Hồ Chí Minh đã có một số công trình nghiên cứu như: “ Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp chế biến phục vụ mục tiêu xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LƯƠNG NGỌC TUẤN
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LƯƠNG NGỌC TUẤN
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 95
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
- -
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học - TS.Đàm Nguyễn Thùy Dương, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, chỉnh sửa bài viết và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi những bài giảng bổ ích trong suốt khóa học và cho tôi những chỉ dẫn quý báu trong quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ Sở Ngoại thương TP Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế và Phát triển TP Hồ Chí Minh, Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện thuận lợi và giành thời gian quý báu của mình để trao đổi với tôi về các vấn đề cần nghiên cứu, cung cấp những tư liệu hữu ích phục vụ cho đề tài và giúp tôi học hỏi được nhiều điều
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học tổng hợp TP Hồ Chí Minh về những tài liệu tham khảo cho luận văn
Cuối cùng, tôi rất biết ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn Lương Ngọc Tuấn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lương Ngọc Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài 1
2.1 Mục tiêu của đề tài 1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Không gian 2
3.2 Thời gian 2
3.3 Nội dung 2
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4.1 Trên thế giới 2
4.2 Tại Việt Nam 3
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp luận 3
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc đề tài 6
Chương 1 Cơ sở lí luận về ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến 7
1.1 Khái niệm ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến 7
1.2 Phân loại ngành công nghiệp chế biến 9
1.3 Vai trò, đặc điểm của công nghiệp chế biến 10
1.3.1 Vai trò của CNCB 10
1.3.2 Đặc điểm của CNCB 15
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố CNCB 16
1.4.1 Vị trí địa lí 16
1.4.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 16
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 18
1.5 Sơ lược về thực trạng phát triển CNCB ở một số nước trên thế giới và Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009 22
1.5.1 Sơ lược phát triển ngành CNCB của Trung Quốc và Thái Lan 22
1.5.2 Việt Nam 23
Chương 2: Thực trạng phát triển sản xuất ngành CNCB TP Hồ Chí Minh 29
2.1 Giới thiệu khái quát về TP Hồ Chí Minh 29
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành CNCB của TP Hồ Chí Minh 31
2.2.1 Vị trí địa lí 31
2.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 32
2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
2.3 Thực trạng phát triển CNCB TP.Hồ Chí Minh 38
2.3.1 Tổng quan tình hình phát triển công nghiệp của Thành phố 38
2.3.2 Thực trạng phát triển ngành CNCB TP Hồ Chí Minh 48
2.4 Nhận xét vai trò ngành CNCB đối với việc phát triển công nghiệp và KT - XH của Thành phố theo hướng CNH – HĐH 89
2.4.1 Vai trò quan trọng và những tác động có tính chất đột phá của quá trình phát triển CNCB đối với quá trình CNH - HĐH của Thành phố 89
2.4.2 Những khó khăn làm hạn chế quá trình phát triển CNCB Thành phố hiện nay 92
Chương 3 Định hướng và các giải pháp cho sự phát triển CNCB TP Hồ Chí Minh 95
3.1 Cơ sở đưa ra định hướng 95
3.1.1 Dựa vào chiến lược phát triển kinh tế Thành phố giai đoạn 2010 – 2020 95
3.1.2 Dựa vào chiến lược phát triển công nghiệp Thành phố giai đoạn 2010 - 2020 97
Trang 63.1.3 Dựa vào quy hoạch các ngành công nghiệp vùng KTTĐPN 105
3.2 Xu hướng phát triển CNCB TP Hồ Chí Minh trong những năm tới Một số bài học kinh nghiệm 110
3.2.1 Xu hướng phát triển 110
3.2.2 Một số bài học kinh nghiệm 112
3.3 Định hướng phát triển ngành CNCB 112
3.3.1 Quan điểm chung 112
3.3.2 Định hướng chung phát triển CNCB TP Hồ Chí Minh 113
3.3.3 Mục tiêu phát triển CNCB TP Hồ Chí Minh 114
3.3.4 Định hướng phát triển một số ngành CNCB 115
3.4 Giải pháp và chính sách phát triển của ngành CNCB 115
3.4.1 Các giải pháp tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh 115
3.3.2 Các giải pháp về KH - CN 116
3.3.3 Các giải pháp về hạ tầng cơ sở để phát triển CNCB 117
3.3.4 Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 117
3.3.5 Các giải pháp về liên kết DN 117
3.3.6 Các giải pháp về tài chính 118
3.3.7 Giải pháp cơ chế, chính sách 119
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 121
1 KẾT LUẬN 121
2 KIẾN NGHỊ 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 126
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
CNCB: Công nghiệp chế biến
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DN: Doanh nghiệp
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KCN – KCX: Khu công nghiệp – Khu chế xuất
GTSXCN: Giá trị sản xuất công nghiệp
NSLĐ: Năng suất lao động
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng: 2.1: GTSX và cơ cấu GTSXCN của TP Hồ Chí Minh so với Cả nước, vùng
Đông Nam Bộ 39
Bảng 2.2: Cơ cấu GTSX công nghiệp một số địa phương so với cả nước 39
Bảng 2.3: GTSXCN và tốc độ tăng trưởng GTSXCN phân theo nhóm ngành công nghiệp 40
Bảng 2.4: GTSXCN và cơ cấu GTSXCN phân theo thành phần kinh tế 42
Bảng 2.5: Cơ sở sản xuất và cơ cấu cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 43
Bảng 2.6: Số lượng lao động và cơ cấu số lượng lao động sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 44
Bảng 2.7: Số lượng lao động sản xuất và cơ cấu số lượng lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 46
Bảng 2.8: GTSX và cơ cấu GTSX phân theo ngành CNCB 50
Bảng 2.9: Tốc độ tăng trưởng GTSX các ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 51
Bảng 2.10: GTSX và cơ cấu GTSX CNCB phân theo thành phần kinh tế 53
Bảng 2.11: Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB theo khu vực nhà nước giai đoạn 2000 – 2009 55
Bảng 2.12: Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB khu vực ngoài nhà nước giai đoạn 2000 – 2009 56
Bảng 2.13: Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2000 – 2009 58
Bảng 2.14: Cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 59
Bảng 2.15: Số lượng cơ sở sản xuất và cơ cấu số lượng cơ sở sản xuất CNCB phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 60
Bảng 2.16: Số lượng cơ sở sản xuất và lao động trung bình/cơ sở nhóm ngành CNCB phân theo thành phần kinh tế năm 2009 62
Bảng 2.17: Số lượng cơ sở sản xuất và cơ cấu số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp nhà nước phân theo nhóm ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 63
Trang 9Bảng 2.18: Số lượng cơ sở sản xuất và cơ cấu số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp
ngoài nhà nước phân theo nhóm ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 65 Bảng 2.19: Số lượng cơ sở sản xuất và cơ cấu số lượng sơ sở sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phân theo nhóm ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 66 Bảng 2.20: Tốc độ tăng trưởng lao động sản xuất công nghiệp phân theo nhóm ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 68 Bảng 2.21: Số lượng lao động và cơ cấu số lượng lao động sản xuất công nghiệp phân theo ngành CNCB giai đoạn 2000 - 2009 68 Bảng 2.22: Số lượng lao động và cơ cấu số lượng lao động sản xuất CNCB phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 71 Bảng 2.23: Trình độ lao động chia theo loại hình cơ sở năm 2009 72 Bảng 2.24: Số lượng lao động DN CNCB phân theo giới tính giai đoạn 2000 – 2009 72 Bảng 2.25: NSLĐ ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 74 Bảng 2.26: Hiệu quả sử dụng lao động ngành CNCB dựa theo GTSX công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 74 Bảng 2.27: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các DN giai đoạn 2000 –
2009 77 Bảng 2.28: Vốn kinh doanh bình quân một DN ngành CNCB trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2009 77 Bảng 2.29: Thị trường xuất nhập khẩu trong những năm tới của TP Hồ Chí Minh 84
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính TP Hồ Chí Minh 29
Bản đô 2: Bản đồ mật độ dân số phân theo quận, huyện TP Hồ Chí Minh năm 2009 34
Bản đồ 3: Bản đồ phân bố giá trị sản xuất CNCB TP Hồ Chí Minh 86
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB cả nước phân theo thành phần kinh tế 25
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GTSXCN của TP Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và cả nước giai đoạn 2000 – 2009 38
Biểu đồ 2.2.: Tỉ trọng GTSX công nghiệp một số địa phương so với Cả nước 39
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng GTSXCN phân theo nhóm ngành giai đoạn 2000 – 2009 40
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu GTSXCN phân theo ngành công nghiệp giai đoạn 2000 – 2009 41
Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng trưởng GTSXCN phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 41
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu GTSX công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 42
Biểu đồ 2.7: Tốc độ tăng trưởng số lượng lao động sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 44
Biểu đồ 2.8: Tốc độ tăng trưởng số lượng lao động sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 45
Biểu đồ 2.9: Cơ cấu lao động sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 46
Biểu đồ 2.10: GTSX nhóm ngành CNCB giai đoạn 2000 – 2009 48
Biểu đồ 2.11: GTSX của ngành CNCB của một số địa phương 49
Biểu đồ 2.12: Cơ cấu GTSXCN phân theo ngành CNCB năm 2000 và năm 2009 49
Biểu đồ 2.13: Tốc độ tăng trưởng GTSXCN phân theo TPK giai đoạn 2000 – 2009 52
Biểu đồ 2.14: Cơ cấu GTSX CNCB phân theo khu vực nhà nước các năm 2000 và năm 2009 54
Trang 11Biểu đồ 2.15: Cơ cấu GTSX CNCB phân theo khu vực ngoài nhà nước năm 2000 và năm 2009 56 Biểu đồ 2.16: Cơ cấu GTSX CNCB phân theo khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm
2000 và năm 2009 57 Biểu đồ 2.17: Tốc độ tăng trưởng cơ sở sản xuất CNCB phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 60 Biểu đồ 2.18: Cơ cấu cơ sở sản xuất CNCB phân theo TPKT giai đoạn 2000 – 2009 60 Biểu đồ 2.19: Số lượng lao động trung bình/ cơ sở nhóm ngành CNCB phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2009 62 Biểu đồ 2.20: Cơ cấu số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp nhà nước phân theo nhóm ngành CNCB năm 2000 và năm 2009 64 Biểu đồ 2.21: Cơ cấu cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước phân theo nhóm ngành CNCB năm 2000 và năm 2009 65 Biểu đồ 2.22: Cơ cấu số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phân theo nhóm ngành CNCB năm 2000 và năm 2009 67 Biểu đồ 2.23: Cơ cấu lao động sản xuất công nghiệp phân theo ngành CNCB giai đoạn
2000 – 2009 69 Biểu đồ 2.24: Tốc độ tăng trưởng lao động sản xuất CNCB phân theo thành phần kinh
tế giai đoạn 2000 – 2009 70 Biểu đồ 2.25: Cơ cấu lao động sản xuất CNCB phân theo thành phần kinh tế giai đoạn
2000 – 2009 71 Biểu đồ 2.26: Cơ cấu số lượng lao động trong các DN CNCB phân theo giới tính giai đoạn 2000 – 2009 73 Biểu đồ 2.27: Tốc độ tăng trưởng NSLĐ ngành CNCB phân theo thành phần kinh tế 75 Biểu đồ 2.28 : Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của các DN CNCB phân theo thành phần kinh tế các năm 2000 và 2009 76 Biểu đồ 2.29 : Tỉ trọng GTSX CNCB trong cơ cấu GDP, Công nghiệp TP Hồ Chí Minh 90
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
CNH - HĐH là quy luật tất yếu khách quan đối với sự phát triển KT - XH của một quốc gia Để đạt được thành công và hiệu quả cao trong tiến trình CNH - HĐH đất nước đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải xây dựng cho mình một cơ cấu kinh
tế hợp lí, bố trí sắp xếp lại các ngành sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển, xuất phát
từ hoàn cảnh thực tế trong nước và những yêu cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế Trong đó, đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng, phát triển một nền công nghiệp ngày càng tiên tiến và hiện đại, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, từ năm 1986 Đảng và nhà nước
ta đã tiến hành CNH - HĐH đất nước, nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lí và hiện đại, đưa đất nước ta dần thoát khỏi tình trạng kém phát triển để đến năm
2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển
Trong xu thế tiến trình CNH - HĐH trong toàn quốc, TP Hồ Chí Minh từ khi tiến hành CNH - HĐH đến nay cũng đã tiến hành CNH - HĐH các ngành kinh tế của Thành phố và từng bước đã xây dựng một cơ cấu kinh tế khá hợp lí xét cả về cơ cấu kinh tế chung và cơ cấu công nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực của Thành phố và tạo đà phát triển kinh tế mạnh mẽ, vượt bậc Trong đó ngành CNCB đã
có những bước phát triển nhanh và liên tục, ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển ngành công nghiệp Tuy nhiên, sự phát triển CNCB trong những năm gần đây còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thời kì CNH – HĐH và chưa phát huy hết
tiềm lực của Thành phố Do đó, tác giả luận văn chọn đề tài:” Hiện trạng và định
hướng phát triển công nghiệp chế biến Thành phố Hồ Chí Minh”, để nghiên cứu rõ
hơn về vấn đề phát triển CNCB Thành phố và tìm ra những giải pháp phát thúc đẩy ngành CNCB phát triển hiệu quả trong thời kì CNH - HĐH
2 Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu cơ bản của đề tài là đúc kết cơ sở lí luận thực tiễn về công nghiệp và CNCB, từ đó vận dụng vào nghiên thực trạng sản xuất ngành CNCB của TP Hồ Chí
Trang 13Minh, nhằm đưa ra một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển ngành CNCB theo định hướng và phù hợp với thời kì CNH – HĐH
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Tổng quan cơ sở lí luận về công nghiệp và CNCB
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố ngành CNCB TP
Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu hiện trạng sản xuất ngành CNCB TP Hồ Chí Minh theo ngành, theo thành phần kinh tế, và theo lãnh thổ
- Tìm ra định hướng phát triển CNCB Thành phố từ nay đến năm 2020
- Đề xuất những giải pháp cơ bản đảm bảo sự phát triển CNCB Thành phố theo hướng CNH – HĐH
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1 Trên thế giới
Ngành CNCB có vai trò rất quan trọng tại mỗi quốc gia, vì vậy có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các đề án nghiên cứu về hiện trạng và định hướng phát triển ngành CNCB Tuy nhiên, do đặc thù phân loại ngành công nghiệp các nước trên thế giới có sự khác biệt, cơ cấu nhóm ngành CNCB rất đa dạng, nên quá trình thống kê gặp nhiều khó khăn, chiếm số lượng nhiều nhất là những đề tài về hiện trạng và định hướng phát triển ngành CNCB lương thực, thực phẩm
Trang 144.2 Tại Việt Nam
Ngành CNCB trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã có một số công trình nghiên
cứu như: “ Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp chế biến phục vụ
mục tiêu xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Viện Kinh tế phát
triển, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các doanh
nghiệp ngành công nghiệp chế biến trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của
ThS.Cao Minh Nghĩa – Viện kinh tế phát triển, “ Nghiên cứu hiện trạng và định
hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ
của Phạm Ngọc San năm 2005…, “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản
của Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ của Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh”, “Đề án chuyển dịch cơ cấu công nghiệp – Phát triển công nghiệp hiệu
quả cao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn (2006 - 2010)” của Viện
Các công trình nghiên cứu khoa học trên là tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích
để nghiên cứu làm đề tài Tuy nhiên chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về ngành CNCB của Thành phố Do đó tác giả lựa chọn nội dung này để nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Lãnh thổ KT - XH Thành phố với tư cách là một hệ thống con trong hệ thống
KT - XH của cả nước và hệ thống lãnh thổ KT - XH Thành phố lại có nhiều phân hệ
Trang 15con nhỏ hơn tạo thành như các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế Các phân hệ này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động, ảnh hưởng đến các yếu tố trong toàn hệ thống và giữa các hệ thống với nhau Do vậy, để nghiên cứu sự phát triển CNCB Thành phố theo hướng CNH – HĐH cần phải xem xét cơ cấu công nghiệp của Thành phố trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần trong toàn hệ thống KT -
XH Thành phố và trong mối tương quan với sự phát triển kinh tế, công nghiệp của vùng và cả nước
Ngành CNCB TP Hồ Chí Minh lại bao gồm nhiều cấu trúc hệ thống nhỏ, các thành phần cấu trúc có liên quan chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành một hệ thống kinh tế ngành công nghiệp có những đặc trưng riêng của TP Hồ Chí Minh
5.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí dù lớn hay nhỏ đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển riêng của nó Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào việc nghiên cứu quá trình phát triển CNCB Thành phố theo hướng CNH - HĐH sẽ cho thấy lịch sử hình thành cũng như những chuyển biến về tình hình phát triển công nghiệp của Thành phố trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp phù hợp
để thúc đẩy sự phát triển CNCB một cách hợp lí trong tương lai
Trang 165.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu các thế hệ tương lai
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển KT - XH của các quốc gia trên thế giới Quán triệt quan điểm phát triển bền vững, trong quá trình phát triển công nghiệp Thành phố thực hiện theo phương châm phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ trong tương lai Điều đó có nghĩa là các hoạt động sản xuất CNCB trên địa bàn Thành phố phải đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển hiện tại
và các hoạt động sản xuất đó không gây nguy hại cho những thế hệ trong tương lai như vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kệt nguồn tài nguyên…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này đã tiến hành sử dụng các phương pháp:
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
Các số liệu, tư liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: các đề tài nghiên cứu, sách, báo, các báo cáo của Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch Đầu tư, báo cáo của Ban Quản lí các khu công nghiệp, Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê, Viện Kinh tế Phát triển…trên cơ sở phân loại và tìm ra các tư liệu liên quan đến sự phát triển và phân bố ngành CNCB Thành phố
5.2.2 Phương pháp phân tích so sánh
Tác giả tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu các số lệu thống kê để thấy được
sự phát triển (sự biến đổi) qua từng giai đoạn, sự khác biệt về phát triển ngành CNCB trong các giai đoạn cũng như so sánh tốc độ tăng trưởng công nghiệp giữa Thành phố với các địa phương khác hay cả nước, giữa các ngành trong nội bộ nhóm ngành CNCB
5.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp đặc trưng trong việc nghiên cứu địa lí KT - XH nhằm thu thập thông tin, thẩm định mức độ tin cậy của số liệu, tài liệu đồng thời giúp người nghiên cứu đưa ra những kết luận chính xác hơn Tác giả luận văn đã tiến hành khảo
Trang 17sát thực địa tại một số quận, huyện của Thành phố để tìm hiểu tình hình hoạt động của một số KCN và cụm tiểu thủ công nghiệp
5.2.4 Phương pháp Gis, phương pháp bản đồ
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phần mềm Mapinfo để chồng xếp các bản đồ đề thể hiện sự phân bố của các tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực KT - XH, các nhà máy xí nghiệp, các cụm công nghiệp và các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian phân bố công nghiệp, sự phát triển CNCB theo lãnh thổ, theo ngành
và định hướng phát triển CNCB Thành phố
Hệ thống biểu đồ được sử dụng để thể hiện quy mô, cơ cấu GTSX, cơ cấu SP của ngành CNCB cũng như tình hình phát triển ngành CNCB của Thành phố
5.2.5 Phương pháp phân tích hệ thống
Đối tượng nghiên cứu KT - XH là những hệ thống động, phức tạp, bao gồm hệ
có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động và có mối quan hệ tác động qua lại của chúng, cần phải phân tích mối liên hệ đa dạng, đa chiều trong và ngoài hệ thống về các mặt quy mô số lượng, tốc độ tăng trưởng
6 Cấu trúc đề tài
Đề tài: “Hiện trạng và định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến
Thành phố Hồ Chí Minh”, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 3
chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về công nghiệp và ngành CNCB
Chương 2 Hiện trạng phát triển ngành CNCB TP Hồ Chí Minh
Chương 3 Định hướng và các giải pháp đẩy mạnh sự phát triển ngành CNCB Thành phố theo hướng CNH - HĐH đến năm 2020
Trang 18Chương 1 Cơ sở lí luận về ngành công nghiệp và
công nghiệp chế biến 1.1 Khái niệm ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến
Theo giáo trình kinh tế học phát triển: “Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất
của nền kinh tế quốc dân, có các hoạt động chủ yếu là: khai thác, chế biến và sửa chữa” (4)
Từ điển kinh tế học định nghĩa: “Công nghiệp bao gồm toàn bộ các xí nghiệp
(công xưởng, nhà máy, trạm phát điện, hầm mỏ, xí nghiệp, mỏ, xưởng ) chế tạo công
cụ lao động, khai thác nguyên vật liệu, nhiên liệu, khai thác rừng và chế biến các sản phẩm do ngành khai thác và nông nghiệp sản xuất ra”.(10)
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: “Công nghiệp là một tập hợp các hoạt
động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo
ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp bao gồm cả ba loại hình: công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo sau nó”.(11)
“Công nghiệp bao gồm toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng và chuyển biến các nguyên liệu (gốc động vật, thực vật hay khoáng vật) thành sản phẩm” (16)
“Công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp bao gồm cả ba loại hình: công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo sau nó.” (8)
Công nghiệp khai thác bao gồm các hoạt động khai thác khoáng sản, nhiên liệu,
nước, sinh vật tự nhiên để tạo ra nguồn nguyên, nhiên liệu cho các hoạt động công nghiệp chế biến
Công nghiệp chế biến gồm các hoạt động chế biến vật chất tự nhiên, thành dạng
vật chất có tính năng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của con người, biến vật chất tự nhiên thành của cải, vật chất
Trang 19Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ cắt đứt đối tượng lao động khỏi môi trường
tự nhiên, tạo thành các loại nguyên liệu nguyên thuỷ
CNCB làm thay đổi về chất các đối tượng lao động là nguồn nguyên liệu nguyên thủy thành các SP trung gian và tiếp tục chế biến thành các loại SP cuối cùng
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội cho thấy sự hình thành và phát triển CNCB gắn với phân công lao động dưới tác động của sự phát triển lực lượng sản xuất Phân công lao động xã hội đã phân chia nền sản xuất thành những ngành khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Sản xuất hàng hóa càng phát triển, phân công sản xuất xã hội càng gay gắt, nó diễn ra trong nội bộ từng ngành sản xuất, hình thành những ngành kinh tế độc lập CNCB hình thành và phát triển do sự phân công trong nội bộ ngành
công nghiệp Trong tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, Lê Nin đã
chỉ rõ sự phân công lao động xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa CNCB tách khỏi công nghiệp khai thác, và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia thành nhiều ngành nhỏ, chúng sản xuất ra dưới dạng hàng hóa, dưới dạng đặt biệt và đem trao đổi với nhiều ngành nghề khác
Ngày nay trong điều kiện tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường phát triển cao thì CNCB phát triển với nhiều ngành nghề, lĩnh vực đa dạng phong phú, sản xuất nhiều chủng loại hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống CNCB vì vậy ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH của bất kì quốc gia nào, đặc biệt là các nước đang phát triển, đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp như nước
ta Ở một số nước đang phát triển, do biết quan tâm và có chính sách, chiến lược phát triển CNCB đúng đắn, phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại mà chỉ trong thời gian ngắn đã đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, KT - XH ổn định và phát triển với tốc độ cao
Trang 201.2 Phân loại ngành công nghiệp chế biến
Ở nước ta ngay từ những năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mền Bắc, CNCB đã được quan tâm, đầu tư phát triển Nghị quyết 37/CP ngày 13/3/1974 của hội đồng chính phủ đã phân chia công nghiệp nước ta thành 9 ngành cụ thể từ đó có chính sách, biện pháp đầu tư, phát triển phù hợp với từng ngành Các ngành công nghiệp cụ thể đó là: công nghiệp năng lượng, CNCB nguyên liệu, công nghiệp luyện kim, công nghiệp hóa chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, sành sứ, thủy tinh, lâm sản, công nghiệp lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt da, may mặc, công nghiệp in và sản xuất các loại văn hóa phẩm
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, nên việc phân loại các ngành kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng đã được xác định theo quan điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lí và phù hợp với sư phân chia theo tiêu chuẩn chung quốc tế Chính phủ đã ra nghị định 75/CP, ban hành hệ thống nền kinh tế quốc dân cấp I, và Tổng cục Thống kê ra quyết định 143/ TCTK ngày 22/12/1993 hướng dẫn thi hành hệ thống nền kinh tế quốc dân cấp II, III, IV Theo cách phân loại này, các ngành công nghiệp nước ta được phân chia thành 4 nhóm: công nghiệp khai thác mỏ, CNCB, công nghiệp phân phối điện nước, khí đốt và công nghiệp xây dựng Với cách phân loại theo hai văn bản của chính phủ và Tổng cục Thống kê nêu trên, ta thấy CNCB là ngành kinh tế - kỹ thuật độc lập, là một trong 4 nhóm ngành công nghiệp Bản thân CNCB còn có nhiều ngành khác như: CNCB lương thực thực phẩm, công nghiệp dệt và may mặc, công nghiệp đồ gỗ, công nghiệp sản xuất giấy và in, công nghiệp hóa dầu, luyện kim,
Theo Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam và theo cách phân loại của Tổng cục Thống kê, hiện nay nước ta có 29 ngành công nghiệp được tập hợp thành 3 nhóm: nhóm công nghiệp khai thác (than, dầu – khí, quặng kim loại, khai thác đá và các mỏ khác), nhóm CNCB (sản phẩm thực phẩm và đồ uống, sản xuất thuốc lá, sản xuất sản phẩm dệt…), nhóm điện, ga và nước (sản xuất và phân phối điện, ga, sản xuất và phân phối nước)
Trang 21Ngày nay, CNCB đã trở thành một ngành sản xuất vật chất lớn nhất của xã hội
và có cơ cấu hết sức phức tạp Dựa vào những tiêu chí khác nhau, người ta chia CNCB thành những bộ phận khác nhau Dưới đây là một số cách phân chia phổ biến thường gặp trong thực tế
Có thể nêu ra một số cách tiếp cận phân loại dưới đây:
Theo kết quả sản xuất, SP được đưa ra cung ứng trên thị trường, một số nhà kinh tế học hiện đại đã chia CNCB thành ba nhóm ngành: một là các ngành công nghiệp phía thượng lưu bao gồm luyện kim loại thép, lọc dầu, hóa dầu…, hai là các ngành công nghiệp trung gian như chế tạo máy, thiết bị điện tử, ba là các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cuối cùng như công nghiệp thực phẩm, đồ gỗ, lắp ráp, dệt…
Theo nguồn nguyên liệu thuộc các yếu tố đầu vào của sản xuất, CNCB được chia thành hai nhóm ngành: chế biến nông, lâm, thủy sản và chế biến khoáng sản
Theo giới hạn (phạm vi) SP được bán ra trên thị trường, CNCB được chia thành các ngành CNCB phục vụ nhu cầu trong nước, thay thế nhập khẩu và các ngành công nghiệp xuất khẩu Trong xuất khẩu có cả các mặt hàng tái chế
Ngoài ba cách phân loại thông dụng nêu trên, còn có một số cách phân loại khác
1.3 Vai trò, đặc điểm của công nghiệp chế biến
Trang 221.3.1.1 Kích thích và định hướng cho sản xuất nguyên liệu
Với tư cách là cầu nối giữa nguyên liệu với thị trường, CNCB có tác dụng gìn giữ chất lượng nguyên liệu, nâng cao, tạo ra những SP có giá trị với chất lượng cao, nhờ đó thu được lợi nhuận cao CNCB chính là thị trường đầu ra của khâu tạo nguyên liệu Nó có tác dụng định hướng về các mặt quy mô, cơ cấu, kích cỡ, chất lượng, giá cả…cho khâu sản xuất nguyên liệu một cách trực tiếp và chi phối định hướng đó
Với vai trò định hướng, CNCB làm cho các SP trước đây không hoặc ít được biết đến, thì giờ đây được đưa vào khai thác và sản xuất, được phát triển rộng khắp Từ
đó mở ra các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, quy mô lớn Các vùng này được hình thành và phát triển dựa trên lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối Đây chính là nhân tố quan trọng tác động vào quá trình bố trí lại cơ cấu kinh tế, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư trong quá trình thực hiện CNH - HĐH và phát triển kinh tế thị trường
Là ngành chế biến các SP được khai thác thông qua hệ thống công nghệ hiện đại và lực lượng lao động chuyên nghiệp, CNCB có khả năng tạo ra những hàng hóa
có những phẩm chất đặc biệt, kiểu dáng, mùi vị…thích hợp với nhu cầu thị trường Nó không chỉ bảo tồn giá trị sử dụng mà còn cải biến, bổ sung vào nguyên liệu những phẩm chất mới, từ đó nâng cao giá trị SP, kích thích nhu cầu tiêu thụ của thị trường
Nó tác động trở lại khu vực nguyên liệu, kích thích đầu tư phát triển năng lực sản xuất nguyên liệu, tạo ra thị trường tiêu thụ ngày càng lớn và ổn định cho khu vực này Như vậy CNCB không chỉ có vai trò định hướng cho sản xuất nguyên liệu mà còn là khâu trung tâm để gắn kết khâu sản xuất nguyên liệu với khâu sản xuất nguyên liệu với khâu tiêu thụ trên một trục kỹ thuật công nghệ xác định với mỗi loại SP Chỉ thực hiện vai trò đó, CNCB mới phát triển ổn định và bền vững
1.3.1.2 Mở rộng khả năng cung ứng SP trên thị trường, tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa trong nước
Thông qua hoạt động chế biến các SP do các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng sản xuất và khai thác, CNCB có khả năng đưa ra thị trường hàng hóa chất lượng cao Hơn nữa, thông qua việc sử dụng công nghệ và đội ngũ lao động kỹ thuật, CNCB làm cho các nguyên liệu nông, lâm, ngư nghiệp phong phú, đa dạng về hình
Trang 23thức, kiểu dáng, kích cỡ…, CNCB là cách làm tăng cung và đa dạng hóa SP cung ứng trên thị trường
Sẽ là nghèo nàn và đơn điệu nếu SP nông, lâm, ngư nghiệp không được trải qua giai đoạn chế biến Vai trò của CNCB càng trở nên quan trọng với các nước có nền kinh tế thị trường mở cửa Bởi vì sức mạnh cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường không phải chỉ ở trình độ khai thác các SP của tự nhiên, ở lợi thế về điều kiện tự nhiên
để có những SP đó, mà quan trọng hơn là ở chỗ trình độ kết hợp SP tự nhiên với kỹ thuật, công nghệ thông qua lao động của con người CNCB có vai trò khuyết đại giá trị
sử dụng và làm tăng giá trị của các SP nông, lâm, ngư nghiệp và SP công nghiệp khai thác, làm cho nó trở thành dạng SP mới thích hợp với thị trường, tăng sức cạnh tranh,
từ đó tiêu thụ dễ dàng hơn Vai trò của CNCB với thị trường ngày càng trở nên quan trọng khi trình độ kỹ thuật - công nghệ, trình độ sản xuất và cơ cấu của chính nó được tiếp cận với những thành tựu KH - CN tiên tiến nhất Thực tế các nước đã chứng minh khả năng cạnh tranh về hàng chế biến ở thị trường nội địa cũng như sức mạnh xuất khẩu SP loại này chủ yếu phụ thuộc vào trình độ đạt được của CNCB
1.3.1.3 Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
CNCB góp phần thúc đẩy các ngành cung ứng vật tư, hóa chất, điện, dịch vụ…phát triển Vai trò này bắt nguồn từ chỗ để SP được tung ra và có sức cạnh tranh trên thị trường ngoài các khu vực cung cấp nguyên liệu, CNCB đòi hỏi phải có cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất
CNCB là cách lôi kéo các ngành kinh tế khác như xây dựng, vận tải, kho bãi, tài chính, tín dụng, thông tin liên lạc, KH - CN …phát triển Đến lượt nó, sự phát triển của các ngành này lại thúc đẩy phát triển phát triển CNCB cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đi từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Đây là cơ sở lý luận để giải thích vì sao các nước cùng khu vực với nước ta trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa lại bắt đầu
từ việc phát huy lợi thế về tài nguyên, phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đi liền với CNCB, từ trình độ sơ chế lên trình độ tiên tiến hiện đại, rồi phát triển các ngành kinh tế khác để có cơ cấu kinh tế hợp lý
Trang 241.3.1.4 Góp phần giải quyết việc làm cho xã hội
Khi cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNCB càng hoàn thiện thì số lượng lao động trực tiếp cần sử dụng trong các cơ sở chế biến càng giảm Nhưng sự phát triển của CNCB lại đòi hỏi số lượng lao động ngày càng nhiều hơn tại các khâu sản xuất và khai thác nguyên liệu, cung ứng vật tư, thiết bị và các lĩnh vực dịch vụ khác kể cả lưu thông, tiếp thị…
Sự phát triển của CNCB không chỉ tạo thêm số lượng việc làm mà còn góp phần cải thiện điều kiện lao động của con người, nâng cao trình độ lao động của họ Nhờ đó, lao động giản đơn chuyển thành lao động phức tạp, lao động chân tay chuyển sang lao động trí óc
Vai trò giải quyết việc làm của CNCB lại càng trở nên quan trọng đối với các nước đang phát triển Sự phát triển CNCB là cách để giải quyết vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động ở các nước này, đồng thời cũng là cách để cơ cấu lại lực lượng lao động theo hướng hợp lý, để chuyển lao động từ các khu vực truyền thống sang khu vực hiện đại
1.3.1.5 Góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng thu nhập
CNCB càng phát triển thì sức cung hàng hóa càng lớn, sức mua càng tăng và cuối cùng là khối lượng lợi nhuận thu được càng nhiều, thu nhập càng tăng
Trong điều kiện kinh tế mở, sự phát triển của CNCB là con đường có hiệu quả làm tăng kim ngạch xuất khẩu Vai trò này của CNCB lại càng quan trọng đối với các nước kinh tế kém phát triển mà nguồn thu ngoại tệ vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô Thực tế ở các nước này đã cho thấy xuất khẩu nguyên liệu thô là thua thiệt
Trên thương trường quốc tế, xuất khẩu SP thô và nguyên dạng chỉ là giải pháp tình thế Bởi vì, đây là hoạt động bất bình đẳng: giá bán thấp và không ổn định, điều kiện thương mại bất lợi, thế mạnh thuộc về người có vốn, tài nguyên bị cạn kiệt dần, môi trường bị ô nhiễm và hệ sinh thái bị mất cân bằng…lịch sử kinh tế thế giới cho thấy không một nước nào giàu có và tăng trưởng bền vững chỉ nhờ vào xuất khẩu
Trang 25nguyên liệu thô, không xây dựng CNCB, không tạo ra sức cạnh tranh để giành quyền chủ động trên thị trường
1.3.1.6 Góp phần tham gia có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế
CNCB tồn tại và phát triển trên cơ sở nguyên liệu chính được sản xuất trong nước Những nguyên liệu này chỉ được sản xuất ra trong môi trường không gian nhất định gắn với điều kiện nhất định về tài nguyên thiên nhiên (đất đai, khi hậu, mặt nước, địa hình ) Sự phát triển của CNCB cho phép khởi động và phát huy tiềm năng lợi thế của mỗi vùng, mỗi khu vực trong việc sản xuất, khai thác nguyên liệu Nó tạo điều kiện phát huy truyền thống sản xuất và chế biến riêng của mỗi địa phương Sự kết hợp với các phương pháp sản xuất hiện đại làm cho lợi thế về tiềm năng và truyền thống sản xuất được khuyết đại Đây là cơ hội để SP chế biến vượt ra khỏi thị trường làng,
xã, huyện, tỉnh và quốc gia, xâm nhập vào thương trường quốc tế
Trên thương trường này, lợi thế so sánh của mỗi nước được phát hiện Việc tập trung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu những mặt hàng mà trong nước không có điều kiện sản xuất hoặc sản xuất không có lợi được diễn
ra Phân công lao động và hợp tác sản xuất giữa các nước do đó xuất hiện
Trên đây là vai trò của CNCB Nhờ phát triển các ngành CNCB mà các ngành nông, lâm, ngư nghiệp được phát triển theo hướng đa canh, chuyên canh, thâm canh có năng suất cao, có tỉ suất hàng hóa lớn, hiệu quả kinh tế cao Nhiều ngành kinh tế khác nhờ thông qua CNCB mà quy mô sản xuất được nâng lên, trình độ công nghệ được hoàn thiện Số việc làm và trình độ sản xuất của người lao động, theo đó tăng lên, quy
mô thị trường mở rộng, thu nhập tăng lên
Do sự phát triển của CNCB tác động mạnh đến đời sống và sự phát triển của nhiều ngành kinh tế quốc dân như vậy, nên CNCB đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển KT - XH, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Sự phát triển của CNCB là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia
Trang 26Đối với các nước có nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa, cơ cấu kinh tế ngành vẫn chủ yếu là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp thì việc xây dựng và phát triển các cơ sở CNCB càng có ý nghĩa quan trọng Nó không chỉ thúc đẩy các ngành nông, lâm, ngư nghiệp phát triển, mà còn góp phần đắc lực vào việc nâng cao tiềm lực
KH - CN quốc gia Nó không chỉ góp phần bảo vệ thị trường nội địa, mà còn tạo khả năng mở rộng ra thị trường nước ngoài, tăng sức cạnh tranh hàng hóa, khắc phục thua thiệt do phải xuất khẩu nguyên liệu
1.3.2 Đặc điểm của CNCB
Đối tượng lao động chính của CNCB là các nguyên liệu – các SP đã qua lao động của con người Các nguyên liệu này được sản xuất và khai thác trong tự nhiên Chúng có nguồn gốc từ trong nước hoặc từ nước ngoài, do các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng cung cấp
CNCB là hoạt động tiếp nối SP của ngành khai thác Nó không chỉ bảo tồn gìn giữ chất lượng nguyên liệu, mà còn nâng cao giá trị và tạo ra những SP có giá trị
sử dụng cao Nhờ đó mà có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn, lợi nhuận thu được nhiều hơn
Do tính đa dạng về nguồn nguyên liệu và nhu cầu nhiều vẽ của thị trường, nên CNCB cũng mang tính đa dạng về ngành nghề, phong phú về chủng loại SP với nhiều kích cỡ, mẩu mã, màu sắc…khác nhau
CNCB thường có tính biến động lớn và rất nhạy cảm với thị trường Đặc điểm này ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng, cơ cấu, kiểu dáng SP mà các ngành CNCB đưa ra thị trường tại mỗi thời điểm, mỗi nơi Sở dĩ như vậy là vì hoạt động của CNCB không chỉ lệ thuộc vào tình hình cung cấp nguyên liệu của các ngành khai thác, tình hình phát triển KH – CN, mà còn phụ thuộc vào nhu cầu, giá cả thị trường, vào đặc điểm của nền kinh tế đóng hay mở
Từ những đặc điểm nêu trên có thể hiểu khái niệm: CNCB là một trong ba nhóm ngành của công nghiệp, thông qua các hoạt động bảo quản, cải tiến nâng cao giá trị sử dụng và giá trị của nguyên liệu bằng phương pháp công nghiệp để sản xuất ra
Trang 27hàng tiêu dùng và hàng chế tạo, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường với hiệu quả kinh tế cao
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố CNCB
1.4.1 Vị trí địa lí
Sự hình thành và phát triển CNCB phụ thuộc vị thế của quốc gia đó Các quốc gia, địa phương nào nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông vận tải, có nhiều cảng biển, cảng sông, nhiều đường bộ, đường biển, đường sắt…có lợi cho việc giao lưu, trao đổi, hợp tác để phát triển Một địa phương nào đó ở vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa, trung tâm thương mại, du lịch, trung tâm giao lưu quốc tế, có trình độ kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội cao sẽ là những địa phương có điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển CNCB
1.4.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chất không thể thiếu được để phát triển và phân bố ngành CNCB Nó ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và xác định cơ cấu ngành CNCB Các ngành CNCB như luyện kim, vật liệu xây dựng, CNCB nông – lâm – thủy sản phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Số lượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình phát triển và phân bố của nhiều ngành CNCB
1.4.2.1 Địa hình
Bề mặt địa hình bằng phẳng, phân bố tập trung trên một diện tích lớn là điều kiện thuận lợi hình thành các khu vực công nghiệp quy mô lớn Địa hình bằng phẳng thuận lợi cho phát triển hệ thống giao thông và cơ sở vật chất kĩ thuật từ đó thúc đẩy CNCB phát triển
1.4.2.2 Khí hậu
Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố CNCB Đặc điểm của khí hậu và thời tiết tác động không nhỏ đến hoạt động của các ngành CNCB Trong một số trường hợp, nó chi phối cả việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất Chẳng hạn, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm cho máy móc, nhà xưởng dễ bị hư hỏng Điều đó đòi
Trang 28hỏi lại phải nhiệt đới hoá trang thiết bị sản xuất Ngoài ra, khí hậu đa dạng và phức tạp làm xuất hiện những tập đoàn cây trồng vật nuôi đặc thù Đó là cơ sở để phát triển các ngành CNCB lương thực - thực phẩm
1.4.2.3 Thủy văn
Nguồn nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngành CNCB Mức độ thuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp CNCB Nhiều ngành CNCB thường được phân bố gần nguồn nước như công nghiệp luyện kim (đen và màu), công nghiệp dệt, công nghiệp giấy, hoá chất và chế biến thực phẩm…Tuy nhiên, do sự phân bố không đồng đều của nguồn nước theo thời gian và không gian đã gây nên tình trạng mất cân đối giữa nguồn cung cấp và nhu cầu
về nước để phát triển CNCB
1.4.2.4 Thổ nhưỡng
Về mặt tự nhiên, đất ít có giá trị đối với CNCB Suy cho cùng, đây chỉ là nơi để
xây dựng các xí nghiệp CNCB, các khu vực tập trung CNCB
Quỹ đất dành cho CNCB và các điều kiện về địa chất công trình ít nhiều có ảnh hưởng tới qui mô hoạt động và vốn kiến thiết cơ bản
1.4.2.5 Sinh vật
Tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển cũng có tác động tới sản xuất CNCB Rừng và hoạt động lâm nghiệp là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng (gỗ, tre, nứa…), nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy, chế biến gỗ và các ngành tiểu thủ công nghiệp (tre, song, mây, giang, trúc…), dược liệu cho công nghiệp dược phẩm Sự phong phú của nguồn thuỷ, hải sản với nhiều loại động, thực vật dưới nước có giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển ngành CNCB thuỷ, hải sản
1.4.2.6 Khoáng sản
Khoáng sản là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa hàng đầu đối với việc phát triển và phân bố CNCB Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp các loại khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối qui mô,
cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp CNCB
Trang 29Khi nói về tài nguyên thiên nhiên, cần ý thức rằng chúng chỉ mới ở trạng thái khả năng Tính hiện thực của nó chỉ được tính khi được khai thác một cách hợp lý và được sử dụng qua chế biến công nghệp làm tăng giá trị sử dụng và hiệu quả KT - XH Song điều đó lại giả định phải có vốn, công nghệ khai thác và trình độ phát triển của CNCB của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.3.1 Dân cư – lao động
Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố chủ thể của lực lượng sản xuất, con người luôn là nhân tố trung tâm của mọi sự biến đổi và phát triển của ngành CNCB
Trong tiến trình hình thành và phát triển CNCB, nhất là từ những năm 70 của thế kỉ XX lại đây, dưới tác động của cách mạng KH – CN hiện đại, lao động trí tuệ đã trở thành đặc trưng gắn với nhân cách con người mà mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà nó chịu ảnh hưởng Trong điều kiện đó, sự tăng trưởng và phát triển CNCB không phải chủ yếu do tổng lượng lao động quyết định mà chủ yếu do hàm lượng lao động trí tuệ
và trình độ nhân văn, nhân cách của lao động chiếm ưu thế ngày càng tăng so với hàm lượng lao động giản đơn trong tổng lượng lao động
1.4.3.3 Tiến bộ khoa học - công nghệ
Tiến bộ KH - CN không chỉ tạo ra những khả năng mới về sản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỉ trọng của chúng trong tổng thể toàn ngành CNCB, làm cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bố các ngành CNCB trở
Trang 30nên hợp lý, có hiệu quả và kéo theo những thay đổi về quy luật phân bố sản xuất, mà còn làm nảy sinh những nhu cầu mới, đòi hỏi xuất hiện một số ngành CNCB với công nghệ tiên tiến và mở ra triển vọng phát triển của công nghiệp trong tương lai
KH - CN, một động lực rất quan trọng tạo nên những chuyển động và biến đổi sâu sắc trên thế giới và trong từng nước trong mấy thập kỷ qua Trình độ phát triển KH – CN có quan hệ mật thiết và vận động theo tỉ lệ thuận với sự phát triển của CNCB
1.4.3.4 Thị trường
Thị trường (bao gồm thị trường trong nước và quốc tế) đóng vai trò như chiếc đòn bẩy đối với sự phát triển, phân bố và cả sự thay đổi cơ cấu ngành CNCB Nó có tác động mạnh mẽ tới việc lựa chọn vị trí xí nghiệp, hướng chuyên môn hoá sản xuất
Sự phát triển CNCB ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước và hội nhập với thị trường thế giới Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường,
sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường trong nước và quốc tế giữa các SP đòi hỏi các nhà sản xuất phải có chiến lược thị trường Đó là việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng SP, giảm giá thành, đổi mới công nghệ và cả thay đổi cơ cấu SP
1.4.3.5 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ CNCB có ý nghĩa nhất định đối với sự phân bố công nghiệp Nó có thể là tiền đề thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển CNCB Số lượng và chất lượng của cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước…) góp phần đảm bảo các mối liên hệ sản xuất, kinh tế,
kỹ thuật giữa vùng nguyên liệu với nơi sản xuất, giữa các nơi sản xuất với nhau và giữa nơi sản xuất với địa bàn tiêu thụ SP
1.4.3.6 Đường lối phát triển công nghiệp
Phù hợp với xu thế mở cửa và hội nhập, chúng ta đã xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn dựa vào lợi thế so sánh như CNCB nông lâm thủy sản (dựa trên thế mạnh về nguyên liệu), công nghiệp nhẹ gia công xuất khẩu sử dụng nhiều lao động, công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin và một số ngành sản xuất nguyên liệu
cơ bản Cơ cấu công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ đã có những chuyển biến rõ rệt theo hướng CNH - HĐH
Trang 311.4.3.7 Nhân tố khác
Sự ổn định môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
Môi trường kinh tế, một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình hình thành
và phát triển CNCB Một môi trường KT - XH ổn định sẽ tạo điều kiện thúc đẩy CNCB phát triển và ngược lại, sẽ kìm hãm sự hình thành và phát triển CNCB
Có thể nói, những thành tựu KT - XH đạt được vừa qua đã làm cho lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ đất nước; đối với đảng và Nhà nước được nâng lên Cũng qua những thành tựu KT - XH đạt được, làm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn Nhờ đó, môi trường chính trị, xã hội ngày một ổn định, quốc phòng an ninh được củng cố; sự vững bền và trường tồn của một thể chế chính trị là một tất yếu Thắng lợi đó, đã tạo ra thế và lực để đưa đất nước, đưa sự nghiệp phát triển CNCB bước vào giai đoạn mới – giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH, để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại
Trình độ phân công và hợp tác lao động
Sự phát triển của phân công lao động là cơ sở cho sự phát triển nhiều ngành nghề khác nhau, tạo ra nhiều SP có công dụng khác nhau Sự phát triển của phân công trong nội bộ ngành công nghiệp làm cho công nghiệp tách thành nhiều ngành trong đó
có CNCB
Trình độ phát triển của phân công lao động không chỉ tỉ lệ thuận với sự phát triển của trao đổi và thị trường, mà còn tỉ lệ thuận với NSLĐ, tăng trưởng kinh tế và trình độ phát triển của CNCB của các quốc gia trong từng thời kỳ
Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa sản xuất và đời sống
Trong mấy thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, nền kinh tế
đã và đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng, diễn ra trên nhiều mặt của sản xuất và đời sống chính trị, văn hóa, xã hội
Xu hướng toàn cầu hóa đã làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau
về vốn, công nghệ, nguyên liệu và thị trường Một nước dù lớn, dù nhỏ, giàu hay nghèo cũng không thể tự mình giải quyết được tất cả những nhu cầu về kinh tế nảy
Trang 32sinh ở nước mình Một quốc gia nào đó tự tách mình ra khỏi xu hướng toàn cầu hóa không thực thi chính sách kinh tế mở và hội nhập cộng đồng quốc tế là không thức thời và không thể không trả giá ít nhiều trong sự bất lợi đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia đó
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới đang phát triển theo hướng tập đoàn hóa nền kinh tế khu vực Xu hướng này xuất hiện trong điều kiện vị trí độc quyền kinh tế của Mỹ không còn như trước, cạnh tranh và mâu thuẫn giữa các trung tâm kinh tế tài chính thế giới ngày càng gay gắt Thế giới đang chuyển từ trạng thái lưỡng cực sang trạng thái đa cực với sự hình thành nhiều trung tâm kinh tế, tập đoàn kinh tế khu vực Ngày nay sự so sánh sức mạnh kinh tế có
sự thay đổi rõ rệt giữa các tập đoàn kinh tế Tây Âu, Nhật Bản, Mỹ và một số tập đoàn kinh tế mới Châu Á, thông qua vai trò của các công ty xuyên quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực
Từ tổng quan xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa có thể thấy:
Thông qua xu hướng này mà các hình thức kinh tế đối ngoại trong lĩnh vực CNCB được hình thành và phát triển giữa các quốc gia
Dưới góc nhìn của CNCB, xu hướng này có liên quan đến thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cần được tính đến Thông qua thương mại quốc tế, SP CNCB được xuất khẩu Ngược lại, thông qua thị trường nước ngoài có thể nhập khẩu những nguyên vật liệu rất cần cho CNCB tinh chế mà nước ta thiếu hoặc chế tạo được nhưng giá thành cao so với quốc tế Cũng thông qua xu hướng này, thông qua các hình thức hợp tác sản xuất, liên doanh liên kết để thu hút vốn, công nghệ mới và kim nghiệm quản lý tiên tiến vào việc phát triển CNCB, mà thời kỳ đầu nước ta còn nhiều bất cập
Cuộc cách mạng KH - CN
Từ những năm 70 - 80 của thế kỉ XX lại đây, sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế ở nhiều quốc gia, mà trước hết là quốc gia có nền kinh tế phát triển được lí giải không chỉ hoàn toàn do thiết bị máy móc, mà còn do sự nhảy vọt về công nghệ, trong vài thập kỉ gần đây vai trò của công nghệ ngày càng có bước phát triển nhảy vọt, làm
Trang 33cho một số nhà kinh tế đưa ra khái niệm cách mạng công nghệ, thậm chí coi nó là cuộc cách mạng lần thứ ba trong sự phát triển lực lượng sản xuất của nhân loại Sự thừa nhận vai trò ngày càng tăng của công nghệ, thuật ngữ công nghệ và cách mạng KH –
CN được sử dụng khá phổ biến hiện nay
Cộng đồng thế giới đang ở trong một thời đại của những chuyển động gia tốc và đột biến, đem đến cách nhìn mới, động thái mới chứa đựng hình ảnh tương lai, mà tương lai đang chỉ đạo những ứng xử hiện tại Vì vậy, việc dự báo tương lai, việc tìm
ra xu hướng phát triển, phải có cái nhìn toàn cầu trong triển vọng dài hạn Điều đó có liên quan đến việc xác định xu thế và chiến lược phát triển CNCB ở nước ta
1.5 Sơ lược về thực trạng phát triển CNCB ở một số nước trên thế giới và Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009
1.5.1 Sơ lược phát triển ngành CNCB của Trung Quốc và Thái Lan
1.5.1.2 Trung Quốc
Thành công
Qua những năm điều chỉnh, ngành CNCB của Trung Quốc đã phát triển mạnh
mẽ Nhiều ngành trọng điểm có máy móc, thiết bị và công nghệ đạt trình độ tiên tiến trên thế giới như ngành điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô… Mức độ thị trường hóa và sức cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao rõ rệt Cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc đã xuất hiện những thay đổi tích cực, mức độ tập trung của ngành nghề từng bước được nâng cao, những ngành khoa học kỹ thuật cao và mới phát triển nhanh chóng, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng liên tục và ổn định
Tồn tại
Bên cạnh đó, việc điều chỉnh cơ cấu ngành CNCB của Trung Quốc cũng còn một số tồn tại như: cơ cấu tổ chức DN không hợp lý, quy mô ngành nghề nhỏ, mức độ chuyên nghiệp hóa thấp, đầu tư vốn và kỹ thuật phân tán, mức nợ tài sản cao Cơ cấu
kỹ thuật còn nhiều bất cập, quy mô ngành kỹ thuật cao và mới nhỏ, tỉ lệ ngành truyền thống lớn Cơ cấu nguồn nhân lực chưa phù hợp, NSLĐ thấp Đặc biệt là thiếu những nhân viên kỹ thuật và những người quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
Trang 34 Tồn tại
Bên cạnh đó, nền kinh tế của Thái Lan cũng có những hạn chế như: khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu (điện tử, điện máy) còn thấp do chậm điều chỉnh đồng bộ cơ cấu thuế nhập khẩu nguyên liệu, chậm giải quyết vấn đề khả năng thanh toán cho các DN xuất khẩu vừa và nhỏ và khó khăn về việc giảm chi phí trong các DN; nguồn nhân lực thiếu những nhân viên kỹ thuật và những người quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
1.5.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, cũng như nền kinh tế quốc dân, CNCB đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển Nó mang nặng dấu ấn phát triển công nghiệp nói chung Mấy năm gần đây, CNCB đã có sự đổi mới, đã vượt qua trạng thái suy giảm (1976 - 1980), vượt qua cú sốc lớn do Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã và từ năm
1991 đi vào quỹ đạo phát triển có tốc độ tăng trưởng tương đối khá
Gi á trị và cơ cấu GTSX CNCB phân theo ngành
Nhóm ngành CNCB luôn có giá trị và chiếm tỉ trọng rất cao trong tổng GTSX toàn ngành công nghiệp Năm 2009, nhóm ngành CNCB đạt GTSX là 577.059,4 tỉ đồng, chiếm 89,2% GTSX toàn ngành công nghiệp, tăng 4,3 lần về giá trị và 10% về
cơ cấu so với năm 2000
Trang 35Trong nội bộ nhóm ngành CNCB, có giá trị và chiếm tỉ trọng cao là các ngành: sản xuất thực phẩm và đồ uống, hóa chất và các SP từ hóa chất, sản xuất KL và PKL, sản xuất và sửa chữa phương tiện vận tải…
Gi á trị và cơ cấu GTSX CNCB phân theo thành phần kinh tế
Từ năm 2000 – 2009; khu vực nhà nước luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong GTSX toàn ngành CNCB, năm 2009 đạt giá trị là 116.218,7 tỉ đồng, chiếm 37,7%, tuy nhiên tỉ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm (Năm 2000 chiếm 62,9%) ; khu vực ngoài nhà nước có xu hướng tăng, năm 2009 đạt giá trị 93.161,7 tỉ đồng, chiếm 30,2% tỉ trọng GTSXCN; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2009 đạt giá trị 99.018,6 tỉ đồng, chiếm 32,1% GTSXCN
Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB phân theo thành phần kinh tế có sự thay đổi theo từng khu vực: khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước có
xu hướng tăng trưởng nhanh và ổn định, khu vực nhà nước có tốc độ tăng trưởng chậm Xu hướng trên có nhiều nguyên nhân để lý giải: công nghiệp nhà nước đang trong quá trình tổ chức sắp xếp lại, trụ đứng để từng bước vươn lên, xu hướng chung là giảm tỉ trọng GTSX nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu ngành công nghiệp; trái lại công nghiệp ngoài nhà nước được tạo cơ hội phát triển để thực hiện chính sách phát triển công nghiệp nhiều thành phần kinh tế Hơn nữa việc tăng trưởng 1% đối với công nghiệp nhà nước khó hơn nhiều so với công nghiệp ngoài nhà nước Khi thành phần kinh tế này từ chỗ không có gì nếu được phát triển sẽ dễ đưa tốc độ tăng trưởng nhanh Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh gắn liền với xu thế hội nhập, mở cửa của ngành công nghiệp
Trang 36Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GTSX CNCB cả nước phân theo thành phần kinh tế
Nhà nước Ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
(Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê)
Công nghệ, thiết bị
- Về công nghệ:
Về SP công nghệ cao, tỉ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao nhóm ngành CNCB của Việt Nam còn rất thấp so với các nước so sánh, chỉ chiếm 1,7% trong tổng lượng hàng công nghiệp xuất khẩu, trong khi chỉ số này là 23,2% với Trung Quốc và 30,2% với Thái Lan, Malaixia chiếm 58,2%, của Philippin chiếm 74,1%
Trong các nước ASEAN, nhóm ngành công nghệ cao của ta chỉ chiếm 21% trong tổng SP sản xuất, con số này của Thái Lan gấp chúng ta 1,5 lần, của Malaixia gấp 2,5 lần, của Singapo gấp 3,5 lần
- Về trang thiết bị:
Công nghiệp điện tử: Công nghệ và trang thiết bị sản xuất công nghiệp điện tử
Việt Nam lạc hậu 10 - 20 năm so với khu vực và thế giới Nếu so sánh với các nước ASEAN 5 (gồm Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines) ngành công nghiệp điện tử Việt Nam mới đang ở cuối giai đoạn 1 (lắp ráp SP từ phụ kiện nhập khẩu), đầu giai đoạn đầu tư sản xuất linh kiện phụ tùng phát triển công nghiệp phụ trợ
%
Năm
Trang 37Trong khi đó các nước ASEAN 5 đang phát triển ở giai đoạn 3 (nghiên cứu thiết kế
SP, đầu tư công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu)
CNCB lương thực, thực phẩm: máy móc thiết bị còn rất cũ, đã thay thế nhiều
lần nên rất chắp vá và đan xen nhiều thế hệ
Công nghiệp da giày: thiết bị chủ yếu được trang bị là của Đài Loan, Hàn Quốc,
Trung Quốc nhưng chỉ đạt trình độ trung bình của thế giới Mặc dù vậy, ngành này có
hệ số đổi mới thiết bị khá cao
Công nghiệp may mặc, dệt sợi: công nghệ, trang thiết bị đạt mức trung bình khá
của thế giới, SP có khả năng cạnh tranh trên các thị trường loại vừa của thế giới Riêng công nghệ dệt len, dệt chăn, dệt vải màn còn ở mức thấp của thế giới
La o động
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê đến năm 2009, tổng số lao động trong nhóm ngành CNCB có số lượng là 6,85 triệu người, chiếm 14,3% tổng số lao động cả nước
và đang tiếp tục có xu hướng tăng
Về lao động phân theo thành phần kinh tế, khu vực nhà nước có số lượng 561,3 nghìn người, chiếm 8,2% tổng số lao động Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang gia tăng
Về NSLĐ xã hội phân theo ngành, nhóm ngành CNCB đạt 48,6 triệu đồng/ người và tiếp tục có xu hướng tăng
Về chất lượng đội ngũ lao động, nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong thập kỷ qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật
Sản phẩm công nghiệp
CNCB có nhiều SP xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, SP cơ khí, SP gỗ,
SP nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ…có thể phân chia thành hai nhóm:
- Hàng chế biến chính: thủ công, mỹ nghệ; dệt may, giày dép; thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng…
- Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm…
Trang 38Dệt may, da giầy luôn ổn định, các SP gỗ gia tăng giá trị xuất khẩu một cách đều đặn, máy tính và linh kiện điện tử: ngày càng có vai trò quan trọng
Thị trường
Thị trường nội địa của nhóm ngành CNCB phát triển sôi động nhất nước, chiếm tới 32,9% thị phần toàn quốc Quan hệ thương mại không ngừng được mở rộng, tạo
điều kiện thuận lợi cho tiến trình đẩy mạnh hoạt động buôn bán hàng hóa của CNCB
Hiện tại, nhiều SP CNCB đã chiếm được thị phần trong nước rất lớn như nước giải khát, sữa đặc, sữa đóng hộp chiếm 80%; thực phẩm chế biến (70%), dây cáp điện (80%), lốp ô tô, xe máy (90%), điện tử gia dụng (50%)
Các thị trường xuất khẩu chủ yếu lần lượt theo thứ tự là: Mỹ, EU, Asean, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia
Thị trường nhập khẩu chủ yếu là các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông…
Xuất khẩu hàng hóa theo khu vực kinh tế thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng
Vốn
Năm 2009, nhóm ngành CNCB đã thu hút nguồn vốn đạt 75.960 tỉ đồng Đáng chú ý là khu vực CNCB đứng thứ nhất về thu hút vốn FDI với 205 dự án, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là hơn 3,33 tỉ USD, chiếm 58,8% tổng vốn đầu tư Theo Tổng cục Thống kê từ 2000 – 2009 nhóm ngành CNCB thu hút được 7475 dự án với tổng vốn đăng kí là 88,579 tỉ USD
Phân bố
Nhóm ngành CNCB phát triển mạnh ở các Thành phố lớn, đồng thời là các trung tâm công nghiệp lớn: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng, Bình Dương… với các ngành CNCB chủ yếu là: cơ khí – chế tạo, chế biến lương thực, thực phẩm, điện tử - tin học, hóa chất…TP Hồ Chí Minh là trung tâm CNCB lớn nhất
Trang 39chiếm tỉ lệ rất nhỏ Các SP chế biến từ bột, sữa, rau, quả…còn rất đơn điệu Năng lực chế biến còn quá thấp so với nguồn nguyên liệu (mía 30%, chè 40%, rau quả 5% ) Phần lớn thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, gây tổn thất về khối lượng, chất lượng và giá trị SP (tỉ lệ thất thoát sau thu hoạch lương thực lương thực khoảng 10%, tỉ lệ đường thu hồi bị thất thoát ở các cơ sở thủ công khoảng 40 - 50% ) các ngành công nghiệp
hỗ trợ và phục vụ trực tiếp cho CNCB như cơ khí, chế tạo, sữa chữa, bao bì…chưa phát triển SP chế biến chất lượng thấp Nhiều mặt hàng sức cạnh tranh yếu so với hàng nước ngoài, ngay cả ở thị trường trong nước Hiệu quả KT - XH của sự phát triển CNCB còn thấp Vai trò thúc đẩy CNH – HĐH nền kinh tế của CNCB còn nhiều vấn
đề cần quan tâm giải quyết
Để đẩy mạnh CNH – HĐH nền kinh tế quốc dân, nhất là công nghiệp hóa nông nghiệp (theo nghĩa rộng), yêu cầu bức bách đặt ra là phải phát triển nhanh CNCB
Trang 40Chương 2: Thực trạng phát triển sản xuất ngành
2.1 Giới thiệu khái quát về TP Hồ Chí Minh
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HVTH: Lương Ngọc Tuấn – K19 Vùng đất TP Hồ Chí Minh ngày này ban đầu được gọi là Prey Nokor, một làng chài và hải cảng quan trọng của người Khmer, trước khi người Việt sáp nhập vào thế
kỷ 17 Thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà