1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh

185 586 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, người viết chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh nhằm đi sâu tìm hiể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

NGÔ THỊ KIM NGUYÊN

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

NGÔ THỊ KIM NGUYÊN

NGHÊ T HUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số : 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HOÀNG THỊ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình và sự động viên, giúp đõ của TS Hoàng Thị Văn Tôi xin kính gửi lòng tri

ân chân thành nhất đến Cô

Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, các Thầy Cô giáo khoa Ngữ Văn, các Thầy Cô phòng Sau đại học, Thư viện trường đã luôn tạo điều kiện cho tôi học tập, tra cứu, tham khảo tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Kính gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp

đỡ để tôi hoàn thành công việc học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012

Học viên Ngô Thị Kim Nguyên

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

DẪN NHẬP 6

1.Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Những đóng góp của luận văn 14

6 Kết cấu của luận văn 14

CHƯƠNG 1: CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH 16

1.1 Chủ thể trần thuật và các hình thức xuất hiện chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự 16

1.1.1 Khái niệm chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự 16

1.1.2 Các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự 19

1.2 Chủ thể trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh 24

1 2.1 Chủ thể trần thuật ngôi thứ ba – khách quan - chủ quan hóa trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn 27

1.2.2 Chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất xưng “tôi” – chủ quan hóa trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn 47

CHƯƠNG 2: KẾT CẤU NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH 62

2.1 Kết cấu nghệ thuật trong tác phẩm tự sự 62

2.2 Kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh 63

2.2.1 Kết cấu trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn 68

2.2.2 Kết cấu hình tượng trong truyện ngắn viết về tình yêu của ba nhà văn 103

CHƯƠNG 3: LỜI VĂN VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH 117

Trang 5

3.1 Lời văn trần thuật trong tác phẩm tự sự 117

3.1.1 Khái niệm về lời văn trần thuật 117

3.1.2 Lời văn trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh 1203.2 Giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung 1483.2.1 Khái niệm về giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự 148 3.2.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh 151KẾT LUẬN 178 TÀI LIỆU THAM KHẢO 181

Trang 6

D ẪN NHẬP

1.Lí do ch ọn đề tài

Sau Đại hội Đảng lần VI (tháng 12/1986), đất nước Việt Nam đã có một cuộc đổi mới toàn diện từ văn hóa đến xã hội Văn học Việt Nam thực sự có những bước chuyển mình mạnh mẽ ngày càng phù hợp với yêu cầu mới của lịch sử Ở giai đoạn này, theo giới nghiên cứu phê bình văn học, truyện ngắn được xem là thể loại phát triển rực rỡ nhất

trong văn học sau 1975 Đó là một nền văn học chưa được xem là hình thành, nếu trong

đó truyện ngắn không chiếm một vị trí xứng đáng [55; tr 34]

Có thế nói, văn học giai đoạn sau 1975 không chỉ phát triển về số lượng mà còn về

chất lượng Truyện ngắn mấy năm gần đây đang được mùa, có nhiều giọng điệu khác

n hau, nhiều thể nghiệm rất mới, rất khác nhau… [55; tr 34] Sự thức tỉnh ý thức cá nhân

trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm toàn

bộ tác phẩm văn học Từ đó, văn học giai đoạn này nở rộ nhiều đề tài, chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người: con người được phản ánh không còn phiến diện, một chiều mà biên độ ngày càng được mở rộng, đa dạng, nhiều chiều, nhiều góc cạnh; cảm hứng nghệ thuật và thi pháp có những đổi mới độc đáo, mới lạ Trong dòng chảy đó, có sự đóng góp lớn của ba nhà văn nữ: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh

Đề tài tình yêu, hôn nhân và gia đình là một trong những vấn đề xuất hiện trong văn học sau 1975 với nhiều sắc màu cùng những chiêm nghiệm mới lạ, khác biệt so với văn học giai đoạn trước

Gia đình là đơn vị xã hội, là tế bào xã hội, là nơi con người được sinh ra, trưởng thành

và hoàn thiện với đầy đủ ý nghĩa nhân văn của nó Mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, cộng đồng là mối quan hệ gắn bó, khắng khít hữu cơ, mối quan hệ này sẽ bộc lộ toàn bộ tính chất của xã hội, chất lượng của đời sống và quan niệm của cả một thời đại, một thế hệ Trước những biến động của nền kinh tế thị trường, con người trước tiên chịu ảnh hưởng và chi phối nhiều nhất – có những đổi thay tích cực

và ngược lại cũng có những cái tiêu cực nhất thời, đôi khi đưa con người đến nhiều bi kịch trong đời sống (tình yêu – hôn nhân) và bế tắc, tuyệt vọng trước áp lực xã hội, gia đình

Viết về đề tài tình yêu, gia đình, truyện ngắn của ba nhà văn nữ Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh nói riêng và truyện ngắn của các nhà văn giai

Trang 7

đoạn sau 1975 nói chung đều đi sâu nhìn nhận, phân tích, lí giải cuộc sống gia đình, lối sống của những người đang yêu một cách rõ ràng, hấp dẫn, lôi cuốn, muôn hình vạn trạng và có sức thuyết phục cũng như giàu tính giáo dục cho thế hệ bạn đọc đương thời Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh là những tác giả nữ có nhiều truyện ngắn viết về đề tài tình yêu và đạt được những thành tựu nhất định về nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện Phạm Thị Hoài đã có nhiều đóng góp mới mẻ trong nền văn học Việt Nam sau 1975 và là cây bút luôn luôn được bạn đọc quan tâm, chú trọng Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh bằng tài năng của mình cũng đạt được nhiều giải thưởng của Hội Nhà văn:

Nguyễn Thị Thu Huệ với giải B giải thưởng Văn học Hội Văn nghệ Hà Nội 1986

(truyện Một khoảng chờ đợi); giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội (truyện ngắn Hậu thiên đường); tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 1994 (tập truyện ngắn Hậu thiên đường)

Phan Thị Vàng Anh với Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1993 (tập truyện Khi

người ta trẻ); Giải nhất Truyện rất ngắn của tạp chí Thế giới Mới 1995 cho tác phẩm Hoa muộn

Văn học là nơi gửi gắm tình cảm, là nơi giãi bày tâm sự Thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của ba nhà văn, người viết như gặp được tiếng nói đồng cảm để hiểu sâu hơn về cuộc đời, về con người, về bản thân mình và nhất là tình yêu

Từ những lí do trên, người viết chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn

viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh

nhằm đi sâu tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của các tác giả nữ trên khi viết về mảng đề tài này

Nhìn chung, đề tài tình yêu trong truyện ngắn của các tác giả nữ được các nhà nghiên cứu đề cập đến chỉ là cái nhìn tóm lược, những nhận định khái quát trong hệ thống đề tài

Trang 8

truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh

Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu:

Ý kiến về đề tài tình yêu và sáng tác của các nhà văn nữ nói chung

Xuất phát từ thực tế phát triển ngày càng mạnh mẽ và đông đảo của tác giả văn xuôi

nhất là ở thể loại truyện ngắn, tạp chí Văn nghệ quân đội số 5/1993, Phương Lựu nêu một

vài suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ Bài viết bày tỏ thiết thực sự quan tâm của các nhà

lí luận văn học tới sáng tác nữ, đặt ra những thế mạnh và hạn chế của giới trong sáng tác:

Chúng tôi muốn nói đã đến lúc trên bình diện lý thuyết phải đặt vấn đề tìm hiểu những đặc điểm của nữ văn sĩ với tất cả mọi mặt mạnh, mặt yếu của nó, để góp phần thúc đẩy việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sáng tác của nửa phần dân tộc và nhân loại [51;

tr 25]

Cuộc trao đổi ý kiến với chủ đề Phụ nữ và sáng tác văn chương đặt những vấn đề bức

xúc trong sáng tác nữ Đặng Anh Đào, Vương Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân,… tìm hiểu vai trò người nghệ sĩ trong sáng tác của họ, thế mạnh và hạn chế, có những cây

bút nào đang nổi lên, đóng góp của từng người Đặng Anh Đào nhận xét: Tốt, dịu dàng,

rộng lượng thì không ai bằng mà nhỏ nhen, chấp nhặt cũng không ai bằng… Họ mạnh ở chỗ đưa tất cả cuộc đời mình vào trang sách của họ, họ mang vào một cái gì rất hấp dẫn,…, mỗi người một gam riêng [17; tr 6]

Hoàng Thị Văn trong Luận án Tiến sĩ - Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến

đầu thập niên 90 có nhận xét về đề tài tình yêu, hạnh phúc cá nhân trong văn học giai

đoạn sau 1975: Hạnh phúc cá nhân đôi khi là cái gì rất nhỏ nhoi, thậm chí không đáng kể

trong con mắt cộng đồng Thế nhưng, quan tâm đến nó, thể hiện nó trên cái nền thân phận riêng tư của mỗi cá nhân, đó là bước đi dài, và đầy tính nhân văn của văn học [85;

tr 51]

Tác giả có nhận định về hiện tượng tác giả nữ chiếm ưu thế trong mảng đề tài này: Có

một hiện tượng: khi viết về hạnh phúc cá nhân những cây bút nữ dường như chiếm ưu thế: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trầm Hương, Phan Thị Vàng Anh… trong thế giới truyện ngắn 75 – 95, đội ngũ những người đi kiếm tìm hạnh phúc dường như đông đảo hơn và chiếm đa số vẫn là những người phụ nữ [85; tr 51]

Nhận xét về những cây bút trẻ viết về đề tài tình yêu, Bùi Việt Thắng có viết trong

Bình luận truyện ngắn: Làm nên đặc trưng của những cây bút trẻ là nhu cầu đến như say

Trang 9

mê được tham dự, được hòa nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng ấy của con người Sự hòa hợp ấy là chất men nồng ủ ấp trong họ bao yêu thương và cả sự phẫn nộ trước cái xấu, cái ác đến “muốn thét lên một tiếng thật to [70; tr 17] Không chỉ về nội

dung, truyện ngắn nữ trẻ còn có nhiều đổi mới về thi pháp: Truyện ngắn của cây bút trẻ

gây được ấn tượng ở người đọc nhờ cách trình bày cuộc sống theo hình thức lạ hóa đối tượng Vẫn những con người, sự kiện bình thường xung quanh chúng ta đấy thôi nhưng khi vào tác phẩm của họ lại mang đường nét mới lạ Cái khả năng lạ hóa này chỉ có thể

có được ở những người cầm bút mà cách nhìn cuộc đời thật phóng túng và giàu sức tưởng tượng Mỗi người một vẻ không ai giống ai về bút pháp thể hiện nhưng họ lại có điểm chung ở lối viết phá cách rất tự do, khoáng đạt, uyển chuyển và linh hoạt [70; tr

18]

Tất cả những lời nhận định thể hiện sự quan tâm sâu sắc của các nhà lý luận văn học

tới sáng tác nữ Văn học nước nhà sang thế kỉ XXI sẽ mang gương mặt phụ nữ khoan

dung, trắc ẩn và đắm đuối [70; tr 18] là một dự cảm, một niềm tin xuất phát từ tiến trình

phát triển ngày nay của truyện ngắn nữ

Những ý kiến về truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh

Hiện nay, có rất nhiều bài viết đề cập đến sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh

Phạm Thị Hoài được xem như một hiện tượng văn học tiêu biểu trong giai đoạn sau

1975 Quan niệm nghệ thuật về con người, ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài mở ra cho người đọc cái nhìn khác so với truyện ngắn giai đoạn trước Khi đọc

Phạm Thị Hoài, Đỗ Đức Hiểu phát biểu: Văn bản nhà văn nữ phát triển trên nhiều kênh,

nó hấp dẫn một số người đọc vì tiếp nối nhiều giọng của nó, không phải thông tin một chiều hoặc thông tin đường thẳng Suy nghĩ nhà văn thoát ra ngoài những băng từ muốn quấn chặt lấy nó, áp đảo nó Nó tự do bay bổng, nó dằn vặt, nó đánh nhau vật lộn với ngôn từ Truyện của Phạm Thị Hoài về một phương diện (phương diện rất quan trọng) là cuộc đánh vật nhà văn với ngôn ngữ… Người đọc Phạm Thị Hoài có thể ngạc nhiên lại một nhà văn đi chệch quỹ đạo của truyện truyền thống Việt Nam trong gần nửa thế kỉ nay! Lại một nhà văn tiếp tục cuộc hành trình vô tận của loài người đi tìm cái đẹp! Lại một nhà văn tôn thờ ngôn ngữ văn chương Người đọc có thể đặt nhiều câu hỏi: Nhà xã hội học đâu là ý nghĩa giai cấp – chính trị của tác phẩm? Nhà triết học có phải chủ

Trang 10

nghĩa hoài nghi Tác giả là một học trò Frớt ra đời muộn màng ở Việt Nam cuối thế kỉ

XX này? Tác phẩm dành riêng cho người đọc được lựa chọn [31; tr 10]

Phạm Thị Hoài là một tác giả tạo ra nhiều tranh cãi gay gắt vì truyện ngắn của bà quá

dung tục, lai căng và sex Với Thiện Minh, ông cho rằng: Văn chương trong truyện ngắn

của Phạm Thị Hoài có từ vú, mông, đùi, bẹn… Tác giả đã dùng ngọn bút mình bới tung lên mọi tởm lợm, nhàm chán, giả dối, ti tiện ở đời Phải chẳng cuộc đời này nhân tính chỉ còn là thú tính? [54; tr 2]

Phan Thị Vàng Anh được giới báo chí đánh giá cao về sáng tác của cô: Hội chợ, Khi

người ta trẻ I, Khi người ta trẻ II Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nhận xét: Đây là cây bút, dòng mực có sự hài hòa của một tấm lòng nhân ái và một trí thông minh sắc sảo Tác giả của hai truyện Kịch câm và Đất đỏ sẽ đi rất xa Tôi hay đoán nhầm nhưng lần này thì tôi tin [63; tr 8] Phạm Xuân Nguyên có nhận định: Vàng Anh viết truyện vừa vui vẻ vừa

ng hiêm túc Nghiêm như trò chơi và vui như trò chơi… Thế giới truyện của Vàng Anh là thế giới chập đôi của thơ ngây và già dặn như vốn có trong mỗi con người, mỗi cuộc đời bình thường quanh ta Khi viết truyện Vàng Anh thích không áp đặt tư tưởng giống như

x ây một căn nhà có nhiều cửa tùy thích tính cách độc giả, ai muốn đi cửa nào thì đi… Người đọc hết sức sửng sốt trước tầm vóc sâu sắc và to lớn của vấn đề đặt ra trong truyện và bút pháp già dặn, vững vàng của cấu trúc truyện [55; tr 6]

Huỳnh Như Phương trong bài Trong sân chơi của Vàng Anh viết: Trong thế giới của

Vàng Anh, những sự vật gần gũi nhất lại đưa tâm hồn con người đi xa nhất Trong sân chơi những ngày thường đó nhiều khi con người nghe tiếng hội hè trong lòng mình Ấy là

vì Vàng Anh biết cách lạ hóa những điều quen thuộc biết làm cho da diết những điều tưởng như nhạt nhẽo Vàng Anh viết văn mà như không hề biết và do vậy không cần phải kháng cự đối phó gì hết – tới một thứ văn chương lúc thì hùng hồn, đạo mạo như những lời hiệu triệu và diễn văn chính trị, lúc thì bóng bẩy, suồng sã như lá thư tình của một cô nàng đỏng đảnh Văn chương Vàng Anh là trò chơi nói bằng ngôn ngữ của trò chơi, vì thế mà nó thật Ngòi bút này đã rủ rê những từ ngữ tinh nghịch nhất để làm văn học, cái việc ai cũng cho cần phải nghiêm túc [63; tr 5]

Tác giả Trần Đăng Khoa có Ngẫu hứng du ngoạn đã có những nhận xét sâu sắc về Thu Huệ: Thu Huệ là cây bút sắc sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm sao còn út tuổi mà Huệ lại

lọc lõi thế Nó như một con mụ phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình, ruột gan mình có gì hình như nó biết cả [39; tr 10]

Trang 11

Lời nhận xét táo bạo của Văn Chinh trong bài viết Văn nữ thế kỉ XX, một tuyển tập

đáng quí đang trên báo Nông nghiệp số 138/2001: Đầu thập kỉ 80 khi các nhà văn nam đang cảm thấy mệt mỏi bế tắc ở lối viết từng đưa họ thành công từ trước và sau 1975 (thật khó có công cụ nào dùng mãi không cùn) thì sự xuất hiện của Lý Lan, Phạm Thị Minh Thư, Dạ Ngân muộn hơn một chút là Phạm Thị Hoài, Y Ban… quả đã mang đến cho văn xuôi sự tươi tắn trẻ trung có vẻ như do nữ tính của họ phát tiết và được nhìn dưới ánh sáng của trí tuệ thời đại Đặc điểm này vẫn tiếp tục đến khi xuất hiện các nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thanh Hà, Nguyễn Ngọc Tư… [15;

tr 12]

Khảo sát truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 – 1996 (Luận án Thạc sĩ của

Hồ Thị Liễu, 2002, Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn) Luận án khảo sát các truyện ngắn của một số nhà văn nữ (Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo…) về cả nội dung và nghệ thuật: Về nội dung, tác giả nghiên cứu các đề tài như đề tài chiến tranh, cuộc sống đời thường, khát vọng tình yêu và hạnh phúc được thể hiện trong truyện ngắn của các nhà văn Về nghệ thuật, tác giả tìm hiểu các đặc điểm về nhân vật, kết cấu và ngôn ngữ

Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ (Luận án Thạc sĩ của Trần

Thị Thúy An); Từ lý thuyết nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác

gia nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay (Luận án Thạc sĩ của Hồ Khánh Vân) đã cung cấp

cho luận văn của chúng tôi những tư liệu và nhận xét, đánh giá thiết thực

Văn xuôi nghệ thuật sau 1975 không chỉ dừng lại ở hiện thực khách quan mà đã chuyển dần sang hiện thực trừu tượng – đó là thế giới bên trong của con người, là hiện

thực tâm hồn, hiện thực tâm linh Trong Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt

Nam sau 1975 (Đề tài nghiên cứu Khoa học và Công nghệ cấp bộ năm 2009), Hoàng Thị Văn nhận định cụ thể, sâu sắc về vai trò, hiệu quả nghệ thuật của yếu tố kì ảo trong

những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của các nhà văn nữ giai đoạn sau 1975: Đề tài

tình yêu lứa đôi và hạnh phúc riêng tư của con người dường như đến văn xuôi nghệ thuật sau 1975 mới được đề cập đến với nhiều sắc màu Bản chất của tình yêu lứa đôi là sự giao cảm hòa hợp giữa hai người khác giới cả về tâm hồn lẫn thể xác Để đến với nhau trong sự giao cảm, hòa hợp, đồng điệu – dấu hiệu của Hạnh phúc lứa đôi – người ta luôn lầm lẫn, ngộ nhận, tự gây tai họa cho mình Yếu tố kì ảo xuất hiện như một phép lạ để

Trang 12

giúp con người tìm kiếm khuôn mặt biến ảo khôn lường của Tình yêu, giúp họ nhìn rõ sai lầm và thỏa mãn khát khao hạnh phúc [86; tr 70]

Tác giả Hoàng Thị Văn cũng lí giải rõ sự tác động của yếu tố kì ảo tới sự tiếp nhận của

bạn đọc: Thông qua những yếu tố kì ảo, những bi kịch cùng sự hóa giải cái bi nhờ yếu tố

huyền ảo, các nhà văn muốn nói đến sự lầm lạc, đớn đau, dằn vặt – hành trình gian nan của con người trên hành trình kiếm tìm Hạnh phúc Những nhân vật này giống nhân vật kiểu Liêu Trai, nửa Liêu Trai Nó vừa là ảo ảnh về một thế giới ngoài con người nhưng cũng là vấn đề của cõi nhân sinh này Hai mặt khổ đau và hạnh phúc gắn kết nhau như ngày và đêm, luôn ở trong thời khắc hoàng hôn hoặc bình minh… cái hấp dẫn con người lại chính ở sự bất ổn, mong manh của lằn ranh bất định đó [86; tr 74 – 75]

Nhìn chung các bài tiểu luận phê bình chung và riêng đều đã thống nhất ở các điểm: Văn học giai đoạn sau 1975, đặc biệt các truyện ngắn của nhà văn nữ phát triển mạnh

mẽ và có sự tìm tòi mới lạ trong đề tài phản ánh và cách tân nghệ thuật

Khi bước vào lĩnh vực sáng tác văn chương, sự nhạy cảm, tinh tế, sâu sắc là thế mạnh của nhà văn nữ

Truyện ngắn của các nhà văn nữ nói chung và của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh nói riêng có những đổi mới về cảm hứng và thi pháp nghệ thuật, định hình được phong cách rõ rệt và độc đáo

Từ đó truyện ngắn của họ có sức hấp dẫn kì lạ, khiến người đọc phải xem và sống đến cùng với nhân vật: số phận và bi kịch, hạnh phúc tình yêu và những mất mát đau thương…

Tuy nhiên, các bài viết trên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát hay tìm hiểu một vài khía

cạnh khác, chưa có một bài nghiên cứu nào đi sâu vào khám phá Nghệ thuật trần thuật

trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh Từ đó, người viết mạnh dạn tìm tòi và khảo sát vấn đề này, nhằm

mục đích học hỏi và làm nguồn tư liệu trong quá trình học tập, giảng dạy

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khoa học mà luận văn đề cập đến là Nghệ thuật trần thuật trong truyện

ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh

Phạm vi khảo sát giới hạn cho luận văn chủ yếu là tập trung vào mảng truyện ngắn viết

về đề tài tình yêu của ba nhà văn nữ:

Trang 13

Phạm Thị Hoài với 13 truyện trong tập truyện ngắn Mê lộ: Trong cơn mưa, Người đàn

bà với hai con chó nhỏ, Mê lộ, Năm ngày, Vệt son, Người suy tư, Hành trình của những con số, Hoa sữa, Khách, Một cái gì, Hai mươi năm sau, Bảy nổi ba chìm, Chín bỏ làm mười

Nguyễn Thị Thu Huệ với 30 truyện ngắn in trong tập truyện ngắn 37 truyện ngắn của

Nguyễn Thị Thu Huệ: Tân cảng, Huyền thoại, Xin hãy tin em, Nước mắt đàn ông, Còn lại một vầng trăng, Dĩ vãng, Thiếu phụ chưa chồng, Rượu cúc, Tình yêu ơi, ở đâu?, Biển ấm, Một trăm linh tám cây bằng lăng, Người đàn bà ám khói, Phù thủy, Người đi tìm giấc

mơ, Sơri đắng, Thành phố không mùa đông, Lời thì thầm của mùa xuân, Cầu thang, Người xưa, Những đêm thắp sáng, Đôi giày đỏ, Hình bóng cuộc đời, Đêm dịu dàng, Giai nhân, Mùa thu vàng rực rỡ, Một nửa cuộc đời, Cát đợi, Hậu thiên đường, Cõi mê, Nào,

ta cùng lãng quên

Phan Thị Vàng Anh với 9 truyện trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ: Cuộc du

ngoạn ngắn ngủi, Truyện trẻ con, Khi người ta trẻ, Si tình, Mười ngày, Trò dối, Một ngày, Nghỉ hè, Kịch câm

Với phạm vi nghiên cứu đã nêu, người viết tập trung tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong các truyện ngắn trên, giải thích được chủ thể trần thuật xuất hiện trong các truyện ngắn, và khẳng định vị thế của mỗi tác giả trên diễn đàn văn xuôi hiện đại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích đặt ra trong phạm vi giới hạn, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phối hợp một số phương pháp chính sau:

Phương pháp hệ thống:

Phương pháp hệ thống là một trong những phương pháp cơ bản trong nghiên cứu thi pháp học Sử dụng phương pháp này, người viết tiến hành tìm hiểu truyện ngắn viêt về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh để có cái nhìn hệ thống về những yếu tố nghệ thuật hình thành nên phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn, đồng thời phương pháp này làm dấu hiệu nhận biết mỗi tác phẩm là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố nội dung và nghệ thuật

Phương pháp thống kê, phân loại:

Người viết vận dụng phương pháp thống kê kết hợp với phương pháp phân loại để chỉ ra mỗi nhà văn là mỗi một giọng điệu riêng, cách khai thác và thể hiện vấn đề tình

Trang 14

hạn chế của mỗi nhà văn Người viết đưa ra những cứ liệu cụ thể, chính xác làm tăng sức thuyết phục cho vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài giúp cho những nhận xét, đánh giá vấn đề có cơ sở khoa học

Phương pháp phân tích tổng hợp:

Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp chủ đạo trong bài viết, là nền tảng làm nắm được bản chất vấn đề cần tìm hiểu Để khẳng định được nét nổi bật, riêng biệt

và đặc sắc của mỗi nhà văn khi khai thác đề tài tình yêu, người viết còn vận dụng kết hợp

phương pháp phân tích và phương pháp so sánh để làm rõ các luận điểm đặt ra trong luận

văn

5 Nh ững đóng góp của luận văn

Với luận văn này, người viết muốn góp phần tìm hiểu cách tiếp cận và thể hiện đề tài tình yêu trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh:

+ Tình yêu của con người là một điều thiêng liêng, rất cần sự cảm thức đầy tinh tế Trong truyện, nhiều màn kịch tình yêu hiện ra như chính màn kịch cuộc đời, tạo tâm thế cho con người đón nhận và chấp nhận tình yêu trong mọi hoàn cảnh, tình huống Qua đó, chúng ta thấy được ba nhà văn nữ đã góp phần tạo nên và hòa nhập vào xu hướng chung của văn học thời đại: trao quyền chọn lựa và dự đoán cho người đọc, thể hiện được mối quan hệ bình đẳng, cởi mở trong văn học

+ Khẳng định sự tiếp nối và cách tân trong nghệ thuật trần thuật của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh Đây được xem là một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng biệt, độc đáo của ba nhà văn nữ

Qua những đóng góp của ba nhà văn, người đọc nhận định được sự đa dạng trong đề tài và linh hoạt trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn nói riêng và văn học sau 1975 nói chung

6 Kết cấu của luận văn

Khảo sát đề tài: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của

Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh, người viết tìm hiểu từ chủ

thể trần thuật đến cách tổ chức kết cấu tác phẩm; tìm nhận lời văn và giọng điệu kể của chủ thể trần thuật

Vì vậy, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Trang 15

Chương 1: Chủ thể trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị

Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh nói riêng và truyện ngắn nói chung là nhân tố đầu tiên để tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn, và là yếu tố cần thiết, chủ yếu để hình thành, chi phối và qui định cách thức tổ chức kết cấu tác phẩm

Chương 2: Kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị

Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh được tổ chức cân đối, chặt chẽ đều có phương thức trần thuật cụ thể, nhất định theo dụng ý nghệ thuật của tác giả Từ đó, truyện

có khả năng mang lại sức hấp dẫn, sinh động và mới lạ trong sự tiếp nhận của bạn đọc

Chương 3: Lời văn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu

của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh là một trong những yếu

tố tạo nên hiệu quả nghệ thuật của truyện Thứ nhất, người viết thấy được sự khác nhau

về bút pháp và phong cách của ba nhà văn nữ, khu biệt tài năng và cá tính của mỗi tác gia Thứ hai, lời văn và giọng điệu trần thuật gián tiếp thể hiện quan điểm nghệ thuật của

họ

Lời văn và giọng điệu trần thuật kết hợp với kết cấu nghệ thuật làm nên sức hút riêng cho tác phẩm

Trang 16

CHƯƠNG 1: CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN

1.1 Ch ủ thể trần thuật và các hình thức xuất hiện chủ thể trần thuật trong tác

ph ẩm tự sự

Văn học là nhân học Mỗi tác phẩm văn chương là mỗi mảnh đời ghép lại của bức tranh hiện thực đời sống xã hội muôn màu Có những tác phẩm phê phán, tố cáo bản chất của một chế độ xã hội, một tầng lớp giai cấp Có những tác phẩm là tiếng nói bênh vực cho người sức yếu thế cô, luôn bị áp bức và chà đạp Có những tác phẩm là sự đồng cảm sâu sắc về kiếp người nhỏ bé trong xã hội, tạo nhiều xúc cảm trong lòng người đọc Văn học nghệ thuật là loại hình nghệ thuật được sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người, không chỉ thế, văn học còn là mảnh đất gieo mầm yêu thương, là chiếc cầu nối tình cảm giúp người gần người hơn, là nơi con người gặp gỡ nhau trong sự giao hòa cảm xúc Vì vậy, chức năng của văn học không chỉ là chức năng thông tin mà tác phẩm còn có khả năng kích thích người đọc đồng sáng tạo Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm – người đọc là mối quan hệ khắng khít, gắn bó hữu cơ Vấn đề tiếp nhận văn học hôm nay hay việc khảo sát hai nhân tố tác giả - người đọc trong đời sống văn học đã được các nhà

lý luận phương Tây chú ý quan tâm nhiều từ khoảng thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX

Để xác lập giá trị của tác phẩm tự sự, nguyên tắc khách quan được xem là nguyên tắc đặc thù trong việc tái hiện và chiếm lĩnh hiện thực Trong cấu trúc văn bản tự sự, phương

diện chủ thể trần thuật là yếu tố giữ vai trò trung tâm Phương diện này mãi đến khi

ngành nghiên cứu tự sự học ra đời mới được giới nghiên cứu chú trọng và xác lập lý thuyết một cách có hệ thống và toàn diện

1.1.1 Khái niệm chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự

Chủ thể trần thuật là một thuật ngữ phổ biến trong tác phẩm tự sự, ngoài ra nó còn được gọi bằng những thuật ngữ tương đương như: chủ thể kể chuyện, người kể chuyện, người trần thuật… Chủ thể trần thuật là nhân vật trong tác phẩm, là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thông qua nhân vật này, nhà văn bộc lộ quan điểm nghệ thuật của mình Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có định nghĩa: Người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó

bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự

[26; tr 221]

Trang 17

Chúng ta cần phân biệt giữa chủ thể trần thuật và bản thân tác giả Nhà nghiên cứu Lê

Ngọc Trà viết: Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể

chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học [83; tr 89], nhà nghiên cứu nhấn

mạnh: Người kể chuyện và tác giả không phải là một Không nên đồng nhất người kể

chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng “tôi” đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, các tình tiết [83; tr 89] Như vậy, chủ thể

trần thuật hay người kể chuyện hoàn toàn là nhân vật do nhà văn hư cấu Đôi khi tác giả hòa nhập vào chủ thể trần thuật để kể chuyện, lúc này cũng không thể xem chủ thể trần thuật và nhà văn là một, chủ thể trần thuật chỉ là hình tượng sáng tạo của chính tác giả,

tuyệt nhiên không là bản thân tác giả ngoài đời Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có viết: Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học,

chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời,

có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện [26; tr 222]

TZ Todorov chỉ rõ ý nghĩa của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự: Người kể

chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng (…) không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật nhân danh cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn đặc biệt [78; tr 116]

Chủ thể trần thuật được Huỳnh Như Phương diễn đạt với hình thức “hình tượng tác

giả”: Khái niệm hình tượng tác giả nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi

tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm [27; tr

215]

Chủ thể trần thuật là nhân vật không chỉ đại diện tác giả gián tiếp hoặc trực tiếp bộc bạch quan điểm nghệ thuật, là tiếng nói của cái “tôi” tác giả mà còn chi phối các yếu tố khác trong cấu trúc tác phẩm tự sự như: điểm nhìn (hướng nội, hướng ngoại), ngôi kể, kết cấu tác phẩm Nói chung, chủ thể trần thuật tạo lực hút và có sức ảnh hưởng đến cả nội

dung và nghệ thuật tác phẩm Huỳnh Như Phương khẳng định: Khái niệm hình tượng tác

giả (…), là một phạm trù thi pháp cao nhất quy định đặc điểm và nội dung của cấu trúc tác phẩm, cả tính khuynh hướng và sự phát triển của tác phẩm đó [27; tr 215]

Trang 18

Chủ thể trần thuật có thể đóng vai người quan sát, ngoài lề thuật lại câu chuyện hoặc tham gia vào câu chuyện với tư cách là một nhân vật – người kể chuyện, có khi lộ diện,

có khi ẩn mình đằng sau sân khấu Vì vậy, người kể chuyện thay mặt nhà văn tổ chức kết cấu tác phẩm Chủ thể trần thuật có thể tổ chức các quan hệ nhân vật theo hình thức đối lập, đối chiếu, tương phản… và tổ chức sự kiện, liên kết chúng tạo thành truyện (với các dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lí, cốt truyện “truyện lồng truyện”… Timofeev nhấn mạnh vai trò của chủ thể trần thuật hết sức to lớn Cách

đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện

Do đó, vấn đề tiếp nhận văn học có thành công hay thất bại đều qui về mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm – người đọc, trong đó, chủ thể trần thuật được xem là yếu tố trung gian gắn kết ba nhân tố trên Nếu không có chủ thể trần thuật, tác phẩm chỉ dừng lại ở mức độ bình thường, thô ráp Câu chuyện có đủ sức thuyết phục, lôi cuốn và hấp dẫn người đọc là nhờ vào chủ thể trần thuật, bởi nó là nhân vật đặc biệt về vai trò, ý nghĩa do

nhà văn hư cấu nên Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học chỉ rõ: Trần thuật tự sự

được dẫn dắt bởi một ngôi kể được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích những gì đã xảy

ra [6; tr 360]

Ngoài thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, chủ thể trần thuật mang trong mình cả phần nội dung khách quan của thế giới được phản ảnh vào tác phẩm; phần nội dung đó thường thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời đại của nhà văn được nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình Một mặt chủ thể trần thuật kéo người đọc đến gần hơn với những quan điểm của tác giả về hiện thực, về nhân sinh, một mặt có khi chủ thể trần thuật còn đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau khám phá chân lí và chiếm lĩnh cuộc sống Chủ thể trần thuật lúc này không còn là người kể chuyện toàn tri và trở nên bình đẳng với nhân vật, người đọc của mình

Chủ thể trần thuật là công cụ giúp nhà văn thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình nhưng chủ thể trần thuật có đời sống riêng của nó Nhà văn chỉ qui định, lựa chọn các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật sao cho tác phẩm trở nên khách quan, có sức thuyết phục cao, tranh thủ sự đồng tình cùng người đọc, còn chủ thể trần thuật sẽ vận động theo đúng

với đặc điểm, tính chất của bản thân nó từ lời văn đến giọng điệu trần thuật Tác giả thực

sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể, hoặc là người nghe trộm người kể

Trang 19

Người trần thuật là kẻ sáng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự, lúc này tác giả không bao giờ hiện diện trong tác phẩm như một người kể, người phát ngôn (…) [50; tr 7]

1.1.2 Các hình th ức xuất hiện của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự

Để thực hiện hành vi kể chuyện, chủ thể trần thuật được tác giả đặt cách xuất hiện sao cho phù hợp với đặc thù, tính chất của câu chuyện được kể Trong tác phẩm tự sự, chủ thể trần thuật có thể được kể ở ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Nhờ thay đổi các chủ thể kể chuyện khác nhau, nhà văn tạo điều kiện cho cách nhìn nhiều chiều về nhân vật, sự kiện, giảm bớt sự phụ thuộc vào quan điểm của tác giả, tăng cường khả năng nghiền ngẫm của người đọc, đồng thời tránh được lối kể đơn điệu theo một giọng từ đầu

đến cuối tác phẩm Sự phân biệt về ngôi kể bao giờ cũng có ý nghĩa nghệ thuật, bởi vì

mỗi ngôi kể có một trường nhìn khác nhau được qui ước, đem lại những cái nhìn khác

nhau

1.1.2.1 Chủ thể trần thuật ngôi thứ ba với phương thức trần thuật khách quan –

ch ủ quan hóa

Chủ thể kể chuyện ở ngôi thứ ba vô nhân xưng là ngôi kể tự do nhất, cho phép người

kể có thể kể tất cả những gì có ở trên đời, có thể len lỏi vào từng ngõ ngách, góc khuất trong suy nghĩ của con người để bình luận, nhận xét hoặc kể về những chuyến chu du

miền đất lạ mà không bị giới hạn tầm nhìn và về nguyên tắc, người kể không thể biết

Với ngôi thứ ba vô nhân xưng, chủ thể trần thuật hoàn toàn ở ngoài cốt truyện, không thuộc vào thế giới của các nhân vật trong truyện mà có vai trò là chỉ là người dẫn dắt, theo dõi nhân vật, chỉ đứng bên ngoài quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện Do tính chất hướng ngoại của nhân vật nên điểm nhìn của chủ thể

trần thuật hầu hết là từ bên ngoài

Để truyền đạt hết giá trị tư tưởng của tác phẩm, vai trò của chủ thể trần thuật rất được chú trọng, ở đó nhân vật của truyện không suy ngẫm, hồi tưởng mà chủ thể trần thuật mới

là người truyền đạt, đồng thời tác giả là người cùng tham gia sáng tạo lại

Chọn góc nhìn trao cho ngôi thứ ba, nhà văn đã tạo nên cái nhìn khách quan trong tác phẩm và hướng cái nhìn ấy đến bạn đọc Tạo độ tin cậy cao nơi tác phẩm, tranh thủ sự đồng tình nơi người đọc, tránh được sự cảm nhận chủ quan của người đọc từ tác phẩm, giàu tính thuyết phục, góc nhìn rộng, bao quát được các vấn đề được kể là ưu thế nổi bật

Trang 20

Tuy trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng nhưng khoảng cách giữa tác giả và chủ thể trần thuật cũng như giữa chủ thể trần thuật và sự việc được trần thuật luôn hiện hữu Câu chuyện được kể trở nên khách quan hơn vì nó được kể ở ngôi thứ ba, đối tượng được trần thuật là “chuyện về người, việc của làng”, không liên quan trực tiếp đến chủ thể trần thuật, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để chủ thể trần thuật, đằng sau là tác giả tự do, thoải mái, tự nhiên thuật lại theo đúng với diễn biến của cốt truyện Lời bình luận, nhận định, đánh giá, nhận xét của chủ thể trần thuật hầu như không có, tất cả đều trao vào lời đối thoại của các nhân vật xuất hiện trong truyện Vì thế, mặc nhiên truyện được trần

thuật trở nên khách quan hơn

Đảm nhận vai trò là người dẫn truyện, dẫn dắt người đọc tham gia vào tình tiết của truyện, chủ thể trần thuật hướng cái nhìn và nhận định đến với người đọc Đây là kiểu người kể luôn luôn tách mình ra khỏi diễn biến của câu chuyện, tạo một khoảng cách

nhất định đối với câu chuyện đang kể Chủ thể trần thuật luôn hướng sự quan tâm của

người đọc đến những sự kiện cùng các tính chất của chúng mà không bày tỏ thái độ của mình [42; tr 165] Độc giả có thể đồng tình hay phản bác, có thể yêu hay ghét, thích hay không thích là do cảm nhận chủ quan của họ Trong các truyện trần thuật theo kiểu trần thuật này, người đọc hầu như không nhận thấy thái độ của chủ thể trần thuật Người kể chuyện đã tách mình ra khỏi câu chuyện để cho nhân vật tự bộc lộ tính cách qua ngôn ngữ và hành động Tuy nhiên, thông qua chủ thể kể chuyện, người đọc vẫn nhận thấy được thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện ở các mức độ đậm nhạt khác nhau Bên cạnh đó, trong các truyện tổ chức trần thuật theo kiểu này, câu chuyện không phải bao giờ cũng được kể một cách hoàn toàn khách quan Để tránh đơn điệu, ở một số truyện, đôi khi chủ thể trần thuật xuất hiện ở những lời bình luận, triết lý mang tính chủ quan Trong khi kể và tả về các sự kiện cùng các tính chất của chúng, người tường thuật

có giọng nói riêng không cố gắng né tránh việc bày tỏ thái độ của mình như ở người tường thuật lạnh lùng (…) Người tường thuật có giọng nói riêng không bỏ lỡ dịp nào để biểu hiện tính cách của mình Trong khi trình bày các thực tế khách quan xung quanh anh ta luôn luôn tìm cách nói lên quan điểm, thái độ, tình cảm, cách đánh giá của mình Không phải phát biểu một cách trực tiếp mà sử dụng giọng nói riêng, những đặc điểm riêng trong lời nói cá nhân để gián tiếp cho người đọc hiểu [42; tr 176]

Như vậy, ở kiểu trần thuật này, không phải lúc nào chủ thể kể chuyện cũng hoàn toàn tách mình ra khỏi câu chuyện mà đôi lúc khoảng cách giữa chủ thể kể và câu chuyện đã

Trang 21

được rút ngắn đáng kể Sự rút ngắn này đã tạo nên sự linh hoạt trong cách kể, tránh được

sự đơn điệu và tạo ra đặc điểm nhiều giọng điệu

Trong Wikipedia, có một nhận định: Một câu chuyện hay phải có một người kể xác

định rõ và kiên định (…) Người kể là một thực thể đơn nhất và giới hạn Người kể không thể truyền đạt bất cứ điều gì mà anh ta không đối mặt với nó Nói cách khác, người kể

nhìn câu chuyện từ điểm nhìn của anh ta trong thế giới hư cấu

Hơn thế nữa, với phương thức trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng, điểm nhìn trần thuật linh hoạt, cởi mở hơn Tác giả có thể chuyển tọa độ ống kính quan sát hiện thực cuộc sống, con người ở nhiều khía cạnh, phương diện, kể cả góc khuất trong đời sống

tinh thần nhân vật Chủ thể trần thuật lúc này mặc dù không đối mặt với sự thật, nhưng

vẫn có ưu thế là người biết hết, hiểu hết, từng bước đưa cái nhìn của độc giả vào đời sống

văn học và cùng nhà văn soi chiếu, nhận chân giá trị tư tưởng của tác phẩm

Điểm nhìn trần thuật không còn có biên độ hướng ngoại mà hướng nội, vào bên trong,

soi sáng mặt rồng phượng – rắn rết trong tâm hồn con người Ranh giới giữa tác giả và

chủ thể trần thuật vẫn giữ khoảng cách tối thiểu Chủ thể trần thuật với điểm nhìn hướng nội không trực tiếp bình luận biến cố, sự việc xoay quanh nhân vật chính trong truyện mà trao quyền phán xét cho các nhân vật đó, anh chỉ làm công việc của một người trung gian truyền đạt và kết nối câu chuyện với bạn đọc Sự hòa mình của tác giả - chủ thể trần thuật vào nhân vật thường được biểu hiện ở hình thức lời nói nửa trực tiếp Với sự rút ngắn khoảng cách giữa chủ thể kể chuyện và câu chuyện, tác giả tạo cho người đọc cảm giác

như đang sống cùng đời sống nội tâm của nhân vật và làm cho cách kể trở nên sinh động

Do đó, chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng dù điểm nhìn hướng ngoại hay hướng nội vẫn tạo được độ tin cậy khách quan cho độc giả và vẫn giữ được độ linh hoạt trong quá trình trần thuật

Ở một số truyện, người đọc còn nhận ra sự hòa nhập giữa lời kể, lời thuyết mình của tác giả với lời độc thoại nội tâm nhân vật, hình thức lời nói nửa trực tiếp được sử dụng Điều này thường dẫn đến sự pha trộn quan điểm của chủ thể trần thuật và nhân vật trong

truyện

Chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện, cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề Hình thức tạo khoảng cách giữa tác giả và mạch trần thuật qua chủ thể trần thuật giúp tác giả có thể thể hiện hình tượng trong

Trang 22

tác phẩm, đồng thời vừa gián cách vừa hướng đạo được cho người đọc Thực chất, tạo khoảng cách như vậy lại rút ngắn khoảng cách giữa tác giả - tác phẩm – người đọc

Chủ thể trần thuật đặc biệt quan trọng trong một tác phẩm tự sự

1.1.2.2 Chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất xưng “tôi” với phương thức trần thuật chủ quan hóa

Khi bàn về vấn đề ngôi kể trong cấu trúc tự sự, G Genette khẳng định ngôi kể gắn liền

với biểu hiện của hình tượng người kể chuyện – chủ thể trần thuật: Việc thay đổi ngôi,

thực sự là sự thay đổi quan hệ giữa người kể chuyện và câu chuyện của anh ta – nói cụ thể hơn, nó còn có nghĩa là sự thay đổi người kể chuyện

Sự khác nhau thường có giữa những truyện kể ở “ngôi thứ nhất” và “ngôi thứ ba” tiến hành ở bên trong đặc điểm nhân xưng của mọi diễn ngôn, tùy theo mối quan hệ (hiện diện hoặc vắng bóng) của người kể chuyện trong câu chuyện anh ta kể, “ngôi thứ nhất” chỉ ra sự hiện diện của người kể chuyện với tư cách nhân vật được nêu tên, “ngôi thứ ba” là sự vắng bóng của nhân vật [82; tr 19]

Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “tôi” được xem là một nhân vật trong truyện, là người chủ động thực hiện nhiệm vụ dẫn chuyện, là người bình luận từ bên trong, đồng

thời cũng là người tham gia sự việc đang diễn ra Chủ thể trần thuật là một trong các nhân

vật và sự trần thuật được tiến hành từ điểm nhìn của nhân vật này Đặc điểm nổi bật của

phương thức trần thuật này là người trần thuật xuất hiện như một con người thực hiện

hữu trong thế giới mà các nhân vật đang hoạt động [27; tr202]

“Tôi” - chủ thể kể chuyện có thể tự đứng ra kể chuyện mình, kể chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân vật Nội dung kể, trần thuật không ngoài phạm vi hiểu biết của một người, thường gắn với quan điểm đánh giá riêng của nhân vật

ấy Vì vậy, kiểu trần thuật với ngôi thứ nhất xưng “tôi” là kiểu trần thuật chủ quan hoá

Chủ thể trần thuật được cá thể hoá Do tính chất hướng nội của nhân vật nên điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết đều hướng nội

Trong tác phẩm tự sự, chủ thể trần thuật ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” xuất hiện với nhiều

kiểu dạng khác nhau: Người tường thuật đã được cá thể hóa, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi

một số ít: “tôi” Người tường thuật cũng là một trong các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật Người tường thuật chính là “người bình luận bên trong”, đồng thời cũng chính là người tham gia vào sự việc đang diễn ra [42; tr 165]

Trang 23

Chủ thể trần thuật xưng “tôi” ngôi thứ nhất là nhân vật chính của truyện, điểm nhìn của chủ thể trần thuật và điểm nhìn của nhân vật trùng nhau, giúp nhà văn có cơ hội và

điều kiện bày tỏ nhận thức về thế giới một cách tự nhiên, thoải mái Đây là kiểu người

tường thuật đồng thời là tác giả phát biểu trực tiếp quan điểm tư tưởng, thái độ nghệ thuật của mình về sáng tác văn học, thường là chính tác phẩm mà người đọc đang đọc

[42; tr 194]

Chủ thể trần thuật đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện, chủ thể kể chuyện không tham gia vào biến cố của truyện, giữa người trần thuật và câu chuyện luôn có một khoảng cách cần thiết để tạo ấn tượng về sự khách quan Người kể không được miêu tả cụ thể Người kể

chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm một người trung gian tưởng

tượng ra giùm độc giả và cái được mô tả [42; tr 182] Anh ta chỉ song song đồng hành với nhân vật chính, cố giấu mình hết sức, ít bình luận, đôi khi nhập vào đời sống nhân vật

để suy tưởng…, lúc này câu chuyện được kể mang tính khách quan

Chủ thể trần thuật xưng “tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó chủ thể kể chuyện vừa là người dẫn chuyện vừa là nhân vật thì cái “tôi” của người kể có mức độ cá thể hoá cao Kiểu người xưng “tôi” này không được cá thể hóa sâu sắc bằng kiểu xưng “tôi” tự

kể chuyện mình Nhưng so với kiểu xưng “tôi” đóng vai trò người dẫn chuyện, thì kiểu này có mức độ cá thể hóa nhiều hơn, bởi vì người kể chuyện cũng đồng thời là một trong những nhân vật của truyện [42; tr 188] Chủ thể kể chuyện xuất hiện trực tiếp và tiến hành trần thuật lại các sự kiện, biến cố theo cái nhìn và tình cảm chủ quan của mình Tác giả nhập vào chủ thể “tôi” với vai trò người dẫn, vừa đóng vai nhân vật xuất hiện cùng với các nhân vật khác trong truyện, vừa tham gia nói chuyện với các nhân vật của truyện, tạo được sức linh hoạt trong quá trình phản ánh và chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn, đồng thời trao quyền lựa chọn, suy nghĩ, phán đoán, đồng cảm nhận và cũng tham gia nhận xét, bình luận với tác giả

Với việc chuyển giao nhiệm vụ trần thuật cho nhân vật, khoảng cách giữa chủ thể trần thuật và câu chuyện được thu hẹp tối đa Người trần thuật không chỉ là chủ thể kể mà còn

là một nhân vật trong truyện Đây là một đặc điểm để tạo cảm giác về sự chân thực về câu chuyện được kể Mặt khác, nó còn thể hiện rõ nét những dấu ấn chủ quan của người

kể qua việc biểu hiện thái độ, tình cảm

Chủ thể kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” là một yếu tố làm cho tác phẩm tự sự trở nên đa thanh, giàu giọng điệu, vì lời văn trần thuật xuất hiện vừa có chiều sâu vừa linh

Trang 24

hoạt về giọng điệu, với bất kì tư cách nào, chủ thể trần thuật là người chứng kiến và kể lại câu chuyện hay là nhân vật tham gia trực tiếp vào sự kiện, tình tiết thì chủ thể trần thuật

có sự nhìn nhận khách quan qua lời bình luận, trữ tình ngoại đề, có khi chủ thể trần thuật xâm nhập vào đời sống tâm lý của nhân vật khác để phát biểu và bày tỏ thông qua lời trần thuật gián tiếp: gián tiếp một giọng hoặc gián tiếp hai giọng Ở đây, vừa tồn tại song song

hai lời: lời nhân vật chính đồng thời ẩn chứa lời chủ thể trần thuật

Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi mạn phép không đi sâu vào tìm hiểu

về lý thuyết chủ thể trần thuật ở ngôi thứ hai Chủ thể kể chuyện là ngôi thứ hai xưng

“anh” cũng mang cái “tôi” của người kể, song với ngôi thứ hai, nó tạo ra một không gian gián cách: một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra, chứ không phải tự kể như ngôi thứ

nhất, mặc dù khi đọc, người đọc nhanh chóng hiểu ngay “anh ấy” ra cái “tôi”

Trong ba hình thức trần thuật chủ yếu của loại hình nghệ thuật, không có hình thức nào quan trọng hơn cả Tất cả đều cùng góp phần tạo nên sức sống mới, sự đa dạng, phong phú, linh hoạt trong quá trình trần thuật của tác phẩm tự sự nói chung cũng như khẳng định tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhà nghệ sĩ

1.2 Ch ủ thể trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguy ễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh

Bảng khảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài

tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ của Phạm Thị Hoài)

STT Tác phẩm

Chủ thể trần thuật

Ng ôi thứ III Ngôi thứ I

Điểm nhìn hướng ngoại

Điểm nhìn hướng nội

Nhân chứng

Nhân vật chính

Hỗn hợp

Trang 25

6 Người suy tư x

Điểm nhìn hướng ngoại

Điểm nhìn hướng nội

Nhân chứng

Nhân vật chính

Hỗn hợp

Trang 26

14 Người đi tìm giấc mơ x

Bảng khảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài

tình yêu của Phan Thị Vàng Anh (trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của

Phan Thị Vàng Anh)

STT Tác phẩm

Chủ thể trần thuật Ngôi thứ III Ngôi thứ I

Điểm nhìn hướng ngoại

Điểm nhìn hướng nội

Nhân chứng

Nhân vật chính

Hỗn hợp

Trang 27

1.2.1 Ch ủ thể trần thuật ngôi thứ ba – khách quan - chủ quan hóa trong truyện

ng ắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn

Văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 có nhiều đổi mới đáng kể Mọi vấn đề trong đời sống vật chất và tinh thần của con người được khám phá, đào sâu một cách tinh tế và giàu sức thuyết phục Hàng loạt đề tài tuy không mới so với các giai đoạn trước như đề tài đạo đức – thế sự, đề tài tình yêu, đề tài chiến tranh và hậu chiến nhưng cái mới và độc đáo ở đây là cách thức xử lí đối tượng, cách thể hiện và làm chủ được ngòi bút của chính tác giả

Đề tài tình yêu của ba ngòi bút Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh mang nhiều nét riêng, mãnh liệt, dạt dào, sâu lắng với những lầm lạc và ngộ nhận, với sự lựa chọn giữa những cái có thể và nhiều điều bất khả…

Bằng phép thử ngọt ngào hoặc cay đắng, với ngôi kể phù hợp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh khiến chúng ta không ít lần bắt gặp được cái “tôi” chính mình: những khát khao cháy bỏng, những hoài bão lớn lao, nhiều ham muốn đời thường, sự giằng co giữa tình cảm và lí trí, điều băn khoăn và khó nói, khó bày tỏ trong thế giới muôn màu và nhiều cám dỗ của tình yêu

Trong các truyện ngắn được khảo sát của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, phương thức trần thuật ở ngôi thứ ba với điểm nhìn hướng ngoại chiếm tỉ

lệ rất ít, hầu như không có (khảo sát có giới hạn) (Phạm Thị Hoài: 0/13 tác phẩm; Nguyễn Thị Thu Huệ: 1/31 tác phẩm; Phan Thị Vàng Anh: 1/9 tác phẩm) Chủ yếu ba nhà văn nữ tập trung hóa thân vào vai kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn hướng nội và ngôi thứ nhất xưng “tôi”

Trang 28

Phương thức trần thuật ở ngôi thứ ba với điểm nhìn hướng nội giúp Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh linh hoạt hơn trong điểm nhìn trần thuật, vừa

kể chuyện một cách khách quan, cởi mở vừa từng bước đi sâu vào khám phá nội tâm nhân vật tự nhiên nhưng tinh tế và sắc sảo Phương thức trần thuật ngôi thứ ba vô nhân xưng vô nhân xưng có sự hòa trộn giữa tính khách quan và chủ quan làm câu chuyện trở nên sinh động và giàu tính thuyết phục

Nếu như Phạm Thị Hoài lựa chọn phương thức trần thuật ngôi thứ ba vô nhân xưng với điểm nhìn hướng nội làm chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm viết về đề tài tình yêu (9/13 truyện) thì Phan Thị Vàng Anh không chọn lựa nó làm ưu tiên hàng đầu (1/9 truyện) (khảo sát có giới hạn)

Hình tượng người kể chuyện Phạm Thị Hoài trong các truyện ngắn là người đứng sau hậu trường và hiện diện trong câu chuyện lúc cần thiết để kể và cùng cảm nhận với nhân vật, đọc được trạng thái tâm hồn nhân vật khi lạc lối vào thiên đường tình yêu

Truyện Người đàn bà với hai con chó nhỏ là mối tình vụng trộm giữa nhà văn Ng và

nữ họa sĩ Thu Trang đẹp mặn mà và sắc sảo ở cái tuổi ba mươi Hình tượng người kể chuyện nhập tâm vào nhà văn Ng., xoáy sâu vào suy nghĩ, cảm xúc của anh về tình yêu,

về cuộc sống hiện tại Sự giằng co giữa lí trí và tình cảm của nhà văn Ng được Phạm Thị

Hoài bộc bạch chân thành và thực tế Đối với anh, ngoài hai đứa con – người ta có thể

chia đôi – không có gì giữ anh lại với người đàn bà mệt mỏi và cam chịu, [32; tr 21] bây

giờ, xung quanh anh chỉ có thể là hình bóng của người phụ nữ Thu Trang xinh đẹp, thông

minh, nhạy cảm, và khát khao tình yêu trên bãi biển mùa hè [32; tr 21]

Nhưng có lúc anh lạnh lùng đặt vợ bên cạnh nữ họa sĩ để so sánh, để ghét để yêu Có

lúc anh cho mình quá phũ phàng cay đắng với vợ, người đàn bà suốt đời cúi mình bên

những chiếc áo cánh hàng chợ, lúc cổ lá sen, lúc cổ tàu rồi lại cổ tàu, cổ lá sen kia [32;

tr 21] Có lúc lại ngạc nhiên vì thấy mình ghê tởm quá và thương hại vợ biết bao vì những

khi chị khóc thút thít trên ngực anh Anh dành cho vợ thái độ thông cảm, bao dung, gần

như dịu dàng [32; tr 22] Có lúc anh tự bào chữa về chuyện ngoại tình, về nỗi đam mê

tình yêu với nữ họa sĩ Thu Trang vì anh cho là tình yêu chân chính…

Dõi theo người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt nhưng không tạo

cảm giác gián đoạn đối với người đọc Có khi Phạm Thị Hoài sục sâu vào nội tâm nhân

vật Ng để hiểu và chia sẻ cùng anh, có khi đứng bên ngoài cuộc tình để soi rọi một cách

khách quan bằng lời trần thuật gián tiếp hai giọng Suy ra, anh có những lý do xác đáng

Trang 29

để ngắm nhìn hai con chó bông và nữ chủ nhân bằng ánh mắt mơn trớn, ngưỡng mộ kín đáo [32; tr 18] (vì anh luôn tự xếp mình vào loại tín đồ của chủ nghĩa duy mỹ, đam mê

cái đẹp) Và họ gần nhau hơn, yêu nhau trong niềm đam mê cuống quít, chưa bao giờ -

và anh ngờ chẳng bao giờ nữa – cả hai lại có cảm giác dâng hiến trao tặng đê mê dịu ngọt đến thế Đây chính là người đàn bà suốt đời anh hằng mơ ước [32; tr 23]

Họ không muốn biết, họ không cần biết, họ kiên trì đương đầu với những linh cảm về nhau, phải, thuần túy linh cảm, thước đo tinh lọc của trái tim, và thấy lòng thanh thản trong niềm mong đợi chân thành và cao quý của những kẻ biết mình đang chơi và phải chơi đến đồng xu cuối cùng trong canh bạc đầy run rủi của cuộc đời [32; tr 20]

Phạm Thị Hoài mở toang cánh cửa tình yêu bên trong họ Lúc này, khoảng cách của người kể chuyện và nhân vật có khi hòa trộn, có khi tách bạch Phạm Thị Hoài xâm nhập vào cảm giác bồi hồi, run run, rạo rực, đê mê, yếu đuối về lí trí của hai nhân vật khi họ gặp gỡ, yêu nhau trên ghế đá, trong khách sạn, đồng thời vừa nhẹ nhàng và tỉnh táo phân tích nguyên nhân vì sao họ đến với nhau, những lầm lạc và nhận chân được vấn đề và cuộc sống

Hai con người - hai trái tim đang yêu không thể nào sống cô độc giữa đời Họ cần công việc, cần các mối quan hệ, cần hòa nhập vào không gian cộng đồng - nó thực sự là chất keo nuôi dưỡng tình yêu

Niềm đam mê trong tình cảm, sự tỉnh táo về lí trí của nhân vật được Phạm Thị Hoài

thể hiện qua hình tượng người kể chuyện trong truyện ngắn Người đàn bà với hai con

chó nhỏ, anh ta chủ yếu hòa nhập vào dòng suy ngẫm của nhà văn Ng để chiêm nghiệm

và tự quyết định cho số phận tình yêu của nhân vật

Vấn đề tình yêu không phải là đề tài mới mẻ trong văn học xưa nay Với cách khai thác của tác giả Phạm Thị Hoài, diện mạo tình yêu trở nên lạ lẫm mà gần gũi, quen thuộc

và hấp dẫn Lạ lẫm, hấp dẫn trong lối kể, lối trần thuật – tạo được độ sâu, độ nhấn, quen thuộc vì người đọc vẫn đâu đó bắt gặp số phận, bi kịch tình yêu – hôn nhân – gia đình trên trang văn như chính cuộc sống đời thường

Người đàn bà và hai con chó nhỏ là cuộc tình ngoài chồng, ngoài vợ và Hai mươi năm sau là khát khao về sự giao hòa cả thể xác và tâm hồn trong tình yêu

Các tác phẩm Mê lộ, Vệt son, Người suy tư, Hành trình của những con số là những

dòng phiêu lưu của tác giả Phạm Thị Hoài về tình yêu, về cuộc đời, về những cảnh ngộ Hình tượng người kể chuyện lúc ấy vừa có vai trò dẫn dắt câu chuyện, vừa gửi đến người

Trang 30

đọc bức thông điệp về tình yêu trong nỗi cô đơn, về sự chán chường, mất niềm tin, và tuyệt vọng của con người trong thế giới loài người Câu chuyện không có kết cấu bình thường, không mở đầu và kết thúc, mà đó là những dòng suy tư chiêm nghiệm, sự việc,

sự kiện nối tiếp nhau, ngôn từ dồn dập, bức bối như muốn phá tung cái không gian cá nhân tù túng và ngột ngạt Áp lực cuộc sống, nhu cầu bản thân, khát vọng thuần túy của con người không thể thỏa hiệp, chan hòa trong một cái “tôi” và thế là những cái mầm

“tôi” khác trong một cái “tôi” lớn ấy lớn dần, lớn dần, cuối cùng vỡ òa trong dòng ngôn

xuất hiện Người thứ hai xuất hiện không ai khác hơn là chính anh, một cái “tôi” khác anh, đang phân thân, đang đối thoại, đang soi rọi vào trong anh để hiểu được chính mình muốn gì, cần gì, và sẽ làm gì trong khoảng thời gian nhạt nhẽo, tầm thường này

Hai mặt, hai tâm hồn, hai tính cách trong một con người đang tồn tại song hành, đối diện để khiêu khích, để bộc lộ, để khẳng định chính mình trong cuộc sống Hình tượng người kể chuyện xâm nhập vào nhân vật chính, đóng vai cả hai mảnh tâm hồn, anh ta theo dòng ý thức và tâm trạng cô độc của nhân vật, mô tả tỉ mỉ từng cử chỉ, điệu bộ, thói quen như một sự lắp ráp có chủ ý các hình ảnh để tạo hình tượng trong điện ảnh:

Người kia có một thói quen khủng khiếp, hắn rung đùi Tần số dao động của cặp đùi hắn khiến anh chóng mặt, buồn nôn, thần kinh rối loạn Suốt ngày, anh có cảm giác như ngồi trên tàu Đêm đến, anh rơi vào giấc ngủ chao đảo, đu đưa, đầy rẫy những cặp đùi rung rinh đú đởn [32; tr 50]

Về phần mình, anh hỉ mũi Người kia thấy đầu đau nhức, tai choáng ù và hoạt động tâm sinh lý mất ổn định Cứ nằm xuống giường là hắn mơ thấy những chiếc mũi đỏ lửng nhấp nhô trên từng đống khăn mùi xoa, như những đụn mây nhàu nát, cáu bẩn, với hàng tràng sấm trái mùa [32; tr 50]

Trang 31

Người này soi vào người kia, người kia thấu hiểu người này để thấy được cái xấu xí, đen đủi, cái tự đắc tựu trung trong “một con người” muốn thỏa mãn, muốn khám phá chính bản thân mình Đó là những ngày dài buồn chán trong phòng làm việc, thời gian

trôi qua tẻ nhạt với những tờ báo vô hồn, là những trò đùa, thú vui gượng gạo (một con

gián chết – một con chuột chết – một chiếc vòng cao su tránh thai dùng dở - một con rết)

Cho đến khi đối tượng mà hai cái “tôi” ấy nhắm đến là cô đánh máy Người kể chuyện với điểm nhìn hướng nội dẫn người đọc đến từng diễn biến tâm trạng của anh Cô gái thay đổi là lúc anh kinh hoàng, thắc thỏm, bất lực… Anh phân thân, anh giằng co, anh tự chế giễu, anh thương hại, anh đắc thắng để rồi anh vẫn cô đơn, muốn đi tìm mãi cái đích đến, cái mong muốn mà mình vẫn không xác định

Dõi mắt theo suốt tác phẩm Vệt son, độc giả bắt gặp nhiều cụm từ: Cho đến khi… như

gián tiếp khắc họa cái ngưng đọng đầy tù túng của thời gian, thời gian trong truyện tuy không được bộc lộ rõ nhưng thông qua hành động và suy nghĩ của nhân vật, thời gian không phải là khoảnh khắc mà nó dài đằng đẵng trong nỗi trông chờ qua mau của nhân vật để bắt gặp được điều gì đó mới mẻ hơn, hay một phát hiện thú vị hơn

Bế tắc trong tư tưởng, trong lối sống, trong tình yêu càng được thể hiện rõ ở truyện

ngắn Người suy tư Người suy tư được chủ thể trần thuật xây dựng khá độc đáo Anh là một người thích nghĩ đến mình và nghĩ đến người Hai việc này choán ngợp cuộc sống

của anh ta, khiến tất cả những gì không liên quan đều bị thui chột [32; tr 68] Anh là kiểu

người bất cần đời, chẳng tin vào cuộc sống, sống thụ động và bi quan Phương thức tồn

tại của anh ta là nghĩ đến mình và nghĩ đến người Đấy là hạnh phúc duy nhất và thực sự của anh ta [32; tr 69]

Với anh, tình yêu và cuộc sống chỉ là phép thử trên hành trình khám phá chính bản

thân mình một cách thụ động “Em chỉ biết nghĩ đến anh” Nhận đúng tín hiệu, trái tim

anh ta, cái yếu tố khó tính và khó lường bậc nhất ấy, nhảy lên, rồi đứng lặng vài giây, say sưa trong niềm thỏa mãn tột đỉnh Té ta trên đời vẫn còn tình yêu chân chính

Người kể chuyện không xuất hiện, không bình luận, lúc bấy giờ chỉ đứng sau hậu

trường để ghi nhận và kể lại giấc mơ ghế bành cao sang của nhân vật Nếu như ở Vệt son,

Phạm Thị Hoài miêu tả cái nội tâm vô cảm, chán chường của con người thì ở truyện ngắn

Người suy tư, tác giả cũng sục sâu vào nội tâm nhân vật, là người biết hết, hiểu hết người suy tư – người đang ảo tưởng về giấc mơ ghế bành, về tình yêu chân chính, người có khát

Trang 32

vọng vươn tới đỉnh cao nhưng không lao động và khám phá, cuối cùng lại bất lực, mâu thuẫn với chính mình, không hiểu ngay cả chính bản thân mình

Đa số hệ thống nhân vật trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài sống trong thế giới nội tâm của họ và hướng cái nhìn của mình ra bên ngoài xã hội, cộng đồng để bộc bạch, thể hiện

(9/13 truyện trong tập Mê lộ, trong đó Người suy tư, Mê lộ, Khách, Một cái gì, Hành

tr ình của những con số là cụ thể nhất) Lúc đó, người kể chuyện ở ngôi thứ ba vô nhân

xưng sục sâu vào tâm tư, tình cảm, nghĩ suy của nhân vật để trần thuật Nhân vật đặc

biệt, suy nghĩ càng phức tạp, cách thể hiện của Phạm Thị Hoài trong lời trần thuật càng bộc lộ rõ phong cách và năng lực

Truyện ngắn Mê lộ có bố cục 3 phần Phần 1: Đối thoại, Phần 2: Họp mặt, Phần 3: Hai

người Mỗi phần là mỗi cảnh, mỗi tình huống và hiệu ứng của lời nói, nhằm mục đích

minh chứng cho câu nói được Phạm Thị Hoài ghi nhận ở đầu tác phẩm: Lời nói – Chỉ là

chiếc vỏ trứng của im lặng (Thơ của F.), đặc biệt ở cảnh 1 và cảnh 2

Cảnh 1 miêu tả cuộc đối thoại, giao tiếp giữa hai người Phạm Thị Hoài tận dụng ưu thế của người trần thuật ngôi thứ ba với điểm nhìn hướng nội, khai thác đồng thời diễn biến tâm trạng hai nhân vật một cách tinh tế với từng hành vi, cử chỉ và suy nghĩ Rõ

ràng, lúc này, trang viết của Phạm Thị Hoài như những cuộn phim quay chậm

Thế nào?”, ánh mắt người này vò sột soạt những tờ giấy trong tay người kia Người kia bắt đầu nói Tất cả những gì anh biết Lúc này, anh phải nghĩ, phải xếp từng lời vào từng lời một, lập tức cái cơ thể khó bảo của anh co lại, không phát ra dấu hiệu nào nữa Chỉ còn nói và nói, đều đều, tắt nghẽn, rồi lại đều đều, thận trọng, gần như xúc phạm Người này rót lời vào khuôn mặt đầy thận trọng của người kia Không vội vã Không Mà bình t ĩnh trầm ngâm Nhưng khuôn mặt kia làm sao háo hức được Đôi mắt anh dõi theo các lời nói, so sánh, thử thách, kiểm nghiệm A, thế là tóm được rồi, tóm được chút xíu nào đó lắng thành một âm thanh mờ đục rồi Không, không thể dễ dàng bỏ qua Đằng sau cái âm thành khốn nạn ấy nhất định còn đầy những mắc mớ khác Mau, hỏi ngay, kẻo lại bị những từ ngữ mới che lấp [32; tr 25]

Những lời độc thoại nội tâm của hai nhân vật chen lẫn nhau, ai ai cũng cố gắng hết sức xem xét, đánh giá và nhìn nhận thái độ của đối phương và bày tỏ quan điểm, tâm tư của bản thân để người kia có thể thấu hiểu; tạo điều kiện, cơ hội cho hai người gần gụi nhau hơn Hai người đối diện nhau trong căn phòng và sự việc ngày càng căng thẳng, lên đỉnh điểm nhưng vẫn không giải quyết được Dường như mỗi người đều ngự trị đơn độc một

Trang 33

thế giới và cố dẫn dắt người kia vào thế giới của riêng mình Song hai mảnh tâm hồn con người chưa hẳn tìm gặp nhau

Đến cảnh 3, người trần thuật biến hóa khôn lường, anh đóng vai cả hai “khuôn mặt” của cô gái, có lúc là “khuôn mặt” khắt khe, lạnh giá, có lúc là “khuôn mặt” cam chịu trong tình yêu

Có một giọng sâu tít trong cô thì thầm: “Vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa!” Hắn khe khắt, cái giọng nói ấy Anh không nghe thấy hắn Còn hắn chẳng để mắt đến tới anh Anh lồng lộn quanh cô, còn hắn bảo: “Chàng trai, đừng ngớ ngẩn thế, chẳng đi đến đâu cả” Anh vẫn lồng lộn quanh cô, còn cô thì hài lòng, tưởng đã nói với anh một điều đáng kể Chừng nào hắn còn thầm thì, cô còn tin cậy mình [32; tr 34]

Dường như họ không hợp nhau và sự im lặng như là câu trả lời của tình yêu Anh cố gợi chuyện, song trong cô bao giờ cũng có một giọng nói khác, không phải của chính cô, đáp trả với anh bằng giọng điệu chế nhạo, thờ ơ, bàng quan, hững hờ và lãnh đạm mà anh không hề hay biết

Hai “khuôn mặt” này là hai trạng thái tâm hồn khác nhau của cô gái khi đối thoại với chồng, chúng luôn mâu thuẫn nhau, nhân vật “hắn” ở bên trong cô còn nói, còn khắt khe

là còn yêu, còn quan tâm, còn cảm xúc Cho đến khi “hắn” cũng im lặng có nghĩa tình yêu cũng đặt dấu chấm hết Tác giả cho nhân vật phân thân, đồng thời giúp hình tượng người kể chuyện hóa thân vào nhân vật một cách tự nhiên, giàu yếu tố tâm lý, đầy vẻ mới

mẻ và sinh động Người kể chuyện trong truyện ngắn Mê lộ vừa có vai trò dẫn dắt câu

chuyện, vừa đi sâu vào khám phá nội tâm nhân vật, rất linh hoạt khiến câu chuyện trở nên

giàu giọng điệu

Mê lộ là ba mẫu chuyện hoàn toàn tách biệt nhau Mỗi câu chuyện đều được Phạm Thị

Hoài khai thác tối đa tình huống và giá trị của lời nói Ba phân cảnh trong cùng một câu chuyện, người đọc không khỏi phân vân về ý đồ của tác giả trong việc nối kết các câu

chuyện lại với nhau, có thể hiểu rằng cảnh 3: Hai người là một trong những cảnh đắt giá,

cho người đọc cảm nhận được rằng trong tình yêu, đôi khi không cần lời nói, nhưng những người đang yêu vẫn có thể thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm của người bạn đời Cũng có đôi khi, lời nói thốt ra thật nhiều mà vẫn không thể gặp nhau nơi tâm hồn Chàng trai và cô gái thật sự không hạnh phúc trong tình yêu vì từ tổn thương, đến mệt mỏi, và im lặng là cả khoảng thời gian đấu tranh mong tìm một sự hòa hợp Im lặng như

Trang 34

một lời tự thú chối bỏ tình yêu Im lặng như một lời khẳng định của sự tuyệt tình Im lặng

vì không còn gì để nói, để chia sẻ, để đồng cảm, để thương yêu

Lời nói – Chỉ là chiếc vỏ trứng của im lặng (Thơ của F.) Lời nói mỏng manh, dễ vỡ

như chính tâm hồn con người vậy Giữa lời nói và sự im lặng của tâm hồn có ranh giới là

sự tổn thương Tình yêu nhạy cảm, tâm hồn con người càng nhạy cảm, lời nói càng phải

tinh tế, và phải được nâng niu mới đem lại hạnh phúc thực sự cho người đang yêu

Hành trình của những con số giống như một mê cung, mê lộ, chỉ có lối vào và người

đọc không tìm được lối ra hay thông điệp của tác giả Con người có kiếp sống vô hồn như những con số, sống thác loạn, sống không có mục đích, sống hoài, sống phí, sống vô cảm

và lạnh lùng là những gì Phạm Thị Hoài muốn chia sẻ Người kể chuyện đặc biệt lúc này cũng không đưa ra bất cứ lời bình luận, ngoại đề trữ tình nào, chỉ đơn thuần làm người trần thuật khiến câu chuyện như những dòng thác ngôn từ từ dòng suy nghĩ của nhân vật chẳng có điểm dừng và kết thúc

Cụm truyện Mê lộ, Hành trình của những con số, Khách, Người suy tư, Một cái gì đôi

lần khiến người đọc khó hiểu, khó thẩm thấu như chính nhân vật trong tác phẩm cũng không hiểu nổi bản thân họ Tác giả Phạm Thị Hoài đã cho nhân vật phân thân, tự độc thoại với chính mình như là một nhu cầu bức bách tìm lối thoát vì bế tắc trong cuộc sống,

ức chế về tình cảm, cảm xúc Lúc này, hình tượng người kể chuyện xuất hiện và thực hiện thiên chức của mình, làm sắc sảo vai trò của phương thức trần thuật khách quan – chủ quan hóa Và dường như con người trong truyện càng khao khát muốn đặt chân về đích, để nhận chân ra chân lý, để thuyết phục mình thì họ càng dấn thân vào nỗi hoang mang và hoảng loạn

Truyện Khách kể về cuộc trò chuyện giữa cô gái với vị khách không mời mà đến, tên

là Cô Đơn Cô Đơn cho cô biết tất cả sự thật về cô: cuộc sống, quan niệm, sở thích, suy

nghĩ… Ngay cả cách nghĩ mà cô giấu kín hay luôn tự dối lòng mình: Thứ nhất, đó là vấn

đề cách nhìn Thứ hai tôi cam đoan rằng cô đã chán ngấy những trò tẻ nhạt ấy, nhưng không dám thay đổi, chỉ vì sợ, biết đâu cái đến sau còn tồi tệ hơn Hệt như anh chồng chưa cưới, cô biết rõ hôn nhân là hành hạ nhau một cách hợp thức, nhưng còn hơn phải đối mặt với những điều mà cô e sợ: đối mặt với tôi Thì đây, cô nhìn kỹ đi, trông tôi đâu đến nỗi nào [32; tr 111]

Cô Đơn phanh phui sự ngộ nhận, niềm đam mê, sự hy sinh trong tình yêu nơi cô gái,

và vị hôn phu mà cô yêu quí không xem tình yêu là tất cả cuộc đời, hắn có thể sẽ khuây

Trang 35

khỏa bằng bóng đá, hai bữa cơm một chầu rượu, và chức trưởng phòng cuối đường công danh [32; tr 114]

Cô Đơn trong truyện thực chất là cô gái Tác giả Phạm Thị Hoài đã chạm vào vấn đề tâm linh của con người Chủ thể trần thuật hóa thân vào cô gái và Cô Đơn để thấy rõ sự tra vấn của chính bản thân nhân vật Thất vọng trong tình yêu, bất trắc trong cuộc sống bất chợt thường khiến con người tự soi vào mình, hai mặt ấy đối diện nhau, như một sự giằng co giữa lí trí và tình cảm, để thuyết phục bản thân Cô gái trong truyện vì thế không khỏi hoang mang cho số phận của tình yêu (vì thực tế cô đã thấy những biểu hiện tình yêu nhạt nhòa của vị hôn phu nhưng đã dối lòng không muốn nhận ra hay chưa kịp nhận ra!?)

Ở Khách, cô gái tỏ vẻ lo lắng, hoài nghi khi đặt niềm tin vào tình yêu của mình thì ở truyện ngắn Một cái gì, người đọc thấy được sự bất đồng trong cách biểu hiện tình yêu

nơi nhân vật…

Thực sự giữa cô gái và chàng trai không có sự giao hòa Trong khi anh trìu mến thể hiện tình yêu của mình bằng giọng ngọt ngào, trầm ấm, như rót mật vào tay nàng thì nàng

không nghĩ đó là chân tình: Thế nào cũng được, nhưng đừng mềm mại, đừng dịu dàng,

đừng bao dung, đừng cam chịu, đừng giả trá thế… [32; tr 117]

Cô cau có, cô giận dữ, cô bực tức, cô muốn nổ tung vì thất vọng, vì hụt hẫng, vì nhàm

chán những gì anh dành cho cô Còn nơi anh, vì quá yêu cô, nên anh không có quyền hét,

hay nổ tung lên, vì sáng nào ngực anh cũng nhói lên một chút, sáng nào cũng nhói đấy, phía con tim, khi em xuất hiện [32; tr 118]

Khách và Một cái gì, hai câu chuyện đều diễn ra trong cuộc đối thoại ngắn giữa Cô

Đơn và cô gái; giữa đôi tình nhân Hình tượng người kể chuyện không lộ diện mà đứng sau sân khấu để trần thuật, có vẻ nhạt nhòa vì văn bản thiên về kịch bản Đây là một làn gió mới mà Phạm Thị Hoài mang đến trong văn học về hình thức và cách thể hiện Không cần lời bình luận, ngoại đề trữ tình, tác giả đã thành công khi truyền tải chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

Trước 1975, đề tài tình yêu được đề cập nhưng chủ yếu khai thác nỗi đau, bi kịch của con người bị kềm kẹp bởi quan niệm xã hội, chuẩn mực đạo đức… Sau 1975, vấn đề tình yêu được mở theo thiên hướng mới, cái “tôi” cá nhân được đề cao Họ làm chủ bản thân trong từng suy nghĩ và hành động Họ tự nhận diện ra chính mình, nhận diện tình yêu giữa xã hội nhộn nhịp, xô bồ; hay có thái độ phản kháng, bất hòa

Trang 36

Hai mươi năm sau là một ví dụ tiêu biểu Người kể chuyện là một người trải đời, song

hành cùng cảm nhận của hai nhân vật để cảm thức được sự bền bỉ và nhạy cảm của tình yêu – một thứ tình cảm sâu lắng và thiêng liêng

Với điểm nhìn hướng nội, Phạm Thị Hoài cho người đọc thấy được khát khao, thèm muốn yêu thương nơi nhân vật; những bất lực bởi không đủ khả năng níu kéo bước đi của thời gian:

Anh nhắm mắt, biết chị cũng làm như vậy, nhưng vừa không tìm được cảm giác gần gũi và tin cậy của những kẻ thuộc về nhau và ác nỗi, vừa không có cả cảm giác mới lạ đầy hấp dẫn của những cuộc phiêu lưu tình ái ngắn ngủi Đúng lúc anh bắt đầu quy sự bất lực rất không đúng chỗ của mình cho dư vị khó chịu của món cá thì chị ngồi dậy, tựa vào đầu giường: “Đừng cố gắng nữa anh Tội nghiệp” [32; tr 136] Tình yêu về già là tình yêu cần sự hiện diện Họ không thể nào thay đổi được quy luật của tự nhiên

Với điểm nhìn hướng nội trong lời trần thuật ngôi thứ ba vô nhân xưng, người đọc vừa cảm nhận được nội tâm nhân vật, vừa thấu đáo được thái độ và quan điểm của Phạm Thị Hoài trong cuộc sống và tình yêu Có khi Phạm Thị Hoài tách bạch khỏi nhân vật để trần thuật, có khi sục sâu vào thế giới tình cảm của họ để giãy bày, điểm nhìn trần thuật linh hoạt, giọng văn càng sinh động và có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc hơn

Trải lòng cùng trang văn của nữ sĩ Phạm Thị Hoài, hầu như câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba vô nhân xưng, người kể chuyện theo sát từng cử chỉ, hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật làm bật lên đời sống nội tâm vô cùng phong phú và phức tạp của họ

Không khác với Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ mượt mà hơn khi viết về tình yêu lứa đôi, về những đam mê – khát vọng; hạnh phúc - khổ đau; nhớ thương - thù hận… Phương thức trần thuật ngôi thứ ba vô nhân xưng với điểm nhìn hướng nội chiếm 10/31 truyện (khảo sát có giới hạn) Chỉ có ở tiêu điểm này, nhà văn mới đưa người đọc đến

những miền yêu thương trong cuộc sống đa đoan của con người, nhất là người phụ nữ

Nếu ở các truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, hình tượng người kể chuyện tỏ vẻ bàng quan, lạnh lùng, có phần khắc nghiệt với nhân vật thì với Nguyễn Thị Thu Huệ, đây cũng

là mảnh đất màu mỡ, là cơ hội để nhà văn bộc lộ trực tiếp quan điểm và thái độ của mình trên trang viết Ngoài lời dẫn chuyện, lời bình luận của chủ thể trần thuật về tình yêu, về nhân sinh được thể hiện vừa kín đáo vừa sâu sắc

Tân cảng khơi nguồn cảm xúc nơi người đọc bởi khát vọng yêu đương thôi thúc từ tận

sâu nơi con tim người đàn bà thiếu vắng sự ấm áp, chở che: Vô thức nói Vô thức cười

Trang 37

Vô thức thấy lòng chộn rộn Vô thức thấy rạo rực đôi môi Và tim vô thức đập nhanh Mọi thứ đều vô thức Chắc tại mọi thứ không vô thức là bản năng đàn bà khao khát trỗi dậy bên trong Gặp rượu vô thức Gặp trời Hà Nội se lạnh vô thức Gặp những động chạm thân xác vô thức Nó bỗng thành ý thức đánh thức chị dậy Đến khi còn chị và người đàn ông đó, mọi thứ như nổ tung ra [32; tr 11] Cái bản năng vô thức ấy trỗi dậy

nơi chị, điều khiển chị Trong vô thức Chị ngã vào vòng tay người đàn ông đó, như mảnh đất khô cằn tưới mát bởi trận mưa rào

Cảm giác thăng hoa ấy càng khắc họa sâu hơn nỗi cô đơn, buồn tủi của chị qua tiếng

thở dài, qua lời độc thoại nội tâm đầy vẻ cam chịu: Sẽ quen Người trần thuật đã phơi bày

mặt trái của cuộc sống gia đình, xã hội Anh trao quyền lựa chọn cho người đọc, đồng

tình hay phản bác là ở cách suy nghĩ của mỗi người Cái hay ở Tân cảng là ở chỗ người

trần thuật hòa vào tâm trạng nhân vật, chủ thể trần thuật như đang ở vị trí của chị - một người vợ và một người mẹ nên dễ dàng đưa người đọc đi từ nỗi khát khao đến kiềm nén, sau đó từ bản năng được đánh thức đến vỡ òa Chúng ta thấy được mặc dù giữa ý thức và

bản năng của người đàn bà ấy là sẽ quen nhưng không ai có thể giải thích được cái khát

khao đầy tính người ấy

Ở truyện ngắn khác - Xin hãy tin em là mảnh vỡ tình yêu từ lối sống sai lầm của Hoài

Vấn đề tình yêu mà Thu Huệ bộc bạch với độc giả nhạy cảm và tinh tế Bằng lời nửa trực tiếp nửa gián tiếp, câu nói của cô khiến người đọc day dứt mãi về vấn đề gia đình, sự gắn

bó giữa cha mẹ và con cái: Bố mẹ ơi, sao bố mẹ không dạy con rằng mọi chuyện đều xảy

ra có một lần trong đời Cái gì qua đi không lấy lại được Sao bố mẹ chỉ nhăm nhăm gửi tiền cho con mà không ở bên con mỗi sáng mỗi chiều cho con bớt cô đơn? Học mà làm cái gì khi trong đầu con rỗng tuếch, chẳng có tý kiến thức nào ngoài sự lo toan cho cuộc sống sắp tới [32; tr 36] Một câu hỏi lớn không lời đáp nếu Hoài không thực sự thay đổi

chính mình

Hình tượng người kể chuyện không mấy khi đưa ra lời bình trực tiếp, cũng không ẩn sâu vào miêu tả sâu sắc nội tâm biến động của cô gái, chỉ đơn thuần là hoạt động trần thuật, dẫn chuyện nhưng vẫn đủ sức lôi cuốn người đọc

Truyện ngắn của Phạm Thị Hoài là tình yêu sâu lắng của Hai mươi năm sau, là thứ tình yêu đam mê, mãnh liệt, mù quáng của Người đàn bà với hai con chó nhỏ…, Thiếu

phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ là khuôn mặt khác của tình yêu trong cuộc

sống hiện đại nhiều quyến dụ và cạm bẫy Người đàn bà với hai con chó nhỏ của Phạm

Trang 38

Thị Hoài là thứ tình cảm ngoài vợ ngoài chồng, sống lãng mạn, say sưa mà bỏ quên thực

tế đời thường với chuẩn mực đạo đức xã hội, với nhiều bộn bề, và toan tính Song kết thúc một mối tình đẹp như bức tranh, tình tứ, thơ mộng như tiểu thuyết, con người đã trở

về với bổn phận của mình để sống tốt và hòa nhập với cuộc sống chung Thiếu phụ chưa

chồng được Thu Huệ kết thúc bằng sự ám ảnh về cái chết của người trong cuộc, về tình

yêu và nhục dục, về nỗi cô đơn và lòng thù hận…

Người kể chuyện đã thể hiện được nhiều khuôn mặt của cuộc đời trong tình yêu: có người vì tình yêu mà đau đớn đến chết trong tủi hờn; có người lợi dụng tình yêu của người khác để trục lợi, thỏa mãn đam mê dục vọng nhất thời; có người xem tình yêu như một thứ trò chơi giải trí xa hoa, đắt tiền Tất cả họ đều không biết rằng giá trị đích thực của cuộc sống được cảm nhận từ con tim và tình yêu cũng thế Tình yêu có ý nghĩa thiêng liêng và cao cả, nó thanh lọc, gột rửa tâm hồn con người khỏi những đam mê thấp hèn và làm lòng người thanh cao hơn

Trong truyện, nhân vật chính là My, người kể chuyện vừa là người dẫn dắt bước đi của truyện, vừa đi sâu vào khai thác nội tâm của My: từ những suy nghĩ vụn dại, ngây thơ của

cô gái quê đến sự tàn nhẫn, độc địa của người đàn bà và nỗi đau vật vã của người mẹ mất con… Đôi lúc, người kể chuyện rẽ sang nhân vật khác để triết lí về đời sống nhân sinh và giáo huấn con người trong cách đối nhân xử thế Từ đó, người đọc nhận chân được giá trị đích thực của tình yêu Chị Hảo bằng lời lẽ vừa trìu mến, vừa xót xa và chan chứa tình yêu thương dạy bảo My như một lời khuyên, một lời cảnh báo kín đáo:

Em còn trẻ nên hay nhầm lẫn bởi những ảo tưởng Chị thì khác Một lúc nào đó, em sẽ thấy mọi thứ vô nghĩa hết, chỉ có sức khỏe của mình và những người thân là quan trọng thôi Đàn ông hay đàn bà, che mặt đi, ai chẳng giống ai Đó là thể xác Họ chỉ khác nhau

ở tâm hồn Có thể do em bị xúc động nên em nhầm lẫn tình cảm Đừng cho ai biết chuyện này, người ta sẽ chửi nhà mình không có phúc Là loại động mồ động mả, em nhé – Hảo khóc nức nở [32; tr 107]

Truyện ngắn của Thu Huệ gợi mở nhiều nghịch cảnh tình yêu khó giải thích, khó nói bằng lời Những điều khó giải thích, khó nói ấy được Thu Huệ bày trên trang văn bằng ngôn từ giàu cảm xúc và niềm chân thành ở người viết khiến tác phẩm đậm đà hơi hướng cuộc sống nhân sinh

Tình yêu mãi mãi là đóa hoa làm say đắm lòng người, là những vần thơ, những trang văn không có điểm dừng và kết thúc Nếu ở lứa tuổi thanh niên, tình yêu đẹp từ những kỉ

Trang 39

niệm ngây ngô, hay nhận lấy khổ đau từ những vụn dại nhất thời thì ở độ tuổi trung niên, tình yêu đến không nhạt nhòa sắc màu, không sôi nổi, bồng bột mà tình cảm lắng sâu, dịu

nhẹ như giăng tơ trong truyện ngắn Rượu cúc, Mùa thu vàng rực rỡ

Người kể chuyện lúc này dường như không đắm mình vào nhân vật mà thể hiện cái ấn

tượng đậm đà của rượu cúc, của cô chủ quán tuổi đôi mươi, miệng xinh, với chén rượu

cúc ấm ấm, mềm mại, và đậm đà mật ngọt, như thể dòng mật đó âm thầm, triền miên chảy trong lòng đất và thấm đẫm vào những cánh rừng hoa cúc [34; tr 126]; chủ thể trần

thuật bộc lộ một tình yêu quê hương tha thiết và cái nhìn kín đáo về hạnh phúc riêng tư:

Nồng nàn người đàn bà chờ một hạnh phúc đến muộn Cái gì muộn cũng ngọt ngào, giá trị vì người ta hiểu nó hiếm hoi và khó giữ thế nào [34; tr 118]

Càng ngự trị trên cõi đời, người ta mới thấy được khát khao kiếm tìm sự đồng cảm, sẻ chia là nỗi niềm vĩnh hằng, muôn thuở Người kể chuyện mượn lời nhân vật chia sẻ cảm

nhận về tình yêu: Nhiều khi cuộc sống trôi được là nhờ cảm xúc và cảm giác [34; tr 124]

Phải nói rằng, cuộc sống thật sự có ý nghĩa khi con người có việc gì đó để làm, có ai đó

để yêu và có đôi điều để hy vọng!

Kết thúc truyện là niềm hạnh phúc của người mẹ góa và cô gái tuổi đôi mươi ngoan hiền Cốt truyện bình lặng, tình tiết đơn giản xoay quanh sinh hoạt của mẹ con cô chủ quán Chân Quê Người kể chuyện đóng vai trò là người dẫn dắt, đôi khi hóa thân vào nhân vật để suy ngẫm, cảm nhận về cuộc đời, về tình yêu

Mặc dù Rượu cúc được sáng tác với phương thức trần thuật ngôi thứ ba với điểm nhìn

hướng ngoại nhưng truyện không gây nhàm chán đối với người đọc mà trái lại có sức hấp dẫn lạ kì, và giàu tính thuyết phục về quan niệm của cuộc sống nhân sinh Nếu như ở quán Chân Quê: Chú bảo cô chỉ say khi uống cùng chú Chú cũng chỉ say khi ngồi với cô Còn uống một mình Không ai say hết [34; tr 125], thì người đọc chỉ say truyện ngắn của

Thu Huệ khi được tiếp xúc với vẻ đẹp tình yêu trong truyện ngắn này – truyện ngắn hiếm hoi viết về tình yêu ngọt ngào, bình lặng – điểm nhấn đẹp trong toàn bộ sáng tác của tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ

Trái với Rượu cúc, kết thúc của truyện ngắn Mùa thu vàng rực rỡ là một kết thúc buồn

len lỏi vào tâm hồn con người bởi xúc cảm về một thứ tình yêu chân thành của tuổi xế chiều và cả thực trạng nhốn nháo của xã hội thế kỉ XXI

Nguyễn Thị Thu Huệ cho phép người kể chuyện truyền cảm hứng cho người đọc bằng thủ pháp trần thuật có chiều sâu Với phương pháp trần thuật ngôi thứ ba, người kể

Trang 40

chuyện len lỏi vào cảm giác được yêu của người đàn bà góa ở độ ba mươi Lúc ấy, vẻ đẹp của người phụ nữ trở nên mặn mòi và đằm thắm hơn, xúc cảm của họ trở nên lắng sâu và dạt dào khát khao, một thứ xúc cảm lạ lắm:

- Chị mở mắt Xung quanh chị Trong tóc của chị Trong áo chị phảng phất mùi của một người đàn ông lạ Nó ấm áp truyền li ti trong kẽ tóc Chị rùng mình [34; tr 427]

- Bà chợt rùng mình Đấy không phải là ánh mắt, nụ cười của một người đàn ông đã sáu mươi Cũng như bà Cái rùng mình không phải của người đàn bà ngoại ngũ tuần, mà

là cái rùng mình của bà quả phụ ba mươi tuổi [34; tr 425]

Cảm giác được sẻ chia đã trở thành một nhu cầu, như một thói quen cố hữu với bà Có

tình yêu, con người càng khát khao được sống, được yêu thương, được tận hưởng Bà sẽ

phải đến ông sớm để nói với ông rằng dù họ có phải chờ đợi nhau suốt đời bà cũng thấy yên lòng vì ít ra, họ còn được sống Nhất là sống cùng những người thân [34; tr 442]

Tình yêu được xây dựng trên nền tảng của cá nhân, và được vun đắp bởi các mối quan

hệ xung quanh khác: gia đình, bạn bè, làng xóm, cộng đồng, xã hội Vấn đề tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ phản ánh trong các truyện có liên kết chặt chẽ, và chịu ảnh hưởng

với cuộc sống nhân sinh phức tạp này Tình yêu trong truyện ngắn Một trăm linh tám cây

bằng lăng là thứ tình yêu trong sáng, và tinh khiết Cảm giác sung sướng được nương

tựa, được chở che dường như là một cảm giác bản năng ở người phụ nữ Chủ thể trần thuật len lỏi vào cảm giác ấy để khắc họa sâu hơn nỗi đau của nhân vật – người đàn bà đã

vĩnh viễn mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời của mình: Chị cần anh là anh Là

những điều tốt đẹp như một khoảng trời nhỏ Một bức tường có mái che đằng sau lưng Mỗi lần đuối sức hay thất bại trên đường đời Chị có chỗ lùi lại Tựa lưng và thở Rồi đi tiếp [34; tr 192] Nỗi đau nhói của chị, niềm bịn rịn của anh phút chia tay được người kể

chuyện thấu đáo và bộc bạch rất chân thực, giàu sức biểu cảm

Ở đây, vai trò của người kể chuyện được phát huy, vừa tổ chức, xâu chuỗi câu chuyện trong sự linh hoạt của thời gian giữa quá khứ và hiện tại đan xen nhau, vừa nhập tâm vào tâm trạng nhân vật để cảm thông và chia sẻ

Đôi mắt của Nguyễn Thị Thu Huệ không dừng lại ở chia lìa, ly biệt (Tân Cảng, Xin

hãy tin em, Thiếu phụ chưa chồng, Một trăm linh tám cây bằng lăng) Cõi lòng của tác

giả cũng không ngưng đọng trong nỗi đau của nhân tình thế thái Cõi lòng ấy xoáy sâu

vào đôi mắt ngây thơ của con trẻ trong truyện ngắn Phù thủy

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài  tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ của Phạm Thị Hoài) - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ của Phạm Thị Hoài) (Trang 24)
Bảng khảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài  tình  yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ) - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát phương thức trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ) (Trang 25)
24  Hình bóng cuộc đời  x - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
24 Hình bóng cuộc đời x (Trang 26)
Bảng khảo sát sự phân bố các dạng kết trúc nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề  tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ của Phạm Thị Hoài) - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát sự phân bố các dạng kết trúc nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ của Phạm Thị Hoài) (Trang 64)
Bảng khảo sát sự phân bố các dạng kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề  tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ) - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát sự phân bố các dạng kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ) (Trang 65)
24  Hình bóng - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
24 Hình bóng (Trang 67)
Bảng khảo sát sự phân bố các dạng kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát sự phân bố các dạng kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn viết về (Trang 67)
Bảng khảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong tập truyện ngắn Mê lộ (Trang 122)
Bảng khảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn (Trang 123)
24  Hình bóng cuộc đời  x  x - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
24 Hình bóng cuộc đời x x (Trang 125)
Bảng khảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phan Thị Vàng Anh (trong tập truyện ngắn - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát lời văn trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phan Thị Vàng Anh (trong tập truyện ngắn (Trang 126)
Bảng khảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài  tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong 13 truyện ngắn của Phạm Thị Hoài) - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài (trong 13 truyện ngắn của Phạm Thị Hoài) (Trang 152)
Bảng khảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài  tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ (trong 31 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu (Trang 153)
Bảng khảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài  tình yêu của Phan Thị Vàng Anh (trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ)   x: Giọng điệu chủ đạo xuất hiện trong truyện - nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của phạm thị hoài, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh
Bảng kh ảo sát giọng điệu trần thuật trong những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phan Thị Vàng Anh (trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ) x: Giọng điệu chủ đạo xuất hiện trong truyện (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w