1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông

125 2,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 4,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã thể hiện rõ quan điểm: Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-   -

Nguyễn Thị Sáo

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SƠ

ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC

VÔ CƠ LỚP 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Nguyễn Thị Sáo

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SƠ

ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC

VÔ CƠ LỚP 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHAN THỊ HOÀNG OANH

Thành phố Hồ chí Minh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học, quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên được học tập, nghiên cứu

và hoàn thà nh khóa học

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Phan Thị Hoàng Oanh, thầy

Trịnh Văn Biều, cùng những thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn thầy cô giáo ở trường THPT Phước Long, THPT Ngô Gia Tự, THPT Nguyễn Thị Diệu đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ em trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất cho em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Nguyễn Thị Sáo

Trang 4

HS : Học sinh

GV : Giáo viên GDTX : Giáo dục thường xuyên GDĐT : Giáo dục đào tạo

NXB : Nhà xuất bản

Pt : Phương trình Ptpư : Phương trình phản ứng SGK : Sách giáo khoa

SĐTD : Sơ đồ tư duy THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp phiếu điều tra thực trạng 28

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học 29

Bảng 1.3 Mục đích sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học 29

Bảng 1.4 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng sơ đồ trong dạy học 30

Bảng 1.5 Mức độ hiểu biết và sử dụng SĐTD của giáo viên 30

Bảng 1.6 Mức độ sử dụng SĐTD của giáo viên trong dạy học 31

Bảng 3.1 Danh sách lớp và giáo viên thực nghiệm 98

Bảng 3.2 Điểm quy đổi các mức độ trả lời của phiếu thăm dò 102

Bảng 3.3 Phân phối điểm bài kiểm tra 15 phút 103

Bảng 3.4 Phân phối tần số và tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút 103

Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả học tập qua bài kiểm tra 15 phút 104

Bảng 3.6 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 15 phút 105

Bảng 3.7 Phân phối điểm bài kiểm tra 1 tiết 105

Bảng 3.8 Phân phối tần số và tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 tiết 106

Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả học tập qua bài kiểm tra 1 tiết 106

Bảng 3.10 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 1 tiết 107

Bảng 3.11 Phân phối điểm bài kiểm tra học kì 1 108

Bảng 3.12 Phân phối tần số và tần suất lũy tích bài kiểm tra học kì 1 108

Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả học tập qua bài kiểm học kì 1 109

Bảng 3.14 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra học kì 1 110

Bảng 3.15 Thái độ của HS khi tham gia vẽ và trình bày SĐTD 111

Bảng 3.16 Ý kiến của HS về ưu điểm của SĐTD 111

Bảng 3.17 Ý kiến của học sinh về hạn chế của SDTD 112

Bảng 3.18 Mức độ rèn luyện khả năng hoạt động của học sinh 113

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ tư duy tổng quan hóa học 41

Hình 2.2 Sơ đồ tư duy khái quát chương sự điện li 42

Hình 2.3 Sơ đồ tư duy khái quát chương nitơ - photpho 42

Hình 2.4 Sơ đồ tư duy khái quát chương cacbon - silic 43

Hình 2.5 Sơ đồ tư duy ý chính của bài đơn chất 43

Hình 2.6 Sơ đồ tư duy ý chính của bài hợp chất 44

Hình 2.7 Sơ đồ tư duy khái quát về axit 44

Hình 2.8 Sơ đồ tư duy khái quát về phản ứng nhiệt phân 45

Hình 2.9 Sơ đồ tư duy bài sự điện li 46

Hình 2.10 Sơ đồ tư duy bài axit, bazơ, muối 46

Hình 2.11 Sơ đồ tư duy bài phản ứng trao đổi ion 47

Hình 2.12 Sơ đồ tư duy bài nitơ 47

Hình 2.13 Sơ đồ tư duy bài amoniac 48

Hình 2.14 Sơ đồ tư duy bài axit nitric - muối nitrat 48

Hình 2.15 Sơ đồ tư duy bài photpho 49

Hình 2.16 Sơ đồ tư duy bài axit photphoric 49

Hình 2.17 Sơ đồ tư duy bài cacbon 50

Hình 2.18 Sơ đồ tư duy bài hợp chất cacbon 50

Hình 2.19 Sơ đồ tư duy bài silicat 51

Hình 2.20 Sơ đồ tư duy hệ thống các dạng bài tập trong chương điện li 51

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút 104

Hình 3.2 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút 104

Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 tiết 106

Hình 3.4 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 1 tiết 107

Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra học kì 1 109

Hình 3.6 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra học kì 1 109

Trang 7

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Một số SĐTD do học sinh thiết kế 1

Phụ lục 2: Đề kiểm tra 15 phút 5

Phụ lục 3: Đề kiểm tra 45 phút 8

Phụ lục 4: Đề thi học kì 1 11

Phụ lục 5: Bài tập kèm theo SĐTD 12

Phụ lục 6: Phiếu tham khảo ý kiến học sinh 27

Phụ lục 7: Phiếu tham khảo ý kiến giáo viên 29

Trang 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……….4

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.1 Các nghiên cứu về sơ đồ tư duy 4

1.1.2 Một số luận văn, luận án, khóa luận tốt nhiệp, bài viết về sơ đồ tư duy 6 1.2 TƯ DUY 9

1.2.1 Khái niệm tư duy 9

1.2.2 Các thao tác tư duy logic 9

1.2.3.Tư duy mở rộng 11

1.2.4 Tư duy sáng tạo 12

1.3 SƠ ĐỒ TƯ DUY 12

1.3.1 Khái niệm về sơ đồ tư duy 12

1.3.2 Đặc điểm của sơ đồ tư duy 13

1.3.3 Tác dụng của sơ đồ tư duy 13

1.3.4 Sử dụng phần mềm iMindmap để thiết kế sơ đồ tư duy 14

1.4 SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC 24

1.4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong soạn ghi chú cho bài giảng 24

1.4.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để hoạch định cho năm học và học kỳ 24 1.4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy để lập kế hoạch ôn tập và thi cử 25

1.4.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học trên lớp 25

1.4.5 Kết hợp giữa sơ đồ tư duy với các phương pháp dạy học hiện đại 26

Trang 9

1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28

Tóm tắt chương 1………32

Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN HOÁ

VÔ CƠ LỚP 11 BAN CƠ BẢN……… 33

2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11 33

2.1.1 Mục tiêu của các chương 33

2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình hóa học vô cơ lớp 11 ban cơ bản 35

2.1.3 Những lưu ý khi dạy phần hóa vô cơ lớp 11 THPT 36

2.2 NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 37 2.2.1 Nguyên tắc thiết kế sơ đồ tư duy 37

2.2.2 Quy trình thiết kế sơ đồ tư duy 39

2.3 THIẾT KẾ SƠ ĐỐ TƯ DUY PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11 BAN CƠ

BẢN… ……… 40

2.3.1 Sơ đồ tư duy tổng quan 40

2.3.2 Sơ đồ tư duy theo ý chính của chương 41

2.3.3 Sơ đồ tư duy theo ý chính của bài 43

2.3.4 Sơ đồ tư duy theo ý chính của một chủ đề 44

2.3.5 Sơ đồ tư duy của các bài học hóa vô cơ lớp 11 ban cơ bản 45

2.4 GIÁO ÁN MỘT SỐ BÀI HOÁ HỌC VÔ CƠ LỚP 11 BAN CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ

TƯ DUY 52

2.4.1 Giáo án bài lên lớp truyền thụ kiến mới về khái niệm cơ bản 52

2.4.2 Giáo án bài lên lớp truyền thụ kiến mới về lý thuyết phản ứng 62

2.4.3 Giáo án bài lên lớp truyền thụ kiến mới về chất hóa học 70

2.4.4 Giáo án bài lên lớp ôn, luyện tập 82

2.5 NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 90

2.5.1 Xây dựng nhóm học tập và tinh thần đồng đội cho học sinh khi sử dụng

Trang 10

sơ đồ tư duy 90

2.5.2 Thiết kế các loại phiếu học tập để hỗ trợ sơ đồ tư duy 90

2.5.3 Sử dụng SĐTD để hệ thống các dạng và phương pháp giải bài tập…… 92 2.5.4 Sử dụng sơ đồ tư duy phù hợp với từng đối tượng 92

2.5.5 Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với từng sơ đồ tư duy… 93 2.5.6 Sử dụng sách giáo khoa để hỗ trợ cho việc vẽ sơ đồ tư duy 94

2.5.7 Lồng ghép thí nghiệm hoá học khi sử dụng sơ đồ tư duy 95

2.5.8 Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc sử dụng sơ đồ tư duy 95

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI do UNESCO thành lập đã đề ra những phương châm học suốt đời dựa trên bốn cột trụ: “Học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau, học để làm người” [4, tr31], nhưng hiện nay chúng ta chỉ nặng về “học để biết” Do vậy phương pháp dạy học truyền thống trong đó học sinh chỉ biết ghi nhớ và tiếp nhận kiến thức càng nhiều càng tốt đã không còn hợp với xu thế phát triển ngày nay Để hòa cùng vào xu hướng phát triển của thế giới, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách trong đó có cải cách giáo dục

Trong hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã thể hiện rõ quan điểm: Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học; kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Do đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học, lấy học sinh làm trung tâm để đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu cuộc cách mạng lớn của thời đại: cách mạng truyền thông, công nghệ thông tin Theo hướng này, người giáo viên đóng vai trò tổ chức

và điều khiển học sinh chiếm lĩnh tri thức, tự lực hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới bằng cách tư duy, làm việc theo nhóm

Bởi vì, lúc này việc dạy học không nên chỉ dừng lại ở chức năng dạy kiến thức mà còn phải chuyển mạnh sang dạy phương pháp học Disterwerg đã viết “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý” Giáo viên không chỉ truyền thụ tri thức có sẵn mà cần phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện khả năng nghĩ

và làm một cách tự chủ, tổ chức cho học sinh tự mình tìm ra tri thức đó, giúp học sinh không chỉ nắm được kiến thức mà còn nắm được phương pháp đi tới kiến thức Bên cạnh

đó, giáo án cần được thiết kế theo kiểu phân nhánh, linh hoạt với sự tham gia tích cực của học sinh để rèn luyện được kĩ năng tư duy mở rộng, linh hoạt hơn trong suy nghĩ và hành động của mình Hiện nay, Sơ đồ tư duy (SĐTD) được xem là một công cụ hiệu quả để giúp cho chúng ta dễ dàng hơn trong tư duy của mình Nếu trong quá trình học tập, học sinh rèn được kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD thì sẽ tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu

Trang 12

những kiến thức khi chính các em là người tự khám phá, tự biết hệ thống và ghi chép một cách logic các nội dung kiến thức đã học

Vì vậy, để thực hiện theo phương châm học tập của Đảng ta và trên hết là để giáo dục học sinh phát triển một cách toàn diện cả về kĩ năng cứng (kiến thức) và kĩ năng mềm (tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ) tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “THIẾT KẾ

VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” Hy vọng rằng với nghiên cứu này, trước tiên sẽ giúp tôi giải quyết được những nỗi trăn trở trên, và cũng mong rằng đề tài này sẽ góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học cho các đồng nghiệp trường tôi nói riêng và những người quan tâm đến đổi mới giáo dục nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần Hóa học Vô cơ chương trình lớp 11 nhằm nâng cao kết quả học tập

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tư duy, sơ đồ tư duy và cách sử dụng SĐTD trong dạy học

- Nghiên cứu phần Hóa học Vô cơ lớp 11 ban cơ bản

- Thiết kế các SĐTD của phần Hóa Vô cơ lớp 11 trên phần mềm iMindmap

- Thiết kế một số giáo án có sử dụng SĐTD, đồng thời kết hợp các kĩ thuật, biện pháp dạy học tích cực cho từng dạng bài lên lớp cụ thể

- Thực nghiệm trên một số lớp để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của việc sử dụng sơ

đồ tư duy trong dạy học hóa học

- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng SĐTD trong dạy học hóa học

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần hóa học vô cơ chương trình 11 cơ bản

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở các trường THPT

5 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: phần Hóa học Vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản

- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT ở TP Hồ Chí Minh

- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: 2010- 2011

6 Gi ả thuyết khoa học

Trang 13

Nếu những bài lên lớp được thiết kế hợp lí và sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp cho học sinh nắm được kiến thức của bài học, ghi nhớ được các kiến thức trọng tâm và gây được hứng thú cho học sinh từ đó sẽ nâng cao hiệu quả dạy học

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận bao gồm: đọc, nghiên cứu các tài liệu liên

quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp toán học: xử lí số liệu thực nghiệm bằng thống kê toán học

8 Đóng góp mới của đề tài

- Nghiên cứu ứng dụng phần mềm iMindmap vào dạy học hóa học

- Xây dựng các nguyên tắc thiết kế SĐTD hóa học, đưa ra qui trình thiết kế và sử dụng SĐTD vào bài giảng theo hướng dạy học tích cực

- Đã thiết kế được hệ thống SĐTD bài học hóa học trên phần mềm iMindmap

- Vận dụng vào thiết kế các giáo án có sử dụng SĐTD để dạy học hóa học lớp 11 THPT, kết hợp logic giữa sử dụng sơ đồ tư duy với tiến trình dạy học hóa học phần vô cơ lớp 11

- Đưa ra các đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng SĐTD vào bài giảng

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Việc phát triển tư duy và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáo dục hiện nay Nhằm hướng các em đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy Và dưới đây chúng tôi xin giới thiệu sơ qua các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về sơ đồ tư duy [ 7], [ 8], [9]

Tony Buzan một nhà diễn giả nổi tiếng, người Mỹ, ông là một trong số ít những người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm ra quy luật hoạt động của não bộ, và khả năng

tư duy của con người Ông được xem như là “thầy phù thủy về tư duy”, với rất nhiều tác phẩm, ông đã xây dựng tên tuổi của mình từ một ý tưởng về cơ bản rất đơn giản mà ông gọi là Sơ đồ tư duy (Mind Maps) - một công cụ hỗ trợ tư duy Có thể miêu tả nó là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp chúng ta khai phá tiềm năng vô

- Bản đồ tư duy - 10 cách đánh thức tư duy sáng tạo, (2007) NXB Từ điển bách khoa,

dịch giả - Gia Linh

- Bản đồ tư duy - Hướng dẫn sử dụng bản đồ tư duy, (2007) NXB Từ điển bách khoa, dịch

giả - Gia Linh

Trang 15

- Lập bản đồ tư duy - Công cụ tư duy tối ưu sẽ làm thay đổi cuộc sống của bạn , (2010)

NXB Lao động xã hội, dịch giả - Nguyễn Thế

- Bản đồ tư duy trong công việc , (2007) NXB Lao động xã hội, dịch giả - Hồng Hoa

- Sơ đồ tư duy , (2007) NXB Tổng hợp Tp HCM, dịch giả - Lê Huy Lâm

- Bản đồ tư duy cho trẻ em (bí quyết của trò giỏi) , (2008) NXB Hồng Đức, dịch giả - Thanh Huyền

- Lập sơ đồ tư duy, (2010) NXB Tổng hợp Tp HCM, dịch giả - Lê Huy Lâm

Sơ đồ tư duy hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi hơn 250 triệu người trên thế giới trong đó có các công ty lớn như HP, IBM, Boeing… Các tổ chức giáo dục và giáo viên các nước cũng không phải là những người đứng ngoài cuộc Tại Việt Nam, vào tháng 3 năm 2006, chương trình thời sự Đài truyền hình Việt Nam

đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến về SĐTD do trực tiếp Tony Buzan tham dự Và từ đó có rất nhiều dự án về ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy xuất hiện, rất nhiều nhà sư phạm và đông đảo sinh viên của các trường đại học đã nhanh nhạy ứng dụng sơ đồ tư duy vào việc đổi mới cách dạy và cách học của mình Điển hình là mô hình học tập môn văn với SĐTD của thầy Hoàng Đức Huy đã áp dụng rất thành công trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến - TP HCM năm học 2008-2009 Các thầy cô giáo ở các trường như Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, các trường trung học phổ thông quốc

tế đã áp dụng SĐTD vào dạy học Đã có rất nhiều hội thảo và báo cáo về SĐTD như:

• Hội thảo lần thứ 9 với chủ đề Mindmap: “Ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy để thay đổi đời bạn”, Diễn giả: Ông Trần Ngọc Anh - CEO của BOM và Ông Bùi Trọng Giao - Chủ tịch của công ty Logico

• Dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy - Bản đồ tư duy”, (2008) sinh viên đại học quốc gia Hà nội (Nhóm tư duy mới - New Thinking Group)

• Triển lãm Bản đồ tư duy lần thứ 2 – 2009 của đại học kinh tế Tp HCM

Các hội thảo về vấn đề ứng dụng của SĐTD rất được nhiều thành phần tham dự, phần lớn các sinh viên Việt Nam cũng rất quan tâm đến vấn vấn đề thời đại này

1.1.2 Một số luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp, bài viết về SĐTD

Luận án Tiến sĩ “Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Bùi Phương Thanh Huấn - Đại học Sư phạm Hà

Nội, năm 2010 [17]

Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã:

Trang 16

- Đưa ra các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hóa học trước thực trạng giáo dục của đồng bằng sông Cửu Long

- Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học bằng phần mềm Mindjet MindManager Pro 7

- Vận dụng SĐTD của Tony Buzan để thiết kế bài dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông theo hướng tích cực, bao gồm hai phần chính: mô hình dạy học kết hợp grap – Bloom và thiết kế hoạt động dạy học hóa học theo SĐTD

- Vận dụng SĐTD của Tony Buzan để lập kế hoạch tự học có hướng dẫn môn hóa học của HS ở trường trung học phổ thông

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho GV hóa học ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có một hướng đi mới trong con đường đổi mới giáo dục

Khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học hoá học ở trung học phổ thông”, Nguyễn Thị Khoa, bảo vệ năm 2009, ĐHSP Tp HCM [21]

Trong đề tài tác giả đã làm các việc sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tư duy, trí nhớ, phương pháp dạy học tích cực, so sánh SĐTD với Grap dạy học và bản đồ khái niệm

- Nghiên cứu l ý thuyết về phần mềm Mindjet Mindmanager 7 0 - một công cụ cho việc lập SĐTD

- Thiết kế được 20 SĐTD cho dạy học hóa học bằng phần mềm Mindjet Mindmanager

7 0 và 5 SĐTD vẽ tay

- Thiết kế một số giáo án có sử dụng SĐTD vào dạy học các lớp 10, 11, 12

- Thực nghiệm thành công với 5 giáo án lồng ghép SĐTD

Đồ án tốt nghiệp “Ứng dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn phương pháp giảng dạy chuyên ngành cơ khí tại trường ĐHSPKT TP HCM”, Đỗ Quang Huy,

bảo vệ 2010 [19]

Trong đồ án, tác giả đã khái quát được lịch sử về SĐTD, nêu lên vai trò, tác dụng của việc sử dụng SĐTD trong giảng dạy chuyên ngành cơ khí tại trường đại học Tác giả cũng đã thiết kế được 2 giáo án có sử dụng SĐTD vào bài giảng của mình Tuy nhiên tác giả vẫn chưa đi sâu vào việc hướng dẫn các sinh viên phải thực hành và rèn kĩ năng

sử dụng SĐTD

Bài viết “Bản đồ tư duy - một trong những công cụ hỗ trợ dạy học và công tác quản lí nhà trường hiệu quả, dễ thực hiện”, TS Trần Đình Châu, Bộ Giáo dục và Đào tạo; TS

Trang 17

Đặng Thu Thuỷ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Tạp chí Giáo dục, kì 2, 9/2009) [11]

Trong bài viết, hai tác giả đã tóm tắt:

- SĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học tập cho

HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học

Sử dụng thành thạo SĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính

độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy

- SĐTD giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não

của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, việc sử dụng SĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

- SĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả Do đặc điểm của SĐTD nên người thiết kế

SĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic Do đó, sử dụng SĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả

- Sử dụng SĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế hoạch công tác,

và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương hướng, biện pháp,…và

dễ theo dõi quá trình thực hiện Đồng thời, có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ

Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng sơ đồ tư duy vào việc hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao ch ất lượng dạy học chương cơ học - lớp 8”, Võ Hoàng Nhật, Trường THCS

Phan Bội Châu, năm 2010 [28]

Qua sáng kiến kinh nghiệm tác giả đã đưa ra 3 giải pháp để rèn luyện cách học bằng SĐTD cho học sinh:

- Hướng dẫn học sinh cách ghi chép bài một cách hệ thống theo định hướng mới “chống đọc chép” tạo tiền đề cho việc vận dụng sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức và tăng cường khả năng tự học

- Thay đổi cách củng cố bài học thông qua sơ đồ tư duy

- Hướng dẫn học sinh vận dụng sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức từng nhóm bài của chương Cơ học lớp 8 với sự hỗ trợ của phần mềm Mindjet MindManager

Trang 18

Trong 2 năm thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm với học sinh lớp 8 ở trường THCS Phan Bội Châu, tác giả đã kết luận được tính khả thi của việc vận dụng SĐTD vào dạy học vật lý

Nhìn chung, việc ứng dụng SĐTD vào dạy học được đánh giá là một phương pháp dạy học có nhiều triển vọng và có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy ở Việt Nam Theo ông Phạm Chí Dũng - Phòng GDTX - Sở GDĐT Tp HCM: “SĐTD rất phù hợp khi áp dụng vào giảng dạy vì giúp giảm tải chương trình, HS dễ hiểu, dễ nhớ, dễ học” Tuy nhiên, vấn

đề này đang được các nhà giáo dục nghiên cứu Các tài liệu, luận văn có nội dung liên quan đến sử dụng SĐTD trong chương trình hóa học ở THPT còn rất hiếm, đặc biệt là việc vận dụng một cách cụ thể vào từng bài lên lớp trong dạy học phần Hóa học Vô cơ lớp

11

1.2 TƯ DUY

1.2.1 Khái n iệm tư duy [36]

Theo giáo sư Nguyễn Xuân Thức, trong giáo trình Tâm lí học đại cương: Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh được những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan

hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết

Tư duy là một hành động Mỗi hành động tư duy là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào đó nảy sinh trong quá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn Quá trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau liên tục: từ khi gặp tình huống có vấn

đề và nhận thức được vấn đề cho đến khi vấn đề được giải quyết Sau khi giải quyết lại có thể nảy sinh vấn đề mới, khởi đầu cho một quá trình tư duy mới có thể phức tạp hơn Các giai đoạn cụ thể của một quá trình tư duy như sau:

Gồm 3 giai đoạn: mở đầu, diễn biến và kết thúc

- Mở đầu của tư duy là sự bắt gặp hoàn cảnh có vấn đề, những cái chúng ta chưa biết, những cái mâu thuẫn với kinh nghiệm của chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết, phải phản ánh

- Diễn biến của tư duy là các thao tác của tư duy, sự phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa để giải quyết những tình huống đã đặt ra

- Kết thúc quá trình tư duy sẽ cho ta những khái niệm mới, những suy lí, phán đoán…

1.2.2 Các thao tác tư duy logic [36]

Cũng trong giáo trình Tâm lí học đại cương này, nếu xét về bản chất thì tư duy là

Trang 19

nhiệm vụ đặt ra Cá nhân có tư duy hay không là ở chỗ họ có tiến hành các thao tác này trong đầu mình hay không Cho nên những thao tác này còn gọi là những quy luật bên trong của tư duy Quá trình tư duy có các thao tác cơ bản như sau:

• Phân tích và tổng hợp

- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần tương đối độc lập để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn Đó là quá trình diễn ra trong đầu chủ thể nhằm tách đối tượng tư duy thành những thuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn

- Tổng hợp là dùng trí óc để hợp nhất các quá trình đã được tách rời khi phân tích thành một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh Đây là thao tác trí tuệ, trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc đưa những thuộc tính, những thành phần đã được phân tích vào thành một chỉnh thể, giúp ta nhận thức được bao quát hơn

Phân tích và tổng hợp là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau trong một quá trình tư duy thống nhất Phân tích là cơ sở để tổng hợp, được tiến trình theo phương hướng của sự tổng hợp Tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích, được thực hiện trên kết quả của sự phân tích Không có quá trình phân tích thì khổng thể tiến hành tổng hợp được Ngược lại, phân tích không có tổng hợp thì quá trình đó trở nên vô nghĩa trong quá trình nhận thức

• So sánh

So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống và khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức Thao tác này liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích và tổng hợp và rất quan trọng trong việc nhận thức thế giới So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy Nhờ so sánh mà con người có thể hình dung ra những cái chưa biết trên cơ sở những cái đã biết

• Diễn dịch và quy nạp

- Diễn dịch là một trong những phương pháp lập luận và nghiên cứu có tính chất cơ bản Theo nghĩa rộng, diễn dịch là mọi sự suy luận nói chung; theo nghĩa hẹp và thông thường nhất, là chứng minh hoặc suy ra một luận đoán (một hệ quả) dựa vào một số luận đoán khác, được xem là những tiền đề dựa trên những quy luật của lôgic học Trong phương pháp diễn dịch, tư duy đi từ cái chung đến cái đặc thù, cái riêng biệt

Trang 20

- Quy nạp là một trong những kiểu suy lí, phương pháp nghiên cứu đi từ cái riêng đến cái chung, từ những sự vật cá biệt tới nguyên lí phổ biến Quy nạp được phân thành hai loại chủ yếu: quy nạp đầy đủ và quy nạp không đầy đủ

+ Quy nạp đầy đủ là phương pháp dựa trên sự liệt kê đầy đủ các tiền đề bao quát mọi trường hợp của một hiện tượng để từ đó rút ra kết luận chắc chắn

+ Quy nạp không đầy đủ là kiểu suy lí đi từ tiền đề không bao quát mọi trường hợp của hiện tượng để từ đó rút ra một kết luận chung

Quy nạp đầy đủ được ứng dụng rất hạn chế trong thực tiễn khoa học; còn quy nạp không đầy đủ được ứng dụng rất rộng rãi, nhưng điểm yếu của nó là kết luận được rút ra không phải là kết luận chắc chắn, chỉ có xác suất đúng nhất định

Giữa hai phương pháp diễn dịch và quy nạp không có những ranh giới nghiêm ngặt Trong thực tế, quy nạp và diễn dịch bao giờ cũng thống nhất với nhau trong quá trình nhận thức Quy nạp và diễn dịch là hai phương pháp tuy đối lập, nhưng không độc lập với nhau; ngược lại, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau và bổ sung lẫn nhau

1.2.3 Tư duy mở rộng [8]

Tony Buzan đã nói về tư duy mở rộng trong ấn phẩm “Sơ đồ tư duy” như sau: mỗi mẫu thông tin truyền đến não – mọi cảm giác, kí ức hay suy nghĩ (gồm lời nói, chữ, số, thức ăn, hương thơm, đường nét, màu sắc, hình ảnh)… đều có thể biểu thị như một quả cầu ở trung tâm và từ đó lan tỏa ra hàng chục, trăm, triệu móc nối Mỗi móc nối biểu thị một liên kết, rồi mỗi liên kết lại tạo ra vô số liên kết khác Nhờ sử dụng một hệ thống xử

lí và thông tin đa trục, gồm nhiều móc nối như vậy nên cho dù đã lưu vào kí ức bao nhiêu

dữ liệu hay đã hình thành bao nhiêu liên kết thì khả năng mở rộng thành những cấu trúc

và tổ hợp liên kết mới cho các ý tưởng của não cũng vượt qua con số lần tỉ tỉ

Tư duy mở rộng là những quá trình tư duy liên kết xuất phát từ việc kết nối với vùng trung tâm Dùng SĐTD, chính là công cụ thể hiện tư duy mở rộng SĐTD luôn tỏa rộng từ một hình ảnh trung tâm Mọi từ, hình ảnh được tỏa ra lại trở thành một tiểu trung tâm liên kết, cứ thế khai triển thành một chuỗi mắt xích gồm những cấu trúc rẽ nhánh tỏa

ra xa hay hội tụ vào tâm điểm chung và có thể kéo dài vô tận

1.2.4 Tư duy sáng tạo [8]

Buzan đã khẳng định tư duy sáng tạo là loại tư duy cơ động, linh hoạt, không tuân theo nguyên tắc nào Loại tư duy này liên quan đến trực giác và khả năng sáng tạo của

Trang 21

con người Và cũng theo nhà tâm lí E Paul Torrance, các yếu tố quan trọng của tư duy sáng tạo là:

- Kết nối các ý tưởng mới, độc đáo với những ý tưởng đã có

- Sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh

- Kết hợp các yếu tố khác thường

- Phóng đại và sử dụng kích thước khác nhau

- Điều chỉnh các quan điểm nhận thức

- Sắp xếp, kết nối các nhận thức đã có

- Đảo ngược các nhận thức đã có

- Sử dụng các hình dạng, kí hiệu có thể hoán đổi cho nhau

SĐTD là một biểu hiện phức tạp và tinh tế của tất cả các phạm trù nêu trên Nó là biểu hiện cụ thể của toàn bộ quá trình tư duy sáng tạo

1.3 SƠ ĐỒ TƯ DUY [8]

1.3.1 Khái niệm về sơ đồ tư duy

Trong chương 1 của ấn phẩm “Sơ đồ tư duy” [8], Tony Buzan đã nêu: SĐTD là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận của não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng lược đồ phân nhánh SĐTD là phương pháp ghi chú gồm một hình ảnh hoặc một từ khóa ở trung tâm và xuất phát từ chủ đề trung tâm đó phát triển ra nhiều ý, mỗi ý

sẽ là một từ khóa mới, có nhiều ý nhỏ hơn Với đặc tính này, bất kỳ từ khóa hay hình ảnh chủ đạo nào bổ sung vào SĐTD đều có thể mở rộng phạm vi liên kết mới, rồi từ đó lại

mở rộng phạm vi liên kết mới nữa và chu trình đó có thể lặp đi lăp lại đến vô hạn

1.3.2 Đặc điểm của sơ đồ tư duy

SĐTD khai thác toàn diện các chức năng của vỏ não - từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc bằng một kĩ thuật độc đáo và sáng tạo Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh, một khối lượng kiến thức rất lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng chỉ trong một trang giấy mà không bỏ sót bất kì thông tin quan trọng nào

SĐTD có rất nhiều hình ảnh để hình dung về kiến thức cần nhớ SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc phong phú hơn tránh sự khô khan nhàm chán SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng rất rõ ràng Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu, SĐTD cho phép làm nổi bậc các ý tưởng trọng tâm bằng cách sử dụng những

Trang 22

màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ với những gì đã học được

1.3.3 Tác dụng của sơ đồ tư duy

SĐTD đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó

Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc, hình ảnh đã đem lại một công dụng lớn

vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não SĐTD có tác dụng quan trọng trong việc:

• Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, mind maps giúp tổ chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại như

sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng vấn và đàm thoại

Gợi nhớ (hồi tưởng): Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ não thì

mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi nó được sinh ra vào một

hệ được tổ chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu Nó như một phương tiện nhanh,

hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn

Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, mind maps sẽ giúp

bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng, cho

phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện

Hóa học là một bộ môn mà kiến thức liên kết với nhau rất rõ ràng Từ những kiến thức căn bản như viết phương trình phản ứng, tính số mol, định luật bảo toàn khối lượng,…đã được học ở lớp 8 nhưng sẽ vận dụng thường xuyên ở những lớp học cao hơn Kiến thức của lớp học sau sẽ kế thừa và phát triển lên từ lớp trước Vì thế, việc học sinh nhớ những kiến thức đã được học sẽ thuận tiện rất nhiều cho giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức cũng như ôn tập, củng cố Và học sinh sẽ dễ dàng, nhanh chóng lĩnh hội những kiến thức mới

Ưu điểm của sơ đồ tư duy sẽ đem đến cho học sinh những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập là nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức, biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc và bền vững Có thể

Trang 23

sẽ gặp khó khăn lúc đầu khi tập cho học sinh xây dựng sơ đồ tư duy nhưng khi đã thành thói quen, học sinh sẽ rất thích thú sử dụng trong học tập và hình thành thói quen làm việc sau này Sơ đồ tư duy càng có tác dụng nếu học sinh sử dụng cho những bài học ôn tập, tổng kết chương Ngoài ra, SĐTD có thể sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trong mọi ý tưởng chứ không riêng gì trong lĩnh vực giáo dục

1.3.4 Sử dụng phần mềm iMindmap để thiết kế sơ đồ tư duy

Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau Tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra sơ đồ tư duy Có rất nhiều phần mềm được sử dụng như:

- Phần mềm Buzan's iMindmap: Trang chủ tại www.imindmap.com

- Phần mềm Inspiration: Trang chủ tại www.inspiration.com

- Phần mềm Visual Mind: Trang chủ tại www.visual-mind.com

- Phần mềm FreeMind: Trang chủ tại http://freemind.sourceforge.net

- Phần mềm MindManager Pro: Trang chủ tại http://www.mindjet.com

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu là phần mềm Buzan's iMindmap

Sau đây là một số chỉ dẫn về việc sử dụng phần mềm này

1.3.4.1 Đặc điểm phần mềm

Buzan’s iMindmap có các đặc điểm cơ bản sau:

- Đây là phần mềm được phát hành do công ty Buzan Online Ltd

- Dung lượng 2.08 KB

- Yêu cầu: Windows XP/ Vista / Win7

- Giao diện đẹp, sử dụng dễ dàng

- Có nhiều chức năng liên kết các file: phim, flat…

- Phần mềm này lập SĐTD (MindMap) rất phù hợp, vừa đẹp, nhanh lại rất tiện lợi; giúp phác thảo ý tưởng, lập kế hoạch, định thời gian và công việc; ghi chép và suy nghĩ

từ tổng thể đến chi tiết: khoa học và logic rất phù hợp với kiểu tư duy mở rộng Đặc biệt các đường cong của SĐTD trong phần mềm này thể hiện rất uyển chuyển và mềm mại, phù hợp với đường cong liên kết của bộ não

- Tuy nhiên phần mềm này có bản quyền hơi cao, bản dùng thử có thể tải về sử dụng trong 30 ngày

1.3.4.2 Xây dựng sơ đồ tư duy bằng phần mềm iMindmap

Trang 24

Khởi động

- Sau khi cài đặt xong, xuất hiện biểu tượng trên Desktop:

+ Click double vào biểu đó

+ Hoặc để chuột vào biểu tượng, kích chuột phải, chọn thẻ Open

- Chương trình bắt đầu khởi động

Tạo một sơ đồ tư duy mới

• Tạo chủ đề trung tâm

- Xuất hiện giao diện chính iMindmap, thực hiện các bước như sau:

Bước 2:Tên chủ

đề trung tâm

Bước 3: Chọn Create

B ước 1: Chọn biểu tượng trung tâm

Trang 25

• Vẽ các nhánh của sơ đồ tư duy

- Chọn nút đỏ ở các chủ đề trung tâm

- Dùng chuột kéo rê các nhánh theo ý muốn

- Kích double vào các nhánh để ghi chữ

- Để chuột sang bên phải sẽ xuất hiện một thanh công cụ nhỏ Chỉnh sửa theo ý muốn trên thanh công cụ đó

Vùng

th ực hiện lập

sơ đồ tư duy

Trang 26

- Tại các đầu của nhánh chính có các nút đỏ, dùng chuột kéo rê từ các đầu mút

đó ta được các nhánh phụ

- Từ các nhánh phụ ta cũng kéo rê chuột để vẽ các nhánh phụ nhỏ hơn

- Chức năng của thanh công cụ nhỏ:

Các thao tác cơ bản trên sơ đồ tư duy

Font chữ

In đậm – B

In nghiên - I

Ghi chú

Trang 27

- Chọn nhánh cần thực hiện

- Kích chuột phải, xuất hiện hộp thoại

- Chọn các thẻ để thực hiện các thao tác cơ bản

+ Inser/ Edit: chèn nhánh hay chỉnh sửa nhánh

+ Select: chọn nhánh cần sửa

+ Cloud: tạo các kiểu đám mây cho nhánh

+ Link: liên kết file với nhánh đã chọn

+ Cut/ Copy/ Paste: cắt/ sao chép/ dán nhánh đã chọn

 C hỉnh sửa chủ đề trung tâm

- Kích chuột phải vào chủ đề trung tâm

- Xuất hiện hộp thoại

- Chỉnh sửa màu sắc, tên chủ đề trong hộp thoại đó

Liên kết file

- Ta chọn biểu tượng liên kết trên thanh công cụ

- Xuất hiện hộp thoại sau:

Trang 28

- Chọn file cần liên kết

- Chọn Add

- Sau đó xuất hiện hộp thoại khác Chọn OK

Lưu file sơ đồ tư duy

- Chọn biểu tượng “Save” trên thanh công cụ

- Chọn thẻ Save As để lưu file dưới dạng Mindmap

- Chọn thẻ Export để lưu file dưới các dạng khác

Trang 29

Mở các file sơ đồ tư duy đã có sẵn

- Kích double chuột vào biểu tượng “Open” trên thanh công cụ

- Xuất hiện hộp thoại, từ hộp thoại ta chọn đường dẫn đến các file cần mở

- Chọn Open

- Nếu muốn mở các file dạng khác, thì vào thẻ Open/ Import

Lưu file dạng text Lưu file dạng Web

Lưu file dạng PDF Lưu file dạng hình ảnh

Trang 30

 Một số chức năng khác trên thanh công cụ

• Xem hướng dẫn sử dụng iMindmap

- Chọn ELC Getting Started

- Xuất hiện cửa sổ hướng dẫn cách sử dụng iMindmap bằng video

• Chọn kiểu vẽ nhánh trên thẻ “Draw”

Thanh công cụ

dẫn sử dụng

Trang 31

• Trình chiếu sơ đồ

In sơ đồ ra giấy

- Nhấp vào biểu tượng máy in để in nhanh

- Hoặc nhấp vào menu chính và chọn Print

- Print: chọn lệnh in, số lượng bản in hoặc những hiệu chỉnh khác trước khi in

- Quick Print: in trực tiếp theo mặc định của máy

- Print Preview: xem, thay đổi định dạng trang trước khi in

- Page Setup: định dạng lề, header và footer, khổ giấy (ngang, dọc) và những định dạng khác

1.4 SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC

SĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở bậc tiểu học, trung học, đại học cũng như các bậc cao học hơn vì chúng giúp người dạy lẫn người học có thể hệ thống lại kiến thức, trình bày ý tưởng rõ ràng, kích thích sự sáng tạo, tăng cường khả

Trang 32

năng ghi nhớ, tìm ra nhiều ý tưởng mới… Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một số ý tưởng về việc sử dụng SĐTD trong dạy học

1.4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong soạn ghi chú cho bài giảng

Dùng SĐTD làm ghi chú cho bài giảng là một trong những cách ứng dụng hữu hiệu nhất So với cách viết ra thì soạn bài giảng theo hình thức SĐTD nhanh hơn nhiều và có

ưu điểm lớn là cho phép cả GV lẫn HS luôn có cái nhìn tổng quát về chủ đề Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, SĐTD cho phép GV chỉ cần xem lướt qua trước khi đến lớp là có thể nắm bắt trọng tâm Vì kiến thức của GV mỗi ngày càng phong phú, cùng một bài dạy sẽ hình thành nhiều bài giảng khác nhau nếu nó được sử dụng từ năm này sang năm khác, nên SĐTD giúp GV tránh được sự tẻ nhạt của các ghi chú đã quá cũ mà không cần phải tốn thêm công sức Nhờ thế, việc giảng dạy trở nên sinh động và hấp dẫn hơn đối với cả GV lẫn HS

Khi dùng làm dàn ý cho bài giảng, SĐTD giúp GV có khả năng duy trì sự cân đối tuyệt vời giữa tính ngẫu hứng, sinh động, bố cục rõ ràng, hợp lý của một bài thuyết trình Hơn nữa, SĐTD còn cho phép GV giảng bài theo đúng thời gian quy định, hoặc nếu thời gian quy định thay đổi vì lí do nào đó thì GV cũng có thể chỉnh sửa cho bài giảng dài hơn hay ngắn đi theo yêu cầu Chức năng chỉnh sửa này rất hữu ích trong trường hợp GV nhận được một thông tin mới nào đó ngay trước lúc giảng

1.4.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để hoạch định cho năm học và học kỳ

GV có thể dùng SĐTD để có cái nhìn tổng quát về chương trình học cả năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học cần phải giảng dạy

SĐTD cho học kỳ là một phần của kế hoạch hàng năm, thường có dạng SĐTD nhỏ hơn, và được phát triển thành nhiều nhánh trong chương trình cho năm Kế hoạch của học kỳ có thể cho thấy chủ đề và thứ tự giảng dạy mà GV sẽ theo trong giáo trình

1.4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy để lập kế hoạch ôn tập và thi cử

GV có thể hệ thống kiến thức theo chủ đề để tiện soạn nội dung ôn tập và đề thi phù hợp cho từng đối tượng học sinh khác nhau Một GV khi giảng dạy thường đảm nhận rất nhiều khối lớp và nhiều lớp, chính vì thế SĐTD trở thành công cụ để GV phân loại và hệ thống lý thuyết, bài tập đúng với chương trình Lập thời gian ôn tập từng chuyên đề cho từng lớp cụ thể, từ đó có thể thực hiện đúng tiến độ ôn tập mà nhà trường đề ra

1.4.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học trên lớp

Trang 33

Xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão Do vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên không thể nhồi nhét vào đầu học sinh một khối lượng lớn kiến thức mà phải quan tâm đến việc dạy học sinh phương pháp học sao cho học sinh có thể lần lượt khám phá những kiến thức đó Công việc này đòi hỏi phải có một quá trình rèn luyện Vì thế, phương pháp dạy học chủ yếu là hướng dẫn, tổ chức họat động nhóm (có thể là thảo luận, làm thí nghiệm hoặc quan sát thực tế,…) để học sinh tự tìm ra và củng cố kiến thức bằng SĐTD Thông qua đó, học sinh vừa tự lực nắm được tri thức, kỹ năng mới đồng thời rèn luyện được phương pháp tự học, cũng như tập dượt cho phương pháp nghiên cứu sau này Với cách làm việc rất tư duy này, giáo viên chỉ đóng vai trò cố vấn, góp ý nhằm hòan thiện một tri thức hay một

kỹ năng và khẳng định những tri thức khoa học đó

Phương tiện dạy học được sử dụng trong giảng dạy kết hợp với SĐTD rất phong phú,

có thể là tranh ảnh (ảnh tĩnh, ảnh động), là dụng cụ thí nghiệm Và thậm chí cả lớp học cũng được xem là một trong những phương tiện phục vụ đắc lực cho hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh Ngày nay, máy vi tính và các phần mềm dạy học được xem là những phương tiện dạy học hiện đại có những đóng góp to lớn trong việc phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh trong học tập Với nhiều phần mềm hữu ích có thể hỗ trợ cho giáo viên và học sinh dễ dàng thiết kế và sử dụng SĐTD trong việc dạy và học

1.4.5 K ết hợp giữa sơ đồ tư duy với các phương pháp dạy học hiện đại

Trên thực tế, trong quá trình dạy học nói chung cũng như dạy học hóa học nói riêng, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự hướng dẫn của giáo viên người học phải luôn tích cực chủ động

để cải biến chính bản thân mình về kiến thức, kỹ năng, thái độ để phát triển và hoàn thiện nhân cách, đạo đức Vì thế nếu người học không chủ động tự giác học, phương pháp học tập không đúng thì hiệu quả của hoạt động dạy học sẽ bị kéo theo xuống mức thấp nhất Ngược lại, nếu giáo viên rèn luyện cho học sinh có được những phương pháp học tập đúng, có kỹ năng tư duy, và xây dựng thói quen, ý chí tự lực trong học tập sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người Nhờ đó, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Do đó, người giáo viên phải hết sức linh hoạt trong việc kết hợp các phương pháp dạy học hiện đại với SĐTD

SĐTD với dạy học tình huống: giáo viên thiết lập các tình huống học tập sao cho có mâu thuẫn, tương tự như các tình huống phải giải quyết trong đời sống và thuận tiện để

Trang 34

tìm kiếm thông tin Các tình huống có vấn đề phải được tích hợp trong các từ khoá, các chủ đề chính, chủ đề phụ để học sinh sau khi giải quyết được vấn đề thì có thể ghi nhớ vấn đề một cách dễ dàng Từ đó vận dụng kiến thức đã học vào thực hành cũng như làm bài tập một cách có hiệu quả

Phối hợp làm việc nhóm khi thiết kế SĐTD: là hoạt động thiết yếu vì đây chính là điểm thể hiện hiệu quả cao nhất của học tập giải quyết vấn đề với công cụ là SĐTD Cần

có sự tự đánh giá bản thân và đánh giá trong nhóm sau mỗi vấn đề, mỗi đơn vị kiến thức Nên khi kết thúc một phần kiến thức, giáo viên nên đưa ra các chủ đề để mỗi nhóm thảo luận và đánh giá lẫn nhau Mặt khác, trong hoạt động học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động học tập độc lập của từng học sinh, mà chính môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò cũng tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các học sinh trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong lớp học, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, kiểm định, rồi tán thành hoặc bác bỏ Nhờ đó học sinh có thể nâng mình lên một trình độ mới mà vẫn duy trì học hỏi vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của giáo viên Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận nhóm

có rất nhiều ý kiến, trong khi đó mỗi người luôn muốn giữ chính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không đi đến được kết luận cuối cùng Sử dụng SĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi SĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề Không những vậy, SĐTD đa chiều tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến

và cùng nhau xây dựng nên SĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên SĐTD Nhờ đó giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học

Có thể cá thể hóa học tập bằng SĐTD để giúp học sinh hoàn toàn tự lực trong học tập Việc tự lực học tập của học sinh phải được rèn luyện từ khi đi học Tự lực học tập là

tự lực thu thập kiến thức được xây dựng bằng trí nhớ, tư duy và sự phát triển trí tuệ của học sinh Tự lực học tập sẽ giúp học sinh hiểu thấu đáo nội dung một kiến thức nào đó, là

cơ hội thuận tiện để học sinh phát huy tính sáng tạo Tự lực học tập tuy là khả năng riêng của mỗi học sinh nhưng nó sẽ càng được phát huy hơn nếu có thêm động cơ học tập đúng đắn nhằm tạo hứng thú học tập Hứng thú sẽ giúp học sinh kiên trì và tự lực để khám phá

ra một chân lý mới, một tri thức mới

Trang 35

Nói tóm lại, để sử dụng SĐTD có hiệu quả phải kết hợp với các phương pháp dạy học hiện đại SĐTD giúp học sinh chiếm lĩnh được tri thức trong thời đại bùng nổ thông tin một cách nhanh nhất, đồng thời rèn cho học sinh các kĩ năng cần thiết phù hợp với yêu cầu của xu thế đổi mới dạy học hiện nay

1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.5.2 Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến 84 giáo viên (phát ra 100 phiếu thu lại 84 phiếu) tại 15 trường THPT trong thành phố HCM, từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011

Bảng 1.1 Tổng hợp phiếu điều tra thực trạng

Trang 36

1.5.3 Phương pháp điều tra

Trao đổi, phỏng vấn, sử dụng phiếu điều tra

1.5.4 Kết quả điều tra

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học

Bảng 1.3 Mục đích sử dụng sơ đồ trong dạy học hóa học

Mục đích sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học SL %

Biểu diễn quá trình chuyển hóa của các chất 84 100,00

Kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh 46 54,76 Xây dựng cấu trúc bài học theo tiến trình dạy học 35 41,67

Bảng 1.3 cho thấy việc sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học được GV áp dụng rất thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau Đặc biệt là để biểu diễn quá trình chuyển hóa các chất (100%) và mô hình hóa một đơn vị kiến thức (96,43%) Một số mục đích khác được sử dụng ít hơn như xây dựng cấu trúc bài học theo tiến trình dạy học (41,67%) và kiểm tra, đánh giá kiến thức học sinh (54,76%) Ngoài ra còn có một số ý kiến khác như:

- Dùng để củng cố bài học

- Dùng để dẫn dắt học sinh vào bài mới

- Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học

Trang 37

Bảng 1.4 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng sơ đồ trong dạy học

Ưu điểm và hạn chế của sơ đồ trong dạy học SL %

Giúp trình bày ngắn gọn, cô đọng được nội dung kiến thức 84 100,00 Không thể sơ đồ hóa tất cả đơn vị kiến thức 84 100,00

Rèn luyện khả năng tuy duy bằng biểu tượng 75 89,29

Tất cả GV đều thống nhất việc sử dụng sơ đồ giúp trình bày ngắn gọn, cô đọng được nội dung kiến thức (100%) và học sinh dễ nhớ (97,62%), nhưng không thể mô hình hóa tất

cả nội dung (100%) Tuy nhiên, nó cũng thể hiện được nhiều ưu điểm như: giúp học sinh khái quát hóa được kiến thức và đặc biệt là rèn luyện được khả năng tư duy

Bảng 1.5 Mức độ hiểu biết và sử dụng SĐTD của giáo viên

Mức độ hiểu biết và sử dụng sơ đồ tư duy SL %

Chưa bao giờ nghe thuật ngữ “Sơ đồ tư duy” 15 17,86

Có nghiên cứu về mặt lí thuyết, nhưng chưa thực hành xây

Đã xây dựng và sử dụng vào mục đích cá nhân 4 4,76

Bảng 1.6 Mức độ sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn hóa học

Mức độ sử

dụng Không bao giờ Rất ít Thỉnh thoảng Thường xuyên

Trang 38

Qua bảng 1.5 và 1.6 cho thấy GV ở các trường THPT trong thành phố HCM có nhìn, gặp nhưng không lưu tâm (30,95%), hay có nghe nói nhưng chưa bao giờ sử dụng (28,57%), còn đã xây dựng và sử dụng SĐTD trong dạy học thì rất ít (3,57%) Chỉ có một hai giáo viên các trường chuyên thì sử dụng SĐTD vào dạy học hóa học

Nhìn chung, qua kết quả điều tra ở một số trường THPT ở thành phố HCM, chúng tôi nhận thấy phần lớn các giáo viên rất hay sử dụng sơ đồ vào dạy học hóa học, nhưng với SĐTD thì GV lại ít sử dụng Bởi vì, muốn sử dụng đúng mục đích và ý nghĩa của SĐTD giáo viên cần phải đầu tư rất nhiều Chính vì lẽ đó, qua đề tài này, chúng tôi mong rằng sẽ góp một phần nhỏ để nâng cao hiệu quả dạy học trong việc đổi mới nền giáo dục nước nhà

Trang 39

2 Để có cơ sở lí luận cho việc sử dụng SĐTD vào dạy học chúng tôi đã nghiên cứu kĩ về: khái niệm tư duy, các thao tác, hình thức tư duy, tư duy mở rộng và tư duy sáng tạo Đây là những lí luận quan trọng để cho chúng tôi xác định rõ ý nghĩa và vai trò của SĐTD, để từ đó chúng tôi có cách sử dụng SĐTD một cách hợp lí và hiệu quả nhất

3 Chúng tôi dựa vào ấn phẩm “Sơ đồ tư duy” là nguồn tài liệu chính để tìm hiểu về: khái niệm, đặc điểm và tác dụng của SĐTD Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tìm hiểu nhiều phần mềm để làm công cụ vẽ SĐTD, cuối cùng chúng tôi đã chọn phần mềm iMindmap – một phần mềm rất hữu dụng trong việc vẽ SĐTD

4 SĐTD được ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực, nhưng trong đề tài chúng tôi chỉ nhấn mạnh vai trò của SĐTD trong dạy học Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra các lí

do cần thiết trong việc kết hợp giữa SĐTD với các phương pháp dạy học hiện đại

5 Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học của

15 trường THPT Tp HCM với 84 phiếu điều tra Qua kết quả điều tra, chúng tôi đã nhận thấy phần lớn các giáo viên đều đã nghe hay tiếp xúc với SĐTD, nhưng việc sử dụng SĐTD vào dạy học hóa học là rất ít

Với những việc đã làm trong phần cơ sở và thực tiễn, chúng tôi đã có được một “kim chỉ nam” dẫn đường cho việc hoàn thành tốt phần nghiên cứu và thực nghiệm của mình

Trang 40

Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG

DẠY HỌC PHẦN HOÁ VÔ CƠ LỚP 11 BAN CƠ BẢN

2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11

Trong chương trình Hóa học 11, có hai phần: Hóa Vô cơ và Hóa Hữu cơ Phần Hóa

Vô cơ được trình bày trong 3 chương đầu của chương trình, với tổng số tiết đối với chương trình cơ bản là 30 tiết Trong phần này, chúng tôi trình bày một số nội dung cơ bản về mục tiêu và cấu trúc của Hóa Vô cơ lớp 11

2.1.1 M ục tiêu của các chương

2.1.1.1 Chương 1: SỰ ĐIỆN LI [30, tr72]

 Về kiến thức

Học sinh biết:

- Các khái niệm về sự điện li và chất điện li

- Hiểu nguyên nhân dẫn điện của dung dịch điện li, cơ chế quá trình điện li

- Độ điện li và cân bằng điện li là gì

- Thế nào là chất điện li mạnh điện li yếu

- Thế nào là axit, bazơ theo thuyết A-rê-ni-ut và thuyết Bron-stêt

- Tích số ion của nước là gì

Học sinh hiểu:

- Bản chất, điều kiện xảy ra phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li

 Về kĩ năng

- Viết các phương trình điện li của axit, bazơ, muối trong nước

- Tính pH của các dung dịch axit, bazơ

- Viết được phương trình ion của phản ứng trong dung dịch chất điện li

- Tiến hành thí nghiệm với lượng nhỏ hóa chất

 Về tình cảm thái độ

Từ nhận thức sâu sắc về “Sự điện li”, các khái niệm axit, bazơ, muối qua các học thuyết, học sinh thấy yêu thích môn Hóa học hơn Có ý thức vận dụng những kiến thức

đã học để giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hóa học trong cuộc sống sản xuất

và tính nghiêm túc trong khi thực hành

2.1.1.2 Chương 2: NHÓM NITƠ [30, tr96]

 Về kiến thức

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.  Sơ đồ tư duy: Tổng quan về chương trình hóa học THPT - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.1. Sơ đồ tư duy: Tổng quan về chương trình hóa học THPT (Trang 47)
Hình 2.2.  Sơ đồ tư duy: Khái quát chương điện li - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.2. Sơ đồ tư duy: Khái quát chương điện li (Trang 48)
Hình 2.3.  Sơ đồ tư duy: Khái quát chương nitơ - photpho - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.3. Sơ đồ tư duy: Khái quát chương nitơ - photpho (Trang 48)
Hình 2.4.  Sơ đồ tư duy: Khái quát chương cacbon - silic - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.4. Sơ đồ tư duy: Khái quát chương cacbon - silic (Trang 49)
Hình 2.6.  Sơ đồ tư duy theo ý chính của bài hợp chất - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.6. Sơ đồ tư duy theo ý chính của bài hợp chất (Trang 50)
Hình 2.8.  Sơ đồ tư duy khái quát về phản ứng nhiệt phân - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.8. Sơ đồ tư duy khái quát về phản ứng nhiệt phân (Trang 51)
Hình 2.11.  Sơ đồ tư duy bài: Phản ứng trao đổi ion - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.11. Sơ đồ tư duy bài: Phản ứng trao đổi ion (Trang 53)
Hình 2.12.  Sơ đồ tư duy bài: Nitơ - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.12. Sơ đồ tư duy bài: Nitơ (Trang 53)
Hình 2.17.  Sơ đồ tư duy bài: Cacbon - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.17. Sơ đồ tư duy bài: Cacbon (Trang 56)
Hình 2.19.  Sơ đồ tư duy bài: Silicat - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 2.19. Sơ đồ tư duy bài: Silicat (Trang 57)
Bảng điền - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
ng điền (Trang 88)
Bảng so sánh - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Bảng so sánh (Trang 89)
Hình 3.1.  Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút (Trang 105)
Hình 3.2.  Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút (Trang 106)
Hình 3.6.  Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra học kì 1 - thiết kế và sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông
Hình 3.6. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra học kì 1 (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w