Qua đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn luận văn là một tư liệu bổ ích cho các tiết dạy lịch sử địa phương ở trường THPT, đặc biệt là trong địa bàn tỉnh Bình Phước, bồi dưỡng cho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Như Hiền
GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA NGƯỜI STIÊNG VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚC
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Như Hiền
GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA NGƯỜI STIÊNG VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài những cố gắng của bản thân, trong quá trình học tập, nghiên cứu, tìm tư liệu… tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn là TS Trần Thị Thanh Thanh, học hỏi thêm được nhiều kiến thức bổ ích cho quá trình giảng dạy ở trường phổ thông và nâng cao trình độ chuyên môn từ các giảng viên như cô Lê Huỳnh Hoa, thầy
Lê Văn Đạt, thầy Hà Minh Hồng và nhiều thầy cô khác
Để học tập tốt, trong suốt quá trình học tập tôi còn nhận được sự giúp
đở, chia sẽ và hổ trợ từ phía cơ quan, các thầy cô đồng nghiệp trong cơ quan công tác là Trường THCS &THPT Long Hựu Đông
Bên cạnh đó, tôi cũng nhận được sự quan tâm, chia sẽ của bạn bè, các chị trong lớp Cao học khóa 20
Bản thân tôi trong quá trình hoàn thành luận văn, đã có được những tư liệu vô cùng quí giá và đặc sắc từ nhiều tác giả, góp phần hoàn thiện cho luận văn
Tôi xin ch ân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƯ DÂN Ở BÌNH PHƯỚC 15
1.1 Lịch sử hình thành tỉnh Bình Phước 15
1.2 Điều kiện tự nhiên 18
1.2.1 Vị trí địa lý 18
1.2.2 Địa hình, đất đai 19
1.2.3 Khí hậu, sông ngòi 20
1.3 Cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Bình Phước 21
Chương 2: GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA DÂN TỘC STIÊNG VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚCTỪ 1945 ĐẾN NAY 29
2.1 Lịch sử hình thành tộc người Stiêng và người Stiêng ở Bình Phước 29
2.2 Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước từ 1945 đến nay 40
2.2.1 Bối cảnh lịch sử: 40
2.2.2 Đời sống vật chất 43
2.2.2.1 Kinh tế 43
2.2.2.2 Nhà ở, làng bản 55
2.2.3 Đời sống tinh thần 64
2.2.3.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 64
2.2.3.3 Nghệ thuật cồng chiêng 78
2.2.3.4 Sử thi, dân ca 81
2.2.3.5 Hôn nhân, tang ma 87
2.2.3.6 Luật tục 91
2.2.4 Đời sống xã hội 98
Trang 52.2.5 Đóng góp của người Stiêng và các dân tộc khác trong kháng chiến chống
Pháp (1945 – 1954) và kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) 103
Chương 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA DÂN TỘC STIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY 105
3.1 Chính sách của Nhà nước đối với việc giữ gìn và phát triển văn hóa của các dân tộc 105
3.1.1 Về kinh tế 110
3.1.2 Về giáo dục 110
3.1.3 Về văn hóa 111
3.2 Chính sách của tỉnh Bình Phước đối với việc giữ gìn và phát triển văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh trong đó có người Stiêng 113
3.2.1 Về kinh tế 117
3.2.2 Về giáo dục 118
3.2.3 Về văn hóa 119
3.3 Một số biến đổi văn hóa của dân tộc Stiêng ở Bình Phước 122
3.3.1 Biến đổi trong văn hóa tinh thần 126
3.3.2 Biến đổi trong văn hóa vật chất 149
3.4 Vài nét về đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số khác ở Bình Phước 157
3.4.1 Dân tộc Mạ 157
3.4.2 Dân tộc M’nông 185
3.4.3 Dân tộc Khơme 192
KẾT LUẬN 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO 201 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giao lưu văn hóa là khái niệm nói về một hiện tượng phổ biến mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền văn hóa dân tộc trên thế giới Giao lưu văn hóa là hệ quả của sự tiếp xúc và là điều kiện cho
sự hội nhập của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp nhau trong bối cảnh lịch
sử nhất định Giao lưu văn hóa chính là quá trình gặp gỡ của các giá trị văn hóa dân tộc khác nhau Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa mới cho mỗi dân tộc
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Bên cạnh những điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa, mỗi dân tộc ở mỗi vùng miền đều có những giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng tiêu biểu cho tộc người mình Trong quá trình tồn tại và phát triển, các dân tộc sinh sống trong một không gian chung nhất định thường diễn ra quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa với nhau Quá trình này góp phần biến đổi một số yếu tố văn hóa của dân tộc
Stiêng ( Xtiêng, Xa Điêng, Xa Chiêng ) là một trong số các dân tộc thiểu số
ở nước ta có nền văn hóa độc đáo được thể hiện trên nhiều phương diện Hiện nay, người Stiêng sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Ở Bình Phước, dân tộc Stiêng là một trong những tộc người bản địa, sinh sống bên cạnh những dân tộc khác như Kinh, Khơme, Mạ … Sự giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc đã góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc Stiêng, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến nhiều nét đẹp truyền thống bị mai một dần
Trong quá khứ cũng như hiện tại, người Stiêng đã có những quan hệ về nguồn gốc, lịch sử phát triển tộc người, có mối giao lưu văn hóa với các dân tộc anh
em trong địa bàn tỉnh Bình Phước và ở Tây Nguyên, đặc biệt là các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn – Khơme Chính vì vậy, người viết luận văn mong muốn góp phần làm
rõ hơn về đời sống văn hóa của người Stiêng, những thay đổi, tiếp biến văn hóa của
Trang 7dân tộc Stiêng ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay với đề tài nghiên cứu là “Giao lưu văn hóa giữa dân tộc Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay”
Qua đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn luận văn là một tư liệu bổ ích cho các tiết dạy lịch sử địa phương ở trường THPT, đặc biệt là trong địa bàn tỉnh Bình Phước, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, bảo tồn sự giao thoa văn hóa và các giá trị văn hóa của các dân tộc trong quá trình sinh sống, tiếp xúc với nhau
2 Lịch sử vấn đề
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở Việt Nam, nhất là các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Stiêng, là một yêu cầu cấp thiết nhằm bảo lưu và phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp của các tộc người nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
Về đời sống vật chất, tinh thần, xã hội của dân tộc Stiêng, các công trình mang tính khái quát hoặc đi sâu vào một lĩnh vực nghiên cứu, cụ thể như một số công trình nghiên cứu của người Pháp, người Mĩ, một số bài nghiên cứu về nghệ thuật cồng chiêng, lịch sử di dân, luật tục…
Nội dung các công trình nghiên cứu chủ yếu về tỉnh Sông Bé trước đây Gần đây, một số công trình nghiên cứu về người Stiêng đã đi sâu tìm hiểu mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và những đóng góp của người Stiêng đối với tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, về vấn đề giao lưu văn hóa của người Stiêng
và những yếu tố đang dần dần tác động không nhỏ đến việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của họ, thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu, nhất là ở tỉnh Bình Phước – nơi có đông người Stiêng sinh sống
Trong nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến những nội dung liên quan đến sự hình thành và phát triển của đời sống văn hóa, tinh thần, xã hội…của người Stiêng ở Bình Phước, với những nét khái quát
Một nguồn tư liệu quan trọng là những thư tịch bằng chữ Hán của Quốc sử quán triều Nguyễn và những ghi chép của một số vị quan triều đình có dịp kinh lý
Trang 8hoặc trấn nhậm vùng đất phía Nam Trong sách “Hoàng Việt dư địa chí” của Phan
Huy Chú khắc in năm 1833, có ghi một địa danh “Xương Tinh thành” nằm về hướng Nam “Xương Tinh thành” có thể là phiên âm chữ Hán của từ “Stiêng” Sách
“Đại Nam nhất thống chí” cũng có chi tiết về việc vua Minh Mạng ban các họ
Điểu, Nhạn, Ngưu, Mã…cho các thổ dân ở huyện Phước Long, Phước Bình thuộc tỉnh Biên Hòa Những ghi chép này dù ít ỏi song đã cho thấy tộc người Stiêng được biết đến khá sớm và là một trong những tộc người quan trọng được nhà nước chú ý
ở Nam Tây Nguyên
Tác giả phương Tây đầu tiên nhắc đến người Stiêng là Taber trong bản đồ
“An Nam Đại Quốc họa đồ” ấn hành năm 1838 Việc nghiên cứu về điều kiện tự
nhiên, địa lý hành chính, địa lý dân cư và truyền thống văn hóa của dân tộc Stiêng
và một số dân tộc thiểu số khác được nêu ra trong các công trình nghiên cứu của các nhà truyền giáo, sỹ quan quân đội Pháp phục vụ cho việc tìm hiểu cư dân Stiêng để
nô dịch và cai trị, tiêu biểu là:
- Dictionnaire Stiêng, trong Excursions et Reconnaisrances (Saigon, Imp Colonaile, T.XII, Mai - Juin 1886) Năm 1887, cuốn sách này được xuất bản tại Sài Gòn Đây là bộ từ điển biên soạn về ngôn ngữ tộc người Stiêng, nói lên sự phong phú đa dạng về văn hoá tộc người, là cơ sở để tra cứu ngôn ngữ, nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội Tác phẩm này không chỉ là công trình đầu tiên viết về người Stiêng mà còn là một trong những công trình sớm nhất của người Pháp viết về các dân tộc ít người ở Tây Nguyên Trong phần đầu tác phẩm, H.Azémar cho in bài “Les Stiêng de Brơlâm”, viết về đời sống xã hội của tộc người
Stiêng ở vùng Brolam, ghi chép khá nhiều về phong tục của người Stiêng và cảnh quan vùng cư trú của người Stiêng vào cuối thế kỷ XIX Qua đó, phong tục, tập quán pháp của người Stiêng được phản ánh sâu sắc, là cơ sở để nghiên cứu về dân tộc học, văn hoá học và là nguồn tham khảo tốt cho cả khoa học lịch sử
- Au pays Moi, của Marquis Pierre de Barthélémy, ( Paris Plon – Nourrit., 2e
éd, 1904); Hinterland Moi, của Paul Patté, ( Paris, Plon – Nourrit, 1906);
Les jungles Moi, của Henri Maitre, ( Paris, Larose, 1912)… là những tác phẩm
Trang 9chuyên khảo, có nội dung nghiên cứu sâu về điều kiện tự nhiên, môi sinh, đời sống, phong tục, xã hội của các tộc người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao nguyên nước
ta dưới thời Pháp thuộc, trong đó bao gồm cả người dân tộc thiểu số cư trú tại Bình Phước Phần lớn tác giả của những công trình chuyên khảo này là người trực tiếp du thám, xâm nhập vùng đất cư trú của người dân tộc thiểu số nên sự mô tả về con người, hoạt động của xã hội tộc người và thế giới quanh họ hết sức tỉ mỉ Đây là những công trình rất có giá trị để hiểu biết về cao nguyên miền Nam và các dân tộc thiểu số ở khu vực này, trong đó có đồng bào Stiêng
- Les boisements de la vallée du Song-Be của tác giả Gourgand,
trong Bulletin Economique de L’Indochine, ( No.14, 1903); le fameux Sông Bé trong Monographie d’une rivière Cochinchinoise của tác giả Baudrit, (BSEI, XI, No.3, 1936) cũng là những công trình chuyên khảo về điều kiện tự nhiên, địa chất, sông ngòi, thủy văn…Nội dung nghiên cứu của các chuyên khảo phản ánh rõ sự đầu
tư của chính quyền thực dân Pháp cả về trí lực lẫn vật lực để tìm hiểu, khai thác hoặc lợi dụng những thế mạnh kinh tế - xã hội của vùng đất này
Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu trên, có thể nhận thấy tình hình kinh tế - xã hội Bình Phước người Pháp nghiên cứu, dưới hình thức các chuyên khảo để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa Riêng lĩnh vực xã hội, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về các tộc người dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Stiêng, là cơ sở để chính quyền thực dân hiểu biết sâu hơn về ngôn ngữ, văn hoá truyền thống, tổ chức xã hội và cơ cấu xã hội tộc người Từ sau năm 1936, việc nghiên cứu vùng đất này của thực dân Pháp cũng chấm dứt, vì với chúng, đó là mốc đánh dấu sự khuất phục của các tộc người dân tộc thiểu số tại đây
Về kinh tế Bình Phước thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu chủ yếu được phản ánh qua những bản báo cáo bằng số liệu từ địa phương lên chính quyền thuộc địa, hiện nay được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh
Tư liệu loại này cung cấp nhiều thông tin về kinh tế Nam Kỳ, trong đó có tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một Nguồn tư liệu này đáng tin cậy, có nhiều thống kê bằng số liệu về kết quả kinh tế như diện tích đất khai thác, đất trồng trọt, sản lượng
Trang 10mủ của các đồn điền cao su – khu vực hoạt động bằng đầu tư của tư bản Pháp Tài liệu có nội dung liên quan đến xã hội chủ yếu là các bản báo cáo tình hình trật tự trị
an của dân chúng vùng bị chiếm đóng do chính quyền địa phương đệ trình lên chính phủ thuộc địa Để nghiên cứu về xã hội, các tư liệu kinh tế, báo cáo kinh tế, các chuyên khảo về địa lí, lịch sử và hành chính dân cư đã chứa những thông tin quan trọng phản ánh tình hình xã hội của vùng đất này
Trong thời kì Pháp thuộc, hầu như chưa có công trình của người Việt nghiên cứu về vùng đất này
Năm 1951, tác giả T.Gerber cho công bố công trình “Coutumier Stiengieng”
(phong tục người Stiêng) Tác phẩm cung cấp cho người đọc một số hiểu biết về luật tục, tư duy xã hội và một số truyền thuyết của người Stiêng Qua tác phẩm toàn cảnh đời sống, quan hệ xã hội, kết cấu xã hội truyền thống được tái hiện, phản ánh nguyên vẹn một xã hội tộc người chịu sự chi phối bởi quan hệ huyết thống, được duy trì và quản lý bằng luật tục Tuy nhiên, tác giả chưa thoát khỏi cách nhìn nhận
về con người và xã hội của người dân tộc tại chỗ như một thế giới man rợ
Năm 1966, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp và những cuộc khảo sát các nhóm người Stiêng ở phía tây bắc Sài Gòn, các tác giả
người Mỹ đã cho xuất bản tập sách dày nhiều chương “Minority Groups in the
Republic of Vietnam”, được biên soạn theo đơn đặt hàng của Bộ quốc phòng Hoa
Kỳ Trong tập sách này, các tác giả đã dành riêng một chương để giới thiệu về người Stiêng ở Việt Nam
Việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc Stiêng cũng được đẩy mạnh Nhiều công trình về ngữ học tiếng Stiêng đã được công bố và ấn hành, kể cả dự án Latinh hóa tiếng Stiêng Trong các công trình nghiên cứu chung về các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, một số tác giả người Mỹ như Le Bar, Thomas David, Hickey…cũng có đề cập đến người Stiêng
Những công trình nghiên cứu của các tác giả người Mỹ về dân tộc Stiêng nhìn chung không nhiều cái mới so với các tác giả người Pháp trước đó, ngoại trừ trên lĩnh vực ngôn ngữ Với mục đích nhằm phục vụ cho hoạt động chiến tranh của
Trang 11quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam, những công trình nghiên cứu này chủ yếu giới thiệu một cách khái quát về người Stiêng
Tóm lại, nguồn tư liệu đã được khai thác liên quan đến tỉnh Bình Phước giai đoạn 1862 – 1945, chủ yếu ghi nhận về sự thay đổi địa lý hành chính và các báo cáo kinh tế bằng số liệu với số lượng hạn chế Tình hình nghiên cứu về kinh tế - xã hội địa phương nhiều lúc gián đoạn, một phần vì Bình Phước là vùng sâu hẻo lánh, tiềm năng kinh tế, tài nguyên có giá trị có thể khai thác được lúc bấy giờ chưa được nhìn
rõ, phần khác do trình độ quản lý hạn chế nên nhà nước thực dân cũng chưa có điều kiện ghi chép tỉ mỉ về tất cả các địa phương trong cả nước Vì vậy, nghiên cứu về Bình Phước thời thuộc Pháp là vấn đề nan giải đối với giới nghiên cứu Càng về sau, công tác nghiên cứu về lịch sử địa phương càng được quan tâm hơn Tuy vậy, cũng chỉ có những bài viết đơn lẻ, hoặc công trình nghiên cứu riêng về đời sống xã hội người Stiêng đề cập đến nội dung kinh tế - xã hội truyền thống…
Từ sau năm 1945, các nhà nghiên cứu chú trọng tìm hiểu về các phong trào đấu tranh cách mạng nên các vấn đề kinh tế, xã hội hầu nhưng chưa có công trình chuyên sâu Ở miền Nam, công trình nghiên cứu duy nhất về tình hình các đồn điền cao su của Pháp tại tỉnh Bình Long sau năm 1954 là luận văn tốt nghiệp đại học của
Nguyễn Viết Đức “Thực tế khai thác cao su của người Pháp tại Bình Long”, thuộc
Học viện Quốc gia Hành chính Sài Gòn, bảo vệ năm 1972 Nội dung nghiên cứu trong luận văn đi sâu về thống kê sản lượng mủ, khái quát bằng sơ đồ về những đồn điền trồng cao su, tiềm năng của cây cao su ở tỉnh Bình Long thời chính phủ Việt Nam Cộng hòa Nội dung nghiên cứu chủ yếu nêu thành quả kinh tế mà chưa có cách nhìn khái quát, tương quan của kinh tế đồn điền với các ngành kinh tế khác từ thời thuộc Pháp tại vùng đất đỏ trung tâm miền Đông Nam Bộ
Trước năm 1975, một số công trình nghiên cứu về người Stiêng và các dân tộc ít người ở Tây Nguyên của các tác giả người Việt đã được xuất bản tại Sài Gòn
Số lượng những công trình này không nhiều và chủ yếu giới thiệu sơ lược, khái quát
về phong tục tập quán của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên nói chung và người Stiêng nói riêng Phần lớn những tư liệu của các tác giả người Việt là dựa vào các
Trang 12công trình của người Pháp Riêng các vấn đề kinh tế, xã hội của người Stiêng, ở miền Nam vẫn chưa có một công trình chuyên sâu bằng tiếng Việt
Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu trong nước đã có những bước phát triển mới và thu được nhiều kết quả đáng kể Sau những cuộc khảo sát điền dã tại các
“pol” (làng) Stiêng ở xã Dak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Sông Bé, kết quả nghiên cứu đã được công bố trên một số tạp chí về các ngôi nhà dài, các quan hệ thân tộc
và một số vấn đề xã hội của người Stiêng
Năm 1981, trên tạp chí Dân tộc học số 3, có đăng bài “Nhà dài người
Xtiêng” của tác giả Nguyễn Huy Thiệu
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (1983) đăng bài viết “Xã hội Xtiêng
qua tài liệu điền dã tại sóc Bom Bo” của Hữu Ứng
Trong tập sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” và trong “Sổ tay các dân
tộc ít người ở Việt Nam” do Viện Dân tộc học ở Hà Nội biên soạn đều có bài riêng giới thiệu khái quát về người Stiêng Các bài viết trong hai tập sách này giúp người đọc biết được một số nét văn hóa, sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, tổ chức xã hội… của người Stiêng
Năm 1984, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội cho xuất bản tác phẩm “Các dân
tộc ít người ở Việt Nam (các dân tộc phía Nam), trong đó có công trình nghiên cứu
“Dân tộc Xtiêng” của tác giả Diệp Đình Hoa Qua bài viết, tác giả Diệp Đình Hoa
đã đưa ra một bức tranh khái quát về các hoạt động sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ của người Stiêng Đặc biệt, tác giả còn đi sâu phân tích những biến đổi trong đời sống của đồng bào trong những năm 1975 -1979 Công trình này đã cung cấp một cách khái quát thông tin về các vấn đề cơ bản mà người viết quan tâm
Tháng 4/1984, Ban Dân tộc học thuộc Viện Khoa học xã hội tại thành phố
Hồ Chí Minh đã phối hợp với tỉnh ủy, UBND tỉnh Sông Bé tổ chức một cuộc khảo sát và nghiên cứu các dân tộc ít người trong tỉnh, đặc biệt là người Stiêng Đây là đợt khảo sát tương đối rộng và chuyên sâu vào một số vấn đề kinh tế - xã hội của người Stiêng từ sau năm 1975 Kết quả của đợt nghiên cứu đã được công bố với
Trang 13một số công trình trong tập sách “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé” của tập thể tác giả do
Mạc Đường chủ biên và nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé ấn hành năm 1985 Tập sách đã bổ sung và hệ thống một số tài liệu điều tra, phân tích khoa học về người Stiêng ở Sông Bé, góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều khía cạnh văn hóa, kinh tế, xã hội của người Stiêng
Về hoạt động kinh tế truyền thống, có bài viết "Kinh tế nông nghiệp của người Stiêng trước và sau năm 1975" của Phan Ngọc Chiến, được in trong sách Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, do nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé phát hành từ năm
1985 Bài viết đã phác họa toàn bộ tình hình sản xuất nông nghiệp của người Stiêng, chỉ rõ về mối quan hệ, giao thoa văn hóa giữa người Stiêng với các tộc người khác, đặc biệt là người Kinh
Năm 1987, trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1 & 2 có đăng bài viết “Tình
hình dân số và đặc điểm dân cư các dân tộc ở Sông Bé – Miền Đông Nam Bộ” của
tác giả Đinh Văn Liên
Năm 1991, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé đã ấn hành “Địa chí tỉnh Sông
Bé” Trong công trình nghiên cứu này còn có bài viết “Miền núi tỉnh Sông Bé: Lịch
sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc” của GS Mạc Đường, đề cập đến các
đặc điểm kinh tế -xã hội, về điểm xuất phát và con đường phát triển xã hội của người Stiêng cũng như các dân tộc miền núi tỉnh Sông Bé Cũng trong thời gian này, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Sông Bé đã cho xuất bản công trình nghiên cứu “Địa chí tỉnh Sông Bé” do nhà báo – nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng chủ biên
Trong tác phẩm “Dân ca Sông Bé” do nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé ấn
hành năm 1991, các tác giả Lư Nhất Vũ, Nguyễn Văn Hoa, Lê Giang, Từ Nguyên Thạch đã dày công sưu tầm nghiên cứu, tập hợp các bài dân ca của các dân tộc ở Sông Bé Trong đó, các tác giả đã tập hợp được ở khắp vùng phía bắc tỉnh Sông Bé
12 bài dân ca Stiêng.Công trình nghiên cứu này đã giúp người đọc thấy được bức tranh ca dao dân ca phong phú của người Stiêng
Trên tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1991 có đăng bài viết của tác giả Trần
Tất Chủng – “Góp thêm tài liệu nghiên cứu về người Stiêng” Bài viết đã giới thiệu
Trang 14một số kết quả điều tra điền dã của các tác giả tại hai “pol” Stiêng thuộc hai vùng
Bù Lơ và Bù Dek
Ngô Văn Lệ với công trình nghiên cứu “Một số vấn đề lịch sử di dân”, trong
“Nghiên cứu khoa học xã hội”, trường ĐHTH Tp.HCM, số 1, 1992
Cũng năm 1992, trên cơ sở các tài liệu, tư liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là những sưu tập trong các đợt điều tra điền dã ở nhiều vùng cư trú của người Stiêng ở các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé, tác giả Phan An đã tổng hợp và công bố công trình nghiên cứu-luận án Tiến sĩ khoa
học lịch sử “Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến
năm 1975”.Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội
của người Stiêng tại các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé (Bình Phước ngày nay) Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu về những yếu tố và các quan hệ cấu thành hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng và xem xét nó trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại của tộc người Stiêng như môi sinh tộc người, các hoạt động kinh
tế, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần…Đặc biệt, tác giả Phan An còn đi sâu phân tích quan hệ thân thuộc, các dạng tập hợp người của xã hội người Stiêng Công trình nghiên cứu của tác giả là nguồn tài liệu phong phú, quý giá để người viết tham khảo khi thực hiện đề tài
Năm 1993, trên tạp chí Dân tộc học số 1, có đăng bài viết “Góp phần tìm
hiểu luật tục Stiêng” của Ngô Văn Lý Công trình cung cấp nhiều thông tin bổ ích
về xã hội tộc người, quan hệ giữa các tầng lớp xã hội tộc người truyền thống, giúp hiểu rõ về quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội và quyền sở hữu công về ruộng đất của
cư dân tại chỗ trước khi Pháp xâm lược
Năm 1994, Đinh Văn Liên với luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử “Động
thái dân số tộc người các dân tộc ít người ở Nam Bộ Việt Nam” do Viện khoa học
xã hội TP.HCM ấn hành Ngoài ra, trong thời gian này còn có hai công trình nghiên cứu khác về người Stiêng là luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử “Xã hội tộc người Stiêng qua tập quán pháp” của tác giả Ngô Văn Lý (Viện khoa học xã hội TP.HCM)
và “Nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Stiêng tỉnh Sông Bé” của tác giả Vũ Hồng
Trang 15Thịnh (Sở Văn hóa thông tin tỉnh Sông Bé) Đây được xem là một chuyên khảo công phu nhất trong những công bố về cồng chiêng tại các cuộc hội nghị khoa học Trong đó, tác giả đã làm rõ vai trò cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa của người Stiêng và tính năng của loại nhạc khí này Qua công trình nghiên cứu, tác giả Vũ Hồng Thịnh đã làm rõ vai trò quan trọng của cồng chiêng trong mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Stiêng, vai trò là một vốn văn hóa cổ truyền độc đáo, tinh tế và hấp dẫn mang bản sắc đặc thù dân tộc
Về các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên, bao gồm các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Bình Phước, có loạt bài của tác giả Lưu Hùng được in trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử gồm:
+ Tìm hiểu về một khía cạnh của xã hội cổ truyền trong các dân tộc
người bản địa ở Trường Sơn - Tây Nguyên: “Sự nảy sinh quan hệ bóc lột”, Nghiên
cứu Lịch sử số 2 (261), tháng 3 - 4, năm 1992
+ Tìm hiểu thêm về một khía cạnh của xã hội cổ truyền trong các tộc
người bản địa ở Trường Sơn - Tây Nguyên: “Chế độ sở hữu”, Nghiên cứu Lịch sử
số 4 (269), tháng 7 - 8, năm 1993
Các bài viết trên đề cập đến kinh tế - xã hội truyền thống của các tộc người dân tộc thiểu số tại chỗ, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chủ đạo trong giai đoạn tiền thuộc địa Các bài viết đã giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về nguồn gốc phân hóa xã hội của người dân tộc thiểu số cư trú ở Trường Sơn – Tây Nguyên
Về lịch sử du nhập của cây cao su, sự hình thành và phát triển của nó, của ngành trồng và khai thác cao su ở vùng đất đỏ miền Đông Nam Kỳ nói riêng, Nam
Kỳ nói chung có bài viết nhan đề “Cây cao su đặc sản của vùng Đông Nam Bộ”,
của tác giả Lê Huỳnh Hoa, đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 45b tháng 11 năm 1997 Tác giả không trực tiếp nói về kinh tế Bình Phước thời Pháp thuộc, song đã lý giải những nguyên nhân, mục đích, quá trình đầu tư vào việc trồng cây cao su của tư bản Pháp ở vùng đất đỏ thuộc một phần tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một, chỉ rõ nguyên
Trang 16nhân trực tiếp của việc tư bản Pháp đầu tư ở dải đất đỏ miền Đông Nam Kỳ, nằm tập trung ở địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay
Tác phẩm “100 năm cao su Việt Nam”, của Đặng Văn Vinh, được nhà xuất
bản Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000, mô tả chi tiết về tình hình khai thác đất, trồng mới, kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su của
tư bản Pháp tại Việt Nam, góp phần nghiên cứu về quá trình phát triển ngành cao
su, cung cấp nhiều tư liệu quý cho nghiên cứu lịch sử, kinh tế - xã hội của nhiều địa phương, bao gồm cả tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc
Bên cạnh đó, một số tác phẩm của các tác giả viết về tình hình kinh tế, xã hội chung của Đông Dương, Việt Nam thời thuộc địa như Lê Khoa, Sơn Nam, Nguyễn Thế Anh, Phan Khoang,…là nguồn tài liệu tham khảo làm cơ sở cho việc nghiên cứu kinh tế, xã hội của tỉnh Bình Phước trong bối cảnh chung của lịch sử dân tộc
Những bài viết, tác phẩm và công trình nghiên cứu trên đã phản ánh, phục dựng toàn cảnh bức tranh sinh hoạt của cộng đồng tộc người Stiêng mang tính bản địa, nhân văn đặc sắc về vùng cư trú, lịch sử tộc người, ngôn ngữ tộc người, cơ cấu
tổ chức xã hội, quan hệ tộc người và đặc trưng của xã hội tộc người
Năm 1998, cuốn sách “ Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” do tác giả
Nguyễn Văn Huy làm chủ biên, được nhà xuất bản Giáo dục xuất bản
Năm 1999, Nxb Thanh Niên xuất bản cuốn sách “54 dân tộc và các tên gọi
khác” của tác giả Bùi Thiết Cùng năm, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành tác phẩm “ các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỉ XX” có nhắc đến sự phát triển và những nét văn hóa của các dân tộc thiểu số, trong đó có người Stiêng, những chính sách của nhà nước đối với các dân tộc thiểu số nói chung
Năm 2001, trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 có đăng bài viết “Luật tục
Stiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay” của tác giả Phan An
Năm 2002, Nhà xuất bản Thông tấn phát hành cuốn sách “Việt Nam hình ảnh
cộng đồng 54 dân tộc”, giới thiệu sơ nét về văn hóa vật chất và tinh thần của người
Stiêng
Trang 17Năm 2004, trên cơ sở các công trình nghiên cứu trước đó của nước ngoài và kết quả của các đợt khảo sát điền dã, hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Ngô Văn Lý đã công bố công trình nghiên cứu “Luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên” Công trình
này đã được nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản Đây là công trình nghiên cứu quy mô và tương đối đầy đủ về luật tục của các dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên, trong đó có người Stiêng
Năm 2006, công trình nghiên cứu “Xây dựng làng văn hóa gắn với nghề
truyền thống của người Stiêng ở tỉnh Bình Phước” do TS.Võ Công Luyện thuộc
Trung tâm Khoa học xã hội Tp.HCM chủ nhiệm cũng đã được UBND tỉnh Bình Phước thông qua
Ngoài ra, trong năm này, Nxb Văn học dân tộc đã cho xuất bản tác phẩm
“Các dân tộc ở Việt Nam- cách dùng họ và đặt tên” của tác giả Nguyễn Khôi
Năm 2007, nhà xuất bản Trẻ đã xuất bản công trình nghiên cứu “Những
mảng màu văn hóa Tây Nguyên” của tác giả Ngô Đức Thịnh Đây là công trình
nghiên cứu khá quy mô của tác giả về đời sống sinh hoạt kinh tế, văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Trong công trình này, tác giả đã dành trọn
một phần viết về “Xã hội người Stiêng qua luật tục” Tác giả đã đưa ra những nét
chung nhất về tội phạm, cách xét xử, hình phạt theo tập quán pháp của người Stiêng Thông qua các luật tục, tác giả còn làm rõ về tổ chức xã hội, các tầng lớp cũng như những mối quan hệ xã hội trong các “pol”, “sóc” của người Stiêng Cùng năm này, nhà xuất bản Giáo dục đã phát hành công trình nghiên cứu của Bảo tàng
dân tộc học “ Đại gia đình các dân tộc Việt Nam”
Năm 2010, tác giả Ngô Quang Hưng đã sưu tập và biên soạn tác phẩm
“Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng và lễ hội vùng dân tộc thiểu số”, do nhà xuất bản Văn
hoá thông tin xuất bản, cũng ghi nhận những nét văn hóa truyền thống của người Stiêng như trang phục, nhà ở, hôn nhân
Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tuyết với đề tài luận văn Thạc sĩ “Tìm
hiểu lịch sử hình thành và phát triển kinh tế - xã hội của người Stiêng ở Bình Phước” đã nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống, cụ thể và toàn diện về đời
Trang 18sống vật chất tinh thần của người Stiêng cũng như những đóng góp của đồng bào Stiêng trong các cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mĩ
Năm 2011, trên tạp chí văn hóa nghệ thuật, Bộ văn hóa thông tin và du lịch,
số 324 có đăng bài viết của tác giả Trần Văn Ánh ghi nhận “ Một số biến đổi văn
hóa của người Xtiêng ở Bình Phước” Trong bài viết này, tác giả đề cấp đến những
biến đổi về ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng của người Stiêng trong những năm gần đây
Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu mang tính địa phương như bài
viết của tác giả Phan Minh Quốc nghiên cứu về “ Nghi thức hôn nhân truyền thống
của người Stiêng ở xã Long Tân huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”
Nhìn chung, có thể thấy rằng, các công trình trên đã tập trung nghiên cứu
một số mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của người Stiêng và đạt được nhiều thành quả
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những nét văn hóa truyền thống về vật chất và tinh thần của tộc người Stiêng ở Bình Phước
+ Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Stiêng trong quá trình sinh sống bên cạnh các dân tộc khác ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay
+ Tìm hiểu về văn hóa, xã hội và sự đóng góp những giá trị văn hóa tộc người Siêng vào văn hóa Việt Nam
+ Những tác động từ những yếu tố bên ngoài đến sự tồn tại của những nét văn hóa truyền thống của người Stiêng trong quá trình cộng cư
Thông qua việc nghiên cứu, người viết mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Stiêng ở Bình Phước Từ đó, nhận thức được thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của người Stiêng hiện nay
Trang 19Về mặt nội dung, nghiên cứu chủ yếu về đời sống văn hóa, tinh thần, sự giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác cùng sinh sống ở Bình Phước
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành học là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp lịch sử được dùng trong việc mô tả và trình bày sự kiện theo tiến trình, phương pháp logic được dùng trong việc khái quát và nhận định các sự kiện, vấn đề
Ngoài ra, người viết còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác:
- So sánh, phân tích để tìm ra mối liên hệ và xác định tính chính xác của các thông tin, làm rõ nội dung nghiên cứu
- Kế thừa theo phương pháp liên ngành kết quả nghiên cứu thuộc các bộ môn khoa học: địa lý, khảo cổ học, dân tộc học
- Nghiên cứu điền dã, phỏng vấn, ghi chép để thu thập, đối chiếu thông tin
Chương 3: Những biến đổi của văn hóa dân tộc Stiêng ở Bình Phước từ sau năm 1975 đến nay
Trang 20Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Tân Đường thư cũng chép rằng: “nước Bà Lợi ở ngay phía Đông Nam Chiêm Thành, từ Giao Châu (tức Việt Nam dưới thời Bắc thuộc) vượt biển trải qua các nước Xích Thổ, Ban Đan thì tới Đất đai là châu thổ lớn, có nhiều ngựa nên cũng gọi là nước Mã Lễ Phong tục của họ là xỏ tai đeo khoen, dùng một tấm vải thô quấn ngang lưng Phía Nam (Bà Lợi) là nước Thủ Nại Sau niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (650 – 655) thì bị Chân Lạp thôn tính” 2
Từ những cứ liệu trên, Trịnh Hoài Đức chú thích và nghi vấn thêm: “Tra theo sách chánh văn thì chữ Lợi âm Lục địa thiết (đọc Lịa, ta đọc Rịa) nên nghi là
Bà Rịa nay (thế kỷ 18) tức nước Bà Lợi xưa kia chăng? Còn Thủ Nại với Đồng Nai, thanh âm không sai nhau lắm, hoặc giả là đất Sài Gòn ngày nay vậy”3
1 , 3 Dẫn theo Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng
hợp Sông Bé, 1991, tr 146
2Dẫn theo luận văn Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển kinh tế - xã hội của người Stiêng ở
Bình Phước của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tuyết, tháng 4/2010
Trang 21“Đất Sài Gòn ngày nay” đương thời hiểu theo nghĩa rộng bao gồm phần lớn miền Đông Nam Bộ, trong đó có địa bàn Sông Bé bây giờ”4 Và tác giả đưa ra nhận định “có khá nhiều lý do để phỏng đoán là xưa kia trên đất nước Thù Nại đã có dân tộc Xtiêng, trên đất nước Bà Rịa (tức Bà Lợi) đã có dân tộc Mạ sinh sống”5
Như vậy, qua việc xác định địa bàn cư trú của người Stiêng và người Mạ trước khi người Việt đến khẩn hoang lập ấp, chúng ta có thể biết sơ nét về vị trí vùng đất Đông Nam Bộ, trong đó có tỉnh Bình Phước nay vào trước thế kỷ XVII
Địa bàn Sông Bé nói chung, Bình Phước nói riêng buổi đầu, thuộc dinh Trấn Biên rồi trấn Biên Hòa Trong “Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức cũng đã ghi nhận sự hình thành vùng đất này: “Mùa xuân năm Mậu Dần, đời vua Hiển Tông Hiển Minh hoàng đế sai thống suất chưởng cơ Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược Cao Miên, lấy Nông Nại làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để quản trị Khi
ấy, đất đai mở rộng cả ngàn dặm, dân số nhiều hơn bốn vạn hộ, lại chiêu mộ những lưu dân từ Bố Chánh trở về nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn bị thuế đinh điền và lập bộ tịch đinh điền”6 Ghi chép trên cho thấy quá trình mở rộng vùng đất phía Nam của lưu dân người Việt Và khi ấy, “phủ Gia Định bao trùm lên khắp miền Đông Nam Bộ Sông Sài Gòn làm ranh giới giữa hai huyện: tả ngạn đến biển đông là huyện Phước Long, hữu ngạn đến sông Tiền là huyện Tân Bình”7
Dựa vào những tư liệu trên, chúng ta có thể xác định địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay thuộc dinh Trấn Biên, tổng Bình An, huyện Phước Long
Trang 22Năm 1779, địa giới Gia Định được chia thành 3 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn Long Hồ, đạo Trường Tồn và trấn Hà Tiên Dinh Trấn Biên chỉ có một huyện là Phước Long gồm 4 tổng là Tân Chính, Bình An, Long Thành và Phước An
Sang năm 1802, cải phủ Gia Định làm trấn Gia Định, đại bộ phận cách ranh hành chính như cũ chỉ đổi tên:
Dinh Phiên Trấn thành trấn Phiên An
Dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa
1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một Từ đó cho đến hết thời Pháp thuộc, bộ máy hành chính cơ bản không thay đổi
Từ năm 1956 đến năm 1959, trên địa bàn cũ bao gồm 3 tỉnh là Bình Dương, Bình Long và Phước Long (2 tỉnh Bình Long, Phước Long thuộc Bình Phước ngày nay)
Từ năm 1959 đến năm 1965, chính quyền Sài Gòn thành lập 4 tỉnh là Bình Dương, Bình Long, Phước Long và Phước Thành Sau đó tỉnh Phước Thành bị giải thể vào ngày 06/07/1965
Trải qua hàng chục năm chiến tranh, vùng đất Bình Phước ngày nay bị chia cắt sát nhập nhiều lần tùy theo nhu cầu cai trị của thực dân đế quốc trong từng thời
kỳ lịch sử Đến ngày 30/01/1971, Trung ương cục miền Nam quyết định thành lập
8Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử tỉnh Sông Bé” trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd, tr.166
Trang 23phân khu Bình Phước Cuối năm 1972, phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức thành lập
Ngày 2/7/1976, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quyết định thành lập
tỉnh Sông Bé bao gồm tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước, và 3 xã thuộc huyện Thủ
Đức9, chia thành 7 huyện thị: Bình Long, Phước Long, Đồng Phú, Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, Thị xã Thủ Dầu Một
“ Khi mới thành lập, tỉnh Sông Bé có 14 huyện, nguyên là 14 quận của 3 tỉnh cũ: Tân Uyên, Lái Thiêu, Dĩ An, Châu Thành, Bến Cát, Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành, Bù Đốp (đổi tên từ Bố Đức), Đồng Xoài (đổi tên từ Đôn Luân),
Bù Đăng (đổi tên từ Đức Phong), Phước Bình, Phú Giáo Năm 1977 hợp nhất 3 huyện Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành thành huyện Bình Long, hợp nhất 3 huyện Bù Đốp, Phước Bình, Bù Đăng thành huyện Phước Long, hợp nhất 2 huyện Đồng Xoài và Phú Giáo thành huyện Đồng Phú Năm 1987 lập lại huyện Lộc Ninh
từ một số xã của 2 huyện Bình Long và Phước Long Năm 1988 lập lại Bù Đăng từ một số xã của huyện Phước Long Trước khi chia tách, tỉnh Sông Bé được chia thành 1 thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh lỵ) và 8 huyện: Bình Long, Phước Long, Lộc Ninh, Đồng Phú, Tân Uyên, Bến Cát, Thuận An và Bù Đăng”.10
Ngày 1/1/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập, gồm 5 huyện phía bắc tỉnh Sông Bé, gồm: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, tỉnh lị là Đồng Xoài11
Hiện nay, tỉnh Bình Phước bao gồm 3 thị xã (thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình Long, thị xã Phước Long) và 7 huyện (Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thành, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh)
1.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.1 Vị trí địa lý
Bình Phước là một trong 6 tỉnh miền Đông Nam Bộ Phía Bắc tiếp giáp tỉnh
9 Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bình Phước, Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bình Phước sơ thảo (1930
-1975), Ban thường vụ tỉnh ủy, 2000, tr 9
10
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_B%C3%A9_(t%E1%BB%89nh)
11 Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bình Phước, Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bình Phước sơ thảo (1930
-1975), sđd, ,8-9
Trang 24Kompong Cham và tỉnh Kratie (Campuchia), phía Nam giáp các tỉnh Bình Dương
và Đồng Nai, Phía Đông giáp các tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh (Việt Nam) và tỉnh Kompong Cham (Campuchia)
Tỉnh Bình Phước nằm về phía tây và tây bắc miền Đông Nam Bộ, có tọa độ: Bắc: 12017’B (xã Bù Gia Mập – huyện Phước Long)
Nam: 11020’B (Xã Tân Hòa – huyện Đồng Phú)
Đông: 107025’Đ (xã Đồng Nai – huyện Bù Đăng)
Tây: 106025’Đ (xã Lộc Tấn – huyện Lộc Ninh)12
Tổng diện tích hiện nay là 6.883,4 km2, dân số có 874.961 người (điều tra dân số ngày 01/04/2009)13
1.2.2 Địa hình, đất đai
Tỉnh Bình Phước nằm ở phía bắc và tây bắc miền Đông Nam Bộ Toàn bộ địa hình tỉnh nằm trên sườn dốc phía tây nam của cực nam dãy Trường Sơn được bao phủ bởi những dãy đồi đất đỏ ba-zan nối tiếp nhau thành vòng cung kéo dài từ
Bù Gia Mập xuống tận Dầu Tiếng ngang qua Phước Long, Lộc Ninh và Bình Long Địa hình Bình Phước bao gồm:
- Cao nguyên và đồi núi thấp nằm ở đông bắc huyện Phước Long, bắc huyện
Bù Đăng là nơi tiếp giáp với cao nguyên Mnông Địa hình này chủ yếu là những dãy đồi đất đỏ ba-zan, gồm nhiều chỏm cao trên 300m
- Địa hình đồi lượn sóng kế tiếp vùng đồng bằng Bù Gia Mập và Bù Đăng, nằm ở tây nam Phước Long, Lộc Ninh và Bình Long Đây là khu vực đất đai màu
mỡ nhất của tỉnh Bình Phước cũng như Đông Nam Bộ với những dãy đồi đất đỏ với các chỏm thường tròn và bằng, có độ cao không quá 300m, sườn có độ dốc thấp
- Vùng tiếp giáp của những dãy đồi núi đất đỏ ba-zan và vùng đồng bằng phù
sa cổ đất xám Tây Ninh, Bình Dương Vùng đệm này nằm ở nam Bình Long và Đồng Phú, có bậc thềm cao trên 50m14
Trang 25Nhìn chung, địa hình phổ biến ở Bình Phước là địa hình đồi lượn sóng, đất đai màu mỡ, có thảm thực vật và quần thể động vật đa dạng, phong phú
1.2.3 Khí hậu, sông ngòi
Khí hậu Bình Phước mang đặc điểm khí hậu gió mùa á xích đạo, phân biệt thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4) Lượng bức xạ mặt trời hàng năm cao, bình quân 130 cal/m2/năm Vào tháng 2 – 4 có thể đạt đến 300 – 400 Cal/cm2/ngày Cán cân bức xạ có trị số lớn 70 – 75 Cal/cm2/năm15 Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260đến 270
Địa hình đồi đất đỏ ba-zan màu mỡ trải dài từ đông bắc đến tây nam, cùng với khí hậu nóng ẩm và hệ thống thủy văn chằng chịt đã tạo điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật và quần thể động vật ở đây phát triển mạnh Hệ thực vật phát triển phong phú Ở dạng địa hình đồi cao và trung bình chia cắt mạnh có rừng tự nhiên che phủ Tại các dạng địa hình thoải lượn sóng yếu và trung bình thảm thực vật chủ yếu là cây công nghiệp, hoa màu, đồng cỏ chăn nuôi Bình Phước là tỉnh có trữ lượng rừng lớn, phong phú, đa dạng về chủng loại thực vật, có những loại gỗ quý (cẩm lai, bằng lăng, sao…), cây dược liệu làm thuốc, nhiều loại mây, lồ ô,
14Nguyễn Trung Đỗ, Di tích đắp đất hình tròn Bình Phước, Sđd, tr18
15Nguyễn Thị Hiền, Nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Phước theo quan điểm địa lý hiện đại,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP Tp.HCM, 2004, tr.21
16Nguyễn Thị Hiền, Nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Phước theo quan điểm địa lý hiện đại,
Sđd, tr.22
17Nguyễn Thị Hiền, Nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Phước theo quan điểm địa lý hiện đại,
Sđd, tr 22
Trang 26tre…dùng làm các mặt hàng thủ công Đặc biệt, trong rừng có nhiều loại dây, củ lấy bột như: củ nần, củ mài, củ chụp…và nhiều loại rau rừng: lá nhiếp, lá bép, măng, tàu bay…Đây là nguồn lương thực, thực phẩm quan trọng của đồng bào Stiêng và
đã từng góp phần quan trọng nuôi sống lực lượng cách mạng trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt18
Bên cạnh đó, quần thể động vật cũng rất phong phú: chim, bò tót, hổ, voi… Nhìn chung, tỉnh Bình Phước có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho cuộc sống của con người và đây cũng là địa bàn cư trú chủ yếu của người Stiêng ở Việt Nam Môi sinh địa lý vùng cư trú người Stiêng tương đối thống nhất về các mặt địa chất, khí hậu, thủy văn…Tuy nhiên, trong thời gian qua, môi sinh địa lý vùng cư trú của người Stiêng ở Bình Phước đã có nhiều biến đổi, xáo trộn lớn do chiến tranh, do tác động của con người… ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội của người Stiêng trong lịch sử và hiện nay
1.3 Cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Bình Phước
Những nghiên cứu về vùng đất Sông Bé là một phần tư liệu quan trọng khi tìm hiểu về Bình Phước và cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Bình Phước
Miền Đông Nam Bộ, trong đó có tỉnh Bình Phước, phần lớn là vùng núi phù
sa cổ, một vùng đất lịch sử có nhiều vết tích người xưa Cho đến nay, những tài liệu khảo cổ học, nhân chủng học khi nghiên cứu vùng đất này còn chưa nhiều Song,
nhìn chung từ thời kỳ đá mới cho đến thời kỳ đồ đồng “ở miền Nam Đông Dương, trong đó có vùng đất Sông Bé là địa bàn sinh tụ của nhiều tộc người In-đô-nê-đi-êng
cổ đại Tiếng nói chung của các nhóm tộc người này là ngữ hệ Môn-Khơmer tương ứng với tiếng nói hiện nay của người Stiêng” Đây là nhóm tộc người thuộc nhân chủng Nam Á sống phổ biến khắp các vùng khác nhau ở Đông Dương và Đông Nam Á Đặc điểm của nhóm nhân chủng này là “da ngăm đen, tóc hơi dợn sóng hoặc quăn, mũi hơi cao và tầm thước người nhỏ, mắt ít xếch, hơi to” Yếu tố Nam Á này còn thấy rõ ở người Khơmer, người Stiêng và các dân tộc cư trú lâu đời ở Sông
18 Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bình Phước (2000), Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bình Phước sơ thảo
(1930 -1975), Ban thường vụ tỉnh ủy, tr10
Trang 27Bé nói chung và Bình Phước nói riêng
Những chiếc rìu đá mài nhẵn bốn mặt đã được phát hiện ở nhiều địa phương thuộc huyện Bình Long, Phước Long…và ở nhiều nơi trên đất Lào, Campuchia, Miến Điện, Đông Ấn Độ, Inđônêxia và Malaixia Các nhà khoa học cho biết chủ nhân của chúng là những cư dân cổ đại thuộc giống người da đen châu Úc trong nhóm nhâm chủng Nam Á được xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ 3 và thứ 4 trước công nguyên Cũng có nhà khoa học giả thuyết rằng sự tồn tại của những chiếc rìu
tứ diện và rìu có vai trong một đại bàn cụ thề là biểu hiện sự giao tiếp và chung sống lẫn nhau giữa những bộ lạc đồ đá thuộc giống Nam Á và Nam đảo “Bộ lạc
Nam Á là tổ tiên của tất cả các dân tộc nói tiếng Môn-Khơmer như Stiêng, Mạ, Bana…, tiếng Việt-Mường, Thái Tày…còn bộ lạc Nam đảo là tổ tiên của tất cả các dân tộc nói tiếng Malaio Pôlinêđiêng như Chàm, Roglai, Êđen, Gia rai ”
Từ trước thế kỉ XVII, miền núi tỉnh Sông Bé là địa bàn cư trú của bộ lạc Stiêng Đây là một bộ lạc miền núi Nam Tây Nguyên có nền kinh tế săn bắn và trồng trọt khá phát triển…Về phía đông của núi Bà Rá, đặc biệt là vùng hữu ngạn sông Đồng Nai, là vùng đất xưa của người Mạ thuộc tỉnh Lâm Đồng ngày nay…Trong lúc đó về phía nam vùng người Stiêng tỉnh Sông Bé, vùng Biên Hòa –
Bà Rịa là vùng đất sinh tụ của người Châu Ro xa xưa mà cho đến nay vẫn còn những làng Châu Ro ở Đồng Nai Quan hệ giữa người Stiêng, Mạ, Châu Ro tên lĩnh vực tiếng nói khá gần gũi, đều thuộc ngữ hệ Môn-Khơmer, những đặc trưng văn hóa cũng có những nét chung nhưng trong sinh hoạt kinh tế và xã hội có những nét khác biệt rõ rệt Người Stiêng sống về nghề rẫy trên những vùng đất đỏ, nghề săn bắn thú lớn phát triển Ngược lại, người Mạ phát triển tối ưu nghề trồng lúa ở những vùng đất ven sông suối và các thung lũng màu mỡ, phát rẫy trên những khu rừng tái sinh Người Mạ còn nổi tiếng với nghề dệt vải Người Stiêng và người Mạ đều sống cách biệt và ít tiếp xúc với người Việt Nhưng người Châu Ro lại tiếp cận sát với người Việt Ngày nay, nhiều người Châu Ro sử dụng từ ngữ tiếng Việt trong ngôn ngữ Châu Ro hiện đại Người Châu Ro sớm biết làm ruộng và trồng lúa nước, biết cày bừa bằng trâu bò, nhiều tập quán sản xuất giống người Việt Tuy nhiên, người
Trang 28Stiêng, Mạ, Châu Ro cũng đã hình thành những tâm lý dân tộc riêng, là một dân tộc riêng biệt trong cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện đại “Người Châu Ro di chuyển
về phía Nam tiếp cận vùng đồng bằng, chịu ảnh hưởng ít nhiều nền văn hóa người Chăm và người Việt đồng thời phải thích nghi với vùng đồi gò Đông Nam Bộ nên hình thành những đặc trưng văn hóa riêng biệt Người Stiêng ở Bình Long (người Stiêng Bù Đeh) là một bộ phận người Stiêng có đặc điểm văn hóa và tồn tại trong những vùng sinh thái tương đồng với người Châu Ro và cũng diễn ra quá trình tộc người phân ly.”19
Từ đầu đến giữa thế kỉ thế kỉ XVII, những cộng đồng dân cư người Việt đã được hình thành và phát triển địa bàn cư trú của mình ở miền Đông Nam Bộ, tập trung nhất ở vùng Biên Hòa – Bà Rịa Song, “vùng đất Sông Bé vào đầu thế kỉ XVII vẫn còn là một vùng rừng núi hoang vu, nhất là các địa phương thuộc các huyện vùng miền núi Lộc Ninh, Đồng Phú, Bình Long, Bù Đăng và Phước Long Ở
đó chỉ có rừng già nhiệt đới, thú dữ và địa bàn cư trú của các nhóm địa phương khác nhau thuộc bộ lạc Stiêng thống nhất”.20
Cuối thế kỉ XVIII, sự tiếp xúc giữa người Việt và người Stiêng ở miền núi Sông Bé đã diễn ra tương đối thường xuyên thông qua những binh lính lưu đồn nhà Nguyễn và gia đình họ Những người Việt này phần đông là dân cư vùng Quảng Nam và Quảng Ngãi cho đến Bình Thuận Năm 1827, triều đình Nguyễn chia vùng đất Nam bộ thành năm trấn gọi là đất “ Ngũ trấn” Đất Sông Bé ngày nay thuộc trấn Biên Hòa Như vậy, tỉnh Bình Phước hiện nay cũng thuộc trấn Biên Hòa lúc bấy giờ “ Để mở rộng đất đai, vua quan nhà Nguyễn đã lập ra nhiều đồn ải mới, nơi xưa kia chưa có bóng dáng người Việt Đồng Xoài (xưa gọi là Đồn Xoài) và An Lộc là hai trong nhiều miền rừng núi Đông Nam Bộ đã được đặt dưới quyền kiểm soát của triều đình Nguyễn Năm 1832, nhà Nguyễn đổi Ngũ trấn thành “Nam kì lục tỉnh”, Sông Bé lúc này thuộc tỉnh Biên Hòa Năm 1867, sau khi chiếm được Nam kì, thực dân Pháp phân chia đất Nam kì thành 27 địa hạt hành chính do các sĩ quan đứng đầu
Trang 29công việc cai trị ở đại phương Năm 1889, các đại hạt được nâng lên thành tỉnh hành chính.Vào thời này, bốn huyện phía nam tỉnh Sông Bé ngày nay thuộc tỉnh Gia Định và các huyện miền núi thuộc tỉnh Biên Hòa” 21
“Đầu thế kỉ XVIII, người Khơmer đã lập làng ở vùng Nha Bích thuộc đất Bình Long, các vùng khác đều có người Stiêng sinh sống Trước khi có sự giao tiếp với người Việt, người Stiêng đã có sự giao tiếp văn hóa với người Khơmer và người Chăm, nhất là người Stiêng ở Bình Long”.22
Từ đầu thế kỉ XX, dân số người Việt ngày càng gia tăng mạnh mẽ, là một tác động xã hội làm biến đổi bộ mặt thiên nhiên miền núi của vùng đất này Lúc đầu chỉ
có người Stiêng là chiếm đa số dân cư, ngày nay dân số người Việt chiếm số đông Địa bàn sinh sống và canh tác của người Stiêng đã có nhiều biến đổi
Người Việt (Kinh) ở các huyện miền núi Sông Bé phần đông là nhân dân lao động Họ là những nông dân nghèo không có ruộng đất và tụ hợp về sống trong các địa phương Trước đây, chủ yếu họ là những phu đồn điền cao su thời Pháp thuộc Hiện nay, người Việt ở miền núi Sông Bé gồm ba phần xã hội chính: công nhân và nhân viên hành chính trong các nông trường, cơ quan nhà nước, là thành phần xã hội thứ nhất với dân số đang gia tăng Thứ hai là nông dân khai thác ruộng đất trồng lúa và hoa màu kết hợp khai thác rừng, chăn nuôi gia súc và tham gia lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất ở nông thôn Thứ ba là những người buôn bán nhỏ, những người trồng vườn, những thợ thủ công và dịch vụ mà đa
số họ là những tín đồ các tôn giáo ở địa phương Đặc biệt, những người nông dân Việt ở thành phần xã hội thứ hai thường sống bên cạnh và có tiếp xúc hàng ngày với các dân tộc thiểu số Họ cùng lao động chung trong các tập đoàn sản xuất, hợp tác
xã nông nghiệp với người Stiêng và các dân tộc khác nhiều người nông dân Việt nay nghe và nói được tiếng dân tộc Stiêng, thông thạo phong tục tập quán người dân tộc Stiêng, trong những dịp lễ hội, người nông dân Việt và các dân tộc đề cùng nhau
Trang 30sinh hoạt chan hòa như lễ hội của chính mình Những thanh thiếu niên người Việt cùng vui thích tham gia những lễ hội ấy một cách hứng thú và tự nguyện Một số ít người nông dân Việt đã lấy vợ người dân tộc và đã có những thế hệ thứ hai được ra đời trong bối cảnh hòa hợp dân tộc trên Hiện tượng ngoại nhập, hòa hợp giữa các dân tộc với nhau, đặc biệt là giữa người Việt và ngưởi dân tộc thiểu số ở những hợp tác xã và tập đoàn nông lâm nghiệp đã bắt đấu xuất hiện trong tuổi trẻ ở những thời điểm gần đây Nói chung, quá trình hòa hợp dân tộc một các tự nhiên đang có triển vọng diễn ra trong tầng lớp xã hội nông dân miền núi
Về mặt xã hội, trước 1945, miền núi Sông Bé hầu như có rất ít hộ địa chủ và phú nông vốn sinh đẻ ở địa phương Thành phần giai cấp chủ yếu ở các thôn xóm người Việt và trung nông nghèo Từ 1945, ở miền núi Sông Bé xuất hiện nhiều người thuộc tầng lớp buôn bán nhỏ kết hợp với việc trồng vườn, một số đông khác khai thác ruộng nước ở những vùng hoang hóa và chăm sóc cây ăn quả trong vườn nhà…mà thành phần giai cấp của họ cùng chỉ là trung nông với mức sống trung bình Ở một đôi nơi cùng có một vài gia đình trước năm 1975 do thu nhập buôn bán, làm vườn cây ăn trái, canh tác ruộng lúa, cho vay… mà mua được một chiếc xe máy cày để cày thuê, hoặc mở xưởng xẻ gỗ Những gia đình vào loại này có số lượng rất ít và chưa trở thành một tầng lớp giai cấp xã hội riêng Bản thân gia đình của họ vẫn lao động trực tiếp và thường xuyên
“Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xtiêng ở Việt Nam
có dân số 85.436 người, có mặt tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Xtiêng
cư trú tập trung tại tỉnh Bình Phước (81.708 người, chiếm 95,6 % tổng số người Xtiêng tại Việt Nam), Tây Ninh (1.654 người), Đồng Nai (1.269 người), Lâm Đồng (380 người), Bình Dương (153 người) ”23
Người Stiêng ở Bình Phước cư trú tập trung ở các huyện, thị xã: Bình Long, Hớn Quản, Chơn Thành, Lộc Ninh, Bù Đốp, Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng, Bù Gia Mập Tộc danh Stiêng có nhiều nhóm địa phương như Bu dih, Bu deh, Bu lơ,
23
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Xti%C3%AAng
Trang 31Hạ Bạn,…24
Cộng đồng người Stiêng ở huyện Bù Đăng, Phước Long sống biệt lập trong những vùng rừng núi xa đường lộ và các trung tâm cư dân, thị tứ Họ thường lập làng ở những nơi có đồi gò thấp để phát rẫy hoặc những vùng đất có bưng thấp để làm ruộng lúa Dân số các dân tộc ít người ở Phước Long, Bù Đăng chiếm 80% số dân hai huyện, trong đó chủ yếu là người Stiêng Các dân tộc được phân bố trong 14
xã người Kinh, 5 xã dân tộc chiếm tỉ lệ 98% dân số chung (đó là các xã Đồng Nai, Thống Nhất, Thọ Sơn, Đak Nhau, Đak Ơ) và có khoảng 5 xã khác số người dân tộc
có tỉ lệ 70% dân số chung (đó là các xã Đức Hạnh, Đoàn Kết, Đa Kia, Minh Hưng)
Có thể nói, khu vực người Stiêng hay địa bàn tộc người Stiêng trên bản đồ dân số dân tộc nước ta ngày nay là huyện Phước Long, Bù Đăng tỉnh Sông Bé, nơi người Stiêng tập trung đông duy nhất ở nước ta Thành phần dân số người Stiêng ở 5 xã có đông người dân tộc ở Phước Long và Bù Đăng là xã Đak Nhau (95% dân số là người Stiêng, có người lại là người Mnông, số còn lại là người Việt), xã Thống Nhất (97% là người Stiêng, 7% là người Mạ, 3% người Việt), xã Đak Ơ (85% người Stiêng, 5% người Mnông và số còn lại là người Việt)
Căn cứ theo dân số, sau người Stiêng, người Hoa có dân số đông đứng thứ hai ở Sông Bé nhưng chỉ có số ít sống ở các thị trấn, huyện miền núi và một vài nơi thị tứ có chợ búa đông đúc ( Bù Đăng, Bù Đốp, Phước Bình, An Lộc…), chủ yếu là người Triều Châu Ở miền núi Sông Bé có khoảng gần 7937 người Khơmer, tập trung đông ở một số xã bên giới thuộc huyện Lộc Ninh, vùng Nha Bích thuộc huyện Bình Long Phần lớn số người Khơmer này từ Campuchia di cư sang cách đây trên dưới 100 năm Tổ tiên của họ phần lớn là những người tham gia phong trào yêu nước của nhà sư Pu-côm-bô đã từng hợp tác với những thủ lĩnh người Việt trong phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Người Mnông sống ở Sông Bé khoảng 1471 người, phần lớn họ sống tập trung ở một số xã biên giới Campuchia, hoặc tiếp giáp với tỉnh Đắc Lắc và dọc
24
chon-dat-lap-lang-cua-nguoi-Stieng-107
Trang 32http://vhttdlbinhphuoc.gov.vn/home/index.php?language=vi&nv=news&op=Tin-Tuc/Phong-tuc-đường quốc lộ 14 thuộc xã Thọ Sơn huyện Bù Đăng Họ thuộc nhóm Mnông Rlăm
ở vùng hồ Lac (Đăk Lắk) chuyển cư đến cách đây hơn 30 năm cùng với sự phát triển của đạo Tin Lành ở vùng này
Người Mạ ở Sông Bé có khoảng 625 người, tập trung chủ yếu ờ hai xã Đồng Nai và Thống Nhất trên ngạn sông Đồng bờ tả Nai
Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng 33.338 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam)
“Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0 % tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), thành phố Hồ Chí Minh (72 người).”25
Người Mạ di cư đến đây trong những năm 60, gắn với việc xây dựng căn cứ cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Cũng có những làng người Mạ sinh sống ở đây từ thời kì kháng chiến chống Pháp Lúc bấy giờ, vùng Sông Bé đồi núi còn hoang vu nhiều, đất đai màu mỡ nên việc phát rẫy trồng lúa và ngũ cốc được thuận lợi hơn Song, chắc chắn là hai bên bờ sông Đồng Nai, cụ thể là vùng đất xã Đồng Nai và Thống Nhất ( tỉnh Sông Bé ) và vùng Cát Tiên ( tỉnh Lâm Đồng ) ngày nay vốn đã có nhiều lớp cư dân cổ đại tụ cư sinh sống, trong đó có nhóm người Mạ
Người Tà mun là nhóm dân tộc có số dân ít khoảng 450 người và chủ yếu chỉ tập trung ở một xã Minh Hòa huyện Bình Long Số đông người Tà mun lại sống ở Tây Ninh và tộc danh có lẽ là một tên địa phương có liên quan đến tục thờ thần thổ địa (Nick tà) của người Khơmer (Tà mun, Tà nung ) Để phân biệt với điểm cư dân Khơmer (Sóc) với điểm dân cư không phải người Khơmer sống bên cạnh người Khơmer, người Khơmer đặt ra tên đó để gọi nhóm người này Ở Tây Ninh, đại bộ phận người Tà mun thừa nhận gốc tích của bản thân họ là người Stiêng, nhưng hiện tại họ vẫn tự gọi là người Tà mun Viết về người Tà mun đầu tiên là tác giả cuốn sách “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé”, trong đó ghi nhận “Người Tà mun là một nhóm
25
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_M%E1%BA%A1
Trang 33người đặc biệt về những đặc trưng xã hội và tộc người, Tà mun, trước hết là một địa danh cổ ở vùng giáp giới Tây Ninh và Sông Bé ngày nay Nơi đây xưa kia có những nhóm Stiêng sinh sống Nhóm Stiêng này chịu ảnh hưởng sâu sắc lối sống và văn hóa của người Khơmer Họ đã cùng người Khơmer chống thực dân Pháp liên tục và quyết liệt để bảo vệ vùng đất sinh sống cổ xưa Vào năm 1927, để mở rộng vùng ảnh hưởng của mình và bóc lột lao động làm thuê người Stiêng, các thủ lĩnh đạo Cao Đài ở Tây Ninh đã biến họ thành những tín đồ đạo Cao Đài Nhóm Tà mun đầu tiên được gọi là Tà mun bao gồm những sóc người Stiêng theo đạo Cao Đài ở Tây Ninh Đây là nhóm Tà mun duy nhất ở miền Đông Nam Bộ trước năm 1930
Từ năm 1930 đến 1945 có một số gia đình người Châu Ro từ Biên Hòa chuyển cư đến hòa nhập vào cộng đồng người Tà mun gốc Stiêng ở huyện Bình Long ngày nay Như vậy, “ nhóm người Tà mun là hỗn hợp người Stiêng, Châu Ro, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc sinh hoạt và văn hóa của người Khơmer trước đây và của người Việt trong vài chục năm trở lại đây thông qua đạo Cao Đài” Điều kiện để tạo nên
sụ hòa hợp giữa nhóm Stiêng địa phương với người Châu Ro và để hình thành nên nhóm người Tà mun là yếu tố ngôn ngữ chung thuộc ngữ hệ Môn-Khơmer
Ngoài các dân tộc sống lâu đời ở địa phương, từ 1958 – 1988 đã xuất hiện những cụm dân cư nhỏ sống chung với các dân tộc địa phương mà thành phần dân tộc là những người dân tộc thiểu số ở miền thượng du Bắc Bộ di cư đến, phần đông sống ở Bình Long, Đồng Phú, số rất ít sống ven Phước Long.26
Có thể thấy, Bình Phước là một trong sáu tỉnh miền Đông Nam Bộ, mật độ dân
cư thưa, địa hình chủ yếu là cao nguyên đồi thấp, lượn sóng, đất đỏ bazan thích hợp cho việc trồng các loại cây lâu năm, cây ăn quả, rau…vùng trồng lúa ít và phân tán, khí hậu, đất đai, sông ngòi thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi Thành phần dân cư
đa dạng, nhiều tộc người, văn hóa truyền thống của mỗi tộc người có nét đặc sắc riêng Hiện nay có hơn 40 dân tộc sinh sống ở Bình Phước Trong quá trình sinh sống và phát triển không tránh khỏi việc giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội
26Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, sđd, 259 – 288
Trang 34Chương 2: GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA DÂN TỘC STIÊNG VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚC
TỪ 1945 ĐẾN NAY
2.1 Lịch sử hình thành tộc người Stiêng và người Stiêng ở Bình Phước
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong cuốn sách “ Địa chí tỉnh Sông Bé”
có ghi nhận: “Trước thế kỉ XVII, khi lối canh tác ruộng nước và vườn tược chưa được xuất hiện ở miền Đông Nam Bộ và chưa có sự hiện diện của những cư dân người Việt thì vùng cư trú của người Stiêng ở hai lưu vực sông Sài Gòn và sông Bé,
là vùng cư trú tốt nhất đối với đời sống của những bộ lạc cổ đại sống bằng nghề săn bắn hoang thú, thủy sản nước ngọt trên ao hồ và đào bới những cây có củ và hoa quả để làm lương thực và thực phẩm nuôi sống con người Sinh hoạt kinh tế - xã hội
ấy cũng được diễn tả trong truyền thuyết về tên gọi của vị tổ của người Stiêng là Diêng Vị tổ này rất giỏi về việc làm rẫy, săn bắt, rèn vũ khí và làm các bẫy bắt thú rừng Ở vùng Bù Đốp, người Stiêng lại có huyền thoại với những chi tiết mang tính lịch sử cụ thể hơn Sôtiêng – vị tổ của người Stiêng ngày nay – có hai người em gái
và ông ta đắp núi Bà Đen và Bà Rá cho hai em gái mình ở Cô em gái đầu làm chủ cùng núi Bà Đen để trấn thủ biên thùy chống lại người Khơmer Cô em gái thứ hai làm chủ vùng núi Bà Rá để ngăn cản người Chàm xâm lấn đất đai của người Stiêng Ngoài ra ở vùng Phước Long còn lưu truyền nhiều truyền thuyết nói đến những cuộc xung đột vũ trang gay gắt trong nội bộ người Stiêng mà những thác nước trên dòng sông Đắk Glung (sông Bé ở vùng thượng nguồn) là trung tâm của những xung đột đó Căn cứ vào những truyền thuyết và huyền thoại trên, có người cho rằng
“thời gian xuất hiện những cuộc xung đột trên diễn ra vào thời kỳ phát triển của người Stiêng, những tù trưởng người Stiêng đã có quyền lực và uy thế trong xã hội, dân số các nhóm người Stiêng gia tăng nhanh, việc tranh chấp vùng đất thiên nhiên
có sẵn lương thực và thực phẩm đã trở thành một vấn đề quyết định đối với đời sống của các nhóm địa phương người Stiêng Mặt khác, sự mở rộng địa bàn sinh tụ của người Khơmer và người Chăm lên phái rừng núi hẻo lánh miền Đông Nam Bộ,
Trang 35đặc biệt là vùng núi tỉnh Sông Bé ngày nay là phù hợp với giai đoạn suy tàn của chế
độ thống trị thuộc các quốc gia thời trung cổ của người Khơme ở Campuchia và người Chăm ở vùng duyên hải cực Nam Trung bộ ngày nay Sau những biến cố lớn
về mặt xã hội, số đông người Khơme và người Chăm đã tìm đến vùng đất rừng núi miền Đông Nam bộ và miền núi Sông Bé để khai phá và sinh sống.”27
Như vậy, có thể nói niên đại sớm có sự tiếp xúc giữa người Stiêng, người Khơme và người Chăm ở vùng rừng núi tỉnh Sông Bé đã diễn ra vào thời kỳ trước thế kỉ XVII
Ngay từ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX cho tới nay, địa bàn cư trú của người Stiêng giáp với người M’nông ở phía Bắc, người Mạ và người Cơ ho ở phía Đông, người Khơme ở phía Tây và người Việt (Kinh) ở phía Nam
Có thể nói tộc người Stiêng là dân tộc thiểu số có dân số đông nhất ở tỉnh Bình Phước hiện nay Stiêng là một cộng đồng dân cư lâu đời tại tỉnh Bình Phước (70.812 người)28 Hiện nay, theo các tài liệu, người Stiêng có nhiều tên gọi khác nhau như: Xa Điêng, Bu Lơ, Bu Đip, Bu Đêh, Bu Lanh, Ray, Tà Mun, Bà Rá, Dalmer, Rong Ah, Bu Le29 Trong công trình nghiên cứu “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX”, GS.TS Phan Hữu Dật đã dẫn ra khá nhiều tên gọi dành cho người Stiêng: Bù Lơ, Bù Đek, nhóm Tà Mun, Xa Điêng, và Mọi30
Thực ra, việc dùng các từ Mọi hoặc man mang tính chất miệt thị, để chỉ về người Stiêng nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung đã xuất hiện từ rất sớm Ngay từ năm 1645, từ Mọi đã xuất hiện trong các ghi chép của các cha cố đoàn truyền giáo Jésus, “dân kemoi sống hoang dã trong các vùng rừng núi này”31và đến năm 1651, trong bản đồ do A.de Rhodes vẽ có một dãy núi lớn với chú dẫn Rumoi Dần dần, do sự biến âm, người ta dùng từ “mọi” để chỉ các dân tộc thiểu số sống
27 Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng hợp Sông
Bé, 1991, tr 269 – 271
28 Chi cục Thống kê tỉnh Bình Phước, Tổng điều tra dân số năm 2009
29 Diệp Đình Hoa, Dân Tộc Xtiêng, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb KHXH, Hà Nội, 1984, tr.142
30GS.TS Phan Hữu Dật (2001), Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia,
tr.26
31
Henri Maitre (2008), Rừng Người Thượng, Nxb Tri Thức (bản dịch của Lưu Đình Tuân), tr.220
Trang 36tách biệt trong các vùng rừng núi với những phong tục tập quán chưa được khám phá Trong các thư tịch của Quốc sử quán triều Nguyễn, danh từ “mọi”, “man” cũng được dùng để chỉ các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, trong đó có người Stiêng
Trong tác phẩm Phủ biên tập lục, Lê Quý Đôn cũng đã chép lại sự kiện người Mọi đóng vai trò quan trọng trong buổi đầu khai hoang lập ấp ở vùng đất phía
Nam: “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển như Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Đại tiểu đi vào toàn là rừng rậm, rộng hơn ngàn dặm, họ Nguyễn ngày trước đánh nhau với Cao Miên mà có được Xong, chiêu mộ dân có vật lực từ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi và Quy Nhơn đi vào đấy khai phá và mở mang thêm những vùng bằng phẳng, thủy thổ phì nhiêu, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa Lại thu con trai, con gái người mọi ở đầu các nguồn để làm nô tì…”32
Người Mọi trong ghi chép của Lê Quý Đôn có thể đoán định là người Stiêng tại Bình Phước hiện nay Trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ vào thời kỳ vua Minh Mạng (1833) có ghi địa danh “Xương Tinh thành” vào vị trí khoảng phía bắc tỉnh Sông Bé “Xương Tinh là địa danh phiên âm theo Hán Nôm của Xtiêng, còn thành là để chỉ một chủ phủ có cư dân quan trọng hơn hay hay sóc là thủ đô của một tiểu quốc Tiểu quốc Xương Tinh được coi là phiên quốc nhỏ trong bản đồ Đại Nam đương thời”33 Theo tác giả Nguyễn Đình Đầu, người Stiêng bao gồm một số nhóm với những tên gọi khác nhau như: Budíp, Budeh, Bulo, Rengah…34
Về sự phân chia nhóm của người Stiêng, ngay từ thế kỷ XIX, Henri Maitre
đã có cuộc khảo sát vùng cư trú của người Stiêng và ghi nhận: “người Stiêng tự gọi mình là Ke Dieng hay Se Dieng…ở phía bắc họ kéo dài ra thành một nhánh phụ, nhường như có họ hàng với họ; Đó là bộ lạc Bu Dèh, chiếm một khu vực nhỏ ở lưu vực trung lưu sông D.Glun (thượng nguồn Sông Bé)…”35.Từ ghi chép trên, dù chưa thực sự chi tiết, song cũng cho thấy tên gọi của người Stiêng và chứng tỏ rằng người Stiêng có sự phân chia thành nhiều nhóm nhỏ, tùy vào nơi cư trú Người
32Lê Quý Đôn (2000), Phủ biên tạp lục, trong Lê Quý Đôn tuyển tập, tập 3, Nxb GD, tr.255-256
33 Nguyễn Đình Đầu, Địa lý lịch sử tỉnh Sông Bé, Sđd, tr.153
34 Nguyễn Đình Đầu, Địa lý lịch sử tỉnh Sông Bé, Sđd, tr.149
35 Henri Maitre, Rừng người Thượng (phần 3), Sđd, tr.144
Trang 37Stiêng có nhiều nhóm địa phương Theo tác giả Bùi Thiết, người Stiêng có 4 nhóm địa phương là: Bu Deh, Bu Dip, Bu Lê, Bu Lach, Reng An36 Một vài tài liệu khác ghi nhận rằng các nhóm địa phương Stiêng bao gồm Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biek, Bù Dik”.37
Hiện nay, người Stiêng có hai nhóm chính là Bù Lơ và Bù Đek, một số nhóm nhỏ khác tự nhận mình thuộc nhóm Bù Biek và có gốc gác tại Campuchia
Trong khu vực cư trú của người Stiêng ở Bình Phước, các nhà khảo cổ học
đã tìm thấy một số di chỉ đồ đá cùng các công trình kiến trúc, đặc biệt đã phát hiện
18 di tích đất đắp hình tròn ở Bình Long (9 di tích), Lộc Ninh (5 di tích), Phước Long (4 di tích)38, có niên đại khoảng 3.500 – 2.500 năm Trong các di tích đã tìm thấy di chỉ cư trú (các công cụ bằng đá và gốm, than, tro) Chủ nhân các di tích đất đắp hình tròn này có thể là một dân tộc bản địa (không phải người Việt hay Khơme), có mối quan hệ với chủ nhân những di tích tiền sử khác ở vùng Đông Nam
Bộ và Tây Nguyên Họ là tổ tiên của một tộc người nào đó thuộc ngữ hệ Môn – Khơmer Trong cuốn sách “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé”, GS Mạc Đường đã cho rằng “chủ nhân của những thành tròn này có nhiều khả năng thuộc về lớp cư dân tổ tiên của người Stiêng ngày nay.”39
Tác giả chưa đưa ra được tư liệu để chứng minh giả thuyết này Tuy nhiên,
dù chưa xác định rõ chủ nhân của các công trình đất tròn cổ xưa đó là người Stiêng nhưng có thể khẳng định người Stiêng là cư dân lâu đời ở Bình Phước
Những huyền thoại và truyền thuyết còn lưu lại tại tỉnh Bình Phước hiện nay
đã giúp đoán định phần nào về lịch sử cội nguồn của người Stiêng Theo đó, người Stiêng là nhóm người từ phía Bắc di chuyển xuống phía Nam bán đảo Đông Dương, cùng thời gian với những đợt chuyển cư lớn ở Đông Nam Á lục địa Phan An trong công trình nghiên cứu về “Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam (từ giữa
36Bùi Thiết (1999), 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác, Nxb Thanh Niên
37Dẫn theo Phan An, Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng ở Việt Nam (từ giữa thế kỷ XIX
Trang 38thế kỷ XIX đến năm 1975)”, đã đưa ra giả thiết về sự có mặt của người Stiêng tại khu vực này Tác giả cho rằng: “Có lẽ người Stiêng đã định cư ở miền Nam Tây Nguyên từ những thế kỷ trước công nguyên Họ đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện môi sinh địa lý của khu vực rừng núi Nam Tây Nguyên, đặc biệt là những cánh rừng mưa nhiệt đới ở vùng Phước Long và rừng sa-van, nơi thềm dốc của cao nguyên đổ xuống vùng Đông Nam Bộ hiện nay” và “trong quá trình làm quen với vùng đất mới, hẳn cũng đã diễn ra sự tiếp xúc với những cư dân láng giềng, người Stiêng đã học hỏi được ở những cư dân này nhiều điều bổ ích, tiếp thu một số kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng như các truyền thống văn hóa khác”40
Từ thế kỷ II – III sau công nguyên, tộc người Stiêng phát triển và mở rộng khu vực cư trú, chiếm một phần cực nam Tây Nguyên và một số vùng ở Đông Nam
Bộ Vào thế kỷ thứ VI –VII, cùng với việc hình thành các quốc gia phía nam bán
đảo Đông Dương, khu vực cư trú của người Stiêng trở thành vùng tranh chấp giữa
hai vương quốc Chiêm Thành và Chân Lạp Từ sau thế kỷ X, người Stiêng đã trở thành một tộc người hùng mạnh, có nhiều thế lực trong vùng nam Tây Nguyên và người ta đã nhắc đến một “vương quốc Stiêng”,“vương quốc Mạ” “Trong một thời gian khá dài và trước khi lưu dân Việt Nam tới khẩn hoang lập ấp, hai dân tộc chính
là Xtiêng và Mạ đã trở thành vùng đệm giữa hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp luôn tranh chấp lãnh thổ của nhau Hai dân tộc đó chiếm một địa bàn cư trú khá lớn
và là những vương quốc còn giữ lại hình tích đến gần đây, đó là nước Stiêng, nước
Mã Lễ…”41
Điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của tộc người Stiêng, song
nó chưa phải là một quốc gia với đầy đủ ý nghĩa
Sang thế kỷ XIV – XV, vương quốc Champa thắng thế, đã mở rộng ảnh hưởng của mình sang vùng Stiêng Sự thống trị này của người Chăm đối với người Stiêng kéo dài trong nhiều thế kỷ, nhưng người Chăm không áp dụng chế độ trực trị Các quan lại Chăm tổ chức các cuộc kinh lý định kỳ để kiểm soát vùng Stiêng,
Trang 39còn việc quản lý đều do người Stiêng đảm đương Chính sự quản lý lỏng lẻo đó đã cho phép người Stiêng duy trì vùng lãnh thổ cũng như cơ cấu xã hội truyền thống của mình
Sang thế kỷ XVII, vùng đất này dần dần thu nạp những cư dân mới Người Khơme đã lập làng ở Nha Bích, và người Kinh di cư từ các tỉnh phía Bắc vào Bộ phận di dân mới này bao gồm nhiều thành phần, trong số đó có “những người vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh – Nguyễn cũng như cảnh lầm than, chết chóc do chiến tranh phong kiến gây ra phải rời bỏ quê hương,
có người mắc tội “nghịch mạng với triều đình” bị lưu đày đến đây, có người trốn tránh sưu thuế, binh dịch phảo chạy vào đây tìm chốn nương thân”42
Nhưng nhìn chung, đến cuối thế kỷ XVIII, sự tiếp xúc giữa người Kinh và người Stiêng ở Bình Phước đã diễn ra tương đối thường xuyên và đã hình thành các nhóm di dân, cư trú xen kẽ với người Stiêng ở Thủ Dầu Một, Đồng Xoài, Hớn Quản…Quan hệ giữa các nhóm người Việt với người Stiêng, người Khơme, người Chăm diễn ra khá êm đẹp, hòa hiếu
Bước sang đầu thế kỷ XIX, vương triều Nguyễn được thành lập, đã ban hành chính sách dân tộc nhằm quản lý về mặt hành chính đối với người Stiêng Đặc biệt
là dưới thời vua Minh Mạng, “khi thành lập bộ máy hành chính ở miền rừng núi thuộc đất Đồng Nai – Gia Định, Minh Mạng cho lập tỉnh Biên Hòa, cho người đi chiêu dụ các dân tộc ít người đặt lỵ sở, biên hộ tịch và thu thuế Lúc ấy vùng đất phía Tây Bắc huyện Phước Bình thuộc 4 “thủ”: Tân Định, Tân Lợi, Tân Bình, Tân Thuận và có 81 sách đồng bào các dân tộc ít người mà ở đây có thể là người Xtiêng”43 Nhưng cũng giống như sự thống trị của người Chăm, việc cai trị của các vua Nguyễn đối với người Stiêng chưa chặt chẽ, xã hội truyền thống vẫn được bảo tồn và vận hành theo các luật tục của các “pol”, chưa có sự can thiệp của nhà nước phong kiến
Trang 40Vào nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà thám hiểm và truyền giáo phương Tây đã đến vùng Stiêng để khảo sát và ghi lại các phong tục tập quán của đồng bào Sau khi đặt ách thống trị lên vùng đất này, thực dân Pháp đã cho thi hành nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội và những chính sách này đã gây nên tác động lớn đối với người Stiêng; nhất là chính sách đồn điền làm thu hẹp đất đai và đẩy họ vào vùng rừng núi, đất xám bạc màu Chính sách cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền của thực dân Pháp, xâm phạm đến khu vực cư trú truyền thống đã gây sự bất bình và phản ứng trong cộng đồng Stiêng Ngay từ sớm, đồng bào đã tham gia
và nổi dậy chống Pháp: tham gia khởi nghĩa của nghĩa quân Trương Định, Trương Quyền, tham gia cuộc nổi dậy của N’Trang Lơng, nổi dậy giết những tên quan Pháp
ác ôn…gây cho chúng nhiều thiệt hại, khó khăn trong việc bình định vùng đất Nam Tây Nguyên44
Sau khi thực dân Pháp bị đánh bại, đế quốc Mĩ nhảy vào Việt Nam Chúng
đã cho thực hiện nhiều chiêu bài mị dân, buộc đồng bào vào các khu dinh điền, ấp chiến lược, rải xuống vùng đất này một khối lượng lớn chất độc hủy diệt điôxin, đời sống người Stiêng vô cùng cực khổ nhưng đồng bào vẫn kiên quyết theo cách mạng, một lòng với cách mạng Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đồng bào Stiêng chịu nhiều hy sinh và có đóng góp lớn lao về sức người sức của cho cách mạng Nhiều vùng Stiêng trở thành căn cứ địa của cuộc kháng chiến Đồng bào đảm nhiệm nhiệm vụ che chở, bảo vệ cán bộ, bảo vệ căn cứ cách mạng, làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của Mĩ - Ngụy, góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của dân tộc Đầu năm 1975, vùng Stiêng được giải phóng cùng với sự sụp
đổ hoàn toàn của chính quyền Mĩ và Sài Gòn, đất nước thống nhất Từ đây, đồng bào Stiêng bước vào một thời kỳ lịch sử mới, cùng nhân dân cả nước bắt tay vào sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, xã hội XHCN
Trong tạp chí Dân tộc học số 36/1997 thì theo tài liệu khảo cổ học, từ những
di tích, di chỉ tìm được ở Đốc Chùa (Tân Uyên), thành Cổ Tròn (Bình Long) thì khả
44
Phan An, Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng ở Việt Nam (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975), Sđd, tr.32