Bên cạnh đó, giáo dục còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đỗ Minh Tuấn
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học và Khoa Tâm lý Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn đã hết sức tận tình, chu đáo trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo Quận ủy và UBND Quận 11
- Lãnh đạo và chuyên viên phòng GD & ĐT Quận 11
- Các đồng chí Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận 11
- Gia đình, bè bạn và các đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 5
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN 11, TPHCM2T 89
Trang 7: Giáo dục - Đào tạo : Giáo viên
: Học sinh : Nhà xuất bản : Phổ cập giáo dục tiểu học : Phổ cập giáo dục trung học cơ sở : Kinh tế - xã hội
: Thành phố Hồ Chí Minh : Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông : Uỷ ban nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khi bàn đến vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, khoá họp lần thứ
27 năm 1993 của UNESCO tại Pháp khẳng định: "Giáo dục là chìa khóa tiến tới một xã hội tốt hơn, vai trò của giáo dục là phát triển tiềm năng của con người, giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tiến vào tương lai, giáo dục là quyền cơ bản nhất của con người, giáo dục
là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ, hợp tác trí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau" [34,tr.22] Như vậy, giáo dục là phương tiện mà xã hội dùng để đổi mới và phát triển điều kiện sinh tồn của chính mình Giáo dục có vai trò to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động và thức tỉnh tiềm năng sáng tạo trong mỗi con người, tạo môi trường cho
sự phát triển kinh tế xã hội Đến lượt mình, sự phát triển kinh tế xã hội lại tác động trở lại tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Bên cạnh đó, giáo dục còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.[51]
Ở tất cả các bậc học đang còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục - đào tạo, cơ chế quản lý, hệ thống chính sách đến huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục đào tạo và đặc biệt là các vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục - nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục
- đào tạo Đối với việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là khẳng định vai trò quyết định của nhà giáo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc điều hành một hệ thống giáo dục đang ngày càng mở rộng và phát triển Trong bối cảnh quốc tế đang có nhiều diễn biến phức tạp, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội,
xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải là lực lượng nòng cốt quyết định việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược giáo dục
Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị lần thứ 2 (khoá VIII) Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Đỗ Mười khẳng định: "khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lí giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ" [14,tr.13] Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung và bậc học tiểu học nói riêng trong đó có vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường học đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Việc xây
Trang 9dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu của bậc học tiểu học - bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân và yêu cầu đổi mới trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá là vấn đề cấp bách và quan trọng
Điều 17 Điều lệ trường tiểu học quy định: "Hiệu trưởng trường tiểu học phải là giáo viên có thời gian dạy học ít nhất 3 năm ở cấp tiểu học, đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lý trường học và có sức khoẻ."[4,tr.9]
Thực tiễn giáo dục Quận 11 đang trên con đường phát triển, việc xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định Đồng thời vẫn tồn tại mâu thuẫn lớn cần giải quyết trong quá trình phát triển đó là: giữa yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục – đào tạo vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý còn nhiều vướng mắc, chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của Quận 11 Vì vậy, việc thực hiện công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học hiện nay là rất cần thiết và vô cùng quan trọng để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội của Quận 11 hiện nay Xuất phát từ những lý do ở trên, tác
giả chọn đề tài nghiên cứu: "Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường tiểu học ở Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ quản lý và công tác phát triển đội ngũ
cán bộ quản lý các trường tiểu học ở Quận 11
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
các trường tiểu học ở Quận 11
Trang 104 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; phát triển đội ngũ quản lý trường tiểu học
4.2 Khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11 4.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11
5 Giả thuyết khoa học
Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11 được quan tâm nhưng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao Nếu có các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển như dự báo công tác cán bộ theo nhiều hướng, nhiều chỉ tiêu; có kế hoạch tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và khuyến khích tự đào tạo, bồi dưỡng thì có thể phát triển đồng bộ đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở Quận 11 trong những năm tới
6 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Nhà nước, của ngành và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến phục vụ mục đích nghiên cứu dành cho các cán bộ quản lý trường tiểu học; đội ngũ giáo viên trường tiểu học và các lãnh đạo, cán bộ Phòng giáo dục Quận 11
Sử dụng các phương pháp dự báo trong nghiên cứu nguồn nhân lực giáo dục của Quận
11 trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học, bao gồm:
- Phương pháp sơ đồ luồng
Phương pháo dự báo theo dịnh hướng giáo dục của Quận
Trang 116.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu điều tra, định lượng, so sánh, phân tích kết quả khảo sát từng nội dung nghiên cứu làm căn cứ đánh giá thực trạng và dự báo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ quản lý được nghiên cứu trong đề tài này được giới hạn ở Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng các trường tiểu học
- Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu ở các trường tiểu học công lập trên địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm các phần:
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU
HỌC
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Từ thuở bình minh của nhân loại, quản lý là một vấn đề được đặc biệt quan tâm: tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm tìm ra quy luật vận động và các nguyên tắc hoạt động của
nó để làm thế nào quản lý có hiệu quả Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp điều hành, kiểm tra, chỉnh lý phải có người đứng đầu Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt mục tiêu đề ra
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, vấn đề quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng là chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý thực tiễn Vấn đề quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" [51], đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Đảm bảo chất lượng giáo dục phải là một trong những quan tâm hàng đầu của người làm quản lý giáo dục, trong đó có giáo dục tiểu học Sau đây là một vài ví dụ về vai trò và trách nhiệm mà một người quản lý các trường tiểu học ở Hoa Kỳ phải thực hiện mà theo tác giả Nguyễn Kim Dung, các CBQL giáo dục nước ta cần học tập:
- Người quản lý phải hiểu được tầm quan trọng của công tác đảm bảo chất lượng giáo dục trong nhà trường
- Người quản lý cần kết nối các hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục với mục đích, mục tiêu giáo dục đã được đề ra cho nhà trường và chiến lược, các kế hoạch hành động để thực hiện các mục đích, mục tiêu đó Khuynh hướng hiện nay trên thế giới là người quản lý chuyển đổi từ việc kiểm soát chặt chẽ đầu vào sang việc cố gắng phấn đấu để đạt được những mục tiêu giáo dục ở đầu ra Điều đó cũng dễ hiểu vì ở các nước, giáo dục tiểu học cũng là giáo dục bắt buộc, vì vậy việc hạn chế đầu vào là không có Tuy nhiên, để đầu ra đạt
Trang 13chất lượng, cần phải có nhiều nỗ lực và kế hoạch để đảm bảo là các em khi ra khỏi trường phải có được các kiến thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết để tiếp tục học lên
- Người quản lý cần phải thấy rõ vấn đề chất lượng giáo viên là một trong những vấn
đề cốt lõi của công tác đảm bảo chất lượng học tập
- Người quản lý cần phải có phong cách lãnh đạo, cỗ vũ học tập, tạo điều kiện cho tính hợp tác trong cơ quan phát triển, khuyến khích sự đa dạng, ủng hộ sử dụng công nghệ, thực hiện cơ chế tự chịu trách nhiệm, phát triển việc giảng dạy theo cách hướng dẫn, và chủ trương ủng hộ các gương làm việc tốt [10]
Theo quan điểm của tác giả Trần Thị Bích Liễu, trong thế giới ngày nay, mọi thứ đều tồn tại, phụ thuộc và là kết quả của nhau tạo nên một vòng tròn luân chuyển Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
mà trước tiên là chất lượng chương trình đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục Nhà trường và quản lý nhà trường trong thế kỉ XXI đòi hỏi những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất đạo đức mới ở người cán bộ quản lý giáo dục Do vậy, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục
và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục phải đáp ứng những yêu cầu này Các nước trên thế giới thực hiện chương trình đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ lãnh đạo giáo dục, người ta có các chương trình bồi dưỡng theo các chuyên đề nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho người học để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Chương trình bồi dưỡng có thể là một chuyên đề hay một loạt các chuyên đề, có thể liên quan hoặc không liên quan đến nhau, được gọi dưới các dạng thức như huấn luyện tại chỗ hay chương trình mùa hè (summer programs) hay các khóa học trực tuyến và các khóa học
mở ra quanh năm phục vụ các nhu cầu bồi dưỡng khác nhau Trọng tâm đào tạo của các chương trình của các nước hiện nay là đào tạo người lãnh đạo giáo dục có năng lực lãnh đạo quá trình dạy học Điều này rất dễ hiểu vì dạy học và giáo dục là những hoạt động chính của nhà trường Valorie Hargett, Margaret Gayle, (2007) tổng hợp ý kiến các chuyên gia cho rằng, những hiệu trưởng thành công là người: tập trung phát triển chương trình và chỉ đạo quá trình dạy học, thường xuyên hỗ trợ các hoạt động nâng cao trình độ chuyên môn có chất lượng cao để phát triển năng lực của giáo viên đứng lớp.[28]
0T
Ở Anh, cải cách giáo dục tiểu học được xem là "0T5Txóa nhòa sự tách biệt giữa giáo dục phi chính thức (informal education), tức học trong đời, trong cuộc sống và giáo dục chính thức (formal education), học trong trường lớp0T5T" Một cuộc cải cách mà báo chí Anh gọi là
"cuộc đại tu về giáo dục tiểu học lớn nhất của nước Anh trong vòng hơn 20 năm tới" Và cuộc đại tu này xem ra cũng chẳng tốn kém gì Chỉ là sắp xếp lại chương trình, môn học, trao nhiều quyền hơn cho các hiệu trưởng và giáo viên đứng lớp, và để cho cuộc sống diễn
ra một cách bình thường như nó vẫn diễn ra Chẳng hạn, cho trẻ em tiếp xúc với máy tính từ
Trang 14sớm Hoặc, không tách biệt từng môn học riêng như lịch sử, địa lý… mà tích hợp chúng lại
để dạy, sao cho cuối cùng đạt được các mục tiêu như hiểu biết về chính cơ thể của mình, có thể lực tốt, giao tiếp thành công, biết tính toán, có khả năng tồn tại và cạnh tranh trong cuộc sống …[33]
Có thể đề cập đến chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-06-2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu nhiệm vụ:
"Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục." [3]
Ngoài ra, điều 16 Luật giáo dục (2005) quy định về vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục như sau: "Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục ; Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân ; Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục." [39]
Bên cạnh đó, có thể đề cập đến quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11-01-2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" đã chỉ ra mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước." [9]
Chỉ thị số 0T030T-0TCT0T/0TTU0T ngày 0T25-9-20060T của Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh 2Tvề chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo của thành phố 2Tđã nêu lên thực tế là còn "một số ít giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân, của học sinh đối với ngành giáo dục - đào tạo thành phố" Vì vậy chỉ thị cũng nêu rõ là cần "tập trung lãnh đạo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, giáo viên trong thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và phòng, chống tiêu cực trong ngành; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bố trí cán bộ quản lý của ngành; xây dựng tổ chức Đảng ngành giáo dục - đào tạo trong sạch, vững mạnh." [43]
Trang 15Từ những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị, đáng lưu ý đó là: "Phẩm chất nhân cách cán bộ quản lý giáo dục trước yêu cầu đổi mới giáo dục" của tác giả Trần Minh Hằng – Trường Cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo Trung ương Tác giả nêu ra bốn nhóm phẩm chất, năng lực cần thiết của đội ngũ CBQL giáo dục (về trình độ đào tạo; phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực công tác; hiệu quả lao động) Qua các nhóm phẩm chất, năng lực này định hướng công tác bồi dưỡng nâng cao phẩm chất nhân cách CBQL giáo dục [24]
Tác giả Trần Hồng Quân cho rằng "quản lý là một khoa học, nếu chỉ bằng kinh nghiệm thì không tiến xa được, trường Cán bộ quản lý phải giúp Bộ thường xuyên bồi dưỡng CBQL; ngoài ra, còn có nhiều giải pháp khác để xây dựng đội ngũ CBQL" [38]
Còn tác giả Đặng Quốc Bảo có ý kiến "tiến tới giải pháp đồng bộ trong đào tạo CBQL giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục" [2]
Tháng 11 năm 1998, hội thảo khoa học "Chiến lược xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước" đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng, phát triển và đào tạo đội ngũ CBQL giáo dục có phẩm chất, tầm nhìn, kỹ năng, phong cách đáp ứng yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo
Tác giả Trần Văn Hạnh trong đề tài nghiên cứu lý luận "Bồi dưỡng CBQL giáo dục ở Thanh Hóa: Yêu cầu và cách làm" tháng 02 năm 2001 cho là CBQL trước đây chưa được đào tạo một cách bài bản và chưa trở thành một nguyên tắc, phải có bằng cấp về quản lý giáo dục mới được giao nhiệm vụ quản lý ở một đơn vị giáo dục [22]
Bên cạnh đó còn có các bài viết đề cập đến lĩnh vực quản lý giáo dục như: "Cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước" của nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Lê Vũ Hùng, đăng trên Tạp chí giáo dục số 60 tháng 6 năm 2003, trong đó tác giả khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ CBQL giáo dục, đội ngũ CBQL không thể tự hình thành, trước đây vẫn dùng con đường
"chọn tự nhiên" nhưng cách làm đúng là phải tạo ra môi trường "đào tạo hệ thống" [25] Cũng cần đề cập đến bài viết "5TĐào tạo cán bộ quản lý giáo dục trong phát triển giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế5T" của tác giả Vũ Ngọc Hải đăng trên 5Tt5Tạp chí Khoa
học giáo dục số 57, tháng 6 năm 2010 về công tác đào tạo cán bộ quản lý giáo dục hiện nay
phải phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhằm phát triển hài hoà giáo dục công lập và ngoài công lập; cán bộ quản lý giáo dục cần có năng lực thực hiện vai trò giám sát bằng luật pháp; ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục; trang
Trang 16bị năng lực độc lập, tính bản lĩnh và trách nhiệm; tăng tính tích cực, chủ động cho cán bộ
quản lý để tham gia hội nhập quốc tế sâu rộng [23]
Bài viết "5TLãnh đạo và quản lý: Vai trò kép của hiệu trưởng trường học5T" của tác giả
5T
Nguyễn Phúc Châu 5Tđăng trên 5Tt5Tạp chí Khoa học giáo dục số 58, tháng 7 năm 2010, trình bày
vai trò quản lý và lãnh đạo của một hiệu trưởng trong nhà trường và mối quan hệ biện chứng giữa hai vai trò đó với các hoạt động chủ yếu trong trường học mà người hiệu trưởng phải lãnh đạo và quản lý [8]
Ngoài ra, có thể nhận thấy một số công trình nghiên cứu có liên quan, thông qua các luận văn thạc sĩ: "Biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu" của tác giả Văn Thị Tường Oanh (năm 2000) [32]; "Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học tại tỉnh Bến Tre" của tác giả Nguyễn Tấn Phúc (năm 2000) [36]; "Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học trên đại bàn huyện Đức Hòa - Tỉnh Long An" của tác giả Trương Liên Phong (năm 2006) [34]; "Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường tiểu học tỉnh Bình Phước và một số giải pháp" của tác giả Nguyễn Thị Nhị (năm 2006) [33]; "Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học tại Quận Tân Bình, TP.HCM" của tác giả Nguyễn Nghĩa Dũng (năm 2006) [11] đã nêu lên thực trạng cũng như các giải pháp về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Long An, Bình Phước và Quận Bình Tân – Thành phố Hồ Chí Minh, thế nhưng các đề tài này vẫn chưa đi sâu vào công tác quy hoạch và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học ở một quận cụ thể
Nhìn chung, các văn bản, công trình nghiên cứu, bài viết khoa học và các luận văn kể trên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu học ở một quận mà điển hình là quận 11 Để đáp ứng với việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học mới phù hợp với điều kiện thực tiễn của quận, việc nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học có ý nghĩa lớn nhằm hoàn thiện cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Phát triển
Đây là một khái niệm khá phổ biến, đầu tiên là trong từ điển tiếng việt thì "phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [52]
Trang 17Theo tác giả Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Đắc Hưng thì "phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên."[51]
Theo quan điểm triết học thì "sự phát triển là một quá trình vận động và biến đổi không ngừng từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ mất đi và cái mới ra đời." [6]
"Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao, bởi vì trong cái thấp
đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển"[48]
Công tác phát triển ở đây được hiểu là quá trình vận động và biến đổi làm cho số lượng và chất lượng tăng trưởng theo chiều hướng tích cực và bền vững Phát triển trên cơ
sở xây dựng Xây dựng là làm ra, tạo nên những yếu tố mới có giá trị cao hơn Nói đến phát triển chính là nói đến quá trình chuyển biến trên một nền tảng nhất định đã được xác lập trước đó Vì thế, xây dựng và phát triển luôn có mối quan hệ gắn kết hữu cơ [49]
Quá trình phát triển là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý làm cho số lượng và chất lượng của khách thể quản lý luôn vận động theo chiều hướng tăng lên tạo nên những giá trị cao hơn, bền vững hơn.[51]
Như vậy, phát triển trong đề tài này được hiểu là khuynh hướng vận động đã xác
định về hướng của sự vật, hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
1.2.2 Đội ngũ
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sĩ đều xuất phát theo cách hiểu của từ điển tiếng việt về đội ngũ, đó là: "khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ " [52]
Theo nghĩa khác, thì đội ngũ "Đó là một tập hợp, gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng" [27,tr.328]
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau, nhưng đều có chung một điểm, đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định
Trang 18Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: đội ngũ là một tập thể gồm số đông người,
có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn
bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
1.2.3 Cán bộ
Khái niệm cán bộ được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Thuật ngữ khi đó thường dùng là "cán bộ, công nhân viên chức", bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ Nhà nước, từ những người đừng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ [47] Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỉ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự
mơ hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế; những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt với các nước; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại mà nội hàm cán bộ cũng có thay đổi Ở nước ta, khái niệm cán bộ cũng chưa được hiểu thống nhất và được sử dụng chung để ghép với công chức, viên chức Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 của nước ta (Điều 1), những người sau đây là cán bộ, công chức: "là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm:
1 Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
2 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
3 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp ngạch vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;
4 Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;
5 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan,
Trang 19quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp" [47]
Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 mặc dù đã có sự thay đổi và phát triển rõ rệt
so với những qui định cũ, song còn nhiều bất cập như có quá nhiều đối tượng có tính chất và hoạt động khác nhau cùng được điều chỉnh, đồng thời chưa làm rõ và phân tích được những đối tượng đó
Đến năm 2003, với việc ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức đã phân định rõ hơn khái niệm công chức, viên chức Theo đó, công chức là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, viên chức đảm nhiệm những công việc chuyên môn và làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Đồng thời, Pháp lệnh cũng đã qui định chế độ công chức dự bị, công chức cấp xã cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh
Qua qui định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2000
và 2003, có thể xếp những người sau đây là cán bộ:
- Những người qua bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Cán bộ bầu cử tại xã, phường, thị trấn (ngoài số công chức cơ sở mới được bổ sung
gần đây) [47]
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi cho rằng cán bộ là những người được tuyển
dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đó chính là các hiệu trưởng và phó hiệu trưởng trường tiểu học
1.2.4 Quản lý
a Khái niệm chung
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành Cùng với
sự phát triển của xã hội loại người, trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển theo Mác viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
Trang 20bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [6,tr.180] Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn; đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Có nhiều định nghĩa về quản lý theo các quan điểm khác nhau:
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó [6]
- Theo quan điểm kinh tế, F.Taylor (1856 - 1915) - người theo trường phái quản lý theo kiểu khoa học: "Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc và quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [20,tr.25]
Theo Henry Fayol (1841 - 1925) - nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn, trong quyển
"Quản lý chung và quản lý công nghiệp" thì quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch,
tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra [20]
Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thể quản lý lên những người lao động để sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng, cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định hiện hành Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn chú ý đến sự vận hành, hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và tác động qua lại giữa các lực lượng sản xuất
- Theo quan điểm chính trị xã hội: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý)
về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [18,tr.7]
- Theo chủ nghĩa Mác - Lê nin thì: toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, tức cũng là một hệ thống [6]
Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động
Trang 21Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn Lý thuyết quản lý cho rằng "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường" [44,tr.43]
- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc tốt và rẻ
- Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, nhóm để đạt được mục tiêu
- Quản lý là quá trình cùng làm việc của các cá nhân để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, nhóm
- Quản lý là một nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác
Qua những định nghĩa trên, ta có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan
- Quản lý gồm hai thành phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý
+ Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên
+ Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như: đoàn xe, môi trường, thiên nhiên , vừa có thể là sự việc: luật lệ, quy chế, quy phạm kỹ thuật
Cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn
- Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau
"Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích
của chủ thể quản lý" [18,tr.7]
- Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động
Xét dưới góc độ điều khiển học, hành động quản lý chính là quá trình điều khiển, sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý
Trang 22- Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có
Cơ chế quản lý Mục tiêu quản lý
Đối tượng quản lý
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mô tả về hoạt động quản lý [44]
b Bản chất của hoạt động quản lý và các chức năng quản lý
* Bản chất của hoạt động quản lý:
Từ khi con người biết hợp tác với nhau để tự vệ và mưu sinh thì đã xuất hiện những yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành để thực hiện mục tiêu, tạo nên sức mạnh giúp con người đạt được những mục tiêu cần thiết Như vậy, trong quá trình vận động, sự phát triển của xã hội và quản lý không thể tách rời nhau; khi lao động đạt tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì quản lý như là một chức năng, là điều tất yếu khách quan
Trong một tổ chức nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có chủ đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích Những tác động qua lại đó có tác động lan toả rộng rãi Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động quản lý phục vụ quyền lợi của giai
Trang 23Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện, phương pháp phù hợp với quy luật khách quan thì mới đạt được hiệu quả
Quản lý được coi là một "nghề" Những kỹ năng nghề nghiệp của người quản lý để thực hiện công việc đòi hỏi mang tính kỹ thuật, thể hiện ở những thao tác nghề nghiệp của người quản lý
Hoạt động quản lý vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật Tính nghệ thuật của hoạt động quản lý thể hiện những tác động hợp quy luật, hoàn cảnh
Vậy, "Hoạt động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất Đó là biện chứng, là bản
chất của hoạt động quản lý " [40,tr.58]
* Các chức năng quản lý:
- Theo Henry Fayol: Chức năng quản lý là nhóm hoạt động phải hoàn thành thể quản
lý Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý [18,tr.64]
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu quản lý
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý
Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý
- Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý:
+ Henry Fayol đã đưa ra năm chức năng sau đây mà người ta gọi là năm yếu tố của Fayol: kế hoạch hoá, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá
+ Trong quyển "Cơ sở của khoa học quản lý" của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng cơ bản của quản lý gồm:
Kế hoạch hóa
Tổ chức
Phối hợp
Trang 24Điều chỉnh, kích thích
Kiểm tra, hạch toán
- Sau khi tổng hợp một số chức năng lại, nhiều tác giả cho rằng quản lý có bốn chức năng cơ bản là bốn khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là:
Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng,
quy mô lớn Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, xác định những biện pháp trong thời kỳ nhằm đạt mục tiêu dự định
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ
phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực
Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý Chỉ đạo bao hàm
việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt mục tiêu của
tổ chức
Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi
giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai Đây chính
là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ về chu trình quản lý.[44]
Chúng tôi cũng tán thành quan điểm gồm bốn chức năng trên Với các chức năng đó, quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nó nâng cao hiệu quả của hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển
c Mục tiêu quản lý
Mục tiêu quản lý thể hiện ý chí của nhà quản lý (chủ thể), đồng thời phải phù hợp với
sự vận động và phát triển của các yếu tố có liên quan Các yếu tố có liên quan đến quản lý là :
Chức năng
kế hoạch hóa Chức năng tổ chức chỉ đạo thực Chức năng
hiện
Chức năng kiểm tra, đánh giá
Thông tin phục vụ quản lý
Trang 25- Yếu tố xã hội - môi trường: là yếu tố con người cùng với hoàn cảnh của họ Trong
quản lý phải nắm đặc điểm chung nhất của con người Đó là những đặc điểm: tâm sinh lý, lứa tuổi, giới tính đặc biệt về đặc điểm dân tộc, giai cấp, đặc điểm vùng miền, địa phương
- Yếu tố chính trị - pháp luật: là chế độ chính trị, chế độ sở hữu và hệ thống luật pháp
liên quan tới cơ chế quản lý
- Yếu tố tổ chức: là sự thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần trong bộ
máy, quy định quyền hạn, trách nhiệm, chức năng của các bộ phận và thành phần trong bộ máy Trong đó tổ chức nhân sự vẫn là vấn đề cốt lõi
- Yếu tố quyền uy: quyền uy chính là quyền lực và uy tín của nhà quản lý, đây là công
cụ đặc biệt của nhà quản lý Quyền uy vừa do cơ chế quản lý vừa do nhân cách của nhà quản lý tạo nên
- Yếu tố thông tin: đó là tin tức, là mối liên hệ (liên lạc), thông tin là cơ sở giúp nhà
quản lý đề ra các quyết định để tác động tới đối tượng quản lý Thông tin đầy đủ, chính xác thì tác động quản lý sẽ có hiệu quả
Quản lý hành chính Nhà nước là một dạng quản lý mang tính chất quyền lực Nhà nước
do các cơ quan Nhà nước sử dụng quyền lực để điều chỉnh quan hệ xã hội và hành vi con người
Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình
và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý
và phù hợp với các quy luật khách quan
1.2.5 Quản lý giáo dục
a Khái niệm Quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ
- Theo M.I.Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý
của trẻ em" [27,tr.10]
Trang 26- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh" [21,tr.34]
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo
dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [37,tr.35]
- Tác giả Nguyễn Gia Quý thì cho rằng: "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vân dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân" [40,tr.12]
Khái niệm về quản lý giáo dục, cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng
cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất
"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội"
[2,tr.3]
Quản lý giáo dục gồm:
- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp
- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
- Quan h ệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ
giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ người dạy - người học; quan hệ giữa giáo giới - cộng đồng Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục
Xét về khoa học thì quản lý giáo dục là sự điều khiển toàn bộ những hoạt động của cả cộng đồng, điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra những thế hệ có đức, có tài phục vụ
sự phát triển của xã hội
- Quản lý giáo dục là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội, mọi quyết định, thay đổi của giáo dục đều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội
- Quản lý giáo dục là loại hình quản lý được đông đảo thành viên tham gia
Trang 27- Bản thân quản lý giáo dục là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải huy động nhân lực, nguồn lực lớn
- Giáo dục truyền đạt, lĩnh hội những giá trị kinh nghiệm lịch sử xã hội tích luỹ qua các thế hệ Xã hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển giáo dục - đào tạo
Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động quản lý sử dụng các nguồn lực
Như vậy, "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, cán bộ, kế
hoạch hoá ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống
cả về mặt số lượng cũng như chất lượng" [40,tr.93]
b Chức năng quản lý giáo dục
* Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có hai chức năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh
tế - xã hội
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế - xã hội Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế
* Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng, cụ thể là:
- Mục tiêu đào tạo
- Nội dung đào tạo
Trang 28- Phương pháp đào tạo
- Lực lượng đào tạo
- Đối tượng đào tạo
- Hình thức tổ chức đào tạo
- Điều kiện đào tạo
- Môi trường đào tạo
- Quy chế đào tạo
- Bộ máy tổ chức đào tạo
Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên, để nhà trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế
1.2.6 Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục
a Khái niệm quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn được sử dụng trong quản trị con người của tổ chức giáo dục nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức giáo dục cũng như của tất cả các thành viên trong tổ chức giáo dục đó
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục được thực thi ở bất kỳ tổ chức nào ở cấp độ nào, quy mô nào trong giáo dục nhằm mục tiêu cao nhất là tạo điều kiện cho cả tổ chức cũng như từng con người trong tổ chức đó được phát triển một cách tối đa và đặc biệt là hoạt động chung của tổ chức sẽ đạt đến một hiệu quả cao, một chất lượng cao [42]
b Yêu cầu của việc quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục mang tính chất nhân văn nên yêu cầu phát triển nhân viên, phát triển đội ngũ được quan tâm đặc biệt Đây là yêu cầu tối quan trọng khi thực hiện công tác quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục vì giáo dục mang tính phát triển, giáo dục vì con người, do con người và cho con người
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục phải thực hiện phương châm “đúng người – đúng việc” vì đây là nguyên tắc vàng đảm bảo sự phát triển của người học – mục tiêu được xem như mục tiêu cuối cùng trong sự nỗ lực và cố gắng của bất kỳ một tổ chức giáo dục Con người luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất, nguồn tài sản quý giá nhất của tổ chức giáo dục nên việc lựa chọn, sắp xếp con người có năng lực, phẩm chất phù hợp với các vị trí
Trang 29trong bộ máy, tổ chức giáo dục được xem như nhiệm vụ hàng đầu của nhà quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục đòi hỏi nhà quản lý hay nhà quản trị phải biết cách khai thác tối đa các nguồn nhân lực và vật lực trong giáo dục để làm cho cả hệ thống tổ chức được phát triển mạnh nhất Sức mạnh tổng hợp này chỉ được khai thác khi và chỉ khi nhà quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục thật sự khéo léo, có tầm nhìn và biết cách khơi gợi tiềm lực của mỗi người
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục phải được xem xét trên quan điểm hệ thống Tính hệ thống sẽ chi phối việc xác định nguồn nhân lực, tuyển chọn, sắp xếp đề bạt, đào tạo
và phát triển, đánh giá nhân viên trong mối tương quan với những vấn đề và chức năng khác nhau của công tác quản trị nguồn nhân lực cũng như phải dựa trên những cơ sở khoa học của nó Đặc biệt, tất cả phải dựa trên các chiến lược, kế hoạch, chính sách nhân lực, các điều kiện thực tế
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục đặc biệt phải dựa trên tình hình phát triển thực
tế cũng như những dự báo phát triển giáo dục ở địa phương, trong nước, khu vực cũng như trên thế giới để những chính sách về nguồn nhân lực sẽ được xác lập một cách đúng đắn, hợp lý và khả thi [42]
c Tầm quan trọng của việc quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục cho phép phát huy tối đa nguồn lực con người trong tổ chức Việc tìm đúng người để giao việc phù hợp hay giao việc đúng cương vị sẽ tạo
ra nguồn lực nhằm làm cho chất lượng công việc đạt đến mức tối đa
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục sẽ đáp ứng những đòi hỏi của yêu cầu “kinh tế mở” mà giáo dục cũng không thể khác được Hơn thế nữa, nếu quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục phù hợp sẽ tạo điều kiện cho công tác tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân lực trong bộ máy tổ chức sẽ thuận lợi nhất nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục sẽ giúp cho những cán bộ quản lý giáo dục biết cách “giao dịch” hay giao tiếp một cách hợp lý nhất theo quan điểm tương tác giữa người với người trong cuộc sống Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục sẽ giúp nhà quản
lý giáo dục xác lập mối quan hệ trong giáo dục không còn đơn thuần là lãnh đạo với nhân viên mà là của nhà quản lý với những cộng sự
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức giáo dục cạnh tranh lành mạnh dựa trên cơ sở “nắm chắc” sức mạnh của nguồn lực: nhà quản lý, đó là những giảng viên – giáo dục viên Mặt khác, chính công tác quản trị nguồn nhân lực được thực thi cùng với những chế độ chăm sóc thể chất lẫn tinh thần cho nhân viên cũng như
Trang 30những chế độ đầu tư thích đáng cho tương lai (đặc biệt về mặt đào tạo – huấn luyện cho đội ngũ giáo dục) sẽ tạo ra những người tâm huyết trong giáo dục, gắn bó và hết lòng
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục được xem như một trong những điều kiện tối quan trọng để xây dựng văn hóa giáo dục Điều này là một yêu cầu được thực thi bằng những hành động thực tiễn mà hành động đầu tiên là hành động đối xử với con người theo kiểu của con người, theo kiểu tôn trọng nguồn nhân lực
Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục đòi hỏi nhà quản lý sẽ phải “tốt hơn” thật nhiều vì những yêu cầu về quản lý nguồn nhân lực là những phương châm sống thôi thúc họ luôn nhìn nhận chính mình Nó cũng là nguồn lực đòi hỏi nhà quản lý phải có tâm, có tài
Họ phải thực sự có đạo đức, lối sống, có văn hóa, biết cách làm việc với con người, biết quan tâm đến con người Họ thực sự phải là nhà quản lý – nhà tổ chức – người cộng sự và là nhà tư vấn thật sự có “nghề” để đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực cũng như yêu cầu của công tác quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục [42]
1.2.7 Phá t triển đội ngũ cán bộ quản lý
a Một số nội dung về công tác cán bộ trong Nghị quyết của Đảng
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vai trò đội ngũ cán bộ cực kỳ quan trọng vì họ là người vạch ra các kế sách, người tổ chức thực hiện các mục tiêu đề ra
Vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trở nên quan trọng và cấp bách
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2020 là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có đủ bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập tự chủ đi lên chủ nghĩa xã
hội" [15,tr.36]
- Nghị quyết Đại hội Đảng khoá VIII về đổi mới công tác đào tạo đội ngũ cán bộ có nhận định: "Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ đúng công sức và tài năng với tinh thần ưu
đãi và tôn vinh nghề dạy học" [13,tr.36]
- Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2010 ghi rõ: "Ban Chấp hành Trung ương chủ trương từ
Trang 31nay đến năm 2010, toàn Đảng, toàn dân mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục cần tập trung vào những nhiệm vụ sau: Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực
hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng, lối sống cho người học…"
[16,tr.127]
Như vậy, trong đề tài này, thì công tác phát triển đội ngũ cán bộ được hiểu là bản thân từng cán bộ, công chức phải ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, luôn có chí tiến thủ, cầu thị tiến bộ, chủ động, tích cực, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn, phấn đấu đạt chất lượng, hiệu quả công tác một cách tốt nhất Từng cán bộ, công chức thường xuyên nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Đồng thời các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức một cách khoa học, kịp thời, có hiệu quả Coi trọng tất cả các khâu, các bước của quá trình đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, công chức
b Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
- Với nghĩa chung nhất, phát triển đội ngũ cán bộ thực chất là phát triển con người
- Nghĩa hẹp hơn, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học là phát triển nguồn lực người trong ngành giáo dục; đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên có năng lực lao động, làm cho mỗi người tự phát triển bản thân
- Phát triển đội ngũ cán bộ để đội ngũ đó được biến đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu Đó là quá trình xây dựng đội ngũ có trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, năng lực quản lý, đòi hỏi những người có phẩm chất tốt, có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học được thể hiện trên các mặt:
- Bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý giáo dục
- Bố trí đội ngũ phù hợp năng lực, điều kiện
- Đảm bảo được định mức lao động
- Động viên khen thưởng kịp thời
- Xây dựng tốt mối quan hệ lành mạnh
Vấn đề cơ bản của phát triển đội ngũ cán bộ quản lý là đảm bảo số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người quản lý Chất lượng của đội ngũ được hiểu trên bình diện chất lượng và số lượng Tuy có phân biệt số
Trang 32lượng với chất lượng nhưng số lượng luôn gắn chặt với chất lượng, chất lượng bao hàm số lượng
* Xét đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý phải xét đến các mặt
- Số lượng đội ngũ: căn cứ thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8 năm 2006 liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ về hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập quy định biên chế CBQL trường tiểu học
là các trường tiểu học có từ 28 lớp trở lên thì có không quá 2 Phó hiệu trưởng, còn từ 27 lớp trở xuống thì có 1 Phó hiệu trưởng
- Chất lượng đội ngũ: chất lượng đội ngũ cần được quan tâm trên bình diện về phẩm chất và năng lực
Theo chúng tôi những phẩm chất và năng lực của người CBQL trường tiểu học thể hiện trên hai phương diện đức và tài Đó là sự kết hợp những đặc điểm của con người Việt Nam và những yêu cầu của người CBQL trường tiểu học trong giai đoạn mới Những biểu hiện cụ thể là:
Về phẩm chất
+ Phẩm chất chính trị
- Hiểu biết đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Có giác ngộ chính trị, biết phân tích đúng sai, bảo vệ quan điểm đường lối của Đảng
- Có ý thức chấp hành kỷ luật lao động
- Giáo dục thuyết phục cán bộ, giáo viên, nhân viên chấp hành chính sách cấp trên
- Có thái độ tích cực đối với cái mới, cái tiến bộ, kiên quyết đấu tranh những hiện tượng tiêu cực, sai trái, bảo vệ lẽ phải
- Có tầm nhìn rộng, nắm bắt và xử lý các thông tin đầy đủ - chính xác - kịp thời
+ Phẩm chất đạo đức
- Thực sự là nhà giáo dục, người đứng đầu của tập thể sư phạm nhà trường
- Có uy tín với tập thể sư phạm, đối với cấp trên, được cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và mọi người tôn trọng
- Biết quý trọng con người, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
- Có phong cách lãnh đạo dân chủ, công bằng
Trang 33- Trung thực trong báo cáo đối với cấp trên, đánh giá cấp dưới
- Có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô
- Tận tụy, có trách nhiệm đối với công việc, gương mẫu trong lối sống sinh hoạt
Về năng lực
+ Kiến thức, năng lực chuyên môn
- Có trình độ hiểu biết về chuyên môn và khả năng giảng dạy các môn bắt buộc ở bậc tiểu học
- Nắm vững nội dung, chương trình, phương pháp đặc trưng các môn học ở bậc tiểu học
- Có khả năng quản lý chỉ đạo về chuyên môn
- Am hiểu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy- học, quan tâm các điều kiện phục vụ để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
- Nắm vững các nguyên tắc, điều lệ quy định về quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
ở bậc tiểu học
- Có khả năng tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao tay nghề giáo viên
+ Năng lực quản lý
- Có năng lực dự báo, thiết kế và tổ chức thực hiện các giải pháp
- Có năng lực quản lý hành chính, quản lý tài chính
- Có năng lực quản lý đội ngũ, xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết
- Có năng lực giao tiếp và làm việc khoa học
- Có năng lực tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học
- Có năng lực phân tích các hoạt động giáo dục, thể hiện tính sư phạm trong việc tổ chức các hoạt động
- Có năng lực vận động, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia
sự nghiệp giáo dục
- Có năng lực chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động dạy - học và các hoạt động khác trong trường học
Trang 34- Dám quyết đoán trong công việc và dám chịu trách nhiệm
Những yêu cầu về phẩm chất, năng lực nêu trên cũng là cơ sở để tác giả nghiên cứu thực trạng, đánh giá đội ngũ CBQL, đồng thời đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học ở Quận 11 trong giai đoạn hiện nay
Đội ngũ được đánh giá là có chất lượng khi đội ngũ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn nhân lực người, nguồn lực quý báu nhất có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội "Mục tiêu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách con người, trên cơ sở
đó phát triển giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Nói cách khác, phát triển giáo dục nhằm phát triển người bền vững để phát
triển kinh tế - xã hội [19]
Tóm lại: Phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học là làm cho đội ngũ CBQL có
đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác, có khả năng thiết kế, tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý trường tiểu học đáp ứng với yêu cầu của công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
1.3 Một số vấn đề chung về nhà trường tiểu học
1.3.1 Vị trí của trường tiểu học
Điều 2 Điều lệ trường tiểu học xác định: "Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông
của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng "
[4,tr.1]
Điều 4 Điều lệ trường tiểu học quy định:
"Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục
a) Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
b) Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt, gồm: a) Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học;
Trang 35b) Lớp tiểu học trong trường phổ thông dân tộc bán trú;
c) Lớp tiểu học trong trường dành cho trẻ em tàn tật, khuyết tật;
d) Lớp tiểu học trong trường giáo dưỡng; trung tâm học tập cộng đồng và trường, lớp tiểu học thực hành trong trường sư phạm
- Cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học, gồm : lớp dành cho trẻ
em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường, lớp dành cho trẻ tàn tật, khuyết tật.” [4,tr.2]
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
Tiểu học là bậc học đặt nền tảng ban đầu trong việc hình thành, phát triển nhân cách của con người Đó là cơ sở nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học đảm nhận học sinh từ 6 đến 14 tuổi được đào tạo giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5
1.3.2 Mục tiêu của giáo dục tiểu học
Mục tiêu của giáo dục tiểu học theo khoản 2 điều 27 Luật giáo dục (2005): "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở" [39,tr15]
Mục tiêu quản lý trường tiểu học là quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường, sử dụng có hiệu quả về nhân lực, tài lực, vật lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Quản lý trường tiểu học chủ yếu là quản lý hoạt động dạy và học, các hoạt động phục
vụ cho việc dạy và học nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Mục tiêu cụ thể của giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay cần đạt được một số vấn đề :
- Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục: Tính đến thời điểm tháng 7 năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học – chống mù chữ Do vậy việc duy trì, củng cố
và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước tuỳ theo từng địa phương phấn đấu đạt chuẩn, nâng tỷ lệ đạt chuẩn, giữ mức độ vững chắc, củng cố thành tựu phổ cập giáo dục tiểu học – chống mù chữ
- Duy trì, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc tiểu học, chuẩn bị tốt các điều kiện cho học sinh học hai buổi/ngày Đổi mới phương pháp dạy và học, dạy đủ các môn bắt
Trang 36buộc và tự chọn Xây dựng, đánh giá các trường tiểu học theo chuẩn quốc gia Xây dựng các điều kiện bảo đảm việc giáo dục- đào tạo học sinh về các mặt: đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng có hiệu quả
1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động quản lý của trường tiểu học
a Nhiệm vụ, quyền hạn của trường tiểu học
Trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau đây theo điều 3 Điều lệ trường tiểu học:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, khuyết tật, trẻ em đã
bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra
và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học của học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn quản lý của trường
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động
xã hội trong cộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [4,tr.2]
b Hoạt động quản lý của trường tiểu học
Trường tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học vừa là một thiết chế xã hội trong quản lý quá trình đào tạo trung tâm, vừa là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy giáo dục quốc dân Hoạt động quản lý của trường tiểu học thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động quản lý, mang tính xã hội, tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật của hoạt động quản lý
Chủ thể quản lý của trường tiểu học chính là bộ máy quản lý giáo dục trường học (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng)
Trang 37- Quản lý ở trường tiểu học chủ yếu quản lý các mặt:
+ Quản lý quá trình giáo dục - đào tạo
+ Quản lý trường sở - cơ sở vật chất - thiết bị
+ Quản lý hành chính, tài chính
+ Quản lý nhân sự
+ Quản lý môi trường
Trong các trường tiểu học hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý và các mối quan hệ, phối hợp các lực lượng trong quản lý bao gồm:
- Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng do Nhà nước bổ nhiệm chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường Hiệu trưởng được bổ nhiệm theo định kỳ, quản lý các hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng
- Tổ chức Đảng trong nhà trường tiểu học lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật
- Công đoàn giáo dục, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong trường theo quy định của pháp luật giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
- Mỗi trường tiểu học có một giáo viên Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong
Hồ Chí Minh và Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh, có trách nhiệm phối hợp với nhà trường tổ chức và quản lý các hoạt động của Đội và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Sự phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong việc quản lý trường học
Mỗi trường tiểu học chịu sự quản lý trực tiếp về chuyên môn, hành chính của Phòng Giáo dục – Đào tạo và cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương nơi trường đóng [4]
1.4 Những yêu cầu của việc xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu học
1.4.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng
Trang 38trường và các cấp có thẩm quyền;
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường;
bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
- Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;
- Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng [4,tr.9]
b Phó Hiệu trưởng
Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng, là những người được tín nhiệm
về chính trị, đạo đức, chuyên môn, có năng lực quản lý trường học và có sức khoẻ
Phó Hiệu trưởng có những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản theo quy định Điều lệ trường tiểu học:
- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công
- Điều hành hoạt động của nhà trường khi Hiệu trưởng ủy quyền
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định [4,tr.10]
c Mối quan hệ giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng
Trang 39Hiệu trưởng là người quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về các hoạt động trong trường học Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng những việc được phân công Tuy vậy các phó hiệu trưởng cũng phải chịu trách nhiệm liên đới trước Đảng, Nhà nước trong công việc của mình Do đó Hiệu trưởng phải có phân công công việc cho Phó Hiệu trưởng, thường xuyên nắm thông tin và có những quyết định kịp thời không
để những hiện tượng giao khoán thiếu trách nhiệm
1.4.2 Những yêu cầu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học
Giáo dục phải đón đầu sự phát triển của xã hội, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của thời đại Giáo dục phải luôn luôn phát triển, dự báo được tương lai, quan niệm của tác giả Phạm Minh Hạc: "Nói tới giáo dục là nói tới triển vọng, viễn cảnh Nếu làm giáo dục mà chỉ nghĩ đến trước mắt, không nghĩ tới phạm trù tương lai, chắc chắn là không có thành công,
hay ít nhất là không có thành tựu thật" [21,tr.19]
Giáo dục luôn đặt trong sự phát triển để nâng cao nguồn nhân lực, do đó vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL nói chung, CBQL bậc tiểu học nói riêng là yêu cầu quan trọng, mang tính tất yếu Bởi vì, CBQL là nhân vật chủ yếu, quyết định chất lượng giáo dục Các trường chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu đề ra, nói rộng hơn giáo dục - đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội khi nhà trường có được đội ngũ CBQL có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ
Yêu cầu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay:
Trước hết phải xây dựng đội ngũ CBQL có được số lượng theo quy định Mỗi trường
có một Hiệu trưởng, một đến hai Phó Hiệu trưởng
Xây dựng, phát triển đội ngũ có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp, nhà sư phạm mẫu mực
Đội ngũ CBQL phải là người có chuyên môn từ loại khá trở lên, có năng lực quản lý,
có sức khoẻ, có khả năng chỉ đạo, kiểm tra, thực sự là những nhà giáo dục
Hiệu trưởng trường tiểu học hội tụ được các mặt:
- Người đại diện chức danh hành chính, đảm bảo lãnh đạo hành chính tốt
- Người quản lý và lãnh đạo cộng đồng giáo dục Đảm bảo việc quản lý hợp lý
và kinh tế
Trang 40- Trụ cột sư phạm
- Nhà canh tân giáo dục
- Người thực hiện Điều lệ trường tiểu học [21]
Trong phạm vi của đề tài, kết quả khảo sát ban đầu cho thấy ở Quận 11, hiện nay mới chỉ có 01/17 trường đạt tiêu chuẩn trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, nếu muốn trong những năm tới sẽ có thêm nhiều trường trên địa bàn đạt chuẩn nói trên thì ngoài những điều kiện về tổ chức – quản lý, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất – thiết bị trường học, thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, hoạt động – chất lượng giáo dục, một yếu tố rất đáng quan tâm
đó là đội ngũ cán bộ quản lý
Theo quyết định số 32/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia có quy định về chuẩn của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng như sau:
“Trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 (quy định các tiêu chuẩn cần thiết của trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện.)
* Hiệu trưởng
- Có trình độ đào tạo từ trung học sư phạm trở lên
- Có ít nhất 5 năm dạy học (không kể thời gian tập sự)
- Đã được tập huấn về chính trị, nghiệp vụ quản lý trường học
- Có phẩm chất đạo đức tốt; có lập trường, tư tưởng vững vàng
- Có năng lực chuyên môn
- Có năng lực quản lý trường học
- Có sức khỏe
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ của hiệu trưởng trường tiểu học
* Phó hiệu trưởng
- Có trình độ đào tạo từ trung học sư phạm trở lên
- Có ít nhất 3 năm dạy học (không kể thời gian tập sự)
- Đã được tập huấn về chính trị, nghiệp vụ quản lý trường học
- Có phẩm chất đạo đức tốt; có lập trường, tư tưởng vững vàng
- Có năng lực chuyên môn