Tại Đàng Trong, để nhanh chóng tạo được thế đứng vững vàng trên chính trường trong nước và khu vực, các chúa Nguyễn đã kết hợp việc thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển với chính sách
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
GIAO THƯƠNG ĐÀNG TRONG VỚI CÁC NƯỚC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã s ố: 60 22 54
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Ngô Minh Oanh
Trang 2Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2007
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô liệu, két
quả được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
This image cannot currently be displayed.
Trang 42 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ66T 866T
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU66T 1266T
4.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU66T 1366T
5.PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU66T 1366T
5.1.Phạm vi nghiên cứu66T 1366T
5.2.Nguồn tài liệu66T 1466T
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU66T 1466T
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN66T 1566T
Chương 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TÌNH HÌNH ĐÀNG TRONG THẾ
1.1.2 Tình hình kinh tế66T 1866T
1.1.3 Tình hình bang giao quốc tế66T 2066T
1.2 BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVIII66T 23
XVII-66T
1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội66T 2366T
1.2.2 Văn hóa Đàng Trong66T 2866T
1.2.3 Tình hình kinh tế66T 31
Trang 5Chương 2: GIAO THƯƠNG ĐÀNG TRONG VỚI CÁC NƯỚC TRÊN
TH Ế GIỚI THẾ KỶ XVII - XVIII66T 44
2.3.1 Đặc điểm giao thương Đàng Trong66T 9766T
2.3.2 Tính chất của giao thương ở Đàng Trong66T 11766T
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH GIAO THƯƠNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XỨ ĐÀNG TRONG66T 121
66T
3.1 TÁC ĐỘNG VỀ MẶT XÃ HỘI66T 121
Trang 63.2 TÁC ĐỘNG VỀ MẶT KINH TẾ66T 12666T
Trang 7M Ở ĐẦU
Thế kỷ XVII - XVIII, trong bối cảnh lịch sử đất nước diễn biến phức tạp bởi tình trạng cát cứ, nhằm tăng cường hơn nữa tiềm lực kinh tế của mình, Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài đều ra sức mở rộng giao thương với nhiều quốc gia trên thế
giới Có thể xem đây là thời kỳ thịnh vượng của thương mại Việt Nam thời phong
kiến Tại Đàng Trong, để nhanh chóng tạo được thế đứng vững vàng trên chính trường trong nước và khu vực, các chúa Nguyễn đã kết hợp việc thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển với chính sách hướng ngoại, lợi dụng vị thế của Đàng Trong để hội nhập vào nền kinh tế hải thương quốc tế Quá trình giao thương với các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á và châu Âu đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xứ Đàng Trong Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này vẫn còn quá ít những công trình nghiên cứu để tái hiện
bức tranh sinh động về hoạt động ngoại thương của một thời kỳ lịch sử được coi là
bản lề của thời cận đại và rút ra những kết luận cần thiết, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu những vấn đề có liên quan, đặc biệt định hướng cho quá trình hội nhập trong thời gian tới
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, các nước trên thế giới đang ra sức mở
rộng quan hệ bang giao và hợp tác làm ăn, buôn bán với các nước khác Tình hình đó đang tiến tới hình thành một trật tự thế giới mới mang tính đa phương, đa cực trên tinh
thần chung là hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển Việt Nam là một quốc gia vừa
trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trước mắt chúng ta đang mở ra những cơ hội vô cùng thuận lợi cho sự phát triển, đồng thời cũng đặt ra vô vàn thử thách hết sức nghiệt ngã, đòi hỏi phải tỉnh táo, cẩn trọng và hiểu biết để vượt qua Việc nghiên cứu quá trình giao thương trong lịch sử đất nước qua các thời kỳ là
vấn đề rất đỗi quan trọng, giúp chúng ta có thể xác định được vị trí của đất nước trong
mối quan hệ quốc tế cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết từ những
thời kỳ lịch sử đã qua để vận dụng vào thực tế hiện nay
Trang 8Việc nghiên cứu quá trình giao thương của nước ta nói chung, ở Đàng Trong
thế kỷ XVII - XVIII nói riêng, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, nó còn có ý nghĩa to lớn
về mặt văn hóa, văn minh Thiết nghĩ, để hiểu sâu sắc một thời kỳ lịch sử, chúng ta có nhiều cách tiếp cận khác nhau Bên cạnh cách tiếp cận về hình thái kinh tế - xã hội,
việc tiếp cận các nền văn minh sẽ giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện hơn Thế kỷ XVII - XVIII, khi ở Đàng Trong nói riêng, cả nước ta nói chung, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến đang tồn tại khá đậm nét thì việc giao thương với các nước trên thế giới diễn ra một cách sôi động, dẫn đến việc hình thành các cảng thị đã
tạo nên những dấu hiệu mới - dấu hiệu văn minh cận đại Nghiên cứu vấn đề này rõ ràng sẽ giúp chúng ta nhận thức được vai trò của hoạt động giao thương trong sự phát triển kinh tế, văn hóa đất nước; những yếu tố quan trọng trong sự chuyển mình theo
xu hướng phát triển chung của thế giới ngay từ thế kỷ XVII - XVIII
Do vậy, việc nghiên cứu về giao thương Đàng Trong với các quốc gia trên thế
giới ở thế kỷ XVII - XVIII là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn lao
Là một người làm công tác giảng dạy, từ lâu chúng tôi thấy, trong dạy học
lịch sử ở đại học, cao đẳng cũng như các trường phổ thông, vấn đề giao thương giữa nước ta và các quốc gia trên thế giới thời phong kiến xem ra còn khá mờ nhạt, việc giúp cho học sinh - sinh viên nhận thức đầy đủ về vấn đề này còn nhiều khó khăn Vì
vậy, nghiên cứu thành công vấn đề giao thương ở Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII sẽ góp một nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài
“ Giao thương Đàng Trong với các nước trên thế giới thế kỷ XVII – XVIII” làm
luận văn thạc sĩ của mình
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề Giao thương Đàng Trong với các nước trên thế giới thế kỷ XVII
số sử gia nước ngoài đã đề cập đến nội dung này, mở đầu là Ch Maybon với tác phẩm
thời cận đại ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến quan hệ buôn bán giữa Việt Nam với
Trang 9các nước trên thế giới Hai tác phẩm của W.J Buch là De Oost - Indische Compagnie
en Quinam, Amsterdam, HJ Paris, 1929, và La Compagnie des Indes Néerlandaises et
thương giữa Hà Lan với Đàng Trong nói riêng, Đông Dương nói chung Shuinen,
thuyền Nhật Bản với Trang Quốc và Đông Nam Á do Ko Bùn Do xuất bản tại Tokyo
vào năm 1958, và tác phẩm Senjokoku makki co kokuto to boekiko ni tsuiie do Toyo
gaku xuất bản năm 1956, nghiên cứu về hoạt động mậu dịch ở các cảng Chiêm Thành
thời mạt kỳ
Ngay từ thế kỷ XVII - XVIII, nhiều người phương Tây đã đến Đàng Trong
với những mục đích khác nhau Qua những bản tường trình, những tập hồi ký, họ đã
để lại những tư liệu quý giá cho những người nghiên cứu lịch sử Đàng Trong Tuy không mô tả nhiều về cảnh buôn bán ở vùng đất mới mẻ này, nhưng những trang viết
dù ít ỏi của họ cũng giúp chúng ta hình dung được ít nhiều về hoạt động giao thương
Đàng Trong thời kỳ này Chẳng hạn, Xứ Đàng Trong năm 1621 của C Borri đã đề
cập đến một số chi tiết về các cảng thị ở Đàng Trong; Thích Đại Sán trong Hải ngoại
tường trình của P Poivre, các tác giả châu Âu đã cho xuất bản thành tác phẩm Những
độ phát triển kỹ thuật ở Đàng Trong; J Koffler Miêu tả lịch sử xứ Đàng Trong vào thế
kỷ XVIII; Cuộc du hành đến Đàng Trong của J Barrow phản ánh tình hình xã hội
Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII, và những tài liệu lưu trữ về hoạt động các công
ty Đông Ấn phương Tây Đây thực sự là một nguồn tư liệu quan trọng bổ sung cho
những khiếm khuyết trong những bộ biên niên sử nước ta một số vấn đề quan trọng Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm kể trên, vấn đề giao thương ở Đàng Trong mới chỉ là
những nét chấm phá, thể hiện trên vài khía cạnh, chứ không phải là những công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu, nó chỉ chiếm một phần nhỏ trong nội dung tác phẩm
hoặc được thể hiện qua một hay hai chương của tác phẩm mà thôi Ngay cả Luận án
Trang 10Tiến sĩ Sử học của Li Tana tại Đại học Quốc gia Australia vào tháng 9-1992, Xứ
Đàng Trong, Lịch sử kinh tế - xã hội Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII đã dành 2
trong 7 chương để trình bày những vấn đề có liên quan đến hoạt động giao thương ở Đàng Trong, nhưng đây cũng chỉ là một công trình nghiên cứu về tình hình kinh tế -xã
hội nói chung của vùng đất này
Có thể nói rằng, trong số các tác phẩm của người nước ngoài nghiên cứu về
xã hội Đàng Trong đã được công bố từ trước đến nay, công trình nghiên cứu của Li Tana là tác phẩm có dấu ấn đậm nét nhất về giao thương Đàng Trong thế kỷ XVII -XVIII Li Tana đã thu thập được một khối lượng tư liệu hết sức phong phú, phản ánh khá đậm nét tình hình kinh tế và xã hội Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII nói chung,
về giao thương nói riêng, đặc biệt đã sử dụng nhiều tư liệu nước ngoài rất đáng quý
Với lối trình bày sinh động, có sự đối chiếu cụ thể, Li Tana đã rút ra những kết luận khoa học có tính thuyết phục cao
Ở Việt Nam, vấn đề giao thương thời phong kiến chưa thực sự trở thành một
đề tài được quan tâm của các nhà khoa học Một số bộ sách về lịch sử dân tộc, khi biên soạn các tác giả chỉ điểm xuyết vài sự kiện liên quan đến giao thương ở các thời
kỳ như Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ; cũng như
trong những bộ giáo trình Lịch sử Việt Nam, các tác giả cũng chỉ dành một vài trang
để trình bày khái lược về tình hình giao thương ở các thế kỷ XVI - XVIII Gia Định
cảng thị ở Nam Bộ nhưng chưa phản ánh được hoạt động giao thương như thế nào;
khóa, buôn bán trao đổi trong và ngoài nước, song cũng chỉ giúp chúng ta hình dung được đời sống xã hội của vùng đất Thuận - Quảng trong thời gian này mà thôi Ngay
cả tác phẩm Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang xuất bản năm 1967, mặc dầu đã
cung cấp nhiều tư liệu gốc có giá trị, nhưng cũng chỉ dành 11/550 trang của công trình
để trình bày vấn đề giao thương giữa Đàng Trong với các nước Đông Á và Châu Âu
một cách khái lược
Trang 11Tuy nhiên, tính đến nay, vấn đề giao thương ở nước ta thòi phong kiến cũng
đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị Có thể kể đến hai tác phẩm chuyên nghiên cứu về đề tài này: Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX
của Thành Thế Vỹ, xuất bản năm 1961; Phổ cảng vùng Thuận - Quảng thể kỷ
thương Việt Nam trong những thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX, đi sâu nghiên cứu thủ
tục và cách thức buôn bán, các mặt hàng hóa, giá cả, Trong khi nghiên cứu, mặc dầu không tách biệt ngoại thương Đàng Trong và Đàng Ngoài, nhưng người đọc có thể
nhận thấy, tác giả đã chú trọng đến giao thương ở Đàng Ngoài nhiều hơn Luận án
của Đỗ Bang đi sâu nghiên cứu để xác định vị trí, sự ra đời và mô tả hoạt động buôn bán tại các phố cảng như Hội An, Thanh Hà và Nước Mặn Chúng tôi xem đây là
những tài liệu quan trọng, cung cấp những thông tin khoa học rất đáng tin cậy cho
việc thực hiện đề tài luận văn của mình
Ngoài ra, vài thập kỷ gần đây, giới sử học nước ta đã làm được một số việc quan trọng và đạt một số thành tựu đáng kể:
Sưu tầm, khảo cứu và dịch thuật các tác phẩm, bài viết của một số thương gia, giáo sĩ nước ngoài đến Đàng Trong ương các thế kỷ XVII - XVIII, nhất là một số
hồi ký, ký sự, các bản tường trình của những người đã từng hoạt động và chứng kiến công cuộc giao thương ở Đàng Trong
Tổ chức một số cuộc hội thảo mang tầm quốc gia và quốc tế về Phố Hiến; Đô
Qua các hội thảo, vấn đề quan hệ quốc tế của nước ta vào những thế kỷ XVII - XVIII sáng tỏ dần, nhất là hoạt động giao thương của cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài trong
thời kỳ này với từng nét chấm phá quan trọng Đặc biệt, tháng 3.2007, một hội thảo
quốc tế với chủ đề "Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII do
Trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đã thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia Hội thảo đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề về các mối quan hệ và bang giao truyền thống của Việt Nam với các
Trang 12nước châu Á; Việt Nam trong thời hoàng kim của hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI - XVII Hội thảo đã chỉ ra sự hạn chế, thụ động của hoạt động ngoại thương của người Việt, ngay cả trong thời hoàng kim của nó
Một sô bài viêt đê cập đen tình hình kinh tê, chính trị, xã hội và văn hóa Đàng
Trong đăng rải rác trên tạp chí Xưa & Nay, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Khoa
Trong, hoạt động của thương nhân nước ngoài, vấn đề tiền tệ, giá cả, số lượng và chất lượng hàng hóa, Tác giả các công trình nghiên cứu, nhất là Nguyễn Văn Kim, Đỗ Bang cũng đã mở ra một vài định hướng quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài này
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ và hệ thống về Giao thương Đàng Trong với các nước trên thế giới thế kỷ
XVII-XVIII
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn được làm sáng tỏ một số vấn đề
cơ bản như sau:
Vị trí Việt Nam nói chung, Đàng Trong nói riêng trong bang giao quốc tế thế
kỷ XVII-XVIII
Nhu cầu phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển nội và ngoại thương của xã hội Đàng Trong cũng như nguyên nhân của sự bế tắc trong vấn đề này vào cuối thế kỷ XVIII Trong phần hoạt động giao thương giữa Đàng Trong với các nước trên thế
giới, luận văn cố gắng làm rõ mối quan hệ với từng nước với những hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, từ đó khái quát để nêu lên những đặc điểm và tính chất của quá trình giao thương giữa Đàng Trong với các nước trong bối cảnh chung của khu vực và thế giới
Từ những nghiên cứu cụ thể, làm sống lại bức tranh sinh động của một thời
kỳ lịch sử ở Đàng Trong, cho thấy được tính chất của nền kinh tế - xã hội và vài đặc điểm văn hóa Đàng Trong ngày xưa, miền Nam ngày nay để có thể làm cơ sở để đề
xuất, kiến nghị cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới
Trang 13Hoạt động giao thương khách quan đã tác động đến xã hội Đàng Trong trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong đó có những mặt vừa là
tiền đề vừa là hệ quả của quá trình giao thương
Cuối cùng là góp một phần vào việc dạy học Lịch sử Việt Nam thời trung - cận đại ở các trường phổ thông và chuyên nghiệp
4.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng chính của đề tài là nghiên cứu quá trình giao thương giữa Đàng Trong với các nước trên thê giới, trong đó chủ thê của môi quan hệ này là xứ Đàng Trong với Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp Song để làm
nổi bật lên được những vấn đề đã được xác định trong phần Mục đích nghiên cứu, đề
tài mở rộng tìm hiểu tình hình thế giới được xem là bối cảnh lịch sử của quan hệ giao thương ở Đàng Trong thời kỳ này Bối cảnh lịch sử đó có ý nghĩa chi phối và phần nào quy định tính chất, đặc điểm của quá trình giao thương Đàng Trong lúc bấy giờ
5.PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
Về thời gian: Từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII, chủ yếu nghiên cứu
giao thương dưới thời các chúa Nguyễn
Về không gian: Xứ Đàng Trong (từ nam sông Gianh đến Cà Mau ngày nay)
về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình giao thương giữa Đàng Trong với
một số nước phương Tây và khu vực, cụ thể là giao thương với Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước ở Đông Nam Á Từ đó rút ra
những đặc điểm và tính chất của quá trình giao thương, đồng thời thấy được những tác động của quá trình giao thương đối với việc phát triển về kinh tế, văn hóa, của
xứ Đàng Trong trong thời kỳ này
Trang 145.2.Ngu ồn tài liệu
Để thực hiện đề tài, trước hết chúng tôi phải nghiên cứu những tài liệu kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về các hình thái kinh tế - xã hội, về những quy luật
vận động và phát triển kinh tế, để trang bị thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
Khó khăn lớn trong khi thực hiện đề tài này là tài liệu quá ít ỏi lại tản mạn
Hầu hết tài liệu gốc nằm ở các trung tâm lưu trữ nước ngoài, chỉ có một ít được dịch nguyên bản sang tiếng Việt, còn phần lớn được các nhà nghiên cứu trong nước sử
dụng dưới dạng trích dẫn hoặc giới thiệu tác phẩm
Tuy vậy, chúng tôi đã cô găng tập hợp được những tài liệu cơ bản, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình Ngoài những công trình nghiên cứu
đã được công bố của Thành Thế Vỹ, Phan Khoang, Đỗ Bang, Li Tana, những hồi
ký cũng như những công trình nghiên cứu của các giáo sĩ, thương gia nước ngoài đã
từng đến Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, của các nhà sử học, kinh tế học nước ngoài nghiên cứu vê thời kỳ này là không thê thiêu được Ngoài ra, các biên niên sử của
nước ta như Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Việt sử ký toàn thư, tác phẩm Phủ biên
quốc gia là những tài liệu góc rát có giá trị
Địa chí các tỉnh thành từ Quảng Bình vào đến Cà Mau là nguồn tài liệu hỗ trợ
hết sức đắc lực cho việc thực hiện đề tài
Những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu lịch sử,
Xưa & Nay, Khoa học xã hội, đã cung cấp nhiều tư liệu quý giá cho công trình
nghiên cứu này
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hai phương pháp cơ bản được sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp Lịch sử và phương pháp Logic Phương pháp lịch sử sẽ được sử dụng để khôi
phục lại bức tranh kinh tế - xã hội và hoạt động giao thương Đàng Trong thế kỷ XVII
- XVIII; phương pháp logic được dùng để nghiên cứu và trình bày những tính chất, đặc điểm của quá trình giao thương ở Đàng Trong thời kỳ này
Trang 15Đề tài liên quan khá chặt chẽ đến các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, thậm chí cả quân sự nữa, do đó phương pháp liên ngành sẽ phát huy
tốt vai trò của nó trong quá trình nghiên cứu
Một số phương pháp cụ thể khác cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, trình bày như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, đôi chiêu,
Ngoài phần Dẫn luận và Kết luận, luận văn chia làm 3 chương:
-XVIII
Đàng Trong
Trang 16N ỘI DUNG
Chương 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TÌNH HÌNH ĐÀNG
1.1.1 Tình hình chính trị - xã hội
Vào thế kỷ XVII - XVIII, ở một số nước phương Tây, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển nhảy vọt Chế độ phong kiến với quan hệ sản xuất lỗi
thời đã trở thành trở lực của sự phát triển kinh tế hàng hóa Giai cấp tư sản ngày một
lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống phong kiến
Những cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra ở Hà Lan (1566), Anh (1640), Bắc Mỹ (1775), Pháp (1789) đã diễn ra và từng bước xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập hệ
thống chính trị tư sản, mở đường cho sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa và lan
tỏa ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới với những mức độ khác nhau
Cách mạng tư sản cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, của nền sản xuất hàng hóa trong các thế kỷ XVI - XVIII kéo theo hàng loạt
biến đổi về mặt xã hội Đó là sự gia tăng dân số, sự phát triển của đô thị, sự hình thành
những trung tâm công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là sự xuất hiện những nhu
cầu mới về thị trường, nhân công, nhiên liệu và nguyên liệu
Chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ hình thành và lớn mạnh trong các thế kỷ XVI -XVIII
gắn liền với những cuộc viễn du tìm kiếm thị trường, gắn với việc tìm đất lập thương điếm, hình thành những công ty buôn bán, gắn liền với quá trình thực dân hóa ở các châu lục chậm phát triển Bang giao quốc tế được mở rộng mà trước hết là trên lĩnh
vực kinh tế Mặt khác, giao thương Đông - Tây đã trở thành một trong những hoạt động có vai trò quan trọng trên lộ trình xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây trong buổi đầu thời cận đại
Trang 17Như vậy, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là thời kỳ phát sinh phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự bành trướng của nó trên phạm vi thế giới dưới hình thức tìm kiếm
thị trường Bên cạnh đó, hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo được đẩy mạnh Đây là bối cảnh quốc tế quan trọng tác động lớn đến nền thương mại thế
giới và khu vực
Ở khu vực châu Á, cho đến thế kỷ XVII - XVIII, chế độ phong kiến còn tồn tại khá vững chắc Những cơ sở kinh tế và xã hội của nó gần như còn giữ nguyên trạng Tuy nhiên, chiến tranh phong kiến giữa các lực lượng cát cứ đối lập và giữa các quốc gia phong kiến lân bang trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á Những biến động chính trị ữong khu vực, đặc biệt là sự thăng trầm trong quan hệ ba cực giữa Đàng Trong (Đại Việt) với Chân Lạp và Xiêm tác động không nhỏ đến công cuộc mở đất và tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt Đàng Trong
Việc xâm lấn đất đai của người Miến, sự thâm nhập khá thường xuyên của người Hoa, người Java, và cả sự hiện diện của các thế lực chính trị, lực lượng truyền giáo phương Tây là những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu
Việt,
Những biến đổi có tính chất cơ bản về đối tượng trong quan hệ đối ngoại một
mặt tạo nên cơ hội để các nước phương Đông tiếp xúc giao lưu với văn minh phương Tây đang trên đường phát triển; mặt khác lại đặt ra những nguy cơ, thách thức lớn đối
với nền độc lập của các nước phương Đông Tình hình này buộc các quốc gia phải có
Trang 18tính toán lại trong chính sách đối ngoại của mình Vấn đề "đóng cửa" hay "mở cửa"
thực sự trở thành bài toán không đơn giản đối với chính quyền các quốc gia phong
kiến phương Đông
1.1.2 Tình hình kinh t ế
Sau khi xóa bỏ được các thế lực lãnh chúa, thủ tiêu lãnh địa phong kiến để thành
lập vương quyền thống nhất vào các thế kỷ XIV - XV, thị trường dân tộc ở nhiều nước châu Âu hình thành Đây là điều kiện quan trọng để tạo nên sự chuyển biến trong nền kinh tế châu Âu Đặc biệt, sau các cuộc phát kiến địa lý, nhiều tác nhân thuận lợi đã thúc đẩy lực lượng sản xuất châu Âu phát triển nhanh
Chủ nghĩa tư bản thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào lĩnh vực nông nghiệp Quá trình tước đoạt ruộng đất diễn ra nhiều nơi Các chủ đất khoanh vùng và chuyển
hướng kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, tạo nên mô hình kinh tế trang trại Địa tô phong kiến được chuyển dần sang địa tô tư bản chủ nghĩa Nhiều công cụ sản xuất được cải tiến, nhiều tiến bộ về kỹ thuật trồng trọt, phân bón được áp dụng, năng suất lao động cao hơn nhiều so với thời kỳ trước đó
Một hiện tượng nổi bật trong sự phát triển kinh tế ở nhiều nước phương Tây vào
thế kỷ XVII - XVIII là yếu tố tư bản chủ nghĩa đang xâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực công thương nghiệp Công trường thủ công trở thành hình thức tổ chức sản xuất phổ
biến ở Anh, Pháp, Bắc Mỹ, Nhiều ngành nghề mới xuất hiện và phát triển cùng với
việc ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất Nêu ở thế kỷ XVII, công trường thủ công tư
bản chủ nghĩa còn mang tính chất phân tán thì vào thế kỷ XVIII, công trường thủ công
đã chuyển sang giai đoạn tập trung Nhiều công trường có qui mô lớn ra đời Sự tiến
bộ về tổ chức sản xuất, về cải tiến kỹ thuật, sự phát triển ngành nghề làm cho năng
suất lao động tại nhiều nước phương Tây tăng nhanh và chất lượng tốt, hàng hóa phong phú và đa dạng Công nghiệp phương Tây càng phát triển mạnh mẽ hơn sau khi các cuộc cách mạng tư sản ở các nước đã hoàn thành và cách mạng công nghiệp thực
sự bùng nổ ở Anh vào giữa thế kỷ XVIII
Trang 19Cùng với sự phát triển của công nghiệp, ngoại thương cũng bắt đầu hưng thịnh Nhu cầu trao đổi sản phẩm, mua nguyên liệu ngày một tăng Trao đổi không còn mang tính khu vực mà đã mở rộng ra bên ngoài Ở các nước như Hà Lan, Anh,
Pháp đã thành lập những công ty mậu dịch đảm trách chủ yếu hoạt động mậu
dịch đối ngoại và thu lợi nhuận lớn Sự tiến bộ về kỹ thuật hàng hải cùng với nhu cầu
mở rộng thị trường buôn bản đã tạo điều kiện cho phương Tây đi xa hơn, đến tận châu Phi, châu Mỹ và châu Á
Sự tăng trưởng của mậu dịch hàng hải đã thúc đẩy ngành tài chính phát triển theo Dịch vụ chuyển đổi tiền tệ giữa các nước ra đời và bắt đầu phát triển Các sở giao dịch xuất hiện ở châu Âu chẳng những có ảnh hưởng lớn đến kinh tế các nước phương Tây mà còn tác động đến cả thế giới
Tình hình kinh tế thế giới phát triển không đồng đều, trong khi kinh tế tư bản
chủ nghĩa đang trên đà phát triển ở phương Tây thì hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á đang tồn tại nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông với phương thức bóc lột địa tô phong kiến Ruộng đất canh tác manh mún, kỹ thuật lạc hậu, công cụ sản xuất còn thô
sơ, năng suất lao động thấp Thủ công nghiệp phát triển với các ngành nghề truyền
thống, song cách thức tổ chức sản xuất chưa có nhiều biến chuyển tiến bộ, chủ yếu là
thủ công nghiệp gia đình, trừ một số cơ sở sản xuất do nhà nước trực tiếp quản lý
Mặc dù vậy, yếu tố kinh tế hàng hóa đã phát triển thúc đẩy quá trình trao đổi nội địa
và làm xuất hiện nhu cầu mở rộng ra thị trường bên ngoài Tuy nhiên, khác với các nước phương Tây, nền kinh tế hàng hóa của các nước trong khu vực không có điều
kiện phát triển đến mức tạo nên sự chuyển biến lớn về kiến trúc thượng tầng xã hội các nước vào thế kỷ XVII - XVIII
Sự chênh lệch về trình độ kinh tế giữa hai khu vực ở thế kỷ XVII - XVIII sẽ tác động không nhỏ đến tình hình giao thương Đông - Tây, tạo nên những đặc điểm riêng
biệt trong quan hệ thương mại của thời kỳ này
Trang 201.1.3 Tình hình bang giao qu ốc tế
Bang giao quốc tế mà trước hết là giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước, các khu vực xuất hiện sớm từ thời cổ đại Vào thời trung cổ, việc buôn bán giữa Đông - Tây được xúc tiến khá mạnh mẽ thông qua "Con đường hương liệu" (hay còn gọi là
"Con đường hồ tiêu") và "Con đường tơ lụa" Đó là hai con đường một thủy, một bộ, đem của cải, báu vật của Á Đông tập trung về miền duyên hải ở Hắc Hải và Hồng Hải
để các lái buôn Venise và Genes chuyển hàng sang bán ở các nước châu Âu
Từ thế kỷ XV, những tiến bộ về kỹ thuật đường biển cho phép những quốc gia hàng hải thực hiện hải trình dài và vượt xa ra đại dương Vì thế, sau những phát kiến địa lý đầu thế kỷ XVI, thương mại Đông - Tây bước sang giai đoạn mới, mở rộng và mang tính quốc tế Chính những cuộc phát kiến này mở ra kỷ nguyên đại hàng hải của nhân loại, dẫn giai cấp tư sản châu Âu đi khắp nơi trên thế giới
Sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp châu Âu thời kỳ này làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm thị trường ngoài châu lục Châu Á được coi là một thị trường béo bỡ
có sức hấp dẫn lớn đối với chủ nghĩa tư bản phương Tây Con đường hàng hải từ châu
Âu theo Đại Tây Dương qua bờ biển châu Phi lại được nối liền với Ấn Độ Dương, mở đường cho sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây sang phương Đông Mốc
mở đầu cho quá trình xâm nhập của người châu Âu vào mạng lưới buôn bán truyền
thống của các nước châu Á là khi Bồ Đào Nha đến Ấn Độ vào năm 1498 Sau đó, Bồ Đào Nha đã nối dài được hành lang buôn bán của mình từ Lisbon đến Góa (Ấn Độ, 1510) sang bán đảo Malaysia (Mallaca, 1511), nối liền với Ma Cao (Trung Quốc, 1557), rồi đến Hirado, Deshima, (Nhật Bản, từ sau năm 1543) Trên con đường hàng
hải Mallaca - Ma Cao, thuyền buôn Bồ Đào Nha bắt đầu tiếp xúc với các điểm buôn bán của Đại Việt Năm 1564, Tây Ban Nha chiếm được Philippine, dùng địa bàn này
để thâm nhập thị trường Đông Bắc Á
Từ nửa sau thế kỷ XVI, khi trở thành một cường quốc hàng hải quốc tế, nhiều đội thương thuyền, nhiều công ty buôn bán của Hà Lan đã đến Indonesia, Ấn Độ để mua hàng hóa Sau khi chiếm được Batavia từ tay Bồ Đào Nha, Hà Lan đã xây dựng
Trang 21nơi đây thành một thương điếm để đặt trụ sở của công ty Đông Ấn Hà Lan điều hành
hoạt động buôn bán của Hà Lan trong khu vực nhằm tiến tới độc quyền thương mại khu vực Trung Ấn Nhờ có đội thương thuyền lớn, thế lực kinh tế mạnh, thương mại
Hà Lan áp đảo được Bồ Đào Nha và lập được thương điếm ở Tích Lan, Xiêm La,
Nhật Bản, Indonesia,
Cùng với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan, Anh, Pháp cũng tìm cách đến giao thương với nhiều nước châu Á, châu Phi Để cạnh tranh, công ty Đông Ấn Anh, công ty Đông Ấn Hà Lan, công ty Đông Ấn Pháp được thành lập, Các nước Tây Âu
thực sự tổ chức cuộc chạy đua kiếm lợi nhuận từ hàng hóa của các nước phương Đông Cho đến nửa đầu thế kỷ XVII, Hà Lan vẫn còn giữ địa vị độc quyền buôn bán
với khu vực Trung Ấn, nhưng từ nửa sau thế thế XVII, người Anh đã vươn lên giành được ưu thế hàng hải từ tay người Hà Lan và mở rộng buôn bán đến các nước phương Đông Ở Bantam (Ấn Độ), Áo Môn, đảo Đài Loan (Trung Quốc) đều có thương điếm quan trọng của Anh Pháp cũng tích cực buôn bán ở khu vực châu Á vào thế kỷ XVIII Trung Quốc, Ấn Độ, Xiêm, Đàng Trong, Đàng Ngoài, là thị trường buôn bán
của thương nhân Pháp
Thương mại khu vực châu Á phát triển sôi động hẳn lên Ngoài việc buôn bán
với các nước láng giềng truyền thống, vào thế kỷ XVII - XVIII, do chịu ảnh hưởng
của luồng thương mại quốc tế, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á và cả châu Á đều
tiếp xúc và buôn bán với các nước phương Tây ở những mức độ khác nhau Tình hình bang giao châu Á có những thay đổi bởi những chính sách của đối ngoại của các nhà nước phong kiến
Nhà Minh - Trung Quốc chủ trương "Hải cấm", hạn chế và kiểm soát ngoại thương, mặc dù vào năm 1567, có nới lỏng hơn chính sách này, cho phép người Hoa vượt biển buôn bán và cấp giấy phép cho thuyền buôn ra nước ngoài, nhưng vẫn hạn
chế quan hệ với Nhật Bản Từ nửa sau thế kỷ XVI, hoạt động ngoại thương của Trung
Quốc tăng trưởng ở Đông Nam Á Trong khi đó, quan hệ buôn bán trực tiếp giữa Trung Quốc với Nhật Bản bị khống chế dẫn đến hoạt động buôn lậu dọc ven biển gia tăng Sau khi nhà Minh bị lật đổ, nhà Thanh trị vì Trung Quốc (1644), trong phong
Trang 22trào "phản Thanh phục Minh, nhiều người Hoa rời đất Trung Quốc di cư xuống vùng Đông Nam Á Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh giữa nhà Thanh với họ Trịnh (Trịnh Thành Công cầm đầu) ở Đài Loan (1661 - 1683), chính sách cấm vận của nhà Thanh cũng một thời thúc đẩy quan hệ ngoại thương giữa Đài Loan với Đông Nam Á Chính quyền Mạc phủ Nhật Bản thực hiện chủ trương "Châu ấn thuyền" (Shuinsen), cấp giấy phép cho thuyền Nhật Bản đến các nước Đông Nam Á buôn bán
và thu mua hàng của Trung Quốc từ các nước này Chính sách Châu ấn thuyền (có thể thiết lập khoảng từ năm 1592 - 1596, nhưng chính thức thực hiện từ đầu thế kỷ XVII)
đã tạo điều kiện cho thuyền buôn Nhật Bản mở rộng quan hệ giao thương với các nước Đông Nam Á Đến năm 1635, Mạc phủ ban hành chính sách "Tỏa quốc", hạn
chế ngoại thương nhằm chống lại sự cạnh tranh và thâm nhập của nước ngoài, thúc đây sự phát triên kinh tế trong nước, nhưng vân duy trì quan hệ với công ty Đông An
Hà Lan và Trung Quốc như những cửa ngõ thông thương với thế giới Năm 1715, chính quyền Edô đã đặt ra qui định hạn chế số thuyền buôn Trung Hoa đến Nhật Bản Chính sách này buộc các Hoa thương phải chuyển hướng hoạt động xuống Đông Nam
Á Đàng Trong trở thành tụ điểm buôn bán của thương thuyền người Hoa từ Trung
Quốc và từ các nước Đông Nam Á đến buôn bán
Những biến động về tình hình bang giao khu vực, đặc biệt do sự thay đổi chính sách kinh tế đối ngoại của hai nước vốn có nền ngoại thương phát triển là Trung Quốc
và Nhật Bản đã ảnh hưởng lớn đến nền thương mại Đông Nam Á và cả châu Á, trong
đó có Đại Việt
Tại Đông Nam Á, vịnh Xiêm là nơi hội tụ của nhiều đoàn thương gia khu vực và phương Tây, Xiêm trở thành cường quốc thương mại trong khu vực Đông Nam Á
Sự tham gia của các nước khu vực vào nền thương mại quốc tế làm xuất hiện
mạng lưới thương mại hàng hải quốc tế ở khu vực, nó xuất phát hoặc từ Hirado hay Nagasaki của Nhật tới Ma Cao, hoặc từ Nhật Bản xuống phía Nam qua một số cảng
thị nằm ở phía bắc vĩ tuyến 10 bắc tới Trung Hoa Trên con đường này, đoạn giữa
Trang 23Nhật và các cảng thị do các tàu Nhật phụ trách, còn đoạn từ các cảng thị đến Trung Hoa do các thuyền buôn Trung Hoa đảm nhận
Ngoài hoạt động thương mại, trong bang giao quốc tế và khu vực thời kỳ này còn có những hoạt động truyền giáo của Giáo hội Thiên Chúa giáo tại nhiều nước châu Á nhằm gây thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở những vùng đất mới
Cùng với việc bành trướng của người Bồ Đào Nha từ thế kỷ XVI, các giáo sĩ dòng Tên cũng theo chân lái buôn người Bồ đi truyền giáo Tại những căn cứ của người Bồ đều đã thành lập Giáo hội Công giáo Giáo sĩ của một số nước khác ở phương Tây theo thuyền buôn vào mở rộng hoạt động truyền giáo ở nhiều nước trong khu vực Khoảng năm 1635, Giáo hội Đàng Trong của nước Đại Việt được thành lập
Xúc tiến thương mại Đông - Tây, phát triển giao thương giữa các nước trong khu vực, đẩy mạnh hoạt động truyền giáo là những nét nổi bật của tình hình bang giao
quốc tế và khu vực châu Á thế kỷ XVII - XVIII
THẾ KỶ XVII-XVIII
1.2.1 Tình hình chính tr ị - xã hội
Lịch sử Việt Nam trong các thế kỷ XVI - XVIII diễn biến khá phức tạp Sau cái
chết của vua Lê Thánh Tông (1497), chính quyền Lê sơ bắt đầu suy yếu Năm 1527,
Mạc Đăng Dung cướp ngôi, lập ra nhà Mạc (tồn tại đến năm 1592), nhưng vào năm
1533, những quần thần cũ của nhà Lê đứng đầu là Nguyễn Kim đã giương cao lá cờ
"Phù Lê diệt Mạc", đưa con của Lê Chiêu Tông là Lê Ninh lên làm vua (tức là Lê Trang Tông) mở đầu thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788) trong lịch sử Việt Nam
Nhà Lê tái lập nhưng không nắm được thực quyền, sau khi Nguyễn Kim chết, quyền hành nhà Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm - người con rễ của Nguyễn Kim Mâu thuẫn Mạc - Trịnh ngày một gay gắt, dẫn đến cục diện Nam - Bắc triều, chia cắt đất nước Từ vùng Thanh Hoa trở vào Nam là vùng kiểm soát của họ Trịnh, còn lại ở phía
bắc thuộc quyền kiểm soát của nhà Mạc
Trang 24Trong khi cục diện Nam - Bắc triều chưa chấm dứt thì mầm móng của một cuộc xung đột mới đã từng bước hình thành Tại Nam triều, mâu thuẫn giữa hai tập đoàn
Trịnh - Nguyễn ngày càng sâu sắc Để thâu tóm quyền bính về tay mình, Trịnh Kiểm
đã ám hại Nguyễn Uống (con cả Nguyễn Kim), khiến người em trai là Nguyễn Hoàng đang làm quan trong triều nhìn thấy nguy cơ bị hãm hại, đã nhờ chị gái (vợ Trịnh
Kiểm) xin Trịnh Kiểm cho được vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa ở phía nam Năm
1558, Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và thuộc hạ rời đất Thanh Hoá vào Thuận Hoá Năm 1570, Nguyễn Hoàng được giao cai quản luôn đất Quảng Nam Mưu đồ cát cứ
bắt đầu từ thời Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) và biến thành hiện thực dưới thời trị vì
của chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613- 1635)- người hoàn thành xuất sắc tham vọng
của vị tiên nhiệm Nguyễn Hoàng
Thời gian đầu, với tư cách là một Trấn thủ, rồi một Tổng trấn tướng quân, Nguyễn Hoàng ngoài việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một phiên thần, nộp thuế khoa, giữ được quan hệ thân thích và luôn tỏ thái độ trung thành với nhà Lê, giúp nhà
Lê và cùng chúa Trịnh đánh bại kẻ thù chung là họ Mạc Về mặt chính quyền, Nguyễn
Hoàng vẫn giữ nguyên những đơn vị hành chính cũ của họ Trịnh, cả bộ máy quan
chức lúc ấy vẫn chưa hề có sự thay đổi gì Nhưng từ năm 1600, khi lực lượng Mạc được dẹp yên, mâu thuẫn Trịnh - Nguyễn bộc lộ rõ nét hơn, đặc biệt từ khi Trịnh Tùng tìm cách kiềm chế Nguyễn Hoàng Từ đó Nguyễn Hoàng bắt đầu thực hiện một chính sách cai trị mới, tách dần khỏi sự ràng buộc của họ Trịnh Ông cho dời dinh từ Ái Tử
về Dinh Cát, cử con trai thứ sáu là Nguyên Phúc Nguyên vào làm trấn thủ Quảng Nam (1602) Năm 1604, Nguyễn Hoàng bắt đầu cho thay đổi khu vực hành chính Năm
1611, sau khi đánh bại quân Champa quấy nhiễu cướp phá biên giới, chiếm đất, chúa Nguyễn cho đặt thêm phủ mới Phú Yên
Năm 1613, Nguyễn Hoàng chết, Nguyễn Phúc Nguyên thay cha tiếp tục củng cố xây dựng cơ sở cát cứ
Từ khi Nguyễn Phúc Nguyên kế tục sự nghiệp, bộ máy chính quyền Đàng Trong
có nhiều biến đổi Chúa thải hồi các quan lại do nhà Lê tiến cử, cải tổ lại bộ máy chính quyền Khi thấy mưu đồ ly khai của họ Nguyễn ngày càng bộc lộ rõ nét, chúa
Trang 25Trịnh lấy danh nghĩa vua Lê khởi binh đánh Nguyễn Năm 1627, mượn cớ Nguyễn Phúc Nguyên không nộp phú cống, Trịnh Tráng tiến quân vào bắc sông Nhật Lệ Từ
đó chiến tranh Trịnh - Nguyễn diễn ra liên miên Từ năm 1627 đến 1672, đã có 7 lần đánh nhau giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn Không phân thắng bại, hai bên lấy sông Linh Giang (sông Gianh) làm ranh giới Phần đất chúa Nguyễn cai quản
ở phía nam được gọi xứ Đàng Trong hay Nam Hà để phân biệt xứ Đàng Ngoài hay
Bắc Hà của vua Lê - chúa Trịnh
Dinh chúa Nguyễn đóng ở Phú Xuân, nhưng không hình thành một chính quyền trung ương Buổi đầu nhân dân gọi người đứng đầu là chúa, nhưng các chúa Nguyễn
tự xưng Quốc công Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu dự định tách Đàng Trong thành một nước riêng tự xưng Đại Việt Quốc Vương, nhưng việc không thành Nối
tiếp ý đồ chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương,
lập triêu đình, thay đôi hệ thông quan chức và đặt thêm các bộ
Như vậy, từ một phiên thần của vua Lê - chúa Trịnh, các chúa Nguyễn đã dần
dần tách hẳn và thiết lập một bộ máy chính quyền riêng ở Đàng Trong với những nét đặc trưng riêng biệt:
Chính quyền Đàng Trong được hình thành và xây dựng trong quá trình khai phá
mở rộng đất đai nên chưa hoàn chỉnh và thống nhất về mặt tổ chức, mức độ tập quyền chưa cao Đây là một đặc điểm thể hiện sự khác biệt với chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài Ở Đàng Ngoài, năm 1599, Trịnh Tùng đã buộc vua Lê phong cho mình
chức Đô Nguyên Soái Tổng Quốc Chính, tước Thượng Phụ Bình An Vương, rồi tự
nắm hết quyền bính Những người kế nghiệp tiếp tục tự xưng vương
Do đặc điểm vùng đất Đàng Trong, trong lịch sử hình thành của mình luôn phải đương đầu các thế lực mạnh hơn đó là họ Trịnh ở phía Bắc, chính quyền Xiêm, chính quyền Chân Lạp ở phía Tây Nam, nên chính quyền chúa Nguyễn xây dựng trong thời
kỳ đầu (thế kỷ XVII) thiên nhiều hơn về mặt quân sự Chúa là người lãnh đạo cao
nhất lực lượng vũ trang, là tổng chỉ huy quân đội Những viên chức trong bộ máy chính quyền phần lớn xuất thân từ hàng võ Cả nước được đặt dưới quyền kiểm soát
Trang 26của các quan võ mà hầu hết là những võ quan thân cận dòng họ Nguyễn Hơn nữa,
mảnh đất Đàng Trong luôn luôn biến đổi trong quá trình khai phá, mọi thứ đều thay đổi, từ người dân, làng mạc đến kinh đô Vì thế, chúa Nguyễn phải ra sức xây dựng và
nắm lấy lực lượng quân đội - lực lượng không những đóng vai trò phòng thủ biên cương mà còn thay thế vai trò của dân lao dịch ở điạ phương
Tuy nhiên, khi thiết lập chính quyền mang nặng tính quân sự, chúa Nguyễn cũng
thấy được vai trò viên chức dân sự trong việc điều hành bộ máy chính quyền quốc gia
Những khoa thi được tổ chức cũng nhằm vào mục đích ấy Vị trí của quan văn ngày càng được xác lập vào thế kỷ XVIII khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã kết thúc Lúc này, tính quân sự đã được thay dần bằng tính dân sự hành chính
Xứ Đàng Trong hình thành và phát triển trong vòng hai thế kỷ (XVII -XVIII)
"Chúa Tiên" - Nguyễn Hoàng là người mở đầu xây dựng cơ nghiệp, kế tiếp là 8 đời chúa thay nhau cai trị mảnh đất này Lãnh thổ Đàng Trong lúc đầu chỉ gồm hai trấn Thuận Hoa và Quảng Nam nhỏ hẹp Trong quá trình xây dựng và củng cố quyền lực
của mình, các chúa Nguyễn đã không ngừng mở rộng lãnh thổ về phía nam
Năm 1611, sau khi đánh bại lực lượng quân đội Champa, Nguyễn Hoàng cho đặt thêm phủ Phú Yên Năm 1693, chiếm thêm vùng đất từ Phú Yên đến bờ sông Phan Lang, đặt ra hai phủ Thái Khang và Diên Khánh, sau đó chiếm luôn phần đất còn lại
lập nên trấn Thuận Thành và giao cho người Champa cai quản Như vậy, đến năm
1693, chúa Nguyễn đã hoàn toàn sáp nhập Champa vào Đại Việt, chỉ để lại cho họ
phần đất Thuận Thành và một tước Phiên vương tồn tại thêm một thời gian để đến năm 1697 lập thành phủ Bình Thuận
Cũng vào đầu thế kỷ XVII, người Việt đã khai khẩn đất Đồng Nai, Sài Gòn, lập nên thôn xóm Công cuộc khẩn hoang cứ tiếp tục mở rộng, kết hợp với chính sách đối ngoại khôn khéo, trong đó cuộc "hôn nhân chính trị" hay những cuộc tấn công của quân Xiêm đối với Chân Lạp và sự cầu cứu chúa Nguyễn của quốc vương Chân Lạp góp phần đáng kể trong việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở đất Đàng Trong Đến giữa thế kỷ XVIII (1757), lãnh thổ Đàng Trong được mở rộng đến cả vùng Nam
Trang 27Bộ ngày nay Trên lãnh thổ từ phía nam sông Gianh đến mũi Cà Mau, chúa Nguyễn chia thành 12 đơn vị hành chính gọi là dinh Vùng Thuận Quảng cũ gồm 6 dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu (hay Chính dinh cũ), Chính Dinh, Quảng Nam Vùng đất mới khai thác chia làm 6 dinh: Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ Ngoài ra có một trấn phụ thuộc là Hà Tiên
Lực lượng chủ yếu trong công cuộc khai khẩn đất đai phía Nam là cư dân Việt đến theo những đạt di dân Đầu thế kỷ XVII, người Việt đã có mặt ở một số nơi ở Nam Bộ Họ đến sinh sống đầu tiên ở vùng Đông Nam Bộ rồi sau đó lan tỏa về đồng
bằng sông Cửu Long Cùng với người Việt, làn sóng di cư của người Hoa về phía Nam diễn ra mạnh mẽ trong hai thế kỷ này Một bộ phận đã dừng chân ở Đàng Trong Chính sách thông thoáng của các chúa Nguyễn giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc
sống, khai khẩn, mở mang diện tích canh tác, phát huy tính năng động của cư dân vốn
có truyền thống thương mại, góp phần tạo dựng một xứ Đàng Trong khởi sắc Trong hai thế kỷ tồn tại, người Hoa, người Chăm và người Khmer đã cùng người Việt từng bước hòa nhập tạo dựng cuộc sống Xuất phát từ sự khác biệt ở nhiều yếu tố và ở
những mức độ khác nhau, đã hình thành ở nơi đây một diện mạo kinh tế - xã hội có sự khác biệt ít nhiều so với Đàng Ngoài và các triều đại phong kiến trước đó
Do nền kinh tế hàng hoá và giao lưu buôn bán phát triển mạnh mẽ, nhiều thị tứ,
đô thị, thương cảng ra đời Xét trên phương diện xã hội, tình hình đó góp phần quan
trọng làm gia tăng đáng kể về số lượng tầng lớp thợ thủ công và thương nhân trong cơ
cấu xã hội - nghề nghiệp ở nông thôn Đàng Trong ở thời kỳ này Đồng thời do điều
kiện tự nhiên thuận lợi, và đặc biệt là chính sách khuyến khích khai khẩn đất đai, khuyến khích chế độ tư hữu đã nhanh chóng hình thành ở đây bộ phận sở hữu lớn (điền chủ) Họ khác với tầng lớp địa chủ thông thường về tiềm lực kinh tế lẫn phương
thức tổ chức sản xuất Một tầng lớp điền chủ với qui mô sở hữu hàng vạn mẫu ruộng,
như Lê Quí Đôn đã phản ánh: " người giàu ở các địa phương hoặc 40, 50 nhà hoặc
chức sản xuất của điền chủ bước đầu mang màu sắc tư bản chủ nghĩa Tình hình phân
Trang 28hóa xã hội ở Đàng Trong diễn ra nhanh chóng hơn Tuy nhiên, quan hệ giữa địa chủ
với nông dân - hai giai cấp cấu thành xã hội Đàng Trong chưa phát triển đến mức tạo nên một thế đối lập tuyệt đối
1.2.2 Văn hóa Đàng Trong
Miền đất mà vào thế kỷ XVII - XVIII được gọi là Đàng Trong của nước Đại
Việt được hình thành trong tiến trình nam tiến của lịch sử dân tộc từ thế kỷ XI đến thế
kỷ XVIII Trong tiến trình mở cõi về phương Nam có mấy sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng mà trước hết là hai cuộc "hôn nhân ngoại giao" mang đầy màu sắc chính
trị: Năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân dùng hai châu Ô - Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân để miền đất Thuận - Quảng ra đời sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt;
sự kiện thứ hai diễn ra năm 1620, khi chúa Sãi - Nguyễn Phúc Nguyên gả công nữ
Ngọc Vạn cho quốc vương Chân Lạp Chay Chetta li để rồi ba năm sau (1623) một
trạm thu thuế của chúa Nguyễn mọc lên ở vùng Prey Nokor và Kas Krobey thuộc lãnh
thổ của người Chân Lạp Năm 1611, Nguyễn Hoàng chiếm được vùng đất Nam Trung
Bộ của người Champa, đặt phủ Phú Yên mở đầu cho công cuộc khai khẩn đại qui mô
về vùng đất Nam Bộ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất "Bảy Xã" cho chúa Nguyễn là
một trong những tiền đề để vùng đất đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng lãnh thô của Đại Việt Như thê, quá trình hình thành vùng đát Đàng Trong là quá trình mở
rộng lãnh thổ của nhà nước phong kiến Đại Việt bằng những con đường khác nhau: chiến tranh, hôn nhân chính trị và ngoại giao Trong đó, biện pháp ôn hòa vẫn là biện pháp chủ đạo Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành mối quan hệ cộng
cư của các dân tộc sinh sống trên vùng đất này
Cùng với việc mở mang bờ cõi, lưu dân Việt tiến về phía Nam Trước thế kỷ XVII, họ từ phía bắc (Thanh - Nghệ - Tĩnh) mang theo văn hóa Thăng Long tiến về Thuận - Quảng vốn là nơi đang tồn tại nền văn hóa Champa khác lạ Một cuộc tiếp xúc, giao thoa văn hóa diễn ra Tại đây, người Việt đã tiếp biến nhiều yếu tố của văn hóa Chăm để thích nghi với môi trường sống mới Sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm
của cư dân sinh sống trên vùng đất Thuận - Quảng đã tạo nên nhũng sắc thái mới của văn hóa Đại Việt, đó là văn hóa vùng Thuận - Quảng
Trang 29Văn hóa Thuận - Quảng, tiểu vùng của văn hóa Đại Việt vừa mới định hình sau
mấy thế kỷ, lại một lần nữa được gặp gỡ với các nền văn hóa ở phía nam khi người
Việt từ Thuận - Quảng tiến hành những đợt di dân lớn vào Nam Bộ trong hai thế kỷ XVII - XVIII Tại đây, cư dân Việt vẫn là chủ thể Vì thế, văn hóa Thuận -Quảng là
những hạt giống đầu tiên được gieo trồng trên miền đất mới khai thác này, chúng sẽ là
cơ sở của văn hóa Nam Bộ Tuy nhiên, văn hóa Nam Bộ không phải là văn hóa Thuận
Quảng mà là văn hóa Thuận Quảng trong sự giao thoa tiếp biến giữa các nền văn hóa
Việt - Chăm, Việt - Hoa, Việt - Khmer Sự gặp gỡ của các cộng đồng cư dân trên đất Đàng Trong, sự tác động qua lại phong phú giữa các nền văn hóa đã tạo nên những nét dung dị, hài hòa, cởi mở, phóng khoáng của văn hóa Nam Bộ, văn hóa Đàng Trong - văn hóa cộng cư giữa các tộc người
Người dân Việt khi di cư vào Đàng Trong phần lớn là những người nghèo khó
Họ tha phương vì mục đích cầu thực, khác hoàn toàn mục đích chính trị của dồng chúa Nguyễn Hoàng Họ rời bỏ quê hương chỉ vì miếng cơm manh áo, muốn thoát
khỏi cảnh đói nghèo, thoát khỏi những luật lệ hà khắc, vì sưu cao thuế nặng hoặc vì
cảnh khói lửa binh đao của các tập đoàn phong kiến gây nên mà phải đi về phương nam tạo dựng cuộc sống Tư tưởng tự do là động lực thôi thúc đưa tất cả họ đến vùng đất mới, ngay cả Nguyễn Hoàng cũng muốn thoát khỏi sự kiềm tỏa của họ Trịnh mà
ra đi Dầu với mục đích kinh tế hay chính trị, tất cả họ đã gặp nhau ở một điều căn bản mang tính nhân văn sâu sắc: Tự do! Li Tana đồng tình với quan điểm cửa Taylor khi ông viết: "Ông đã dám liều mình mang tiếng là kẻ làm phản bởi vì ông đã tìm ra một
nơi người ta không đặt nặng vấn đề này", và cho rằng, "Đổ là một thế giới rộng lớn hơn cho người ta một ý thức lớn hơn về tự do - tự do chọn nơi họ ưa thích và cách
s ống họ muốn" [85, tr.199]
Đến vùng đất mới, đất đai rộng lớn bao la, sông ngòi chằng chịt, thú dữ rình
rập, lưu dân Việt buộc phải thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu thủy văn mới
mẻ Đường sông là mạch máu lưu thông chính, nên ghe thuyền trở thành phương tiện giao thông chủ yếu Những giáp nước, nơi ghe thuyền thường dừng lại đợi con nước
lớn, nước ròng thường là nơi xuất hiện các tụ điểm buôn bán, thị tứ, phố phường
Trang 30Sông nước đã "điều kiện hóa" phương thức phát triển kinh tế - xã hội như là một qui
luật ở Nam Bộ trong hai thế kỷ XVII - XVIII, hình thành ở đây nền văn minh "sông nước", văn minh "miệt vườn" Không những Nam Bộ, vùng đất từ Bố Chánh đến Phú Yên, sông ngòi cũng là con đường giao thông huyêt mạch A Rhodes đèn Đàng Trong
lần đầu vào năm 1624, trong tác phẩm của mình, ông viết: "Họ cũng rất giàu có vì đất
đai phì nhiêu với 24 con sông cung cấp nước, cũng nhờ đó mà rất tiện việc đi lại bằng sông ngòi, ti ện việc thông thương và hành trình" [Ì, tr.49]
Sự ly khai và dần dần đi đến đoạn tuyệt của các chúa Nguyễn đối với chính quyền vua Lê chúa Trịnh Đàng Ngoài làm cho chính quyền họ Nguyễn không thể sử
dụng học thuyết của Khổng Tử như là khuôn vàng thước ngọc trong việc trị nước Tư tưởng tự do cùng với những điều kiện tự nhiên ưu đãi, môi sinh xã hội đã làm cho ảnh hưởng của Nho giáo nhạt dần trong tâm thức con người phía nam qua các thế hệ Tính khép kín của nền văn hóa Việt truyền thống bị phá vỡ dần khi họ đi "mở cõi"
Không bị kiềm tỏa bởi thiết chế chính trị quan liệu và những định chế mang tính nguyên tắc bất biến của tư tưởng Nho giáo, Đàng Trong vừa tìm cách đối phó với Đàng Ngoài vừa xây dựng những nguyên tắc cho sự vận hành một thiết chế chính trị
mới, vị chúa Nguyễn đầu tiên đã lựa chọn rồi quyết định dựa vào Phật giáo, dựa vào
tư tưởng quảng đại, khoan dung của đạo Phật, và lấy đó làm nền tảng căn bản cho việc
hoạch định các chính sách của mình
Nền văn hóa "mở" của Đàng Trong hình thành và trở thành một yếu tố quan
trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa cũng như sự hoạt động mạnh mẽ
của kinh tế ngoại thương Ngược lại, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt
việc đẩy mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài cũng có tác động đến việc xoá bỏ tính khép kín của văn hoá truyền thống để hình thành nên một nền văn hoá mở, văn hóa hướng ngoại của xứ Đàng Trong
Đàng Trong đát rộng người thưa, con người tự do thoáng đãng, ít bị gò bó bởi
những chính sách thống trị của giới cầm quyền và những qui định trong cách ứng xử mang tính khuôn mẫu của đạo Nho trong xã hội truyền thống Hơn nữa, ở đây nhu cầu
Trang 31nhân lực lớn nên từ hương chức thôn ấp, điền chủ cho đến chính quyền chúa Nguyễn
ở Đàng Trong đều chấp nhận rộng rãi sự ngụ cư và nhập cư, thậm chí còn tạo điều
kiện thuận lợi, khuyến khích và săn đón người phương xa đến Trong khi Nho giáo không có điều kiện để phát huy mạnh mẽ vai trò của nó trong đời sống xã hội thì chính đó lại là điều kiện thuận lợi cho sự phát triên mạnh mẽ của đạo Phật và sự tiếp
nhận dễ dãi đối với đạo Thiên Chúa, tạo cho Đàng Trong một không khí thoáng mở
của nền văn hóa cộng cư
Borri đã tiếp xúc với cư dân Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII và ông nhận xét:
như thể người ta đã quen biết chúng tôi từ lâu Đó là một cảnh cửa rất tốt đẹp mở ra
Bom đã nhận xét, cái tinh thần của người Đàng Trong từ phía bắc đã vượt núi trèo đèo
để tiến vào tận mũi Cà Mau là tinh thần phóng khoáng, hiếu khách, hiếu thị để đón
nhận những luồng gió mới Điều đó góp phần quan trọng để họ nhập cuộc một cách nhanh chóng vào luồng thương mại quốc tế và khu vực, tiếp nhận tôn giáo mới, tư tưởng mới của phương Tây
1.2.3 Tình hình kinh t ế
1.2.3.1 Sự phát triển sản xuất hàng hóa
- Trong nông nghi ệp
Đàng Trong có thể chia làm hai tiểu vùng với những điều kiện tự nhiên và lịch
sử đặc thù Vùng Thuận - Quảng vốn được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt từ sự kiện
Chế Mân - Huyền Trân năm 1306, đến năm 1471, chính thức hình thành 2 đạo thừa tuyên: Thuận Hóa và Quảng Nam Vùng đất phía nam Thuận - Quảng sáp nhập dân
Trang 32vào lãnh thô Đàng Trong từ năm 1611 cho đèn giữa thê kỷ XVIII Trên cả hai vùng đất này, cư dân chủ yêu là người Việt gồm nhiều thành phân khác nhau từ phía Bắc vào lập nghiệp Đến thế kỷ XVIII, ở cả 2 vùng dân số tăng nhanh: Ở Thuận Hóa có 126.857 dân đinh, ở Quảng Nam có 95.731 dân đinh, ở phía Nam Thuận Quảng có 69.338 dân đinh; đất khai thác được mở rộng
Vốn là vùng đất xa trung ương, các triều đại Lê Sơ, Lê - Trịnh không quan tâm nhiều đến việc đo đạc và xác định đất công, đất tư Theo lệ thuế chung, hàng năm chính quyền địa phương sai người đi khám xét "chiếu số ruộng cày mà thu thuế",
thậm chí có lúc "định trước một số thu nào đó" Cho đến năm 1669, chúa Nguyễn mới cho quan đi đo đạc ruộng đất đang cày cấy ở các huyện, xã định làm ruộng công, chia cho dân để cày cấy Lại qui định, từ đó về sau, ai khai khẩn được đất hoang thành
ruộng, cho được xem là ruộng tư
Quá trình khai khẩn đất hoang được đẩy mạnh vào nửa sau thế kỷ XVII và suốt
cả thế kỷ XVIII Do những qui định trên của nhà nước, nên đặc điểm nổi bật về quan
hệ ruộng đất ở xứ Đàng Trong là sự phát triển mạnh mẽ chế độ tư hữu ruộng đất
Là địa bàn cư trú của người Chăm và một số ít người Khmer, nhưng việc khai thác qui mô lớn ở vùng đất này chỉ được bắt đầu với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam của người Việt từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng, xây
dựng lực lượng cát cứ trên vùng đất này Điều kiện tự nhiên nơi đây có nhiều thuận
lợi, đất đai màu mỡ, diện tích rộng mênh mông, sông ngòi chằng chịt cộng thêm một
số chính sách khuyến nông rộng rãi, mềm dẻo, linh động của các chúa Nguyễn đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp nhanh chóng phát triển, đặc biệt ở vùng châu thổ sông
Cửu Long
Việc công nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất thông thoáng của các chúa Nguyễn là một tác nhân quan trọng kích thích nền sản xuất hàng hóa Trong quá trình khai khẩn ruộng đất ở Nam Bộ, do điều kiện đất rộng người thưa, lại xuất phát từ mong muốn mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang vùng này nhằm tăng thêm
tiềm lực cát cứ, các chúa Nguyễn không những cho phép lưu dân được tự do sử dụng
Trang 33đất cày cấy, mà còn thi hành chính sách khuyến khích việc trưng đất khẩn hoang, lập thành ruộng đất tư cho riêng mình Ngoài ra, các chúa Nguyễn còn vận động những người có vật lực tập hợp dân nghèo ở vùng Bắc Đàng Trong vào làm ăn ở phía Nam Hàng loạt địa chủ ở miền Trung rời quê hương vào đây xây dựng trang trại Chúa Nguyễn còn cho phép chủ điền trang thâu nhận thêm điền nô Một số tướng lĩnh cũng nhân đó bắt quân dân khai phá đất hoang, lập làm ruộng tư Vì thế, bên cạnh bộ phận
sở hữu nhỏ của nông dân tự canh còn hình thành cả một bộ phận sở hữu lớn của điền
chủ về ruộng đất
Chính sách cho phép và khuyến khích việc khai khẩn đất hoang dưới dạng tư điền của các chúa Nguyễn trên vùng đất Đồng Nai - Gia Định (Nam Bộ ngày nay) trong thế kỷ XVII - XVIII đã tạo điều kiện cho bộ phận ruộng đất tư hữu phát triển nhanh chóng và chiếm tỉ lệ áp đảo trong toàn bộ diện tích được khai khẩn trong thời gian này Không những thế, trong tổng số ruộng đất tư hữu, bộ phận ruộng đất thuộc
sở hữu lớn của giai cấp điền chủ ngay từ rất sớm đã chiếm một tỉ trọng cao Đồng
thời, nạn kiêm tính ruộng đất cũng mau chóng phát triển làm tăng cường hom nữa loại
sở hữu này Khác với Đàng Trong, vào thế kỷ XVIII, ở Đàng Ngoài đang diễn ra quá
trình "ph ả sản của chế độ sở hữu lớn, phong kiến và sự phổ cập của chế độ sở hữu
nh ỏ về ruộng đất của nông dân lao động"[ỉ46, tr.407-408] Như thế, trong khi ở Đàng
Trong diễn ra quá trình tập trung ruộng đất, phát triển sở hữu lớn, thì ở Đàng Ngoài sở
hữu lớn vốn đã hình thành nhưng không mạnh ở thế kỷ trước lại bị giải thể nhường
chỗ cho tiểu tư hữu
Bên cạnh ruộng đất tư hữu, sở hữu ruộng đất công cũng hình thành Qui định năm 1669 của chúa Nguyên có tác dụng tái thiêt chê độ sở hữu ruộng đát công làng
xã Tuy nhiên, điều đó chỉ có ý nghĩa đối với vùng đất từ Bình Định trở ra vì bấy giờ
phạm vi kiểm soát của chính quyền họ Nguyễn chưa được mở rộng về phía nam Từ
đó về sau không thấy có thêm một quyết định tương tự như thế nữa Vì thế ruộng đất công ở Nam Bộ rất ít ỏi Ngay cả ở vùng Thuận Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ruộng đất công cũng không nhiều
Trang 34Bên cạnh ruộng đất công làng xã, ở Đàng Trong còn có một số ruộng đất công khác được gọi là Quan điền trang và Quan đồn điền Đây là hình thức sở hữu nhà nước, nhưng thực chất là sở hữu tư nhân của chúa Nguyễn Theo Lê Quí Đôn, chúa Nguyễn lấy ruộng đó làm của tư, rồi chia cho dân cày cấy hoặc thuê người cày cấy, đến khi thu hoạch đem về sung vào kho của chúa, cấp ngụ lộc cho người trong họ và
bề tôi bên dưới
Khác với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ít cấp ruộng lộc cho quí tộc, quan lại cao
cấp Đương thời ở Đàng Trong, ruộng công và ruộng tư đều nộp thuế như nhau
Sự phân tích trên cho thấy, chính sách nhất quán của chúa Nguyễn là khuyến khích khẩn hoang lập thành ruộng tư Đó là xu hướng phát triển tiến hóa của chế độ
ruộng đất ở đây Trong khi đó, ở Đàng Ngoài, ngay từ bước đi ban đầu của xu hướng
đó - tức là quá trình tư hữu hóa cũng diễn ra một cách khó khăn, chúa Trịnh luôn tìm cách ngăn chặn nó Như vậy, xét về quan hệ ruộng đất, hai xứ Đàng Trong - Đàng Ngoài phát triển theo hai xu hướng khác nhau
Các chính sách kinh tế của chúa Nguyễn cùng với tình hình quan hệ ruộng đất
tất yếu sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Đàng Trong
Là vùng đất mới khai phá, việc quản lý của chính quyền còn lỏng lẻo, người nông dân có điêu kiện phát huy hét khả năng lao động, nâng cao năng suât Theo Lê Quí Đôn, ở vùng Thuận - Quảng, nông nghiệp rất phát triển Một thương nhân kiêm
giáo sĩ là Bom sống ở Đàng Trong từ năm 1618 đến 1622 có nhận xét: "Nước lụt lầm
cho đát màu mỡ và phì nhiêu nên môi năm cổ 3 vụ lúa, đây đủ và dôi dào đen nôi
không ai ph ải lam lũ vát vả đê sinh sông, ai cũng sung tủc"[23R9R ÍT 19] Vào
giữa thê kỷ XVIII, lái buôn p Poivre cũng nhận xét: "Ruộng đất ở Đàng Trong màu
tr ồng nhiều loại ngũ cốc khác như ngô, kê, đậu "[145, tr.363] Lúa gạo ở Đàng
Trong trở thành một loại hàng hóa quan trọng vào thế kỷ XVIII Sự có mặt lúa gạo
Trang 35hàng hóa ở thị trường trong và ngoài nước thời kỳ này là sự kiện đánh dấu bước chuyển biến lớn của lịch sử kinh tế Đại Việt vốn mang nặng tính tự cung tự cấp
Về lâm sản, nhân dân khai thác ở dãy núi Trường Sơn nhiều sản vật quí hiếm như kỳ nam, trâm hương, quê, sừng tê, ngà voi, sáp ong, dâu rái, Trâm hương mà
loại tốt là kỳ nam, thứ sản vật quý người đương thời rất ưa chuộng vì chữa được nhiều
bệnh, ở miền núi các phủ Phú Yên, Qui Nhơn, Diên Khánh, Bình Khương đều có
Bom khi đến Đàng Trong đã ghi lại: chỉ một tàu chở đầy trầm hương cũng đủ cho
thương gia trở nên giàu cổ và sung túc suốt đời Thế nên phần thưởng lớn nhất chúa
Đàng Trong cũng có nhiều loại gỗ tốt Lâm sản là món hàng trao đổi buôn bán có giá
trị đối với thương khách trong và ngoài nước Việc khai thác trầm hương, kỳ nam,
sừng tê, đã lôi cuốn một bộ phận kinh tế miền núi vào luồng thương mại
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, nghề đánh bắt hải sản có những bước tiến bộ
Dọc theo bờ biển, cư đan thường sống bằng nghề chài lưới Đánh cá, làm mắm, chế
biến nước mắm đem lại những nguồn lợi lớn cho cư dân các miền duyên hải ở biển Thuận Hóa, Quảng Nam còn có đồi mồi, xà cừ Ở các đảo trong biển Quảng Nam, Bình Khương, Thuận Hải có yến sào - một sản phẩm nổi tiếng quí hiếm trong và
ngoài nước A Rhodes viêt "Cũng chỉ ở Đàng Trong mới có thứ tổ yến, người ta cho
bà chúa"[1, tr.50] Sự phát triển của nông nghiệp cùng với sự đa dạng, phong phú sản
vật lâm hải, đặc biệt là những sản vật quí hiếm của xứ Đàng Trong là một yếu nhân thúc đẩy quá trình giao thương Đàng Trong với một số nước trên thế giới vào thế kỷ XVII - XVIII
- Trong th ủ công nghiệp
Ở Đàng Trong, vào thế kỷ XVII - XVIII, chúa Nguyễn cho lập nhiều xưởng thủ công nghiệp nhà nước như xưởng đóng thuyền, chế tạo vũ khí, làm đồ trang sức, đồ
gỗ phục vụ vua chúa, tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao
Trang 36Hoàn cảnh mới của đất nước đã làm tăng nhu cầu về hàng thủ công, vì thế thủ công nghiệp nhân dân cũng phát triển mạnh khắp các làng xã, những thợ thủ công chuyên nghề rèn, mộc, nề, dệt vải lụa, kéo tơ, đúc chuông, chạm trổ, làm đá, làm gốm, làm đồ trang sức, dệt chiếu, nón lá, đã tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn trong đó, nhiều sản phẩm đã trở thành hàng hóa trao đổi
Nghề làm gốm nổi tiếng ở Biên Hòa, nghề rèn sắt nổi tiếng ở Hiền Lương, Phú Bài (Thừa Thiên); nghề dệt chiếu nổi tiếng ở Đồng Nai, dệt chiếu hoa nổi tiếng ở phủ Điện Bàn, phủ Qui Nhơn; phủ Phú Yên nổi tiếng dệt chiếu thảm, Kéo tơ, dệt lụa và làm đường là hai nghề thủ công phát triển mạnh nhất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
nội địa và bán cho thương nhân nước ngoài
Vào thế kỷ XVII - XVIII, nghề kéo tơ, dệt lụa phát triển cả hai xứ Trong và Ngoài của Đại Việt Ở Đàng Ngoài đã xuất hiện những làng dệt nổi tiếng như làng La,
"Hà Tây quê lụaP
99 P, Ở Đàng Trong nổi tiếng có Thăng Hoa, Điện Bàn (Quảng Nam),
Phủ Cam (Phú Xuân) Giáo sĩ A.Rhodes đã từng nhận xét rằng, Đàng Trong "nhiều tơ
l ụa đến nổi còn dùng để đan lưới và bện dây thuyền"[1, tr.49] Lái buôn kiêm giáo sĩ
Bom cũng đồng quan điểm khi ông viết, ở Đàng Trong "có rất nhiều tơ lụa, đến nổi
Trong sản xuất khối lượng tơ hàng năm rất lớn, đầu thế kỷ XVII, Bom viết: " số
lượng rất nhiều và dư thừa đến nổi người Đàng Trong đủ dùng riêng cho mình mà
tuy không thanh và m ịn nhưng bền và chắc hơn lụa Tàu " [23, tr.32]
Về tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính chất gia đình, bên cạnh đó đã xuất hiện
một số cơ sở sản xuất có hình thức cao hơn, đó là phường bạn Lê Quí Đôn khi vào Phú Xuân có chứng kiến trường hợp có 3 ấp, mỗi ấp 10 nhà, mỗi nhà có 15 thợ dệt
[82, tr.332] Đây là một hình thức phường hợp tác mang tính tự nguyện của thợ thủ công Nghề kéo tơ, dệt lụa có triển vọng phát triển cao, song do những hạn chế của nhà nước về khổ vải, việc độc quyền mua tơ và bán tơ cho thương nhân nước ngoài, thuế má, lao dịch, đã làm cho nghề dệt không phát triển mạnh lên để chuyển sang
một phương thức sản xuất mới
Trang 37Một sản phẩm xuất khẩu quan trọng từ Đàng Trong là đường mía Nghề làm đường vốn xuất hiện từ lâu ở nước ta, đến thế kỷ XVII - XVIII thì phát triển rất mạnh
ở Đàng Trong Theo các giáo sĩ nước ngoài, vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đông Nai nghề làm đường đặc biệt phát triển Hàng năm, chúa Nguyễn đã thu 15.922 cân đường phênP
(1)
P, 7.960 cân đường cát thuế của châu Xuân Đài (Quảng Nam), 24.438 cân đường phên của xã Đông Phiên (Quảng Nam), Chung toàn Đàng Trong nhà chúa thu thuế 48.320 cân 9 lạng đường, 5.300 chỉnh mật mía [145, tr.368] Theo nhận xét
của thương nhân nước ngoài thì đường Việt Nam thuộc loại "đẹp nhất Ấn Độ" Giáo
sĩ A Rhodes viết: " Đường cũng rất nhiều, giá nửa ký chỉ vào khoảng hai xu Họ
[1, tr.49]
Vàng là sản phẩm xuất khẩu lớn của Đàng Trong qua cảng thị Hội An Trong hai
thế kỷ XVII - XVIII, việc khai thác hầm mỏ, đặc biệt là khai thác vàng phát triển nhanh chóng Vàng rải ra ở nhiều nơi từ Nam Phố hạ, Phù Âu (Phú Vang - Thừa Thiên) cho đến thôn Ô Kim, Trung Chỉ (Bình Định), Sông Ba, Cảnh Dương, Phúc
Lộc, Tân Dân (Phú Yên), Thu Bồn (Quảng Nam), Nhân dân lập thành các thuộc (gọi
là Kim hộ) để khai thác Poivre đặc biệt quan tâm đến hoạt động của các mỏ vàng nên
đã có lần quan sát tại chỗ: " Thật tiếc là đào vàng chỉ đào những hố nông không quá
đầu người Tuy nhiên họ cũng lượm được những cục vàng nguyên chất ước khoảng 2
nhân phương Tây như Hà Lan, Pháp, Anh đến Hội An đều ca ngợi Chapman - thương gia Anh đề nghị chính phủ Anh nên can thiệp vào Đàng Trong vì một trong những lý
do là "vàng ở đây nhiều và tốt, dễ khai thác" [218, tr.244]
Như vậy, thủ công nghiệp Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII phát triển không chỉ
nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn tạo ra khối lượng hàng hóa lớn để Đàng Trong tham gia vào luồng thương mại thế giới trong suốt thời gian này
Trang 381.2.3.2 S ự phát triển của thương nghiệp
Trên cơ sở một nền nông nghiệp, thủ công nghiệp khá phát triển và đã ít nhiều mang tính chất hàng hóa, việc trao đổi buôn bán ở các vùng miền xứ Đàng Trong được mở rộng
Vào thế kỷ XVII, cùng với sự phát triển của ngoại thương, nội thương Đàng Trong lúc này chủ yếu từ miền Thuận Quảng đến Phú Yên khởi sắc Tại các trung tâm buôn bán lớn như Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn, thương nhân buôn bán đông đúc
Họ thường đi mua hàng đặc sản của nhiều địa phương khác nhau về bán tại các trung tâm lớn, hoặc trữ hàng để chờ bán cho thương nhân nước ngoài
Đàng Trong có nhiều đặc sản quí hiếm được thương nhân các nước ưa chuộng như hồ tiêu, càu, trầm hương, yến sào, Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn đã trở thành
những cửa ngõ thông thương với bên ngoài Hoạt động xuất nhập khẩu của nhà nước
và của tư thương Đàng Trong đã góp phần làm sôi động thị trường nội địa Lê Quí Đôn cũng cho biết, thương nhân vùng Thanh Nghệ, Sơn Nam (phố Hiến) đã vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy vào Thanh Hà để trao đổi Hàng hóa từ Thanh Hóa,
Ai Lao cũng đưa bằng đường bộ vào chợ phiên Cam Lộ và được thương nhân vận chuyển vào bán ở Thanh Hà
Tại phủ Qui Nhơn, nội thương rất phát triển, nhiều chợ búa mọc lên Sản vật của Qui Nhơn - Bình Định và cả vùng Tây Nguyên rộng lớn theo nhiều thương nhân tuôn
về Nước Mặn - nơi cảng thị buôn bán sầm uất với thương nhân nước ngoài Trầm hương, vây cá, đồi mồi, tôm khô, sáp ong, cẩm hoa, là đặc sản của vùng này
Từ nửa sau thế kỷ XVII, thương nghiệp Đàng Trong phát triển rộng dần về phía nam với sự tham gia của thị trường Nam Bộ Người Hoa sống trên lãnh thổ Đàng Trong khá đông, phần lớn họ thạo nghề buôn bán Kinh tế Đàng Trong mà đặc biệt là kinh tế Nam Bộ ngay từ đầu đã có bước chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa Thương nhân Hoa sống trên đất Việt và thương nhân từ nước ngoài đến đây buôn bán
là lực lượng quan trọng trong nền thương mại Đàng Trong Họ góp phần dựng nên
phố xá, chợ búa, những trung tâm buôn bán sầm uất
Trang 39Ở khắp các địa phương của Đàng Trong, hệ thống chợ địa phương phát triển
Sản phẩm hàng hóa ở các nơi khác nhau được tầng lớp thương nhân tập trung về các
chợ phủ huyện, tại mỗi phủ có khoảng 4 đến 5 chợ Ở Thuận Hóa có chợ Thanh Hà,
chợ Dinh, Ở Quảng Nam có Hội An, Điện Bàn, Thăng Hoa, Ở Bình Định có chợ
Gò Găng, Đập Đá, An Thái, Gò Bồi, Ở Gia Định vào thế kỷ XVIII, chợ búa mọc lên san sát, có đến vài chục Ngoài những trung tâm buôn bán lớn như Nông Nại Đại Phố,
Mỹ Tho Đại Phố, thương cảng Hà Tiên, thương cảng Ba Thắc, trung tâm Bến Nghé,
hầu hết ở các địa phương đều mọc lên nhiều chợ như chợ Đồng Nai, chợ Bến Cá, chợ Đồng Sử, chợ Lò, chợ Bàn Lân, chợ Thủ Đức, thuộc trấn Biên Hòa; chợ Phố Thành,
chợ sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Nguyễn Thực, chợ Tân Kiểng, chợ Sài Gòn, chợ Bến
Nghé, thuộc trấn Phiên An; chợ Sông Tranh, chợ Cù úc, chợ Hàng Xoi, chợ Mỹ Quí, chợ Cái Bè, thuộc trấn Định Tường; chợ Long Hồ, chợ Ba Vát, chợ Mỹ Lồng,
chợ Sa Đéc, thuộc trấn Vĩnh Thanh; chợ Mỹ Đức, chợ Rạch Giá, chợ Hoàng Giang, thuộc trân Hà Tiên,
Những trung tâm buôn bán lớn ở Trung bộ và Nam Bộ trở thành những kho hàng
lớn, hoạt động thường xuyên nhờ hệ thống chân rết của nó rất rộng, rải ra các chợ gom thu mua hàng về Nam Bộ còn đón nhận lúa gạo, thịt chó, ngà voi của rừng Campuchia Hà Tiên gom đậu, hồ tiêu, thịt khô, ngà voi và các mặt hải sản khác Bãi Xâu (Ba Thắc) nổi danh lúa gạo thơm ngon Những kho hàng này là những đầu mối quan trọng trong việc bán hàng hóa cho tàu buôn nước ngoài cũng như mua hàng nước ngoài rồi đem bán ở thị trường nội địa
Tại những nơi buôn bán, chính quyền có lập những sở Tuần ty để thu thuế hàng hóa Ngoài ra, còn đánh thuế ở các chợ, bến đò
Hoạt động thương nghiệp nội địa quan trọng nhất ở thế kỷ XVIII là buôn gạo từ Gia Định ra Thuận Quảng, và ngược lại, mua hàng của xứ Thuận Quảng vào bán ở Gia Định Cùng với cau khô, lúa gạo Nam Bộ đã trở thành nông sản hàng hóa quan
trọng nhất, không những buôn bán trong thị trường nội địa mà còn bán ra nước ngoài
Gạo Gia Định rất trắng, hạt mềm, không nơi nào rẻ bằng Chợ búa, thị tứ ra đời do
Trang 40nhu cầu của con người trong việc trao đổi mua bán hàng hóa, ngược lại, nó thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa phát triển ở Đàng Trong
Từ sự phân tích trên cho thấy, kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Trong ở hai thế kỷ XVII - XVIII có những bước chuyển biến đáng kể,
nền kinh tế hàng hóa đang có chiều hướng phát triển thuận lợi Đó là những cơ sở vật
chất bên trong để Đại Việt - Đàng Trong tham gia hội nhập vào luồng thương mại khu
vực và thế giới
THƯƠNG QUỐC TẾ
Vào thế kỷ XVII - XVIII, hệ thống buôn bán ở khu vực biển Đông đã diễn ra
những biến chuyển lớn Sự tham gia đồng thời của nhiều nước phương Tây vào thị trường khu vực đã làm cho đời sống kinh tế của không ít quốc gia trở nên phồn thịnh
do xuất khẩu được các sản phẩm hàng hóa vốn trước đây chỉ cung cấp cho thị trường
nội địa
Hoạt động mậu, dịch đường biển của hai nước Nhật Bản và Trung Hoa vốn đã phát triển từ thế kỷ XVI Theo những đợt gió mùa, thương nhân Trung Hoa đưa các thuyền mành của họ đến một số nước Đông Nam Á Thuyền có trang bị vũ khí của thương nhân Nhật Bản cũng đến đặt quan hệ buôn bán với Đại Việt, Campuchia, Trong thời đại hoàng kim của thương mại thế giới (XVI - XVII), vùng vịnh Thái Lan trở nên nổi tiếng về vị thế thương mại của nó Nhiều nguồn sản vật nổi tiếng như hương liệu, da hươu, sừng tê, ngà voi, của Xiêm trở thành những thương phẩm có giá trị cao trên thương trường quốc tế Nguồn lực kinh tế đã lôi cuốn nhiều nhóm cư dân từ các quốc gia trong khu vực và các nước xa xôi đến buôn bán và sinh sống lâu dài Tất cả các hoạt động đó đã tạo nên cơ sở thiết yếu cho sự ra đời của nhiều cảng
thị và trung tâm kinh tế Đông Nam Á
Vào thế kỷ XVII - XVIII, giao lưu giữa hai khu vực Đông Tây được đẩy mạnh Khác với các thời kỳ lịch sử trước đó, hệ thống buôn bán quốc tế ở thời kỳ này chỉ