Nghiên cứu hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ không chỉ để nói rõ tính chính xác và tính thống nhất khi sử dụng thuật ngữ này mà còn để thấy rằng hiện tượng đa thanh gắn với một số vấn đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỤY ÁI NHÂN
HIỆN TƯỢNG ĐA THANH
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC
(LẬP LUẬN, TIỀN GIẢ ĐỊNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- NGUYỄN THỤY ÁI NHÂN
HIỆN TƯỢNG ĐA THANH
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC
(LẬP LUẬN, TIỀN GIẢ ĐỊNH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS HOÀNG DŨNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa từng có ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỤY ÁI NHÂN
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin g ửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Hoàng Dũng, người đã trực
ti ếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô, những người
đã chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu; xin chân thành cảm
ơn phòng Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Người viết đã nỗ lực hết mình để hoàn thành luận văn Tuy nhiên, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
MỞ ĐẦU 6
0.1.LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
0.2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
0.3.NGUỒN CỨ LIỆU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
0.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
0.5.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 12
0.6.BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 12
CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐA THANH 14
1.1.ĐA THANH TRONG LĨNH VỰC ÂM NHẠC 14
1.2.ĐA THANH TRONG LĨNH VỰC VĂN HỌC 18
1.3.ĐA THANH TRONG LĨNH VỰC NGÔN NGỮ HỌC 23
1.4.TIỂU KẾT 37
CHƯƠNG 2 HIỆN TƯỢNG ĐA THANH VÀ LẬP LUẬN 38
2.1.LẬP LUẬN (ĐỜI THƯỜNG) VÀ HIỆN TƯỢNG ĐA THANH 38
2.2.HIỆN TƯỢNG ĐA THANH MỘT TRONG NHỮNG CHỈ DẪN LẬP LUẬN 47
2.2.1 Hiện tượng đa thanh chỉ dẫn hướng lập luận 47
2.2.2 Hiện tượng đa thanh chỉ dẫn hiệu lực lập luận 56
2.3.TIỂU KẾT 60
CHƯƠNG 3 HIỆN TƯỢNG ĐA THANH VÀ TIỀN GIẢ ĐỊNH 62
3.1.TIỀN GIẢ ĐỊNH ĐA THANH 62
3.2.CÁC TẦNG BẬC TIỀN GIẢ ĐỊNH ĐA THANH TRONG PHÁT NGÔN 74
3.3.TIỂU KẾT 78
CHƯƠNG 4 CÁC KIỂU PHÁT NGÔN THƯỜNG MANG HIỆN TƯỢNG ĐA THANH 80
4.1.LỜI DẪN TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP 80
4.2.PHỦ ĐỊNH MIÊU TẢ VÀ PHỦ ĐỊNH BÁC BỎ 85
4.3.NÓI MỈA 96
4.4.TIỂU KẾT 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6MỞ ĐẦU 0.1 Lý do nghiên cứu đề tài
Đa thanh là một khái niệm quan trọng trong âm nhạc và đã xuất hiện từ rất
lâu Ngày nay, khái niệm đa thanh đã được mở rộng trong các lĩnh vực khác nhau
Trong văn học, nó đánh dấu sự ra đời của một loại tiểu thuyết mới, sự ra đời của một phong cách sáng tác mới, một tư duy nghệ thuật mới,… độc đáo Trong ngôn ngữ học, nó cho thấy một cách nhìn mới về tư duy ngôn ngữ (tư duy ngôn ngữ theo kiểu đối thoại), mở ra một phạm vi nghiên cứu mới (nghiên cứu phát ngôn có tính
đa thanh) Sự mở rộng phạm vi hoạt động của khái niệm đa thanh hay phức điệu
trong các lĩnh vực khác nhau cho thấy tầm quan trọng của khái niệm này
Với những đặc trưng tiêu biểu và những giá trị riêng biệt, hiện tượng đa
thanh xứng đáng có một vị trí đáng chú ý hơn trong các công trình nghiên cứu ngôn
ngữ học Nghiên cứu hiện tượng đa thanh cho phép ta tìm ra một trong những đặc
điểm của ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ nghệ thuật nói chung Nghiên cứu hiện
tượng đa thanh trong ngôn ngữ không chỉ để nói rõ tính chính xác và tính thống nhất khi sử dụng thuật ngữ này mà còn để thấy rằng hiện tượng đa thanh gắn với một số vấn đề ngôn ngữ học then chốt: lập luận và tiền giả định
Mặc dù việc nghiên cứu về hiện tượng đa thanh có giá trị to lớn như vậy
nhưng vấn đề này vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng nhất là trong ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam Những thành tựu về vấn đề này khá ít ỏi và chưa hệ thống Đó là chưa kể có những quan điểm thiếu tính nhất quán và chưa thật thuyết phục Chính
vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Hiện tượng đa thanh và một số vấn đề ngôn ngữ
học có liên quan trong tiếng Việt (lập luận, tiền giả định)”
Trong luận văn này, chúng tôi nhằm đến những mục tiêu sau:
(1) Tìm hiểu sự khác biệt về hiện tượng đa thanh trong ba lĩnh vực: âm nhạc,
văn học và ngôn ngữ Việc này nhằm cung cấp một cái nhìn có tính tổng
thuật về vấn đề đa thanh
(2) Chỉ ra những thiếu sót trong quan niệm về hiện tượng đa thanh của các tác
Trang 7giả đi trước và góp thêm ý kiến của mình về vấn đề này
(3) Vận dụng hiểu biết về hiện tượng đa thanh làm rõ một số vấn đề ngôn ngữ
học có liên quan: vấn đề lập luận, vấn đề tiền giả định
0.2 Lịch sử vấn đề
Người đầu tiên vận dụng khái niệm đa thanh trong âm nhạc để nghiên cứu
ngôn ngữ và văn chương chính là Bakhtin Tuy nhiên, giới ngôn ngữ học lúc bấy
giờ không chú ý đến Mãi đến năm 1984 mới có công trình đầu tiên đưa khái niệm
đa thanh vào ngôn ngữ học, gắn cho nó một nội dung, một cách hiểu mới Đó là
cuốn sách Le dire et le dit (1984) của O Ducrot Trong cuốn này, Ducrot dành một chương (chương 8) để nói về hiện tượng đa thanh Nói chính xác hơn là trong
chương này tác giả tìm cách bác bỏ và thậm chí thay thế một định đề cố hữu trong ngôn ngữ học bấy giờ: mỗi phát ngôn chỉ có duy nhất một người nói
Để làm được điều đó, O Ducrot đã tiếp nhận và phát triển lý thuyết đa thanh
của Bakhtin vào ngôn ngữ học Tuy nhiên, ông cũng nêu rõ quan điểm: “lý thuyết
này của Bakhtin chỉ được áp dụng với các bản văn (có nghĩa là một tổ hợp các phát ngôn) chứ không phải đối với từng phát ngôn Do đó lý thuyết này không thể bác bỏ định đề mà theo đó mỗi phát ngôn riêng biệt chỉ cho nghe được một giọng” [50,
tr.171] Để giải quyết vấn đề đã đặt ra, O Ducrot dựa vào nghiên cứu của một tác giả Mỹ, đó là Ann Banfield Những nghiên cứu của Ann Banfield về lối nói gián
tiếp tự do (discours indirect libre) được đưa ra bàn thảo chi tiết trong cuốn Plénat (1975) và Authier (1978) (Hai nghiên cứu của tác giả này đã bác bỏ hai nguyên tắc, một là nguyên tắc “một phát ngôn – một chủ thể ý thức”, hai là nguyên tắc “nếu có một người nói thì đó cũng chính là chủ thể của ý thức”) Sau khi chứng minh không phải mỗi phát ngôn chỉ có duy nhất một người nói, O Ducrot tiến tới khẳng định khái niệm đa thanh trong nghiên cứu của Bakhtin không chỉ giới hạn trong lĩnh vực
văn học mà còn nới rộng ra lĩnh vực ngôn ngữ học
Theo ông, sau mỗi một phát ngôn không phải chỉ có một và chỉ có một người nói mà có mặt những người nói khác nhau với những cương vị nói năng khác nhau Trong một công trình khác, Ducrot viết:“Nếu tôi đang nói gì đấy thì tôi không chỉ
Trang 8l ặp lại những điều tôi đã nói, đã giảng trước đây – những điều tôi đã nói, đã giảng trước đây đến lượt mình lại lặp lại những điều tôi nói tôi giảng trước đó nữa – mà trong ph ần lớn các trường hợp tôi còn nhắc lại, lặp lại những điều tôi nghe được, đọc được” [9, tr.186-87] Nói cách khác, Ducrot đã gián tiếp khẳng định mọi phát
ngôn đều có tính đa thanh
Để làm rõ tính đa thanh của phát ngôn, Ducrot chủ trương phân biệt hai khái
niệm thuyết ngôn và chủ ngôn và mối quan hệ giữa chúng Sau đó ông chứng minh tính đa thanh của các phát ngôn phủ định siêu ngôn ngữ, đặc biệt là những phát
ngôn bác bỏ Ông cố gắng tìm ra mối dây liên hệ giữa hiện tượng đa thanh và các
vấn đề ngôn ngữ học, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến ngữ dụng học
Những nghiên cứu của O Ducrot trong tác phẩm này đã đánh dấu sự ra đời
của một vấn đề nghiên cứu mới trong ngành ngôn ngữ học Không thể phủ nhận
những thành quả mà O Ducrot đạt được đã khơi gợi và làm nền tảng cho những nghiên cứu sau đó của các tác giả khác Bản thân người viết khi thực hiện luận văn cũng chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết mà O Ducrot đã vạch ra trong cuốn sách này Tuy nhiên, từ năm 1984 đến nay, chắc chắn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác
về đa thanh trên thế giới mà do điều kiện tư liệu hạn chế, người viết khó lòng bao
quát hết, có thể không đề cập đến, hoặc chỉ nhắc đến tên tác phẩm mà không có điều kiện tìm hiểu chi tiết
Trong một công trình khác: Polyphony and Argumentative Semantics xuất bản năm 1988, tác giả Jean-Michel Grandchamp đã vận dụng một phần lý thuyết đa
thanh của O Ducrot trong lĩnh vực ngôn ngữ máy tính
Năm 2005 Johnnes Angermuller (Đại học Magdeburg, Khoa Xã hội học,
Đức) viết bài Claiming a different world – the enunciative dimension of
“anti-globalization” discourse Trong bài viết này Johnnes Angermuller đã vận dụng lý thuyết đa thanh của O Ducrot để giải quyết một trong những vấn đề xã hội học
Trang 9Lý thuyết đa thanh của Ducrot còn được Michael Elhadad, Kathleen R
McKeown vận dụng để nghiên cứu ngôn ngữ máy tính trong bài viết Generating
connectives từ đó tạo nên một bộ khung điện toán mạch lạc
Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề này chỉ
dừng lại ở việc vận dụng lý thuyết đa thanh của O Ducrot vào lĩnh vực hay vấn đề
mà mình quan tâm chứ chưa đi sâu nghiên cứu bộ khung của lý thuyết này
Trong điều kiện thiếu thốn tư liệu ở Việt Nam như vậy, người viết cũng đã
cố gắng tìm tác phẩm kinh điển của O Ducrot về vần đề này và đối chiếu quan điểm của tác giả khi được giới nghiên cứu Việt ngữ học tiếp nhận sẽ khác nhau như
thế nào Có thể nói, công trình nghiên cứu đề cập kĩ nhất về vấn đề này ở nước ta cho đến nay là cuốn “Đại cương ngôn ngữ học (tập hai, ngữ dụng học)” của tác giả
Đỗ Hữu Châu 2007 (tái bản)
Cũng lấy lý thuyết đa thanh của O Ducrot làm nền tảng cho những nghiên
cứu của mình, Đỗ Hữu Châu đã đem lại một cái nhìn hệ thống, cụ thể về lý thuyết đa thanh Bên cạnh việc dẫn lại định nghĩa của O Ducrot về thuyết ngôn và
chủ ngôn, tác giả đưa ra cách hiểu mà theo tác giả là cụ thể, ít trừu tượng
hơn của mình Khi tìm mối liên hệ giữa hiện tượng đa thanh và vấn đề lập
luận, điều đáng nói là tác giả Đỗ Hữu Châu đã làm rõ các lý thuyết được O Ducrot nhắc đến qua các ví dụ tiếng Việt Đỗ Hữu Châu khẳng định trong lập
luận đồng hướng, hiện tượng đa thanh chỉ xảy ra khi một luận cứ do một chủ
ngôn nào đó nói ra, thuyết ngôn tán thành đưa vào lập luận của mình để tăng sức thuyết phục cho lập luận; trong lập luận nghịch hướng, luận cứ của một chủ ngôn nào đó nghịch hướng về lập luận với luận cứ của thuyết ngôn, được đưa vào để
phản bác Như vậy, với việc đưa ra những điều kiện để hiện tượng đa thanh xảy ra,
tác giả gián tiếp khẳng định không phải mọi phát ngôn đều có tính đa thanh Tuy
nhiên ngay sau đó, mâu thuẫn trong quan điểm hiện ra khi tác giả nhấn mạnh “tất cả
các phát ngôn đều có tính đa thanh” như ý kiến của Ducrot Mâu thuẫn này là một
trong những lỗ hổng lớn khiến lập luận của tác giả thiếu vững chắc Tuy nhiên nó
Trang 10lại là một gợi ý hay cho người đọc khiến họ trăn trở tìm ra nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn và tìm ra cách giải quyết khả dĩ chấp nhận được
Cũng trong công trình này, gần cuối cuốn sách, Đỗ Hữu Châu đi tìm mối liên
hệ giữa hiện tượng đa thanh và tiền giả định cú pháp Tác giả dẫn ra một số phát
ngôn và giúp người đọc phân biệt các thứ bậc của tiền giả định đa thanh, đặc biệt là
trong phát ngôn bác bỏ Ngoài ra, tác giả cuốn sách cũng dẫn cả những trường hợp
mà theo tác giả là tiền giả định đa thanh xuất hiện trong hành vi phát ngôn (không
thuộc phát ngôn, hành vi “ngoài đời”) Đáng tiếc là ở đây tác giả không tiếp tục làm
rõ để tạo cơ sở vững chắc cho cách hiểu của mình
Những nghiên cứu của tác giả đã được dùng trong giáo trình cho sinh viên Tuy nhiên, có thể nói các nhận định của tác giả chưa cụ thể, chưa có những tường giải cần thiết, thậm chí có đôi chỗ mâu thuẫn đòi hỏi phải có những nghiên cứu, điều chỉnh cụ thể, hệ thống
Ngoài công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Châu, có thể nói khó tìm
thấy công trình nào khác ở Việt Nam bàn về vấn đề này Nhìn chung, tình hình nghiên cứu hiện tượng đa thanh ở trong nước như vậy khá buồn tẻ Cần phải có
những động thái nhất định để thúc đẩy việc nghiên cứu một cách hệ thống, hiệu
quả
Trong khi đó, qua những công trình nghiên cứu ở nước ngoài thu thập
được, chúng tôi nhận thấy những nghiên cứu về hiện tượng đa thanh cũng chỉ
được quan tâm ở một mức độ nhất định
Vấn đề hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ không hẳn là một vấn đề mới
mẻ nhưng đó cũng không hẳn là một vấn đề đã cũ vì chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam Có thể nói, làm rõ và điều chỉnh
lý thuyết đa thanh trong ngôn ngữ học là một việc làm có tính cấp thiết đối với
ngành lý luận ngôn ngữ ở nước ta
Trang 110.3 Nguồn cứ liệu và phạm vi nghiên cứu
Vì đây là một vấn đề nghiên cứu thiên về lý luận nên luận văn cố gắng triển khai theo hướng hệ thống hóa vấn đề trên một khung lý thuyết hoàn chỉnh Những dẫn chứng, ví dụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ làm rõ lý thuyết mà thôi Do đó, nguồn cứ liệu được thu thập trong những cách diễn đạt trong sinh hoạt hằng ngày (khẩu ngữ)
và các tác phẩm văn chương Bên cạnh đó, luận văn cũng dùng lại một số cứ liệu của các nhà nghiên cứu đi trước
Những vấn đề được triển khai ở các chương vừa chỉ ra bản chất của khái niệm, vừa hiện thực hóa nó trong một số vấn đề có liên quan, đồng thời, mở ra những hướng nghiên cứu mới mà vì phạm vi hạn hẹp, luận văn chưa thể đề cập
Phạm vi của đề tài được khoanh vùng vào ba vấn đề là làm rõ lý thuyết đa thanh
trong ngôn ngữ; tìm mối liên hệ giữa hiện tượng đa thanh với quan hệ lập luận và
tiền giả định; tìm và chỉ ra những đặc điểm của một số kiểu phát ngôn có hiện tượng
đa thanh
0.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện đan xen nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung cũng như các phương pháp đặc thù của ngôn ngữ học, chẳng hạn như:
• Phương pháp miêu tả: xem xét ngữ liệu từ đó rút ra những đặc điểm bản chất
của hiện tượng đa thanh nói chung và hiện tượng đa thanh trong một số vấn
đề ngôn ngữ học ở tiếng Việt nói riêng (lập luận và hiện tượng đa thanh, tiền giả định và hiện tượng đa thanh)
• Phương pháp phân tích - tổng hợp đem lại tính sâu sắc, khái quát cho việc triển khai vấn đề Với phương pháp này, chúng tôi cố gắng đi sâu phân tích, nhận định vấn đề một cách khách quan nhất để từ đó đi đến những
kết luận mang tính khoa học, thực tiễn Quá trình phân tích, tổng hợp
của chúng tôi có sự hỗ trợ của những bảng biểu, sơ đồ, nhằm làm cho việc
dẫn giải được rõ ràng hơn
Trang 120.5 Đóng góp của luận văn
- Tìm ra những lỗ hổng trong lập luận hoặc trong quan niệm của các tác giả
đi trước
- Đề xuất hướng khắc phục và cung cấp một cái nhìn có tính toàn diện hơn
về hiện tượng đa thanh trong Việt ngữ học
- Vận dụng hiểu biết về hiện tượng đa thanh làm rõ một số vấn đề ngôn ngữ
học có liên quan trong tiếng Việt: vấn đề lập luận, vấn đề tiền giả định
0.6 Bố cục của luận văn
Để đạt được những mục tiêu đã nêu trên, chúng tôi triển khai trong bốn chương của luận văn như sau:
Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐA THANH
Ở chương 1, chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận như nội dung khái
niệm, sự phân biệt khái niệm và đặc trưng của hiện tượng đa thanh, lý thuyết đa
thanh trong các lĩnh vực khác nhau: âm nhạc, văn học và ngôn ngữ, làm nền tảng cho việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể ở chương 2, 3 và 4
Những hiểu biết về đa thanh trong âm nhạc và văn học cho ta căn cứ, cơ sở hiểu khái niệm đa thanh khi nó được vận dụng vào bộ môn ngữ dụng học
Cần phân biệt đa thanh như một hiện tượng thuộc về đặc tính bản chất của
ngôn ngữ nói chung (như vậy, mọi lời nói phát ra đều có tính đa thanh, không có sự tồn tại của lời nói đơn thanh) và đa thanh như đặc điểm của một loại phát ngôn (có
sự phân biệt đa thanh - đơn thanh)
Trong chương này, chúng tôi sẽ làm rõ những yếu tố và cách thức tạo nên
hiện tượng đa thanh để thấy sự khác biệt về mặt bản chất trong nguyên tắc phức
điệu của âm nhạc và văn học với nguyên tắc đa thanh trong ngôn ngữ học
Chương 2 và chương 3 sẽ triển khai hai vấn đề có liên quan đến hiện tượng
đa thanh trong ngôn ngữ học, đó là vấn đề lập luận và tiền giả định
Trang 13Chương 2 HIỆN TƯỢNG ĐA THANH VÀ LẬP LUẬN
Chương này tập trung làm rõ mối quan hệ giữa lập luận và hiện tượng đa
thanh cũng như vai trò của hiện tượng đa thanh trong lập luận
Khái niệm lập luận có hai cách hiểu, có thể là lập luận logic hoặc lập luận
đời thường Do đó, khi xem xét mối quan hệ giữa lập luận và hiện tượng đa thanh
cần chú ý phân biệt hai kiểu lập luận trên Mục 2.1 của chương này chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa lập luận đời thường với đa thanh vì những đặc tính
riêng của nó
Khi tìm mối liên hệ, luận văn cố gắng tìm ra vai trò của đa thanh trong việc chỉ dẫn hướng lập luận và hiệu lực lập luận Điều này cho thấy sự chi phối của đa
thanh trong lập luận là một vấn đề thú vị, đáng lưu tâm
Chương 3 HIỆN TƯỢNG ĐA THANH VÀ TIỀN GIẢ ĐỊNH
Cũng như chương Hai, chương này đi tìm mối liên hệ giữa hiện tượng đa
thanh và tiền giả định của phát ngôn Tuy nhiên, ngoài việc xác định phạm vi nghiên cứu xoay quanh tiền giả định từ vựng và cú pháp, chương này còn làm rõ hai
loại tiền giả định đa thanh đáng chú ý là tiền giả định đa thanh bậc một và tiền giả định đa thanh bậc hai
Chương 4 CÁC KIỂU PHÁT NGÔN THƯỜNG MANG HIỆN TƯỢNG ĐA
THANH
Trong chương này, luận văn không có tham vọng chỉ ra tất cả những kiểu phát ngôn có hiện tượng đa thanh mà chỉ tập trung làm rõ đặc điểm ba kiểu phát
ngôn thường mang hiện tượng đa thanh Đó là lời dẫn trực tiếp − gián tiếp, phát
ngôn phủ định bác bỏ và phát ngôn nói mỉa Tuy nhiên để lý giải tại sao những phát ngôn này lại mang hiện tượng đa thanh, chúng tôi đặt chúng trong sự so sánh với
nhau (trường hợp lời dẫn trực tiếp − lời dẫn gián tiếp) và với các kiểu phát ngôn khác (trường hợp phát ngôn phủ định miêu tả − phát ngôn phủ định bác bỏ, phát ngôn phủ định bác bỏ - phát ngôn nói mỉa)
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐA THANH
1.1 Đa thanh trong lĩnh vực âm nhạc
Đa thanh (polyphonie/ polyphony) là khái niệm bắt nguồn từ lĩnh vực âm
nhạc, sách vở Việt Nam thường gọi là phức điệu Phức điệu là thuật ngữ âm nhạc chỉ “nghệ thuật hay kĩ thuật của âm nhạc dùng nhiều giọng nghịch đối hoặc chồng
lên nhau trong một khúc nhạc” [24, tr.64]
Tuy nhiên, trong nghiên cứu âm nhạc, đa thanh và phức điệu là hai khái niệm khác nhau Phức điệu là khái niệm được đặt trong mối quan hệ đối lập với
khái niệm chủ điệu Cả phức điệu và chủ điệu đều đa thanh (nhiều bè) nhưng trong nhạc phức điệu, tất cả các bè đều bình đẳng, có giá trị như nhau; còn trong nhạc chủ
điệu thì có bè chính và những bè phụ (đệm) Còn nói đến khái niệm đa thanh trong
âm nhạc là đặt nó vào mối quan hệ với đơn thanh (đơn điệu) Sau đây chúng tôi sẽ điểm qua một số hiểu biết cơ bản về phức điệu trong âm nhạc mà chúng tôi thu thập
và tổng hợp từ những bài viết khác nhau
Ở giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, bản nhạc thường là đơn điệu, không
có nhạc đệm, thậm chí không có cả nhịp Sau đó, với sự phát triển kinh tế, người ta bắt đầu tập trung phát triển văn hóa, âm nhạc cũng phát triển Dần dần, nhịp điệu được thêm vào và đóng một vai trò quan trọng trong một tác phẩm âm nhạc Các
bản nhạc với phức điệu bắt đầu xuất hiện
Những bản nhạc phức điệu đầu tiên được gọi là organium Khi thế kỷ IX kết
thúc, các ca sĩ trong các tu viện bắt đầu thêm những phần mới vào bản thánh ca, thường là họ thêm nhiều bè vào bản nhạc và các bè này đều được biểu diễn cùng một lúc, như vậy không có bè chính, bè phụ Tất cả đều đóng vai trò quan trọng như
nhau Trong phong cách organium thời kỳ đầu, bè được thêm vào chạy song song một cách đơn giản với giai điệu thánh ca nhưng được hát trên một quãng tư hay quãng năm Về sau bè thêm vào trở thành một giai điệu đối âm độc lập Organium
có vị trí quan trọng trong lịch sử âm nhạc vì đó là bước đầu tiên hướng tới sự phát
Trang 15triển của kết cấu âm nhạc được biết đến là phức điệu Việc sử dụng nó ở phạm vi
rộng là đặc trưng nổi bật nhất của âm nhạc phương Tây
Trong suốt 7 thế kỷ sau đó, phức điệu đã phát triển thành nhiều hình thức
khác nhau cho đến ngày nay Một số khái niệm liên quan đến phức điệu trong âm nhạc: phức điệu tương phản, phức điệu mô phỏng, phức điệu nghiêm khắc; đối vị
tương phản; một số hình thức mô phỏng; đối vị đảo ảnh; mối quan hệ giữa âm nhạc
phức điệu và âm nhạc chủ điệu,
Nghe bất kỳ đoạn nhạc nào, chúng ta cũng có thể gặp một trong các trường hợp sau: chỉ có một giai điệu, không có phụ họa; có nhiều giai điệu cùng lúc; có một giai điệu cùng hòa âm Để mô tả các trường hợp đó, người ta dùng khái niệm cấu trúc âm nhạc Cấu trúc âm nhạc biểu thị các lớp âm thanh ta có thể nghe thấy cùng một lúc, bất kể đó là giai điệu hay hòa âm, và các lớp đó quan hệ với nhau như thế nào Cấu trúc âm nhạc có 3 loại tương ứng với 3 trường hợp nêu trên:
Monophonic (đơn điệu): là cấu trúc chỉ có một giai điệu được thể hiện, có thể độc tấu hay hợp tấu
Polyphonic ( phức điệu): là cấu trúc trong đó hai hay nhiều giai điệu độc lập
được trình tấu đồng thời, cạnh tranh nhau trong việc thu hút sự chú ý của người nghe Để có thể thưởng thức trọn vẹn một tác phẩm có cấu trúc phức điệu, có thể
phải nghe nhiều lần, mỗi lần theo dõi một giai điệu
Homophonic (chủ điệu): là cấu trúc trong đó có một giai điệu chính với phần hòa âm tô điểm cho chủ đề chính Phần hòa âm này có thể biến đổi rất đa dạng, từ nhạc nền êm dịu đến những cơn sóng âm che lấp cả chủ đề chính Khi phần hòa âm trỗi dậy tranh giành sự chú ý với chủ đề chính, cấu trúc âm nhạc trở thành vừa có tính chủ điệu vừa có tính phức điệu
Căn cứ trên cách hiểu về khái niệm phức điệu như trên, người viết mạo muội
khái quát thành một số tiêu chí xây dựng cấu trúc phức điệu trong âm nhạc như sau:
• Trước tiên phải đảm bảo tính đa điệu (từ hai trở lên) trong một bản nhạc
Trang 16Tính đa dạng trong một bản nhạc phức điệu được hiểu là bản nhạc đó ít nhất
phải có hai giai điệu, hai bè trở lên được trình tấu
• Các giai điệu trong bản nhạc phải có vai trò ngang bằng nhau
Một bản nhạc có bè chính, bè phụ không được gọi là bản nhạc phức điệu
Các giai điệu trong một bản nhạc phức điệu bao giờ cũng có tính cá nhân, độc lập,
không đồng nhất với những giai điệu khác của bản nhạc
• Các giai điệu trong bản nhạc được thể hiện đồng thời
Âm nhạc là một trong những loại hình nghệ thuật vừa có tính hình tuyến vừa
có tính đồng thời Tính hình tuyến thể hiện đặc tính tiếp nối theo thời gian của các
âm Tính đồng thời là sự thể hiện đồng thời của các âm Ứng với tính hình tuyến và tính đồng thời là các mối quan hệ thời gian và không gian giữa các âm Trong đó tính đồng thời có liên quan tới khả năng nhận thức thính giác đồng thời của con
người, tức là khả năng con người có thể cảm nhận được vô số các âm thanh xảy ra tại cùng một thời điểm trong môi trường
Từ góc nhìn của âm nhạc, khái niệm tính đồng thời có liên quan đến thuật ngữ phức điệu Tính đồng thời thể hiện trong bản nhạc phức điệu ở cả ba phạm vi:
cơ cấu các sóng âm thanh, cảm giác thính giác, ý nghĩa thông tin mà các âm mang
lại Theo đó, phức điệu lúc này là sự kết hợp và sắp xếp các cấu trúc âm ở các cấp
độ khác nhau: các phần độc lập thể hiện đồng thời tạo nên một cấu trúc phức điệu, cấu trúc phức điệu này có thể chồng lên một cấu trúc phức điệu khác tạo nên một cấu trúc phức điệu phức tạp hơn, …
Ta khó nhận ra kết cấu hay các thành phần đơn lẻ của bản nhạc phức điệu
ngay cả khi lắng nghe nhiều lần, ngay cả đối với người có khả năng nghe thiên tài Tuy nhiên ta lại dễ bị cuốn hút bởi sự phong phú của hòa âm Nó thúc đẩy ta tiếp tục lắng nghe, mỗi lần lắng nghe lại phát hiện một nhận thức mới, một khía cạnh mới
• Các giai điệu được tổ chức, sắp xếp trong các mối quan hệ đặc biệt, có thể tạo nên ý nghĩa
Trang 17Tính chu kỳ cũng là khái niệm quan trọng trong việc quan sát hiện tượng
ph ức điệu trong âm nhạc Tính chu kỳ hiểu theo nghĩa rộng chính là sự dao động
theo chu kỳ của âm thanh (khác với tiếng ồn, tạp âm trong đời sống – không có chu kỳ) Mỗi sóng âm thanh có đặc điểm nhất định về tần số, biên độ, … dao động Khi những sóng âm khác nhau xuất hiện đồng thời, nó vừa tạo nên những chu kỳ khác
biệt, vừa tạo độ nhiễu giữa các chu kì
Tuy nhiên, cách hiểu tính chu kỳ thuộc về chất liệu tự nhiên của âm thanh không phải là tính chu kỳ trong một bản nhạc phức điệu Tính chu kỳ trong một bản nhạc phức điệu là một vấn đề có tính nghệ thuật Đó là sự lặp lại theo chu kỳ của
các giai điệu được thể hiện đồng thời Những tương tác của các sóng âm trong một mạng lưới các mối quan hệ làm hình thành một hệ thống tham chiếu chính là tổ
chức của phức điệu trong âm nhạc
Glinka, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga từng nói: “trong cuộc sống tất cả
mọi thứ đều tồn tại trong đối âm, cái đó được gọi là hiện tượng đối âm”[2, tr.19]
Dựa vào cái gọi là “phép đối âm” (counterpoint) này, ta có thể hiểu tại sao các âm
có sự tương tác (Dostoevsky rất tán thưởng ý tưởng này Theo ông, cái được thể
hiện trong tiểu thuyết là “những thanh âm khác nhau hát cùng một chủ đề theo cách
riêng biệt” [2, tr.19]
Một bản nhạc có tính phức điệu phải chứa trong nó nhiều thành phần có tính
độc lập với nhau và trực thuộc một nguyên tắc tổ chức thống nhất Khi các thành phần này tương tác với nhau sẽ tạo ra các biến thể đa dạng Phạm Vĩnh Cư đã viết trong lời mở đầu cuốn Lý luận và thi pháp tiểu thuyết: “Một tác phẩm giao hưởng
có r ất nhiều bè, nhiều bộ với những cách đi bè, phối khí phức tạp Ai không nắm được nghệ thuật đi bè, phối khí thì có tài mấy cũng không viết được nhạc giao hưởng và các thể loại âm nhạc phức hợp khác” [2, tr.19] Điều này có nghĩa: đa thanh không phải là một mớ hỗn độn, không phải là sự tập hợp “cơ giới” các giai điệu ở bên ngoài mà vẫn có một sự hợp nhất, sự nhất quán từ bên trong Vì thế cho nên, việc tổ chức một bản nhạc phức điệu là một việc làm không đơn giản Nhà
Trang 18soạn nhạc tài năng tạo nên các bản nhạc phức điệu phải là người luôn biết lựa chọn
và luôn chú ý đến khả năng liên kết của các yếu tố trong hệ thống âm của mình
1.2 Đa thanh trong lĩnh vực văn học
Hiện tượng đa thanh là một phát hiện mới trong văn học và sau này là ngôn
ngữ học hiện đại nhưng du nhập từ lĩnh vực âm nhạc Dù có những điểm khác biệt nhưng nhìn chung chúng có tính tương tự Trong văn học, công đầu trong phát hiện này thuộc về nhà lý luận phê bình M Bakhtin (1895 - 1975) M Bakhtin sử dụng cả hai thuật ngữ phức điệu và đa thanh trong âm nhạc vào văn học Phạm Vĩnh Cư viết
trong lời mở đầu cuốn Lí luận và thi pháp tiểu thuyết: “trong hệ thống khái niệm
của Bakhtin, phức điệu là đa thanh ở độ phát triển cao nhất”; “tính đa thanh trong văn chương là biểu hiện của ‘nguyên tắc đối thoại’ được Bakhtin quan niệm như một thuộc tính phổ biến của tư duy con người Toàn bộ văn xuôi nghệ thuật, theo Bakhtin, có chất đa thanh, chất đối thoại […] nhưng chất phức điệu, nguyên tắc phức điệu lần đầu tiên xuất hiện trong tiểu thuyết Đôxtôjevxki” [2, tr.11]
Quan điểm về bản chất đối thoại của ngôn từ và của sáng tác ngôn từ nói chung của Bakhtin được hình thành vào những năm 1920 Đây là cơ sở thực tế của
hoạt động ngôn ngữ giúp cho Bakhtin phát hiện ra tính chất đa thanh của tiểu thuyết
Dostoievski, một loại hình tiểu thuyết hiện đại phá vỡ tính chất đơn thanh của tiểu
thuyết truyền thống
Đặc điểm cơ bản nhất của tiểu thuyết đa thanh là tính không hoàn tất của đối
thoại với các quan niệm, tư tưởng khác nhau mà chủ thể phát ngôn là những cá nhân
ở quan hệ bình đẳng, dân chủ Bakhtin cho rằng tính chất này là một trong những cơ
sở phân biệt giữa ngôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ thơ ca Trong khi ngôn ngữ
kịch cũng có những cuộc đối thoại nhưng ông không cho nó có tính đa thanh
Tính đa thanh thể hiện ở tư duy hình tượng nghệ thuật với những con người
mang tâm lý phức tạp, với những ý thức pha trộn trái ngược nhau, một bản ngã xen vào nhiều bản ngã khác; được chính các nhân vật nói ra bằng ngôn ngữ kể chuyện, hàm ý một hay nhiều cuộc đối thoại bên trong lời kể
Trang 19Trong văn học, cần phân biệt hai loại tiểu thuyết: tiểu thuyết độc thoại truyền thống và tiểu thuyết đa thanh
Tiểu thuyết độc thoại truyền thống có sự ngự trị duy nhất của thế giới ý thức
tác giả Ngoài tiếng nói của tác giả, người ta không nghe thấy tiếng nói của ai khác Nếu có thì đó cũng là những tiếng nói mờ nhạt, bị che lấp đi bởi lập trường nghệ thuật tác giả Ta biết được tư tưởng của các nhân vật qua sự cảm nhận và thông báo của tác giả Trong tiểu thuyết độc thoại có hai kiểu tư tưởng: tư tưởng được khẳng định và tư tưởng bị phủ định Tư tưởng được khẳng định là những tư tưởng “đúng đắn” theo quan điểm của tác giả Tư tưởng bị phủ định là những tư tưởng đi ngược với quan điểm của tác giả Tác động trong tiểu thuyết đơn thanh là tác động một chiều, là tác động của người sở hữu chân lý và thông báo chân lý cho ta biết
Tiểu thuyết đa thanh có một lập trường nghệ thuật mới của tác giả trong mối
quan hệ với nhân vật, đó là lập trường đối thoại Tác giả chỉ là người bố trí, người khách quan nghe tất cả sự phức điệu trong cuộc đối thoại đó Tiểu thuyết đa thanh
khẳng định tính độc lập tự do bên trong của nhân vật, tính bất định về nguyên tắc, tính không phụ thuộc vào sự đánh giá cuối cùng của tác giả Tiểu thuyết đa thanh
có lời của tác giả như lời người đang có mặt, lời của nhân vật vang lên bên cạnh cũng đầy sức mạnh như lời của tác giả, các nhân vật không được đánh giá theo quan điểm của tác giả Ý nghĩa thực sự của tác phẩm là sự xung đột giữa các giọng, các quan điểm của các nhân vật
Trong cuốn “Mấy vấn đề thi pháp Dostoevski”, Bakhtin viết:“Không phải là
nhiều tính cách và số phận trong một thế giới khách quan duy nhất dưới một ánh sáng duy nhất của ý thức tác giả được triển khai trong tác phẩm của ông (Dostoievski) mà chính là nhiều ý thức ngang quyền nhau với thế giới của chúng đã được kết hợp lại ở đây trong sự thống nhất của một số sự kiện, nhưng những ý thức
ấy vẫn không bị hòa lẫn vào nhau” [1, tr.262]
Nói cách khác Bakhtin dùng thuật ngữ này như một ẩn dụ để phân biệt hai hình thức văn học:
Trang 20Hình thức “kinh điển” (dogmatique): trong đó người đọc chỉ nghe có một
“giọng”, “giọng” của tác giả
Hình thức “dân gian” hay đa thanh, “hóa trang” (carnaval): trong đó các
nhân vật tự thể hiện như chính mình, như những mặt nạ trong lễ hội hóa trang Khi đeo mặt nạ, giá trị các nhân vật là ngang nhau, họ giao tiếp với nhau hoàn toàn bình đẳng
Lý thuyết đa thanh của Bakhtin được áp dụng khá phổ biến trong nghiên cứu
văn học ở Việt Nam khi giải quyết các hiện tượng văn học hiện đại trong nước Khái niệm đa thanh được hiểu đơn giản là lời văn đa giọng trong phát ngôn của nhà
văn hoặc của nhân vật Vì thế, hình như người ta nhìn vào đâu cũng thấy hiện tượng
đa thanh: văn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao kể cả một số
trường hợp cho thơ nữa Đa thanh với cách hiểu ấy là cho ngôn ngữ nói chung chứ
không phải với tư cách là ý thức tổ chức nghệ thuật trong sáng tạo của nghệ sĩ Hiện
tượng đa thanh là sản phẩm phổ biến của hoạt động ngôn ngữ trong quy luật tác
động lẫn nhau giữa các phát ngôn, còn ý thức tổ chức nghệ thuật cho một tiểu
thuyết đa thanh là cả một quá trình vận động của văn học khi nghệ sĩ xác lập trở lại
vai trò, vị trí của mình trong mối quan hệ với cuộc sống Văn học Việt Nam trong
truyền thống chỉ có hiện tượng đa thanh ở cấp độ lời văn chứ không có loại hình tiểu thuyết đa thanh ở cấp độ cấu trúc chỉnh thể
Xuất phát từ cách hiểu về khái niệm đa thanh như vậy, luận văn mạn phép
khái lược lại những tiêu chí để xuất hiện cấu trúc đa thanh trong một tác phẩm văn
quan điểm của tác giả, của nhân vật chứ không chỉ bó hẹp trong cách hiểu thuần túy
ngữ âm học Đa giọng điệu nghĩa là không có sự ngự trị duy nhất của thế giới ý
thức tác giả mà còn có thêm thế giới ý thức của các nhân vật vang lên bên cạnh Tất
Trang 21cả tư tưởng, thế giới ý thức của tác giả, của nhân vật,… đều thể hiện qua ngôn ngữ của chính họ
• Các giọng điệu có vai trò ngang bằng nhau
Những quan điểm trái ngược được tự do thể hiện trên tất cả các khía cạnh, không hợp nhất vào cùng một giọng (tức là có sự gia tăng vai trò ở những giọng
điệu bậc dưới trong tiểu thuyết đơn thanh) Các nhân vật bên trong tiểu thuyết phức
điệu được khẳng định tính độc lập, tự do về mặt tư tưởng, không phụ thuộc vào tư
tưởng hay sự đánh giá của quan điểm tác giả Nói chung, có tính hữu lý nhất định trong lời tuyên bố của Bakhtin về sự độc lập của ý thức tư tưởng của nhân vật và về mối quan hệ với tác giả của chúng Nếu một nhân vật làm mất đi tính độc lập tương đối ấy, làm mất đi tính hiện thực khách quan, thì anh ta rất khó tồn tại độc lập Tương tự, nếu một tác giả không quan tâm đến tất cả những chi tiết nhỏ nhặt này,
cố gắng áp đặt suy nghĩ của ông ta cho nhân vật, hoặc tạo ra một câu chuyện mà không hề hiểu nhân vật, ông ta chắc chắn sẽ gặp phải sự kháng cự của lôgic nghệ thuật
• Các giọng điệu được thể hiện đồng thời trong một tác phẩm
• Các giọng điệu được tổ chức, sắp xếp trong các mối quan hệ đặc biệt, có thể tạo nên ý nghĩa
Khoảng cách giữa các giọng điệu là bản lề của mọi thứ, khoảng cách đó cho phép mỗi giọng điệu được thể hiện độc lập Tuy nhiên, các giọng điệu trong tác phẩm luôn có sự tương tác với nhau Khi các giọng điệu, các luồng tư tưởng gặp gỡ nhau, ta có một “cuộc đối thoại lớn” Bản chất đối thoại gắn với tính mở ngỏ, tính không hoàn thành, không hoàn kết chính là vấn đề trung tâm của tiểu thuyết đa
thanh Qua đối thoại giữa các giọng điệu, các luồng tư tưởng, người đọc tự giải đáp, các nhân vật được đưa đến ngọn nguồn của vấn đề Có khi ta thấy các giọng chỏi nhau đến một mất một còn, sự tranh đấu giữa các giọng rất quyết liệt nhưng chúng
vẫn tồn tại trong một tác phẩm Điều này cho thấy, đa thanh trong văn học cũng
không phải là một mớ hỗn độn các giọng điệu mà giữa chúng vẫn có một logic ngầm giúp có thể tạo nên ý nghĩa và sự nhất quán của tác phẩm
Trang 22“Tương tự như thế, người viết văn xuôi nào chỉ biết nói cái của mình, bằng ngôn ngữ của mình, không biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của người khác (trong đó có ngôn ngữ của nhân vật), không biết đưa vào và ‘phối khí’ trong câu văn của mình những tiếng nói khác nhau ở ngoài đời thì người ấy dù cố gắng thế nào cũng chỉ viết được những sáng tác bề ngoài rất giống tiểu thuyết nhưng không phải là tiểu thuyết” [2, tr.19]
Người nắm giữ vị trí gần nhất giữa các giọng (của tác giả, của nhân vật) là người kể chuyện Người kể chuyện có thể đồng cảm với các nhân vật nhưng bản thân họ cũng luôn duy trì khoảng cách với các nhân vật
Như vậy, tiểu thuyết gia phải làm sao vừa duy trì khoảng cách, vừa tạo sự xung đột, tương tác, đối thoại giữa các giọng điệu xuất hiện trong tác phẩm của mình, lại vừa phải đảm bảo sự tương tác đó tạo nên ý nghĩa cần thiết cho tác phẩm
Theo Masayuki Teranishi trong bài viết “The modes of polyphony in George
Eliot’s novels”, m ối quan hệ giữa tác giả và nhân vật trong tiểu thuyết đa thanh có
thể được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Trang 23Bảng MỐI QUAN HỆ GIỮA TÁC GIẢ VÀ NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT ĐA THANH
Sơ đồ của Masayuki Teranishi có ưu điểm là mô hình hoá mối quan hệ giữa tác giả, nhân vật trong tiểu thuyết khá rõ ràng Người kể chuyện cho thấy sự đồng cảm đối với nhân vật nhưng đồng thời cũng giữ một khoảng cách đối với quan điểm của nhân vật
1.3 Đa thanh trong lĩnh vực ngôn ngữ học
Quan niệm “mỗi phát ngôn chỉ có duy nhất một người nói” vốn đã tồn tại như một mặc nhiên trong ngôn ngữ học hiện đại Một số nhà ngôn ngữ học ra sức bảo vệ “tính duy nhất của chủ thể phát ngôn (chủ thể nói)” Ngay cả khi buộc phải thừa nhận có một vài kiểu phát ngôn không diễn đạt quan điểm của chính người nói hoặc phát ngôn không chỉ có một giọng duy nhất, các tác giả vẫn cố gắng quy về một mối, đưa ra các quy tắc để đảm bảo tính duy nhất đó Đại diện tiêu biểu của nhóm tác giả này là Ann Banfield Trong cuốn In extremis xuất bản tại Mỹ năm
1979, Ann Banfield đã đưa ra hai nguyên tắc để đảm bảo “tính duy nhất của chủ thể phát ngôn”: “(1) một phát ngôn - một chủ thể ý thức, (2) nếu có một người nóithì đó
Quan điểm độc lập Đồng cảm
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÁC GIẢ VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐA THANH
Trang 24cũng là người mang ý thức tác giả” [50, tr.171-173]
Tuy nhiên cũng có những nhà ngôn ngữ học như Authier, Plénat, Ducrot không tán thành với quan điểm trên và tích cực xây dựng bộ khung lý thuyết của
hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ học Trước hết, đa thanh được xem là như một
hiện tượng thuộc về đặc tính bản chất của ngôn ngữ
Theo đó, đa thanh được hiểu là mỗi lời nói có lời người khác, mỗi ý thức đều
có ý thức của người khác Nói cách khác, bất cứ lời nói nào phát ra cũng có tính đa
thanh, bất cứ phát ngôn nào cũng có những người nói có cương vị nói năng khác nhau
Lưu ý rằng phạm vi nghiên cứu về hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ của
luận văn là “phát ngôn” chứ không phải là “diễn ngôn” như trong văn học1
Chẳng hạn:
A: Hôm nay cậu trực nhật giúp tớ nhé!
B: “Trực nhật giúp tớ nhé!”, đừng có mơ!
C nghe được cuộc chuyện trò giữa A và B rồi thuật lại cuộc hội thoại này cho người khác qua một diễn ngôn dài
Trong những phát ngôn được dẫn chỉ có lời B là xuất hiện hiện tượng đa
thanh Lời C không xuất hiện đa thanh vì C kể lại lời A, B qua một đoạn diễn ngôn chứ không phải một phát ngôn Nói một cách đơn giản, đa thanh trong ngôn ngữ là
hiện tượng có thể khôi phục một cuộc hội thoại giữa A và B dù chỉ xuất hiện một phát ngôn của A hoặc của B
Ở đây cũng cần nói rõ hơn về hai cách hiểu: Cách hiểu đa thanh như một
hiện tượng thuộc về đặc tính bản chất của ngôn ngữ nói chung (như vậy, mọi lời nói
1Chúng tôi không có ý khẳng định đa thanh trong ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong
một phát ngôn Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu trong phát ngôn chỉ nhằm mục đích cho thấy trong khuôn khổ một phát ngôn, hiện tượng đa thanh đã có thể thể hiện đầy đủ những đặc điểm của nó Hơn nữa, trong giới hạn cho phép của luận văn, chúng tôi không có điều
kiện tìm hiểu kĩ hơn về sự thể hiện của đa thanh trong diễn ngôn
Trang 25phát ra đều có tính đa thanh, không có sự tồn tại của lời nói đơn thanh) và đa thanh như đặc điểm của một loại phát ngôn (có sự phân biệt đa thanh - đơn thanh)
Hiện tượng đa thanh là sản phẩm phổ biến của hoạt động ngôn ngữ trong
quy luật tác động lẫn nhau giữa các phát ngôn
Điều này có vẻ đúng như quan điểm của Bakhtin về bản chất đối thoại của ngôn từ Tiền đề lí luận của Bakhtin được Phạm Vĩnh Cư chỉ ra như sau: “Lời nói
của con người mang tính đối thoại, tính đối thoại là thuộc tính phổ quát của ngôn ngữ và tư duy con người Nói tức là nói với ai đấy Ngay khi con người nói một mình, nó cũng nói với mình, nó lưỡng hóa con người mình Nói tức là chờ đợi được trả lời Khi ta nói với ai một cái gì (ít nhiều hệ trọng), ta cố gắng nói thế nào để vừa diễn đạt được cái ta muốn nói, vừa nhận được lời đáp như ta mong đợi […] Lời nói của ta với tất cả các đặc điểm, sắc thái, không chỉ phụ thuộc vào điều ta muốn nói
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào người đối thoại với ta Đấy là thí dụ đơn giản nhất
về tính đối thoại của lời nói” [2, tr.19]
Và nó cũng đúng như như lời O Ducrot đã phát biểu: “Nếu tôi đang nói gì
đấy thì tôi không chỉ lặp lại những điều tôi đã nói, đã giảng trước đây − những điều tôi đã nói, đã giảng trước đây đến lượt mình lại lặp lại những điều tôi nói tôi giảng trước đó nữa − mà trong phần lớn các trường hợp tôi còn nhắc lại, lặp lại những điều tôi nghe được, đọc được” [9, tr.186-187]
Tuy nhiên sự phân tích dưới đây sẽ cho ta một góc nhìn khác
Những phát ngôn phức hợp nhiều lời, nhiều giọng của nhiều chủ thể khác nhau là điều thường thấy trong ngôn ngữ đời sống Sự sống luôn là cuộc đối thoại
vô tận với sự tác động, hoặc ảnh hưởng hoặc phủ định lẫn nhau giữa các quan niệm,
tư tưởng Cuộc đối thoại này chỉ hoàn tất tạm thời trong những thời điểm các quan niệm, tư tưởng cá nhân bị chi phối hoặc bị sai khiến bởi sức mạnh của một quan điểm, tư tưởng chung nào đó
Ta buộc phải công nhận trong cuộc sống có những phát ngôn phức hợp nhiều lời, nhiều giọng Tuy nhiên, ta khó có thể khẳng định mọi phát ngôn nói ra đều
Trang 26mang tư tưởng, quan điểm đã từng xuất hiện trước đó Bởi lẽ trong cuộc sống, không có cuộc đối thoại nào hoàn tất khi các quan niệm, tư tưởng cá nhân luôn có ý thức nổi loạn chống lại quan niệm, tư tưởng chung Thực tiễn phức tạp đa dạng của cuộc sống bao giờ cũng có sức mạnh chi phối quan niệm, tư tưởng cá nhân hơn là những quan niệm, tư tưởng chung được áp đặt từ kiến trúc thượng tầng Những quan điểm, tư tưởng nổi loạn đó chính là những cái mới chưa từng xuất hiện trước đây Do đó nhìn toàn cục, sẽ luôn có những tư tưởng, quan điểm không lặp lại Tuy nhiên lí lẽ này cũng chưa đủ sức giải thích tại sao người viết không đồng tình với quan điểm mọi lời nói đều có tính đa thanh
Trong tác phẩm của mình, O Ducrot quan tâm tới việc phân biệt hai khái niệm người nói (locuteur, viết tắt: L) và người hành ngôn (énonciateur, viết tắt: E) (xem mục “Vấn đề thuyết ngôn – chủ ngôn trong phát ngôn”) Tác giả đã từng đề
nghị cần phải miêu tả một phát ngôn phủ định, ví dụ “Pierre không được tử tế”, như
là sự có mặt của hai hành vi tại lời riêng biệt Hành vi tại lời thứ nhất là A1, đó là sự khẳng định liên quan tới sự tử tế của Pierre, còn hành vi tại lời A2, là sự từ chối/ chối bỏ A1 Vậy thì rõ ràng là A1 và A2 không thể được gán cho cùng một tác giả Một cách tổng quát, người hành ngôn của A2 được đồng hóa với người nói, còn người hành ngôn của A1 đồng hóa với một nhân vật khác với người nói, người này
có thể là người đối thoại, có thể là một người thứ ba Người nói L chịu trách nhiệm
với phát ngôn “Pierre không được tử tế” đồng thời dựng lên một người hành ngôn
E1 cho rằng Pierre là một người tử tế, và một người hành ngôn E2 đối lập với người E1, thông thường thì L đồng hóa với người E2 này O Ducrot khẳng định thêm: phải hiểu A1 và A2 không phải chỉ là những hành vi, mà còn là những quan điểm trái ngược nhau Phần lớn các phát ngôn phủ định cho thấy sự xuất hiện hành ngôn như là sự xung đột của hai thái độ đối kháng, một thái độ khẳng định gắn với E1 còn một thái độ chống đối lại và được gán cho E2
Giả sử những gì tác giả vừa nói về phủ định được chấp nhận, thì cũng chưa thể đưa ra kết quả là ngôn ngữ cần biết đến sự phân biệt giữa L và E và rằng sự phân biệt này phải được đưa vào trong ý nghĩa của những câu phủ định Bởi vì
Trang 27người ta có thể phản biện lại: tác giả chỉ miêu tả hiệu lực của phủ định trong lời nói (parole), có thể thấy được trong nghĩa của những phát ngôn phủ định, còn đối với cấu trúc ngôn ngữ thì sao? Người viết đồng tình với tác giả ở chỗ: hiệu lực của phủ định có thể được rút ra từ một qui luật của diễn ngôn nói chung, theo đó mỗi lần nói
ra điều gì đó, người ta tưởng tượng một ai đó suy nghĩ điều ngược lại và người ta tìm lời lẽ chống lại người này Quy luật này cũng áp dụng đối với các phát ngôn
khẳng định Khi ta nói với ai đó rằng “Pierre tử tế”, tức ta giả định rằng người nghe
có lí do để không tin vào điều đó Nói cách khác có vẻ như phát ngôn của ta cho thấy có một người hành ngôn E khác với người nói L và người này khẳng định
“Pierre không tử tế” Theo đó, khi đưa ra phát ngôn khẳng định ta thấy vang lên
đồng thời với nó là một quan điểm phủ định, và ngược lại Do cách hiểu như trên nên O Ducrot cho rằng mọi phát ngôn đều mang tính đa thanh, tức là bao giờ cũng
tồn tại ít nhất hai “giọng” trong một phát ngôn
Sự phân tích trên của O Ducrot cho thấy một trong những lý do ông khẳng
định tất cả các phát ngôn đều mang hiện tượng đa thanh là nằm ở vấn đề cách tư
duy của con người Từ đó mới có chuyện phân biệt giữa người nói và người hành ngôn Người viết mạo muội cho rằng nghĩ như thế tức là xem đa thanh như một
cách tư duy, như một đặc trưng bản chất của tư duy Mà cách tư duy hay đặc trưng của tư duy không hoàn toàn là “câu chuyện” mà các nhà ngôn ngữ học phải giải quyết Chỉ khi nào cách tư duy và đặc trưng tư duy đó được hiện thực hóa, cụ thể hóa ra bằng những “dấu hiệu ngôn ngữ” thì đa thanh mới được xem là “câu
chuyện” ngôn ngữ học Chính O Ducrot cũng thừa nhận ta khó có thể đưa ra một dấu hiệu ghi nhận sự tồn tại của người hành ngôn E này ở trong câu Không thể
khẳng định rằng hình vị phủ định không trong câu ghi dấu sự hiện diện của một
người hành ngôn E vì thực ra hình vị đó chỉ ghi nhận sự đảo ngược của một mệnh
đề như dấu hiệu phủ định trong các phát ngôn logic mà thôi Theo người viết, sự tồn tại của người hành ngôn E được nhận ra không phải ở dấu hiệu ngôn ngữ trong phát ngôn mà ở quy luật tư duy nằm trong đầu óc của con người
Trang 28Khi xét đến hình thức cấu trúc của phát ngôn, ta đều thấy mỗi ngôn ngữ có một hệ thống quy ước riêng của cả cộng đồng Sự tuân thủ hệ thống quy ước này của mọi người trong cộng đồng khiến mọi lời nói ra đều như lặp lại cấu trúc đã nghe hoặc đã nói trước đó Nhưng ta cũng không thể bỏ qua một đặc trưng quan
trọng của ngôn ngữ là tính năng sản: Bất kỳ một người bình thường nào cũng có thể
nói những câu mà trước đó người đó chưa bao giờ nói, có thể nghe, hiểu những câu trước đó chưa bao giờ nghe Khả năng tạo ra những câu mới của ngôn ngữ là vô hạn Tương tự như một số lượng rất hạn chế các con số (0, 1, …9) có thể kết hợp với nhau tạo thành vô số những con số lớn hơn Như vậy cũng không thể khẳng định mọi phát ngôn đều lặp lại về mặt hình thức cấu trúc đã có trước đó
Từ những điểm đã phân tích, người viết cho rằng không thể hiểu khái niệm
đa thanh như một hiện tượng thuộc về đặc tính bản chất của ngôn ngữ nói chung,
chỉ có thể hiểu đa thanh như đặc điểm của một loại phát ngôn phổ biến trong mọi
ngôn ngữ Vì thế, luận văn cũng sẽ nghiên cứu về đa thanh trong ngôn ngữ như một
đặc điểm của một loại phát ngôn phổ biến trong mọi ngôn ngữ chứ không phải hiện tượng thuộc về đặc trưng bản chất của ngôn ngữ
* Vấn đề thuyết ngôn – chủ ngôn trong phát ngôn
a Khái niệm
Thuật ngữ thuyết ngôn, chủ ngôn là thuật ngữ vốn được Đỗ Hữu Châu dịch lại từ hai thuật ngữ người nói L và người hành ngôn E của O Ducrot Tác giả cho rằng có hai kiểu chủ thể trong một phát ngôn đa thanh:
- Người nói L là tác giả của phát ngôn có thể được chỉ ra qua đại từ nhân
xưng ngôi thứ nhất “tôi” cũng như những dấu hiệu khác của ngôi thứ nhất (trừ lời nói được tường thuật theo kiểu trực tiếp) Thông thường (nhất là trong văn nói) có thể dễ dàng nhận dạng chủ thể nói, tức là người trên thực tế sản sinh ra phát ngôn Người nói L được biết đến với hai hình thức sau:
• Chủ thể nói kinh nghiệm (producteur empirique): người tạo ra phát ngôn bằng xương bằng thịt, người chịu trách nhiệm về điều mình nói, người nằm
Trang 29ngoài phát ngôn Khi xét tới vấn đề đa thanh trong phát ngôn, ta không xét
những chủ thể nói kinh nghiệm này dù chúng có quan hệ mật thiết tới thực thể của phát ngôn
• Chủ thể của phát ngôn: là đại diện của chủ thể nói kinh nghiệm được truyền tải trong phát ngôn Có hai dạng chủ thể của phát ngôn: người nói L là người nói ngầm ẩn hoặc tưởng tượng, chỉ có thể nhận ra qua ngữ điệu, cách lựa chọn từ ngữ,…; người nói λ là người nói được chỉ rõ bằng biểu thức ngôn ngữ hình thức đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi, chúng tôi)
- Từ người nói L, tác giả tiến tới phân biệt với người hành ngôn E Tác giả
cho rằng hành ngôn trong phát ngôn xuất hiện như việc thực hiện các hành vi khác nhau, ví dụ như hành vi tại lời - actes illocutoires (khẳng định, hứa ) Còn những người hành ngôn là những nhân vật đóng vai trò tác giả của các hành vi này Điều nghịch lý - mà O Ducrot gọi theo cách diễn đạt của Bakhtin - nằm ở chỗ những người hành ngôn này không hòa lẫn tự động với người nói Nếu một người hành ngôn được đồng hóa với người nói, đó xem như là một sự đồng nhất đặc biệt Và sự đồng nhất cũng có thể xảy ra giữa một người hành ngôn nào đó với những nhân vật khác với người nói, chẳng hạn như với người đối thoại Vì vậy O Ducrot chấp nhận
một phát ngôn phủ định (ví dụ: Tôi sẽ không đến) thể hiện hành ngôn của nó như sự
thực hiện hai hành vi: tôn trọng ý khẳng định mà người nói nói rằng sẽ đến, và từ chối ý khẳng định này Vậy thì rõ ràng hai hành vi này không được gán cho cùng
một thực thể Thực vậy, việc từ chối được gán cho người nói (người mà chữ je ám
chỉ), nhưng còn ý khẳng định bị từ chối thì gán cho một ai đó có thể là người đối thoại hoặc một người thứ ba xác định Nói cách khác, hành ngôn của người nói cũng có thể được gán cho là hành ngôn của một người khác, người này lúc ấy là một người hành ngôn (cũng giống như tác giả của vở kịch cho mượn hành ngôn của chính mình cho những nhân vật khác nhau) Người hành ngôn E cũng là người mà
từ quan điểm của họ, các sự kiện được trình bày
Những ví dụ sau sẽ làm rõ hơn sự phân biệt của O Ducrot:
Ví dụ (1): Nga: Tôi 1 sẽ đến
Trang 30Ví dụ (2): Nam: Nga đã nói với tôi 2 : “Tôi 3 sẽ đến”
Ví dụ (3): Nga: Pie không tới đâu!
(Thực ra, sau đó Pie đã tới, Nam có thể chỉ Pie và nói với Nga như sau:)
Ví dụ (4): Nam: Nga thấy đó, Pie đã không tới!
Trong các phát ngôn trên, bản thân người tên Nam, Nga là thực thể ngoài ngôn ngữ (chủ thể nói kinh nghiệm)
Ở ví dụ (1), (2), tôi 1 và tôi 3 là người nói λ, là nhân xưng của người tên Nga;
tôi 2 là người nói λ, là nhân xưng của người tên Nam
Ở ví dụ (3), (4) người nói không được chỉ rõ bằng biểu thức ngôn ngữ hình thức đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi, chúng tôi) nhưng người nghe vẫn có thể nhận ra người nói là Nga hay Nam qua ngữ điệu, âm sắc giọng nói, cách dùng từ,… Khi đó, trong phát ngôn xuất hiện người nói L ngầm ẩn
Riêng ở ví dụ (4), ta thấy quan điểm “Pie không tới” không phải là của Nam
mà là của Nga dù Nam vẫn là người trực tiếp nói ra phát ngôn Lúc bấy giờ trong (4), Nga đóng vai trò là người hành ngôn E Tóm lại, chủ thể ý thức của quan điểm được đề cập không phải của người nói mà là của người hành ngôn
Khi tiếp nhận lý thuyết về người nói và người hành ngôn của O Ducrot, Đỗ
Hữu Châu gọi đó là thuyết ngôn và chủ ngôn Thuyết ngôn hay chủ ngôn là dùng để chỉ hai người phát ngôn xuất hiện trong một phát ngôn đa thanh Tác giả định nghĩa
về thuyết ngôn và chủ ngôn như sau:
• Thuyết ngôn: “người phát ra phát ngôn, diễn ngôn có thể nghe được hoặc
đọc được” [9, tr.187]
• Chủ ngôn: “là người (có thể là cụ thể mà cũng có thể là trừu tượng, thí
dụ, ý thức hệ của một giai cấp, thị hiếu của một thời kì lịch sử v.v… có thể xem là các chủ ngôn trừu trượng) nói ra nội dung được nhắc lại trong phát ngôn của thuyết ngôn” [9, tr.187]
Quan tâm đến hai định nghĩa trên của Đỗ Hữu Châu, ta có thể phát hiện ra ngay đôi chỗ mâu thuẫn hoặc không hợp lý Xét hai ví dụ:
Ví dụ (5): Người nói A: Tôi 1 vẫn thường nghe: “Có tiền là có tất cả”
Trang 31Ví dụ (6): Người nói A: B đã nói với tôi 1 : “Tôi 2 sẽ đến”
Hai phát ngôn trên gần như giống nhau hoàn toàn về mặt cấu trúc ngữ pháp Người nói tiếng Việt bình thường có thể nhận ra đây là trường hợp lời dẫn trực tiếp Trong lời dẫn trực tiếp bao giờ ta cũng dễ nhận ra có hai người nói khác nhau cùng
xuất hiện: một người là người nói ra phát ngôn “Có tiền là có tất cả” hoặc “Tôi sẽ
đến”; người còn lại chính là người dẫn lại hai phát ngôn đó Ở hai ví dụ này, người
dẫn lại ấy được chỉ ra trong phát ngôn bằng đại từ nhân xưng “tôi 1 ”:
Theo như cách hiểu của tác giả Đỗ Hữu Châu thì thuyết ngôn là tôi 1 ở cả hai trường hợp Còn chủ ngôn trong ví dụ (6) là một người cụ thể được đánh dấu trong phát ngôn bằng đại từ nhân xưng “tôi 2 ” (tức là B, người đã trực tiếp phát ra phát
ngôn“Tôi 2 sẽ đến” trước đó) Cứ như cách định nghĩa của Đỗ Hữu Châu thì ở ví dụ
(5) chủ ngôn là “Có tiền là có tất cả”, tức lúc này chủ ngôn là một quan niệm, một
ý thức hệ trừu tượng chứ không phải là một người xưng tôi nào nữa Nói cách khác
tác giả xử lý khác nhau với những phát ngôn như nhau: ở (5) thì chủ ngôn là bản thân câu nói “Có tiền là có tất cả” nhưng ở (6) lại là một người xưng tôi xuất hiện
trong câu nói“Tôi sẽ đến”
Ở định nghĩa của mình, rõ ràng tác giả đã khẳng định chủ ngôn cũng là một
người giống như thuyết ngôn Nếu đã là một người thì không thể trừu tượng, càng
không thể là một ý thức hệ hay thị hiếu nào đó Việc lấy bản thân phát ngôn để chỉ người phát ra phát ngôn như vậy là một việc làm không hợp lý Định nghĩa của tác giả tỏ ra lúng túng khi phải giải quyết những trường hợp chủ ngôn không được chỉ
rõ bằng một đại từ nhân xưng như ở ví dụ (5) Với cách xử lý của tác giả ta không thể khẳng định rốt cục chủ ngôn hoặc thuyết ngôn là khái niệm chỉ người hay chỉ quan điểm, chỉ bản thân phát ngôn Đó là chưa kể việc tác giả không phân định rõ được thuyết ngôn là người nói A “bằng xương bằng thịt” hay là biểu thức ngôn ngữ
tôi 1 trong phát ngôn Và hẳn nhiên ta cũng không biết chủ ngôn là người nói B
“bằng xương bằng thịt” hay là tôi 2
Như trên đã phân tích, sở dĩ xảy ra những mâu thuẫn và nhầm lẫn trong định nghĩa của Đỗ Hữu Châu là vì tác giả không đưa sự phân biệt giữa người nói trên
Trang 32thực tế với người nói xưng tôi và quan điểm của người nói trong phát ngôn Hiểu
được tầm quan trọng của việc này, tác giả O Ducrot đã phân biệt khá rạch ròi những yếu tố trên
Dù sự phân biệt của O Ducrot khá phức tạp và không trình bày xuyên suốt thành hệ thống nhưng sự phân biệt đó là rất cần thiết trong việc giải quyết cách hiểu
về hiện tượng đa thanh
Sự khác biệt lớn nhất giữa O Ducrot và Đỗ Hữu Châu về vấn đề này có thể được biểu diễn qua sơ đồ sau:
Đỗ Hữu Châu phân biệt người nói ra quan điểm (chủ ngôn) và người nhắc lại quan điểm đó trong câu nói của mình (thuyết ngôn) O Ducrot phân biệt giữa người phát ra một phát ngôn và góc nhìn, quan điểm của phát ngôn Nếu góc nhìn, quan điểm của phát ngôn là của người nói thì người nói trùng với người hành ngôn Ngược lại, nếu nó không phải của người nói thì người nói không trùng với người hành ngôn Ví dụ sau sẽ cho ta thấy sự khác biệt về cách hiểu của hai tác giả:
Ví dụ (7): Nam: Tôi nghe có tiếng thì thầm vào tai mình:“Buồn quá!”
Đỗ Hữu Châu cho rằng thuyết ngôn: Nam, được chỉ rõ bằng đại từ nhân
xưng tôi, chủ ngôn: trạng thái “buồn quá” được nhắc lại trong phát ngôn của Nam
(điểm này người viết không đồng tình với tác giả)
Còn cứ theo như lý thuyết của Ducrot thì tôi là người nói λ (ám chỉ Nam),
còn chủ thể của trạng thái “buồn quá” không được chỉ ra trên phát ngôn (dù người nghe vẫn biết đó là Nga) là người nói L ngầm ẩn Ví dụ này không có sự xuất hiện của người hành ngôn E vì người nói trình bày lại quan điểm của người khác nhưng không xem nó như là quan điểm của chính mình Điều này rất khác với trường hợp (3), (4) đã dẫn:
Ví dụ (3): Nga: Pie không tới đâu!
(Thực ra, sau đó Pie đã tới, Nam có thể chỉ Pie và nói với Nga như sau:)
Trang 33Ví dụ (4): Nam: Nga thấy đó, Pie đã không tới!
Như vậy, khái niệm “người nói” của O Ducrot trải dài ở cả hai trường hợp người phát ngôn (chủ ngôn) và người nhắc lại (thuyết ngôn) của Đỗ Hữu Châu Nói cách khác, người phát ngôn hay người nhắc lại đều được O Ducrot gọi là “người nói” Trong khi Đỗ Hữu Châu xác định có một bộ phận chủ ngôn là ý thức hệ của một giai cấp, thị hiếu của một thời kì,… thì O Ducrot gọi đó là quan điểm của người hành ngôn và phân biệt nó với quan điểm của người nói Rõ ràng là Đỗ Hữu Châu chỉ thừa nhận tiêu chí “người phát ngôn”, O Ducrot thì thừa nhận cả hai tiêu chí “người phát ngôn” và “quan điểm được phát ngôn”
Nhìn chung sự phân biệt của O Ducrot có những ưu điểm nổi trội Tuy nhiên, do không trình bày thành một hệ thống và phạm vi bao quát của ví dụ chưa rộng nên có những trường hợp ta rất khó lý giải, thậm chí không rõ quan điểm của ông như thế nào Chẳng hạn như: Có phải người hành ngôn E bao giờ cũng là chủ thể của quan điểm nhắc được lại hay không? Có phải chủ thể của quan điểm được nhắc lại nếu có thể xác định được thì gọi là “người nói”, còn không xác định được thì gọi là “người hành ngôn ” hay không? Đại từ nhân xưng tôi có phải bao giờ cũng
ám chỉ “người nói” hay không?… Hơn nữa, cách hiểu của O Ducrot về “người nói” lại không cho ta sự phân biệt giữa người nói ra phát ngôn và người nhắc lại phát ngôn đó trong lời của mình Cho nên khi ông quan niệm người nói trùng hay không trùng với người hành ngôn, ta không thể biết được người nói đó là người phát ra phát ngôn (chủ ngôn) hay người nhắc lại phát ngôn đó trong lời của mình (thuyết ngôn)
Căn cứ trên những gì đã phân tích, người viết xin mạo muội đưa ra cách hiểu riêng của mình về vấn đề này Người viết xin được dùng hai thuật ngữ chủ ngôn và
thuyết ngôn mà tác giả Đỗ Hữu Châu đã sử dụng nhưng đưa vào những nội dung và
sự phân biệt mới Cụ thể như sau:
• Thuyết ngôn: người phát ra phát ngôn và là người chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình
Trang 34• Chủ ngôn: người nói ra quan điểm, nội dung được nhắc lại trong phát ngôn của thuyết ngôn
Thuyết ngôn và chủ ngôn đều là thực thể ngoài ngôn ngữ, không thuộc nội dung của phát ngôn dù nó có liên hệ tới nội dung của phát ngôn Nói cách khác, thuyết ngôn và chủ ngôn không phải là chủ ngữ hay phần đề xuất hiện trong phát ngôn Do đó đại từ nhân xưng tôi không phải là bản thân chủ ngôn hay thuyết ngôn
mà chỉ là biểu thức ngôn ngữ đại diện cho chủ ngôn hay thuyết ngôn trong phát ngôn
Một trong những điểm chung khác của chủ ngôn và thuyết ngôn là chúng phải là chủ thể của các hoạt động nói năng, có thể được thể hiện hiển ngôn bằng vị
từ nói năng (tuyên bố, nói, la, quát,…) hoặc ngầm ẩn
Chủ ngôn hay thuyết ngôn chỉ là người chịu trách nhiệm về điều mình nói ra trong phát ngôn mà thôi Để làm rõ điều này, ta có thể xét các ví dụ sau:
Ví dụ (8): A: B đã nói: “Con mèo của tôi đã làm vỡ chiếc bình quý”
Trong vế trích dẫn, “con mèo của tôi” là chủ ngữ nhưng không phải là chủ
ngôn Chủ ngôn trong câu nói này phải là B, người chịu trách nhiệm về phát ngôn
“Con mèo của tôi đã làm vỡ chiếc bình quý”
Ví dụ (9): A: B đã nói: “Tôi đã làm vỡ chiếc bình quý”
Lúc này chủ ngôn trong câu vẫn là B, và trong phát ngôn, B được đánh dấu bởi đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít làm chủ ngữ “tôi” Trường hợp này khiến ta
dễ hiểu nhầm rằng chủ ngôn là chủ ngữ của phát ngôn Thật ra không phải như vậy Điều này sẽ rõ hơn khi ta xét ví dụ (10)
Ví dụ (10): A: B đã đọc được câu: “Tôi đã làm vỡ chiếc bình quý”
Chủ ngôn là B nhưng B và tôi không phải là một
Từ ba ví dụ trên ta có thể thấy, chủ ngôn hay thuyết ngôn chỉ là người chịu trách nhiệm về những gì mình nói ra, chúng nằm ngoài phát ngôn, không thuộc nội dung của phát ngôn dù có liên quan mật thiết đến nội dung của phát ngôn Chủ ngữ không phải lúc nào cũng ứng với chủ ngôn (hay thuyết ngôn)
Với cách hiểu chủ ngôn và thuyết ngôn như trên, một mặt ta sẽ khắc phục được một số nhược điểm, mặt khác phát huy một số ưu điểm trong các cách hiểu
Trang 35của các tác giả đi trước Cụ thể:
• Phân biệt rạch ròi giữa người phát ngôn (chủ ngôn) và người nhắc lại phát ngôn (thuyết ngôn)
• Phân biệt giữa cái mà O Ducrot gọi là “thực thể kinh nghiệm” (chủ ngôn
và thuyết ngôn) và “thực thể của phát ngôn” (biểu thức ngôn ngữ đại diện cho chủ ngôn hoặc thuyết ngôn trong phát ngôn – đại từ nhân xưng tôi, chúng tôi)
• Phân biệt giữa nội dung, quan điểm của phát ngôn với người nói ra phát ngôn đó
• Xác định được chủ ngôn cả ở những trường hợp khó lý giải như trường hợp mà O Ducrot gọi là “phát ngôn lịch sử”:
Ví dụ (5): Tôi 1 vẫn thường nghe: “Có tiền là có tất cả”
Hay:
Ví dụ (11): Từ đâu bỗng nghe tiếng thét thất thanh: “Cứu với!”
• Có tính tiết kiệm và đơn giản, dễ nắm bắt
b Mối quan hệ giữa chủ ngôn và thuyết ngôn
Từ cách hiểu như trên, ta có mối quan hệ giữa chủ ngôn và thuyết ngôn như sau: (b.1) Chủ ngôn cũng chính là thuyết ngôn
Có hai trường hợp có thể xảy ra:
• Thuyết ngôn nhắc đến một vấn đề mình đã từng nói và bày tỏ quan điểm riêng đối với người nghe
Ví dụ (12): Tôi đã nói là tôi không thích cơ mà!
• Thuyết ngôn nhắc đến một vấn đề mình đã từng nói và bày tỏ quan điểm riêng đối với bản thân
Ví dụ (13): Tôi khẳng định với anh hôm nay trời đẹp nhưng thực tế trời đang
mưa Vì thế tôi có thể tự mỉa mai mình rằng: (13) Anh thấy đấy nhé, trời rất đẹp!
(b.2) Chủ ngôn khác với thuyết ngôn
Có hai trường hợp có thể xảy ra:
• Thuyết ngôn nhắc lại nội dung của chủ ngôn không nhằm bày tỏ quan điểm riêng
Trang 36Ví dụ (14):
(A: Anh ấy đã nói gì với cậu?)
B: Anh ấy nói với tôi: “Tôi về đây”
• Thuyết ngôn nhắc lại nội dung quan điểm của chủ ngôn nhằm bày tỏ quan điểm riêng
- Tán thành, đồng ý
Ví dụ (15): Anh đã bảo hôm nay trời đẹp vậy thì không có lý do gì tôi từ chối
lời đề nghị của anh
thuyết ngôn” thì tác giả viết: “Thuyết ngôn cũng là chủ ngôn: Nội dung của phát
ngôn do thuyết ngôn nói ra, do thuyết ngôn là tác giả” [9, tr.188] Rõ ràng phát
biểu này chưa nêu ra tính khu biệt với các trường hợp còn lại bởi thật ra ở tất cả các trường hợp, thuyết ngôn đều là người nói ra nội dung phát ngôn của mình (ở đây là phát ngôn “lớn”, bao chứa cả phát ngôn được nhắc đến của chủ ngôn) Hơn nữa những dẫn chứng Đỗ Hữu Châu nêu ra cũng chưa đủ giá trị khu biệt và chứng minh cho cách hiểu của tác giả
* Cơ sở xuất hiện hiện tượng đa thanh
Căn cứ trên những quan niệm về hiện tượngđa thanh được xác định như trên,
ta có thể xác lập tiêu chí nhận ra hiện tượngđa thanh trong ngôn ngữ học như sau:
• Trước tiên phải đảm bảo tính đa chủ thể, tức là có sự xuất hiện quan điểm của thuyết ngôn và chủ ngôn trong phát ngôn
• Quan điểm của chủ ngôn và thuyết ngôn có thể có vai trò ngang bằng hoặc không ngang bằng nhau (điểm khác biệt so với khái niệm đa thanh trong âm
nhạc và văn học)
Trang 37• Lời của thuyết ngôn và chủ ngôn phải được thể hiện đồng thời trong một phát ngôn
• Được tổ chức, sắp xếp theo ý đồ của thuyết ngôn để tạo nghĩa (thường là nghĩa ngữ dụng)
Khoảng cách giữa các quan điểm của thuyết ngôn và chủ ngôn là bản lề của mọi thứ Không có người nắm giữ vị trí gần nhất nào giữa chủ ngôn và thuyết ngôn
1.4 Tiểu kết
Trong chương này, luận văn đã nghiên cứu về nội dung khái niệm, sự phân
biệt khái niệm và đặc trưng của hiện tượng đa thanh, lý thuyết đa thanh trong các
lĩnh vực khác nhau, làm nền tảng cho việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể ở chương 2, 3 và 4
Những hiểu biết về đa thanh trong âm nhạc và văn học (nhất là hiểu biết về việc xác lập tiêu chí xuất hiện hiện tượng đa thanh trong hai lĩnh vực này) cho ta căn cứ, cơ sở hiểu khái niệm đa thanh khi nó được vận dụng vào bộ môn ngữ dụng học Cách hiểu về hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ học vừa có những điểm
tương đồng, vừa có những điểm dị biệt
Luận văn đã cố gắng chứng minh để rút ra một kết luận hết sức quan trọng
của chương này là: Không thể hiểu khái niệm đa thanh như một hiện tượng thuộc
về đặc tính bản chất của ngôn ngữ nói chung, chỉ có thể hiểu đa thanh như một đặc
điểm của một kiểu loại phát ngôn phổ biến trong mọi ngôn ngữ Kết luận này đi ngược lại những nhận định quen thuộc của O Ducrot và Đỗ Hữu Châu
Tác giả luận văn cũng đưa ra cách hiểu của mình về vấn đề chủ ngôn và thuyết ngôn dựa trên cơ sở khắc phục một số nhược điểm, phát huy một số ưu điểm trong các cách hiểu của các tác giả đi trước nhằm tiến tới mục đích quan trọng hơn
hết là xác lập tiêu chí chung để nhận ra hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ học
Cũng nằm trong mục đích nghiên cứu về bản chất của hiện tượng đa thanh
trong ngôn ngữ, trong chương tiếp theo, luận văn đi tìm mối liên hệ giữa hiện tượng
đa thanh với một trong những vấn đề hết sức thú vị: lập luận
Trang 38CHƯƠNG 2 HIỆN TƯỢNG ĐA THANH VÀ LẬP LUẬN
2.1 Lập luận (đời thường) và hiện tượng đa thanh
Lập luận (argumentation) là đưa ra những luận chứng nhằm chứng minh cho một luận điểm nào đó Trong giao tiếp, đó là cách trình bày các lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt được
Luận chứng (argument) là những lý lẽ và dẫn chứng thuyết minh cho luận
đề Đó là những phán đoán dùng để chứng minh hoặc những chứng cứ thực tế dùng làm cơ sở cho lập luận
Người ta thường biểu hiện quan hệ lập luận giữa luận chứng và kết luận như sau: p -r Trong đó: p là luận chứng và r là kết luận Ví dụ:
Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng rồi (q) - cậu phải nghe nhạc một lát (r) [9, tr.155]
Ví dụ trên có hai luận chứng: p là nguyên lý sinh hoạt và q là một nhận xét
về một trạng thái tâm sinh lý Từ hai luận chứng p và q có thể dắt tới kết luận r
Trong cuộc sống, con người luôn luôn cần dùng đến lập luận Dùng lập luận
để chứng minh một điều gì đó Dùng lập luận để thanh minh, để giải thích một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện và cũng có thể lập luận
để bác bỏ một ý kiến khác Vì vậy, sự lập luận có tầm quan trọng đặc biệt Lập luận logic hình thức và phi hình thức là hai dạng lập luận chính làm nên hai lĩnh vực nghiên cứu khác nhau về lập luận
Trong thực tế chúng ta gặp rất nhiều lập luận không phải là những logic hình thức nhưng lại hoàn toàn chấp nhận được vì chúng là những logic đời thường, lí lẽ đời thường Đó là những lí lẽ dựa trên những nền tảng đạo lí, tập tục, văn hoá xã hội của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng Những loại lý lẽ này không thể tìm thấy trong logic học hình thức Chính vì vậy, nó là cơ sở để ra đời logic học phi hình thức Dù đều hướng tới một mục đích chung nhưng giữa lập luận logic và lập luận đời
Trang 39thường luôn có sự khác biệt Sự khác biệt này có thể nhắc đến ở một số điểm như sau:
Cơ sở của lập luận logic chính là các tiên đề logic và thao tác logic Cơ sở
của những lập luận đời thường chính là những topos (Aristote), tạm dịch là “lẽ
thường”
Lập luận logic hay lập luận đời thường đều có thể có tam đoạn luận, nhưng những tam đoạn luận này không hoàn toàn giống nhau:
- Ở tam đoạn luận logic, kết luận là hệ quả tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề
và của thao tác suy diễn Nói cách khác tính đúng sai của kết luận do tính đúng sai của các tiền đề quyết định và không thể thay đổi, không thể có phản lập luận Một kết luận đúng logic trong một lập luận logic thì chỉ cần một luận cứ, không thể dẫn nhiều luận cứ cho một kết luận Các luận cứ và kết luận phải được diễn đạt bằng một mệnh đề trần thuyết (dưới hình thức khẳng định hay phủ định)2
- Tam đoạn luận đời thường có đại tiền đề là những lẽ thường, không phải là một chân lí khoa học, khách quan nên chúng không tất yếu đúng Do đó lập luận đời thường có phản lập luận Hơn nữa lập luận đời thường có thể dẫn ra hàng loạt luận
cứ có thể dẫn đến cùng một kết luận Các luận cứ và kết luận có thể được diễn đạt
2 Ở đây cũng cần nói rõ, về mặt logic, các luận cứ và kết luận phải được diễn đạt bằng một mệnh đề trần thuyết nhưng về mặt ngôn ngữ học, chúng có thể có những hình thức ngôn ngữ khác nhau, miễn là lực ngôn trung của chúng vẫn là “khẳng định” hoặc
“phủ định” Chẳng hạn:
Ví dụ (19):
(19a) Anh nói ai làm quan cũng ăn hối lộ Anh cũng làm quan thì anh cũng ăn hối
lộ (kết luận được diễn đạt dưới hình thức câu trần thuật, lực ngôn trung là khẳng định)
(19b) Anh nói ai làm quan cũng ăn hối lộ Anh cũng làm quan, anh thanh cao nhỉ!
(kết luận được diễn đạt dưới hình thức câu cảm thán có ý mỉa mai, lực vẫn ngôn trung vẫn
giữ nguyên như (19a))
(19c) Anh nói ai làm quan cũng ăn hối lộ Anh cũng làm quan, thế anh có ăn hối lộ không? (kết luận được diễn đạt dưới hình thức câu nghi vấn, lực ngôn trung vẫn giữ
nguyên như (19a))
Trang 40bằng các phát ngôn trần thuyết và phát ngôn của các hành vi ở lời khác hay thậm chí là chính hành vi ở lời
Giá trị của lập luận đời thường không phải được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic như ở lập luận logic mà nó nhằm dẫn người nghe, người đọc đến một kết luận nào đó
Trên đây là một số nét phân biệt giữa lập luận đời thường và lập luận logic Khi tìm hiểu mối quan hệ của lập luận và hiện tượng đa thanh, người viết hướng
đến nội dung ngữ dụng của lập luận Bản chất ngữ dụng của lập luận đời thường đã được chứng minh qua các công trình nghiên cứu về lập luận trước đây Do đó, lập
luận mang tính đa thanh được luận văn đề cập ở đây là những lập luận đời thường,
không phải là những lập luận logic 3
Căn cứ trên những cơ sở lý luận và sự phân biệt như vậy, ta hãy xét mối quan
hệ của lập luận đời thường với hiện tượng đa thanh trong ngôn ngữ Trước tiên, cần điểm qua quan niệm của nhà ngôn ngữ học O Ducrot về vấn đề này Trong “Le dire
et le dit”, tác giả nói đến một cơ chế lập luận thường thấy trong lời nói là lập luận
áp đặt (argumentation par autorité) Lập luận áp đặt không chỉ tận dụng tối đa các yếu tố cấu thành của một cấu trúc ngữ pháp mà nó còn mở rộng và phát triển những yếu tố này Đồng thời, nó thực hiện một trong những chức năng ẩn tiềm của ngôn ngữ Đối với mệnh đề P bất kì, ta sử một một lập luận mang tính áp đặt khi:
- Ta chỉ ra 4 rằng P đã là, đang là, hay sẽ có thể là đối tượng của một điều
khẳng định
3Hẳn nhiên là người viết không có ý cho rằng lập luận logic thì không có tính đa
thanh nên không nghiên cứu Việc chọn đối tượng như vậy chỉ nhằm mục đích cho thấy
hiện tượng đa thanh trong lập luận, nhất là lập luận đời thường gắn bó chặt chẽ với những
vấn đề có tính ngữ dụng mà thôi
4
Theo O Ducrot, cần phân biệt giữa “khẳng định” và “chỉ ra” Khái niệm đầu tiên tương ứng với sagen, to tell, to say, và khái niệm thứ hai thì tương đương với vorweisen, to
show (Sự phân biệt này là hoàn toàn tương ứng với sự phân biệt câu ngôn hành và vị từ
ngôn hành của Austin) Khi ai đó đưa ra một khẳng định, ví dụ như khi X khẳng định rằng
“Ngày mai trời đẹp”, người đó đưa ra ít nhất hai dạng chỉ dẫn (chỉ định), theo hai kiểu
hoàn toàn khác nhau: một liên quan tới chủ đề câu chuyện (thời tiết đẹp), một liên quan tới lời phát biểu, được đưa ra như một sự khẳng định về thời tiết, mà không phải về một việc nào khác, cũng không phải một câu hỏi Hai chỉ dẫn này có những cương vị hoàn toàn