Mặc dù, sự chú ý này, chỉ dừng lại ở sự ra đời của các trường nghề và hoạt động trong khuôn khổ chật hẹp theo ý đồ của người Pháp nhưng với những tác dụng ngoại ý, sự thiết lập hệ thống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS KH LỊCH SỬ LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh 2011
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch Sử và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập tại trường
Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.s Lê Huỳnh Hoa, cô đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn và hỗ trợ em tìm tài liệu ởTrung tâm lưu trữ Quốc gia II tại T.p Hồ Chí Minh
Con xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và đặc biệt em xin cảm ơn anh – người bạn đời của em, đã đồng hành cùng em vượt qua mọi khó khăn trong thời gian qua
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
HỌC VIÊN CAO HỌC
Vũ Thị Miền
Trang 5M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
Mức lương của các quản đốc xưởng Trường Dạy nghề Sài Gòn năm 1904 7
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945) 10
1.1 Bối cảnh lịch sử - chính trị 10
1.2 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ 12
1.3 Tiền đề kinh tế - xã hội 18
1.3.1 Tiền đề kinh tế 18
1.3.2 Tiền đề văn hóa - xã hội 21
1.4 Điều kiện địa lí tự nhiên 24
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945) 30
2.1 Giáo dục nghề ở Nam Kỳ trước năm 1861 30
2.2 Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945) 32
2.2.1 Mục đích, chủ trương thành lập trường nghề của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ 32
2.2.2 Sự ra đời và phát triển của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945) 34
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ HỐNG TRƯỜNG NGHỀ ĐẾN KINH TẾ – XÃ HỘI NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945) 84
3.1 Một vài đặc điểm của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp 84
Trang 63.2 Ảnh hưởng của hệ thống trường nghề đến kinh tế - xã hội Nam Kỳ
thời kì 1861 – 1945 88
3.2.1 Đóng góp đối với kinh tế Nam Kỳ thời kì 1861 - 1945 88
3.2.2 Góp phần biến đổi cơ cấu xã hội Nam Kỳ thời thuộc Pháp 92
3.3.3 Ảnh hưởng của giáo dục chuyên nghiệp đến đời sống văn hóa – tư tưởng Nam Kỳ thời kì Pháp thuộc 95
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ THƯ MỤC SÁCH 102
PHỤ LỤC 1
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1 Thống kê ngân sách đầu tư vào giáo dục công đã đăng ký
2 Bảng 2 Chi phí của Trường Dạy nghề Sài Gòn (1891 - 1899)
3 Bảng 3 Mức lương của các quản đốc xưởng Trường Dạy nghề Sài
Gòn năm 1904
4 Bảng 4 Một số sản phẩm do học sinh của Trường Dạy nghề Thủ
Dầu Một thực hiện trong năm 1904
5 Bảng 5 Kinh phí hoạt động của Trường Dạy nghề Biên Hòa
9 Bảng 9 Một số học sinh tốt nghiệp từ Trường Dạy nghề Biên Hòa
10 Bảng 10 Số lượng học sinh của một số trường nghề ở Nam Kỳ
(1917 - 1923)
11 Bảng 11 Số công nhân chuyên nghiệp ở Việt Nam năm 1906
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Thực hiện chính sách “chia để trị” thực dân Pháp đã tiến hành thành
lập Liên bang Đông Dương ngày 17.10.1887, theo Sắc lệnh này lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Cũng từ đó, với 3 chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ, Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ, nửa bảo hộ; còn riêng Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm, tên Việt Nam
bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới
Tách khỏi quỹ đạo chung của nước Việt Nam phong kiến dưới sự trị vì của nhà Nguyễn, hưởng quy chế chính trị – kinh tế, văn hóa, xã hội riêng biệt dưới sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, Nam Kỳ dần trở thành một vùng “lãnh thổ hải ngoại của Pháp” giống như các thuộc địa khác của Pháp
ở Châu Phi Từ đây, một trung tâm thương mại, nông nghiệp, giao thông vận tải lớn, một địa bàn quân sự quan trọng của Pháp ở Đông Dương ra đời
Để thu được lợi nhuận tối đa và phục vụ đắc lực cho công cuộc cai trị, song song với công cuộc khai thác thuộc địa về kinh tế là công cuộc “chinh
phục trái tim” người “bản xứ” Do đó, bên cạnh các biện pháp chính trị,
kinh tế, hành chính và tư pháp, thực dân Pháp còn sử dụng các công cụ hỗ trợ như văn hóa, giáo dục,… trong đó có giáo dục chuyên nghiệp nhằm đào
tạo một đội ngũ “vừa đủ” những người thừa hành và làm công cho Pháp
Mặc dù, sự chú ý này, chỉ dừng lại ở sự ra đời của các trường nghề và hoạt động trong khuôn khổ chật hẹp theo ý đồ của người Pháp nhưng với những tác dụng ngoại ý, sự thiết lập hệ thống giáo dục chuyên nghiệp Nam
Kỳ đã có những ảnh hưởng đến đời sống văn hóa – tư tưởng cũng như góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội Nam Kỳ thời kì này
Trang 9Nam Kỳ thuộc Pháp từ lâu đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến mảnh đất này vẫn còn là đề tài mở cho các nhà nghiên cứu
Trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc địa, dù thời gian qua đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến giáo dục phổ thông, quan hệ Pháp – Việt trên lĩnh vực văn hóa… nhưng trong bức tranh tổng thể của giáo dục Nam Kỳ thời kì này vẫn còn thiếu những mảnh ghép
về giáo dục chuyên nghiệp Vì thế, cần một sự khảo cứu chuyên sâu hơn nữa
về giáo dục đào tạo nghề để tạo nên sự hoàn chỉnh của chỉnh thể giáo dục Nam Kỳ thời Pháp thuộc
Cùng với những nghiên cứu về nền học chính Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời thuộc Pháp, những hiểu biết về hệ thống trường nghề Nam Kỳ trong lịch
sử sẽ đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử giáo dục Việt Nam thời kì này; lí giải một số hiện tượng lịch sử kinh tế, xã hội Nam Kỳ từ trước cho đến nay Đồng thời, tìm hiểu giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ thời kì này trên quan điểm khách quan khoa học sẽ mang lại cho những nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam đương đại cũng như các nhà quản lí giáo dục khu vực Nam Bộ ít nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo, hướng nghiệp hiện nay
Những lí do trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Hệ thống trường nghề ở
Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” – thời kì lịch sử đầy biến động của
xứ “thuộc địa” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với giới sử học trong nước, Việt Nam thời thuộc Pháp không phải
là một đề tài quá mới mẻ Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, đã xuất hiện một số công trình khảo cứu về Việt Nam thời kì này Từ các góc độ và chuyên môn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã miêu tả, phác họa toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam trong thời kì Pháp đô hộ Trong đó,
Trang 10những biến chuyển, đổi thay của Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỉ
XX cũng được đề cập trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau
Tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu về giáo dục chuyên nghiệp Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng thời kì này, người viết nhận thấy nguồn
tư liệu về vấn đề này quá ít ỏi, không tập trung và mất cân đối mà biểu hiện của nó là chưa có một tác phẩm hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hệ thống trường nghề ở Việt Nam, có chăng chỉ là những phần nghiên cứu nhỏ trong một công trình hay tác phẩm với nội dung
giới thiệu sơ lược Ví dụ trong cuốn: “Lịch sử đại học và trung học chuyên
nghiệp Việt Nam (từ thời phong kiến đến năm 1975)” (Viện Nghiên cứu Đại
học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985) của các tác giả Lê Văn
Giang, Nguyễn Tùy, Nguyễn Được, Nguyễn Hoặc Các tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn sự ra đời của các trường đại học và chuyên nghiệp ở Việt Nam từ thời phong kiến cho đến năm 1975, trong đó, một số trường dạy nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp cũng được các tác giả trình bày với mức độ
khái quát nhất Hay tác giả Phan Trọng Báu trong công trình “Giáo dục Việt
Nam thời cận đại” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) đã dành hẳn một
chương để hệ thống các trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học ở Việt Nam thời kì này, tuy nhiên toàn bộ nền giáo dục chuyên nghiệp ở Nam Kỳ chỉ được tác giả đề cập duy nhất với sự ra đời của Trường Thông ngôn mà
tác giả gọi là “Trường đào tạo thông dịch viên ở Nam Kỳ” Do quá sơ lược
nên nhiều đặc điểm cũng như quá trình ra đời, tồn tại và hoạt động của hệ thống giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ thời thuộc Pháp không được các tác giả trên nói đến
Bên cạnh đó, mới dừng lại ở mức độ kể tên một số trường nghề ở Nam
Kỳ thời thuộc địa có một số nghiên cứu khác như:
– “Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945” ( NXB Giáo Dục,
Hà Nội, 1985) của Vũ Ngọc Khánh;
Trang 11– “Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945”
(NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1996) của Nguyễn Đăng Tiến;
– “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1998)
của Nguyễn Quốc Thắng;
– “Lịch sử giáo dục Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698 - 1998)” (NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1999) của Hồ Hữu Nhựt;
– “Lịch sử giản lược Hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” (NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) của Lê Văn Giang;
– “L ịch sử giáo dục Việt Nam” (NXB Đại học sư phạm, Hà Nội,
2005) của Bùi Minh Hiền;
– “Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám 1945)”
(NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006) của tác giả Phan Ngọc Liên
Các tác phẩm trên đã giúp người đọc thống kê được danh sách tên các
trường chuyên nghiệp từng tồn tại ở Nam Kỳ thời kì này
Ngoài ra, có thể tìm thấy một số thông tin “tản mát” về chính sách
giáo dục chuyên nghiệp của người Pháp ở Đông Dương và Việt Nam qua một số bài viết được đăng trên tạp chí chuyên ngành:
– “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối chiến tranh lần thứ nhất”, (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 98, 1967) của
Nguyễn Anh
– “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới lần thứ I đến trước cách mạng tháng 8” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 102, 1967)
của Nguyễn Anh;
– “Giáo dục vùng dân tộc ít người, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục tư thục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,
số 107, 1968) của Nguyễn Anh;
– “Chính sách g iáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam” (Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử, số 96, 1967) của Nguyễn Trọng Hoàng
Trang 12Trong khi đó, đối với từng trường nghề thông tin thu được lại càng ít hơn; chưa có công trình hay tác phẩm đề cập nào đến sự tồn tại cũng như hoạt động của các trường nghề ấy trong thời kì này Người viết chỉ thu thập rất sơ lược vắn tắt về lịch sử hình thành của một số trường trong tập san giới thiệu về những trường nghề hậu thân của các trường nghề trước kia như:
“Cao Thắng – 100 năm xây dựng và phát triển 1906 – 2006”,…
Chính vì vậy, qua luận văn, người viết mong muốn tìm hiểu sâu hơn
về “Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” để
góp phần làm rõ hơn sự ra đời, tổ chức, hoạt động và ảnh hưởng của các trường nghề ở Nam Kỳ thời kì (1861 – 1945)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở những cứ liệu cụ thể, luận văn đi sâu tìm hiểu “Hệ thống
trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” và đó cũng là đối
tượng nghiên cứu chính của đề tài
* Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu là Nam Kỳ thời Pháp thuộc, bao gồm 2 khu vực Đông và Tây Nam Kỳ với 23 tỉnh, thành phố: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long, Vũng Tàu, Sài Gòn, Chợ Lớn (tương đương với địa bàn Nam Bộ Việt Nam hiện nay) Sở dĩ như vậy, vì trong suốt thời kì
1861 – 1945, địa bàn trên đã được quản lý theo cơ chế thuộc địa
Thời gian nghiên cứu từ năm 1861 đến năm 1945, vì ngay sau khi chiếm được Sài Gòn tháng 2.1861, thực dân Pháp đã bắt tay vào xây dựng nền thống trị Cùng với quá trình ấy, một nền giáo dục mới Pháp – Việt được hình thành và phát triển đã làm biến đổi hoàn toàn nền học thuật Nho học cũ, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội Nam Kỳ trong suốt thời
Trang 13kì này Đến năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công đã kết thúc chế độ cai trị thuộc địa của thực dân Pháp trên đất Việt Nam, trong đó có Nam Kỳ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian có hạn và nguồn tư liệu còn hạn chế, luận văn đặt ra nhiệm vu nghiên cứu cụ thể sau:
– Điều kiện cho sự ra đời và phát triển của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc;
– Miêu tả, phục dựng một cách có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của các trường nghề trên địa bàn Nam Kỳ thời kì 1861 – 1945;
– Rút ra những đặc điểm của quá trình đó và bước đầu đưa ra những nhận định về công cuộc tư bản hoá của người Pháp trên lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ;
– Xuất phát từ tình hình phát triển thực tế của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp, luận văn bước đầu nêu những tác động của giáo dục nghề đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Nam Kỳ
4 Ngu ồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, tập hợp, khai thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kế thừa nghiêm túc các nguồn tài liệu có liên quan Nguồn tài liệu này gồm:
Sách, báo, tạp chí viết về tình hình giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc nói riêng, về công cuộc khai thác thuộc điạ của thực dân Pháp ở Việt Nam
Các tài liệu nghiên cứu riêng về Nam Kỳ được xuất bản ở cả Trung ương và địa phương
Đặc biệt với nguồn tài liệu lưu trữ, tác giả đã cố công khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II thành phố Hồ Chí Minh mà một số đã được dẫn nguồn trong luận văn này Nguồn tài liệu quý giá đó đã tạo nhiều thuận
Trang 14lợi cho việc tạo dựng công trình, nâng cao giá trị tham khảo, tính khách quan, khoa học của luận văn
Ngoài ra, nguồn tài liệu địa chí tại thư viện Khoa học Tổng hợp, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn của Viện phát triển bền vững vùng Nam
Bộ, nguồn tài liệu tham khảo trên mạng trong các Website đã được kiểm định cũng được chúng tôi chắt lọc tham khảo
* Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nội dung khoa học mà đề tài đặt ra và đặt cơ sở lý luận cho những nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm cơ sở phương pháp luận cho mình
Dựa trên nền tảng đó để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện và làm rõ những điều kiện cùng đặc điểm phát sinh, phát triển của Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945) luận văn sử
dụng Phương pháp lịch sử, xem xét một cách cẩn trọng những điều kiện xuất
hiện và hình thành các trường nghề, đồng thời đặt quá trình phát triển của hệ thống trường nghề trong mối quan hệ nhiều chiều của bối cảnh lịch sử Nam
Kỳ lúc bấy giờ
Song song với phương pháp lịch sử là Phương pháp lôgích được sử
dụng để nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của các trường nghề
Mặt khác, luận văn còn sử dụng những phương pháp riêng của nhận
thức lịch sử như: Phương pháp phân tích so sánh là phương pháp hỗ trợ cần thiết nhằm làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích; Phương pháp
đồng đại giúp bao quát toàn diện và đầy đủ quá trình lịch sử để so sánh
những gì đã xảy ra trong cùng một thời gian; Phương pháp lịch đại cho phép
nghiên cứu quá khứ lần theo các giai đoạn phát triển trước kia của nó…
Trang 15Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các môn phụ
cận như Phương pháp thống kê cho phép thông qua tất cả các bản thống kê
về số lượng vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của các hiện tượng và
quá trình lịch sử Phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể để theo dõi trực tiếp
các hiện tượng và quá trình của đời sống xã hội…
Thực hiện đồng bộ tất cả các phương pháp trên, luận văn đã phục dựng lại bức tranh lịch sử về hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp Qua đó mô tả và diễn đạt một cách cụ thể, khách quan các kết quả nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
Không tham vọng đưa lại điều gì mới mẻ mang tính phát hiện nhưng
với tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học Khi thực hiện đề tài “Hệ thống
trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)”, luận văn mong
muốn có những đóng góp nhất định:
– Phục dựng diện mạo tổng thể của giáo dục chuyên nghiệp ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp thông qua việc mô tả cụ thể sự hình thành và hoạt động của các trường nghề ở Nam Kỳ thời kỳ này một cách hệ thống;
– Bước đầu nêu những tác động của giáo dục chuyên nghiệp đối với
sự phát triển của kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng Nam Kỳ thời kì này;
– Sơ bộ nhận xét, đánh giá khách quan về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống trường nghề Nam Kỳ, về công cuộc tư bản hoá của người Pháp trên mảnh đất này
Góp phần bổ sung những khoảng trống kiến thức trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
6 B ố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục Nội dung chính của luận văn được có cấu trúc thành 3 chương:
Trang 16Chương 1 Những điều kiện cho sự hình thành và phát triển hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)
Chương 2 Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)
Chương 3 Đặc điểm và tác động của hệ thống trường nghề đến kinh tế - xã hội Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRI ỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ
TH ỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945)
1.1 Bối cảnh lịch sử - chính trị
Đầu thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang
chủ nghĩa đế quốc; với những tiến bộ vượt bậc về khoa học kĩ thuật, giai cấp
tư sản ở các cường quốc phương Tây đã có thể tiến xa hơn trong những hành trình tìm kiếm và khám phá những vùng đất xa xôi, mở đầu là các cuộc phát kiến địa lí Cùng với đó, nhu cầu bành trướng chiếm lĩnh thuộc địa của các
nước này ngày càng gia tăng
Trong xu thế đó,Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung không
thể đứng ngoài “quỹ đạo” của những biến động chính trị lớn trên thế giới
Ngày 31.08.1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam bằng cuộc tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh lực lượng hải quân Pháp tại Viễn Đông – tướng Rigault de Genouilly Tuy nhiên, cuộc tấn công đầu tiên này đã thất bại, thực dân Pháp phải chuyển hướng tấn công vào Nam, đẩy Nam Kỳ lục tỉnh (Nam Bộ Việt Nam ngày nay) – một dải đất mới được khai phá hơn 200 năm của cư dân người Việt – đứng trước họa xâm lăng
Ngày 18.09.1859, Thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định Ngày 25.10.1860, sau khi giải quyết những khó khăn ở Trung Hoa, Pháp đã tăng viện binh để củng cố và mở rộng vùng chiếm đóng Tháng 2.1961, Pháp chiếm đồn Kỳ Hòa Hai tháng sau (tháng 4.1861), Pháp chiếm Mỹ Tho Song song đó, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ chống Pháp đã bùng
nổ khắp nơi, đưa thực dân Pháp vào tình thế khó khăn Nhưng chính lúc đó, triều đình Huế đã chấp nhận thương thuyết với Pháp bằng Hòa ước Nhâm Tuất (05.06.1862) với 12 điều khoản Trong đó Điều khoản thứ 3 và 11 đã quy định 3 tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cùng đảo Côn Lôn trở
Trang 18thành thuộc địa của Pháp, gọi là “Nam kỳ thuộc Pháp” với tất cả chủ quyền
trên lãnh thổ ấy “đất đai thuộc địa là đất đai của nước Pháp” và nhân dân 3 tỉnh này là “thần dân mới của hoàng đế Napoléon”
Bốn năm sau, năm 1867, lấy cớ “để bảo vệ trật tự an ninh cho vùng
biên giới Nam kỳ thuộc Pháp thường bị bọn phiến loạn quấy rối” [5; 188], chỉ trong vòng một tuần lễ, thực dân Pháp đã chiếm xong 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ: Vĩnh Long (20/6/1867), An Giang (22/06/1867) và Hà Tiên( 24/06/1867 ) Ngay sau đó, ngày 20/07/1867, Trung tướng hải quân, Thống
đốc Tổng tư lệnh Nam Kỳ P de La Grandière ra quyết định “sáp nhập 3 tỉnh
đó vào đất đai của đế quốc Pháp”, “đặt 3 tỉnh đó dưới chế độ pháp luật đương thi hành ở thuộc địa”, đồng thời tổ chức cai trị ở 3 tỉnh mới chiếm
thêm được “ Kể từ nay triều đình Huế không còn quyền lực gì đối với Nam
Kỳ lục tỉnh nữa Một chính quyền duy nhất ở Nam Kỳ là do người Pháp điều khiển” [5; 185, 226]
Như vậy, chỉ với 8 năm, bằng lực lượng quân sự và những thủ đoạn xảo quyệt, Nam Kỳ lục tỉnh đã nằm gọn trong tay thực dân Pháp Với mục đích chiếm cứ vĩnh viễn, đóng vai trò nước Pháp mới ở Châu Á (Nouvelle France d’ Asie), Nam Kỳ trở thành “một phần đất thuộc gia sản đất đai của
nước Pháp và được cai trị trực tiếp bởi những người đại diện cho nước
thay thế cho hiệp ước ngày 05.06.1862, trong đó có điều khoản công nhận chủ quyền hoàn toàn của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Nam Kỳ lục tỉnh
Đó là những sự kiện mở đầu cho sự ra đời của xứ thuộc địa Nam Kỳ Ngày 08.02.1880, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội Đồng thuộc địa Nam Kỳ với 16 thành viên, quy định rõ chức năng của Hội đồng là cơ quan
“tư vấn”, có thể bàn về thuế má, thu chi… tuyệt đối không được đề cập đến
vấn đề chính trị Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp
Trang 19Trong quá trình đó, Nam Kỳ ngày càng được thực dân Pháp đầu tư và
thực thi nhiều chính sách để phát triển tương xứng với vị trí là “lãnh thổ hải
ngoại của nước Pháp” Và cũng bởi Nam Kỳ là “thuộc địa” (Colonie) nên
thực dân, tư bản Pháp có rất nhiều thuận lợi cả về tâm lý, điều kiện chính trị
và cơ chế chính sách khi đầu tư vào mảnh đất này Từ đó đến giữa những năm 40 của thế kỷ XX, cùng với quá trình khai thác thuộc địa, Nam Kỳ trở thành một địa bàn kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng của xứ Đông Dương thuộc Pháp Cũng như vậy, kết quả của quá trình tư bản hóa đó đã kéo theo một cách tự nhiên những thay đổi về văn hóa, xã hội
Chính những nhân tố mới về lịch sử, chính trị nêu trên là điều kiện để Nam Kỳ sớm nhận được sự chú ý, đầu tư của thực dân Pháp và cũng là một trong những nơi triển khai mạnh mẽ nhất ở Đông Dương những chủ trương, chính sách về văn hóa, giáo dục, kĩ nghệ…
1.2 Chính sách giáo d ục của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ.
Với nguồn tài nguyên phong phú cùng nguồn nhân công dồi dào giá lại rẻ, Đông Dương có đủ điều kiện để thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác và bóc lột kinh tế thu lợi nhuận Trong báo cáo gửi về Pháp ngày 22.02.1902,
Toàn quyền Đông Dương P.Doumer, đã viết: “Đông Dương ngày nay là một
thuộc địa lớn, hoàn toàn bình định và tổ chức, có một nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng, số thực dân ngày một tăng và có những phương tiện hoạt động cao đẳng, một thiết bị kinh tế hùng hậu đang được xây dựng… Có thể nói rằng thuộc địa Đông Dương của chúng ta đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp”
[47; 112].Do đó, sau khi hoàn tất mọi kế hoạch của quá trình xâm lược, thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào công cuộc khai thác thuộc địa với mục tiêu phải thu được lợi nhuận tối đa từ xứ này Để đạt được mục tiêu đó, song hành với các biện pháp quân sự, kinh tế, thực dân Pháp đã đặc biệt chú ý
Trang 20đến chính sách văn hóa, giáo dục, xem đó như một công cụ đắc lực để thực
hiện mưu đồ “chinh phục tâm hồn”.
Với ý nghĩa “giáo dục là một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất ở
trong tay kẻ đi chinh phục” [40; 13] nên song song với các cuộc bình định
vũ trang cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã ban hành hàng loạt các chính sách, nghị định về giáo dục để xây dựng cơ sở thống trị trên toàn cõi Đông Dương
Từ đầu thế kỷ XX trở đi, Việt Nam chứng kiến nhiều sự kiện liên tiếp
về việc mở rộng các hoạt động văn hóa, giáo dục Pháp – Việt như: xóa bỏ Nho học, truyền bá văn hóa, tư tưởng của văn minh Pháp trên nhiều miền đất nước Điều đó trước hết xuất phát từ lợi ích của tư bản, thực dân Pháp: muốn tạo ra trong tầng lớp thanh thiếu niên tư tưởng lệ thuộc vào Pháp; khiếp sợ trước sức mạnh vật chất của chính quốc; đào tạo một đội ngũ tay sai, sẵn lòng phục tùng cho Pháp; ngăn chặn từ xa ảnh hưởng của các luồng tư tưởng tiến bộ, tư tưởng cộng sản sự bành trướng của các đế quốc khác ở thuộc địa… Và tùy vào yêu cầu chính trị của mỗi giai đoạn lịch sử mà những chủ trương, chính sách cụ thể được ban hành
Năm 1903, Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ P.Beau đã ký một Nghị định thành lập Hội đồng nghiên cứu cải cách giáo dục Hai năm sau (tháng 11.1905), Nghị định thành lập Nha học chính Đông Dương được ban
hành Đến năm 1906, một kế hoạch “cải cách” giáo dục đã được hình thành
qua các Nghị định thành lập Hội đồng cải lương học chính bản xứ ngày 08.03.1906, thành lập ở mỗi xứ của Đông Dương một ủy ban cải lương học chính tháng 05.1906, mà người ta gọi đó là Chương trình cải cách giáo dục lần thứ nhất, với sự tồn tại song song của hai nền giáo dục Phong Kiến và Pháp – Việt Đến năm 1917 một chương trình cải cách giáo dục thứ hai do Albert Sarraut hoạch định cũng được áp dụng ở Đông Dương với tên gọi
“Quy định chung về giáo dục của Đông Dương”, còn gọi là bộ “Học chính
Trang 21tổng quy” (Règlementation générale de l’
Instruction publique), gồm 7 chương, 558 điều; thể hiện quyết tâm của các nhà cầm quyền Pháp muốn xóa
bỏ hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, thiết lập một hệ thống giáo
dục Pháp hóa để truyền bá nền văn hóa Pháp và “sự nghiệp khai hóa văn
minh Pháp ở Việt Nam”
Để thực hiện Pháp hóa và hiện đại hóa nền giáo dục, trước hết chính quyền thuộc địa đã chú ý tăng vốn đầu tư vào giáo dục Theo thống kê chính thức, tính riêng số tiền lấy từ ngân sách liên bang, ngân sách cấp xứ để chi cho các trường công, năm 1914 chỉ gần 1,5 triệu đồng Đông Dương, từ năm
1915 – 1918, tổng số tiền đầu tư này mới là 6.915.000 đồng, trung bình mỗi năm là 1.728.750 đồng, thì từ 1919 đến năm 1930, số tiền tổng cộng của 12 năm là 80.386.000 đồng, trung bình gần 6.698.833 đồng mỗi năm So với tổng số vốn đầu tư vào các ngành kinh tế, số tiền này thật là khiêm tốn, nhưng so với tiền mà chính quyền bỏ ra trong lĩnh vực này ở những năm trước thì đã gấp 4,5 lần so với năm 1914 và 3,8 lần so với trung bình của những năm chiến tranh (1914 – 1918) Số tiền này chủ yếu lấy từ ngân sách cấp xứ, có nghĩa là do các loại thuế trực thu đánh vào người dân đem lại Cụ thể:
Trang 22Bảng 1: Thống kê ngân sách đầu tư vào giáo dục công đã đăng ký
(Đơn vị tính: nghìn đồng Đông Dương ($))
Ngân sách liên bang
Ngân sách cấp xứ
Ngân sách tỉnh, làng
Dương đều nhằm một mục đích “… chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An
Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít, biết nhiều hơn nữa cũng chỉ
là thừa và vô ích” [51; 74], hay trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương
ngày 01.03.1899 của Thống sứ Bắc Kỳ E I Parreau đã viết: “ …thật không
thể nào để cho người An Nam được học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà không gây cho họ lòng yêu nước, yêu tự do… [40; 17] Do đó, quá trình Pháp
Trang 23hóa, hiện đại hóa nền giáo dục Đông Dương đã không thật sự diễn ra bởi
quan niệm “…Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng
việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột…” [40; 17] Như vậy, rõ ràng chủ trương phát triển giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam hoàn toàn không xuất phát từ thực tâm, từ những ý
niệm“sứ mệnh khai hóa”, “truyền bá văn minh”… mà giới cầm quyền thuộc
địa từng tuyên truyền Họ chưa bao giờ có được một chính sách phát triển thống nhất và hoàn chỉnh cho vấn đề giáo dục của xứ này mà chỉ dừng lại ở những kiến nghị, những cuộc bàn bạc làm thế nào để kìm hãm tư tưởng của nhân dân Việt Nam trong vòng ngu dốt và lái họ theo con đường nô lệ mà tư bản, thực dân Pháp đã vạch sẵn
Nam Kỳ là đất thuộc địa, không có quan hệ với chính quyền Nam triều
vì vậy được xếp ngang với các thuộc địa của Pháp ở châu Phi như: Antilles, Réunion, Angiéri…và được áp dụng chế độ trực trị; cho nên những chính sách văn hóa, tư tưởng nói chung và giáo dục nói riêng đều sớm được thực thi ở đây Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến, dưới thời Đô đốc
L.A.Bonard với “…nhiệm vụ là phải xây dựng một thuộc địa lớn ở Nam Kỳ” cho nên “đã chú trọng ngay tức khắc đến việc phát triển các cơ quan giáo dục” [76; 10] Tuy nhiên, “…Đó là một nền giáo dục thực dụng và phải đi đến một mục đích nhất định Bằng cách phổ cập hóa tư tưởng và văn hóa mà người ta giáo dục tinh thần yêu nước (yêu nước Pháp) Bằng phổ biến một cách liên tục những nguyên tắc về tài năng của người Pháp trong dân chúng
mà chúng ta gọi là Pháp hóa người Việt…”[28; 42]
Nhưng rõ ràng những chủ trương “chú trọng” đó chỉ tồn tại trên lý thuyết, bởi những động thái đầu tư mà chính quyền thuộc địa “dành cho”
giáo dục Nam Kỳ không nhiều Năm 1905, dự chi của ngân sách Nam Kỳ là
4 969 590đ, trong đó chi về giáo dục chỉ hết 472 164đ (tức chưa đến 10% ngân sách) Trong khi đó, gần 30% ngân sách bị thu hút vào những khoản
Trang 24chi về phủ Thống đốc, Hội đồng thuộc địa, bộ máy cai trị hàng tỉnh, cảnh sát, nhà tù… Năm năm sau (1910), con số này tăng lên không đáng kể với 482 891đ; dù có lớn hơn năm 1905 nhưng nó cũng chỉ giải quyết được 28% số
“nam thần dân của hoàng đế Napoléon” trong lứa tuổi đi học được đi học
mà thôi Và nhìn chung toàn Đông Dương mới chỉ có 1 658 em gái được đến trường [62; 71]
Đi đôi với phương án mở trường học, chính quyền thuộc địa còn ra
nhiều Nghị định phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ với lợi ích: “Chúng ta
(người Pháp) sẽ rất có lợi cả về chính trị cũng như thực tế nếu làm tiêu tan dần dân chữ Nho, việc dùng thứ chữ đó chỉ có thể có một ảnh hưởng tai hại đối với công trình “đồng hóa” mà chính phủ đang dồn mọi nỗ lực để thực hiện” [28; 52], “việc dùng chữ Nho là một cản trở lớn đối với văn minh Châu Âu, vậy, mọi nỗ lực của chúng ta phải nhằm xóa bỏ cản trở đó” Từ
đó, các nhà cầm quyền Pháp đã ban hành nhiều chính sách để xóa bỏ giáo
dục Nho học ở Nam Kỳ Điều 2 của Nghị định ngày 06.04.1878 ghi rõ: “Bất
cứ người nào nếu không biết chữ quốc ngữ sẽ không được tuyển dụng hoặc thăng trật (trong các cấp phủ, huyện tỉnh) Nghị định này cũng ghi rõ, các hương chức sẽ được miễn một nửa hoặc toàn bộ thuế thân nếu biết chữ quốc ngữ, những ai muốn làm hương chức mà không biết chữ quốc ngữ thì không được xét” [28; 52]
Trong quá trình đầu tư vào giáo dục ở Đông Dương nói chung và Nam
Kỳ nói riêng, thực dân Pháp đã đối đầu với nhiều mâu thuẫn: một mặt muốn làm ngu dân để dễ bề cai trị, hạn chế phát triển giáo dục, mở trường lớp; mặt khác do nhu cầu của cuộc khai thác thuộc địa cần phải có một đội ngũ những người làm công cho Pháp, thực hiện tuyên truyền rộng rãi văn minh của
nước Pháp, nhưng lại lo sợ sự phát triển đó sẽ“khôi phục lại trên đất Nam
Kỳ những trường học hoàn toàn chống đối lại nền thống trị của chúng ta”
[76; 8] Nhưng dù muốn hay không thì chính quyền thực dân vẫn buộc lòng
Trang 25phải quan tâm một số khía cạnh của giáo dục ở xứ này như giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp… để cung ứng cho công cuộc khai thác thuộc địa, đồng thời làm công cụ thống trị về văn hóa, tư tưởng…Vì thế diện mạo của giáo dục Đông Dương nói chung và Nam Kỳ nói riêng thời kỳ này đã ít nhiều thay đổi
1.3 Ti ền đề kinh tế - xã hội
1.3.1 Tiền đề kinh tế
Kể từ sau khi Nguyễn Hữu Cảnh được cử “đem quân đi kinh lược Cao
Miên, lấy đất Đồng Nai… lập làm huyện Phước Long, đặt Trấn Biên doanh, lấy đất Sài Gòn lập làm huyện Tân Bình, đặt Phiên Trấn doanh… cả hai huyện đều lệ thuộc phủ Gia Định” vào tháng 2.1698 – mốc khởi đầu cho sự
ra đời của Nam Kỳ lục tỉnh, với tư cách là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của nước Đại Việt, có địa phận cương giới, số dân cư trú nhất định dưới sự điều hành, quản lý trực tiếp của chính quyền các chúa Nguyễn Cho đến đầu thế kỷ XIX, công cuộc khai khẩn của lưu dân người Việt trên vùng đất này ngày càng được đẩy mạnh, dần biến vùng đất hoang vu thành vùng nông nghiệp trù phú và trung tâm buôn bán phồn thịnh lúc bấy giờ
Chỉ sau nửa thế kỷ khai phá, hoạt động nông nghiệp ở đây đã sản xuất được một khối lượng nông sản không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực cho
cư dân tại chỗ, mà còn có lượng dư thừa lớn đem bán cho các nơi khác trong
nước và nước ngoài: “…Ở các địa phương, mỗi nơi có 40 – 50 hoặc 20 – 30
nhà giàu, mỗi nhà có đến 50 – 60 điển nô, 300 – 400 trâu bò, cày cấy, gặt hái rộn ràng, không rỗi Hàng năm đến tháng 11, tháng Chạp giã lúa, sàng gạo, bán lấy tiền để dùng vào việc lễ, chạp, lễ tết, sau tháng giêng trở đi, không làm việc xay giã nữa Bình thời bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc…” [32; 345]
Trang 26Cùng với sự phát triển của nông nghiệp là sự hưng thịnh của các ngành thủ công nghiệp Theo sách Gia Định thành thông chí, vào cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ở Đồng Nai – Gia Định đã có mặt nhiều ngành nghề thủ công như mộc, chạm bạc, tiện, làm thừng chão, đúc, thêu, sơn, nhuộm, dệt, vẽ đắp tượng, khắc chữ, làm gạch ngói, đóng thuyền…
Từ đó kéo theo sự xuất hiện của nhiều phường thợ thủ công chuyên nghiệp, nhiều thợ thủ công Đàng Ngoài cũng tề tựu về Nam Kỳ sinh sống Ngoài ra cũng có không ít các thợ thủ công Trung Hoa mang kỹ thuật từ Trung Hoa sang, hình thành nên các làng nghề, khu vực sản xuất nổi tiếng như Chợ Gạo (Định Tường), Cái Cối (Bến Tre), Lò Bún (Chợ Lớn), Xóm Cốm (Sài Gòn), Chợ Đào (Long An)… chuyên xay xát, chế biến các mặt hàng từ gạo; Xóm Chiếu, Xóm Đệm Buồm (Sài Gòn), Long Định, Long Kim (Long An) là những địa điểm sản xuất chiếu, buồm, đệm rất nổi tiếng; nghề dệt với lụa Tân Châu (An Giang), lãnh đen (Biên Hòa); nghề thêu ở Sài Gòn; nghề đúc đồng nổi tiếng ở Tân Kiểng, Nhân Giang, Bình Yên thuộc Chợ Lớn… Trong số những ngành nghề thủ công ở Nam Kỳ đương thời, nổi bật nhất là nghề đóng thuyền, làm mộc, làm gốm Theo Lê Quý
Đôn trong Phủ biên tạp lục, quy mô đóng thuyền ở Sài Gòn như sau: “Bình
thời vào Gia Định đóng thuyền lớn hơn 100 chiếc, mỗi chiếc giá đến hơn
1000 quan”, hầu hết các thuyền lớn bên Cao Miên đều do thợ Gia Định làm ra…; Thủ Dầu Một, Long An, Sa Đéc là những nơi có nghề mộc nổi tiếng,
với các “trường phái” thợ riêng, có nhiều thợ giỏi; nghề Gốm nổi tiếng với
các làng gốm ở Biên Hòa, Lái Thiêu, Sài Gòn
Vào khoảng năm 1791, Gia Định đã có đủ các ty thợ do Nhà nước phong kiến đặt ra chuyên chế tạo các loại vật phẩm cung ứng cho nhu cầu
của triều đình phong kiến lúc bấy giờ “Tại Chính Dinh có 17 ty thợ: mộc,
chạm bạc, thừng chão, tiện nội, cưa, dệt hoa, ty thợ thiếp vàng ở Nội viện… Còn ở dinh Phiên Trấn có 19 ty thợ: thợ súng, thợ làm dây thép gai, thợ
Trang 27sơn, thợ nhuộm, thợ tiện…Cả Chính Dinh và dinh Phiên Trấn có 36 ty thợ chia ra khá đầy đủ các ngành nghề Nếu mỗi ty thợ có 10 người thì số thọ làm cho nhà nước ít là 360 người” [31]
Theo một số du khách đến Gia Định, vào đầu thế kỷ XIX ở giữa Sài Gòn và Chợ Lớn có đến 40 thôn không chỉ chuyên nghề nông, mà nhiều thôn chủ yếu làm nghề thủ công, có thôn chuyên làm đinh, thôn chuyên đan buồm, thôn chuyên đúc đồng, chuyên đồ gốm, nhuộm vải…
Sự phát triển nghề thủ công ở Nam Kỳ đã đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong buổi đầu, nhất là trong cuộc khai khẩn, xây dựng nơi đây
thành vùng đất trù phú Những ghi chép trong bài “Cổ Gia Định phong
cảnh vịnh” là minh chứng cho sự nhộn nhịp của hoạt động thủ công nghiệp
Nam Kỳ lúc bấy giờ:
“…Nghe chạc chạc nhà Ban đánh búa
Lạ lùng xóm Lò Gốm
Chân vò, bàn cổ xoay trời…
Trong cầu, đường chuối ngót ngọt ngon
Đủ đường cát đường hạ, đường phèn, đường phổi
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền thương mại quốc tế, gắn với sự ra đời của các trung tâm buôn bán nổi tiếng như: Cù Lao phố – Đồng Nai, Mỹ
Trang 28Tho đại phố, Thương cảng Hà Tiên, Sài Sòn – Gia Định… đã tạo nên một Nam Kỳ năng động, sầm uất, có đủ các ngành nghề, các mặt hàng buôn bán:“Gia Định là chỗ đô hội thương thuyền của các nước, cho nên trăm món hàng hóa phải hội tụ về đây” – [33; 38 ] Từ đó, đem lại nhiều ảnh hưởng tích cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, giáo dục của mảnh đất này
Ngay sau khi đến Sài Gòn, mặc dù tình hình chưa ổn định nhưng Nam
Kỳ với tiềm năng kinh tế dồi dào, đã được thực dân Pháp chú ý và nhanh chóng xây dựng thành một thuộc địa giàu có, mà giới chức thực dân đã đánh giá: “Nam Kỳ sẽ không chỉ là một thuộc địa do chúng ta (người Pháp) tạo
ra, mà là một thuộc địa to lớn do chính nó tự tạo ra, do mở rộng tự do thương mại và nhờ tiềm năng dồi dào của xứ này” [59; 39,40] Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, sản xuất chế biến và giao thương, bên cạnh các biện pháp khác, nguồn lợi nhuận tối đa đã thúc đẩy các nhà tư bản thực dân Pháp đầu tư xây dựng và phát triển một số ngành kỹ nghệ ở đây, kéo theo những ứng dụng kỹ thuật vào giáo dục nghề Từ đó, khiến cho giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ được hình thành và phát triển trong những năm tiếp theo của thời kì 1861 – 1945
Với tất cả những tiền đề về kinh tế nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập và bén rễ nhanh chóng của nền giáo dục hiện đại vào mảnh đất này Chính sự lấn át của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
cùng lối học thuật “Tân học” đối với nền khoa cử truyền thống đã mang lại
cho Nam Kỳ một diện mạo giáo dục mới
1.3.2 Tiền đề văn hóa - xã hội
Cư dân của Nam Kỳ vốn từ nhiều vùng đất hội tụ về, liên tục được bổ sung qua các thời kỳ lịch sử và trong quá trình đó các dân tộc đã sống chung, xen kẽ với nhau Đó là một điểm đáng chú ý so với bất cứ vùng nào trên lãnh
Trang 29thổ nước ta.Theo Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí” thì:
“Gia Định là đất phương Nam của nước Việt Khi mới khai thác, lưu dân nước ta (người Việt) cùng người kiều ngụ như người Đường (Hoa), người Miên, người Tây phương, người Phú Lang Sang (người Pháp), người Hồng Mao (Anh), người Đồ Bà (Gia Va) ở lẫn lộn, nhưng về y phục, khí cụ thì người nước nào theo tục lệ nước ấy”.
Trước thế kỷ XV, ở vùng đất này người Khmer là cư dân chủ yếu, họ sinh sống rải rác trên các giồng cao ở miền Tây và một phần miền Đông Ngoài ra trong lưu vực sông Đồng Nai còn có một số dân tộc ít người cư trú trên vùng đồi núi Nhưng từ thế kỷ XVI – XVII trở đi, lịch sử Nam Kỳ chứng kiến sự di dân ồ ạt của nhiều tộc người vì những lí do khác nhau đã tìm đến đây sinh cơ lập nghiệp, mà trước hết là sự xuất hiện của lưu dân người Việt Khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng Đồng Nai – Gia Định, cư dân Việt ở phương Nam đã có trên 4 vạn dân Ngoài người Việt ở phía Bắc di dân vào Nam, còn có một bộ phận người Hoa (Minh hương) ở Trung Quốc sang làm ăn, sinh sống, hòa cùng với các nhóm
cư dân bản địa Từ đó, dân số Nam Kỳ không ngừng tăng lên, theo thống kê của nhà Nguyễn vào năm 1819, 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Trấn, Vĩnh Thanh) thuộc Gia Ðịnh thành, có 97.100 suất đinh (khoảng 700.000 dân) Cuối năm 1867, dân số toàn Nam Kỳ theo thống kê của người Pháp là 1.204.278 người
Sang đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng công cuộc thực dân hoá, dân số Nam Kỳ tiếp tục tăng nhanh: năm 1905, dân số Nam Kỳ là 2.876.417 người,
4 năm sau (1909) con số này là 2.975.838 người Ðến 15.02.1920, theo kết quả điều tra dân số toàn Nam Kỳ là 3.915.613 người, tăng 27% so với năm
1901 (tăng 298.520 người) Năm 1936, theo ước tính dân số Nam Kỳ lúc này
là 4.616.000 Vào thập niên 40 của thế kỷ XX, số dân cư thành thị ở Nam Kỳ tăng đều tập trung ở trung tâm đô thị lớn như: Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ,
Trang 30Vĩnh Long, Mỹ Tho, cung cấp nguồn nhân lực quan trọng cho các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của Nam Kỳ thời kỳ này Cho nên song hành với các vấn đề quân sự, tài chính, vốn đầu tư… thực dân Pháp rất chú ý đến nguồn nhân lực, yêu cầu đào tạo một đội ngũ công nhân lành nghề, có chuyên môn để phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa được đặt
ra, buộc các chức trách thuộc địa phải quan tâm đến giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề
Nam Kỳ là một vùng đất mở, cư dân từ khắp nơi hội tụ đến nhiều Quá trình lập nghiệp đầy thử thách, luôn phải đối phó với thiên nhiên, thú dữ, địch họa để tồn tại và phát triển đã góp phần định hình tính cách của người dân phương Nam mà trước hết là tinh thần khẳng khái, cương trực, thông
minh, trung thực “trọng nghĩa kinh tài”, dũng cảm, táo bạo, không gò ép,
không chuộng hình thức Theo Lê Quý Đôn thì người Việt ở vùng đất này
là “người dám làm ăn lớn, biết làm ăn lớn” Còn Trịnh Hoài Đức cho rằng
con người Gia Định siêng năng, cần mẫn mà vẫn ung dung:
“Trăng non mà gác mái tân
Nông phu vác cuốc khoan thai ra đồng”
Mặt khác, những con người tứ xứ khi phiêu bạt đến đây và trụ lại được
ở mảnh đất này phải là những con người kiên nghị, năng động, sáng tạo trong lao động và rất nhạy bén với cái mới Đây sẽ là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho sự xâm nhập và phát triển của những kĩ thuật hiện đại vào Nam Kỳ thông qua nguồn nhân lực
Do dân cư từ nhiều nơi khác nhau hội tụ về mang theo những tập quán sinh sống khác nhau nên Nam Kỳ cũng là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa, dẫn đến thiết chế văn hoá ở đây không có nhiều điểm giống như các làng xã truyền thống ở miền Bắc hay miền Trung Hơn nữa với yếu tố văn hoá mở không chứa đựng yếu tố bảo thủ, đóng kín nên con người nơi đây cũng mang tính cách hướng ngoại, dễ dàng tiếp nhận cái mới, vì vậy sớm tiếp thu được
Trang 31nhiều tinh hoa văn hóa của các địa phương, các dân tộc Đó chính là yếu tố thuận lợi cho những mầm mống của nền giáo dục hiện đại xâm nhập và bén
rễ vào mảnh đất này
1.4 Điều kiện địa lí tự nhiên
Nam Kỳ nằm trong hệ tọa độ địa lí từ 8030’ đến 12017’ vĩ bắc, từ
103045’ đến 107000’ kinh đông Về phía tây bắc, giáp Cao Miên (Campuchia); phía bắc giáp với vùng Nam Trung Bộ; về phía đông nam và nam giáp biển Đông; phía tây giáp vịnh Xiêm La (Thái Lan), với bờ biển dài hơn 1.000 km Nam Kỳ nằm trong vùng biển quan trọng ở Thái Bình Dương, trên đường hàng hải quốc tế, nối liền Đông Bắc Á với Đông Nam Á, Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương Ngoài ra, trong vùng nội địa Nam Kỳ còn có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, với nhiều hệ thống sông lớn như : Đồng Nai, Sài Gòn và Cửu Long… “Nam Kỳ với những cửa cảng, với một dòng
sông mênh mông và ưu đãi, thuận tiện cho những con tàu có trọng tải lớn nhất dễ dàng di chuyển suốt hai đầu xứ sở, lại có thể chuyên chở ít tốn kém những sản phẩm giàu có của miền Thượng về các kho chứa đặt tại Sài Gòn Những con rạch chằng chịt mọi nẻo, chỉ cần vài tu chỉnh đơn giản là có thể trở thành những tuyến thương hạng nhất” [59; 17] Đặc điểm tự nhiên này
có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, văn hóa của Nam
Kỳ
Do đặc điểm lịch sử địa chất, Nam Kỳ ít có dấu vết của hoạt động macma nên vùng đất này ít có các mỏ khoáng sản lớn Tuy nhiên, theo những kết quả thăm dò của những kĩ sư người Pháp, Nam Kỳ có một số khoáng sản trữ lượng tương đối như: cao lanh, đất sét, cát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Sài Gòn; mỏ sắt ở Biên Hòa,… Những mỏ khoáng sản này cung cấp một phần nguyên liệu cho các ngành công nghiệp Ngoài ra nó cũng
Trang 32cung cấp nguyên liệu cho các môn ứng dụng thực hành trong các trường nghề ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Bên cạnh đó, tài nguyên rừng ở Nam Kỳ, đặc biệt là miền Đông Nam
Kỳ có một trữ lượng rừng nhiệt đới tương đối lớn, với khoảng 60 loại gỗ tốt như: sao, trắc, cẩm lai, giáng hương, mun… Ngoài ra, ở đây cũng có rất
nhiều tre, mây, lá buông, cói… “… Về phía cao, xứ này có nhiều rừng rậm
Còn trong các đồng bằng thấp, thì có nhiều dòng nước chảy với hai bên bờ cây lá như màn che” [44; 8] Đó là những nguyên liệu cần thiết cho nghề mộc gia dụng, nghề đan lát cũng như phục vụ cho ngành công nghiệp đóng tàu Đồng thời, đấy cũng là nguyên liệu không thể thiếu trong các lớp học nghề mộc, đan lát
Chính nhờ vị trí địa lí đặc biệt với hệ thống sông ngòi dày đặc, nên dù không giàu có về tài nguyên khoáng sản như ở Bắc Kỳ nhưng Nam Kỳ vẫn trở thành một địa bàn công thương nghiệp lớn, một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và là cửa ngõ giao lưu quốc tế ở Đông Dương và Đông Nam châu Á Từ Nam Kỳ có thể đến các nơi khác trong nước khá dễ dàng bằng đường bộ, đường thủy và đi ra các nước khác bằng đường biển Đó là một yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế cũng như tạo điều kiện cho những
ảnh hưởng của nền văn minh công nghiệp, lối học thuật “Tây học” du nhập
vào Việt Nam và Đông Dương
Nhận thức đầy đủ vai trò của Nam Kỳ đối với toàn bộ vùng Đông Dương cũng như tầm quan trọng của nó đối với vị trí của nước Pháp trên thế
giới “…một khi toàn bộ Nam Kỳ thuộc về nước Pháp, thì ngoài Ấn Độ của
Anh chẳng có thuộc địa nào trên hành tinh này có thể sánh bằng…” [59;17], nên sau năm 1861, thực dân Pháp đã không ngừng dùng biện pháp quân sự
để chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ và “quyết tâm thiết lập một xứ “Nam Kỳ thuộc
Pháp” tuyệt vời, một xứ có vị trí ưu việt đầy tiềm lực và triển vọng về đất đai
và dân cư Việc chinh phục dứt điểm xứ Nam Kỳ sẽ mở rộng ảnh hưởng của
Trang 33nước Pháp, mở rộng hoạt động hang hải của chúng ta đến các vùng biển xa xôi Nguồn lợi thu được sẽ vượt xa các khoản chi phí về thiết kế và xây
“thương điếm” Sài Gòn thì không thể nào thỏa mãn được nhu cầu tôn giáo, canh nông, kỹ nghệ, thương mại, chính trị Trái lại, với một thuộc địa Nam
Kỳ hoàn chỉnh thì mọi nhu cầu nói trên không những được thỏa mãn, mà còn tăng cường ảnh hưởng của chúng ta trên những vùng biển này, có như vậy mới tương xứng với một nước Pháp hùng mạnh” [60; 379]
Cho đến trước năm 1832, tên gọi “Nam Kỳ” chưa hề xuất hiện trong
chính sử Trong một thời gian dài, vùng đất này tồn tại với tên gọi khác nhau
như: “xứ Đồng Nai” (trước 1698), “phủ Gia Định” (1689), “Gia Định
kinh” (1790), “Gia Định trấn” (1802) Năm 1808, vua Gia Long đổi thành
“Gia Định Thành”, bao gồm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Vĩnh
Tường, Hà Tiên Vào năm 1832, Minh Mệnh đã đặt ra “Nam Kỳ” và chia thành 6 tỉnh nên còn gọi là “Nam Kỳ Lục tỉnh” Sang thời Pháp thuộc, từ khi
An Nam được dùng để chỉ Trung Kỳ, thì tên gọi Cochinchine được thực dân
Pháp dùng riêng cho vùng đất Nam Kỳ thay cho “Basse Cochinchine” (Hạ
Cochinchine) như trước đây Trong quá trình nghiên cứu luận văn thống nhất
dùng tên gọi “Nam Kỳ” để chỉ vùng đất phía Nam của Tổ quốc, có đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đặc biệt dưới thời Pháp thuộc
Trong thời kì 1861 – 1945, địa giới của thuộc địa Nam Kỳ đã có nhiều thay đổi, khi mở rộng, khi thu hẹp do yêu cầu phát triển và chính sách của chính quyền thuộc địa
Những năm đầu của thời kì thuộc địa (1861 – 1945), về cơ bản thực dân Pháp vẫn giữ nguyên các tỉnh Nam Kỳ như dưới thời nhà Nguyễn, trừ các phủ huyện ở mỗi tỉnh lần lượt bị thay thế bởi các đơn vị hành chính mới gọi là khu Thanh tra, đặt dưới quyền quản lí của các viên chức người Pháp
Trang 34Ngày 05.01.1876, Thống đốc Tổng tư lệnh Nam Kỳ ký một Nghị định chia Nam Kỳ thành 4 vùng hành chính và 19 khu, bao gồm:
– Vùng Sài Gòn gồm 5 khu: Sài Gòn, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa
– Vùng Mỹ Tho gồm 4 khu: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Chợ Lớn – Vùng Vĩnh Long gồm 4 khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc
–Vùng Ba – xắc gồm 6 khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng
Năm 1883, với Hiệp ước Harmand, Thực dân Pháp nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí mà triều đình Huế chưa trả hết Một năm sau (1884), Hiệp ước Patenotre được ký kết giữa thực dân Pháp và triều đình Huế, trong đó có điều khoản trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ
Ngày 01.05.1895, Thống Đốc Nam Kỳ ra Nghị định tách thị xã Cap Saint Jacques ra khỏi Bà Rịa, đặt dưới chế độ tự trị
Ngày 20.12.1899, Toàn quyền ra Nghị định quy định, kể từ ngày 01.01.1900, tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Dương đều thống
nhất tên gọi là “tỉnh” (Province) và chia Nam Kỳ thành 3 miền Như vậy
bước vào năm 1900, toàn Nam Kỳ có 20 tỉnh và 3 thành phố là Sài Gòn, Chợ Lớn, Cap Saint Jacques
Kể từ đó cho đến cuối thời Pháp thuộc, mặc dù chính quyền thực dân
đã có nhiều chính sách quy hoạch nhưng địa giới Nam Kỳ (tương đương với địa bàn 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ ngày nay) về cơ bản không có nhiều thay đổi, với sự tồn tại của 20 tỉnh gồm: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long; với 6 thành phố là Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch
Trang 35Giá, Long Xuyên, Mỹ Tho, Cap Saint Jacques và một khu Sài Gòn – Chợ Lớn [68; 36]
Những đặc điểm của Nam Kỳ trên đây cho thấy Nam Kỳ là một địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng không chỉ đối với Việt Nam mà đối với cả vùng Đông Dương Do đó, ngay từ khi xâm lược Việt Nam, Nam Kỳ đã được thực dân Pháp chú ý và sớm đưa vào guồng quay của công cuộc khai thác thuộc địa Và để thu lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp buộc phải sử dụng tổng hợp nhiều công cụ, trong đó có giáo dục Sự thâm nhập của hoạt động giáo dục hiện đại vào mảnh đất này, đã kéo theo một loạt những sự thay đổi trong văn hóa, xã hội, tư tưởng của con người nơi đây, góp phần làm biến đổi diện mạo kinh tế của mảnh đất này
Trang 36Tiểu kết chương 1.
Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX, Nam Kỳ - vùng
lãnh thổ giàu có phía Nam của chính quyền họ Nguyễn đã trở thành “thuộc
địa” của Pháp với chế độ trực trị Từ đó mọi chủ trương, chính sách của
chính quyền thuộc địa đều sớm được áp dụng ở đây Cchính những chính sách này đã tác động trực tiếp đến sự phát triển của giáo dục nghề Nam Kỳ thời kì 1861 – 1945
Nam Kỳ thời thuộc Pháp có những cơ sở và điều kiện thuận lợi để phát triển một nền giáo dục nghề theo lối hiện đại Nó sở hữu một vị trí địa lí thuận lợi, chứa đựng những nguồn tài nguyên cần thiết là cơ sở định hướng cho giáo dục chuyên nghiệp của chính quyền thuộc địa, góp phần tạo ra một đội ngũ công nhân kỹ thuật phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác, cũng như hoạt động của cảng Sài Gòn Chính yếu tố này đã khiến người Pháp chú
ý đến giáo dục nghề Nam Kỳ ngay từ khi đặt chân đến mảnh đất này và nhanh chóng biến nó thành công cụ hữu hiệu cho chế độ cai trị Bên cạnh đó nguồn nhân lực dồi dào, với những nét tính cách nổi bật của con người nơi đây cũng là một yếu tố thuận lợi đối với các nhà giáo dục người Pháp, nhằm xây dựng một đội ngũ những người làm công trung thành, một lực lượng lao động có tay nghề…
Những yếu tố trên đã tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển của giáo dục nghề Nam Kỳ thời kỳ này, góp phần làm biến đổi giáo dục Nam Kỳ truyền thống thành một nền giáo dục mới, theo lối học thuật hiện đại, ứng dụng kỹ nghệ vào hoạt động đào tạo, tạo tiền đề cho giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ tiếp tục được định hình và phát triển trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 37CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ
TH ỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945)
2.1 Giáo d ục nghề ở Nam Kỳ trước năm 1861
Để có cái nhìn rõ ràng và cụ thể về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống trường nghề Nam Kỳ thời kì 1861 – 1945, luận văn dành một nội dung nhất định đề cập đến giáo dục nghề ở Nam Kỳ trước 1861 để làm
cơ sở so sánh với những gì mà thực dân Pháp đã thi hành ở thuộc địa Nam
Kỳ những năm sau đó
Trước khi thực dân Pháp có mặt ở Nam Kỳ, để đáp ứng nhu cầu học tập của quần chúng và yêu cầu đào tạo một bộ phận những người quản lí của chính quyền phong kiến, một nền giáo dục theo lối khoa cử Nho học đã được hình thành và phát triển qua các giai đoạn: sơ khai (1698 – 1788); xây dựng (1789 – 1801); phát triển (1802 – 1858) và suy tàn (1859 – 1878)
Hoạt động truyền bá Nho học và giáo dục Nho học vào vùng đất mới này muộn hơn so với cả nước, song vì vai trò quan trọng của Thành Gia Định và cả vùng nên giáo dục Nho học đã được triển khai Ngay kỳ thi Hương thứ hai dưới triều Nguyễn đã có trường thi Gia Định (1813) và tồn tại đến năm 1858, tổ chức được 19 kỳ thi Hương Năm 1864, trường thi An Giang thành lập thay thế cho trường Gia Định, lúc này bị Pháp chiếm đóng Trải qua tất cả 20 kỳ thi Hương ở Nam Kỳ (1813 - 1864), nhà nước đã tuyển chọn được 274 cử nhân, những nho sĩ đỗ đạt này khi thịnh thời sẽ tham gia vào bộ máy quan chế của chính quyền phong kiến, khi thời cuộc thay đổi sẽ
Trang 38Lương Khê Phan Thanh Giản là đạt được học vị Tiến sĩ và nếu thêm các cử nhân gốc Nam Kỳ thi ở các trường thi khác thì trước sau Nam Kỳ có 3 vị tiến sĩ
Bên cạnh sự phát triển của Nho học làm nhiệm vụ đào tạo một bộ phận quan lại cho nhà nước, cũng như truyền bá ảnh hưởng của chính quyền đến dân chúng; suốt các triều đại phong kiến, giáo dục nghề nghiệp chưa có tiền lệ trở thành một nội dung học tập chính thức trong các trường học lúc bấy giờ Đây không phải là một hiện tượng riêng biệt ở Việt Nam mà có tính phổ biến ở nhiều nhà nước phong kiến
Trong khi đó, sự tồn tại của của các xưởng thủ công nghiệp nhà nước như ty, cuộc, tượng (theo thống kê ở vùng Gia Định vào năm 1791 có 62 xưởng sản xuất như thế) có nhiệm vụ trưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa… ở khắp nơi trong vùng, làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình phong kiến Xét về quy mô và đặt trong bối cảnh lúc đó, đây là những cơ sở sản xuất chính quy, tập trung và ít nhiều
chứa đựng yếu tố “chuyên nghiệp”, tập trung nhiều thợ giỏi có tay nghề cao
và là nơi lưu giữ nhiều tinh hoa nghề nghiệp Tuy nhiên, ở góc độ giáo dục: các ty, cuộc, tượng này không phải là các cơ sở truyền nghề, dạy nghề, nó chỉ đơn thuần là những cơ sở sản xuất
Mặt khác, các ngành thủ công nghiệp nhân dân với quy trình sản xuất khép kín, tự cung, tự cấp thì những bí kíp truyền thống lại mang nặng tính gia đình, dòng tộc được gìn giữ qua nhiều thế hệ nhưng đó chỉ là những
“trường lớp gia đình” không có tính tổ chức cũng như quy mô xã hội
Từ thực tế đó có thể tóm lại, trước năm 1861, đào tạo nghề chưa từng xuất hiện trong xã hội Việt Nam Điều này hoàn toàn có thể lí giải, với đặc điểm và tính chất của nhà nước phong kiến phương Đông đã không cho phép tồn tại nền giáo dục hoàn chỉnh nằm ngoài nội dung của Nho học và cách thức lập thân khác ngoài con đường học để làm quan Phải từ khi người Pháp
Trang 39xuất hiện, cùng với quá trình xâm lược và đô hộ là sự thâm nhập của một nền giáo dục hiện đại –giáo dục tư bản chủ nghĩa, đặt nền móng cho một nền giáo dục mới trong đó có đào tạo nghề ra đời
2.2 Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945) 2.2.1 Mục đích, chủ trương thành lập trường nghề của thực dân Pháp
ở Đông Dương và Nam Kỳ
Với mục đích tối thượng là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn bậc nhất và bảo đảm siêu lợi nhuận cao nhất cho đế quốc Pháp Mục đích này đã được nhiều chính khách, đại biểu cho giới tư bản kĩ nghệ chính quốc nói công khai, không cần úp mở như chính khách Echiens năm 1891 đã
tuyên bố: “…Tôi thuộc phái muốn các thuộc địa phải được đặc biệt dành
riêng cho thị trường Pháp…” [30;150], hay chính khách cùng thời, Merlin
cũng nói “…Trong một tổ chức thuộc địa tốt, nền sản xuất thuộc địa chỉ
được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì ta không có Nhưng nếu ra ngoài chức trách đó… thì nó sẽ trở thành một địch thủ nguy hiểm” [30; 150] Quan điểm đó, đã quyết định toàn
bộ chương trình, nội dung và phương pháp hành động của thực dân Pháp ở
xứ này Cho nên, đứng về mặt giáo dục, kể cả giáo dục chuyên nghiệp cũng
không nằm ngoài “trục xoay” đó: “ không những việc xây dựng các trường
đó (khoa học kỹ thuật) với một trang thiết bị tối tân sẽ khá tốn kém, mà cũng
vì trong một nước trước hết là nông nghiệp, thương nghiệp nhỏ và kỹ nghệ gia đình, việc đào tạo ra một số quá lớn (cộng thêm với số người ở Pháp trở về) những người có chuyên môn sẽ rất nguy hiểm…” [40; 23]
Tuy nhiên, để đáp ứng cho nhu cầu nhất định của nền kỹ nghệ, cũng như thay thế số nhân công chuyên nghiệp đáng lí phải đem từ Pháp sang vừa tốn kém, vừa xa lạ với Việt Nam; giới chức thuộc địa buộc phải mở các cơ
sở dạy nghề cho con em bản xứ và xem đó là một nguồn lợi có thể thu được
Trang 40Toàn quyền Klobukobwski từng tuyên bố: “Giáo dục chuyên nghiệp có một
nguồn tư bản rất quan trọng ở một xứ kỹ nghệ địa phương và kỹ nghệ Âu châu đang phát triển rầm rộ” [24; 48] Cho đến trước cải cách giáo dục năm
1906, các nhà chức trách thuộc địa đã tổ chức ở Đông Dương 12 trường chuyên nghiệp tập trung chủ yếu ở Nam Kỳ [28; 138]
Mặt khác, lợi dụng những tinh hoa của hoạt động thủ công truyền thống, sản xuất những mặt hàng mỹ nghệ sử dụng nguyên liệu địa phương, cung cấp cho thị trường Âu – Mỹ để kiếm lợi; thực dân Pháp đã xây dựng các trường mỹ nghệ nhằm đào tạo một đội ngũ thợ lành nghề phục vụ sản
xuất theo lối hiện đại, tập trung và quy mô hơn trước
Bên cạnh đó, để phục vụ đắc lực cho công cuộc xâm lược, thống trị và khai thác, thực dân Pháp cần phải có một đội ngũ những người giúp việc hành chính có trình độ chuyên môn, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của xã hội thuộc địa Và đây là lí do xuất hiện của các trường thông ngôn, trường sư
phạm, trường y
Để thỏa mãn những yêu cầu trên cũng như để cổ xúy cho tinh thần
chính trị “hợp tác”, mà nội dung cốt lõi là đào tạo ra một tầng lớp người mới
– tầng lớp thượng lưu thân Pháp theo đường lối của Albert Sarraut Năm
1921, một kế hoạch giáo dục chuyên nghiệp gồm 2 xu hướng: Xu hướng thứ nhất: được áp dụng đối với các trường thương mại và kỹ nghệ thực hành, thu nhận những học sinh tốt nghiệp tiểu học, với thời gian học 4 năm; – Xu hướng thứ hai: gồm các trường kỹ thuật thu nhận học sinh tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, hứa hẹn mở ra một ngành giáo dục kỹ thuật cao được đề ra Tuy nhiên, kế hoạch này chỉ là những dự định và không thực tế, bởi nó không “đếm xỉa đến hoàn cảnh địa phương và hoàn toàn không thực hiện được” [26; 29]
Đến năm 1926, một kế hoạch có vẻ thực tế hơn được giới chức thuộc địa bàn bạc dưới sự điều hành của Toàn quyền Varenne, với chủ trương giáo