1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học

155 719 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu về hình thức mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thùy Trang

MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thùy Trang

MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRỊNH VĂN BIỀU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP.HCM, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện để các học viên học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:

- PGS TS Trịnh Văn Biều đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành luận văn

- Các thầy cô giáo ở trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, THPT Trấn Biên, THPT Lý Thường Kiệt đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực nghiệm đề tài

- Cảm ơn những người bạn đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin cám ơn những người thân yêu trong gia đình đã luôn bên cạnh, ủng hộ, động viên, giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2011 Tác giả

Phan Thị Thùy Trang

Trang 5

CHƯƠNG 2: MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI TRONG DẠY HỌC MÔN HÓA

H ỌC LỚP 10 THPT THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC2T 43

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc này là nguồn lực lao động được phát triển về

số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Sự bùng nổ của khoa học công nghệ khiến học vấn mà nhà trường phổ thông trang bị không thể thâu tóm mọi tri thức mong muốn mà học sinh được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống

Để đáp ứng được với sự thay đổi nhanh và đa dạng của xã hội, đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu cần thiết, tất yếu nhằm giúp hoạt động dạy của giáo viên và mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh ngày càng hoàn thiện, hiệu quả hơn Nghị quyết số 40/2000/QHX ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ

thông đã khẳng định mục tiêu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông lần này là “Xây

dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục

vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nuớc phát triển trong khu vực và trên thế giới”

Cái đích hướng đến của việc đổi mới phương pháp là nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, truyền đạt thông tin của GV và tiếp nhận kiến thức của HS Nâng cao hiệu quả bài lên lớp hóa học là một vấn đề quan trọng nhưng chỉ mới được nghiên cứu một cách hệ thống

ở các trường sư phạm trong thời gian gần đây Để một tiết lên lớp thành công, GV phải làm tốt các bước lên lớp

thấy, khâu đầu tiên và khâu cuối cùng này ít được để ý nhiều trong quá trình tiến hành một bài lên lớp Tuy nhiên, có vào bài một cách suôn sẻ, lôi cuốn thì các bước tiếp theo mới thuận lợi được và kết bài có làm rõ được trọng tâm thì học sinh mới dễ nhớ và khắc sâu được kiến thức mới Việc nghiên cứu mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học theo định hướng đổi mới PPDH là rất cần thiết Từ thực tiễn đó tôi đã chọn “Mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học” làm đề tài nghiên cứu

Trang 11

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10

ở trường THPT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

2.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về hình thức mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông

4 Nhiệm vụ của đề tài

THPT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

rút ra bài học kinh nghiệm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan

đến đề tài, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại, khái quát hóa

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp

điều tra và thu thập thông tin, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm

5.3 Phương pháp toán học: dùng toán thống kê để xử lí số liệu

6 Giả thuyết khoa học

Nếu mở đầu và củng cố bài tốt sẽ gây được hứng thú trong học tập, học sinh chủ động tích cực hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, đồng thời khắc sâu kiến thức, vận dụng tốt bài học nhờ đó nâng cao được hiệu quả dạy và học

Trang 12

7 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Phần hóa học lớp 10 cơ bản trường trung học phổ thông

- Địa bàn nghiên cứu:

+ Điều tra thực trạng: Một số trường trung học phổ thông ở các tỉnh phía Nam + Thực nghiệm sư phạm: Một số trường trung học phổ thông ở Đồng Nai, Khánh Hòa

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2010 đến tháng 10/2011

8 Điểm mới của đề tài

học phổ thông

đổi mới phương pháp dạy học

các bài trong chương trình hóa 10, thiết kế các giáo án thực nghiệm

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các giá o trình, tài liệu giáo dục học về mở đầu và củng cố bài

2T

Về vấn đề mở đầu và củng cố bài đã có một số các tài liệu sau đây:

• 2TTrịnh Văn Biều (2005), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường ĐHSP TP.HCM [10]

này, tác giả có đề cập đến mở đầu và củng cố bài như nhiệm vụ, những gợi ư về các h́nh thức mở đầu và củng cố bài có thể sử dụng

2T

bài lên lớp hóa học

2T

phương tiện dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài lên lớp hóa học

2T

Tài liệu trên đây cung cấp những tư liệu, những gợi ư cần thiết giúp sinh viên trao đổi thực hành, thảo luận qua đó mở rộng thêm vốn hiểu biết và rèn luyện các năng lực sư phạm

tập II, NXB Giáo dục, người dịch Nguyễn Hữu Chương, Phạm Văn Minh [29]

Tài liệu này cung cấp những phương thức củng cố tri thức, những bài học để kích thích tư duy HS Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về củng cố bước đầu, củng cố tiếp theo, những bài học về củng cố phát triển Bên cạnh đó, tác giả còn làm rõ việc củng cố bằng thí nghiệm Tài liệu luôn có ví dụ minh họa đa dạng cho các môn học giúp độc giả dễ hình dung hơn về các hình thức củng cố

dục, người dịch Đỗ Tất Hiển [30]

Trong tài liệu này, tác giả thực nghiệm sư phạm ở các lớp IX trường số 156 Matxcơva trong các năm học 1967 – 1968, 1968 – 1969, với mục đích so sánh bốn cách tiến hành mở

Trang 14

đầu bài giảng nhằm làm sáng tỏ các phương pháp được vận dụng ở phần mở đầu có ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình và hiệu quả bài giảng; chính xác hóa những mặt ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp vận dụng nhằm mục đích giúp HS tiếp thu kiến thức mới tốt nhất

1.1.2 Các đề tài nghiên cứu của sinh viên và học viên cao học

Cho đến nay, đề tài về mở đầu và củng cố bài chưa được nghiên cứu nhiều Ở ĐHSP TP.HCM chỉ có một khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đề tài trên và một số tiểu luận môn học của các học viên cao học

học hóa học ở trường THPT”, Phạm Ngọc Thùy Linh, sinh viên khoá 1998 - 2002

Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã:

yêu cầu khi mở đầu và củng cố bài giảng hóa học

hóa 4A và 4B, phỏng vấn, dự giờ các GV THPT, xem băng ghi hình

Khảo sát được mức độ quan tâm, rèn luyện và sử dụng một số hình thức mở đầu và

củng cố bài đối với giáo sinh và một số giáo viên ở các trường THPT Hình thức mở đầu,

củng cố bài phổ biến nhất mà giáo sinh và các giáo viên sử dụng, một số khó khăn gặp phải khi tiến hành các công việc trên lớp

trình hóa học lớp 10, 11,12 thông qua việc thu thập, tham khảo ý kiến của các thầy cô, qua

dự giờ và xem một số băng ghi hình các giờ dạy thành công ở các trường THPT nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của bài lên lớp Đồng thời giúp sinh viên trước khi đi TTSP có thể làm quen, tiếp xúc với một số hình thức mở đầu và củng cố bài có hiệu quả

học, tuy nhiên vì công việc chính của đề tài là điều tra thực trạng nên chưa có phần thiết kế giáo án và thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của việc mở đầu và củng

cố Bên cạnh đó khi thết kế các phần mở đầu và củng cố bài, tác giả chỉ đưa ra minh họa ở lớp 10, 11 hoặc 12, chứ không đi vào chương nào hay lớp nào cụ thể

Trang 15

Ngoài khóa luận tốt nghiệp trên còn có một số tiểu luận môn kĩ năng dạy học hóa học của học viên cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh dưới đây:

nêu được một số lí luận và các minh họa cụ thể cho bài dạy Do giới hạn ít ỏi của một tiểu luận môn học mà các tác giả chưa có điều kiện đi sâu vào các phần lí luận, thực trạng cũng như không thể thực nghiệm sư phạm được

U

ra được nhiều bài học bổ ích, những gợi ý quan trọng

Tham khảo một số trang web – diễn đàn giáo viên thì thấy rất ít thậm chí không có các bài viết, trao đổi về mở đầu và củng cố Điều này chứng tỏ phần mở đầu và củng cố bài còn

ít được quan tâm, chú ý

1.2 Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học

Để đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức thì phải có sự đổi mới thực sự trong giáo dục Người giáo viên phải phát huy được tính tích cực, tự lực của học sinh

GS Vũ Văn Tảo trong bài đăng trên tạp chí tháng 4/1995 với tựa đề ” Yêu cầu mới đối với mục tiêu – nội dung – phương pháp giáo dục: Xu thế và thực hiện” đã có bảng so sánh

về sự thay đổi trong giáo dục

Trang 16

B ảng 1.1 So sánh sự thay đổi trong giáo dục

Cách học truyền thống Cách học phát huy tính tích cực

Học trong quan niệm là sẽ có sự thất bại

Học lấy việc tiêu hóa kiến thức làm trung

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [3], trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học theo các hướng khác nhau Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:

hoạt động từ giáo viên sang học sinh Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá Tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời

thực tế Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức

4 Cá thể hóa việc dạy học

đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức, sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học

Trang 17

7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của học sinh, theo cấp học, bậc học)

1.2.3 Vai trò của người giáo viên trong đổi mới PPDH hiện nay

Theo các tác giả Lê Xuân Trọng, Nguyễn Xuân Trường [48], vai trò của người giáo viên trong xu hướng đổi mới hiện nay phải thực hiện được một số yêu cầu sau:

đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ

HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương

chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng

luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dụng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn

linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dụng, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương

1.3 Bài giảng hóa học và các bước lên lớp

1.3.1 Bài giảng hóa học

1.3.1.1 Khái niệm

yếu ở trường THPT Nó là một quá trình sơ đẳng, toàn vẹn, đa cấu trúc

Nói đến khái niệm bài giảng có nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau Theo cách nhìn của người thầy trong phương pháp dạy học truyền thống có thể cho rằng đây là một quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh Ngược lại đứng dưới góc độ nhận thức của học sinh quá trình này chính là sự tiếp thu, vận dụng và tái hiện kiến thức Một cách tổng quát, bài giảng

Trang 18

được xem là một đoạn hoàn chỉnh của quá trình dạy học trong một thời lượng xác định Bài

giảng là một phần của toàn bộ quá trình dạy học

Sự toàn vẹn trong bài giảng hóa học là sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa ba thành phần: mục đích, nội dung, phương pháp, giáo viên và học sinh dưới tác động của môi trường dạy học Thông qua bài giảng, dưới sự điều khiển sư phạm của người giáo viên, học sinh có thể tự giác, tích cực tự lực lĩnh hội tri thức Để làm được điều này, người giáo viên trước hết phải phối hợp tốt các yếu tố: mục đích, nội dung, phương pháp dạy học thể hiện trong bài giảng đó Không chỉ thế còn vận dụng tốt các khâu, các bước của bài lên lớp nhằm kích thích, khơi dậy niềm hăng say hứng thú học tập cho học sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tố nhất để lĩnh hội và khắc sâu tri thức

Hóa học là một môn học mang tính trừu tượng, bởi thế bài học hóa học luôn mang những đặc điểm riêng, đặc thù Nó được qui định bởi các yếu tố nội dung, phương pháp đa dạng phù hợp với mục đích dạy học Chính vì lẽ đó mà học sinh có thể phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan khoa học và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo từ những bài giảng hóa học

Nói tóm lại bài giảng hóa học là một phần của toàn bộ quá trình dạy học hóa học Qua

đó người giáo viên giúp học sinh có cách làm việc khoa học, có phương pháp lĩnh hội kiến thức tốt, có khả năng tư duy sáng tạo và thêm yêu mến bộ môn

1.3.1.2 Ph ân loại

Có nhiều cách phân loại bài giảng hóa học tuỳ theo mục đích, nội dung hoặc phương pháp mà nó thể hiện

phân bài giảng thành ba loại hình (kiểu) khác nhau Mỗi một kiểu lại bao gồm nhiều khâu riêng biệt

Kiểu 1: Bài giảng nghiên cứu tài liệu mới

Nhằm giúp học sinh tri giác tài liệu mới, bước đầu hiểu rõ tài liệu này, phát hiện và nắm được ý nghĩa của các mối liên hệ và quan hệ trong đối tượng nghiên cứu Trong những bài giảng kiểu này khâu học sinh thu nhận kiến thức và kĩ năng mới là khâu cơ bản, còn các khâu khác được thực hiện trong mối quan hệ tương hỗ với khâu chủ yếu

Bài giảng hoàn thiện kiến thức và kĩ năng của học sinh

Trang 19

Nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc những kiến thức đã học, đưa kiến thức đã lĩnh hội

tình huống mới Đây là những kiểu bài giảng có mục đích ôn tập và củng cố kiến thức hoặc

Kiểu 3: Bài giảng kiểm tra và đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh

Mỗi một loại bài giảng đều có các khâu, các bước thể hiện mục đích dạy học riêng biệt Thực tế hiện nay thường gặp nhất là các kiểu bài 1 và 2, bởi vì nó thể hiện được sự liên

hệ giữa các khâu trong quá trình giảng dạy một cách rõ ràng nhất

Mục đích xác dịnh trình độ lĩnh hội kiến thức, trình độ hình thành kĩ năng, kĩ xảo Củng cố và hệ thống hóa kiến thức Sửa chữa, uốn nắn kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo

1.3.1.3 Cấu trúc

Cấu trúc của bài giảng là tổ hợp của năm thành tố cơ bản của quá trình dạy học luôn luôn tương tác với nhau dưới tác động của môi trường dạy học và tạo nên một thể thống nhất, toàn vẹn

Hình 1.1 Cấu trúc của bài giảng

Trong bài giảng có sự thống nhất chặt chẽ của những mặt cấu trúc sau :

Trang 20

Bài giảng hóa học là phương thức giúp học sinh lĩnh hội, khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo, là hình thức rèn luyện các kĩ năng học tập nhất là khả năng lĩnh hội

các kiến thức kĩ thuật tổng hợp Điều này thể hiện rất rõ thông qua các bước dạy học

hình của nó Thực tiễn lý luận dạy học càng phát triển thì kiểu và cấu trúc của bài giảng hóa học càng phát triển phong phú

cấu trúc bài giảng phải tuân theo quy luật về mối liên hệ mục đích – nội dung – phương

tượng học sinh

1.3.2 Các bước lên lớp

1.3.2.1 Khái niệm

Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều [10], bài giảng là một quá trình của hoạt động dạy học

Nó được chia thành những bước lí luận dạy học Mỗi bước lí luận dạy học lại được chia thành một số tình huống dạy học Mỗi tình huống dạy học lại bao gồm một số thao tác dạy học

Bước lí luận dạy học (gọi tắt là bước dạy học hay bước lên lớp) của bài giảng là một đoạn tương đối trọn vẹn, nó bao gồm một nội dung bộ phận, một tổ hợp phương pháp tương ứng, nhằm thực hiện một mục đích bộ phận (hay chức năng bộ phận) của bài giảng

1.3.2.2 Phân loại

Có nhiều cách phân loại các bước lên lớp Thông thường người ta vẫn dựa vào chức năng chủ yếu của nó Quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh đòi hỏi các bước dạy học phải thực hiện những chức năng cơ bản sau:

hợp với luyện tập để củng cố

Trang 21

- Vận dụng: thực chất là dùng hiểu biết để giải các bài toán (theo nghĩa rộng) quen biết (theo kiểu algorit) và chưa quen biết (kiểu ơrixtic)

sâu

nhất, một hệ thống toàn vẹn những hiểu biết

Tuy nhiên không phải cứ mỗi chức năng kể trên của quá trình dạy học lại tương ứng một bước dạy học Mỗi bước dạy học thực hiện đồng thời nhiều chức năng, nhưng có một chức năng nổi trội, tùy theo mục đích lí luận dạy học và nội dung trí dục của bài học

1.3.2.3 Thiết kế các bước lên lớp

Để thiết kế các bước lên lớp giáo viên cần phải:

học

Với mỗi loại hình bài học khác nhau sẽ có một cấu trúc các bước tương ứng

Kiểu 1: Bài giảng nghiên cứu kiến thức mới

Kiểu này có các bước sau:

1 Tổ chức lớp

2 Kiểm tra bài làm ở nhà

3 Chuẩn bị lĩnh hội bài mới

4 Nghiên cứu bài mới

5 Củng cố kiến thức

6 Tổng kết bài học

7 Dặn dò, cho bài tập về nhà

Kiểu 2: Bài giảng củng cố kiến thức

Kiểu này thường được sử dụng trong các giờ ôn bài tập, ôn tập, tổng kết chương có thể

có các bước sau:

1 Tổ chức lớp

2 Kiểm tra bài làm ở nhà

3 Tái hiện những kiến thức điểm tựa

Trang 22

4 Phát hiện và uốn nắn những sai lệch của học sinh

5 Khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức

6 Xác định giới hạn ứng dụng những kiến thức đó

7 Ứng dụng thử

8 Luyện tập theo mẫu, trong những điều kiện quen thuộc

9 Luyện tập ứng dụng kiến thức vào những tình huống mới

10 Kiểm tra và tự kiểm tra

Giáo viên cần chuẩn bị thật tốt trước khi tiến hành bài học, thông báo trước đề tài sẽ

ôn tập, các câu hỏi, các tài liệu cần đọc Nên chuẩn bị cả tài liệu thống kê, các bảng, đồ thị,

sơ đồ (nếu cần) để hệ thống hóa kiến thức cho học sinh

Kiểu 3: Bài giảng kiểm tra và đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo

Việc đánh giá dựa vào ba trình độ như sau:

dụng vào một số tình huống có đôi chút biến đổi

Cấu trúc của kiểu này rất đa dạng tùy theo từng nội dung dạy học

1.3.3 Mở đầu bài giảng trong cấu trúc bài lên lớp

tri thức mới đồng thời ôn tập, củng cố lại kiến thức cũ ở các bài học trước

tích cực được chuẩn bị theo các bước sau đây:

 Như vậy mở đầu bài giảng được thiết kế ở bước 4

của tiết học có thể được phân thành:

Trang 23

- Hoạt động khởi động (mở đầu bài giảng): hoạt động này có thể là: mở đầu có nêu

mục tiêu của tiết học, kiểm tra bài cũ để nêu vấn đề của bài mới (Cần chú ý là hoạt động

nà y rất quan trọng và nhất thiết phải có mỗi khi vào bài hoặc chuyển phần, chuyển nội dung để gây hứng thú học tập.)

kiến thức, kỹ năng bao gồm: hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức mới, hoạt động củng cố,

1.3.4 Củng cố bài giảng trong cấu trúc bài lên lớp

Cấu trúc một bài lên lớp thường gồm 5 bước:

+ Hoạt động 1: Vào bài

+ Hoạt động 2, 3, 4, … Tiến hành dạy bài mới

Củng cố là hoạt động cuối trước khi kết thúc bài mới

1.4 Tổng quan về mở đầu bài giảng

1.4.1 Tầm quan trọng trong việc mở đầu bài giảng

Theo quan điểm của N.M.IACÔPLEP [28]:

tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho HS, tạo không khí hứng khởi cho các em khi

bắt đầu vào bài học mới

việc và ổn định về mặt tâm lý cho HS trước khi học bài mới

tiến hành một cách nhẹ nhàng thoải mái

Trang 24

- Thể hiện sự quan tâm của GV đến tình hình lớp học thông qua việc kiểm tra sĩ số và

lí do vắng mặt của HS từ đó có biện pháp giúp đỡ các em nắm được bài học và theo kịp bạn

biết, mong chờ được tiếp nhận tri thức

- Củng cố lại kiến thức cho HS thông qua việc kiểm tra bài bằng các hình thức đàm

thoại, đặt câu hỏi, giải bài tập

- Đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho HS từ đó có phương pháp giảng dạy thích

hợp Ngoài ra còn rèn luyện cho HS cách diễn đạt, tái hiện lại những tri thức đã tiếp thu

- Kiểm tra kiến thức và kỹ năng của một số HS để đánh giá tiết học Vận dụng qui luật

hướng đích giúp HS hình dung công việc của tiết học, nội dung trọng tâm cần phải nắm được trong giờ lên lớp đó

với HS Đặc biệt thông qua các phương tiện trực quan HS sẽ ngày càng hứng thú và yêu

thích bộ môn hơn

muốn giải thích được các hiện tượng thực tế xung quanh các em Ngoài ra còn có tác dụng

giáo dục tư tưởng, thấy được mức độ quan trọng của việc ứng dụng hóa học vào đời sống

hằng ngày

1.4.2 Đặc điểm của việc mở đầu bài giảng

được bắt đầu từ việc tổ chức sơ bộ bộ lớp học gồm những nhân tố như sau:

thức hơn trong học tập đồng thời đảm bảo được tiến trình học tập cho học sinh

việc chung của tập thể, giáo dục hành vi kỷ luật

những học sinh cẩu thả, ăn mặc không đúng qui định, tư thế, tác phong học tập chưa nghiêm túc Giáo dục cái nhìn chân, thiện, mĩ cho học sinh

Trang 25

- Tổ chức sự chú ý: Gây hứng thú đặc biệt đối với công việc Học sinh sẽ tham gia xây dựng bài tốt hơn, hiệu quả hơn Tránh tình trạng vào bài trong lúc học sinh chưa tập trung

sự chú ý vì như thế mức độ tiếp thu tri thức sẽ rời rạc, có học sinh còn mải việc riêng mà không nghe được lời nói của giáo viên Như thế hiệu quả học tập sẽ thấp

đánh giá phương pháp truyền đạt ở tiết trước Phát hiện những lỗ hổng kiến thức ở học sinh

mà chấn chỉnh kịp thời

việc sẽ làm trong tiết học sắp tới Là một trong những khâu dễ kích thích học sinh hứng thú

và hăng hái hơn trong học tập Tuy nhiên để gây ấn tượng và hiệu quả của phần mở đầu trong giờ lên lớp giáo viên nên linh hoạt trong việc thể hiện từng khâu, từng đoạn không nhất thiết phải đúng một trật tự như trên tránh gây nhàm chán, mất hứng thú khi vào bài Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua các khâu, các bước của phần mở đầu Ngày nay các giáo viên trẻ thường đánh giá thấp ý nghĩa của việc tổ chức sơ bộ và biến nó thành “nhân tố

tổ chức” tiến hành một cách hình thức Điều này ngày càng làm cho mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh thêm có khoảng cách, học sinh ít tìm thấy hứng thú và yêu thích bộ môn

1.4.3 Nhiệm vụ của việc mở đầu bài giảng

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [10], ở khâu mở đầu bài giảng giáo viên có các nhiệm

vụ sau:

thuận lợi trong việc ghi nhớ

tập

hiểu biết, mong chờ được tiếp nhận tri thức, khơi dậy niềm hứng thú học tập và không khí vui vẻ thoải mái cho học sinh bước vào bài mới

1.4.4 Một số hình thức vào bài thường sử dụng

Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học cụ thể và thời gian cho phép, hình thức mở đầu có khác nhau Không có kiểu mở bài nào là tốt nhất Bí quyết thành công là sự đa dạng

Trang 26

và sáng tạo Giáo viên có thể mở bài bằng cách làm một điều gì khác thường hay bất ngờ khiến cho học sinh phải ngạc nhiên Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [10], có thể kể ra 7 kiểu

mở đầu sau:

Hình thức 1: Vào bài theo phương pháp dẫn dắt logic

kiến thức tổng thể chung đến kiến thức bộ phận của bài học

Kể một câu chuyện, một mẩu chuyện vui (có liên quan đến bài chuẩn bị dạy) rồi từ kiến thức trong câu chuyện dẫn vào bài học

U

VD:

Có thể kể chuyện về lịch sử phát minh ra bảng tuần hoàn Men-đê-lê-ep rồi dẫn dắt vào bài khi dạy “BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC” ở lớp 10

này giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng xung quanh các em Ngoài ra nó còn làm cho học sinh yêu thích môn học do thấy mức độ quan trọng của hóa học trong đời sống hằng ngày

U

Khi giảng dạy bài: “Phân bón hóa học’’ lớp 11, GV có thể thiết kế hoạt động vào bài bằng câu hỏi: Hãy giải thích hiện tượng sau:

“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên’’

Cho học sinh xem những vật thật, mô hình, bức tranh hay bằng thí nghiệm hóa học, thường tạo nên những ấn tượng mạnh Thông qua các phương tiện trực quan học sinh sẽ ngày càng hứng thú và yêu thích bộ môn hơn

VD:

Trang 27

Khi giảng dạy phần hidro cacbon lớp 11, giáo viên có thể sử dụng mô hình phân tử để vào bài

Giáo viên đặt một câu hỏi thách đố, khêu gợi trí tò mò sau đó dẫn dắt vào bài mới: “Để trả lời câu hỏi trên chúng ta hãy nghiên cứu bài ’’

U

VD:

Khi dạy bài “Cacbon” có thể đặt câu hỏi vào bài như sau: “Tại sao than chì rất mềm còn kim cương lại rất cứng, mặc dù chúng đều cấu tạo từ cacbon ?”

Gọi học sinh trả lời câu hỏi hay giải bài tập (đứng tại chỗ hoặc lên bảng) rồi từ kiến thức trong nội dung kiểm tra dẫn vào bài học

U

VD:

Khi dạy bài: “Mối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic’’, GV

có thể đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ để dẫn dắt vào bài như sau: Viết các phương trình hóa học thực hiện chuỗi biến hóa:

Sau đó, GV gọi một HS khác dựa vào chuỗi biến hóa trên ghi thành sơ đồ tổng quát:

Hình 1.2 Mối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic

Hình thức 7: Vào bài bằng phương pháp tổ chức hoạt động tập thể

Cho cả lớp giải một bài tập hay thực hiện một nhiệm vụ rồi dẫn dắt vào bài giảng

U

VD:

Khi dạy bài: “ Phân loại phản ứng trong hóa học vô cơ’’ lớp 10, GV có thể đặt câu hỏi cho các nhóm thảo luận: Hãy kể tên các loại phản ứng trong hóa học vô cơ mà các em đã học và phân loại chúng? Sau đó tổng hợp ý kiến của HS các nhóm để dẫn dắt vào bài

Oxi hóa Hidro hóa

Trang 28

1.4.5 Những yêu cầu sư phạm khi vào bài

Để một mở bài được thực hiện tốt GV phải rèn luyện nhiều thông qua một số yêu cầu sau:

+ Tạo không khí vui vẻ, thoải mái khi mới bắt đầu bước vào lớp học

+ Thông qua cử chỉ chào hỏi tạo cảm giác gần gũi, thân thiện từ phía HS

+ Thể hiện sự quan tâm đến các em thông qua việc điểm danh hỏi thăm lý do vắng mặt của HS (nếu có)

+ Nói to, chậm, nhắc lại nhiều lần các vấn đề trọng tâm, sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề

+ Khi viết bảng thường gạch chân, đóng khung hoặc viết phấn màu các phần quan trọng, nhấn mạnh sự chú ý cho HS

+ Sử dụng các phương tiện trực quan để mở đầu bài giảng như: hình vẽ, tranh ảnh,

sơ đồ, thí nghiệm hoặc mô hình đôi khi là một đoạn video tùy từng loại bài giảng, tùy từng nội dung bài học và điều kiện vật chất của trường

+ Liên hệ thực tế, nói vui, nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết học, tập trung

sự chú ý của HS

Nói tóm lại tùy từng nội dung giảng dạy, tùy từng trình độ học sinh, tùy vào điều kiện vật chất của từng trường mà giáo viên nên chọn các hình thức vào bài phù hợp Thậm chí phải phối hợp nhiều phương pháp nhằm gây hứng thú cho học sinh, tránh sự lặp lại, nhàm chán Muốn vậy, người giáo viên phải không ngừng rèn luyện các kỹ năng dạy học, các năng lực chuyên môn lẫn kiến thức xã hội giúp cho chất lượng bài giảng ngày càng phong phú và hiệu quả hơn

1.5 Tổng quan về củng cố bài giảng

1.5.1 Tầm quan trọng của việc củng cố bài giảng

giảng dạy Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng Thông qua việc củng cố, ôn luyện

mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh

Bài giảng dù hay, hấp dẫn đến đâu nếu không có củng cố th́ chưa thể coi là dạy tốt Bởi v́ nếu không củng cố th́ bài không sâu, học sinh dễ quên Củng cố là giai đoạn giáo viên

Trang 29

chốt lại những tri thức và kĩ năng quan trọng đă truyền thụ, đồng thời đây là khâu h́nh thành, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, sáng tạo cho học sinh V́ vậy nó là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá tiết dạy tốt Có không ít giáo viên chưa thấy hết tác dụng của củng cố thường bỏ qua hay làm một cách chiếu lệ Thực tế dạy học đă chứng minh thông qua củng cố sẽ giúp học sinh:

nhiều cho sự ghi nhớ

giải thích một số hiện tượng thực tế đang diễn ra hằng ngày

diễn đạt, trả lời và tái hiện những nội dung mà các em đă lĩnh hội Học sinh sẽ học tập hiệu quả hơn

mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh, từ đó có biện pháp bổ sung và sửa chữa kịp thời phương pháp lên lớp của ḿnh

1.5.2 Nhiệm vụ của việc củng cố bài giảng

Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều [10], củng cố bài giảng phải thực hiện được một số nhiệm vụ sau:

Xác định và làm rõ trọng tâm bài học

Nhắc lại kết hợp với mở rộng những kiến thức cơ bản

Nhắc lại (có thể kết hợp mở rộng) những kiến thức cơ bản để HS nhớ lâu

Tuy nhiên, củng cố không chỉ đơn giản nhắc lại kiến thức hoặc giúp học sinh mau nhớ bài Người giáo viên ngoài củng cố sơ bộ nội dung bài học còn mở rộng và củng cố tiếp theo tri thức mà học sinh vừa lĩnh hội

Tập cho học sinh vận dụng kiến thức đã học

Nhìn lại nhiệm vụ giáo dục tổng thể, giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức cho học sinh mà còn dạy các em cách tìm lấy tri thức, cách nghiên cứu, vận dụng những tri thức vào cuộc sống để ứng dụng và giải thích được một số hiện tượng thực tế xung quang các em Có

Trang 30

những vấn đề mặc dù học sinh hiểu nội dung lý thuyết nhưng khi ứng dụng giải bài tập thường lúng túng hoặc mắc phải sai phạm

+ Sơ bộ ôn luyện những kiến thức trọng tâm của bài

+ Giáo viên vận dụng các phương pháp thích hợp để khắc sâu kiến thức và mang lại hứng thú học tập cho học sinh

Nhìn chung vấn đề củng cố bài không chỉ dừng lại trong một tiết học.Việc củng cố thường được lập lại ở những bài học tiếp theo với nội dung kiến thức tương tự hoặc bổ sung cho nhau

Củng cố tiếp theo nhằm mục đích khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh đồng thời kiểm tra học sinh lĩnh hội tài liệu một cách có ý thức hay không Có nhiều học sinh hiểu bài nhưng không vận dụng được vào thực tế, giải bài tập, do đó giáo viên không chỉ củng cố sơ

bộ trong một tiết học mà còn phải củng cố tiếp theo

U

chương trình hóa học lớp 11 và hóa học lớp 12

Củng cố tiếp theo được thực hiện bằng kiểm tra thường kì các kiến thức đã học Thông

qua:

sai của mình

đã học để ôn tập thì hiệu quả của việc củng cố sẽ được nâng lên Như vậy tri thức cũ sẽ là

Trang 31

nền tảng để tiếp thu tri thức mới, còn cái mới lại là sự mở rộng đào sâu từ cái cũ Nhờ đó tri thức mà học sinh tiếp nhận sẽ logic chặt chẽ hơn

sống, tham quan các quy trình sản xuất

Nếu củng cố chỉ được tiến hành bằng sự tái hiện giản đơn, không có một cái gì mở rộng thì sẽ dẫn đến sự ghi nhớ những điều đã học một cách thô sơ (củng cố giản đơn) Vì vậy khi củng cố, GV có thể hệ thống hóa kiến thức đồng thời kết hợp mở rộng thêm vốn hiểu biết của học sinh (củng cố phát triển)

nhắc lại tính chất hóa học của hidrosunfua (dung dịch hidrosunfua trong nước là một axit yếu, hidrosunfua là một chất khử) Giáo viên yêu cầu học sinh viết phương trình phản ứng

đã trình bày)

U

củng cố kể lại thêm một đoạn mới

Trình bày vấn đề bằng hình thức khác như thay lời nói bằng sơ đồ, hình vẽ, …

U

Thay vì trình bày bài nhận biết như thông thường giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng

để trình bày

Bảng 1.2 Thuốc thử dùng nhận biết các dung dịch

Thuốc thử NaOH HCl NaR2RCOR3 Ca(OH)R2 Kết luận

HCl

Trang 32

Nhận được

Có kết tủa trắng tạo thành

học sinh trả lời đúng câu hỏi này sẽ giúp các em nhớ bài lâu hơn: Không được vì có thể là

mà thôi

U

Trang 33

c Điều kiện để một ankin tham gia phản ứng thế với AgNOR 3 R/NHR 3 R?

U

LI LỚP 11, giáo viên củng cố bài học bằng cách ra một bài tập:

Viết phương trình phân tử và ion rút gọn của các phản ứng nếu xảy ra:

công thức cấu tạo, tính chất hóa học của glucozơ với glixerol và andehit đơn chức Thông qua việc so sánh này học sinh sẽ nhớ bài lâu hơn

chương 2)

những suy nghĩ, nhận thức của bản thân

U

viên củng cố bài học bằng hoạt động của người học: Theo thông tin đại chúng, Công ty VEDAN Việt Nam đã gây ô nhiễm môi trường Em hãy cho biết những tác hại có thể có do

ô nhiễm môi trường ở đây gây ra Bản thân em có thái độ gì về vần đề gây ô nhiễm môi trường của công ty VEDAN Việt Nam ?

Các câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy hoặc dùng bản trong chiếu cho học sinh quan sát, cũng có thể tiến hành dưới hình thức kiểm tra viết ngắn rồi củng cố bài dựa trên những câu trả lời của học sinh Tất nhiên việc tiến hành trả lời và nhận xét của giáo viên là công khai trước lớp để học sinh có thể thấy được những chỗ sai của mình Đây cũng là cách giúp học sinh ghi nhớ tốt bài học

U

sinh: Dùng kiến thức hóa học giải thích hai câu ca dao sau:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Trang 34

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”

1.5.5 Những yêu cầu sư phạm khi củng cố bài

Thời gian dành cho củng cố trong một tiết học là 5 phút do đó người giáo viên cần linh hoạt và thành thạo ở khâu này nhằm đạt hiệu quả dạy học tốt nhất Điều này đòi hỏi người giáo viên phải rèn luyện, trau dồi các kĩ năng dạy học của mình, cụ thể như:

cố Các câu hỏi củng cố phải phong phú, đa dạng phù hợp với từng trình độ của học sinh, phải kích thích được sự tư duy của học sinh

của học sinh

sơ đồ tư duy để học sinh nhanh nhớ bài hơn

liên quan đến bài học

1.6 Thực trạng mở đầu và củng cố bài giảng ở một số trường THPT

1.6.1 Mục đích điều tra

Xem xét thực trạng sử dụng mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học phổ thông:

giáo viên

giảng dạy hóa học

nay

Trang 35

- Đánh giá về tác dụng phát huy tính tích cực của các phương pháp dạy học khi mở đầu và củng cố bài của GV

của GV

1.6.2 Đối tượng điều tra

Hòa, Sóc Trăng, Bình Thuận, Đăk Lăk, Cà Mau, Vũng Tàu, Bình Dương, Vĩnh Long, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh

Giáo viên tỉnh Sóc Trăng, 62 giáo viên

1.6.3 Phương pháp tiến hành

Tại lớp cao học K19 phát 34 phiếu và thu phiếu về 100%, xử lí kết quả

Tại Sóc Trăng phát 62 phiếu và thu phiếu về 100%, xử lí kết quả

1.6.4 Kết quả điều tra

Thông qua 34 phiếu tham khảo ý kiến giáo viên cao học khóa 19, chúng tôi đã thu được kết quả thống kê trong các bảng từ 1.3 đến 1.8 (Các giá trị trong bảng được sắp xếp theo điểm trung bình từ cao đến thấp)

Cách tính điểm trung bình:

Điểm TB = (% RTX.4 + % TX.3 + % KTX.2 + % KKN.1) x

1.6.4.1.Mức độ quan tâm đến việc mở đầu bài giảng hay, hấp dẫn

Bảng 1.3 Mức độ quan tâm đến một số kĩ năng dạy học

Mức độ thường xuyên

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Không thườngxuyên (2)

Không khi nào (1)

Trang 36

e Liên hệ bài giảng với thực tế 18% 71% 12% 0% 3.09

U

Nhận xét:U So sánh mức độ của các công việc giáo viên thường chú ý khi giảng dạy,

các giáo viên quan tâm nhất, mở bài và củng cố bài là hai khâu ít được chú ý hơn Con số

mở đầu bài giảng còn chưa được quan tâm đầy đủ Để có một mở đầu hay, hấp dẫn không phải là điều dễ dàng đối với mọi giáo viên nhất là những giáo viên trẻ

1.6.4.2 Mức độ sử dụng các hình thức vào bài

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các hình thức vào bài

Mức độ thường xuyên

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Không thường xuyên (2)

Không khi nào (1)

Điểm

TB

a Từ bài cũ dẫn vào bài mới bằng mối liên hệ

Nhận xét:U Dựa vào kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy sử dụng hình thức

“T ừ bài cũ dẫn vào bài mới bằng mối liên hệ logic” đạt điểm TB cao nhất là 3.32 Đây là

hình thức mở bài được giáo viên sử dụng phổ biến hơn cả vì khi liên hệ kiến thức cũ sẽ có

sự kết nối liên tục các tri thức phổ thông mà học sinh cần nắm vững, là hình thức vừa dễ sử dụng lại vừa mang tính chất giới thiệu cho học sinh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, học sinh có thể tiếp thu kiến thức mới một cách logic hơn Tuy nhiên, giáo viên cần linh hoạt, có thể kết hợp nhiều phương pháp, phương tiện trực quan để làm bài giảng thêm phong phú và

hấp dẫn hơn còn hình thức vào bài ít được sử dụng nhất là “Dùng trò chơi ô chữ” điểm TB

Trang 37

chỉ có 1.65 Kiểu mở bài dùng trò chơi ô chữ mới, lạ, khá giống các trò chơi truyền hình, giúp học sinh hứng khởi tham gia và ấn tượng với phần vào bài hơn Tuy nhiên, để chuẩn bị được trò chơi giáo viên phải đầu tư thời gian, công sức, có sức sáng tạo cao do đó ít khi

được giáo viên sử dụng

Mở đầu bằng hình thức “Kiểm ta bài cũ dẫn vào bài mới”: hình thức này được xếp

thứ hai, hình thức vào bài này giúp giáo viên vừa tiết kiệm được thời gian vừa giúp học sinh tìm được mối liên hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ, lấy kiến thức cũ làm nền tảng phát triển

Mở đầu bằng hình thức “Đặt câu hỏi nêu vấn đề”: hình thức mở bài này được giáo

viên sử dụng khá nhiều vì khi giáo viên đưa ra một câu hỏi thách đố sẽ khêu gợi được trí tò

mò của học sinh giúp học sinh chú ý hơn, hứng thú hơn khi tiếp nhận kiến thức mới Ngoài

qua việc dẫn dắt học sinh tìm câu trả lời, học sinh còn được rèn luyện thêm khả năng tư duy

và diễn đạt

Mở bài bằng hình thức “Liên hệ từ thực tế”: Hình thức vào bài này cũng được khá

nhiều giáo viên sử dụng vì giúp bài giảng sinh động hơn, giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được hiện tượng xung quanh, tin tưởng vào khoa học, cảm thấy hóa học quan trọng với đời sống Tuy nhiên còn hạn chế sử dụng vì vốn sống của giáo viên chưa cao, cần thời gian tìm tòi, lọc lựa tư liệu liên quan, tư liệu lại chưa được phong phú lắm

Hình thức “Vào bài trực tiếp (chỉ giới thiệu tên bài)”: Đây là hình thức ít tốn thời

chỉ đơn giản là thông báo tên bài học Tuy nhiên kiểu vào bài này vẫn sử dụng tương đối nhiều cho thấy sự đầu tư cho phần mở bài của giáo viên chưa cao

phương tiện trực quan cho phần vào bài được giáo viên sử dụng không nhiều, đa số chọn không thường xuyên sử dụng Tuy nhiên thực tế cho thấy học sinh rất hứng thú khi được xem những hình vẽ hay mô hình các hợp chất hóa học nhớ bài được lâu hơn Không phải bài học nào cũng sử dụng được phương tiện trực quan và tùy thuộc vào từng nội dung bài học cụ thể mà giáo viên sử dụng hình thức trực quan phù hợp để vào bài

Hình thức vào bài “Kể một câu chuyện”: Đây là hình thức mở bài dễ gây hứng thú và

lôi cuốn sự chú ý của học sinh trước khi vào bài mới Tuy nhiên hình thức này cũng ít được

Trang 38

sử dụng do kỹ năng kể chuyện một phần là năng khiếu bẩm sinh Có giáo viên kể chuyện rất

chuyện sao cho hay, phù hợp với bài dạy mang nhiều ý nghĩa hóa học đòi hỏi người GV phải bỏ nhiều thời gian sưu tầm, lọc lựa

được kiểm chứng lại lý thuyết bằng thực nghiệm là việc làm rất quan trọng, nó giúp học sinh tin tưởng vào khoa học, chân lý Thông thường giờ vào bài mới thầy cô nào gây sự chú

thường mất nhiều thời gian chuẩn bị, làm thử trước giờ lên lớp, trong tiết dạy lại rất ngại

“cháy giáo án” Do đó việc không chọn hình thức này để vào bài nhiều cũng là điều dễ hiểu Giáo viên cần chú ý nhiều hơn đến việc dùng thí nghiệm để vào bài giúp học sinh hình thành phương pháp nhận thức khoa học Hoặc sử dụng các đoạn phim thí nghiệm chiếu cho

HS xem đối với thí nghiệm lâu xảy ra, khó thực hiện, độc hại

Hình thức vào bài “Tổ chức hoạt động tập thể”: Giáo viên cho cả lớp giải một bài tập

hay thực hiện một nhiệm vụ rồi dẫn vào bài mới Kiểu vào bài này kích thích được sự thi đua giữa các bạn trong lớp tuy nhiên ít được sử dụng vì khó thiết kế được công việc tập thể

và phụ thuộc vào nội dung bài mới có phù hợp hay không

1.6.4.3 Một số khó khăn khi mở đầu bài giảng

Bảng 1.5 Một số khó khăn khi mở đầu bài giảng

U

Nhận xétU: Qua khảo sát xử lí số liệu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Khó khăn nhiều nhất mà giáo viên gặp phải khi mở đầu bài giảng là chưa biết cách thể hiện

cho hấp dẫn, đạt 2.47 điểm Bởi lẽ không phải ai cũng dễ dàng trình bày tốt mọi phương

pháp, có người kể chuyện rất hay nhưng sử dụng trực quan kém, cũng có người sử dụng câu

(4)

Nhiều (3)

Vừa phải (2)

Không đáng

kể (1)

Điểm

TB

Trang 39

hỏi tốt nhưng liên hệ thực tế còn nhiều lúng túng Như vậy với mỗi cá nhân người GV cần nắm rõ sở trường cũng như sở đoản để tận dụng tối đa khả năng làm việc của bản thân cũng

như rèn luyện những kĩ năng còn yếu

Chưa biết nhiều hình thức mở bài khác nhau: để vào bài luôn hay, lôi cuốn người

giáo viên phải liên tục đổi mới các hình thức vào bài Để nắm bắt và sử dụng tốt được các hình thức vào bài quả không đơn giản Người giáo viên phải luôn không ngừng học hỏi, rèn luyện các kĩ năng dạy học, cập nhật cái mới do đó đây là một trong những khó khăn lớn đối với giáo viên

Sợ mất thời gian của tiết học: Trong một tiết học 45 phút người giáo viên phải thực

hiện nhiều bước lên lớp, vào bài chỉ chiếm vài phút nếu quá sa đà vào phần này rất dễ cháy giáo án Vì thế việc rèn luyện cách phân phối thời gian hợp lý là một yêu cầu cần thiết hiện nay cho mọi giáo viên

Ít có thời gian chuẩn bị: thực tế giảng dạy cho thấy một khi chuẩn bị cho học sinh

tiếp nhận kiến thức một cách chu đáo thì học sinh mới lĩnh hội kiến thức tốt được Trong quá trình giảng dạy sẽ có những phương tiện dạy học mà người giáo viên phải bỏ thời gian sưu tầm, sáng tạo mới có được do đó đây cũng là khó khăn mà nhiều giáo viên nhận thấy

Do có ít tư liệu, tài liệu: hiện nay nhờ sự bùng nổ công nghệ thông tin mà lượng kiến

thức rất nhiều, rất phong phú, tuy nhiên để có những tư liệu phục vụ tốt việc giảng dạy người giáo viên cần sưu tầm, chọn lọc sao cho phù hợp Thiết nghĩ cần có nhiều hơn những nguồn tư liệu quý giúp người giáo viên vào bài tốt hơn

Sợ lớp mất trật tự: khi sử dụng cách vào bài hấp dẫn sẽ tạo nên sự hứng khởi trong

học sinh, đôi lúc có những em quá khích làm khuấy động không khí trong lớp làm lớp mất trật tự, làm ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh Người giáo viên cần tạo không khí vui vẻ trong một chừng mực nhất định, hòa nhã, gần gũi học sinh nhưng luôn nghiêm khắc, giữ khoảng cách Điều này thể hiện năng lực sư phạm của người giáo viên, và thường hơi khó khăn đối với giáo viên trẻ

1.6.4.4 Mức độ sử dụng các hình thức củng cố bài

Bảng 1.6 Mức độ sử dụng các hình thức củng cố bài

Mức độ thường xuyên

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Không thường xuyên (2)

Không khi nào (1)

Điểm

TB

Trang 40

k Cho kiểm tra viết ngắn rồi củng

Nhận xétU: Ở bảng 1.6 chúng tôi nhận thấy hình thức củng cố cho học sinh làm bài

tập áp dụng được giáo viên sử dụng nhiều nhất, điểm TB là 3.5 Cách củng cố này có rất

nhiều ưu điểm như rèn luyện cho học sinh vận dụng được các kiến thức vừa mới học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo về hóa, rèn luyện thêm thao tác tư duy, trí thông minh sáng tạo, kiểm chứng mức độ tiếp thu của học sinh và hiệu quả của phương pháp lên lớp mà giáo viên sử

dụng Điểm TB thấp nhất 1.77 là hình thức củng cố cho học sinh phát biểu những suy

nghĩ, nhận thức của bản thân Kiểu củng cố này ít được sử dụng nhất vì không phải lúc

nào học sinh cũng chủ động bày tỏ ý kiến, dám nêu lên vấn đề chưa rõ, tâm lí ngại thầy cô, ngại bạn bè Do đó giáo viên cần động viên học sinh, khuyến khích các em bày tỏ chính kiến, những gì còn thắc mắc sau tiết học

1.6.4.5 Một số khó khăn khi củng cố bài giảng

(4)

Nhiều (3)

Vừa phải (2)

Không đáng kể (1)

Điểm

TB

f Ít có thời gian chuẩn bị nhiều h́nh thức

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn An (1996), Lý luận dạy học, Ban Ấn Bản Đại học Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn An
Năm: 1996
3. Ngô Ngọc An(198), Hóa học nâng cao lớp 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học nâng cao lớp 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Nguyễn Duy Ái (1977), Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Tác giả: Nguyễn Duy Ái
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1977
5. Hồ Thị Diệu Ái (2008), Thiết kế giáo án điện tử chương Oxi – Lớp 10 – chương trình nâng cao bằng phần mềm powerpoint, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế giáo án điện tử chương Oxi – Lớp 10 – chương trình nâng cao bằng phần mềm powerpoint
Tác giả: Hồ Thị Diệu Ái
Năm: 2008
6. Phạm Ngọc Bằng (2010), 16 phương pháp và kĩ thuật giải nhanh bài tập trắc nghiệm môn hóa học, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: 16 phương pháp và kĩ thuật giải nhanh bài tập trắc nghiệm môn hóa học
Tác giả: Phạm Ngọc Bằng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010
7. Phan Thị Ngọc Bích (2003), Tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh ở trường THPT , Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh ở trường THPT
Tác giả: Phan Thị Ngọc Bích
Năm: 2003
8. Trịnh Văn Biều (2003), Giảng dạy hóa học ở trường phổ thông, Khoa Hóa ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2003
9. Trịnh Văn Biều (2004), Lý luận dạy học hóa học, Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hóa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2004
10. Trịnh Văn Biều (2005), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2005
11. Trịnh Văn Biều (2005), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2005
13. Trịnh Văn Biều, Trang Thị Lân, Phạm Ngọc Thủy (2008), Tư liệu dạy học về bảng tuần hoàn và các nguyên tố hóa học, Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu dạy học về bảng tuần hoàn và các nguyên tố hóa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều, Trang Thị Lân, Phạm Ngọc Thủy
Năm: 2008
14. Nguyễn Hải Châu (chủ biên) (2008), Chuẩn bị kiến thức ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị kiến thức ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng
Tác giả: Nguyễn Hải Châu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
15. Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Vơ Văn Nam, Ngô Đ́nh Qua, Lư Minh Tiên (2004), Đo lường và đánh giá kết quả học tập, Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá kết quả học tập
Tác giả: Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Vơ Văn Nam, Ngô Đ́nh Qua, Lư Minh Tiên
Năm: 2004
16. Hoàng Chúng(1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
17. Nguyễn Tinh Dung, Hoàng Nhâm, Trần Quốc Sơn, Phạm Văn Tư (1999), Tài liệu nâng cao và mở rộng kiến thức hóa học phổ thông trung học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nâng cao và mở rộng kiến thức hóa học phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Tinh Dung, Hoàng Nhâm, Trần Quốc Sơn, Phạm Văn Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. G.G. Điôghênôp (1958), Lịch sử tìm ra các nguyên tố hóa học, Bản dịch của Hoàng Hạnh và Nguyễn Duy Ái, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tìm ra các nguyên tố hóa học
Tác giả: G.G. Điôghênôp
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 1958
19. Cao Cự Giác (2005), Tuyển tập bài giảng hóa học vô cơ, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập bài giảng hóa học vô cơ
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
20. Cao Cự Giác (2006), Thiết kế bài giảng hóa học 10, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng hóa học 10
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
21. Dương Hoàng Giang (2010), Hỗ trợ kiến thức phương pháp chung giải nhanh bài tập hóa học lớp 10, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ kiến thức phương pháp chung giải nhanh bài tập hóa học lớp 10
Tác giả: Dương Hoàng Giang
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2010
72. 2T http://wikipedia.org 2T (Bách khoa toàn thư mở) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3. Quy luật đường xoắn ốc - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 2.3. Quy luật đường xoắn ốc (Trang 60)
Bảng 2.2. Danh mục các phần củng cố bài giảng - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Bảng 2.2. Danh mục các phần củng cố bài giảng (Trang 68)
Hình 2.6. Trái dâu, vườn dâu  Hạt nhân chỉ bằng 1 trái dâu   Nguyên tử là vườn dâu dài hơn 5km - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 2.6. Trái dâu, vườn dâu Hạt nhân chỉ bằng 1 trái dâu Nguyên tử là vườn dâu dài hơn 5km (Trang 69)
Hình 2.11.  Sơ đồ grap củng cố bài “Phản ứng oxi hóa khử” - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 2.11. Sơ đồ grap củng cố bài “Phản ứng oxi hóa khử” (Trang 78)
Hình 2.16. Ứng dụng của flo – brom – iot - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 2.16. Ứng dụng của flo – brom – iot (Trang 81)
Hình 2.18.  Sơ đồ grap củng cố bài “Oxi -Ozon” - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 2.18. Sơ đồ grap củng cố bài “Oxi -Ozon” (Trang 83)
Hoạt động 10:  U Củng cố: U (hình thức 2+ hình thức 7: nhắc lại ý và làm bài tập) - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
o ạt động 10: U Củng cố: U (hình thức 2+ hình thức 7: nhắc lại ý và làm bài tập) (Trang 106)
Hình 3.2.  Biểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp 10A1 và 10A2 – btk 1 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp 10A1 và 10A2 – btk 1 (Trang 121)
Bảng 3.7.  T ổng hợp kết quả học tập lớp 10 Lý  và 10 Tin – bkt 1 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Bảng 3.7. T ổng hợp kết quả học tập lớp 10 Lý và 10 Tin – bkt 1 (Trang 122)
Hình 3.3. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 Lý và 10 Tin – bkt 1 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.3. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 Lý và 10 Tin – bkt 1 (Trang 122)
Hình 3.6.  Biểu  đồ so - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.6. Biểu đồ so (Trang 124)
Hình 3.7. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 B12 và 10 B13 – bkt 1 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.7. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 B12 và 10 B13 – bkt 1 (Trang 125)
Hình 3.12.  Biểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 10 Lý và 10 Tin – bkt 2 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.12. Biểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 10 Lý và 10 Tin – bkt 2 (Trang 129)
Hình 3.14.  Biểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 10 Anh 1 và 10 Anh 2 –bkt2 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.14. Biểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 10 Anh 1 và 10 Anh 2 –bkt2 (Trang 130)
Hình 3.15. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 A8 và 10 A 12 – bkt 2 - mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Hình 3.15. Đồ thị đường tích lũy lớp 10 A8 và 10 A 12 – bkt 2 (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w