1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning pbl)

151 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Xây dựng tiến trình hướng dẫn HS học tập chương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 ban cơ bản theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề - PBL để giúp HS lĩnh hội kiến thức thô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

HÀ THỊ LAN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP HỌC CHƯƠNG HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ - VẬT LÍ 12 THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP TRÊN CƠ SỞ VẤN ĐỀ

(PROBLEM BASED LEARNING - PBL)

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

HÀ THỊ LAN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP HỌC CHƯƠNG HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ - VẬT LÍ 12 THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP TRÊN CƠ SỞ VẤN ĐỀ

(PROBLEM BASED LEARNING - PBL)

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ XUÂN HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Đỗ Xuân Hội, người

đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong khoa Vật lí của trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức vô cùng hữu ích Đó chính là cơ sở, tiền đề giúp tôi thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận văn

Tôi chân thành cám ơn phòng Sau Đại Học, trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình tôi học tập ở trường

Trong quá trình làm đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu Trường Trung cấp KT&NV Nam Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi và các em học sinh trường Nam Sài Gòn, đã hợp tác với tôi trong suốt quá trình tôi thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn bên tôi, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá học

Tp HCM, ngày 02 tháng 05 năm 2012

Tác giả

HÀ THỊ LAN

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trên bất

kỳ một công trình nào khác

Tác giả

HÀ THỊ LAN

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt 4

Mở đầu 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Giả thuyết khoa học 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Ðóng góp của đề tài 9

8 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng PBL ở trường TCKT & NV Nam Sài Gòn 9

9 Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ CỦA LÝ LUẬN DẠY - HỌC 12

1.1 Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới 12

1.1.1 Những yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với giáo dục 12

1.1.2 Đường lối, quan điểm chỉ đạo của nhà nước về giáo dục 13

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của việc dạy - học Vật lí ở trường Trung cấp 13

1.3 Những hạn chế của các hình thức giảng dạy truyền thống 14

1.4 So sánh hình thức dạy học truyền thống và dạy học hướng vào người học 16

1.5 Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học 19

1.5.1 Các lý thuyết học tập – cơ sở tâm lý học dạy học 19

1.5.2 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học 22

1.5.3 Một số kỹ thuật dạy học tích cực 25

1.6 So sánh một số phương pháp dạy học 27

1.7 Phương pháp học tập theo PBL 29

1.7.1 Một số định nghĩa về phương pháp PBL 29

1.7.2 Lịch sử của PBL 30

1.7.3 Đặc điểm của PBL 32

1.7.4 Vấn đề trong PBL 35

1.7.4.1 Phân loại vấn đề 35

1.7.4.2 Các đặc trưng của một vấn đề hay 36

1.7.4.3 Thiết kế vấn đề 37

1.7.5 Các bước thực hiện phương pháp PBL 38

1.7.5.1 Khâu chuẩn bị 38

Trang 6

1.7.5.2 Một vài mô hình PBL 40

1.7.6 Ưu – nhược điểm của phương pháp PBL 47

1.8 Các tiêu chuẩn đánh giá thành quả học tập 49

1.9 Kết luận chương 1 56

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG MÔ HÌNH PBL VÀO DẠY HỌC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” VẬT LÍ 12 – BAN CƠ BẢN 57

2.1 Xác định mục tiêu và nội dung kiến thức chương ‘‘Hạt nhân nguyên tử” 57

2.2 Thực trạng việc dạy - học chương ‘‘Hạt nhân nguyên tử’’ ở trường Trung cấp 60

2.3 Áp dụng mô hình PBL vào dạy chương “Hạt nhân nguyên tử” 60

Giáo án buổi thứ nhất 71

Giáo án buổi thứ hai 82

Giáo án buổi thứ ba 88

Giáo án buổi thứ tư 97

Giáo án buổi thứ năm 103

Giáo án buổi thứ sáu 106

2.4 Kết luận chương 2 109

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 110

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 110

3.1.1 Mục đích 110

3.1.2 Nhiệm vụ 110

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 111

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 111

3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 111

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 112

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 112

3.3.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 112

3.3.2.1 Chuẩn bị 112

3.3.2.2 Tiến hành hoạt động dạy trên lớp 113

3.3.3 Quan sát các giờ thảo luận trên lớp của các nhóm 114

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 114

3.4.1 Đánh giá kết quả học tập 114

3.4.2 Nhận xét quá trình học tập của lớp thực nghiệm 115

3.4.3 Xử lí kết quả học tập 116

3.4.3.1 Xử lí kết quả học tập của lớp thực nghiệm 116

3.4.3.2 Xử lí kết quả học tập của học sinh ở nhóm thực nghiệm và đối chứng 119

3.4.4 Kiểm định giả thuyết thống kê 123

3.4.5 Nhận xét kết quả thực nghiệm sư phạm 125

Trang 7

3.5 Kết luận chương 3 126

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

PHỤ LỤC 136

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó, cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng năng lực hành động, tính sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp gắn liền với thực tiễn Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở

Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo trong trường mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống Điều đó có nghĩa là chưa đáp ứng được yêu cầu về phương pháp giáo dục: “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [16]

Đối với trường Trung cấp, những khối, ngành xét tuyển HS chỉ mới tốt nghiệp Trung học cơ sở, HS bắt buộc phải học những môn: Văn, Toán, Vật lí, Hóa học Những môn này được dạy trong 3 năm, theo chương trình SGK (10, 11, 12) ban cơ bản, như đối với Trung học phổ thông, nhằm giúp cho HS có những kiến thức nền cơ bản nhất và giúp cho HS hoàn tất chương trình của bậc phổ thông trước khi lấy bằng Trung cấp Nhưng những môn văn hóa lại được coi là môn phụ và đa số HS không

Trang 10

thích học các môn này mà nguyên nhân chính là các em cảm thấy việc học các môn văn hóa chưa thật sự gắn với thực tiễn, các PPDH của GV chưa tạo hứng thú đối với các em

Thế giới của chúng ta muôn hình muôn vẻ, ẩn trong nó là vô vàn những vấn đề Những vấn đề đó đôi khi không có sẵn phương án giải quyết và cũng không có giải pháp nào lập thành công thức rõ ràng, mà con người thì luôn có nhu cầu tìm hiểu và khám phá thế giới đó Nền giáo dục của chúng ta đang bị đánh giá là xa rời thực tiễn Vật lí là một trong những môn học được coi là gắn liền với thực tiễn nhất Nó là cơ sở của tất cả các ngành khoa học, trước đây Vật lí được gọi là Triết học tự nhiên HS sẽ cảm thấy hứng thú và hiểu bài sâu sắc hơn khi được học kiến thức Vật lí gắn với thế giới thực Là GV giảng dạy Vật lí ở trường Trung cấp, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào

để các em yêu thích môn học, tích cực tham gia tìm tòi và xây dựng kiến thức; làm thế nào để những kiến thức mà GV truyền đạt, các em cảm thấy thật sự gần gũi và cần thiết Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết Đã có rất nhiều phương pháp mới ra đời trong một vài thập niên gần đây, đặc điểm chung của các phương pháp mới đó là dạy học hướng vào người học Một trong các phương pháp mà tôi cho là góp phần đáp ứng được mục tiêu giáo dục đã đề ra, đó

là phương pháp học tập trên cơ sở vấn đề (Problem Based Learning) Với phương pháp này, HS sẽ được cùng nhau tham gia giải quyết những vấn đề của thế giới thực, được

tự lực làm việc trong một môi trường có sự cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa những thành viên của nhóm Mà kỹ năng làm việc nhóm là một trong những kỹ năng vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay Bởi con người sống và làm việc trong xã hội, muốn phát triển thì không thể chỉ biết hoạt động độc lập mà còn luôn có sự liên kết với nhau Đặc biệt, đối với HS trường trung cấp, sau khi theo học ở trường một thời gian ngắn, các em sẽ bước chân vào môi trường làm việc Các kiến thức hàn lâm sẽ mau chóng mai một Điều quan trọng là rèn luyện cho các em kỹ năng tìm hiểu, giải quyết một vấn đề thực tế, kỹ năng làm việc tập thể Phương pháp này lại có nhiều mô hình của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, trong đó bản thân tôi thấy mô hình PBL của Forsyth rất phù hợp với điều kiện học tập của trường tôi đang thực nghiệm Vì vậy, tôi

đã chọn đề tài “Hướng dẫn HS trường Trung cấp học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 theo mô hình Học tập trên cơ sở vấn đề (Problem Based Learning -

Trang 11

PBL)” nhằm phát huy tính tích cực, khả năng hợp tác, khả năng giải quyết những tình huống trong thực tiễn đồng thời nâng cao hiệu quả học tập của HS.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xây dựng tiến trình hướng dẫn HS học tập chương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 ban cơ bản theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề - PBL để giúp HS lĩnh hội kiến thức thông qua việc giải quyết những vấn đề có thật trong thực tiễn, đồng thời rèn luyện cho

HS các kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin và kỹ năng làm việc nhóm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a Đối tượng: - Hoạt động dạy và học môn Vật lí, phần “Hạt nhân nguyên

tử” lớp 12 ban cơ bản đối với HS học năm thứ 3, trường TCKT & NV Nam Sài Gòn Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu phương pháp PBL trong dạy học Vật lý

b Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình ứng dụng mô hình PBL của

Forsyth vào giảng dạy môn Vật lí lớp 12, cụ thể là áp dụng vào dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” xoay quanh vấn đề “điện hạt nhân” cho HS trường TCKT & NV Nam Sài Gòn

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu áp dụng phương pháp PBL vào dạy học một cách hợp lý, không những giúp

HS rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng khai thác, sử dụng thông tin mà còn giúp HS có khả năng giải quyết những vấn đề có thật trong thực tiễn Phương pháp học tập này sẽ phát huy tính tích cực, tự lực học tập của HS đồng thời nâng cao hiệu quả

và giúp HS nắm vững kiến thức hơn

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới PPDH đặc biệt là nghiên cứu phương pháp PBL trong đó có mô hình của Forsyth

Trang 12

- Nghiên cứu chương trình SGK Vật lí 12 –Ban cơ bản

- Soạn thảo tiến trình dạy - học chương VII “Hạt nhân nguyên tử” bằng cách sử dụng mô hình PBL của Forsyth để phát huy tính tích cực, tinh thần hợp tác của HS trong học tập

- Soạn thảo tiêu chí đánh giá phù hợp với phương pháp PBL để đánh giá quá trình và kết quả học tập mà HS đạt được sau khi học xong chương “Hạt nhân nguyên tử”

- Tổ chức TNSP để kiểm chứng giả thuyết

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học nhằm tìm hiểu về các quan điểm dạy học truyền thống và hiện đại Tìm hiểu các phương pháp dạy – học tích cực, phân tích đặc điểm của từng phương pháp để áp dụng có hiệu quả vào việc dạy - học, đặc biệt là phương pháp PBL

- Nghiên cứu chương trình SGK Vật lí lớp 12 ban cơ bản, sách giáo viên, sách tham khảo để xác định nội dung và cấu trúc của kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” mà HS cần nắm vững

- Nghiên cứu luật giáo dục về yêu cầu đối với mục đích, nội dung và phương pháp dạy - học các cấp nói chung và đối với khối Trung cấp nói riêng

b Quan sát, điều tra, phỏng vấn

- Tìm hiểu, đánh giá mô hình PBL của Forsyth thông qua phiếu dự giờ, trao đổi với GV trong tổ

- Sử dụng phiếu điều tra đối với HS để thấy được những khó khăn và nguyện vọng của HS trong học tập để từ đó đưa ra hướng khắc phục bằng cách áp dụng phương pháp PBL

c Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

- Nghiên cứu, khai thác tài liệu liên quan đến việc thiết kế các vấn đề phi cấu trúc

- Thiết kế và tiến hành hướng dẫn HS học tập theo mô hình PBL của Forsyth cho chương “Hạt nhân nguyên tử”

- Chọn mẫu TN ở trường TCKT & NV Nam Sài Gòn Q.8, TP HCM

- Phân tích kết quả đánh giá HS

- Đánh giá tính khả thi của đề tài Đưa ra những nhận xét và kiến nghị sau khi TNSP

d Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả TNSP và kiểm chứng giả thuyết đã đưa ra dựa trên sự khác biệt về kết quả học tập của nhóm TN và lớp đối chứng

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Trên thế giới, phương pháp PBL chủ yếu được áp dụng đối với các trường Đại học và đã khá thành công Ở Việt Nam, PBL chưa được áp dụng rộng rãi Đặc biệt chưa có tài liệu nào trình bày về phương pháp này vận dụng cho trường Trung cấp Luận văn này xây dựng tiến trình học tập theo mô hình PBL của Forsyth đối với chương “Hạt nhân nguyên tử” Vật lí 12 cho HS trường Trung cấp Từ đó, giúp ta có cái nhìn đúng đắn hơn về phương pháp PBL, khái quát và nêu lên được phạm vi áp dụng của phương pháp này

8 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG PBL Ở TRƯỜNG TCKT & NV NAM SÀI GÒN

a Thuận lợi:

- Ban Giám Hiệu trường luôn tạo điều kiện và khuyến khích các GV tích cực sử dụng phương pháp mới trong dạy học

Trang 14

- Trường TCKT & NV Nam Sài Gòn cho HS nghỉ học ngày thứ 5 hàng tuần để các em tham gia rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, Do đó, các em đã quen với cách làm việc nhóm, cách chia sẻ, giúp đỡ nhau trong công việc cũng như trong học tập

- Thư viện trường có trang bị nhiều máy tính kết nối Internet, các em có thể truy cập khi cần thiết Ngoài ra, trường có trang bị hệ thống wifi, chỉ cần mang theo máy tính xách tay, HS có thể truy cập Internet bất cứ lúc nào Hơn nữa, đa số các phòng học đều có trang bị máy chiếu, thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học mà không phải mất thời gian di chuyển HS

b Khó khăn:

- Tư liệu tiếng Việt về phương pháp PBL rất ít, hầu hết bằng tiếng Anh

- Tìm kiếm từng loại vấn đề cho mỗi lần học theo PBL là không dễ dàng

- Học lực HS ở trường Trung cấp còn hạn chế, gây khó khăn trong quá trình HS

tự xử lý thông tin

- Phương pháp đánh giá và thi cử khi áp dụng phương pháp này hoàn toàn mới lạ

và sẽ có nhiều điểm không hoàn toàn tương thích với tiêu chí đánh giá chất lượng HS của nhà trường, của Bộ giáo dục đào tạo và cũng chưa có tiêu chí đánh giá thống nhất cho phương pháp PBL

- PBL hoàn toàn mới mẻ đối với HS trung cấp, đòi hỏi HS nhiều khả năng tìm hiểu, giải quyết vấn đề, làm việc tập thể…

- PBL là một phương pháp học tập mới đối với giáo dục phổ thông ở Việt Nam

Do đó, cơ sở lý luận cần được nghiên cứu thêm Chẳng hạn, phương pháp PBL phù hợp với những môn học cụ thể nào; Đối với từng đối tượng HS, từng môn học cụ thể thì nên lựa chọn quy trình thực hiện PBL với các bước như thế nào là phù hợp; Đối với

bộ môn Vật lí, phương pháp này phù hợp với phần nào của chương trình… Tất cả những vấn đề vừa đề cập ở trên đều chưa có tài liệu nào nghiên cứu một cách hệ thống đầy đủ và cụ thể

Trang 15

- Bản thân tôi chưa có kinh nghiệm về phương pháp PBL, trong khi để vận dụng phương pháp này đòi hỏi phải có một kiến thức chuyên môn rộng và sâu, khả năng quản lý HS tốt, kỹ năng hướng dẫn HS…

9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Mở đầu:

Chương 1: Những cơ sở của lý luận dạy - học

Chương 2: Vận dụng mô hình PBL vào dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử”

Trang 16

CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ CỦA LÝ LUẬN DẠY - HỌC

1.1 Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới

Ngày nay, trên thế giới có rất nhiều PPDH nhưng tất cả các PPDH ra đời đều nhằm mục đích đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục đề ra Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều quan trọng là phải bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn

đề, để từ đó có thể sáng tạo ra những tri thức mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần làm giàu thêm nền kiến thức của nhân loại Vì vậy, trong việc dạy học nói chung

và dạy học Vật lí nói riêng cần phải đổi mới mạnh mẽ PPDH sao cho vai trò tự chủ của HS trong hoạt động xây dựng kiến thức ngày một nâng cao, năng lực sáng tạo của

HS được bộc lộ và ngày càng phát triển Để đạt được điều đó, trong dạy học, ngoài việc giúp HS trang bị kiến thức cho mình, đồng thời còn phải cho HS được rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của thế giới thực, để sau này các

em có thể đáp ứng được những đòi hỏi cao trong thời kỳ mới

1.1.1 Những yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với giáo dục

Sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra những yêu cầu đối với giáo dục về nhiều phương diện Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác, thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc cũng như khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức Vì vậy, giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Mô hình giáo dục “hàn lâm, kinh viện” đào tạo ra những con người thụ động, chạy theo bằng cấp, chú trọng việc truyền thụ những kiến thức lý thuyết xa rời thực tiễn không còn thích hợp với những yêu cầu mới của xã hội và thị trường lao động Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế,

xã hội và thị trường lao động

Trang 17

1.1.2 Đường lối, quan điểm chỉ đạo của nhà nước về giáo dục

Những đường lối và quan điểm chỉ đạo về giáo dục của nhà nước là những định hướng quan trọng cho việc phát triển và đổi mới giáo dục Định hướng mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, phát triển những phẩm chất và năng lực đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và xã hội Định hướng phương thức giáo dục là gắn lý thuyết với thực hành, gắn tư duy với hành động, gắn giáo dục nhà trường với xã hội và gia đình Trong đổi mới PPDH, cần chú trọng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS, chú ý tính phân hoá trong dạy học, phát triển năng lực hành động, tăng cường thực hành, gắn nội dung dạy học với thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Đổi mới PPDH gắn với sử dụng phương tiện dạy học mới và đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS Những quan điểm chỉ đạo này về giáo dục phù hợp với những quan điểm hiện đại, phổ biến và tiến bộ về khoa học giáo dục trong phạm vi quốc tế cũng như phù hợp với những yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xã hội đối với việc đào tạo đội ngũ lao động mới

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của việc dạy - học Vật lí ở trường Trung cấp

Chương trình đào tạo các môn văn hóa ở trường Trung cấp cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực và được xây dựng theo hướng cập nhật những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến liên quan đến ngành nghề đào tạo; chú trọng tính liên thông giữa các trình độ đào tạo và các chương trình đào tạo khác Đó là củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật và hướng nghiệp, đảm bảo hoàn thành nội dung học vấn phổ thông về

tự nhiên, xã hội và con người, gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương

để HS được tiếp tục phát triển và nâng cao các kỹ năng học tập chung và kỹ năng học tập bộ môn, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và đời sống; được củng cố thói quen và phương pháp tự học, năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin, khả năng phát hiện và giải quyết vấn

đề, độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong tư duy và hành động; có hiểu biết và kỹ năng cần thiết về kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp để có thể vận dụng trong cuộc sống lao

Trang 18

động, trong việc lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực của bản thân Cụ thể, đối với bộ môn Vật lí:

- Về kiến thức, kỹ năng

+ Trang bị cho HS những kiến thức Vật lí cơ bản, khoa học, hiện đại, có tính hệ thống, bao gồm: các khái niệm Vật lí, các định luật Vật lí cơ bản, nội dung chính của các thuyết Vật lí, các ứng dụng của Vật lí trong đời sống và sản xuất, các phương pháp nhận thức phổ biến trong Vật lí Bên cạnh đó, cần trang bị cho HS những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng nhằm làm nền tảng cho họ có thể tham gia lao động sản xuất và tiếp tục theo học những chuyên ngành tự nhiên cao hơn ở bậc Đại học hoặc tự bồi dưỡng trong

quá trình lao động sản xuất

+ Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho HS

nắm được những nguyên lí cơ bản về cấu tạo, hoạt động của các máy móc, được dùng

phổ biến trong nền kinh tế quốc dân Có kĩ năng sử dụng những dụng cụ Vật lí, dụng

cụ đo lường, vẽ biểu đồ, xử lí số liệu…

- Về thái độ

+ Tạo sự hứng thú trong học tập môn Vật lí, rộng hơn là lòng yêu thích khoa học + Có ý thức sẵn sàng áp dụng hiểu biết của mình vào các hoạt động gia đình, xã hội để cải thiện đời sống và bảo vệ môi trường

+ Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ và trung thực

+ Góp phần xây dựng cho HS nhân cách đúng đắn và rèn luyện cho HS những phẩm chất cần thiết của một người lao động mới

+ Tinh thần phấn đấu nỗ lực cá nhân cũng như khả năng giao tiếp, làm việc nhóm trong học tập, nghiên cứu

1.3 Những hạn chế của các hình thức giảng dạy truyền thống

Ngày nay, môi trường học tập và giảng dạy đang thay đổi Trong bối cảnh kinh tế hiện tại, môi trường giảng dạy trở nên phức tạp và đa dạng hơn trước với yêu cầu nhấn

Trang 19

mạnh vào việc phát triển các kỹ năng trong chương trình học Các hình thức dạy học truyền thống ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế Nổi bật là những hạn chế sau:

Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, kiến thức ngày càng phong phú trên mọi lĩnh vực Trong khi đó, thời gian học trên lớp là quá ít so với lượng kiến thức HS cần tìm hiểu Giữa GV và HS có ít thời gian để trao đổi, chính vì vậy, HS phải phát triển các kỹ năng tự học để đảm bảo rằng thời gian tự học sẽ trở nên hiệu quả hơn Những hạn chế về thời gian cũng đặt ra thêm các trách nhiệm cho người GV để đảm bảo rằng

họ có thể đưa ra được các chiến lược giảng dạy phù hợp với nhu cầu học tập của HS Các hình thức giảng dạy, hội thảo truyền thống đã không còn phù hợp với tất cả các HS Đối với những bài giảng chỉ chú trọng đến việc đưa thông tin hơn là học tập - những bài giảng đó thể hiện những gì GV thực hiện mà không cần quan tâm đến nhu cầu của người học Mặc dù hầu hết các bài giảng có thể được thiết kế tốt, tuy nhiên, làm sao để hầu hết các HS không bị xao lãng trong tiến trình học thật sự là thách thức lớn đối với việc giảng dạy theo hình thức truyền thống

Hơn nữa, nhiều HS thiếu tự tin để có thể tham gia một cách tích cực trong các buổi học Khi đó, kết quả không thể tránh khỏi đó là các cuộc thảo luận trong buổi học thường có xu hướng lắng dần sau một khoảng thời gian tương đối ngắn Trong những

trường hợp như vậy, các buổi học được tổ chức theo kiểu truyền thống sẽ trở nên rất

dễ dàng thất bại ngay từ trong ý tưởng, sự tương tác giữa GV - HS và HS – HS sẽ dần trở thành môi trường giảng dạy áp đặt, trong đó HS bị nhồi nhét các kiến thức Môi trường học tập trở thành một cuộc “đấu tranh” cho cả GV (đối với những HS không muốn tham gia) và cả HS (đối với sự nhàm chán trong lớp học) Hình thức giảng dạy truyền thống có thể làm HS xa rời khỏi tiến trình học tập hơn là thu hút họ tham gia Không những thế, mối quan tâm về chất lượng giảng dạy cũng có khả năng đến

từ chính người học Với những chi phí học tập ngày càng tăng, HS càng mong đợi để được học tập trong môi trường giảng dạy chất lượng phù hợp với nhu cầu của mình, thay vì phải chấp nhận một cách thụ động bất kỳ những gì được cung ứng

Chính vì những hạn chế trong các hình thức dạy học truyền thống như đã nói ở trên nên ngày nay đã có rất nhiều PPDH mới ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của PPDH truyền thống Đặc điểm chung của các PPDH mới là dạy học hướng

Trang 20

vào người học Ở đó, đặt người học là vị trí trung tâm của việc dạy và học thay vì GV giữ vị trí trung tâm như trước đây

1.4 So sánh hình thức dạy học truyền thống và dạy học hướng vào người học

Khi các hình thức dạy học cổ truyền thể hiện những nhược điểm của nó thì có

nhiều PPDH mới ra đời Các PPDH mới này về cơ bản khác hình thức dạy học cổ truyền từ quan niệm, nội dung, mục tiêu dạy học đến vai trò người dạy, vai trò người học và hình thức đánh giá Có thể so sánh đặc trưng của hình thức dạy học cổ truyền

và các PPDH mới như sau:

Bảng 1.1: Bảng so sánh PPDH cổ truyền với các PPDH mới

Dạy học cổ truyền Các phương pháp dạy học mới

đối phó với thi cử Sau khi

thi xong, những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và

tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho

sự phát triển xã hội

Trang 21

Dạy học cổ truyền Các phương pháp dạy học mới

Toàn bộ hay một phần lớn được tổ chức và trình bày bởi người thiết kế

Hiểu biết của HS: là sự lặp lại và áp dụng vào tình huống đã được thử nghiệm hay để giải quyết các vấn đề

đã được mẫu hóa

Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,

GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm,…;gắn với vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS; gắn với

tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương và gắn với những vấn đề HS quan tâm

Cùng với thầy khẳng định kiến thức lĩnh hội được Hình thành các phương pháp học, tư duy và giải quyết các vấn

đề cụ thể

Trò tự mình tìm ra tri thức bằng hành động tự học là chủ yếu

Ít đến rất ít được tổ chức và trình bày bởi người thiết kế

Hiểu biết của HS: có được là nhờ sự tổng hợp, tái cấu trúc kiến thức khi tham gia giải quyết các vấn đề theo các dữ liệu và điều kiện thực tiễn

Trang 22

Dạy học cổ truyền Các phương pháp dạy học mới

Cố định: Giới hạn trong

bốn bức tường của lớp học,

GV đối diện với cả lớp

Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở

phòng thí nghiệm, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với GV

Vấn đề thường được mẫu

hóa, được cấu trúc rõ ràng

Vấn đề có liên quan đến nội dung học nhưng nảy sinh từ thực tiễn, vì thế thường thiết thân, thiết thực đối với người học

Vấn đề không được mẫu hóa hoặc không được cấu trúc rõ ràng

người học lệ thuộc vào GV

Người học như người tham gia chủ động

Người học được quyết định một phần hay toàn bộ chiến lược học và chịu trách nhiệm một phần hay toàn

GV như huấn luyện viên

GV định hướng nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu

GV không quyết định hay chỉ quyết định một phần chiến lược học

Đánh giá GV độc quyền đánh giá

cho điểm

Kết hợp đánh giá của GV cùng với

HS tự đánh giá, tự điều chỉnh để GV cho điểm

Trang 23

Các PPDH hướng vào người học, về cơ bản, nó ra đời để hạn chế những nhược điểm của dạy học truyền thống Mục tiêu của các PPDH mới này nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học Những hình thức dạy học này còn gọi là hình thức dạy học tích cực Nghiên cứu kỹ các PPDH mới cũng như nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH sẽ là nền tảng và sẽ giúp chúng ta có những định hướng đúng đắn cho việc lựa chọn PPDH phù hợp

1.5 Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học

Các lý thuyết học tập với tư cách là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dạy học Đó là những mô hình lý thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập Các lý thuyết học tập đặt cơ sở lý thuyết cho việc tổ chức quá trình dạy học

và cải tiến PPDH

1.5 1 Các lý thuyết học tập – cơ sở tâm lý học dạy học

Các lý thuyết học tập của tâm lý học dạy học tìm cách giải thích cơ chế của việc học tập, làm cơ sở để tổ chức và thực hiện tối ưu quá trình học tập của HS Có rất nhiều mô hình lý thuyết khác nhau, trong đó có ba nhóm chính là thuyết hành vi, thuyết nhận thức và thuyết kiến tạo

1) Thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov

Nhà sinh lý học người Nga Pavlov là người đầu tiên đã nghiên cứu những dữ liệu khách quan về các quá trình học tập Pavlov đã xây dựng lý thuyết “phản xạ có điều kiện” Với lý thuyết này, lần đầu tiên người ta có thể giải thích cơ chế của việc

học tập một cách khách quan, đó là cơ chế kích thích – phản ứng Tuy nhiên lý thuyết

phản xạ có điều kiện chỉ giải thích cơ sở sinh lý cơ chế của việc học tập, chưa phải một lý thuyết tâm lý học dạy học Các nghiên cứu của Pavlov đã trở thành cơ sở của các lý thuyết hành vi

2) Thuyết hành vi

Dựa trên lý thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov, năm 1913 nhà tâm lý học

Mỹ Watson đã xây dựng lý thuyết hành vi giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập Những đặc điểm chung của cơ chế học tập theo thuyết hành vi như sau:

Trang 24

• Dạy học được định hướng theo các hành vi đặc trưng có thể quan sát được

• Các quá trình học tập phức tạp được chia thành một chuỗi các bước học tập đơn giản, trong đó bao gồm các hành vi cụ thể với trình tự được quy định sẵn Những hành vi phức tạp được xây dựng thông qua sự kết hợp các bước học tập đơn giản

• GV hỗ trợ và khuyến khích hành vi đúng đắn của người học, tức là sắp xếp việc học tập sao cho người học đạt được hành vi mong muốn và sẽ được phản hồi trực tiếp (khen thưởng và công nhận)

• GV thường xuyên điều chỉnh và giám sát quá trình học tập để kiểm soát những tiến bộ trong học tập và điều chỉnh kịp thời những sai lầm

Thuyết hành vi được ứng dụng đặc biệt trong dạy học chương trình hoá, dạy học được hỗ trợ bằng máy vi tính, trong dạy học thông báo tri thức và huấn luyện thao tác Trong đó nguyên tắc quan trọng là phân chia nội dung học tập thành những đơn vị kiến thức nhỏ, tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức, kỹ năng theo một trình tự và thường xuyên kiểm tra kết quả đầu ra để điều chỉnh quá trình học tập Những ứng dụng này của thuyết hành vi đến nay vẫn còn giá trị

3) Thu yết nhận thức

Thuyết nhận thức ra đời trong nửa đầu của thế kỷ XX và phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỷ XX Các đại diện lớn của thuyết này là nhà tâm lý học người Áo Piagiê cũng như các nhà tâm lý học Xô viết như Vưgôtski, Leontev…

Thuyết nhận thức xây dựng lý thuyết về sự học tập nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúc nhận thức đối với sự học tập

Những đặc điểm cơ bản của học tập theo quan điểm của thuyết nhận thức là:

• Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giới thực Vì vậy, để đạt được các mục tiêu học tập, không chỉ kết quả học tập mà cả quá trình học tập và quá trình tư duy cũng là điều quan trọng

• Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy, HS cần được tạo cơ hội hành động và tư duy tích cực

Trang 25

• Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy Các quá trình tư duy được thực hiện không chỉ thông qua các vấn đề nhỏ, đưa ra một cách tuyến tính, mà thông qua việc đưa ra các nội dung học tập phức hợp

• Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của

HS Các phương pháp học tập gồm tất cả các cách thức làm việc và tư duy mà HS sử dụng để tổ chức và thực hiện quá trình học tập của mình một cách hiệu quả nhất

• Việc học tập thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăng cường những khả năng về mặt xã hội

• Cần có sự kết hợp thích hợp giữa những nội dung do GV truyền đạt và những nhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của HS

Ngày nay thuyết nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học Những kết quả nghiên cứu của các lý thuyết nhận thức được vận dụng trong việc tối

ưu hoá quá trình dạy học nhằm phát triển khả năng nhận thức, khả năng tư duy của

HS Các phương pháp, quan điểm dạy học được đặc biệt chú ý là dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạy học khám phá, dạy học theo nhóm

4) T huyết kiến tạo

Tư tưởng về dạy học kiến tạo đã có từ lâu, nhưng lý thuyết kiến tạo được đặc biệt chú ý từ cuối thế kỷ XX Piagiê, Vưgôtski cũng đồng thời là những đại diện tiên phong của thuyết kiến tạo Thuyết kiến tạo có thể coi là bước phát triển tiếp theo của thuyết nhận thức Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Cơ chế học tập theo thuyết kiến tạo trái ngược với cách học tập cơ học theo thuyết hành vi: thay cho việc HS tham gia các chương trình dạy học được lập trình sẵn, người ta để cho HS có cơ hội

để tự tìm hiểu HS phải học tập từ lý trí riêng và có thể làm điều này càng tốt hơn nếu không phải tuân theo một chương trình giảng dạy cứng nhắc, mà có thể tự mình điều chỉnh rất nhiều quá trình học tập của chính mình

Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo:

• Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo

Trang 26

từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập

• Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và được khảo sát một cách tổng thể

• Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học,

vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và

cá nhân hóa những kiến thức và kỹ năng đã có

• Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân

• Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa

• Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức

• Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy

và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí, mà

cả về mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp

• Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân, nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến

bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp

Thuyết kiến tạo ngày càng được chú ý trong những năm gần đây Thuyết kiến tạo thách thức một cách cơ bản tư duy truyền thống về dạy học Không phải người dạy, mà là người học trong sự tương tác với các nội dung học tập sẽ nằm trong tâm điểm của quá trình dạy học Nhiều quan điểm dạy học mới bắt nguồn từ thuyết kiến tạo: học tập tự điều chỉnh, học tập với những vấn đề phức hợp, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sai lầm, nhấn mạnh nhiều hơn vào dạy học định hướng quá trình thay cho định hướng sản phẩm

1.5.2 V ấn đề đổi mới phương pháp dạy học

PPDH là một phạm trù của khoa học giáo dục Khoa học giáo dục là lĩnh vực rất rộng lớn và phức hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau Vì vậy có những định hướng và những biện pháp khác nhau trong việc đổi mới PPDH Trong thực tiễn cần

Trang 27

xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể để xác định và áp dụng những định hướng, biện pháp

thích hợp Dựa trên khái niệm chung về PPDH, có thể hiểu: đổi mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của GV và HS, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của HS

Để đạt được mục tiêu giáo dục, các chiến lược dạy học, PPDH mới hiện nay được xây dựng trên tinh thần dạy học giải quyết vấn đề thông qua việc tổ chức cho HS hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức mà cơ sở của nó là hai lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget (1896-1980) và Lép Vưgôtski (1896-1934) Như vậy, đổi mới các PPDH sẽ có những đặc điểm sau:

1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này, GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học,

kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho HS phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho

người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng

Trang 28

ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình

dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, không

chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV

3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập

Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 5 đến 7 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS

Trang 29

4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng

và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau

Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mà nó sẽ cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

1.5.3 Một số kỹ thuật dạy học tích cực

Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS Có nhiều kỹ thuật dạy học tích cực, một số kỹ thuật dạy học tích cực dưới đây có thể được áp dụng thuận lợi trong làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích cực của HS

Trang 30

viết chung Sản phẩm có thể có dạng một lược đồ tư duy

Cách thực hiện:

• Đặt trên bàn các tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;

• Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó (có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ);

• Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm

2) Tranh luận ủng hộ – phản đối

Tranh luận ủng hộ – phản đối là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột Những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau

• Tiếp theo là giai đoạn thảo luận chung và đánh giá, kết luận thảo luận

3) Lược đồ tư duy

Lược đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược

đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

Cách thực hiện:

• Viết tên chủ đề ở trung tâm hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

• Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm phản ánh một nội dung lớn của chủ đề Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và

Trang 31

viết cùng một màu Nhánh chính được nối với chủ đề trung tâm

• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ nói về những nội dung thuộc nhánh chính đó Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

1.6 So s ánh một số phương pháp dạy học

Hiện nay, có rất nhiều PPDH Mỗi PPDH đều có những đặc trưng cũng như có những ưu, nhược điểm riêng Do đó, chúng ta phải nghiên cứu các PPDH cũng như việc áp dụng chúng như thế nào trong dạy học để đạt được hiệu quả Có thể so sánh một số PPDH như sau:

Chủ động tham gia

Nội dung,

tài liệu học

tập

Kiến thức, tài liệu chủ yếu trong SGK

Chủ yếu là những sự việc

Tài liệu trong SGK hoặc GV cung cấp

Chủ yếu là những

sự việc, hiện tượng Tài liệu trong SGK hoặc

GV cung cấp

Kiến thức, năng lực giải quyết vấn

đề HS tự tìm kiếm tài liệu, thông tin

đã qua thử nghiệm

Tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn

đề mẫu hóa

Sử dụng các công

cụ đã được phát hiện để thiết kế cấu trúc hay nguyên lí mới

Cấu trúc lại kiến thức để giải quyết vấn đề tùy theo các dữ liệu và điều kiện

Trang 32

Qua bảng so sánh các PPDH ở trên, ta thấy có hai PPDH có nhiều đặc điểm khá giống nhau và đặc điểm của hai phương pháp này lại rất phù hợp với việc giúp HS phát triển một cách toàn diện Đó là PP học tập trên cơ sở vấn đề (Problem Based Learning - PBL) và PPDH dự án (Project Based Learing - PjBL) Tuy nhiên, hai phương pháp này có cũng những điểm hoàn toàn khác nhau:

Dạy học dự án (Project Based Learning): được thực hiện trong những điều kiện

xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học Hình thức dạy học này phù hợp với việc yêu cầu HS huy động kiến thức tổng hợp hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực để phân tích, tổng kết, đưa ra kết quả triển khai một công việc Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm Kết quả của dự án là những sản phẩm có thể được giới thiệu như: các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể…

Phương pháp này nhấn mạnh tới sản phẩm đạt được sau một quá trình học tập của HS Từng nhóm HS có thể đi theo những con đường khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm theo dự án yêu cầu

Không phải môn học nào, nội dung nào cũng có thể áp dụng được phương pháp này

H ọc tập trên cơ sở vấn đề (Problem Based Learning): là phương pháp học tập

mà chủ yếu là hướng dẫn HS cách học, cách hợp tác với các thành viên trong nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống và đồng thời liên quan đến chương trình học Những vấn đề này được sử dụng để khơi dậy trí tò mò và kích thích nhu cầu học tập của HS Rèn luyện cho HS khả năng tư duy nghiêm túc, kỹ năng phân tích chuyên sâu cũng như các kỹ năng tìm kiếm và sử dụng nguồn tài liệu hỗ trợ

Phương pháp này lại nhấn mạnh tới cách thức, quá trình làm việc của HS để giải quyết vấn đề được đưa ra Do đó, kết quả của mỗi nhóm có thể sẽ rất khác nhau

Về nguyên tắc, PBL có thể áp dụng cho tất cả các môn học và tất cả mọi nội dung học tập

Như vậy, nói riêng về hai PPDH này, bản thân tôi thấy PBL rất thích hợp để áp dụng vào giảng dạy, không chỉ đối với môn Vật lí mà đối với nhiều môn học khác

Trang 33

Từ bảng so sánh trên đây, ta thấy để đáp ứng được những yêu cầu xã hội đặt ra đối với giáo dục thì phương pháp PBL là rất phù hợp Vì ở đó, HS không những được học kiến thức mà còn được hình thành những kỹ năng cần thiết cho công việc sau này của các em Hơn nữa, những kiến thức mà các em thu được là do các em chủ động tìm hiểu Điều này thực sự cần thiết vì khi các em học tập một cách chủ động thì các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn Phương pháp học tập này sẽ được trình bày cụ thể dưới đây

1.7 Phương pháp học tập theo PBL

1.7.1 Một số định nghĩa về phương pháp PBL

Tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận mà có thể định nghĩa phương pháp PBL theo các cách sau đây:

- PBL là một cách tiếp cận tổng thể trong giáo dục, ở cả góc độ chương trình học

và quá trình học: chương trình học bao gồm những vấn đề được lựa chọn và thiết kế cẩn thận nhằm giúp người học tiếp nhận tri thức một cách có phê phán, tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự học và kỹ năng làm việc nhóm; quá trình học có tính hệ thống như quá trình giải quyết vấn đề hoặc thử thách có thể gặp trong đời sống.[31]

- PBL là phương pháp học dựa trên nguyên tắc sử dụng các vấn đề như là khởi điểm cho việc tiếp thu và tích hợp kiến thức mới và lấy HS làm trung tâm [25]

- PBL là một quá trình học trong đó HS xử lý các vấn đề trong nhóm nhỏ dưới sự giám sát và dẫn dắt của người hỗ trợ Người hỗ trợ thông thường là GV Trong phần lớn các trường hợp, một vấn đề bao gồm sự mô tả về một tình huống có thực Trên cơ

sở kiến thức đã có, các nguyên tắc và cơ chế hoạt động trong nhóm giúp cho HS phân tích, định dạng vấn đề và giải quyết vấn đề Kết quả được đánh giá thông qua quá trình hoạt động, và trình bày của HS trong nhóm [22]

- PBL là cách thức hướng dẫn HS cách đọc, cách hợp tác với các thành viên trong cùng một nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống đồng thời liên quan đến chương trình học Những vấn đề này để khơi dậy trí tò mò và khởi xướng nhu cầu học tập Rèn luyện cho HS khả năng tư duy nghiêm túc, kỹ năng phân tích chuyên sâu, cũng như kỹ năng tìm kiếm các nguồn tài liệu hỗ trợ… [8]

Trang 34

- PBL là môi trường học tập mà vấn đề đặt ra sẽ điều khiển quá trình học tập Như vậy, một vấn đề nào đó sẽ được giao cho người học trước khi được học các kiến thức Vấn đề được đặt ra sao cho người học khám phá ra rằng họ cần phải học một số kiến thức nào đó trước khi họ có thể giải quyết vấn đề [9]

Tuy có nhiều định nghĩa nhưng ta thấy PBL được xây dựng trên 3 nguyên tắc chính: Thứ nhất, phát triển các kỹ năng phân tích vấn đề và giải quyết vấn đề; Thứ hai,

HS tự học trực tiếp, GV chỉ đóng vai trò là huấn luyện viên; Thứ ba, đạt được kiến

thức và sự hiểu biết sâu sắc mà nó cần sử dụng cho nghề nghiệp trong tương lai Như vậy ta có thể định nghĩa như sau: PBL là một PPDH lấy việc giải quyết vấn đề làm phương hướng, HS lĩnh hội được kiến thức thông qua việc chủ động tìm hiểu và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống của họ, cách học tập chủ yếu của HS là thảo luận và hợp tác làm việc nhóm Phương pháp này chú trọng việc tổng hợp những quy tắc khoa học và bồi dưỡng kỹ năng giải quyết vấn đề trong đó GV đóng vai trò là người huấn luyện, người chỉ đạo và HS trở thành người chủ động giải quyết vấn đề

1.7 2 Lịch sử của PBL

Phương pháp PBL lần đầu tiên được áp dụng tại đại học y khoa Hoa Kỳ vào thập niên 50 của thế kỷ XX, tiếp theo là học viện y học (thuộc Đại học McMasters, Hamilton, Canada) Sau đó được phát triển nhanh chóng tại các trường Đại học khác trên thế giới Hiện nay phương pháp PBL đã được áp dụng ở nhiều nước và nhiều ngành học, cấp học, như: Áp dụng trong hơn 60 trường Y khoa ở Mỹ: Đại học Delaware, Đại học Samford…; Đại học Queen Mary (Anh); Các trường Thương mại,

Sư phạm, Kiến trúc, Luật, Kĩ thuật, Cảnh sát,…và các trường Trung học, Tiểu học Mặc dù ra đời đã lâu, cho đến nay cơ sở lý luận của phương pháp học tập này vẫn đang nghiên cứu, thảo luận, cụ thể: số bước tiến hành, cách đánh giá… chính vì vậy phương pháp PBL cho đến nay vẫn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Cụ thể, đã có nhiều hội nghị quốc tế về PBL chẳng hạn: năm 2008 tại Đại học Colima, Mexico; vào tháng 3/2007, một hội thảo quốc tế tương tự được tổ chức tại Singapore; 2006 tại Đại học Catolica, Peru; 2005 Đại học Tampere, Phần lan;

2004 Đại học Salford, Anh; vào tháng 6/2002, được tổ chức tại Baltimore, Bang Maryland của Hoa Kỳ…[8], [9]

Trang 35

Hiện nay, nhiều trường đại học có riêng những trung tâm nghiên cứu - triển khai các phương pháp PBL, hoặc tổ chức xây dựng ngân hàng vấn đề cho các chuyên ngành đào tạo của mình và chia sẻ trên trang web của họ, chẳng hạn như:

Đại học Delaware, Hoa Kỳ: http://www.udel.edu/pbl/

Đại học Colorado, Hoa Kỳ: http://www.uchsc.edu/CIS/PBL.html

Đại học Samford, Anh:www.samford.edu/ctls/problem_based_learning.html Đại học McMaster, Canada: www.fhs.mcmaster.ca/facdev/teachingtools.html Đại học Queen, Canada: http://meds.queensu.ca/medicine/pbl/pblhom10.htm Đại học Sydney, Úc: www.usyd.edu.au/learning/ipl/projects/ipl_shared.shtml

- Cần phải tích cực hóa người học trong quá trình tiếp nhận tri thức để việc tiếp nhận đó hiệu quả hơn và có tính bền vững

- Việc giảng dạy còn quá nặng về lý thuyết, còn quá coi trọng vai trò của người dạy, chưa sát thực và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế

- Tính chất thụ động trong học tập của người học so với vai trò truyền tải của người dạy còn cao khi mà số lượng người học trong một lớp ngày càng tăng

- Hoạt động nhận thức còn ở mức độ thấp so với yêu cầu của thực tế (ví dụ như khả năng đọc và khai thác một cuốn sách hoặc một công trình nghiên cứu)

- Sự nghèo nàn về phương thức đánh giá người học, việc đánh giá còn quá nặng

về kiểm tra khả năng học thuộc

Trang 36

bao gồm:

1- Vấn đề là bối cảnh trung tâm của hoạt động dạy và học

Học tập được bắt đầu bằng vấn đề Để khuyến khích HS suy nghĩ và tăng sự hứng thú, lôi cuốn là những sự việc, những vấn đề mà HS cần giải quyết dựa trên những tình huống tương đối phức tạp có liên quan đến HS và gần gũi với thực tế với cuộc sống của HS Có thể nói rằng phương pháp PBL đảo lộn thứ tự của hoạt động dạy học so với các phương pháp truyền thống Trong dạy học truyền thống, thông tin được GV trình bày từ thấp đến cao theo một trình tự nhất định, và HS sẽ chỉ được tiếp cận với một vấn đề cần được lý giải (nếu có) một khi HS đã được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết Còn trong phương pháp PBL, HS được tiếp cận với vấn đề ngay ở giai đoạn đầu của bài giảng Việc học là chủ động, tự định hướng, lồng ghép, mang tính tích lũy và kết nối Vấn đề có thể là một hiện tượng của tự nhiên hoặc là một sự kiện, tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ diễn ra trong thực tế và chứa đựng những điều cần được lý giải

2- HS tự tìm tòi để xác định những nguồn thông tin giúp giải quyết vấn đề

Thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề không được cung cấp trước Từ vấn đề được nêu ra, chính HS phải tích cực, chủ động tìm kiếm thông tin và sử dụng các nguồn tài liệu phù hợp để giải quyết vấn đề mở Thông tin có thể ở nhiều dạng và từ nhiều nguồn khác nhau (sách, báo, phim, ảnh, internet…) Nói cách khác, chính người học phải tự trang bị cho mình phần lý thuyết nhằm có đủ kiến thức để tiếp cận và giải quyết vấn đề

Trang 37

3- Thảo luận nhóm là hoạt động cốt lõi

PBL là phương pháp làm việc trong nhóm nhỏ, thông qua thảo luận nhóm, HS chia sẻ nguồn thông tin và cùng nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết luận Các nhóm thống nhất cơ cấu với nhau để cho tất

cả HS đều có thể kiểm tra và phát triển mức độ hiểu biết của mình Sự phức tạp của vấn đề sẽ được các thành viên trong nhóm phân chia nhiệm vụ để tạo thành các quy trình HS phải có trách nhiệm để cộng tác làm việc trong nhóm một cách có hiệu quả cũng như làm việc thúc đẩy việc học của cá nhân Nhờ hoạt động nhóm, HS được rèn luyện thêm các kỹ năng cần thiết khác ngoài mục đích lĩnh hội kiến thức Trong quá trình học có sự chỉ đạo và hỗ trợ của GV đối với nhóm và từng HS

4- Vai trò của GV mang tính hỗ trợ

Lấy HS và nhóm làm trung tâm, PBL làm thay đổi vai trò của người dạy Một mặt, GV mô tả, huấn luyện và cung cấp các chỉ dẫn cần thiết; mặt khác, khuyến khích

HS độc lập đặt ra mục tiêu và ra quyết định GV đóng vai trò định hướng (chỉ ra những điều cần được lý giải của vấn đề), trợ giúp (chỉ ra nguồn thông tin, giải đáp thắc mắc,…), đánh giá (kiểm tra các giả thuyết và kết luận của HS), hệ thống hóa kiến

thức, khái quát hóa các kết luận

Về mặt lý luận, phương pháp PBL rất phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học lấy người học làm trung tâm, phù hợp với việc phát triển các kỹ năng cần thiết cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Phương pháp này cũng đã được nhiều nước

áp dụng và đã mang lại những thành công nhất định Ta có thể tóm tắt sự phù hợp giữa các đặc điểm của PBL với những nghiên cứu lý luận theo bảng 1.3:

Bảng 1.3: Sự phù hợp của phương pháp PBL với nghiên cứu lý luận

có liên quan và phải có ý nghĩa để tăng tính hứng thú cho HS

Việc làm cho nhiệm vụ liên quan đến HS là một trong những động lực thúc đẩy chính cho quá trình định hướng của HS

Trang 38

Nghiên cứu chỉ ra rằng HS sẽ hiểu sâu hơn khi thông tin được giới thiệu cùng với ngữ cảnh có ý nghĩa

HS nhận thấy kiến thức mới

có liên quan đến kiến thức cũ nhưng dường như có mâu thuẫn

Lí thuyết dạy học chỉ ra rằng việc học diễn ra khi có một sự xung đột giữa thông tin cũ và thông tin mới

Ngữ

cảnh đặc

biệt

HS đối mặt với những thử thách trong một số trường hợp có thật hoặc được thiết kế sẵn tùy vào mục tiêu của bài dạy

Một lần nữa, những thông tin

mà HS thu được trong một ngữ cảnh đặc biệt thì HS sẽ hiểu sâu hơn và nhớ lâu hơn

Vấn đề

phi cấu

trúc

Chọn nhựng ví dụ thực tế trong cuộc sống hằng ngày mà chưa có câu trả lời Yêu cầu HS phân tích các bước để giải quyết vấn đề đó

Đòi hỏi những khả năng mà HS phải sử dụng tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá và sáng tạo ra kiến thức mới

đề nhưng sau đó nó lại tạo ra những vấn đề mới, điều đó thử thách người học phải tìm kiếm những thông tin mới cần thiết

Lí thuyết dạy học chỉ ra rằng việc học diễn ra khi có một sự xung đột giữa thông tin cũ và thông tin mới

Thông qua sự hợp tác, HS có thể thấy được nhiều cách giải quyết vấn

đề, HS thảo luận để tổng hợp thông tin cần thiết cho việc giải quyết vấn

Trang 39

Đặc điểm Cách tiến hành Lí do sử dụng

đề và HS cần phải có trách nhiệm đối với bản thân cũng như với các bạn trong việc học

1.7.4 Vấn đề trong PBL

1.7.4 1 Phân loại vấn đề

Thuật ngữ “vấn đề” được hiểu là một tình huống hoặc một sự việc gì đó mà nó cần phải tập trung chú ý và cần phải thỏa thuận cùng nhau để giải quyết Thực tế đã chỉ ra là có rất nhiều kiểu vấn đề Điều này phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể, từng cách xây dựng vấn đề và các hoạt động đề ra cho người học Tuy nhiên, đặc trưng bề nổi của một vấn đề thì không bao giờ rời xa nhu cầu của người học (nhu cầu về nhận thức, lĩnh hội kiến thức, ) cũng như không bao giờ xa rời mục tiêu học tập Ta có thể chia thành 2 loại vấn đề:

Vấn đề có kết cấu (well-structured problem): là vấn đề đã có một giải pháp đúng

thông qua việc áp dụng một thuật toán nào đó như những bài tập trong sách, các câu hỏi giải thích hiện tượng

Vấn đề phi kết cấu (ill-structured problem), còn gọi là vấn đề mở, là một vấn đề

hỗn độn và phức hợp trong tự nhiên, nó đòi hỏi sự khảo sát, thu thập thông tin và suy nghĩ để tìm ra giải pháp Vấn đề này không có giải pháp chính xác và không thể lập thành công thức Nó là vấn đề phản ánh thế giới thực có các dữ liệu và giá trị mâu thuẫn nhau Những người giải quyết các vấn đề phi cấu trúc phải thấy trước là có nhiều quan điểm khác nhau và phải có những lí luận vững chắc để biện minh cho giải pháp đề nghị

Các loại vấn đề thường được áp dụng trong phương pháp PBL:

+ Vấn đề mang tính giải thích

+ Vấn đề mang tính khó xử (tiến thoái lưỡng nan)

+ Vấn đề mang tính chiến lược

Trang 40

+ Vấn đề là nhiệm vụ ứng dụng

+ Vấn đề là nhiệm vụ hành động

Tùy thuộc vào từng loại vấn đề mà trong mỗi bước của quy trình PBL, HS cần phải áp dụng các kỹ thuật cho phù hợp Các kỹ thuật thường sử dụng trong PBL là: kỹ thuật động não, kỹ thuật bản đồ, biểu đồ xương cá, kỹ thuật phân tích các thế lực (ủng

hộ và chống đối)…

1.7.4 2 Các đặc trưng của một vấn đề hay

Việc áp dụng dạy học theo phương pháp PBL thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách thiết kế vấn đề của GV Khi GV có một vấn đề hay, nó sẽ kích thích

HS tìm hiểu, tạo hứng thú cho HS trong học tập Một vấn đề hay là vấn đề phải chứa đựng những đặc điểm sau:

Hấp dẫn: Kịch bản phải chứa đựng những nội dung đủ hấp dẫn hoặc những nội

dung có liên quan đến nhu cầu của HS Một vấn đề có hiệu quả phải lôi kéo được sự chú ý và quan tâm của HS, phải khuyến khích được sự suy nghĩ và hiểu sâu sắc nội dung kiến thức của HS Muốn vậy vấn đề phải được xây dựng xung quanh một tình huống (một sự việc, hiện tượng,…) có thực trong cuộc sống Vấn đề cần phải được xây dựng một cách cụ thể và có tính chất vấn Hơn nữa, vấn đề đặt ra phải dễ cho người học diễn đạt và triển khai các hoạt động liên quan

Nhiều hoạt động: vấn đề phải có nhiều hoạt động đòi hỏi HS phải ra quyết định

sau khi sử dụng phân tích và tổng hợp thông tin Vấn đề phải chứa đựng một số gợi ý

mở, cần sự hợp tác, thảo luận nhóm để thống nhất và khuyến khích HS tìm kiếm giải pháp cho vấn đề đưa ra

Phức tạp: Vấn đề trong PBL thường là phức tạp Vấn đề phức tạp trong PBL bao gồm hai yếu tố: thứ nhất, HS học cách tự sắp xếp và làm đơn giản hóa với vô số thông

tin thu nhận được để xây dựng nên những giải pháp phù hợp cho vấn đề trong thế giới

thực; thứ hai, những vấn đề này phải được đặt trong một ngữ cảnh mà không dễ giải

quyết và có nhiều câu trả lời đúng

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Châu (2005) – Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học – NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học –
Nhà XB: NXB Giáo Dục
2. Phạm Kim Chung (2006) - Phương pháp dạy học Vật lí ở trường Trung học phổ thông – NXB Đại học quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Vật lí ở trường Trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia HN
3. Nguyễn Văn Cường – Bernd Meier (2010) – Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông – NXB HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông
Nhà XB: NXB HN
4. Hoàng Chúng (1983) – Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục – NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Võ Văn Dễ (2009) – Xây dựng website hỗ trợ phương pháp dạy học theo vấn đề (Problem Based Learning) để dạy phần Mặt trời và các hành tinh cho sinh viên Vật lí – Luận văn Thạc sỹ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng website hỗ trợ phương pháp dạy học theo vấn đề (Problem Based Learning) để dạy phần Mặt trời và các hành tinh cho sinh viên Vật lí
6. Vũ Cao Đàm (1997) - Phương pháp luận nghiên cứu khoa học – NXB KH&KT 7. Nguyễn Kim Hà, Giới thiệu tổng quan về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề -PBL – Đại học Kinh tế TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" – NXB KH&KT 7. Nguyễn Kim Hà, "Giới thiệu tổng quan về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề - "PBL
Nhà XB: NXB KH&KT 7. Nguyễn Kim Hà
8. Lê Văn Hảo (2006)– Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá – Trường ĐH Nha Trang – Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá
Tác giả: Lê Văn Hảo
Năm: 2006
9. Đỗ Xuân Hội (2008) – Bài giảng phương pháp học tập theo vấn đề - PBL, LSTS, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp học tập theo vấn đề - PBL
10. Nguyễn Mạnh Hùng - Phương pháp nghiên cứu khoa học dạy học Vật lí – Chuyên đề sau đại học 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học dạy học Vật lí
11. Nguyễn Văn Mạnh – Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề - Khoa du lịch, Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
12. Lê Thị Thanh Thảo – Phương pháp đo lường đánh giá kết quả học tập – Chuyên đề sau đại học 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đo lường đánh giá kết quả học tập
13. Nguyễn Thị Thu Thủy (2009) – Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và vận dụng vào thiết kế giảng dạy chương VII “Mắt và dụng cụ quang học” Vật lí 11 nâng cao – Luận văn Thạc sỹ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và vận dụng vào thiết kế giảng dạy chương VII “Mắt và dụng cụ quang học” Vật lí 11 nâng cao
14. Nguyễn Hoàng Trí (2010) – Dạy và học từ thực tế địa phương trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp – Sách bồi dưỡng giáo viên, Trường ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học từ thực tế địa phương trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp –
15. Trương Thị Minh Uyên (2009) - Ứng dụng chiến lược PBL (Problem Based Learning) giảng dạy một số bài học trong chương “Động lực học chất điểm” – Luận văn Thạc sỹ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng chiến lược PBL (Problem Based Learning) giảng dạy một số bài học trong chương “Động lực học chất điểm”
16. Phạm Viết Vượng (1997) – Phương pháp luận nghiên cứu khoa học – NXB Đại học QG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Đại học QG HN
17. Dự thảo lần thứ 14 (2008) - Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 -2020 , NXB Hà Nội18. Luật giáo dục 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 -2020
Nhà XB: NXB Hà Nội 18. Luật giáo dục 2005
20. Frank Forsythe (2002) - Problem-Based Learning - PBL – Ulster, Jordanstown 21. Fadi Munshi - Problem based learning - MD, MSC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problem-Based Learning - PBL "– Ulster, Jordanstown 21. Fadi Munshi - "Problem based learning -
22. Henk Schmidt (1983) - Theoretical and Empirical bases of Problem Based Learning Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Bảng so sánh các phương pháp dạy học - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Bảng 1.2 Bảng so sánh các phương pháp dạy học (Trang 31)
Hình 1.1: C hu trình làm việc theo PBL - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 1.1 C hu trình làm việc theo PBL (Trang 44)
Hình 1.3:  Mô hình PBL của George Watson - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 1.3 Mô hình PBL của George Watson (Trang 51)
Bảng 1.5: CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NHÓM - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Bảng 1.5 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NHÓM (Trang 56)
Hình 2.1: " Nhóm tay không bắt cướp" đang phân công nhiệm vụ (hình trái) và sử dụng  phương pháp Brainstorming để thu thập thông tin (hình phải) - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 2.1 " Nhóm tay không bắt cướp" đang phân công nhiệm vụ (hình trái) và sử dụng phương pháp Brainstorming để thu thập thông tin (hình phải) (Trang 84)
Hình 2.4a: Thành viên  " nhóm  Năng - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 2.4a Thành viên " nhóm Năng (Trang 100)
Hình 2.4b:  Cả  lớp  đang  theo  dõi - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 2.4b Cả lớp đang theo dõi (Trang 100)
Hình 2.6a:  Cấu  tạo  bên  trong  nhà  máy - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 2.6a Cấu tạo bên trong nhà máy (Trang 106)
Hình  2.5a:  Thành viên  " nhóm - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
nh 2.5a: Thành viên " nhóm (Trang 106)
Hình 2.5b: Chu trình hoạt động của - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 2.5b Chu trình hoạt động của (Trang 106)
Hình 3.1  Biểu đồ phân bố tần suất kết quả học tập của nhóm TN - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 3.1 Biểu đồ phân bố tần suất kết quả học tập của nhóm TN (Trang 121)
Hình 3.2:  Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy điểm quá trình và kiểm tra của nhóm TN - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 3.2 Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy điểm quá trình và kiểm tra của nhóm TN (Trang 122)
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần số điểm của nhóm TN và ĐC - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số điểm của nhóm TN và ĐC (Trang 123)
Hình 3.5  Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy điểm của nhóm TN và ĐC - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 3.5 Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy điểm của nhóm TN và ĐC (Trang 125)
Hình 3.6:  Biểu đồ phân loại học tập - hướng dẫn học sinh trường trung cấp học chương hạt nhân nguyên tử   vật lí 12 theo mô hình học tập trên cơ sở vấn đề (problem based learning   pbl)
Hình 3.6 Biểu đồ phân loại học tập (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w