu thuyết của Paul Auster lôi cuốn độc giả bởi những triết lý sâu sắc, những kiến giải về tình trạng của con người và thế giới đương đại được chuyển tải trong những kỹ thuật viết hậu hiện đại và thường có hình thức trinh thám hấp dẫn

Vì vậy, tiểu thuyết của ông đã trở thành một mảnh đất thu hút giới nghiên cứu phê bình Đề tài của các công trình nghiên cứu về Auster khá phong phú: vấn đề nhân dạng, bản ngã, vấn đề thể loại, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, hình tượng không gian, cái ngẫu nhiên, nỗi cô đơn, tính chất trinh thám phản truyền thống, thủ pháp trần thuật liên văn bản, thủ pháp “truyện trong truyện”…

Những nghiên cứu về tiểu thuyết Auster ở Việt Nam chủ yếu cũng xoay

quanh những đề tài trên

Trang 9

Việc tổ chức dịch và in năm tiểu thuyết của Auster một cách liên tục từ năm

2007 đến năm 2009 phần nào cho thấy sự quan tâm của các nhà phê bình và công chúng đối với tác phẩm của Auster Tuy nhiên, do các tác phẩm của Auster xuất

hiện ở Việt Nam khá muộn (Trần trụi với văn chương và Nhạc đời may rủi được ấn hành năm 2007; Người trong bóng tối được ấn hành năm 2008 và Moon Palace

được ấn hành năm 2009) nên số lượng công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông còn khá khiêm tốn và chủ yếu tập trung vào những tác phẩm được ấn hành đầu tiên

Trần trụi với văn chương, Nhạc đời may rủi Ngoài lời bạt của dịch giả Trịnh Lữ

trong bộ ba tiểu thuyết Trần trụi với văn chương đã phân tích một vài đặc trưng hậu

hiện đại trong tác phẩm như cấu trúc phi trung tâm về đề tài và cốt truyện, sự tồn tại những thực tại song hành, sự đan xen giữa các yếu hư cấu và các yếu tố hiện thực từ cuộc đời của chính Auster, tính chất liên văn bản, tính tương tác giữa người đọc, tác giả và tác phẩm…, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau: Luận văn thạc sĩ

Cái ngẫu nhiên trong Nhạc đời may rủi của Paul Auster (Đại học Sư phạm Hà

Nội, 2009) của Nguyễn Thị Ngọc Thúy nghiên cứu về cái ngẫu nhiên trong Nhạc

đời may rủi như một yếu tố xây dựng cốt truyện, kết cấu, một quan niệm về con

người và cuộc đời Luận văn thạc sĩ của Mê lộ trong Moon Palace của Paul

Auster của Phan Thị Kim Anh (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010) nghiên cứu Moon

Palace dưới góc nhìn tự sự học để chỉ ra tính chất mê lộ thể hiện trong các yếu tố

nghệ thuật của tác phẩm Luận văn thạc sĩ Tự sự phản trinh thám trong Thành

phố thủy tinh của Paul Auster (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011) của Đặng Thị

Bích Hồng nghiên cứu về bút pháp tự sự phản trinh thám của Auster trong tiểu

thuyết Thành phố thủy tinh Luận án tiến sĩ Đặc trưng bút pháp hậu hiện đại

trong tiểu thuyết Paul Auster (Viện Văn học, sẽ bảo vệ vào năm 2014) của

Nguyễn Thị Thanh Hiếu nghiên cứu tiểu thuyết Auster từ góc độ những đặc trưng

của bút pháp hậu hiện đại Luận văn thạc sĩ Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết Paul

Auster (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2011) của Võ Thị Mỹ Lam nghiên cứu các tiểu thuyết Thành phố thủy tinh, Những bóng ma, Căn phòng khóa kín, Nhạc

đời may rủi, Người trong bóng tối dưới góc nhìn tự sự học để chỉ ra đặc trưng mê lộ

Trang 10

trong cách xây dựng nhân vật, không gian và tính chất liên văn bản trong tiểu thuyết Auster

Bên cạnh đó, có một số bài viết về Auster và các tác phẩm của ông được

đăng rải rác trên các tạp chí Bài viết Paul Auster và Nhạc đời may rủi (Tạp chí

Nghiên cứu Văn học số 6 năm 2009) của Lê Huy Bắc có thể được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về tác phẩm của Auster Quan tâm đến khía cạnh

trinh thám trong tiểu thuyết của Auster, bài viết Trần trụi với văn chương và ngòi

bút trinh thám phản truyền thống của Nguyễn Thị Thanh Hiếu đăng trên Tạp chí

Khoa học số 5 năm 2010 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã gọi tên Trần trụi với văn chương là “tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống”, “tiểu thuyết trinh

thám siêu hình” trong đó tội phạm không phải một cá nhân mà là một ý niệm, một triết lý, do đó quá trình thám tử tìm kiếm tội phạm chính là tìm kiếm bản thể Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê lại quan tâm đến vấn đề kết cấu trong tiểu thuyết Auster Bài viết Một cuốn sách thức tỉnh con người của ông đăng trên Tạp chí

Văn hóa Nghệ An đã giới thiệu tiểu thuyết Người trong bóng tối của Auster về hai

phương diện: nỗi ám ảnh chiến tranh và thủ pháp “truyện trong truyện”

Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu về Auster ở Việt Nam chủ yếu

khảo sát Trần trụi với văn chương, Nhạc đời may rủi và Người trong bóng tối về

các khía cạnh: tính chất trinh thám phản truyền thống, nghệ thuật tự sự và những đặc trưng hậu hiện đại thể hiện trong các tác phẩm trên Như vậy, cho đến nay, ở

nước ta chỉ có luận văn thạc sĩ Mê lộ trong Moon Palace của Paul Auster của

Phan Thị Kim Anh là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về tiểu thuyết Moon

Palace theo hướng khảo sát nghệ thuật tự sự để chỉ ra những đặc trưng hậu hiện đại

được thể hiện trong tác phẩm Góc nhìn huyền thoại đối với Moon Palace vẫn là

một hướng nghiên cứu còn bỏ ngỏ

Trên thế giới, có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Auster Tuy

nhiên, hầu như những công trình trên chỉ tập trung vào bộ ba tiểu thuyết Thành phố

thủy tinh, Những bóng ma và Căn phòng khóa kín được tập hợp trong Trần trụi với

Trang 11

văn chương (The New York Trilogy), tiểu thuyết Nhạc đời may rủi, Trong xứ sở của những tận cùng (In the Country of Last Things), Sáng chế cô đơn (The Invention of Solitude), Leviathan Có thể thấy điều này thể hiện ngay trong vị trí và dung lượng

dành cho Moon Palace trong các chuyên khảo về Paul Auster cũng như trong những công trình nghiên cứu về văn học hậu hiện đại Trong số mười sáu bài của cuốn

chuyên khảo Paul Auster (Bloom’s modern critical views) (Chelsea House

Publishers, 2004) do giáo sư Harold Bloom của Đại học Yale, Mỹ tuyển chọn và

biên tập chỉ có một bài nghiên cứu về Moon Palace Cuốn chuyên luận về tiểu

thuyết Auster The World that is the Book – Paul Auster’s Fiction (Liverpoool

University Press, 2001) dày 183 trang của Aliki Varvogli chỉ dành 18 trang (từ

trang 124 đến trang 141) viết về Moon Palace Trong cuốn Beyond the Red

Notebook: Essays on Paul Auster (University of Pennsylvania Press, 1995) dày

203 trang, gồm 13 bài, do Dennis Barone tuyển chọn cũng chỉ có một bài về Moon

Palace Bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương của Barry Lewis được

đưa vào cuốn sách Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý thuyết (NXB

Hội Nhà văn, 2003) xếp Auster vào hàng hai mươi văn sĩ hậu hiện đại nổi tiếng

Tuy nhiên, tác giả chỉ nêu tên Trần trụi với văn chương như một tác phẩm thể hiện

những đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại

Trong luận văn tiến sĩ Metaphysical Detectives and Postmodern Spaces,

or the Case of the Missing Boundaries (College of Arts and Sciences at West

Virginia University, 2001) gồm 6 chương, Richard A Swope bàn về vấn đề không gian xã hội (social space) cùng mối liên hệ của nó với vấn đề giới tính, chủng tộc và giai cấp qua tiểu thuyết của các nhà văn Mỹ Pynchon, Acker, Reed, Auster, DeLillo, McElroy cùng hai bộ phim Dark City của Alex Proya và The Thirteenth

Floor của Josef Rusnak (chuyển thể từ tiểu thuyết Simulacron 3 của Daniel F

Galouye) và đặc trưng của loại hình trinh thám hậu hiện đại trong những tiểu thuyết

được gọi là “truyện trinh thám siêu hình” (metaphysical detective story) Tác giả đã

dành trọn chương hai (Supposing an Urban Space: Paul Auster’s The New

York Trilogy) trong số sáu chương của luận văn để khảo sát hai vấn đề trên trong

Trang 12

The New York Trilogy của Auster Theo tác giả, hai kiểu không gian hậu hiện đại trong tác phẩm là không gian thành phố và không gian căn phòng khóa kín Hai

kiểu không gian này được đặt trong mối liên hệ với sự tìm kiếm nhân dạng Moon

Palace không được nhắc đến trong luận văn này dù vấn đề nhân dạng và hình tượng không gian cũng là những vấn đề nổi bật trong tác phẩm

Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích những công trình nghiên cứu có giá trị như những gợi dẫn cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài và điểm qua những công trình ít nhiều có liên quan đến đề tài của chúng tôi

Bài viết The Ego, the Self and the Subject in Paul Auster’s Fictions của

Catherine Roger là một trong những công trình có ý nghĩa gợi dẫn cho chúng tôi Trong bài, từ góc nhìn tâm lý học, tác giả đã chỉ ra sự ảnh hưởng từ các học thuyết

của Lacan (chủ yếu xoay quanh khái niệm desire), Heinz Kohut (self-psychology),

Freud (phức cảm Oedipe), Hartmann, Kris và Loewenstein (ego-psyology) tới các nhân vật của Auster Nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết Auster vừa là chủ thể (the subject) trong ngành tâm lý học Pháp của Lacan (French Lacanian psychology) vừa

là cái tôi (the ego) và bản ngã (the self) và trong tâm lý học Mỹ1

(American psychology) với các đại diện tiêu biểu là Heinz Kohut, Hartmann, Kris, Loewenstein và Freud

Tác giả bài viết vận dụng lý thuyết của Kohut, Hartmann, Kris, Loewenstein

để chỉ ra rằng nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết Auster mang cái tôi dễ biến đổi ego) Bản ngã (the self) của nhân vật “tôi” cũng dễ thay đổi bởi nó thiếu sự cố kết

(alter-và tính liên tục, nó là sự pha trộn giữa ý thức và vô thức2

Trọng tâm của bài viết nằm ở những lý giải của tác giả về chủ thể (the subject) trong tiểu thuyết Auster dựa

trên lý thuyết của Lacan mà khái niệm trung tâm trong lý thuyết này là desire (khát

khao) Theo bà, Lacan đã phát triển khái niệm ego của Freud và chỉ ra rằng “giai

1 The “I” in Auster’s works is both the subject of French Lacanian psychology and the self of American psychology […] The “I” is also the ego and the self of American psychology in Auster’s works [143]

1 2 IN PAUL AUSTER’S FICTION, THE SELF CAN BECOME THE OTHER VERY EASILY BECAUSE

IT HAS NO COHESION OR CONTINUITY […] PAUL AUSTER’S FICTION MOSTLY DEALS WITH THE UNCONSCIOUS [143]

Trang 13

đoạn tấm gương” (the mirror stage, tức là giai đoạn mà con người nhận thức được

sự tồn tại của mình thông qua ngôn ngữ) chính là một bước quan trọng trong việc nhận dạng cái tôi (ego-identity) Tuy nhiên, theo Lacan, trung tâm của tồn tại (human being) không phải là cái tôi mà là chủ thể (the subject) và chủ thể này đôi

khi có mối liên hệ với khái niệm the id (cái ấy) của Freud1

Theo chúng tôi, ở đây

C Roger muốn nói rằng: Nếu chủ thể của Freud luôn ham muốn tính dục (libido) – cái bên trong, xem xung năng tính dục như ngọn nguồn của những hành động của con người từ vô thức, kể cả hoạt động sáng tạo nghệ thuật thì chủ thể của Lacan

ham muốn cái Khác – đó có thể là cái bên ngoài đơn thuần hoặc là cái bên ngoài

tương hợp với phần còn thiếu, khuyết, hao hụt trong một chủ thể khiến chủ thể nảy sinh ham muốn

Sự ham muốn đó được Lacan phân loại thành các cấp độ: nhu cầu (need), đòi hỏi (demand) và desire (khát khao) Nếu nhu cầu thuộc về địa hạt của cái thực (the realm of the Real)có tính ngắn ngủi và bản năng, có thể dễ dàng được thỏa mãn, đòi hỏi thuộc về địa hạt của tưởng tượng (imaginary) thì khát khao thuộc về địa hạt của biểu tượng (symbolic), là thứ không thể thỏa mãn, không thể lấp đầy, là dấu ấn riêng (hallmark) của chủ thể Khát khao của chủ thể chính là khát khao vĩnh viễn về

cái Khác (the Other)2 mà khởi nguồn của nó là ham muốn (want), sự thiếu thốn (lack) và khả năng/ hành động nói (speech) Có lẽ ở đây tác giả muốn kết nối phạm

trù cái Khác với chủ đề sự khát khao tìm kiếm nhân dạng, sự thiếu vắng người cha

và chủ đề ngôn ngữ trong các tiểu thuyết của Auster Bà cho rằng khát khao cái

Khác đó được gọi là “hunger” (có nghĩa là cơn đói hoặc nỗi khát khao) trong tiểu thuyết Auster và đây là động lực để các nhân vật của ông đắm chìm vào những chuyến du hành bất tận3

Với niềm khát khao đó, những nhân vật này là những chủ

1

Lacan thinks that the center of the human being is not the ego, but the subject which sometimes corresponds

to what Freud calls “the id” [143]

2 The desire of the subject is the desire of the Other Lacan defines the subject as forever wanting and

privileges the Other as the locus of want, lack and speech [143]

3 The desire of the other is called “hunger” in Paul Auster’s fiction It is what motivates his characters, what

make them walk endlessly [143]

Trang 14

thể (subjects) bởi họ luôn luôn ham muốn1.Tác giả đã dẫn ra trường hợp của Marco

Fogg trong Moon Palace để minh chứng cho điều này: Marco Fogg là một chủ thể

vì anh ta luôn luôn khát khao Anh ta tự bỏ đói mình cho đến chết, khát khao sẽ có một ai đó đoái thương và giải cứu cho anh ta (điều này cuối cùng đã xảy ra với sự xuất hiện của Kitty Wu) Như vậy, ở đây “hunger” vừa là sự chối bỏ xã hội vừa là

sự kêu gọi cái Khác2 (ở đây là sự đoái thương và giải cứu của kẻ khác)

Theo chúng tôi, lý giải trên có lẽ phù hợp với trường hợp của Rascolnikov trong Tội ác và hình phạt của Dostoievski hơn là trường hợp của Marco trong Moon Palace bởi nếu cho rằng “hunger” là là sự kêu gọi cái Khác thì khó có thể giải thích

vì sao nhân vật luôn lao vào những cuộc du hành Đối chiếu hai nhân vật, chúng tôi nhận thấy điểm tương đồng của họ nằm ở nguyên nhân khiến họ giam mình trong phòng và sống biệt lập với xã hội, từ chối các quy chuẩn xã hội thông thường về

việc ăn uống, học hành, làm việc bắt nguồn từ một lý thuyết mà họ tự đề ra Với Rascolnikov, đó là là học thuyết về một tội ác lương thiện, một tội ác có thể đem đến cứu vớt cho nhiều số phận, từ đó anh ta trăn trở về việc thực hiện và không thực hiện tội ác, về phương cách thực hiện; với Marco, đó là lý thuyết về sự trống rỗng, tan rã và biến mất của bản thân: anh ta tìm cách biến đời mình thành một “định đề

mỹ học về sự biến mất” Trong Rascolnikov có sự chối bỏ xã hội (tội ác của bản thân khiến anh ta cảm thấy bị cắt lìa khỏi xã hội) và trong nỗi tuyệt vọng, anh ta kêu

gọi cái Khác với sự mong muốn được tha thứ, được giao tiếp, được cứu rỗi, được kẻ

khác để ý tới, được hóa giải nỗi cô đơn: anh ta vô thức hòa vào đám đông, vô thức

đi ra phố, vô thức nói chuyện với những kẻ có thể làm lộ bí mật của mình về vụ giết người… Marco không có cách hành xử như vậy Ngay từ đầu, anh ta đã khẳng định việc mình chối bỏ xã hội không phải là kết quả của sự tuyệt vọng sau cái chết của

bác Victor và anh ta cũng không hề kêu gọi cái Khác, không hề hi vọng sự đoái

thương và cứu giúp của người khác: Anh lẩn tránh đường phố và đám đông và nơi

1 They are subjects because they are forever wanting [143]

2

Marco Fogg in Moon Palace almost starves himself to death, hoping that someone will take pity on him and

rescue him, which finally happens when Kitty Wu comes to his help […] hunger both as a rejection of society and a call to the Other [143]

Trang 15

anh ta tìm đến không phải đường phố mà là Công viên Trung tâm – nơi anh có thể tiếp tục sống trong sự cô đơn của mình Anh không từ chối sự giúp đỡ của người khác nhưng cũng không lôi kéo nó; mọi sự giúp đỡ của người khác dành cho anh

đều được anh xem là sự tình cờ Nếu anh ta mong muốn cái Khác như sự giúp đỡ từ

bên ngoài thì anh đã không nổi giận với những đứa trẻ gọi anh là kẻ ăn rác; đã không nói dối bạn bè về tình cảnh của mình; không nằm lì trên giường khi nghe tiếng gõ cửa có thể là của người quen – một cơ may giúp anh thoát khỏi tình cảnh hiện tại (về sau anh ta mới biết đó là tiếng gõ cửa của Kitty)… Rõ ràng, ở đây có một nguyên nhân sâu xa hơn nỗi tuyệt vọng đã thúc đẩy nhân vật sống cuộc sống của kẻ cô đơn, đã khiến nhân vật luôn chìm đắm vào những chuyến du hành, và đặc biệt là nỗi ám ảnh đối với không gian miền Tây Chúng tôi sẽ phân tích nguyên nhân này trong tiểu mục 1.2.1

Những kiến giải của Catherine Roger về cái Khác trong tâm lý học Lacan và

sự vận dụng nó để phân tích tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết Auster đã cung cấp những gợi ý cho chúng tôi trong việc tìm hiểu vấn đề tìm kiếm nhân dạng, bản thể,

tìm kiếm tâm linh trong Moon Palace của nhân vật (ở chương một của luận văn) Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu chỉ nhìn nhận nhân vật trong Moon Palace dưới góc

độ tâm lý học sẽ không thể giải thích được xu hướng tâm tính và kiểu tư duy của nhân vật – những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với hành động của nhân vật, do

đó khó có thể giải quyết rốt ráo vấn đề tìm kiếm nhân dạng, bản thể, hoàn thiện tâm

linh Tiếp cận nhân vật trong Moon Palace, chúng tôi cũng đi vào bình diện cái

Khác nhưng chỉ ra rằng đây không chỉ là một khái niệm tâm lý học mà là một phạm trù tồn tại lâu dài trong văn hóa, văn học phương Tây có nguồn gốc từ huyền tích Kinh thánh và tư duy huyền thoại nguyên thủy, có mối liên hệ chặt chẽ với lịch sử Góc nhìn từ huyền thoại này sẽ kết nối được tất cả các chủ đề (vấn đề tội lỗi và hình phạt, vấn đề sáng tác nghệ thuật), các motif (cuộc hành trình, sự chuộc tội…) và biểu tượng mặt trăng xuyên suốt tác phẩm như những yếu tố phục vụ cho chủ đề chung là cuộc hành trình tìm kiếm tâm linh

Trang 16

Bên cạnh The Ego, the Self and the Subject in Paul Auster’s Fictions của

Catherine Roger khai thác tiểu thuyết Auster dưới góc độ tâm lý học, bài viết

Changing Identities in Paul Auster’s Moon Palace của Anniken Telnes Iversen

đã sử dụng học thuyết của những trường phái tâm lý học để lý giải tâm lý nhân vật

trong Moon Palace

Iversen khẳng định rằng vấn đề then chốt trong tiểu thuyết Auster nói chung,

trong Moon Palace nói riêng là vấn đề nhân dạng Từ đó, tác giả dựa vào khái niệm nhân dạng của Erikson để phân tích tâm lý của nhân vật Marco Theo Erikson, nhân dạng bao gồm những khía cạnh cá nhân như niềm tin, sự biết đến tình dục, sự giao tiếp và cảm thấy gần gũi với với người khác, sự quyết định về nghề nghiệp sẽ theo đuổi, định hướng tính dục và sự mong muốn kết hôn, lập gia đình vào một thời điểm nhất định, với một người nhất định Sự phát triển của cái tôi (the ego) gồm tám giai đoạn, trong đó sự xác định nhân dạng (tức xác định các khía cạnh cá nhân trên) diễn ra trong suốt cuộc đời nhưng đặc biệt mạnh mẽ vào giai đoạn thứ năm giai đoạn cuối thời niên thiếu cho đến khi trưởng thành (thời kỳ từ 18 đến 22 tuổi) Mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ này là mâu thuẫn giữa nhân dạng và sự truyền biến nhân dạng (identity diffusion)1, tức là giữa sự xác định các xác tín cá nhân và sự thực hiện chúng Iversen cho rằng sự xác định nhân dạng và mâu thuẫn giữa nhân dạng với sự phổ biến nhân dạng trên đều có trong Marco, một thanh niên mới bước vào đời khao khát tìm kiếm một nhân dạng, một bản ngã đích thực nhưng lại gặp phải nhiều khó khăn, thách thức

Kroger và Green cho rằng những sự kiện then chốt trong cuộc đời (critical life event) có thể dẫn đến thay đổi lớn về mặt tâm lý Những sự kiện then chốt này thường liên quan đến mất mát hoặc thất bại lớn: bệnh tật của cá nhân hoặc của những người quan trọng, cái chết, mất việc, thất bại trong học hành, trong tình yêu, trong tài chính… Iversen đã dựa vào lý thuyết này để phân tích thái độ và phản ứng

1 Những xác tín về nhân dạng được xem như những “thông tin nhân dạng” và nhân vật muốn “truyền” những thông tin này đến những kẻ khác nhằm khẳng định nhân dạng của mình Trong quá trình đó, trước sự “tiếp nhận” thông tin nhân dạng của những người xung quanh, nhân vật có thể có nhu cầu thay đổi những xác tín

về nhân dạng của mình, tức là thông tin nhân dạng đó có thể chuyển hóa (“biến”)

Trang 17

của Marco đối với những con người và sự việc xung quanh anh ta Chẳng hạn việc Marco không nhận thấy tình yêu của Kitty dành cho mình là bởi sau cú sốc trước cái chết của bác Victor – một sự kiện then chốt trong cuộc đời – anh đã trở nên thụ động, không có niềm tin vào sự thay đổi số phận, vào người khác và thế giới

Bên cạnh đó, Iversen cũng dựa vào lý thuyết của Marcia về sự phát triển nhân dạng như một phép biện chứng giữa kết nối và chia tách, giữa tình trạng có

mối quan hệ và tình trạng cô đơn (between connection and separation, between

relatedness and solitude) Chính vì vậy mà nhân vật luôn cảm thấy không chắc chắn

về nhân dạng của mình, do đó anh ta luôn thử nghiệm và tìm kiếm, thậm chí có thể

rơi vào khủng hoảng (identiy crisis) Theo Iversen, chiến lược “không làm gì”

(do-nothing project) của Marco chính là sự thử nghiệm của anh ta để tìm kiếm một nhân dạng đích thực, để chống lại nỗi tuyệt vọng và cơn khủng hoảng khi mất người thân Tất cả những thử nghiệm của Marco không dẫn anh đến một nhân dạng cuối cùng Mỗi một thử nghiệm, một trải nghiệm có thể dẫn nhân vật đến một khám phá mới về nhân dạng của mình, và do đó, sự tìm kiếm nhân dạng luôn diễn ra trong suốt tác phẩm

Chuyên luận ba chương Confinement in Paul Auster’s Moon Palace and

The New York Trilogy (Université de Caen Basse – Normandie, 2001) của Alexis Plékan cũng là một công trình có nhiều gợi dẫn cho chúng tôi về việc tiếp cận hình

tượng không gian và những thủ pháp tự sự trong Moon Palace Chuyên luận này

xem sự giam cầm (confinement) như một phạm trù, một quan niệm, một kiểu tư duy chi phối hình tượng nghệ thuật, bút pháp tự sự và ngôn ngữ trong hai tiểu thuyết

Moon Palace và The New York Trilogy Thực ra sự giam cầm (confinement) như một motif trong tiểu thuyết Auster đã được một số công trình khác trước đó nhắc tới nhưng điều mới mẻ của Alexis Plékan là khai thác sự giam cầm như một nguyên lý chi phối cả hình tượng nghệ thuật, bút pháp tự sự và ngôn ngữ trong hai tiểu thuyết

Moon Palace và The New York Trilogy

Trang 18

Chương một, Spatial Confinement, khảo sát vấn đề không gian trong Moon

Palace và The New York Trilogy Ch ương này gồm ba phần: A Social Death, B

Towards Origin, C Search for Harmony

Phần A gồm hai tiểu mục: 1 Disconnection và 2 Starving Trong tiểu mục

Disconnection, nhà nghiên cứu lưu ý sự giống nhau về mặt phát âm giữa hai từ

“room” (căn phòng) và “tomb” (ngôi mộ), từ đó liên hệ đến không gian căn phòng như một ngôi mộ giam cầm các nhân vật, khiến anh ta mất đi mối liên hệ với thế

giới bên ngoài Trong tiểu mục Starving, nhà nghiên cứu nói đến ý nghĩa của cơn

đói như sự suy giảm (depletion), sự tối giản cuộc đời nhân vật, sự đùa giỡn với cái chết (flirting with death) và kiểu nhân vật nhà tu và ẩn sĩ (the monk and the hermit) được định hình trong cơn đói

Trong phần B, tác giả tiếp tục nói đến những chức năng của các kiểu không gian mang tính chất của sự giam cầm: không gian căn phòng và không gian dạng tử cung (the womb) Không gian căn phòng là nơi trú ẩn (the shelter), nơi dành cho sự rút lui (the retreat) – trong đó Marco được xem như nhân vật kiểu Thoreau (Thoreau-like character), tức là nhân vật ở ẩn Không gian căn phòng được xem như một motif trong hai tiểu thuyết Auster Nó vừa đóng vai trò tạo cơ sở cho nhân vật tìm kiếm những nơi chốn mới: các nhân vật của Auster đều rời nhà, rời khỏi căn hộ, căn phòng của mình vì nhiều lý do và rơi vào những cuộc hành trình bất tận, vừa là thử thách đối với sự tồn tại của nhân vật: nếu nhân vật tiếp tục chôn vùi chính mình trong phòng, anh ta sẽ rơi vào sự điên loạn và biến mất, giống như một rắn tự cắn đuôi mình1

Không gian căn phòng cũng là nơi dành cho sáng tạo nghệ thuật của

các nhân vật nghệ sĩ, trong đó họ tồn tại như những nghệ sĩ lưu đày (the artist in

exile)

1 The room is a motif to which Auster gives great importance The room functions as a shelter for the

characters, it enables them to withdraw from society and meditate But once they have discovered new things about themselves, they must come out of the room and reintegrate society, expressing themselves, in a book for example If they carry on digging into themselves, they are bound to sink into madness and disappear, like a snake eating its tail [119]

Trang 19

Bên cạnh kiểu không gian căn phòng, tác giả còn nói đến kiểu không gian

dạng tử cung Theo ông, trong Moon Palace, không gian Công viên Trung tâm và

không gian hang động trong sa mạc là những kiểu không gian dạng tử cung, trong

đó nhân vật trở về với nguồn gốc (tử cung và hang động là biểu tượng của cội nguồn, nguồn sống) và được tái sinh Như vậy, ở đây tác giả đã chú ý đến những biểu tượng, những cổ mẫu được sử dụng như một motif trong hình tượng không gian, đó là cổ mẫu hang động và tử cung Đây là một gợi ý cho chúng tôi khi tìm hiểu ý nghĩa của kiểu không gian cửa trong tác phẩm – kiểu không gian vừa có tính chất cầm giữ vừa có tính chất vừa có tính chuyển tiếp

Ở chương hai, Telling stories, tác giả khảo sát về những thủ pháp nghệ thuật trong lối kể chuyện của hai tiểu thuyết Trong đó, ông gọi Moon Palace và The New

York Trilogy là kiểu “tiểu thuyết bao vây” (encircling fiction) với những đặc điểm: thủ pháp “truyện trong truyện” được hình dung như “hiệu ứng búp bê Nga” (the

Russian-doll effect), tính liên văn bản, sự hòa trộn giữa hiện thực và hư cấu, sự lồng

ghép vấn đề viết tác phẩm trong chính tác phẩm (stories about story-telling) Kiến giải này đã gợi dẫn chúng tôi trong việc tìm hiểu kết cấu của Moon Palace, đặc biệt

là ở tiểu mục 3.2 Kết cấu Matrioska Tuy việc tiếp thu thành quả nghiên cứu của

nhà nghiên cứu Plékan đã giúp chúng tôi có được những gợi ý quý báu trong việc tìm hiểu kết cấu của tác phẩm nhưng, theo chúng tôi, trong tiểu mục này chúng tôi

đã chỉ ra được mô hình tâm thức của nhân vật và của cuộc hành trình tìm kiếm tâm linh, điều mà nhà nghiên cứu Plékan chưa đề cập đến

Tiếp theo, chúng tôi sẽ nói tới những công trình nghiên cứu về các biểu

tượng, các hình tượng nghệ thuật trong Moon Palace và ý nghĩa của chúng đối với

chủ đề tìm kiếm nhân dạng, bản thể

Bài viết Inside Moon Palace của Steven Weisenburger in trong sách Paul

Auster (Bloom’s modern critical views) (Chelsea House Publishers, 2004) đã tiếp

cận Moon Palace dưới góc độ văn hóa – lịch sử: đặt tác phẩm trong bối cảnh của nó

là những năm 1960 Bài viết sử dụng phát biểu của Andrei Codrescu trong chuyên

Trang 20

luận The North American Combine: Moloch and Eros (1989) như một lời đề từ

Codrescu nói về những năm 1960 với “trật tự tự nhiên” (“the natural order”) trong

xã hội, sự bất ổn của con người, sự chán ghét đoàn thể, chán ghét chính trị và ước mong tìm đến sự thông thái, quyền lực mạnh mẽ, sự minh bạch đơn giản và những điều thông thường có tác dụng xoa dịu nội tâm1

Từ nhận định đó, Weisenburger lý giải một số hiện tượng và biểu tượng trong tác phẩm: Bảng phả hệ của gia đình Marco đi dần về số không với những cái chết, sự phá thai, cơn đói, sự phá sản như một ẩn dụ cho cuộc sống của con người trong những năm 1960 Đồng thời, thông qua số phận của những nhân vật trong gia đình Marco, tác giả kết luận về kỹ thuật

tự sự của Auster: đẩy các sự kiện quá ngưỡng (put those conventions over the top)

để tạo nên không khí kỳ lạ, trái lẽ thường cho tác phẩm Các hình tượng không gian,

bức tranh Moonlight, quán ăn Moon Palace được tác giả xem như những biểu tượng

thể hiện khao khát về sự hòa hợp, sự cân bằng trong đời sống nội tâm của nhân vật

nói riêng, của người Mỹ nói chung trong bối cảnh lịch sử - xã hội nhiều sự kiện bạo lực và chiến tranh của những năm 1960

Cùng với Inside Moon Palace, bài viết Doubles and More Doubles của

Bruce Bawer cũng được in trong cuốn sách trên Tác giả cho rằng tính biểu tượng

của Moon Palace nằm ở vòng tròn số phận của hai nhân vật Marco và Effing: cả hai

đều muốn tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của mình, đều có những cái tên kỳ lạ, có những cuộc du hành, sống đơn độc và đều lâm vào những tình trạng trong đó kết thúc là khởi đầu Đây là kiểu nhân vật song trùng, mỗi người là mảnh vỡ của kẻ kia Ông cũng lý giải ý nghĩa của biểu tượng mặt trăng trong tác phẩm qua sự quy chiếu của nó đến những sự kiện liên quan đến Marco (ban nhạc của bác Victor đổi tên là Moon Men, phát hiện nhà hàng Moon Palace…) như một ám ảnh liên quan đến chủ

đề cha và con trai, chủ đề gia đình, sự xa lạ và sự mất phương hướng khi cô đơn và

1 In the 1960s it was obvious, to the point of appearing to be “the natural order,” that language was with the

people Not so The people it turned out were infinitely more unsettled than originally supposed They were sick of the body, and many of them longed for the public body, for age, wisdom, and strong authority The disgust with the political process and the wish for simple clarity also reflected a distrust of the Outside, a rejection of the metaphysical and a new desire for the comforting routine of the interior [110; 171]

Trang 21

khi thiếu vắng người cha Bài viết The Remarkable Journey of Marco Stanley

Fogg (1989) của Joyce Reiser Kornblatt cũng có cùng quan điểm như trên

Bài viết “Regeneration through Creativity” – The Frontier in Paul

Auster’s Moon Palace của Christian Seidl khai thác chủ đề “giấc mơ Mỹ” – chủ đề

truyền thống của văn học Mỹ – thông qua hình tượng không gian trong Moon

Palace và mối liên hệ của nó với sự tái sinh về tinh thần của nhân vật Tác giả cũng

sử dụng một số học thuyết văn hóa – xã hội để lý giải hình tượng không gian trong tác phẩm Ngoài phần giới thiệu và kết luận, bài viết của Seidl gồm ba tiểu mục

chính: The Mythic Frontier: Thomas Effing in Utah; The Urban Frontier: Marco

Stanley Fogg in New York; Regeneration through Creativity

Trong tiểu mục The Mythic Frontier: Thomas Effing in Utah, không gian sa

mạc miền Tây được miêu tả như một kiểu không gian chứa đựng biên giới giữa thực và hư (cái “hư” được tạo nên từ những câu chuyện kỳ lạ của Effing về cuộc du hành của ông ở đây, từ câu chuyện về anh em Gresham, về cái hang giữa sa mạc, từ những câu chuyện về người da đỏ…) Trong không gian này, Effing đã có những hành động bạo lực là giết anh em Gresham Seidl giải thích điều này như một ảnh hưởng của học thuyết của Richard Slotkins về “tái sinh thông qua bạo lực” (regeneration through violence) như một yếu tố quan trọng trong cấu trúc trần thuật của chuyện thần thoại Mỹ1

Tuy nhiên, hành động bạo lực không cứu rỗi Effing và ông chỉ được tái sinh về tinh thần thông qua hoạt động sáng tạo của mình trong sa

mạc miền Tây và điều này sẽ được tác giả làm rõ ở tiểu mục Regeneration through

Creativity

Ở tiểu mục tiếp theo, không gian New York cũng được miêu tả như một dạng không gian biên giới: là nơi mà văn minh đấu tranh với hoang dã Seidl nói đến sự tương đồng giữa học thuyết về biên giới (sự thôi thúc mở rộng lãnh thổ về phía Tây – cái nôi của nền dân chủ Mỹ) của nhà sử học Frederick Jackson Turner và suy tư của Marco về không gian Công viên Trung tâm, từ đó khẳng định trong

1 The importance of violence for Effing's tale seems to go along with Richard Slotkins theory of "regeneration

through violence" as an important part of American mythological narrative structures [145]

Trang 22

không gian Công viên Trung tâm, nhân vật Marco đã tìm thấy sự tái sinh Ông cũng lưu ý rằng cuộc đời Marco với cái tên mang ý nghĩa du hành và ý nghĩa “bản thảo”

là sự liên kết đến những nhà thám hiểm tiên phong trong lịch sử Mỹ, bao gồm cả những người đã chinh phục miền Tây hoang dã, đến “huyền thoại Mỹ về người đàn

ông tự hữu” (American myth of the “self-made” man), tự tạo nên bản thảo cho

tương lai, cho cuộc đời mình Từ đó, thông qua những kiến giải về hình tượng không gian trong tác phẩm, Seidl cho rằng hành động tìm đến những không gian

biên giới có ý nghĩa tái sinh của các nhân vật trong Moon Palace chính là ẩn dụ về

một lối thoát cho nước Mỹ hiện đại đang ngập ngụa trong nền văn minh tư bản

Aliki Varvogli trong chuyên luận The World that is the Book – Paul

Auster’s Fiction cũng nhắc đến ảnh hưởng của học thuyết về biên giới (theory of frontier/ frontier thesis) của Frederick Jackson Turner1 trong Moon Palace: tác

phẩm là một cuốn sách về sự khám phá châu Mỹ (inventing American) và song song với sự khám phá châu Mỹ, nhân vật khám phá nhân dạng của chính mình Học thuyết biên giới của F.J.Turner được xem như một công cụ hữu hiệu cho việc tìm

hiểu lịch sử Mỹ, một động lực để người Mỹ tìm kiếm một biên giới mới, ở đây là biên giới giữa ảo và thực Tác giả nói đến không gian miền Tây “thực” và không gian miền Tây “ảo” – miền Tây tồn tại trong tác phẩm của các nhà văn Mỹ nổi

tiếng: Sự thực là miền Tây nước Mỹ không thú vị hơn nơi khác bao nhiêu, ngoại trừ

trong huyền thoại hay trong cái tôi tự đại của người miền Tây, cho đến khi sự thể hiện của các nhà văn Mỹ nổi tiếng […] làm cho nó trở nên như vậy Họ làm điều này bằng quan niệm/ tưởng tượng/ hình dung những khía cạnh tự nhiên (những khu rừng, những dòng sông, những cái hồ, sự quang đãng, những khu định cư, những thảo nguyên, những thảo nguyên, những đồng bằng, những sa mạc) và những khía cạnh xã hội (sự cách biệt, sự giản đơn, sự bất định, sự chỉ trích, sự hỗn loạn, sự bất

an, sự phi lý, sự mỉa mai) của nó như biểu trưng cho sự sáng tạo và sự phát triển

1 Frederick Jackson Turner (1861 – 1932), nhà sử học Mỹ nổi tiếng với chuyên luận The Significance of the

Frontier in American History (1893) với ý tưởng về Frontier Thesis (học thuyết Biên giới) Frontier Thesis

cho rằng chủ nghĩa quân bình đặc trưng, tính nhiệt tình, giàu sáng kiến của tính cách Mỹ bắt nguồn từ những kinh nghiệm ở miền biên giới Mỹ (chuyến khai hoang miền Tây)

Trang 23

của một nền văn minh quốc gia mới chứ không phải như những khía cạnh của chính bản thân nó1

Trong miền Tây “thực” và miền Tây “ảo” đó, nhân dạng của nhân vật cũng chao đảo giữa ảo và thực: Effing chỉ có thể chứng minh nhân dạng của mình là họa sĩ Julian Barber nếu hồi ký của ông được xuất bản Marco tìm đến miền Tây sau khi đã biết rõ sự thật về nhân dạng của mình, từ đó anh có thể viết nên câu chuyện

của cuộc đời mình – câu chuyện Moon Palace

Một tác giả khác quan tâm đến vấn đề không gian trong tiểu thuyết của Auster là Helmi Nyström với chuyên luận Three Sides of a Wall – Obstacles and

Borders in Paul Auster’s Novel (University of Helsinki, 1999) khảo sát bốn tiểu

thuyết của Auster: The New York Trilogy, The Music of Chance, In the Country of

Last Things và Moon Palace Theo tác giả, trong tiểu thuyết Auster luôn có kiểu

không gian chướng ngại (không gian rào chắn: barriers; không gian tường: walls; không gian vật cản: barricades) tù túng, giam giữ, ngăn cản con người và không gian biên giới (borders, frontiers) rộng mở, tạo ra những cơ hội cho sự giải thoát

Tồn tại trong những không gian như vậy, nhân vật của Auster luôn mâu thuẫn giữa khát khao hợp nhất và khát khao duy trì tình trạng tan rã Vì thế, những kiểu không gian này được liên kết với vấn đề tự do, nhân dạfng, ngôn ngữ và cái chết – những yếu tố khiến nhân vật phải lựa chọn giữa kết hợp và chia lìa Tác giả cũng chỉ ra

rằng trong Moon Palace, mặt trăng và sa mạc đều là những biểu tượng của sự trọn

vẹn (wholeness), và để đạt đến sự trọn vẹn đó, nhân vật phải đối mặt với mâu thuẫn trong chính bản thân mình

So với một số lượng khá lớn các đề tài nghiên cứu về chủ đề, biểu tượng và các hình tượng nghệ thuật trong Moon Palace, số lượng đề tài nghiên cứu về thi pháp thể loại và tính chất hậu hiện đại trong Moon Palace có vẻ khiêm tốn hơn

1

The simple truth is that the American West was neither more nor less inter-esting than any other place, except in mythology or in the swollen egos of Westerners, until by interpretation the great American writers – all of whom happened to be Eastern – made it seem so This they did by con-ceiving its physical aspects (forests, rivers, lakes, clearings, settlements, prairies, plains, deserts) and its social aspects (isolation, simplicity, impro-visation, criticism, chaos, restlessness, paradox, irony) as expressive emblems for the invention and development of a new national civilization, and not as things in themselves [116]

Trang 24

Trong bài viết Towards a Polythetic Definition of Bildungsroman: The

Example of Paul Auster’s Moon Palace (Literature, issue: 49(5) /2007, Central

and Eastern European Online Library) của Anniken Telnes Iversen, tác giả khẳng

định mặc dù Moon Palace là một tiểu thuyết hậu hiện đại nhưng nó vẫn có đầy đủ

những đặc điểm điển hình của tiểu thuyết bildungsroman (tiểu thuyết tiểu sử)

Iversen đã so sánh Moon Palace với David Cooperfield của C.Dickens – một tiểu

thuyết bildungsroman điển hình – về các mặt: đặc điểm hình thức; chủ đề và motif; nhân vật chính; nhân vật phụ; bối cảnh; những sự kiện chủ đạo trong cuộc đời nhân

vật chính; những sự kiện có liên quan đến các nhân vật khác Thậm chí, so với Bắt

trẻ đồng xanh (The Catcher in the Rye) của J.D.Salinger, Moon Palace còn nhiều

đặc trưng của tiểu thuyết bildungsroman hơn Tác giả cũng đã cho thấy rằng, dù cách xử lý kết cấu truyện theo kiểu “truyện lồng truyện” và việc sử dụng yếu tố ngẫu nhiên không phải chỉ như một yếu tố xây dựng cốt truyện mà còn như một

quan niệm về cuộc đời, về số phận con người trong Moon Palace không phải là

chưa từng gặp trong tiểu thuyết bildungsroman truyền thống Vì vậy, việc nhìn nhận lại đặc trưng của tiểu thuyết bildungsroman là cần thiết Tác giả cho rằng bildungsroman không phải là một thể loại đã cố kết mà luôn phát triển không ngừng

và chỉ ra 91 đặc trưng của loại tiểu thuyết này

Trong chương một của luận văn, chúng tôi đã nhận định cốt truyện của Moon

Palace có những điểm tương đồng với tiểu thuyết bildungsroman nhưng kiểu nhân vật phân thân và kết cấu của tác phẩm hoàn toàn vượt ra khỏi cái khung của tiểu thuyết bildungsroman để trở thành một tác phẩm hậu hiện đại

Không chỉ nói đến vấn đề thể loại, chuyên luận The Postmodern Structure

of the Novels of Paul Auster: Moon Palace, The Music of Chance, Oracle Night

(University Vienna, 2010) của Gudrun Harlass đã khảo sát cấu trúc hậu hiện đại thể

hiện trong ba tiểu thuyết Moon Palace, The Music of Chance và Oracle Night của

Auster về các mặt: các đặc điểm hình thức và cấu trúc; các motif tiêu biểu; các kỹ

thuật hậu hiện đại trong xây dựng nhân vật Moon Palace có đầy đủ những đặc trưng của cách viết hậu hiện đại, bao gồm: tính liên văn bản (intertextuality); tính tự

Trang 25

phản chiếu (self-reflection), có tính chất siêu hư cấu (metafiction); mối quan hệ

phức hợp giữa văn chương siêu hư cấu và cái gọi là truyền thông đại chúng hay văn

hóa đại chúng (the complex relationship between metafictional literature and so

called mass media or popular culture); trần thuật phi tuyến tính (non-linear narrative) và sự “giải thích lại” các loại hình trần thuật (reinterpretation of narrative

genres) Tác giả đã chỉ ra sự thể hiện của những đặc trưng này trong thủ pháp

“truyện trong truyện”, sự tuần hoàn của số phận nhân vật, cách kết thúc mở, lối viết tối giản (toàn bộ các câu chuyện của cha và ông của Fogg đều do nhân vật thuật lại với ngôi kể chuyển đổi từ ngôi thứ nhất thành ngôi thứ ba)… Không gian trong tác phẩm (với hai motif chính là không gian thành phố và không gian căn phòng) mang tính chất của kiểu không gian trong tiểu thuyết hậu hiện đại: kiểu không gian xa lạ trong một không gian hiện thực Khu phố Tàu chính là kiểu không gian như vậy: đây là nơi mà Effing vô thức bị dẫn dắt tới đó hằng đêm để lạc vào mê lộ của những lối đi chật hẹp, là nơi mà Marco cảm giác như đang sống trong một thế giới khác

hoàn toàn xa lạ Về mặt thể loại, Harlass cho rằng Moon Palace là tác phẩm pha

trộn giữa tiểu thuyết bildungsroman với truyện thần tiên (fairy tale), giữa tiểu thuyết

du đãng (picaresque novel) với tiểu thuyết giả tưởng (fantastic novel)

Bên cạnh chuyên luận vừa nêu, chuyên luận Critics on White Noise and

Moon Palace - On Classification and Genre (University Utrecht, 2007) của Sarah Scholliers đã bàn đến những đặc trưng hậu hiện đại trong Moon Palace qua sự so sánh với tiểu thuyết White Noise của Don DeLillo Scholliers cũng có cùng quan điểm với tác giả Gurdun Halass khi nhận định Moon Palace là một tác phẩm pha

trộn giữa nhiều loại hình, hơn thế nữa, nó còn thể hiện sự “chơi đùa” với các thể loại (playing with genres) – một tinh thần hậu hiện đại đặc trưng Scholliers cũng

chỉ ra ảnh hưởng của các học thuyết của Lacan, Derrida và Baudrillard trong Moon

Palace Theo tác giả, chủ đề “người cha vắng mặt” và nhân dạng chưa hoàn chỉnh

của nhân vật và ngôn ngữ trong Moon Palace thể hiện sự ảnh hưởng Lacan và Derrida: Derrida tạo nên một khoảng trống giữa ý nghĩ và ý nghĩa bởi sự thiếu hụt của ngôn ngữ […] Nhân vật của Auster là những nạn nhân của các khoảng trống

Trang 26

“Người cha vắng mặt” làm cho những khoảng trống có thể xuất hiện, điều có liên quan đến lý thuyết của Lacan và Derrida Các nhân vật không thể đạt đến một tính cách và nhân dạng hoàn chỉnh, điều này có liên quan đến lý thuyết của Lacan1

Tính chất hậu hiện đại của Moon Palace còn được thể hiện ở chỗ nó phá vỡ, giễu nhại những gì được coi là cao cả, siêu phàm (the sublime), chẳng hạn như huyền thoại về Biên giới (the Myth of the Frontier) – chủ đề truyền thống của văn học Mỹ

Trên đây là những công trình nghiên cứu mà chúng tôi có dịp tìm hiểu Có thể thấy rằng hầu hết các công trình đó được tiếp cận từ thi pháp thể loại, loại hình nhân vật và không gian cùng những đặc trưng hậu hiện đại thể hiện trong tác phẩm

từ góc nhìn tâm lý học, văn hóa học, xã hội học Đây đó trong một số công trình có chú ý đến tính chất huyền ảo trong hình tượng không gian (chủ yếu chỉ quan tâm đến huyền thoại về Tân thế giới và chủ đề “giấc mơ Mỹ”) và các biểu tượng trong tác phẩm nhưng không lý giải nó dưới góc độ huyền thoại mà chủ yếu vận dụng các học thuyết văn hóa – xã hội để giải mã ý nghĩa của hiện tượng này

Trên cơ sở chọn lọc, tiếp thu thành tựu của những nghiên cứu đi trước, chúng tôi đề xuất một hướng tiếp cận để làm rõ chủ đề tìm kiếm tâm linh trong tác phẩm: tiếp cận từ góc độ huyền thoại

4 Phương pháp nghiên cứu

Từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của đề tài, chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phê bình huyền thoại: Đây là phương pháp được chúng tôi vận

dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài Hệ thống huyền thoại, huyền tích, cổ mẫu (với tư cách là motif, biểu tượng) trong tác phẩm xoay quanh vấn đề bản thể của thế giới và bản ngã của con người trong bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc biệt của nước Mỹ những năm 60 Ở đây chúng tôi đi theo con đường của nhà phê

1 Derrida creates a gap between thinking and meaning, because of the inadequacy of language […]

Auster’s characters are the victims of such gaps The “absent father” makes it possible for such gaps to occur, which correlates with Lacan’s and Derrida’s theory Characters cannot attain a full personality and identity, which links to Lacan’s theory [122]

Trang 27

bình huyền thoại Gilbert Durand: Phê bình huyền thoại là phân tích văn bản để tìm

ra được những chuyện kể nằm bên dưới chuyện kể và gắn liền với ý nghĩa của mọi

chuyện kể, từ đó tiến hành ba giai đoạn của phương pháp là một bản kê những chủ

đề huyền thoại, những tình huống phối hợp với các nhân vật và các trang trí, cuối cùng, sự đối chiếu những bài học của huyền thoại với những huyền thoại khác thu ộc một thời đại hay một không gian văn hóa khá xác định [81; 23] Chúng tôi

cũng vận dụng cả hai nhánh của phê bình huyền thoại là nhánh phê bình nghi lễ (ritual) xuất phát từ lý thuyết của nhà nhân học người Anh J.G.Frazer hoặc nhánh phê bình cổ mẫu (archétype) dựa trên học thuyết “cổ mẫu” của nhà tâm lý học Thụy

Sĩ C.Jung để tìm hiểu về các motif, biểu tượng, cổ mẫu xuất hiện trong tác phẩm Nhằm định hướng nghiên cứu, chúng tôi đã đề xuất một cách gọi cho huyền thoại

trong Moon Palace là huyền thoại trong thế kết nối giữa tính nguyên hợp và tính liên văn bản

Phương pháp văn hóa – lịch sử: Bên cạnh phương pháp phê bình huyền

thoại, phương pháp văn hóa – lịch sử được xem như phương pháp nghiên cứu chính

của đề tài Vì Moon Palace chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, lịch sử Mỹ (đời sống

của người da đỏ, những cuộc nội chiến, chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam, đời sống tinh thần của nước Mỹ hiện đại những năm 60…) nên việc tìm hiểu tác phẩm dựa vào phương pháp văn hóa – lịch sử là cần thiết Qua đó, chúng tôi sẽ chỉ ra sự soi chiếu và tương tác giữa huyền thoại và lịch sử trong tác phẩm như một đặc trưng

của huyền thoại trong Moon Palace và như một con đường để nhân vật thực hiện

những cuộc hành trình tìm kiếm tâm linh trong bối cảnh một nước Mỹ hiện đại và trong mối liên hệ giữa nước Mỹ hiện đại với đời sống tâm linh truyền thống của nước Mỹ

Phương pháp so sánh: Vì vấn đề nhân dạng, bản thể, tìm kiếm tâm linh là

một chủ đề xuyên suốt trong sáng tác của Auster nên khi nghiên cứu đề tài Huyền

thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh trong Moon Palace của Auster chúng tôi

có sự liên hệ, so sánh với các tiểu thuyết khác của Auster Bên cạnh đó, chúng tôi

Trang 28

cũng so sánh huyền thoại trong tác phẩm với huyền thoại của Kafka và so sánh

Moon Palace với một số tác phẩm của các nhà văn khác

Ngoài những phương pháp chính trên, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thống kê và một số phương pháp bổ trợ

Phương pháp thống kê: Với một tác phẩm có tính liên văn bản và hệ quy

chiếu đến nhiều lĩnh vực bao gồm cả hội họa, âm nhạc, triết học, thiên văn học, vật

… như Moon Palace, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê trong quá trình

xác định các “trích dẫn” từ những tác phẩm khác, tên của các nhà văn, nhà khoa học, nhà triết học được nhắc đến trong tác phẩm cũng như tập hợp dẫn chứng để lập bảng thống kê

5 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn

Như chúng tôi đã đề cập trong lịch sử vấn đề, các hướng tiếp cận Moon

Palace nói riêng, tiểu thuyết Auster nói chung đa phần đi từ thi pháp thể loại, từ loại hình nhân vật, từ những đặc trưng hậu hiện đại Vấn đề nhân dạng, bản thể, sự tìm kiếm tâm linh thường chỉ được nhìn nhận như một chủ đề xuyên suốt trong nhiều tiểu thuyết Auster và chủ yếu được khai thác dưới góc độ tâm lý học, xã hội học chứ không được xem xét dưới góc độ huyền thoại

Đề tài Huyền thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh trong Moon Palace

của Paul Auster được thực hiện nhằm đề xuất hướng tiếp cận tác phẩm từ góc độ

huyền thoại để làm rõ mối liên hệ giữa huyền thoại và vấn đề nhân dạng, bản thể, sự tìm kiếm tâm linh trong tác phẩm

Tuy luận văn không hướng tới khảo sát các đặc trưng hậu hiện đại trong tác phẩm nhưng, theo chúng tôi, hướng tiếp cận từ góc độ huyền thoại cũng góp phần chỉ ra được những đặc trưng hậu hiện đại trong tác phẩm (mối liên hệ giữa các huyền thoại, huyền tích, cổ mẫu như một biểu tượng, một motif với hiện tượng nhân vật phân thân; không gian phân lập; hiện tượng huyền thoại hóa các sự kiện, hình tượng trong văn hóa đương đại và giễu nhại, “lật đổ” chính những sự kiện, hình tượng huyền thoại hóa đó; tính liên văn bản; sự lắp ghép; sự nhại phỏng; giải cấu

Trang 29

trúc; giải trung tâm…) Quan trọng hơn, hướng tiếp cận này còn cho thấy mô hình quan niệm về con người và thế giới, đặc biệt là mô hình tâm thức sáng tạo của người nghệ sĩ, được thể hiện trong tác phẩm – cơ sở của tính chất siêu hư cấu (metafiction) và cảm quan truy tầm (chủ thể của nó là nhân vật, tác giả và cả độc

giả) luôn đậm nét trong Moon Palace

Nếu luận văn đạt được mục đích trên thì có thể xem như đóng góp của công trình nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mong muốn luận văn có thể góp phần, tuy nhỏ, vào việc nghiên cứu Paul Auster ở Việt Nam, vốn còn chưa toàn diện

và chủ yếu tập trung vào tính chất trinh thám hậu hiện đại, tính chất ngẫu nhiên và

nghệ thuật tự sự trong các tiểu thuyết Thành phố thủy tinh, Những bóng ma, Căn

phòng khóa kín, Nhạc đời may rủi

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm

Trang 30

CHƯƠNG 1: HUYỀN THOẠI VÀ NHÂN VẬT

TÌM KIẾM TÂM LINH

1.1 Khái quát về phương thức huyền thoại trong Moon Palace

Kinh Phúc Âm nói đến tuổi thơ như một trạng thái thiên đàng: Kẻ nào không

trở thành như những trẻ thơ; kẻ đó sẽ không được vào Nước Thiên đàng [20; 947]

Ai cũng một lần muốn ở lại tuổi thơ, một thiên đàng rỡ ràng đã mất Sức hấp dẫn của huyền thoại đối với văn chương cũng giống như thế bởi nó là cái mang tải ký ức toàn nhân loại trong buổi ấu thơ của loài người

Những nỗ lực định nghĩa huyền thoại cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ Trong lúc các nhà nghiên cứu tranh luận về một nội hàm thống nhất thì huyền thoại vẫn tiếp tục sống đời sống của nó trong văn học: các nhà văn của nhiều thời đại đã lặng

lẽ trả lời họ hiểu huyền thoại là gì thông qua những sáng tác của mình Rõ ràng, cách trả lời ấy cho thấy hai điều: thứ nhất, huyền thoại được sử dụng như một ý đồ nghệ thuật; thứ hai, văn học có nhu cầu mượn những thực tại đã mất của huyền thoại để nói về cái thực tại đang hiện hữu và cái thực tại của tương lai

Có thể nói đến một chủ nghĩa huyền thoại trong văn học thế kỷ XX: “Chủ

nghĩa huyền thoại” là một hiện tượng đặc trưng của văn học thế kỷ XX cả với tư cách một thủ pháp nghệ thuật cả với tư cách một biện pháp cảm thụ thế giới đằng sau thủ pháp đó […] [67; 403] Là một kỹ thuật sáng tác và một cách cảm thụ thế

giới, cuộc chuyển hóa của huyền thoại vào văn học có thể diễn ra trên bình diện bộ phận (một hình tượng nghệ thuật, một biểu tượng, một motif…) hay toàn bộ tác phẩm (kiểu tư duy, chủ đề, kết cấu, mô hình, cấu trúc…) Và trong thế cách đó, mối duyên của huyền thoại với văn học hậu hiện đại càng trở nên sâu sắc: Nếu với đặc điểm là tính nguyên hợp (syncretism), huyền thoại có thể dung hợp không tách biệt nghi lễ, ma thuật, nhiều loại hình nghệ thuật, nhiều phương thức trần thuật thì sự chuyển hóa của nó vào tác phẩm văn học cũng có một đời sống rộng lớn như vậy, đặc biệt khi kết hợp với những đặc điểm của văn học hậu hiện đại: cảm quan đa trị, tương tác thể loại, lồng ghép thể loại, thủ pháp nhại phỏng, cắt dán, tính liên văn

bản… Huyền thoại trong Moon Palace là sự kết nối giữa tính nguyên hợp và tính

Trang 31

liên văn bản, liên kết với những tư liệu văn học, những học thuyết tôn giáo, triết học, thậm chí cả khoa học Đó là một kiểu huyền thoại mở, có tính khả biến và tính tương tác cao Đặc biệt, khi kết hợp với cảm quan về cái ngẫu nhiên và cảm quan

“trò chơi” đậm nét trong Moon Palace, sự nối kết với huyền thoại tìm thấy ở những

nơi không ngờ tới: một cái khăn Navaho, một bao thuốc lá Raleigh, một cái bàn hình bán nguyệt, một bộ phim, một bản nhạc, một địa danh, một cuốn sách, một bức tranh, một biển hiệu, một cái tên, một phát minh khoa học, một lý thuyết triết học, một kẻ lang thang, một hang đá, một cái hồ, một khu phố, một nơi xa lạ Dường

như thế giới của Moon Palace đã tìm thấy mình trong câu nói của R Barthes: Vậy

tất cả đều có thể là huyền thoại chăng? Phải, tôi tin như thế, bởi vũ trụ có tính chất khơi gợi vô cùng tận [11; 289], và cả trong sự “chơi đùa” với huyền thoại của James

Joyce: […] Joyce “chơi đùa” rất tự do với tư liệu huyền thoại, kết hợp một cách lạ lùng những huyền thoại của các nền văn hóa khác nhau cũng như những hồi ức văn học và huyền thoại, những học thuyết tôn giáo triết học và những lý thuyết khoa học

[67; 445] Thế giới của Moon Palace giống như một cuốn sách, như một văn bản và

sự chuyển hóa của huyền thoại vào đó thực sự là một cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, điều này thể hiện rõ rệt ở bối cảnh lịch sử, hình tượng nhân vật và hình tượng không gian: mỗi một lựa chọn lịch sử lại kéo theo hàng loạt sự kiện khác, mỗi một cuộc đời có thể thấy mình trong vô vàn cuộc đời khác của nhiều thời đại, mỗi một không gian lại mở ra vô vàn những mảnh vỡ không gian khác của nhiều vùng văn hóa Không chỉ là một thủ pháp đắc dụng cho việc miêu tả thế giới, huyền

thoại trong Moon Palace còn là sự tư duy về thế giới (“bản đồ” tâm hồn nhân vật,

mô hình thế giới), điều đó thể hiện trong kết cấu của tác phẩm Bên cạnh đó, với mối quan tâm thường trực về ngôn ngữ và công việc sáng tác trong những tiểu

thuyết Paul Auster, trong Moon Palace còn có hiện tượng dùng huyền thoại để lý

giải huyền thoại (có thể xem như một hình thức của metafiction – siêu hư cấu): tác phẩm cho thấy huyền thoại đã đi vào văn học như thế nào, cái đường dây tâm lý của

nó hình thành như thế nào trong vô thức người sáng tác là những nhân vật nhà văn Bằng cách này, Paul Auster đã động chạm đến vấn đề mà văn học hậu hiện đại luôn

Trang 32

quan tâm: tái hiện lại sự sinh thành của tác phẩm; lấy sáng tác tiểu thuyết làm đề tài cho tiểu thuyết

Không dựa vào cái kỳ ảo để tạo không khí bí ẩn cho tác phẩm, huyền thoại

của Paul Auster phần nào giống với chủ nghĩa hiện thực huyền thoại1 của Kafka: không có yếu tố kỳ ảo nhưng vẫn gợi lên được không khí hoang mang rợn ngợp của nhân sinh và cái gánh nặng của tồn tại Có lẽ bởi bản thân cuộc sống này đã là kỳ ảo rồi, và trên những con đường New York, những số phận trong cuộc sống đó, dù là

kẻ lang thang, người điên, phế nhân hay kẻ lưu vong, đều có thể kể cho ta nghe những câu chuyện lạ lùng ám ảnh và buồn bã đến kinh người mà trong đó ta nhận ra

hình bóng của chính mình và nhân loại Moon Palace không có cái kỳ ảo, chỉ có

những trùng lặp ngẫu nhiên đôi khi đem đến hạnh phúc và đôi khi đẩy con người

vào đáy sâu tuyệt vọng Nhân vật của Moon Palace dù tìm về huyền thoại nhưng

trước sau vẫn phải đối mặt với một thế giới luôn luôn biến chuyển không ngừng, dẫu văn minh và hiện đại nhưng lại khiến con người hoang mang và khó hiểu hơn

cả những điều huyền bí bất khả tư nghì trong thế giới huyền thoại xa xưa Trong lúc

thế giới kỳ dị này vẫn trôi lăn tiếp tục, các nhân vật trong tiểu thuyết Người trong bóng tối của Paul Auster xem câu thơ đó của nữ thi sĩ Rose Hawthorne như một

hình ảnh về bản mệnh của thế giới này Thế giới vẫn trôi lăn tiếp tục, và con người vẫn phải sống cuộc đời mình, dù là cuộc đời của một mảnh vỡ, một con rối hay một bản ngã đích thực

Dù mang hơi hướng huyền thoại của Kafka nhưng, khác với cách xây dựng

một thế giới mơ hồ về không gian và thời gian của Kafka, thế giới trong Moon

Palace lại rất xác thực Trong cuốn tiểu thuyết mang dáng dấp một bản tự thuật,

một tư tiểu thuyết2

y, cảm hứng về lịch sử xuyên suốt tác phẩm Lịch sử và huyền thoại soi bóng vào nhau, phóng chiếu lên hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật Lịch sử được huyền thoại hóa và huyền thoại tìm thấy sự tồn tại của nó trong lịch sử, trong mỗi thân phận con người chứ không chỉ là một huyền thoại gán ghép,

1 Thuật ngữ của R Garaudy

2 Shishosetsu (tiểu thuyết tôi): tiểu thuyết viết ở ngôi thứ nhất, một thể loại của văn học hiện đại Nhật Bản

Trang 33

quy đồng tất cả Cho nên, những trang văn của Paul Auster, đặc biệt là trong Moon

Palace và Người trong bóng tối, dù mang không khí huyền thoại và những kỹ thuật

viết hậu hiện đại nhưng vẫn hướng về một thế giới hiện hữu và không bỏ quên những thân phận con người

Thuật ngữ huyền thoại (myth) khởi đi từ gốc từ tiếng Hy Lạp mythos (có

nghĩa là lời nói tối nghĩa, lời nói bí ẩn) Sử gia Hy Lạp cổ Hérodote đã phân biệt

mythos như là sự đối lập giữa cái không rõ thực hư, cái thuộc về tâm linh với logos

như là cái xác tín, có thể kiểm chứng, cái thuộc về lý trí Sau này R Garaudy cũng

từng phát biểu mythos không thể quay về với logos [11; 393] Các nhân vật trong

Moon Palace thất bại với lý trí quay về tìm kiếm tâm linh Các nhân vật thường soi chiếu bản thân vào lịch sử, rồi đối chiếu với huyền thoại để bắt đầu một chuyến đi tìm kiếm ý nghĩa đích thực của tồn tại và lấp đầy phần tâm linh hao khuyết của mình Bên cạnh đó, có thể thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu nghiệm (transcendentalism) trong các tiểu thuyết Paul Auster, đặc biệt là trong Moon

Palace Các nhân vật của ông sống cuộc đời giống như trong tác phẩm Walden của

Henry David Thoreau, một bậc thầy của chủ nghĩa siêu nghiệm: sống cô đơn, tách biệt với xã hội và tìm về thiên nhiên như một hình thức của cuộc hành trình khám phá tâm linh (voyage of spiritual discovery)

Đối diện với một thế giới ngổn ngang, các nhân vật của Moon Palace muốn

tìm lại tâm linh bị đánh mất, vì vậy họ đến với những huyền thoại về bản thể của thế giới và bản ngã của con người: huyền thoại du hành, huyền thoại về sự tìm kiếm,

huyền thoại về cái Khác, huyền thoại thiên đường, huyền thoại về tội lỗi và hình

phạt, huyền thoại trăng, huyền tích Babel, huyền thoại về Tân thế giới, các huyền thoại lịch sử…

1.2 Huyền thoại về cái Khác và nhân vật du hành

Xét trên bình diện đề tài, N Frye xem huyền thoại gốc của toàn bộ sáng tác

nghệ thuật là huyền thoại về sự du hành và tìm kiếm: […] N Frye, hướng về tính

toàn nhân loại và tính phổ quát, đã xem thần thoại gốc hoặc thần thoại đầu tiên của

Trang 34

toàn bộ sáng tác nghệ thuật là chuyện kể về người anh hùng lên đường tìm kiếm những phiêu lưu và thắng lợi trở về, tức là cái gọi là “những tìm kiếm thần thoại”

[39; 382] Du hành cũng là một mẫu số chung trong những yếu tố cấu trúc của huyền thoại gốc Slockower cho rằng cấu trúc huyền thoại gốc của văn học nhân

loại gồm bốn yếu tố: “adem” (chuyện về tuổi thơ của người anh hùng), “sự suy

thoái hoặc phạm tội”, “sự phiêu du”, “sự trở về hoặc cái chết” [39; 382] và cấu

trúc này được thể hiện trong toàn bộ văn học, chẳng hạn như trong thần thoại hay

truyện dân gian, trong Thần khúc (Dante), Hamlet (Shakespeare), Faust (Goethe),

Anh em Karamazov (Dostoievski) Đề tài và cấu trúc của huyền thoại gốc về du hành và tìm kiếm đó cũng hiện diện trong Moon Palace của Paul Auster

Người ta vẫn chết vì trái tim tan vỡ Chuyện ấy xảy ra hàng ngày, và sẽ còn như vậy cho tới tận cùng thời gian [5; 109], đó là những dòng ám ảnh trong tiểu

thuyết Người trong bóng tối của Paul Auster Dường như tất cả các nhân vật của

Paul Auster đều mang những trái tim tan vỡ, đều đánh mất mình vì lẽ này hay lẽ khác Họ khát khao tìm lại nguồn gốc, vị trí cùng ý nghĩa đích thực của mình trong

cuộc đời, điều mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là sự kiếm tìm nhân dạng (identity)1

Tiểu thuyết của Paul Auster nói đến du hành và kiếm tìm như một định mệnh mà con người không ngừng đeo đuổi

Du hành là một trong những đề tài cổ xưa nhất của văn học nhân loại Từ những nghi lễ thờ cúng, một hình thức sinh hoạt văn hóa đầu tiên của loài người,

cuộc hành trình đã xuất hiện như một biểu tượng trong bài ca Dithyrambos Điều lạ

lùng là ở bài ca thờ cúng thần rượu nho Dionysos này ngay cả sự ra đời của con

người cũng được xem như một chuyến du hành: Dithyrambos có nghĩa là đi qua hai

cửa (di: hai; thyra: cửa; ambos: đi qua) Con người bước qua hai cửa, cửa của người

1 Thuật ngữ này thường được các nhà nghiên cứu Việt Nam dịch là “nhân dạng” Theo chúng tôi, có lẽ nên

dịch identity là “bản sắc” thì phù hợp hơn bởi trong identiy không có gốc từ nào liên quan đến chủ thể, đến con người (“nhân”) Hơn nữa, trong tiểu thuyết Moon Palace nói riêng, tiểu thuyết của Auster nói chung, vấn

đề không phải chỉ là tìm kiếm một sự xác định (theo nghĩa căn cước) đối với một người (tức “nhân dạng”)

mà còn là một sự xác định đối với lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, văn học

Trang 35

cha và cửa của người mẹ, để đặt chân vào cuộc đời Cái suy nghiệm thi vị đó hẳn là vẫn chưa cũ đối với nhân loại ngày nay

Kiểu nhân vật lang thang, nhân vật lưu đày trở đi trở lại trong văn học cũng xuất hiện sớm nhất trong những huyền tích tôn giáo về tội lỗi và hình phạt: Adam

và Eva phải rời bỏ vườn địa đàng để xuống trần gian vì mắc tội tổ tông Cain giết

em trai Abel nên phải gánh chịu hình phạt bị mặt đất chối từ, luôn lang thang không chốn nương thân

Không chỉ có phương Tây, phương Đông cũng quan tâm đến ý nghĩa của việc du hành như cuộc đi tìm chân lý và thụ pháp Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trong ba nền văn minh lớn thời cổ trung đại, nội dung ý nghĩa, sự sinh thành và lưu truyền những tác phẩm văn học đồ sộ đầu tiên của các dân tộc đều diễn ra trên những hành trình: những tác phẩm kể về cuộc hành trình và có nền tảng là sự tập hợp những huyền thoại, những truyện dân gian được lưu truyền bởi các nghệ nhân

kể chuyện rong Đó là sử thi Odyssey của Hy Lạp với cuộc trở về vĩ đại của Ulysses; sử thi Mahabharata của Ấn Độ với cuộc hành hương lên thiên giới; tiểu thuyết Tây du ký của Trung Quốc với chuyến thỉnh kinh nhuốm sắc màu huyền ảo

Odyssey đã chứng minh một định lý của cuộc sống mà sau này, trong Bí ẩn của

những siêu mẫu, Carl Jung đã nhắc lại: Tha phương là cay đắng [72; 82] Mahabharata và Tây du ký cùng nói đến một mơ ước triền miên của con người: sự khai tâm, sự trở về với bản nguyên thánh thiện Sự trở về, lạ thay, mới chính là khao khát muôn đời của lữ nhân

Bước vào chuyến du hành, lữ nhân phải thực hiện một loạt những lựa chọn

và tìm kiếm Đâu phải ngẫu nhiên mà ký ức nhân loại lưu giữ hình ảnh nữ thần Hecate nơi ngã ba đường, một ám dụ về sự nối kết giữa lựa chọn và số phận: Hecate được xem là biểu trưng của vô thức, nữ thần của trăng, nữ thần âm ty, nữ thần của

những ngã rẽ Nàng quấn trên đầu một vòng hoa hồng có năm lá – con số của sự

hoàn thành, đánh dấu sự khởi đầu của một chu kỳ mới [20; 430], bởi lẽ bước đến

ngã rẽ là bước đến những lựa chọn có thể làm thay đổi về nhận thức, về tâm linh:

Trang 36

[…] ở mỗi ngã rẽ cần phải có một quyết định, xác lập không chỉ một hướng nằm ngang trên mặt đất mà, sâu xa hơn, cả hướng thẳng đứng về phía này hoặc phía kia của những cấp độ sinh tồn được chọn lựa [20; 392] Tuy nhiên, trong những chuyến

viễn du của huyền thoại, huyền tích tôn giáo và những tác phẩm văn học ở buổi đầu văn minh nhân loại, kẻ du hành dù trải qua muôn vàn gian khổ nhưng vẫn có một đích đến chắc chắn, một mục tiêu được định hướng ngay từ đầu Trong tác phẩm

của Paul Auster nói chung và trong Moon Palace nói riêng, nhân vật du hành không

có một xác tín hay giáo điều nào cả; lý trí ở đây là vô vọng: những chuyến đi thì bất tận, đích đến thì chưa định hình và các nhân vật cho đến cuối cùng đều là những kẻ trắng tay, mất hết mọi liên hệ với đời sống và xã hội Rốt cuộc, những tìm kiếm hay lựa chọn của nhân vật để trở về với bản thể đích thực của mình không có một đấng bậc nào soi lối mà tự bản thân phải trầm luân trong những bi kịch nhân sinh: Nashe

chết trong một tai nạn khủng khiếp sau khi cảm nghiệm cái nghiệt ngã của nhạc đời

may rủi; Quinn lạc lối trong một thành phố thủy tinh; Lam hư nát ngay từ buổi ban đầu [3; 304] như những bóng ma của New York; nhân vật “tôi” bất lực trước một căn phòng khóa kín và Marco Fogg luôn tối giản đời mình từ khi thấy Moon Palace

như một điềm triệu từ trên trời rơi xuống

Tràn ngập những nhân vật du hành, Moon Palace tựa một trục chính mà trên

đó những huyền thoại và những motif cổ xưa của văn học nhân loại, như motif lưu đày, motif lang thang, motif tội lỗi và hình phạt, sống dậy và được lý giải bằng một ánh sáng mới, qua đó đặt ra những vấn đề mới về bản thể của con người Đó không chỉ là cuộc kiếm tìm nhân dạng của nhân vật mà còn là cuộc kiếm tìm nhân dạng của lịch sử, ngôn ngữ và văn học Và tất cả những cuộc kiếm tìm đó được nối kết

bởi huyền thoại về cái Khác

1.2.1 Cái Khác – một phạm trù cơ bản của tư duy và văn hóa phương Tây

Cái Khác (tiếng Anh: the Other, có thể dịch là: khác, cái khác, kẻ khác, tha

nhân) có lẽ là một phạm trù dung chứa trong nó tinh thần của hàng ngàn năm tôn

Trang 37

giáo, triết học, các học thuyết văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và văn học phương Tây

Nó đã sống một đời sống huyền thoại

Phạm trù cái Khác có nguồn gốc từ huyền tích kinh thánh Cái Khác chính là cội nguồn của sự sáng tạo: Chúa, chính là “Người Khác” cao nhất, tự đủ với chính

mình, nhưng trong tình yêu vô tận của Người, Người đã tạo ra con người theo hình ảnh của Người và giống như Người, bằng ngay việc đó tạo ra Cái Khác Chúa là

Kẻ Khác đối với con người, và ngược lại, Chúa, vốn là vô tận, vừa là rất khác vừa

là rất gần đối với con người [50; 4] Sau đó, Chúa tạo ra Eva từ xương sườn của

Adam Eva là cái Khác đối với Adam, và từ sự khác nhau giữa họ, họ hoàn thiện

cho nhau để làm nên lứa đôi sinh sôi, nhân lên, và như vậy tham gia vào sự sáng tạo [50; 4] Chúa và con người, Adam và Eva, bản ngã và tha nhân, đó là nguồn gốc

của mối quan hệ với Kẻ Khác: Kẻ Khác giống như tấm gương soi lại ta cho chính

ta Hắn khiến cho ta có ý thức về ta, […], và cho phép ta là chính ta với sự khác ta

[50; 4] Cũng có thể coi đây là nguyên lý của sáng tạo nghệ thuật: tạo ra cái Khác –

một thế giới khác, một nhân loại khác – có mối liên hệ với thế giới và nhân loại đang hiện hữu

Tội lỗi và hình phạt bị đuổi khỏi thiên đường của Adam và Eva còn là một

biểu tượng về cảnh ngộ bi đát của con người: Từ “người xa lạ” tượng trưng cho

cảnh ngộ của con người nói chung Thực vậy, Adam và Eva khi bị đuổi ra khỏi Thiên đàng là rời xa quê hương và từ khi đó, đã ở tình trạng của người xa lạ, người

di trú [20 ; 676] Freud gọi bị trục xuất khỏi thiên đàng là huyền thoại nổi tiếng về sự

đánh mất [2; 78], từ đó, con người đánh mất chính mình và trở thành kẻ Khác ngay

trên xứ sở của mình: Vì mỗi người trong chúng ta đã đi vào vũ trụ này như đi vào

một thành phố xa lạ, trước khi ra đời đã chẳng có phần trong đó và khi đã bước vào thì là người khách qua đường nghỉ trọ cho tới khi đi hết quãng đời đã dành cho mình… Nói cho thực chặt chẽ, chỉ có Chúa Trời là một cư dân [20; 676] Đây là

mạch nguồn của hình tượng con người hành hương trong văn học: một kẻ cảm thấy

xa lạ nơi hạ giới tìm về một quê hương trên cõi trời, một thiên đường đã mất, vì nói như Hoelderlin thì nếu không tìm lại được “thể tính quê hương”, trần gian sẽ chỉ là

Trang 38

nơi đất trích Bên cạnh đó, huyền tích này còn ám chỉ việc con người được xem xét trong thế lưỡng phân Trong con người, một tâm linh toàn vẹn tồn tại song song và

đối lập với cái tôi hao khuyết, một cái Khác xa lạ, bí ẩn và chưa hoàn chỉnh: Người

xa lạ cũng còn là một phần trong bản thân mỗi con người, hãy còn đang thất thường, chưa đồng hóa, trên con đường nhận biết chính mình [20; 677] Vì vậy, có

những huyền tích Kinh thánh kể lại câu chuyện về một người gặp gỡ chính cái tôi

đó trên con đường thực hiện tâm linh, đi tìm Thượng đế, từ đó hoàn thiện tâm linh

của mình, chẳng hạn câu chuyện trong kinh Talmud của Do Thái giáo: […] kinh

Talmud kể chuyện một người đàn ông, trong lúc đi tìm Thượng Đế, đã gặp chính mình [97] Cái ý tưởng con người là kẻ Khác đối với chính bản thân mình có mạch

nguồn huyền thoại này đã được nhấn mạnh như một nỗi ám ảnh trong văn học phi

lý, văn học hiện sinh và cả văn học hậu hiện đại

Trên bình diện văn hóa – lịch sử, phạm trù cái Khác thể hiện cái nhìn lịch sử

duy lý tính của phương Tây về mối quan hệ giữa phương Đông và phương Tây Ban đầu đây chỉ là khái niệm có tính địa – văn hóa bắt nguồn từ sự phân chia lãnh thổ trên vùng Hy Lạp cổ, về sau đã trở thành một khái niệm mang tính xã hội của chủ nghĩa trung tâm luận nhằm huyền thoại hóa sức mạnh của phương Tây và ấn định

số phận của phương Đông cùng các dân tộc khác như một kẻ bị chinh phục Với R

Barthes, phương Đông là cái Khác xa lạ đối với phương Tây và đối diện với cái xa

lạ, Thể chế chỉ có hai cách cư xử, cả hai đều què quặt: hoặc thừa nhận nó như con rối múa may, hoặc xem nó chỉ như ánh phản chiếu của phương Tây [11; 249] Nhà

lý luận hậu thực dân Edward Said cho rằng phương Đông thực chất là một khái

niệm ảo do phương Tây đặt ra để định danh một “Kẻ Khác” (the Other) trong thế tương quan kẻ mạnh người yếu, kẻ chinh phục và người bị chinh phục, kẻ khai sáng

và người được khai sáng [Dẫn theo 103] Việc giải thiêng quan niệm này thường đi theo hướng “viết lại” khái niệm phương Đông hoặc biếm nhại – lật lại quan hệ Đông – Tây hay sử dụng dụ ngôn để bóc trần và lật lại những “huyền thoại” (myth)

đã hình thành và ăn sâu vào đời sống văn hóa bản địa trong quá trình thực dân hóa

[Dẫn theo 103] Phương Tây quả thực đã cho mình cái quyền của Adam, quyền định

Trang 39

danh mọi sự, điều này thể hiện hết sức sâu sắc trong Moon Palace qua hình tượng

nhân vật di trú

Phạm trù cái Khác cũng chứng tỏ quyền lực của nó trong lĩnh vực ngôn ngữ

và văn học Không chỉ trong hội họa hiện đại con người mới đánh mất vai trò trung tâm và trở thành một chi tiết trong bố cục, được xử lý như là kiến trúc, văn học cũng có thể biến con người thành ngang hàng với đồ vật, chỉ đơn thuần là một khối chiếm chỗ trong không gian, chẳng hạn trong kịch của Ionesco, tiểu thuyết của A Robbe-Grillet Con người đánh mất vai trò chủ thể trong thế giới đồ vật, thậm chí

còn trở thành đồ vật-người, trở thành một cái Khác Ngay cả những thứ thuộc về

con người, được xem là đặc trưng của con người như ngôn ngữ cũng có thể biến

con người thành cái Khác: […] khám phá của thế kỷ XX là: ngôn ngữ chính là bản

chất phi nhân của con người Ngôn ngữ là thứ chia cắt con người, khiến cho con người trở nên khác với chính nó (Freud, Lacan), con người không bao giờ có ngôn ngữ như là “của riêng” mà con người luôn xa lạ với ngôn ngữ (Derrida, Deleuze)

[…] [99] Martin Heidegger từng mỉa mai về số phận của loài người: con người tưởng là mình làm chủ ngôn ngữ nhưng hóa ra ngôn ngữ làm chủ con người Con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy, để khẳng định sự tồn tại của một “tôi” nhưng cái “tôi” đó lại không phải là một “tôi” tròn vẹn Lacan, người đưa phân tâm học chuyển sang tính chất hậu hiện đại với việc vận dụng ngôn ngữ học vào phân tâm học, đã phân tích sự nhầm lẫn giữa chủ thể trong ngôn từ với chủ thể phát ngôn

trong câu nói nổi tiếng của Descartes Tôi tư duy tức là tôi tồn tại, trong đó chủ thể

xưng tôi, nhưng không phải đang là tôi thực sự và trọn vẹn [62] Tôi có thể là bất kỳ

một ai đó, tôi không phải là chính tôi, tôi xa lạ với chính tôi, vì vậy mà Lacan nói:

Tôi là kẻ khác1

Phạm trù cái Khác còn là lời giải đáp cho câu hỏi: Đối tượng của văn học là

gì? Từ những năm 2300 trước công nguyên, Aristotle đã đi tìm lời đáp ấy: văn học

là sự mô phỏng (mimesis) đời sống Tuy nhiên, theo Aristotle, tác phẩm không phải

là bản sao chụp, không chỉ miêu tả đời sống như “cái đã là, cái đang là” mà còn có

1Nguyên văn: JE est un autre Đây cũng là câu mà A Rimbaud (1854 – 1891) “định nghĩa” về bản thân

Trang 40

khả năng miêu tả “cái có thể xảy ra”: Nhiệm vụ của nhà thơ không phải ở chỗ nói về

các sự việc đã thực sự xảy ra, mà là nói về cái có thể xảy ra theo quy luật xác suất hay quy luật tất nhiên… Nhà sử học nói về những điều đã xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra [7; 45] Như vậy, thế giới của một tác phẩm

văn học có thể là cái Khác đối với thế giới thực Để làm rõ đối tượng của văn học,

Aristotle còn nói đến sự khu biệt văn học và lịch sử: lịch sử là lĩnh vực của cái đã qua, văn học là lĩnh vực của cái hiện tồn và cái khả hữu Trong lịch sử không có

“nếu như”; nó là một thực tại đã chấm dứt Trong văn học, mỗi một cái “nếu như” này có thể kéo theo hàng ngàn cái “nếu như” khác; nó là một thực tại không bao giờ kết thúc

Chính vì thực tại được phản ánh trong lịch sử là một thực tại đã được lựa chọn, thực tại được phản ánh trong văn học là một thực tại đa tầng, một thực tại của những khả năng nên trước sự phát triển của khoa học và công nghệ vào đầu thế kỷ

XX với những kiến giải mới mẻ về thế giới, về vật chất, văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác lâm vào cuộc khủng hoảng trong sự hiểu biết cái thực tại và tìm kiếm hình thức biểu đạt Nếu sự xuất hiện của chủ nghĩa lập thể đã cứu hội họa thoát khỏi cuộc khủng hoảng trong việc tái tạo hiện thực thì trong văn học, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện thực

huyền ảo… đã tạo nên một chiều kích mới của hiện thực trong tác phẩm, một thực

tại khác bằng vô thức, trực giác, giấc mơ, ảo giác, cái ngẫu hứng… Với khả năng

tạo nên những thực tại ảo, những thực tại song hành trong tác phẩm, huyền thoại là

một hình thức thể hiện đời sống và con người như một cái Khác đối với chính đời sống và con người: […] Văn chương chỉ bắt đầu trước cái không thể gọi tên, đối

diện với nhận thức về một “cái khác” xa lạ chính ngay với ngôn ngữ đang tìm kiếm

nó [11; 241]

Từ những lễ hội Carnival cổ xưa, khao khát thể nghiệm cái Khác, nhập vai

kẻ khác, sống một cuộc đời khác đã là một tâm lý chung, một nỗi ám ảnh của nhân

loại cho đến ngày nay Cùng với sự thể nghiệm thực tại như một cái Khác, nhân vật trong văn học hiện đại và văn học hậu hiện đại cũng thể nghiệm một cái tôi khác,

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Appignanesi, R. và Gattat, C. (2006), Chủ nghĩa hậu hiện đại nhập môn, Trần Tiễn Cao Cao Đăng dịch, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hậu hiện đại nhập môn
Tác giả: Appignanesi, R. và Gattat, C
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
2. Appignanesi, R. và Zarate, O. (2006), Freud nhập môn, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freud nhập môn
Tác giả: Appignanesi, R. và Zarate, O
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
3. Auster, P. (2007), Trần trụi với văn chương, Trịnh Lữ dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần trụi với văn chương
Tác giả: Auster, P
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
4. Auster, P. (2007), Nhạc đời may rủi, Trịnh Lữ dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc đời may rủi
Tác giả: Auster, P
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
5. Auster, P. (2008), Người trong bóng tối, Trịnh Lữ dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người trong bóng tối
Tác giả: Auster, P
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2008
6. Auster, P. (2009), Moon Palace , Cao Việt Dũng dịch, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Moon Palace
Tác giả: Auster, P
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
7. Aristote, Nghệ thuật thi ca (2007), nhiều người dịch , NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote, Nghệ thuật thi ca
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2007
8. Bakhtin, M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu, NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin, M
Nhà XB: NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao
Năm: 1992
9. Bakhtin, M. (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin, M
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Borges, J.L. (2001), Tuyển tập (Antología), Nguyễn Trung Đức tuyển và dịch, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập (Antología)
Tác giả: Borges, J.L
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2001
11. Barthes, R. (2008), Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Barthes, R
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
12. Lê Huy Bắc (1999), Ernest Hemingway núi băng và hiệp sĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ernest Hemingway núi băng và hiệp sĩ
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
13. Lê Huy Bắc (2004), Phê bình – lý luận văn học Anh – Mỹ, tập 1 , NXB Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình – lý luận văn học Anh – Mỹ, tập 1
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
14. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García Márquez , NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García Márquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
15. Lê Huy Bắc (2009), “Paul Auster và Nhạc đời may rủi”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học , (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paul Auster và "Nhạc đời may rủi"”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2009
16. Campagnon, A. (2006), Bản mệnh của lý thuyết, Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào dịch, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lý thuyết
Tác giả: Campagnon, A
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
17. Calvino, I. (2009), Nam tước trên cây, Vũ Ngọc Thăng dịch, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam tước trên cây
Tác giả: Calvino, I
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
18. Calvino, I. (2011), Nếu một đêm đông có người lữ khách, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếu một đêm đông có người lữ khách
Tác giả: Calvino, I
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2011
19. Trần Văn Cơ (2009), Ẩn dụ tri nhận , NXB Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2009
20. Chevalier, J và Gheerbrand, A. (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới , NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier, J và Gheerbrand, A
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng hiệu - huyền thoại và hành trình tìm kiếm tâm linh trong moon palace của paul auster
Bảng hi ệu (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w