HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hữu Lê Huyên THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hữu Lê Huyên
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hữu Lê Huyên
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi có được kiến thức về Quản lý giáo dục
Xin trân trọng cảm ơn thầy Võ Văn Nam đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, góp ý để tôi có thể hoàn thành quyển luận văn này và đồng thời cảm ơn Quý thầy cô là đồng giám khảo
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng giáo viên các trường Mầm non trên địa bàn TP HCM đã giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Tháng 9/2011
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1 Khái niệm về quản lý 7
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục 8
1.2.3 Khái niệm về quản lý trường học 10
1.2.4 Khái niệm quản lý trường mầm non 11
1.3 Một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 13
1.3.1 Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 13
1.3.1.1 Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng 13
1.3.1.2 Học, tự học, đào tạo 14
1.3.1.3 Chuyên môn 15
1.3.2 Mục tiêu và nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 15
1.3.2.1 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 15
1.3.2.2 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 16
1.3.3 Hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 17
1.3.3.1 Hình thức bồi dưỡng 17
1.3.3.2 Phương pháp bồi dưỡng 19
1.3.4 Vai t rò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng, giáo viên trong trường mầm non 19
Trang 51.3.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trong trường mầm non 19
1.3.4.2 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên trong trường mầm non 21
1.4 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 22
1.4 1 Chức năng của quản lý 22
1.4 2 Mục tiêu quản lý 25
1.4 3 Nội dung quản lý 26
1.5 Những yếu tố ảnh hướng đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của Hiệu trưởng trường Mầm non 27
1.5.1 Các yếu tố khách quan 28
1.5 2 Các yếu tố chủ quan 28
Kết luận chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30
2.1 Khái quát chung về sự phát triển kinh tế- xã hội- giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh 30 2.1.1 Khái quát về sự phát triển kinh tế- xã hội TP HCM 30
2.1.2 Khái quát về giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh 31
2.2 Thực trạng về GDMN Thành phố Hồ Chí Minh 32
2.2.1 Quy mô trường, lớp, GV- HS bậc học MN TP HCM 32
2.2.2 Chất lượng và hiệu quả GDMN TP HCM 34
2.3 Thực trạng về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN TP HCM 36 2.3.1 Số lượng và chất lượng đội ngũ CBQL và GV ở các trường MN Thành Phố Hồ Chí Minh 36
2.3.2 Tình hình bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở các trường MN Thành Phố Hồ Chí Minh 37
2.3.3 Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở các trường MN Thành Phố Hồ Chí Minh 39
2.4 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường mầm non tại TP HCM 40
Trang 62.4.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 43
2.4.1.1 Đánh giá về tính cần thiết của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 43
2.4.1.2 Đánh giá về mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 44
2.4.2 Đánh giá về nội dung hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 45
2.4.2.1 Tính cần thiết của các nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 45
2.4.2.2 Mức độ thực hiện các nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 49
2.4.3 Hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 51
2.4.3.1 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn 51
2.4.3.2 Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn 54
2.4.4 Thời gian tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 55
2.4.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 56
2.5 Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường mầm non tại TP HCM 58
2.5.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng chuyên môn 58
2.5.2 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn 63
2.5.3 Quản lý việc kiểm tra- đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn 69
2.6 Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh 71
Kết luận chương 2 77
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 78
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 78
3.1.1 Phải bám sát mục tiêu GDMN 78
3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 80
Trang 73.2.2 Biện pháp 2: Đổi mới xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn 82
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn 84
3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức tốt bộ máy hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong trường, giao trách nhiệm và tạo điều kiện hoạt động 86
3.2.5 Biện pháp 5: Tổ chức thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích GV học tập, bồi dưỡng chuyên môn 89
3.2.6 Biện pháp 6: Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn bằng nhiều hình thức 90
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 8GD - ĐT : Giáo dục đào tạo
GV- HS : Giáo viên - Học sinh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô trường ở bậc học mầm non TP HCM 33
Bảng 2.2 Quy mô lớp học ở bậc mầm non TP HCM 33
Bảng 2.4 Kết quả chăm sóc nuôi dưỡng: 36
Bảng 2.5 Số liệu CBQL, GV 10 trường khảo sát 40
Bảng 2.6 Sơ lược về khách thể chọn nghiên cứu 41
Bảng 2.7 Đánh giá nhận thức về các mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 44
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ cần thiết về các nội dung cần bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 45
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ thực hiện và mức độ phù hợp của các nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 49
Bảng 2.10 Mức độ phù hợp của các hình thức bồi dưỡng GV 52
Bảng 2.11 Mức độ thực hiện và hiệu quả của các phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 54
Bảng 2.12 Mức độ phù hợp về thời gian bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 55
Bảng 2.13 Hình thức kiểm tra, đánh gia sau các đợt bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 56
Bảng 2.15 Xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng chuyên môn 59
Bảng 2.16 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 64
Bảng 2.17 Công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 69
Bảng 2.18 Yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 72
Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL và GV về công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 93
Bảng 3.2 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp đổi mới xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn 94
Trang 10Bảng 3.3 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp đổi mới nội dung, hình thức,
phương pháp bồi dưỡng chuyên môn 95Bảng 3.4 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp tổ chức tốt bộ máy hoạt động
bồi dưỡng chuyên môn trong trường, giao trách nhiệm và tạo điều kiện hoạt động 96Bảng 3.5 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp tổ chức thi đua, khen thưởng
nhằm khuyến khích GV học tập, bồi dưỡng chuyên môn 97Bảng 3.6 Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp thường xuyên kiểm tra, đánh
giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn bằng nhiều hình thức 98
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Biểu đồ ý kiến của các nhóm khách thể về tính cần thiết 43
Trang 11MỞ ĐẦU
Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định đến năm 2020 xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta luôn coi sự nghiệp phát triển khoa học công nghiệp cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngành giáo dục có nhiệm vụ đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và trình độ tay nghề, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Theo điều 22, chương II, mục 1, Luật giáo dục ghi rõ:
“Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” Muốn đạt được mục tiêu giáo dục trên, vấn đề đầu tiên là phải quan tâm đến năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo, bởi vì đây là người trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Muốn đạt được mục tiêu giáo dục mầm non đề ra, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có kiến thức văn hóa cơ bản; phải được trang bị một hệ thống các kiến thức khoa học về chăm sóc giáo dục trẻ; phải có kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục, kỹ năng giao tiếp với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp, cộng đồng… Để có được những năng lực sư phạm này, người giáo viên mầm non phải không ngừng học tập, rèn luyện tại trường, tự học tập một cách nghiêm túc, thường xuyên
Theo báo cáo tại Hội thảo “Phát triển chăm sóc và giáo dục Mầm non Việt Nam”, hiện nay đã có trên 90% giáo viên mầm non có trình độ đạt chuẩn trung cấp
sư phạm mầm non trở lên, trong đó 28% trên chuẩn và khoảng 60% đạt chuẩn nghề nghiệp theo quy định Tuy tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo khá cao, nhưng phần
Trang 12lớn được đào tạo chắp vá qua nhiều hệ, nhiều loại hình đào tạo, nên năng lực thực
tế chưa tương thích với trình độ đào tạo Chính vì vậy, ở mỗi cơ sở giáo dục mầm non phải có người quản lý chuyên môn phù hợp, hiệu quả bằng hệ thống các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực trạng công tác
quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
- Khách thể: Công tác quản lý trường mầm non
- Đối tượng: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của Hiệu trưởng ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN tại TP.HCM đã được thực hiện và bước đầu đạt được một số kết quả Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số hạn chế và bất cập trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng; hoạt động tổ chức, chỉ đạo cũng như công tác kiểm tra, đánh giá sau đợt bồi dưỡng chưa phù hợp và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng chưa rõ nét Nguyên nhân của thực trạng này có thể do chưa có các biện pháp quản lý thật
sự hiệu quả
Vì vậy, khi đánh giá đúng thực trạng và đề xuất biện pháp thiết thực thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN hiện nay
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở
lý luận
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến thực trạng nêu trên
6.1.Cơ sở phương pháp luận
6.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV với quản lý các hoạt động sư phạm khác ở trường học đồng thời xem công tác quản
lý nhà trường là một hệ thống, trong đó quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GV
6.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi, không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, đồng thời nghiên cứu đối tượng trong quá trình phát triển của nó
6.1.3 Quan điểm thực tiễn
Việc đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN dựa trên việc khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV các trường MN TP.HCM Qua khảo sát, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những nguyên nhân, hạn chế từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi
Trang 146.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận cho đề tài
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
động quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN
liệu về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV qua điều tra đội ngũ CBQL và GV của 10 trường MN TP.HCM
Các phiếu điều tra tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN TP.HCM, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân đồng thời khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp
đề xuất
c) Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm thu thập những thông tin đáng
tin cậy từ những chuyên gia, những nhà QLGD có kinh nghiệm về quản lý hoạt
động bồi dưỡng GV
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các kết quả điều tra khảo sát nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường
MN
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của Hiệu trưởng ở một số trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần cải tiến thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở các trường sau đây:
- Trường Mầm non Bé Ngoan- Quận 1
- Trường Mầm non Tuổi thơ 7- Quận 3
Trang 15- Trường Mầm non Quận- Quận 11
- Trường Mầm non Măng non 1- Quận 10
-Trường Mầm non 4A- Quận Gò Vấp
- Trường Mẫu giáo Hương Sen- Quận Phú Nhuận
- Trường Mầm non 20/10- Quận 1
- Trường Mầm non Nguyễn Tất Thành- Quận 4
- Trường Mầm non Bến Thành- Quận 1
- Trường Mầm non 19/5- Quận 10
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC
BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN
GV nước ta đòi hỏi một khoảng thời gian dài hàng thập kỉ, một sự nỗ lực lớn của Nhà nước và của từng cá nhân GV Để có thể dạy được các kiến thức mới, vận dụng phương pháp dạy học phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của lớp trẻ, nếu mỗi
GV không tự vượt lên chính mình, không tự chiến thắng những thói quen dạy học
cũ kỹ, lạc hậu thì bản thân GV và toàn thể đội ngũ không thể đáp ứng yêu cầu của chương trình mới Có nhiều hình thức bồi dưỡng GV, trong đó bồi dưỡng GV dạy chương trình và sách giáo khoa mới chỉ là một hình thức đang nổi lên, sôi động trong những năm học trước mắt, khi toàn ngành đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội, Chỉ thị 14 của Thủ tướng chính phủ
Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo viên như: “Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên mẫu giáo các tỉnh Duyên hải miền Trung” [18], “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” [7] đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng quy hoạch quản lý phát triển đội ngũ giảng viên đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang công tác để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục
Trang 17Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh” Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, tác giả đã chọn đề tài trên làm đề tài luận văn Thạc sĩ
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và
cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của
nó Ngay từ thuở bình minh của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải lao động chung, kết hợp thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, tức là phải có quản lý
C Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì
cần phải có nhạc trưởng” [6]
Quản lý xã hội về thực chất là tổ chức khoa học lao động của toàn xã hội Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động là phân công lao động và hợp tác lao động
Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể
đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất” [23]
Trang 18Theo từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức [9]
Theo GS TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách
thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [15]
Như vậy, “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và
“hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật của Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi; chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”
Quản lý có 2 chức năng cơ bản là duy trì và phát triển Để bảo đảm hai chức năng này, hoạt động quản lý phải bao gồm 4 chức năng cụ thể sau:
- Chức năng kế hoạch hóa: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, bao gồm soạn thảo, thông qua được những chủ trương quản lý quan trọng
- Chức năng tổ chức thực hiện: Đây chính là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức, lựa chọn sắp xếp cán bộ
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường, tích cực hăng hái chủ động theo sự phân công đã định
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý
để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Nó thực hiện xem xét tình hình thực hiện công việc so với yêu cầu để từ đó đánh giá đúng đắn
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội Đây là hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát
Trang 19triển xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất Điều này dẫn đến một tất yếu
là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là
hoạt động quản lý giáo dục Quản lý giáo dục được xem như là một hoạt động chuyên biệt để quản lý các cơ sở giáo dục
* Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Theo P.V Khuđôminxki: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ
nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa của họ [12]
Trần Kiểm cho rằng: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức
và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em [11]
Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh [8]
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống
giáo dục quốc dân
Ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống được quản lý vận hành theo đường lối giáo dục và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất
Trang 201.2.3 Khái niệm về quản lý trường học
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước- xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ [8]
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản
của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội
Do đó quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội (Nhà nước và xã hội cộng đồng và hợp tác trong việc quản lý nhà trường)” [15]
Các nhà trường hoạt động theo Luật Giáo đục và Điều lệ nhà trường do
Bộ trưởng Bộ giáo dục ban hành
Điều lệ một nhà trường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường
- Tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường
- Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo
- Nhiệm vụ và quyền hạn của người học
- Cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường
- Quan hệ của nhà trường- gia đình và xã hội
Người đứng đầu một nhà trường có chức danh "Hiệu trưởng” Hiệu
trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động bên trong
nhà trường và phối hợp quản lý giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục xã hội, trong đó cốt lõi là quản lý quá trình dạy học và giáo dục Quản lý nhà trường
vừa mang tính Nhà nước vừa mang tính xã hội Cho nên quản lý nhà trường phải
biết phối hợp với các lực lượng xã hội để cùng thực hiện mục tiêu GD- ĐT
Để hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu
quả cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà
Trang 21trường Quá trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư
phạm của thầy giáo, quản lý hoạt động học tập- tự học tập của học sinh và quản
lý cơ sở vật chất- thiết bị phục vụ dạy và học Trong đó, người cán bộ quản lý
phải trực tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian để quản lý hoạt động lực lượng
trực tiếp đào tạo Tất cả các hoạt động quản lý khác đều nhằm mục đích nâng cao
chất lượng hoạt động dạy và học
1.2.4 Khái niệm quản lý trường mầm non
Trường mầm non là một tổ chức xã hội được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, với sự hỗ trợ của nhà nước và nhân dân về vật chất cũng như tinh thần Đây
là một môi trường đặc biệt, vừa mang tính chất của một trường học vừa mang tính chất của một gia đình, giữa cô và trẻ vừa có mối quan hệ xã hội (Thầy- trò) vừa có quan hệ theo kiểu gia đình (Mẹ- con)
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non nên quản lý trường mầm non là khâu cơ bản của hệ thống quản lý ngành học Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu của bậc học
Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ- BGDĐT ngày 7/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định: [3]
- Trường mầm non là đơn vị cơ sở của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước CHXHCN Việt Nam do ngành giáo dục quản lý Trường mầm non đảm nhận việc nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm giúp trẻ em hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông sau này
- Trường mầm non có tư cách và con dấu riêng
- Tính chất của trường mầm non: Trường mầm non nước CHXHCN Việt Nam có 3 tính chất sau:
Trang 22+ Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm hình thành nhân cách trẻ em một cách toàn diện
+ Chăm sóc- giáo dục trẻ em mang tính chất giáo dục gia đình giữa cô và trẻ là quan hệ tình cảm mẹ- con, trẻ học thông qua “Học bằng chơi- Chơi mà học”
+ Nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính tự nguyện, Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi
- Tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em theo chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Chủ động kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em, kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội nhằm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em cho gia đình và cộng đồng
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của trường tham gia các hoạt động trong phạm vi cộng đồng
- Giúp đỡ các cơ sở giáo dục mầm non khác trong địa bàn
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Tóm lại, công tác quản lý trường mầm non là quản lý quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đảm bảo cho quá trình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ gồm các nhân tố tạo thành sau: mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện chăm sóc giáo dục trẻ Giáo viên (Lực lượng giáo dục), trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi (Đối tượng giáo dục), kết quả chăm sóc giáo dục trẻ
Trang 231.3 Một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.3.1 Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.3.1.1 Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng
* Theo từ điển giáo dục, bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm những kiến thức, thái độ, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể
Bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích
đã chọn [9]
Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng được giáo dục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm chất và phát triển theo chiều hướng tốt hơn [14]
Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ GV để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của ngành học Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình
độ đã được đào tạo cơ bản từ trước Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế xã hội Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể [9]
Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị cho con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại
và trong tương lai của tổ chức [13]
* Tự bồi dưỡng là quá trình tự học, tự giác, tích cực, độc lập chủ động chiếm lĩnh nhằm chuẩn hóa, cập nhật và nâng cao những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đạt hiệu quả nghề nghiệp cao hơn của bản thân người trưởng thành đã tham gia công tác
Trang 241.3.1.2 Học, tự học, đào tạo
* Học là quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình Học là sự thay đổi bên trong một con người, sự hình thành các liên tưởng hoặc tiềm năng cho những phản ứng mới; sự thay đổi tương đối bền vững trong năng lực của một con người
* Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin, rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp) và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan,
thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào đó [21]
* Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất, đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước; hoặc là cách tiến hành hỗ trợ bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất
phù hợp với các cơ quan tổ chức [9]
* Đào tạo và bồi dưỡng GVMN là hai giai đoạn học có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nghề dạy học ở cấp mầm non Đào tạo là giai đoạn đầu hình thành năng lực và phẩm chất cần thiết của GVMN để hành nghề Còn bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN là giai đoạn nối tiếp tất yếu đối với hoạt động đào tạo nghề nghiệp Cả đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN đều có chung một mục tiêu là giúp đỡ người học đạt được mức hoàn thiện về tiêu chuẩn của nghề dạy học đã chọn Học và tự học là trực tiếp nói đến người học và cách học của cá nhân người học để chiếm lĩnh kiến thức mới có tính chất cơ sở nền tảng Còn đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đều nói về quá trình dạy- học nghề nghiệp Thuật ngữ tự đào tạo, tự bồi dưỡng là nhân tố luôn hiện hữu trong suốt quá trình đào tạo và bồi dưỡng, là tự học để đạt hiệu quả giảng dạy cao hơn Tự bồi dưỡng thể hiện năng lực tự học của mỗi người Năng lực tự bồi dưỡng được dùng để phân biệt mức độ khả năng và kết quả tự bồi dưỡng
Trang 251.3.1.3 Chuyên môn
Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội
Chuyên môn sư phạm là một ngành khoa học về lĩnh vực giáo dục, đào tạo
có nội dung và phương pháp sư phạm riêng biệt, chuyên môn sư phạm đòi hỏi các nhà giáo dục của mình còn phải biết truyền thụ tri thức nghề nghiệp cho học sinh
Đối với GVMN, ở góc độ chuyên môn, GVMN là người hiểu rõ về công việc chăm sóc- giáo dục trẻ mà mình phụ trách ở trường MN, yêu trẻ, yêu nghề, có
kỹ năng lựa chọn những phương pháp giảng dạy, chăm sóc có hiệu quả Ngoài ra, GVMN còn biết quan tâm đến những vấn đề mà ngành học của mình đang cố gắng giải quyết Ở góc độ khoa học giáo dục, GV tốt là người có hiểu biết về tâm lý học, giáo dục học, hiểu và ý thức được rằng nếu không có những tri thức khoa học về giáo dục thì sẽ không thể cộng tác được với học sinh GV tốt là người nắm vững các
kỹ năng đến mức hoàn thiện trong một lĩnh vực hoạt động lao động nào đó, là người
“lão luyện” trong công việc của mình [9] Những GV như vậy, ngoài hiệu quả đào tạo của nhà trường sư phạm và tự bồi dưỡng, rèn luyện bản thân, còn phụ thuộc không ít vào vai trò quản lý trường học của Hiệu trưởng trong việc chú ý bồi dưỡng chuyên môn cho GV
1.3.2 Mục tiêu và nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.3.2.1 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Bồi dưỡng là quá trình diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân để đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp Hay bồi dưỡng là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ
Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung tri thức và kỹ năng còn thiếu hụt, hoặc đã lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn, dưới một hình thức phù hợp Bồi dưỡng chuyên
Trang 26môn thể hiện quan điểm giáo dục hiện đại đó là: “Đào tạo liên tục và học tập suốt đời”
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non là một hoạt động sư phạm, là quá trình cung cấp những tri thức về chuyên môn, về nghiệp vụ quản lý, nhằm vun đắp, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho đội ngũ giáo viên trên cơ sở những kiến thức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ
họ đã có, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất và tinh thần
1.3.2.2 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Bồi dưỡng chuyên môn là một việc không thể thiếu của người GV trong suốt quá trình công tác Mỗi GV cần phải có một trình độ chuyên môn vững chắc, sâu rộng Vì vậy, GV cần được bồi dưỡng những kiến thức cập nhật Đối với những
GV chưa đạt trình độ chuẩn thì được bồi dưỡng để đạt chuẩn theo quy định Trên cơ
sở những kiến thức chuyên môn chắc chắn mới thể hiện kỹ năng sư phạm nhuần nhuyễn Có nghĩa là người GV có một trình độ chuyên môn vững vàng, kiến thức sâu sắc, toàn diện là cơ sở cho việc cải tiến phương pháp dạy học và hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm Việc bồi dưỡng để hoàn thiện kỹ năng sư phạm là cần thiết và phù hợp với khả năng của các trường, là hình thức phổ biến thường làm ở các
trường
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non bao gồm những mặt sau:
* Bồi dưỡng kiến thức
Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về giáo dục MN, về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi MN; Các kiến thức cơ sở chuyên ngành; Các kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục MN
Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc- giáo dục trẻ theo năm học, tháng, tuần; lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chăm sóc- giáo dục trẻ
Trang 27Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ chức bữa
ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ
Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục trẻ: tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ, môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và có phương pháp chăm sóc- giáo dục trẻ phù hợp
Bồi dưỡng kỹ năng quản lý lớp học, đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ; Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc- giáo dục; Quản lý và sử dụng hiệu quả hồ sơ cá nhân, nhóm, lớp
Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn; Gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp, ứng xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác
Chuyên đề được hiểu là những vấn đề chuyên môn được đi sâu chỉ đạo trong một thời gian nhất định, nhằm tạo ra sự chuyển biến chất lượng về vấn đề đó, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ Chính vì vậy, Hiệu trưởng cần có kế hoạch chỉ đạo chuyên sâu từng vấn đề và tập trung vào những vấn đề khó, vấn đề còn hạn chế của nhiều GV hoặc vấn đề mới theo chỉ đạo của ngành, giúp cho giáo viên nắm vững những vấn đề lý luận và có kỹ năng thực hành chuyên đề tốt
1.3.3 Hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN
1.3.3.1 Hình thức bồi dưỡng
Tùy theo nội dung và các điều kiện hiện có, các trường MN thường có các hình thức bồi dưỡng sau:
Trang 28* Bồi dưỡng tại chỗ: Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại trường, nơi GV công
tác, thông qua sinh hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc cụm trường Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng GV theo hướng này:
- Tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn nhau
- Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc- giáo dục trẻ
- Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học
- Các GV trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc theo
tổ GV giỏi giúp GV còn yếu về chuyên môn, GV có kinh nghiệm giảng dạy giúp
GV mới ra trường
- Tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm
- Tạo điều kiện cho GV tham dự các hội thảo, seminar
được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục trẻ Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi GV phải có ý thức tự bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt chương trình mới
những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ Loại bồi dưỡng này chủ yếu giúp GV có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ năng sư phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong hè trước khi năm học mới bắt đầu
huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp nghe giảng, trao đổi, thảo luận; Tăng cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; Chú trọng sử dụng các thiết
bị, phương tiện, đồ dùng dạy học Bồi dưỡng là loại hình của hoạt động dạy và học Yếu tố nội lực trong dạy học là tự học; yếu tố nội lực trong bồi dưỡng là tự bồi dưỡng Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự
Trang 29định hướng của người hướng dẫn của tổ chức và có sự tác động đúng hướng của quản lý Bồi dưỡng tập trung chỉ có hiệu quả khi được quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự bồi dưỡng của người học
1.3.3.2 Phương pháp bồi dưỡng
Phương pháp bồi dưỡng GV là khâu đột phá có tính chất quyết định đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng Do vậy cần chú trọng những giải pháp:
- Đổi mới phương thức học tập của các GV trong các chương trình bồi dưỡng theo hướng tập trung vào hoạt động của GV với phương châm lấy tự học, tự bồi dưỡng là chính Lôi cuốn, hướng dẫn cho GV tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập với sự trợ giúp của tài liệu và phương tiện nghe nhìn, luôn phát hiện, tìm tòi, không cứng nhắc, gò bó, rập khuôn theo những gì đã có trong tài liệu
- Tăng cường tổ chức theo nhóm môn học trong từng tập thể sư phạm, nêu thắc mắc, tự giải đáp ở tổ, nhóm, có chuyên gia giải đáp… Tạo điều kiện cho GV được đóng góp kinh nghiệm bản thân vào xây dựng nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học- giáo dục
Tóm lại, phương pháp bồi dưỡng là phương pháp dạy học cho người lớn, là những người đã có phương pháp sư phạm nên phương pháp bồi dưỡng phải linh hoạt, phù hợp, nghiêng về phương pháp tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở hướng dẫn khai thác nhiều kênh thông tin Hiện nay, khai thác những tiến bộ của khoa học công nghệ trong hoạt động bồi dưỡng đang được khuyến khích
mầm non
1.3.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trong trường mầm non
Luật Giáo dục 2005 khoản 1, Điều 54 ghi rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận với nhiệm kỳ 5 năm
Hiệu trưởng phải có trình độ từ trung học sư phạm trở lên và có thời gian công tác giáo dục mầm non ít nhất là 5 năm, được tín nhiệm về chính trị, đạo đức, chuyên môn, có năng lực tổ chức và quản lý trường học” [16]
Trang 30Hiệu trưởng là chủ thể quản lý, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trường Trong công tác điều hành, hiệu trưởng
là người chịu trách nhiệm chỉ đạo tập trung và thống nhất mọi công việc trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm học, cũng như kế hoạch ngắn hạn
và kế hoạch dài hạn mà tập thể đã vạch ra
Theo cơ cấu ngành học trực tuyến- Người hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền địa phương, trưởng phòng giáo dục Quận về công tác giáo dục mầm non ở cơ sở mình quản lý về toàn bộ hoạt động của nhà trường theo đúng đường lối giáo dục của Đảng, phương hướng nhiệm vụ của ngành Hiệu trưởng còn là người tham mưu tích cực, đảm bảo sự lãnh đạo sát sao, cụ thể của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, đồng thời tạo được mối liên hệ chặt chẽ với các tổ chức hữu quan nhằm tạo sự hỗ trợ mạnh mẽ của toàn dân trong việc xây dựng nhà trường vững mạnh
Theo Điều 18 của Điều lệ trường mầm non quy định:[3]
Hiệu trưởng trường mầm non là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của trường
Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học;
- Điều hành các hoạt động của trường; thành lập và cử tổ trưởng các tổ chuyên môn, tổ hành chính quản trị; thành lập các hội đồng trong trường;
- Phân công, quản lý, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị khen thưởng, kỷ luật và đảm bảo các quyền lợi của giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của trường;
- Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường;
- Quản lý trẻ em và các hoạt động của trẻ do trường tổ chức; nhận trẻ vào trường; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại trẻ theo các nội dung chăm sóc- giáo dục trẻ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;
Trang 31- Theo học các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lý trường và được hưởng các quyền lợi của hiệu trưởng theo quy định;
- Đề xuất với cấp uỷ và chính quyền địa phương hoặc lãnh đạo cơ quan, doanh nghiệp chủ quản trường; phối hợp với các lực lượng xã hội trong địa bàn nhằm huy động mọi nguồn lực phục vụ cho việc chăm sóc- giáo dục trẻ của trường
Hiệu trưởng là người có quyền hạn cao nhất trong trường mầm non và có
vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường Bản thân người hiệu trưởng luôn phải suy nghĩ để có được những quyết định phù hợp với quy định của nhà nước, của ngành và những quyết định đó cũng phải là những biện pháp quản lý khả thi nhằm đưa nhà trường phát triển đến một tầm cao mới Người hiệu trưởng phải tìm cách nâng cao trình độ nhận thức của giáo viên về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho họ tham gia quản lý nhà trường Bên cạnh đó phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, làm cho phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan đến nhà trường hiểu biết về đường lối chính sách của Đảng và nhà nước đối với giáo dục mầm non, hiểu về tình hình thực tế của trường, thu hút sự quan tâm của các ngành, các cấp và của phụ huynh đối với nhà trường
1.3.4.2 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên trong trường mầm non
Theo Điều 29 của Điều lệ trường mầm non quy định:[3]
Giáo viên mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong trường
Theo Điều 30 của Điều lệ trường mầm non quy định giáo viên có những nhiệm vụ sau:[3]
- Thực hiện theo chương trình và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em theo lứa tuổi; thực hiện đúng quy chế chuyên môn và chấp hành nội quy của trường;
- Bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ em;
- Gương mẫu, thương yêu, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ;
Trang 32- Chủ động phối hợp với gia đình trẻ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ theo khoa học cho các bậc cha mẹ;
- Rèn luyện đạo đức; học tập văn hoá; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ;
- Thực hiện các quyết định của hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng
và của các cấp quản lý giáo dục;
- Thực hiện các quy định khác của pháp luật
Theo Điều 31 của Điều lệ trường mầm non quy định giáo viên có những quyền hạn sau:[3]
- Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc
- Được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Được hưởng các quyền khác theo qui định của pháp luật;
1.4.1 Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý Mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện
Chức năng của quản lý là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng của quản lý,
nhưng về cơ bản thì quản lý có 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo - chỉ
đạo, kiểm tra - đánh giá
Trang 33- Lập kế hoạch : Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng lập kế hoạch
đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng
khác, đây được coi là chức năng hạt nhân, quan trọng của quá trình quản lý
Lập kế hoạch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu Muốn có được bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi phải thực hiện tốt chức năng dự báo Khi dự báo phải biết rõ thực lực của mình, đó
là việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường cần đạt tới trên cơ sở phân tích sư phạm và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ năm học mới để suy ra những định hướng cơ bản trong năm học tiếp theo của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá Có như vậy, bản kế hoạch đề ra mới có thể áp dụng được vào thực tiễn quản lý
và đem lại kết quả khả thi
- Chức năng tổ chức: Khi bàn đến vấn đề này, Barmard cho rằng: “Chức năng quản lý như là hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người"
V.I.Lênin khẳng định: "Tổ chức là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người ta gọi là hiệu ứng tổ chức"
Tổ chức giữ một vai trò to lớn trong quản lý vì: [10]
+ Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện
+ Từ đó dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động quản lý Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng như một thể thống nhất Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những tiềm năng, cho
Trang 34các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi
bộ phận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ- yếu tố đảm bảo thành công trong quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
- Chức năng lãnh đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi, thái độ con người (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu đề ra Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu đề ra Bản chất của chức năng lãnh đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực, tiềm năng của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thực hiện mối liên hệ giữa con người với con người
và quá trình giải quyết những mối liên hệ đó để họ tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc
Chức năng này có tính chất tác nghiệp điều chỉnh, điều hành hoạt động của
hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định, để biến mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện
Điều khiển bộ máy thực chất là điều khiển con người, điều khiển phải căn
cứ vào kế hoạch Để điều khiển được con người thì phải có quyền lực, phải có sự phân công rạch ròi (danh có chính, ngôn mới thuận), không những vậy, mà còn phải
có các công cụ khác (lợi ích về vật chất và tinh thần) Để chỉ đạo và điều hành có hiệu quả chủ thể, ngoài việc khuyến khích vật chất, phải biết khuyến khích, động viên tinh thần đối tượng
- Chức năng kiểm tra: Là thu thập những thông tin ngược từ phía bộ máy, tức
là nắm tình hình từ dưới bộ máy lên để biết được :
+ Thực trạng của bộ máy: Bộ máy đang được hoạt động như thế nào để có
kế hoạch điều chỉnh, nhằm đạt được tới mục tiêu đã định
+ Thực trạng các quyết định quản lý: Việc thực hiện quyết định đến đâu, ở mức độ nào để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa
Trang 35Thông qua việc kiểm tra một cá nhân, một nhóm, hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra Nếu không tương xứng, thì phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực cần có của tiêu chuẩn
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự cần đạt so với chuẩn mực đã đề ra
+ Người quản lý tiến hành những điều chỉnh với những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh sửa lại chuẩn mực
1.4.2 Mục tiêu quản lý
Trường mầm non là nơi trực tiếp thực hiện mục tiêu của ngành học mầm non, nên quản lý trường mầm non là một khâu quan trọng của hệ thống ngành học Chất lượng quản lý trường mầm non có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ và góp phần tạo nên chất lượng quản lý của ngành Chỉ đạo hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của nhà trường, phù hợp với sự đòi hỏi của sự phát triển kinh tế- xã hội, với giáo dục đào tạo trong điều kiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Vì vậy, trường mầm non trở thành khách thể cơ bản nhất, chủ yếu nhất của các cấp quản lý giáo dục mầm non Mọi hoạt động chỉ đạo của ngành đều tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành và phát triển các cơ sở giáo dục mầm non
Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non là một nội dung quan trọng, cơ bản của người hiệu trưởng vì đội ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu, là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục
Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non là tạo dựng môi trường và những điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, góp phần khẳng định vị thế trường
Trang 36mầm non đạt chuẩn quốc gia, giữ vị trí nòng cốt của các sơ sở giáo dục mầm non, khẳng định thương hiệu của nhà trường
1.4.3 Nội dung quản lý
Với mục tiêu như trên, nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên: Đội ngũ cán bộ, giáo viên là nguồn nhân lực sư phạm có vai trò quyết định đến chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ trong trường Để đáp ứng kịp thời với yêu cầu ngày càng cao của
xã hội về chất lượng giáo dục, hiệu trưởng cần phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thường xuyên, liên tục, cập nhật với chương trình giáo dục mầm non mới, phương pháp giáo dục mới,
- Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên:
+ Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên là một yêu cầu cấp bách trong nhà trường Hiệu trưởng trường mầm non cần tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, giáo viên vận dụng lý luận đã học vào thực tiễn, tích lũy và tổng kết được những kinh nghiệm thực tiễn, rút ra những lý luận mới Qua đó, nâng cao trình độ về mọi mặt Muốn đạt được nội dung trên, hiệu trưởng cần phải:
Củng cố thêm nhận thức về vị trí và trách nhiệm cho cán bộ, giáo viên Xây dựng được khối đoàn kết, nhất trí trong nhà trường
Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giáo viên Nâng cao nghiệp vụ và rèn tay nghề cho cán bộ, giáo viên, thực hiện các yêu cầu chuyên môn, thanh tra, kiểm tra, dự giờ, thăm lớp, áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm trong và ngoài nhà trường, giúp đỡ các giáo viên yếu kém
+ Quản lý đội ngũ CB- GV là điều hành tập thể những người lao động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Hiệu trưởng quản lý đội ngũ CB- GV bằng các hình thức sau:
Quản lý CB- GV bằng kế hoạch công tác cá nhân của họ
Quản lý CB- GV thông qua tập thể tổ và các phong trào thi đua
Quản lý CB- GV bằng các văn bản, thể chế của nhà nước
Trang 37+ Xây dựng đội ngũ CB- GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ khả năng thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch đào tạo luôn là yêu cầu bức thiết và quan trọng hàng đầu đối với cán bộ quản
lý trường mầm non trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
+ Hiệu trưởng xác định hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên vào từng thời điểm:
Bồi dưỡng tại chỗ
Bồi dưỡng qua hội giảng
Bồi dưỡng ngắn hạn trong hè
Giáo viên tự học bồi dưỡng
Bồi dưỡng dài hạn
Tham quan học hỏi các trường bạn Từ đó có kế hoạch tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên phù hợp với đặc điểm tình hình của trường mình mà vẫn đạt hiệu quả
- Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thể hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
về mục tiêu, nội dung bồi dưỡng, thời gian bồi dưỡng, thời điểm bồi dưỡng, hình thức bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng, địa điểm bồi dưỡng, phân công trách nhiệm cho từng thành viên, yêu cầu cần đạt sau bồi dưỡng,
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên: là quản
lý được chất lượng chuyên môn của giáo viên sau khi được bồi dưỡng Hiệu trưởng
sẽ nắm được kết quả chuyên môn mà giáo viên đạt được để từ đó có những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn hiệu quả
chuyên môn cho giáo viên của Hiệu trưởng trường Mầm non
Hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của hiệu trưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Trang 381.5.1 Các yếu tố khách quan
- Cơ sở vật chất của trường lớp mầm non, đặc biệt là trang thiết bị đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non
- Đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên
- Chế độ, chính sách của Thành phố, ngành đối với giáo viên mầm non
- Trình độ, năng lực chuyên môn và nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của đội ngũ giáo viên mầm non
- Nhu cầu, mong muốn của giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn
- Công tác chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của Phòng Giáo dục Quận, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố
1.5.2 Các yếu tố chủ quan
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng
- Hiệu trưởng am hiểu về chuyên môn, thường xuyên cập nhật thông tin mới
về khoa học giáo dục mầm non, nắm vững những vấn đề về đổi mới giáo dục mầm non để chỉ đạo, tổ chức triển khai hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường
- Hiệu trưởng nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và tự bồi dưỡng chuyên môn của mình
- Hiệu trưởng quan tâm, chuẩn bị đủ các yếu tố vật chất, nhân lực để bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên
Trang 39Kết luận chương 1
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo Việc quản
lý chất lượng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đội ngũ giáo viên Giáo viên là nguồn lực chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường
Hiệu trưởng trường mầm non cần phải nắm vững các nội dung đổi mới giáo dục mầm non, hướng dẫn giáo viên biết cách xây dựng kế hoạch chăm sóc- giáo dục, xây dựng môi trường học tập cho trẻ, chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng lớp điểm, tham quan, dự giờ kiến tập, bổ sung CSVC, trang thiết bị theo yêu cầu đổi mới
Vì vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non nói chung, đặc biệt là trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, giúp giáo viên mầm non thực sự là người có tay nghề, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, có khả năng chủ động cải tiến, sáng tạo trong mọi hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ, kịp thời tiếp cận với chương trình giáo dục mầm non mới
Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay Làm tốt công tác quản
lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non, chắc chắn đội ngũ giáo viên mầm non sẽ có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình
Cơ sở lý luận về các biện pháp chỉ đạo chuyên môn của hiệu trưởng là căn
cứ để nghiên cứu thực trạng quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh Vấn đề này chúng tôi tập trung nghiên cứu ở chương 2 và chương 3
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chí Minh
2.1.1 Khái quát về sự phát triển kinh tế- xã hội TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị phát triển nhất của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật quan trọng của cả nước Thành phố nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Cửu Long,
có bề dày lịch sử hơn 300 năm xây dựng và phát triển
TP HCM có tổng diện tích 2 095,01 km² gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với 322 phường, xã và thị trấn, dân số 7 162 864 người (theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009) Dân cư hầu hết là dân tộc Kinh; một số ít dân tộc Hoa, Chăm, Khơme, Nùng, … trong đó, dân tộc Hoa đông nhất, có trên nửa triệu người, sống tập trung ở các quận 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình
TP HCM luôn giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước Việt Nam; là một trung tâm công nghiệp lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp khá phát triển, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phong phú, đội ngũ công nhân và thợ thủ công tay nghề khá; lực lượng khoa học kỹ thuật đông đảo, có tài năng, có cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch; chiếm 0.6% diện tích và 8.34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20.2% tổng sản phẩm, 27.9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34.9% dự án nước ngoài Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, TP HCM đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất Nghị quyết 20/NQ/TW của Bộ Chính Trị ngày 18/11/2002 tiếp tục khẳng định lại vị trí và nhấn mạnh TP HCM phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tính năng động, sáng tạo để đi đầu cả nước về kinh tế, nhất là phát triển các ngành công nghiệp du lịch có hàm lượng khoa học công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi